Đoàn Minh Tuấn – Tự sự của một người làm phim

Sau khi đọc hai quyển sách về điện ảnh của nhà văn Đoàn Minh Tuấn, tôi định trích một vài đoạn chia sẻ với các bạn. Nhưng tôi lại có một ít thắc mắc về nhà văn nên thay vì trích sách tôi đặt một vài câu hỏi để thỏa mãn sự tò mò của tôi.  Nhà văn Đoàn Minh Tuấn trả lời cặn kẽ và chi tiết, rốt cuộc bài phỏng vấn trở nên dài 11 trang. Tuy nhiên những câu trả lời rất thú vị, giúp tôi thêm phần hiểu biết về bộ môn điện ảnh. Xin chia sẻ với các bạn.

NTHH: Được tặng hai quyển sách “Những Vấn Đề Lý Luận Kịch Bản Phim”“Hướng Dẫn Viết Kịch Bản Phim” tôi xin cảm ơn tấm lòng hào phóng của tác giả. Hai quyển sách rất dễ đọc nhờ lối văn trong sáng, thú vị và hấp dẫn không ngờ vì tôi nghĩ sách giáo khoa hay tài liệu biên khảo thường hay khô khan. Trước đây tôi đã đọc quyển hồi ký chiến tranh “Những Người Không Gặp Nữa” của anh; cùng lúc với hai quyển sách về kịch bản phim, tôi cũng nhận được quyển truyện mới xuất bản của anh, quyển “Mùa Chinh Chiến Ấy.” Tôi có vài điều muốn tìm hiểu thêm về tác giả. Tôi được biết anh sinh năm 1960, nhập ngũ năm 1978 sang chiến trường Kampuchia. Anh làm người lính vì đòi hỏi của đất nước, trở thành nhà văn là một điều hợp lý vì trải nghiệm nhiều, quan sát nhiều và cảm thụ nhiều. Nhưng nhân duyên nào anh lại trở thành người viết hướng dẫn kịch bản phim và lý luận kịch bản phim? Xin cho biết sơ qua về tiểu sử, hoặc đưa một cái link trên mạng có tiểu sử của anh. Trên mạng có rất nhiều Đoàn Minh Tuấn, có cả nhà văn cùng tên nhưng sinh năm 1932. Xin anh cho biết tôi đang trò chuyện với người nào đây.

ĐMT: Tôi đi bộ đội năm 1978. Nhưng trước đó, tôi đã thi đỗ vào khoa Văn, Đại học Tổng hợp Hà Nội. Khoa Văn, đó là mơ ước của tôi. Ngày đó, thi đại học rất khó. Trường cũng lấy ít sinh viên. Tôi nhớ, năm đó, cả Hà Nội chỉ có 6 người đỗ vào khoa này. Nhưng chưa kịp vào trường, tôi đã bị gọi đi bộ đội. Tuy rất tiếc, nhưng tôi vẫn phải chấp hành. Vì mình là một thanh niên, khi đất nước bị đe dọa, mình cần phải thực thi bổn phận. Đó là lương tâm của một người bình thường. Nhưng đối với một người có ước mơ trở thành nhà văn, thì yêu cầu đó lại cao hơn. Đấy là tôi cảm thấy thế. Vì những năm thơ ấu, tôi đã tập viết. Chủ yếu là thơ. Nhưng chưa thành công.

