Những Điều Họ Đeo Mang, p. 2 – Tác giả: Tim O’Brien

 

Những thứ họ mang theo một phần tùy theo cấp bậc của họ, và một phần tùy thuộc sở trường của họ trên mặt trận.

Là Thiếu Úy và cũng là trung đội trưởng, Jimmy Cross mang một la bàn, bản đồ, sách mật mã truyền tin, ống nhòm, và một khẩu súng lục nòng .45 cân nặng 1.3 kg và trách nhiệm sự sống còn của thuộc cấp.

Là nhân viên truyền tin, Mitchell Sanders mang cái radio PRC-25, một cái máy giết người, gần 12 kg tính luôn bình điện.

Là nhân viên cứu thương, Rat Kiley mang một cái túi vải chứa đầy mọt phin và huyết thanh và thuốc chống sốt rét và băng giải phẩu và sách tranh ảnh và tất cả những thứ một người cứu thương cần phải mang, ngay cả kẹo sô cô la M&M đặc biệt cho những người bị thương nặng, tất cả sức nặng chừng 9kg.

Là một người to béo nên được chân thủ cây súng máy, Henry Dobbins mang M-60, nặng hơn 10 kg lúc chưa nạp đạn.  Dobbins mang khoảng 4.5 kg cho đến 6 kg đạn như thắt dây lưng quàng ngang ngực và trên vai.

Là binh nhì, họ khuân những thứ nặng nề thông thường theo tiêu chuẩn. M-16, vũ khí này nặng khoảng 3.3 kg khi chưa có đạn và khoảng 3.7 kg khi có một băng đạn chừng 20 viên đạn.  Tùy theo nhiều yếu tố, thí dụ địa thế và tâm lý, những người dùng súng trường mang từ 12 cho đến 20 băng đạn chứa trong bao vải, ít nhất là 3.8 kg và nhiều nhất khoảng chừng 6.3 kg. Khi có sẵn đồ, họ cũng mang theo dụng cụ để lau chùi M-16 – que và bàn chải sắt và vải lau và các ống dầu LSA – tất cả các thứ này cộng lại chừng nửa kí lô.  Bên cạnh các thứ nặng nề, có người khuân súng phóng lựu M79, khi chưa nạp đạn nặng 2.7 kg, tương đối khá nhẹ ngoại trừ lựu đạn rất nặng.  Mỗi một trái đạn nặng đến 280 g. Mỗi một băng lựu đạn thường có 25 quả.  Nhưng Ted Lavender, người có tính hay sợ hãi, đã mang 34 quả. Khi anh bị bắn chết ở bìa làng Than Khe, và ngã xuống trong lúc mang một trọng lượng vượt quá mức bình thường, hơn 9 kg đạn dược, cùng với cái áo giáp, và mũ sắt, và phần ăn và nước uống và giấy đi cầu và thuốc cần sa và tất cả các thứ còn lại cùng với một nỗi sợ hãi không thể cân được.  Anh ta là một sức nặng chết. Không vặn vẹo hay co giật.  Kiowa, người đã chứng kiến cái chết của Ted, nói anh ta ngã xuống như một hòn đá rơi, hay một túi cát hay một cái gì đó – chỉ có bùm, rồi gục xuống – không giống như trong phim ảnh khi mà người chết lăn vòng vòng và quay mòng mòng và rơi lên trên ấm trà – không giống như thế, Kiowa nói, thằng con dại chỉ sụm xuống.  Bùm. Gục xuống. Không có gì khác hơn.  Đó là một buổi sáng tháng Tư đầy nắng.  Thiếu úy Cross cảm thấy đau đớn. Anh tự trách.  Họ cởi hết, lột hết bình nước và đạn được của Lavender, tất cả những thứ nặng nề, và Rat Kiley nói một chuyện hiển nhiên, cái thằng ấy chết rồi, và Mitchell Sanders dùng radio báo cáo một lính Mỹ chết trong lúc làm nhiệm vụ xin gởi máy bay trực thăng.  Rồi họ quấn Lavender bằng cái poncho của hắn.  Họ khuân hắn ra chỗ đồng khô, thiết lập vòng đai an toàn, và ngồi đó hút cho hết tất cả những thứ ma túy của hắn cho đến khi máy bay trực thăng đến.  Thiếu úy Cross giữ im lặng một mình.  Anh ta tưởng tượng đến gương mặt mịn màng non trẻ của Martha, nghĩ rằng anh yêu nàng hơn tất cả mọi thứ trên đời và không thể nào ngừng nghĩ đến nàng. Khi máy bay trực thăng đến họ mang Lavender lên máy bay.  Sau đó họ đốt cháy rụi làng Than Khe.  Họ hành quân cho đến chạng vạng tối, rồi đào hố cá nhân, và đêm ấy Kiowa cứ tiếp tục giải thích lý do sự hiện diện của bạn ở chỗ này, nó nhanh làm sao, cách thằng đáng thương ấy ngã xuống như là bao xi măng.  Bùm-gục xuống, hắn nói.  Như bao xi măng.

