Trích đoạn Những Người Thầm Lặng Nhất

Có tiếng chân chạy sầm sập vội vã bên trên mui thuyền. “Câm mồm! Câm mồm!” Gã đàn ông nói tiếng Việt không rành, giọng lơ lớ.

Việt đặt ngón tay lên môi. Anh quỳ xuống đặt vắt cơm vào tay cô bé. “Mình giả vờ chơi trốn tìm nhé? Nằm dưới chăn chờ cho đến khi nào bố trở lại với con.” Anh hôn trán con và đóng cửa phòng chứa đồ.

Việt chộp lấy con dao, leo năm bậc thang, không cần nhìn cũng đoán biết là mình sẽ gặp chuyện gì. Việt nhớ lại lời người bạn thân, ông giáo sư dạy kinh tế đã thành thật báo trước, “Đi như thế là tự tử. Đừng đi. Nếu Cộng sản không bắt được anh thì anh cũng có nguy cơ bị chìm thuyền, nếu thuyền không chìm thì bọn hải tặc cũng giết anh.”

Xuyên qua cái lỗ của một tấm kim loại rỉ sét, Việt thấy hai người đàn ông mặc đồ âu phục cũ kỹ nhàu nát. Tên cao có vẻ gầy nhom. Hắn mặc quần ống loe. Đôi mắt hắn ẩn sau cặp kính đen của phi công, có thể phản chiếu mặt người đối diện và cái đầu tóc bù xù. Hắn có thể dễ dàng là một trong những đứa học trò của Việt, lừ đừ, thiếu ăn, mơ mông, một vẻ thời trang mà các cô gái bắt đầu yêu thích. Gã con trai ăn diện đúng thời trang đuổi tất cả các gia đình ra trước mũi thuyền và chĩa dao ra hiệu lệnh như thể đó là cây đủa thần. Hắn la hét bằng giọng Việt lơ lớ, “Đi! Nhanh lên! Nhanh lên!”

Gã thấp hơn có vẻ lớn tuổi hơn và rõ ràng là khôn ngoan hơn. Hắn đi dọc theo mui thuyền, xem xét đánh giá từng hành khách. Cuối cùng hắn chọn già Phúc. Việt nghĩ thầm, thằng ngu, thả ổng ra. Ổng không có cái gì cho mầy cướp đâu. Già Phúc là người không màng đến chuyện tiền bạc. Ông là một nhà thơ, bỏ xứ ra đi hành trang chỉ mang theo một tuyển tập bao gồm những bài thơ bị cấm phát hành của ông. Ông đọc những bài thơ này cho mọi người nghe khi đêm xuống, những kỷ niệm về dòng sông Cửu Long, vùng đất phì nhiêu, và các cô học sinh trong áo dài trắng như những đợt sóng chim bồ nông từ thời trai trẻ của ông. Ông già giơ hai tay lên như đầu hàng khi gã cướp khoa dao ngang cổ ông, bén ngót, nhẹ nhàng, cắt một đường trơn tru ngang cổ ông để cảnh cáo.

Khi máu chảy rơi xuống cổ áo ông, vợ ông từ trong đám đông xuất hiện. “Lấy cái này đi,” bà khóc và tụt quần xuống. Phía dưới cái bụng bệu mỡ trắng nhợt nhạt của bà lão và phía trên cái mu, bà đã gói bảy sợi dây chuyền vàng vào cái khăn tay và dùng băng keo dán tất cả tiền dành dụm suốt đời của hai vợ chồng trên xương chậu của bà.

Chỉ có hai tên cướp và hai con dao tuy nhiên Việt hiểu tại sao bạn bè của anh không kháng cự. Họ là thuyền nhân, mệt mỏi như sắp chết, không còn tinh thần chiến đấu, và vì thế họ bỏ vàng và tất cả những mảnh hy vọng của họ vào mấy cái ba lô bẩn thỉu của bọn cướp. Hai tên hải tặc di chuyển trong đám đông một cách dễ dàng. Những gia đình này đều được huấn luyện biết nằm xuống, nhắm mắt, chấp nhận, và chờ cho cuộc hành hạ này chấm dứt.

Khi bọn cướp đến chỗ Hương, chị cởi áo khoác ngoài và nắm cổ áo đưa cho chúng. Việt nghĩ, khôn ngoan đấy, đưa cho chúng cái chúng muốn. Nhưng tên hải tặc dừng lại. Hắn cầm con dao chĩa vào cằm chị. Chị che cổ bằng hai tay. Hắn dùng dao ra hiệu chị lấy tay ra. Chị né tránh mũi dao nhưng ngay sau đó lại che cổ. Hương đang tìm cách dấu cái tượng Phật bằng cẩm thạch ở ngay chỗ hõm trên cổ.

Những người hành khách trên thuyền van nài chị. “Bỏ nó đi!” “Đưa cho nó đi!” “Chuyển nó qua đây!”

Việt muốn nín thở. Nỗi lo sợ đắng nghét như có ai nhồi một nắm bạc cắc vào mồm anh. Anh biết vợ anh sẽ không từ bỏ vật gia truyền một cách dễ dàng. Chị đẩy cái áo khoác vào ngực tên cướp. Chị lấy tay chỉ vào những thỏi vàng và nữ trang chị đã khâu vào lớp trong của áo.

