Những Điều Họ Đeo Mang, p. 1 – Tác giả: Tim O’Brien

Tim O’Brien (1946 – ) là người được trao giải văn học National Book Award năm 1979 với quyển Going After Cacciato.  Ông cũng là tác giả của quyển In the Lake in the Woods, được Tạp chí Time mệnh danh là Tác Phẩm hay nhất trong năm 1994; The Things They Carried, là tác phẩm vào chung kết của giải Putlizer và được giải National Book Critics Circle Award; quyển If I Die in a Combat Zone, hồi ký về chiến tranh Việt Nam, và hai tác phẩm khác.

Thiếu úy Jimmy Cross cất giữ những lá thư từ một cô gái tên là Martha, sinh viên năm thứ ba Đại học Mount Sebastian College ở New Jersey .  Những lá thư này không phải là những lá thư tình, tuy nhiên Thiếu úy Cross vẫn nuôi hy vọng, vì thế anh gấp chúng lại gói bằng bao nhựa và xếp tận ở dưới đáy ba lô. Những buổi chiều, sau một ngày hành quân, anh đào hố cá nhân, rửa tay bằng nước chứa trong bi-đông, mở cái bao nhựa có những lá thư, cầm nhón những lá thư đưa chúng ra dưới ánh sáng một cách trịnh trọng vờ là những bức thư tình. Anh tưởng tượng những buổi cắm trại lãng mạn ở trong núi White Mountains ở tiểu bang New Hampshire .  Anh cũng thỉnh thoảng liếm nắp phong bì, biết là cô nàng cũng đã liếm bì thư.  Hơn tất cả, anh muốn được Martha yêu như anh đã yêu nàng, tuy nhiên những lá thư chỉ nói chuyện bâng quơ, không đề cập gì đến tình yêu.  Nàng vẫn còn là một cô thiếu nữ trinh nguyên, anh chừng như có thể cam đoan điều này. Nàng học ngành văn chương ở Đại học Mount Sebastian và nàng viết những lá thư rất hay nói về các vị giáo sư, các bạn học, và những kỳ thi giữa khóa.  Nàng nói nàng rất nễ phục nhà văn Chaucer và rất yêu thích nhà văn Virginia Woolf.  Nàng thường trích dẫn thơ nhưng tuyệt nhiên không đả động gì đến chiến tranh, ngoại trừ câu nói, Jimmy anh phải bảo trọng lấy thân.  Lá thư cân nặng 10 ounces (283g), cuối lá thư được ký tên với Thương, Martha, nhưng Thiếu úy Cross hiểu rằng chữ Thương ở đây chỉ là một thói quen người ta chấm dứt lá thư chứ không có nghĩa thương yêu như anh vẫn đôi khi giả vờ với chính mình là nó có nghĩa thương yêu thật sự. Khi chiều buông, anh cẩn thận cất những lá thư vào ba lô.  Thong thả, hơi lơ đễnh, anh đứng lên di chuyển giữa đội ngũ, kiểm soát chung quanh, và khi trời hoàn toàn tối đen anh trở về hố cá nhân nhìn đêm tối, tự hỏi có thật Martha vẫn còn là một thiếu nữ trinh nguyên không.

Những thứ họ đeo mang phần lớn được xác định bởi vì sự cần thiết. Giữa những thứ cần thiết có những thứ ít cần thiết như đồ mở hộp P-38, dao con loại bỏ túi, nguyên liệu làm thành viên để đốt lửa, đồng hồ đeo tay, thẻ bài, thuốc chống muỗi, kẹo cao su, kẹo viên, thuốc lá, muối viên, mấy gói bột Kool-Aid để pha nước uống, bật lửa, diêm quẹt, kim chỉ, thẻ lãnh lương, thẻ lãnh phần thức ăn, hai hay ba bi-đông nước. Tổng cộng những thứ này cân nặng từ 6.5 kg cho đến 9 kg, tùy theo thói quen và sức tiêu thụ nhiệt lượng của mỗi người. Henry Dobbins, là một anh chàng to béo, đã mang theo thức ăn nhiều hơn mức cố định, hắn đặc biệt rất yêu thích loại đào hộp ngâm nước đường thật ngọt để trên mặt bánh bông lan.  Dave Jensen người rất quan tâm việc vệ sinh cho mồm và răng mang theo bàn chải đánh răng, dây tơ xỉa răng, và vài thỏi xà bông nho nhỏ loại người ta hay dùng trong khách sạn hắn đã trộm trong R&R ở Sydney , Australia .  Ted Lavender, người hay sợ hãi, luôn luôn mang theo cần sa cho đến khi hắn bị bắn vào đầu phía bên ngoài làng Than Khe vào giữa tháng Tư.  Bởi vì cần thiết và cũng bởi vì tiêu chuẩn hoạt động của quân đội, tất cả đều phải đội nón sắt nặng khoảng 250 g kể cả vải lót và vải bọc.  Họ phải mặc áo lính và quần lính.  Một vài người mang theo quần lót. Họ phải mang giày bốt, nặng một kg – và Dave Jensen mang theo ba đôi vớ với một chai bột trừ mùi hôi trong giày.  Cho đến khi hắn bị bắn, Ted Lavender mang theo khoảng chừng 2 g cần sa loại tốt nhất, bởi vì đối với hắn những thứ này thật cần thiết.  Mitchell Sanders, chuyên viên truyền tin, mang theo condom. Norman Bowker mang nhật ký. Rat Kiley mang truyện tranh.  Kiowa, một người rất tin đạo Baptist, mang quyển thánh kinh Tân Ước quà của ông bố, người từng dạy tôn giáo mỗi Chủ nhật ở thành phố Oklahoma thuộc tiểu bang Oklahoma . Như dùng để làm hàng rào chắn ngăn ngừa chuyện không hay, Kiowa mang theo trong lòng cái nghi kỵ người da trắng hắn đã thừa hưởng của người bà với cái mã tấu đi săn của người ông.  Bởi vì đó là những điều cần thiết. Bởi vì mặt đất thì bị cài mìn và đặt bẫy, tiêu chuẩn hoạt động bắt buộc mỗi quân nhân phải mặc áo giáp bên ngoài là vải ny lông bên trong có lót thép. Cái áo giáp này nặng 3kg, nhưng trong những ngày nóng bức dường như nó nặng nề hơn.  Bởi vì bạn có thể chết rất nhanh, mỗi người mang theo ít nhất là một một tấm băng lớn có sức ép thật mạnh, thường thường được cất trong mũ sắt để tiện dùng.  Bởi vì ban đêm thường khá lạnh và mùa mưa rất ướt át, mỗi người phải mang một cái poncho màu xanh lá cây vừa có thể che mưa vừa có thể dùng làm cái lều tạm trú.  Với tấm vải lót kèm theo, cái poncho nặng khoảng 900g nhưng công dụng rất đáng kể.  Trong tháng Tư, thí dụ, khi Ted Lavender bị bắn, họ dùng cái poncho của hắn để gói thân thể hắn, rồi khiêng hắn băng đồng, để đưa lên phi cơ trực thăng chở hắn đi.