Bên cạnh ba loại vũ khí căn bản – M-60, M-16, và M-79 – họ còn mang theo bất cứ thứ gì chúng tự giới thiệu về sự hiện diện của chúng, hay bất cứ những gì thích hợp dùng để giết người hay để tự cứu mạng sống của mình. Họ mang những gì họ gặp, những gì có sẵn. Vào những lúc khác nhau, ở những tình huống khác nhau, họ mang M-14 và CAR-15 và K Thụy điển và mỡ dầu dùng để lau súng và AK 47 được tịch thu và Chi-com và RPG và súng các bin Simonov và súng chợ đen Uzis và súng lục .38 Smith & Wesson và 66 mm LAW và súng shotguns có hãm thanh và blackjacks và dao găm và chất nổ plastic C-4.  Lee Strunk mang theo cái ná, hắn gọi là loại vũ khí cuối cùng khi không còn phương tiện nào khác.  Mitchell Sanders mang cái dùng để bọc nắm đấm có dát đồng.  Kiowa mang cái rìu có gắn lông chim của ông nội.  Mỗi người (third man) thứ ba, hay thứ tư (fourth man) mang mìn Claymore – 1.6 kg cùng với ngòi nổ.  Họ mang lựu đạn – mỗi trái gần 400g. Họ mang ít nhất là một trái lựu đạn khói màu – 680g.  Có người mang CS hay lựu đạn cay.  Họ mang bất cứ thứ gì họ có thể mang nổi, và với một số người, những thứ họ mang bao gồm cả một sự sửng sốt có phần sợ hãi  về cái sức mạnh khủng khiếp của những thứ họ mang.

Tuần đầu tiên trong tháng Tư, trước khi Lavender chết, Thiếu úy Jimmy Cross nhận một món quà nhỏ, bùa hộ mạng, do Martha tặng.  Đó là một hòn cuội trơn nặng lắm là 28g, nhẵn nhụi, màu trắng sữa lấm tấm những đốm màu cam và tím, hình bầu dục, như một quả trứng con con. Trong lá thư kèm theo, Martha viết là nàng nhặt được hòn cuội ở bờ biển New Jersey, ngay chỗ nước thủy triều lên cao giáp bờ biển, nơi những thứ gặp nhau nhưng vẫn xa nhau.  Và chính vì cái tính chất bên nhau mà vẫn xa nhau này, nàng viết, đã xui khiến nàng nhặt hòn cuội và giữ nó trong túi áo trên ngực vài ngày. Ở trong túi áo trên ngực nàng hòn cuội dường như không có sức nặng. Sau đó nàng gửi nó kèm theo trong thư, theo đường hàng không, như là một bằng chứng về cái tình cảm chân thật nhất nàng dành cho anh. Thiếu úy Cross thấy chuyện này thơ mộng quá.  Nhưng anh tự hỏi không biết tình cảm chân thật nhất của nàng, nói cho chính xác, là cái gì, và cũng không hiểu nàng có ý gì về cái ở bên nhau mà vẫn xa nhau.  Anh tự hỏi thủy triều dâng làm sao và những ngọn sóng lăn tăn thế nào vào buổi chiều hôm ấy, trên bờ biển Jersey, khi Martha nhìn thấy hòn cuội, cúi xuống nhặt và cứu nó ra khỏi vùng đất này. Anh tưởng tượng đôi chân trần.  Martha là một nhà thơ, bản tính thi sĩ, đôi chân nâu trần, móng chân không sơn phết, đôi mắt lạnh giá và buồn bã như mặt đại dương của tháng Ba, và tuy đau đớn anh cũng tự hỏi nàng đã đi dạo biển cùng ai chiều hôm ấy.  Anh tưởng tượng đôi bóng bước dài theo dải cát nơi mọi vật bên nhau nhưng vẫn xa nhau.  Đó là một cơn ghen bóng gió, anh biết, nhưng anh không thể tự kềm chế.  Anh yêu nàng nhiều quá. Trong lúc hành quân, qua những ngày nóng bức đầu tháng Tư, anh ngậm hòn cuội trong mồm, dùng lưỡi đảo nó, nếm mùi muối biển và vị ẩm ướt.  Tâm hồn anh đi hoang. Anh khó lòng tập trung tư tưởng vào cuộc chiến tranh này.  Thỉnh thoảng anh la mắng lính của anh phải đi cách xa ra, chú ý đến chung quanh, nhưng chính anh rồi cũng rơi vào cơn mơ mộng, tưởng tượng, đi chân trần dọc bờ biển, với Martha, không mang gì trên người.  Anh cảm thấy mình đang lên, mặt trời và sóng biển và gió mơn man, chỉ có tình yêu và một nỗi nhẹ thênh thang.