Đọc Loanh Quanh Những Nẻo Đường

Tuyển tập ký và tùy bút của Trần Doãn Nho

Tuyển tập Loanh Quanh Những Nẻo Đường không đính kèm tiểu sử của tác giả như những quyển trước đây của Thư Quán Bản Thảo. Tuy nhiên tìm tiểu sử của ông không khó bởi vì hầu hết các trang mạng hải ngoại nổi tiếng như Talawas, Hội Luận Văn Học, Người Việt Boston đều có bài viết và tiểu sử của ông.

Ông Trần Doãn Nho sinh năm 1945 tại Huế, tốt nghiệp Cử nhân Triết học năm 1968. Năm 1975 ông đang học Cao học tại Đại học Văn khoa chưa kịp trình luận án thì bị dang dở việc học. Ông đi tù (cải tạo) 6 năm sau đó định cư ở Boston kể từ năm 1993. Trước năm 1975 ông viết cho Bách Khoa, Tân Văn, Vấn Đề, Khởi Hành, Đối Diện. Ở Hoa kỳ ông có bài đăng tải ở Văn Học, Hợp Lưu, Diễn Đàn Tự Do, Thế Kỷ 21, Talawas, và nhiều trang mạng khác. Ngoài bút hiệu Trần Doãn Nho ông còn dùng bút hiệu Trần Hữu Thục trong nhiều bài biên khảo.

Loanh Quanh Những Nẻo Đường được Văn Mới, Hoa Kỳ xuất bản năm 1999; Thư Quán Bản Thảo tái bản năm 2011. Bìa của Nguyễn Trọng Khôi. Sách dày 184 trang. Bạn đọc nếu muốn xin liên lạc với Thư Quán Bản Thảo, Trần Hoài Thư, P.O. Box 58, South Bound Brook, NJ 08880. E-mail tranhoaithu@verizon.net. Hay liên lạc với chính tác giả trandoanho@yahoo.com.

Toàn tập có tám bài ký và tùy bút. Lời mở và lời khép là hai bài thơ tự do. Vì tuyển tập đã được xác định là ký và tùy bút nên tôi xin được phép xem nhân vật “tôi” trong truyện là chính tác giả. Tôi thấy khó phân biệt ranh giới giữa ký và truyện ngắn. Rất nhiều bài trong tuyển tập này tôi thấy hay và hấp dẫn, cách viết công phu, với nhiều chi tiết đặc sắc chẳng khác gì truyện ngắn. Phải chăng ký là ghi lại những chuyện có thật chứ không phải là sáng tạo bằng tưởng tượng?

Một Đêm là một bài “ký” rất hay. Tác giả, sau năm 75, bị truy lùng, cuối cùng bị bắt, khi vợ vừa sinh đứa con đầu lòng. Ông được đưa đến một góc vắng vẻ cuối đền Văn Thánh ở Huế. Nơi đây ông bị giam gần sáu tháng trước khi bị đưa đi tù ở xa. Bài ký này tả lại đêm đầu tiên ông ở chỗ giam lỏng này. Khi tải ông đến đây, hai người đi trước ông để dẫn đường, hai người đi sau ông cầm súng sẵn trên tay. Người đọc cảm thấy nỗi sợ của nhân vật dù giọng văn rất điềm đạm. Ông được người mang cho ăn bữa tối rất thịnh soạn. Trong thời buổi kinh tế khó khăn, ở vị trí tù nhân, bữa ăn làm ông liên tưởng đến đặc ân cuối cùng dành cho kẻ tử tội. Có cái gì đáng sợ hơn cái chết không? Có chứ, sự chờ đợi cái chết từng bước đến gần còn khủng khiếp hơn cái chết. Người ta luân phiên giữa hai trạng thái tuyệt vọng và hy vọng. Đây là khoảng thời gian người ta dễ phát cuồng và tự tử nhất.

Trang 20. “Còn tôi, nỗi chết bám chặt. Tôi bắt đầu cố làm quen với ý nghĩ mình sẽ chết. Tôi bước trở lại khuôn cửa sổ, nhìn ra bãi tha ma. Những nấm mộ, những tấm bia cắt thành những đường nét mơ hồ ngoài kia. Thỉnh thoảng xuất hiện những đốm lửa đỏ nhờ nhờ bắn lên không trung. Tôi tưởng tượng một lúc nào đó trong đêm, tôi sẽ bị dẫn ra ngoài đó, bị trói lại, bị bắn bỏ và đạp xuống một cái hố đào sẵn. Hết. Cuộc đời tôi sẽ chấm dứt đơn giản như thế.”

Trang 24. “Bỗng nhiên, có tiếng động. Tôi giật mình, lắng nghe. Vâng, tiếng động. Tiếng bước chân nhè nhẹ đâu đó bên ngoài. Tóc tôi dựng ngược. Đã đến lúc rồi! Đến rồi! Người tôi căng cứng. Tôi đốt một điếu thuốc khác, lập bập từng hơi.”

Bạn có bao giờ bị mất ngủ không? Với tôi một đêm không ngủ được sao nó dài vô tận. Tưởng tượng một đêm không ngủ để chờ chết thì càng khủng khiếp biết chừng nào. Tôi nín thở theo dõi những chuyển biến trong cuộc đời của nhân vật.