   Chúng tôi được huấn luyện 3 tháng ở vùng núi Hòa Bình. Đơn vị tôi có đủ các hạng người. Sinh viên, học sinh, công nhân, thanh niên đường phố, người nông dân v.v…Có đủ mọi chuyện xảy ra ở đó. Kẻ nịnh hót, người cơ hội, kẻ bất mãn, đứa trộm cắp, người hèn nhát… Tôi đã kể trong cuốn ‘’ Một trăm ngày trước chiến tranh’’. Vì tôi thấy, các nhà văn thường viết về người lính ở chiến trường, chưa thấy ai viết về họ lúc huấn luyện. Và sau đó, chúng tôi ra trận. Ở mặt trận, tôi cũng viết bài, làm thơ. Gửi cho tờ báo của Quân khu 5. Và được họ đăng. Sau đó, tôi gửi tiếp lên cấp cao hơn, như tạp chí “Văn nghệ Quân đội’’ và báo “Văn nghệ’’. Và họ cũng đăng (chắc họ ưu ái lính trấn thủ biên ải). Rồi đến Tết năm 1981, tự nhiên, lúc giao thừa, đài Tiếng nói Việt Nam, đọc thơ tôi. Ông Trung đoàn trưởng nghe được. Mà lúc ấy, tôi đang ở tít dưới đơn vị chiến đấu. Rất xa. Về sau, ông tìm cách kéo tôi lên trung đoàn. Ông sợ tôi chết. Thế là tôi được quý nhân phù hộ. Sau này, tôi tìm đến nhà ông, nói lời cảm ơn.

   Ở trung đoàn được 2 năm, biết tôi không có chí hướng phấn đấu trở thành sỹ quan, cấp trên cho tôi ra quân. Vì đơn vị có nhiều lính mới, tôi mới được về. Khi về, thân hình ốm nhom. Nặng 40 ký. Thương tật 19 %. Sốt rét triền miên. Nhưng tôi có niềm an ủi là được trở về mái trường mà mình mơ ước từ lâu.

NTHH: Một người đội nhiều mũ, thế anh thích được biết đến như là cựu quân nhân, giáo sư dạy môn kịch bản phim, nhà văn, kịch tác gia, hay đạo diễn?

ĐMT: Chị hỏi về việc, tôi thích mình là ai ? Nói chung, tôi chỉ thích mình là người viết. Tôi cũng thích làm đạo diễn. Kể cả phim tài liệu.  Nhưng những câu chuyện tôi trình bày, các nhà sản xuất thấy không thích hợp. Nên đành gác lại.

NTHH: Duyên lành nào đưa anh đến với lãnh vực phim ảnh? Được đào tạo ở đâu? Bởi ai?

ĐMT: Khi về trường đại học, có vốn hành trang là giải A cuộc thi thơ của tạp chí Văn nghệ quân đội năm 1983-1984. Nhưng tôi luôn ý thức là mình cần phải  thu nạp kiến văn. Tôi  học và đọc như điên. Để bù lại những năm mất mát. Vào một ngày đẹp trời, tôi vừa tan trận bóng đá, xách đôi giầy rách vào quán trà đá, gặp ông thầy ở phòng đào tạo đi ngang. Ông hỏi: “Ông Tuấn, ông thích đi nước ngoài không?”- “Sao lại đi hở thầy?’’-‘’Ông thi tốt lắm!’’-‘’Cảm ơn thầy. Để em suy nghĩ đã’’. Nhưng chỉ ngay hôm sau, trường đã chuyển hồ sơ của tôi sang Đại học ngoại ngữ, khoa tiếng Nga. Vậy là tôi đi học tiếng Nga để năm sau du học Nga.

   Khi chuẩn bị đi Nga thì tôi lại gặp may. Một hôm, có mấy vị quan chức đào tạo điện ảnh tìm đến nhà tôi và vào trường ngoại ngữ. Họ gặp tôi và đề nghị tôi sang Nga học về điện ảnh, ngành biên kịch. Họ nói, vì đọc văn của tôi, thấy có nhiều ‘’chi tiết điện ảnh’’. Tôi chẳng hiểu đó là cái gì. Họ nêu đoạn văn tôi kể về trận hành quân sau lưng địch. Đêm tối đen, tiểu đoàn trưởng phải đi ngược đoàn quân, sờ đầu từng người mà đếm. Họ bảo: “Đấy là xinema’’. Nhưng đợt đi Nga năm đó, tôi được chỉ định học ngành ngoại giao (cùng với một người khác). Thấy họ nhiệt tình và ân cần, tôi đồng ý luôn.