Tên cướp la mắng chị cho đến khi nước dãi của hắn bắn lên cằm chị. Về sau Hương kể lại hắn có hơi thở hôi thối vô cùng và vì chị thấy nó thối quá chị không thể ngừng nói. “Chúng bây là đồ thú vật, đồ chó.” Chị cười nhạo báng vào mặt hắn, “chúng bây hãm hiếp người ta.”

Hắn không hiểu lời chị nói, nhưng đoán biết là chị đang nguyền rủa hắn. Hắn túm tóc chị và xô mặt chị xuống mui thuyền. Những người hành khách nhăn mặt. Dĩ nhiên họ đều nhận ra Hương từ những phim quảng cáo chị đã đóng khi còn là người mẫu. Một người đàn ông về sau kể lại, “Cái ý nghĩ làm hư hỏng bộ mặt ấy cũng đủ là tội ác.”

Ở phía dưới thuyền, Việt nhìn tên cướp kéo tuột quần ngoài và quần lót của chị xuống đến đầu gối. Hương vùng vẫy và đá từ phía dưới người hắn, nhưng hắn kẹp chị cứng ngắc. Khi hắn tụt quần hắn xuống thì sợi dây gài bị nghẽn. Gã cướp cố tự giải thoát mình bằng một tay để có thể cầm giữ lưỡi dao.

Việt biết là anh chỉ có cái khoảnh khắc này mà thôi. Anh tìm thấy mục tiêu anh muốn tấn công, cái xương cổ. Anh đếm nhẩm là gã cướp ở cách anh chừng mười một bước nhưng anh lo ngại mình bị sai vì mắt anh yếu, và kính anh mờ, vì tròng kính bị trầy trụa khi anh dúi mặt vào cái lỗ rỉ sét của cái cửa làm bằng tấm kim loại.

Trong tủ chứa đồ, đứa con gái nũng nịu, “Bố ơi, con không muốn chơi nữa.”

Anh nói, “Trò chơi sắp xong rồi,” Việt nhẩm đi nhẩm lại trong đầu, Ra tay trước, ra tay trước. Với con dao kẹp vào đùi, anh nghĩ, nếu mình thất bại không phải chỉ có vợ mình bị thiệt hại mà thôi mà cả con gái của mình cũng cùng chung số phận.

Việt nắm chặt cán dao, tay kia mở trái cửa, hít vào, thở ra, và cuối cùng lao tới. Khi ra đến bên ngoài, anh tấn công tên cướp từ phía sau, và nâng cắm hắn lên. Con dao gặp kháng cự lúc đầu. Việt cắm phập lưỡi dao. Anh ấn lút cán và vặn tréo lưỡi dao. Vết cắt sâu và nhanh. Máu túa ra.

Tăng thêm phần can đảm nhờ sự liều lĩnh của ông giáo sư, những người đàn ông kia cùng tấn công tên cướp cao. Gã cướp ăn mặc đúng thời trang đang say sưa ngây ngất nên hoàn toàn chẳng có sức kháng cự mặc dù hắn có vũ khí.

Việt bỏ mặc xác mấy tên cướp trên mui ghe, để cho những người đàn ông khác ném chúng đi và đi đón bé Mai vẫn còn đang trốn trong tủ dưới mui ghe.

Việt trở nên vị anh hùng chính hiệu của cả thuyền, thế nhưng anh rút lui vào trong im lặng.

Hương nói, “Anh làm việc rất phải, Tại sao anh lại buồn, Bố?”

“Anh làm chuyện yếu hèn,” anh trả lời. “Gây thương tích đau đớn cho kẻ khác là chuyện dễ dàng. Nó không đòi hỏi điều gì khó khăn cả.”

“Anh làm như vậy để bảo vệ gia đình anh,” chị nói. Hương hôn trán anh và ôm anh.

Chị nhẹ nhàng lắc lư anh trong vòng tay chị, chồng chị, ở nhà đã từ chối cả việc giết con nhện, mặc cho chị van nài. Con nhện cũng đáng được sống, anh nói như thế trước khi phóng thích nó; anh dùng giấy vệ sinh túm lấy nó rồi thả lên bụi hoa gardenia của chị.

Những ngày tiếp theo Việt khóc rưng rức cho kiếp người mong manh, cho cuộc đời đã bị anh cướp đi và cuộc đời anh đã cứu. Anh khóc vì đã chứng kiến sự hèn yếu của loài người, những người đã chờ chực để hãm hại những người vô tội và nghèo khổ. Anh ôm đầu bằng bàn tay đã nhuộm máu, tin là mình hư hỏng vì anh đã làm một việc không thể tưởng tượng được, giết người. Anh là người tầm thường, thô thiển như bao nhiêu người khác, không thể thực hiện cuộc sống bất bạo động mà anh thường kêu gọi, anh không phải là người cao thượng mà anh cố gắng vươn đến.

