Làm thế nào để nhận ra – Tim O’Brien part 2 of 4

Nó đã xảy ra, với tôi, gần hai mươi năm về trước. Tôi vẫn còn nhớ chỗ nối vào con đường mòn và những cái cây to khổng lồ và tiếng nước nhỏ giọt nhẹ nhàng ở một nơi nào đó bên ngoài mấy cây to này. Tôi nhớ không khí có mùi rêu. Trên tàng cây tít trên cao có nhiều hoa màu trắng, nhưng không có chút ánh nắng nào, và tôi nhớ bóng tối tỏa ra dưới những cái cây nơi Curt Lemon và Chuột Riley đang chơi tung hứng quả lựu đạn khói. Mitchell Sanders ngồi thảy cái yo-yo của hắn. Norman Bowker, Kiowa và Dave Jensen đứa đang ngủ say gật gù, đứa ngủ lơ mơ và chung quanh chúng tôi toàn là những ngọn núi xanh chớm chở.

Ngoại trừ tiếng cười, tất cả đều im lặng.

Vào một lúc, tôi nhớ, Mitchell Sanders quay sang nhìn tôi, không hẳn gật đầu, như thể báo cho tôi biết một điều gì đó, như thể hắn ta đã biết, sau một lúc ngần ngừ, hắn cuốn cái yo-yo lại và tránh xa ra.

Khó mà kể lại câu chuyện sắp xảy ra.

Hai đứa tụi nó đang chơi đùa. Có tiếng động. Tôi đoán đó là tiếng ngòi nổ, vì thế tôi liếc phía sau tôi và nhìn Lemon bước từ trong bóng mát ra ngoài nắng.  Mặt của hắn bỗng trở nên nâu và sáng ngời. Một chú bé đẹp trai, thật đẹp. Đôi mắt màu xám thật sáng, người thanh mảnh, eo nhỏ, và khi hắn chết cái chết cũng có thể gọi là đẹp, như ánh mặt trời bao bọc chung quanh hắn và nâng hắn lên cao và hút hắn lên ngọn cây cao đầy rêu và dây leo và hoa rừng màu trắng.

Trong bất kỳ câu truyện chiến tranh nào, nhưng đặc biệt là một câu truyện có thật, khó phân biệt chuyện gì thật sự xảy ra hay chỉ dường như xảy ra. Cái dường như xảy ra trở nên chuyện đã xảy ra và phải được kể lại như thế. Cái góc độ nhìn bị lệch lạc. Khi một cái bẫy nổ tung, bạn nhắm mắt và cúi đầu để trốn tránh và bềnh bồng trôi nổi trong chính bản thân.  Khi có một người chết, như Curt Lemon, bạn quay nhìn chỗ khác và nhìn lại mình trong giây phút rồi lại quay nhìn sang chỗ khác. Những hình ảnh trở nên rối loạn; bạn quên đi nhiều chỗ. Và sau đó, khi bạn kể lại câu chuyện này, luôn luôn có cái gì thật là siêu thực trong những điều hình như đã xảy ra làm cho câu chuyện giống như là không có thật, nhưng thật ra nó tượng trưng cho một sự thật đau lòng và chính xác như cái có vẻ như thế của nó.

Trong nhiều trường hợp, một câu chuyện chiến tranh có thật không thể tin được. Nếu bạn tin nó cũng phải giữ mức độ hoài nghi. Đó là một sự hoài nghi về tính chất có thể có thật.  Rất thường xuyên những chuyện có vẻ điên rồ lại là chuyện có thật và những chuyện có vẻ bình thường lại không có thật, bởi vì những chuyện bình thường sẽ làm bạn tin những chuyện điên rồ đến mức độ phi thường.

Còn nhiều trường hợp khác bạn không thể biết câu chuyện chuyến tranh có thật hay không.  Đôi khi nó nằm ngoài khả năng bạn có thể nhận biết.

Tôi nghe Mitchell Sanders kể chuyện này. Lúc ấy đã xế chiều, và chúng tôi ngồi trong hố cá nhân dọc theo bờ sông nước đục ngầu phía Bắc của Quảng Ngãi. Tôi nhớ hoàng hôn dịu dàng làm sao. Một màu đỏ sậm có lẫn chút màu hồng đổ lên trên sông, chảy lan không tiếng động, và buổi sáng hôm sau chúng tôi sẽ băng sông đi về hướng tây để vào trong núi.  Thời điểm này rất thích hợp cho một câu truyện hay.