Sang Nga, sau một năm dự bị ở trường đại học Tổng hợp Lomonoxov (MGU),  tôi phải thi vào khoa Biên kịch của trường đại học điện ảnh Liên bang Xô-viết VGIK). Sinh viên nước ngoài thi riêng. Tôi đỗ vào khoa này. Lớp có 12 người Nga và 3 ngoại quốc. Thầy dạy chúng tôi gồm 4 người. Ba thầy giảng chính là V. Chiernyk (Tác giả kịch bản phim “ Moscow không tin vào nước mắt” –phim đoạt Oscar); Phó GS-nhà lý luận điện ảnh L. Aleksandrovna; Thầy E. Grioriev và cùng một thầy trợ giảng nữa. Các thầy đều có tác phẩm là phim và sách về điện ảnh. Hai thầy còn làm nhiệm vụ lãnh đạo hai hãng phim lớn. Môi trường học tập rất tuyệt vời. Sinh viên ngành sáng tác (Đạo diễn và Biên kịch) được ở một mình một phòng với đầy đủ tiện nghi. Thứ 4 hàng tuần được xem phim mới của nước ngoài, tiếp xúc với các nghệ sỹ ngoại quốc; Tối thứ 6 hàng tuần được đến Hội điện ảnh Nga xem phim mới của Nga, làm quen với những người nổi tiếng. Chúng tôi học ở đó 5 năm với nhiều môn học. Tôi thích sân khấu (4 năm), hội họa (4 năm) âm nhạc (2 năm), văn học (4 năm)…Còn  năm  thứ 5 thì tự do, chỉ làm kịch bản tốt nghiệp. Tôi đi chơi khắp liên bang.

NTHH: Anh có viết kịch bản phim? Và kịch bản phim truyền hình? Xin anh cho biết tên toàn bộ tác phẩm, sách và phim.

ĐMT: Sau  khi học xong, tôi đi chơi châu Âu (Đông Âu) gần một năm. Vì có bạn bè ở đó. Về nước, tôi thất nghiệp. Nhưng tôi vẫn làm được việc vì tôi mang về rất nhiều sách. Tôi dịch cho các báo và nhà xuất bản để kiếm sống. Ít lâu sau, Hãng phim truyện VN nhận tôi vào. Ngày đó, chưa có phim truyền hình nên việc làm phim điện ảnh rất khó. Sau này, truyền hình làm phim. Tôi có làm một số phim. Ví dụ như ‘’Sân chơi’’-(Kể về một cậu bé, ở thành phố, không có chỗ chơi, lên sân thượng thả diều, bị ngã và chết ); phim ‘’Người như mọi người’’ (Kể về một cô gái, vô tình tông xe làm chết một người điên. Cảnh sát đã thu xếp ốn thỏa, nhưng cô vẫn đi tìm gia đình người điên để đền bù); phim ‘’Con chó cảnh’’ ( Nói về thân phận những con chó Nhật, thời hạ giá. Một gia đình, muốn đi xa, nhưng không gửi được chó vì không ai nhận) v.v… .Một số phim truyền hình dài tập, tôi viết KB, nhưng các đạo diễn, diễn viên làm cẩu thả quá, tôi không thích và cũng không xem.

Về phim tài liệu. Tôi chỉ làm những phim tôi thích. . Một số phim khác, người ta nhờ tôi làm hoặc cùng đứng tên, nhưng khi làm xong, họ muốn đứng tên, tôi cũng đồng ý luôn vì họ thích thế. Tôi thì chẳng quan tâm lắm đến chuyện đó vì tôi có nhiều việc khác cần làm.