Họ gọi những thứ đó là legs hay grunts.  Tiếng lóng dùng để chỉ những thứ nặng nề nhọc nhằn ngoài sức diễn tả.

Mang một vật gì thì gọi là khuân, như khuân của nợ hay như con lạc đà khuân cái bướu trên lưng của nó. Như Thiếu úy Jimmy Cross đã khệ nệ khuân cái tình yêu dành cho Martha lên đồi và qua đầm lầy.  Chữ khuân ở đây ám chỉ một sức trì trệ ray rức nặng nề hơn nghĩa của nó.

Hầu như người nào cũng khuân theo một vài tấm ảnh.  Trong ví, Thiếu úy Cross đã giữ hai tấm ảnh của Martha.  Tấm ảnh đầu là một tấm ảnh màu Kodac có viết chữ Thương, dù anh biết là nó không chứa đựng cái nghĩa như thế. Nàng đứng tựa vào một tường gạch.  Đôi mắt xám không biểu lộ vui buồn, môi hé mở khi nàng nhìn thẳng vào máy ảnh.  Đôi khi trong đêm tối Thiếu úy Cross tự hỏi ai đã chụp cho nàng tấm ảnh ấy bởi vì anh biết nàng có nhiều bạn trai, bởi vì anh yêu nàng quá, và bởi vì anh nhìn thấy cái bóng của người chụp ảnh trải lên trên tường gạch.  Tấm ảnh thứ hai được cắt từ quyển niên giám của trường Mount Sebastian năm 1968.  Đó là một bức ảnh chụp trong lúc di động – đội bóng chuyền nữ – và Martha đang cúi người nằm rạp song song với mặt đất, nhoài người vói quả banh, lòng bàn tay của nàng thật rõ nét, lưỡi mím chặt giữa đôi môi, nét biểu hiện rất thật và đầy tranh đua.  Không thấy rõ những giọt mồ hôi. Nàng mặc quần thể thao ngắn màu trắng.  Đôi chân của nàng, anh nghĩ, chắc bẩm là đôi chân xử nữ, khô và nhẵn, đầu gối bên trái hơi co lại và chịu toàn thể sức nặng của nàng, chừng hơn 45 kg. Thiếu úy Cross nhớ là đã từng sờ vào cái đầu gối này.  Trong bóng tối của một rạp chiếu phim, anh còn nhớ, phim Bonnie and Clyde, Martha đã mặc một cái váy bằng vải tuýt xô, phim đang chiếu màn cuối, khi anh sờ đầu gối nàng, nàng quay lại nhìn anh bằng cái nhìn vẻ buồn bã nhưng rất tỉnh táo làm anh phải rút tay về. Tuy nhiên anh nhớ mãi cái cảm giác của cái váy và cái đầu gối dưới làn vải và tiếng súng đã giết chết Bonnie cùng với Clyde, anh đã hổ thẹn như thế nào, chậm chạp và dồn nén như thế nào.  Anh nhớ đã hôn nàng đêm ấy, lúc chào từ giã ở cửa phòng nội trú của sinh viên.  Ngay lúc ấy, anh nghĩ, anh nên làm một cái gì thật gan dạ.  Anh nên bế nàng leo những bậc thang vào phòng cột nàng vào giường và sờ cái đầu gối bên trái ấy suốt đêm.  Đáng lẽ anh nên mạo hiểm làm chuyện ấy. Rồi mỗi khi anh nhìn tấm ảnh anh lại nghĩ thêm nhiều điều mới mà anh nên làm.