Việt ôm đầu trong tay. Mồ hôi chảy ướt thành vệt dưới nách của cái áo ngắn tay đồng phục của nhân viên bưu điện. Bao chứa thức ăn trưa của anh đặt trên lòng.

“Cô bé thắt bím cao như thế để các bạn biết là cô ấy thích đàn ông lắm đấy,” Melvin tiếp tục nói.

Trái tim của Việt chỉ muốn một điều và thân hình của anh đang hướng về mục tiêu. Anh cần phải bắt gã kia im mồm. Anh ngồi đó run rẩy, toàn cánh tay của anh được dấu trong cái bao chứa thực phẩm màu nâu. Bên trong, tay anh nắm chặt con dao. David quay người lại, nhìn thấy Việt, và ra hiệu với các người kia.

Melvin cuối cùng nhận biết điều này. Hắn nói, “Việt, sao anh lại nghe trộm như thế ? Ngồi đó im ỉm, anh thật là, Tôi không biết anh đã lén nghe. Cứt thật.”

“Chú mày không phải là người đàng hoàng,” Việt nói ngước cằm cao lêm. “Con gái tôi, nó mới mười ba tuổi, nó là đứa ngoan.”

“Tôi chỉ nói toàn điều tốt về cô bé. Rất tốt.”

Vài ba gã thanh niên cố nén cười, nói, Thằng Melvin cà chớn, mầy là thằng điên.

Việt đứng dậy và cái ghế xếp kêu ken két trên nền nhà. Anh ôm trên tay cái bao giấy nâu bằng một tay còn tay kia vẫn nắm chặt con dao bên trong bao giấy. “Chú mày vô lễ với con tao,” anh nói. Anh cảm thấy những gân máu ở giữa trán anh co giật. Máu chạy rần rật vào tai anh. Nó mang anh trở lại cái trống rỗng của biển cả, và những đợt sóng bạo liệt. Tầm nhìn của anh lung lay. Nhưng khi anh nháy mắt và định tĩnh trở lại, mắt anh theo dõi mắt của Melvin. Cái nhìn chăm chú của gã da đen ngừng lại ở cái áo của Việt. Nó ướt đẫm đến độ nó trở nên trong suốt có thể nhìn thấy áo lót của anh. Ánh mắt hắn di chuyển đến bao giấy màu nâu rồi ngừng ở đấy. Hắn nhấp nháy, cố tìm hiểu cái gì ở bên
trong. Việt cố ngăn cơn run rẩy của anh và tự nhủ; bắt hắn phải câm mồm, bắt hắn phải câm mồm.

Melvin nói, “Tôi xin lỗi, anh.”

Việt không để cho hắn dứt lời. “Chú vô lễ với con tôi,” anh nói. “Chú nói về con bé, chỉ mới mười ba, như thể nó là đĩ.” Việt nghe giọng nói của mình vang to hơn, khó nhận ra.

“Anh không nên làm chuyện gì điên khùng nhé,” Melvin nói.

“Chú vô lễ với tôi!”

“Tôi chỉ nói đùa nhưng đáng lẽ tôi không nên nói năng như thế, “ Melvin đưa hai bàn tay lên ngang ngực, lòng bàn tay hướng ra ngoài. “Đừng nổi giận, thôi mà.”

Việt lại lẩm bẩm; chú khinh tôi, và thở ra thật mạnh trước khi buông cán dao.

Melvin, hai tay dang rộng nói, “Tôi rất mến anh, anh là con mèo rất hiền lành. Tôi không có ý xấu. Tôi thề, tôi không có khinh anh.”

“Chú, nếu có khi nào gặp lại con bé nhà tôi, chú phải xin lỗi.” Việt nói, bỏ cái bao giấy xuống.

Cái chai thủy tinh bị vỡ dưới chân anh. Sữa đậu nành chảy ra khỏi bao giấy nâu. Không ai chú ý. mắt của họ dán vào đôi cánh tay to lớn của Melvin đang quàng chung quanh thân hình của Việt, ôm chặt ông.

“Lần sau, anh cứ bảo tôi câm mồm, nhé?” Melvin cười to. Bị ngạt thở vì cái ôm chặt vui vẻ như tình anh em của Melvin, Việt nhớ một câu châm ngôn của Khổng Tử và lập lại trong đầu. Đừng lo rằng người ta không nhận ra giá trị của bạn; hãy lo rằng bạn có thể không nhận ra giá trị của người ta.

Melvin vỗ lưng anh và nói, nghiêm trang và quan tâm, “Này, sao anh không cùng đi với chúng tôi hôm nay? Vui chơi với bọn trẻ.” Việt cảm thấy hổ thẹn khi nhìn xuống đôi giày nâu của mình và cái góc ướt mềm của cái bao giấy nâu. Anh thầm cảm ơn họ đã dễ dàng bỏ qua mọi chuyện, nhưng anh từ chối. Anh muốn được ngồi một mình, trên băng ghế với đàn chim, và ăn phần ăn trưa của mình trong yên lặng.

Lần đầu tiên xuất hiện trên báo Santa Clara Reviews với tựa đề “Người đưa thư” 94:2 (2007): 2-11