   Về phim điện ảnh. Tôi rất thích làm. Nhưng đa phần các phim làm ra, đều không đúng nguyên bản. Vì nhiều lý do. Ví dụ như phim ‘’Ngõ đàn bà’’(1992). Phim kể về một cái ngõ hẻm, trong đó đa số là phụ nữ sinh sống (vì sau chiến tranh). Trong ngõ hẻm tình cờ có một người đàn ông rơi vào (một gia đình). Thế là cái ngõ hẻm loạn cả lên. Gia đình kia cũng vậy. Nhưng phim làm xong thì không được phát hành. Người ta đổi tên thành ‘’ Chuyện tình trong ngõ hẹp’’ và cắt đi rất nhiều. Đến phim ‘’Đi tìm chỗ ngủ’’ cũng vậy. Phim kể về một đôi trai gái, thời 1980-1990, yêu nhau, muốn đi tìm một căn phòng hạnh phúc, trước lúc xa nhau. Tìm mãi không có. Đến khi có được, thì bao nhiêu sức lực và khát vọng biến mất. Phim này lại bị đẩy về thời chiến mới được làm và bị đổi tên thành ‘’Chiếc chìa khóa vàng’’. Đến phim nữa là ‘’Đường Thư’’, kể về hai người lính chuyển thư lên đơn vị tôi, bị giặc bắn chết, thư thấm máu, bị giữ lại. Lính tráng phải ăn trộm thư. Câu chuyện này xảy ra ở chiến trường K, nhưng lại bị đẩy về thời chống Mỹ. Đạo diễn, biên tập đều không qua thời lính nên phim làm ra, tôi không khoái lắm. Sau này, tôi viết kịch bản một số phim nữa như ‘’Sống cùng lịch sử’’ (Tên này do người biên tập đặt, chứ tôi không thích. Phim kể về nhóm bạn trẻ đi du lịch Điên Biên Phủ, cùng sống với nhưng người năm xưa);  phim ‘’Trên đỉnh bình yên’’ viết về người Chăm, nhưng vì đạo diễn không hiểu văn hóa Chăm nên phim làm ra tôi cũng không thích nốt. Nói chung, vì nhiều nguyên nhân, những phim do tôi viết KB, chưa thành công.

NTHH: Trong quyển “Hướng Dẫn Viết Kịch Bản Phim” trang 149, anh đưa ra bảy nguyên nhân khiến phim tài liệu trong nước chưa hay. Anh có thể cho biết cụ thể những phim nào. Những nhà làm phim trong nước có chú ý đến tiếng nói của anh không?

ĐMT: Phim tài liệu trong nước không hay và không thể hay được vì họ làm phim quá cũ. Vì kinh phí làm phim hạn hẹp, Hãng giữ lại một phần làm quỹ lương, quỹ đối ngoại. Các đạo diễn làm phim chỉ cốt làm cho xong nhiệm vụ, không sáng tạo. Phim không đi vào những vấn đề người dân quan tâm, chỉ ca ngợi người tốt việc tốt. Các hội thảo, chúng tôi đã nói nhiều. Tôi cũng viết nhiều bài phân tích, phê bình. Nhưng mọi việc vẫn đâu vào đấy. Rất khó để ai đó dịch chuyển tư duy. Vì khó. Họ cũng chẳng được gì.

    Tôi hiểu những vấn đề cản trở các nhà làm phim tài liệu trong nước. Họ không biết tìm đâu và kiếm thế nào để thực hiện một dự án phim có độ dài khoảng 90 phút.

NTHH: Trong hai quyển sách anh viết, anh đưa ra nhiều thí dụ chứng minh bằng phim và bên cạnh phim trong nước còn có nhiều phim nước ngoài. Anh cho thấy một kiến thức uyên bác về điện ảnh quốc tế. Xin anh cho một vài so sánh giữa phim trong nước và phim quốc tế.

ĐMT: Phim quốc tế, kể cả phim truyện và tài liệu, tôi xem nhiều. Vì công việc giảng dạy và làm báo, buộc mình phải xem. Nhưng tôi thấy phim trong nước và nước ngoài đều có ích cho tôi. Vì trong giờ giảng, tôi chiếu phim trong nước, phân tích những điểm yếu, để sinh viên tránh; còn phim nước ngoài, tôi nói những điều hay, để sinh viên học.