“Sự thật của Chúa,” Mitchell Sanders nói. “Một đội tuần hành sáu người đi lên núi chỉ để làm công việc quan sát và lắng nghe. Mục đích là ở đấy một tuần, chỉ nằm đó và lắng nghe những chuyển động của phe địch. Họ có mang một cái máy truyền tin, vì thế nếu họ nghe thấy gì đáng nghi ngờ – bất cứ cái gì – họ phải gọi pháo binh hay máy bay, cái gì cần thì dùng. Nếu không thấy gì họ phải giữ tuyệt đối luật thám thính. Tuyệt đối im lặng. Chỉ lắng nghe.

Sanders liếc mắt nhìn tôi để biết chắc là tôi hiểu tình hình. Hắn đang chơi với cái yo-yo của hắn, làm cho cái yo-yo nhún nhảy những đoạn ngắn bằng chuyển động của cổ tay.

Mặt hắn trơ trơ vô cảm trong hoàng hôn.

“Chúng ta theo đúng nguyên tắc khi ở địa điểm thám thính. Sáu thằng, chẳng mở mồm nói một lời cả tuần.  Chúng nó không có lưỡi, chỉ có tai.”
“Ừ,” tôi nói.
“Hiểu tôi nói gì không?”
“Vô hình.”
Sanders gật đầu.
“Chắc chắn rồi, “ hắn nói. “Vô hình. Mấy thằng này, nằm im trong bụi rặm, giả trang, nằm và chờ, chỉ làm có thế thôi, không làm cái gì khác, tụi nó nằm đó suốt bảy ngày chỉ có lắng nghe thôi. Và này, tôi nói cho anh biết – ma quái lắm. Đây là núi. Anh không biết thế nào là ma quái trừ khi anh đã đến nơi ấy. Rừng sâu, ở cao tuốt mãi trên mây và luôn luôn có sương mù – như mưa, nhưng không phải mưa – tất cả mọi thứ đều ẩm ướt và quyện vào nhau và người này không thể nhìn thấy người kia, anh không thấy cả cái đầu con cu khi đi tiểu. Như thể anh không có cả thân hình.  Thật sự ma quái. Anh chỉ đi theo hơi nước – làn sương mù như nuốt lấy anh. . . Và cái âm thanh, nó cứ nheo nhéo suốt. Anh nghe những tiếng mà không ai nghe bao giờ.”

Sanders im lặng một vài giây, tiếp tục chơi với cái yo-yo. Rồi hắn mỉm cười với tôi.

“Sau vài ngày bọn họ nghe một âm thanh thật nhỏ như một loại nhạc rất lạ.  Những tiếng vang dội lạ thường, như tiếng máy phát thanh hay cái gì đó giống như tiếng máy phát thanh nhưng không phải thế. Cái loại nhạc này như thoát ra từ trong đá. Rất xa mà cũng rất gần. Bọn họ cố tảng lờ nó đi. Nhưng đây là địa điểm lắng nghe mà, phải không. Và hằng đêm họ cứ nghe tiếng hòa nhạc điên khùng của tụi gook. Tất cả những tiếng chimes tiếng xylophones, tôi nghĩ, đây là nơi rừng rú hoang dã – không thể nào có thật – nhưng mà nó có đó, như thể những ngọn núi này đã biến thành đài phát thanh Hà Nội. Lẽ tự nhiên là họ lo lắng. Một thằng lấy kẹo cao su trét vào lỗ tai. Thằng khác suýt điên. Khổ nỗi là họ không thể báo cáo về căn cứ là họ nghe tiếng nhạc. Họ không thể nói vào trong máy và truyền về căn cứ mà nói rằng, “Hê, nghe đây, chúng tôi cần yểm trợ, chúng tôi cần bắn cho bay cái ban nhạc đá của tụi gook.” Họ không thể làm như thế. Chuyện sẽ chẳng êm xuôi. Vì thế bọn họ nằm trong sương mù và im mồm. Và càng tệ hơn, là mấy thằng con dại đã không thể long nhong đùa giỡn như bình thường. Không thể nói đùa một câu. Không thể thể trò chuyện với nhau ngoại trừ một đôi câu rầm rì, xì xào, và điều này càng làm khó chịu hơn. Họ chỉ có thể lắng nghe.”