Sài Gòn Những Tháng Ngày Trôi Nổi nói về cuộc sống của tác giả sau khi ra khỏi tù. Tương tự như nhân vật Nguyễn văn Tuấn trong quyển Chuyện Kể Năm 2000, tác giả đã phải làm rất nhiều nghề để kiếm sống. Ở những bài ký sau ông cho biết đã ra miền Trung
làm hàng rào kẽm gai và đi buôn trầm. Trong Sài Gòn Những Tháng Ngày ông đã bán quần áo sau đó bán vé số. Ban ngày đi bán vé số buổi tối ông tá túc với bạn bè người quen. Những hôm không tìm được chỗ trú ông phải giăng màn che muỗi ngủ bên cạnh những ngôi mộ trong nghĩa địa. Chi tiết này làm tôi nghĩ đến truyện ngắn Ba Con Cáo của nhà văn Bình Nguyên Lộc. Cả hai nhân vật của Bình Nguyên Lộc và Trần Doãn Nho đều không tìm ra được một chỗ sống yên ổn giữa loài người cuối cùng phải chen lấn tá túc với những người đã chết nhưng cũng chẳng yên thân. Người ta đi bán vé số để kiếm tiền. Nhân vật “tôi” đi bán vé số để quan sát, triết lý, suy ngẫm về sự tham lam gian ác của những người chủ thầu vé số, và sự dối trá của chính bản thân (người bán vé số). Ông không chỉ bán vé số. Ông bán ước mơ.

Trang 43. “Tôi đang bán ước mơ để độ nhật. Một người bán ước mơ lại chẳng hề mơ. Tôi đã tồn tại trên giấc mơ của người khác.”

Trang 49 “Tóm lại để củng cố niềm tin của khách, tôi bịa đủ thứ. Đoán ngược, đoán xuôi, thêm mắm dặm muối cốt để làm đẹp những con số vô tri vô giác trên tấm vé số, cốt biến chúng thành ra một thiên đường đầy mơ ước để mời chào người mua.”

Tôi e rằng tác giả bán vé số ngoài việc kiếm sống còn để tích lũy vốn sống cho việc viết văn.

Trang 45. “Đến bây giờ tôi mới thấm thía một điều: một lời nói láo ngọt ngào chứa đựng nhiều sự thật hơn cả sự thật, vì người ta thích lời nói láo ngọt ngào hơn sự thật cay đắng. Nhất là bịa đặt về một điều trừu tượng như Tthượng Đế, Niết Bàn, kiếp sau và . . . vé số chẳng hạn.

Văn của ông có nét kín đáo của người dân Huế mà ông miêu tả trong bài tùy bút Huế Của Tôi, Kín và Mở. “”Nét đó không còn lồ lộ ra bên ngoài nữa mà kín đáo ẩn vào bên trong.” “Nó trộn lẫn giữa một cái gì tưởng đã qua nhưng vẫn còn tồn tài sống động, giữa thái độ ẩn
nhẫn của sự thất thế và nét kiêu sa ngọt ngào của một thưở hoàng kim. Nó bàng bạc đâu đó.” 
Kín mà mở, dịu dàng mà thâm trầm, cười mà không cười, nhìn mà không nhìn. Văn phong của ông cũng thanh nhã điềm đạm như văn phong của nhà văn Võ Phiến và Nguyễn Xuân Hoàng.

Tác giả đi nhiều và đã sống ở nhiều nơi. Tuyển tập này đưa người đọc từ Huế vào Sài Gòn ra Hà Nội, rồi Quảng Bình, Hà Tĩnh và cuối cùng qua cả đến Hoa Kỳ. Xứ Huế của ông là hạng nhất. Sài Gòn của ông cũng hạng nhất. Vùng New England nơi ông nhận làm quê hương cũng hạng nhất. Đọc Chớm Thu và Mùa Thu New England tôi chỉ muốn lên đường đến nơi ông ở để xem lá thu dù nơi tôi ở không xa tiểu bang của ông. Ông cũng yêu mến Hà Nội nhưng Hà Nội mà ông nhìn thấy sau ngày hòa bình không phải là một Hà Nội trong trí tưởng của ông. Bài tùy bút Lô Sơn Yên Tỏa ông nói cảm nghĩ về Hà Nội như sau:

Trang 113. “Tôi cũng đến Hà Nội để tìm, tìm một mộng tưởng giữa sự thật, một vĩnh cửu giữa cuộc thăng trầm, một vết đọng giữa kiếp phù du, một cái tôi giữa phố phường đông đúc.” Ông đi tìm các nhân vật Loan, Dũng, Mai, Trâm của Hà Nội trong tiểu thuyết và thay vì gặp họ ông gặp người Hà Nội bây giờ.

Ở đâu và bất cứ hoàn cảnh nào tác giả luôn luôn là người quan sát ngoại cảnh và nội tâm. Mọi biến chuyển trong đời đều được ông ghi nhận và sau một thời gian ủ cho đủ chín những ghi nhận này biến thành tác phẩm. Trong phạm vi của bài điểm sách tôi xin ngừng ở đây và mời bạn đọc tác phẩm của ông. Cần nói thêm là bài Ngậm Ngải Tìm Trầm
đã làm tôi mải mê đọc đến độ suýt tí nữa tôi đã lỡ trạm xe lửa về nhà. Không mấy khi người ta có thể thú vị chìm vào những trang sách đến quên đường về như thế.