   Giữa phim trong nước và quốc tế có khoảng cách. Nhưng dù thế nào chăng nữa, công nghệ và kỹ thuật làm phim có như nhau, nhưng tâm hồn thì không ai chuyển giao được. Vì vậy, tôi luôn khuyên sinh viên hãy kể những câu chuyện của gia đình mình, họ hàng, làng quê mình. Nhưng cũng rất khó. Vì thái độ sống của các em không chân thành với cộng đồng.

    Trong khoảng ba năm trở lại đây, có nhiều phim của các nhà làm phim trẻ rất đáng xem. Đó là tín hiệu tốt. Nhưng trong phim của các em, tôi vẫn thấy ở nhiều đoạn, dấu vết ‘’bắt chước’’ các phim nước ngoài, nhất là phim Mỹ, khá rõ. Vâng, ai cũng cần phải học. Nhưng nên học thế nào. Đôi khi, tôi cũng tự nhủ:’’ Không sao. Hãy thể tất. Các em sẽ qua được!’’.

   Gần đây, có khá nhiều đạo diễn Việt kiều từ Mỹ về nước làm phim. Họ mang theo một luồng gió mới vào không khí điện ảnh trong nước. Nhưng bên cạnh đó, chính họ cũng bộc lộ nhiều hạn chế. Đó là các cốt truyện và câu chuyện của họ còn đậm mầu sắc của  Hollyood. Một đạo diễn Việt kiều nói:’’ Chúng tôi làm phim ở Sài Gòn nhưng chết ở Cà Mau’’. Ý kiến của tôi nhìn nhận dòng phim này là ‘’Da Sài Gòn nhưng hồn Hollyood’’.Song tôi hiểu, mục đích và động cơ của  các đạo diễn Việt kiều chỉ làm phim thương mại. Không nên lấy thước đo của mình đo chung mọi thứ.  

    Đó là phim điện ảnh. Còn phim truyền hình thì khoảng cách còn xa hơn. Chúng ta làm phim, cũng như nước ngoài, tất cả các thành phần làm phim và các khâu, đều như nhau. Song cái khác nhau cơ bản là, họ làm kỹ lưỡng, còn chúng ta làm vội vàng, làm nhanh. Mà lĩnh vực làm phim không bao giờ chấp nhận những người nào có tính cẩu thả. Trước đây, tôi cũng có tính cẩu thả. Nhưng từ khi được học nghề làm phim, tự tôi cũng phải đào thải nhiều tính xấu của mình. Bởi cái nghề này không chấp nhận những tính xấu đó.

NTHH: Anh có cơ hội tiếp xúc và phân tích phim điện ảnh miền Nam trước năm 75 không? Nếu có, xin cho biết nhận xét, một vài nét sơ lược về ưu và khuyết điểm giữa hai nền điện ảnh.

ĐMT: Khi tôi tham gia giảng dạy tại Dự án điện ảnh của Quỹ Ford tại VN, tôi được tiếp xúc với khá nhiều phim của điện ảnh miền Nam trước 75. Những phim này, có điểm chung là ít chất điện ảnh. Câu chuyện vẫn mang nhiều tính văn học. Nhưng vì phim do các Hãng tư nhân làm nên có sự tự do trong việc chọn đề tài, cách kể và cách dàn dựng. Cả hai miền đều kể về thân phận con người trong chiến tranh, nhưng nhiều phim miền Nam đi sâu vào cái Tôi hơn và xem phim của miền Nam, tôi thấy thoải mái hơn, đỡ áp đặt hơn. 

NTHH: Nếu anh có thể đưa ra những thí dụ cụ thể thì tốt quá, nhưng tôi không dám đòi hỏi. Lục lại phim cũ và xem lại đòi hỏi rất nhiều thì giờ, và việc đó không phải dễ dàng. Biết thế nhưng tôi vẫn ao ước.

    ĐMT: Vâng, tôi xin đưa ra những ví dụ luôn. Chẳng hạn, khi xem phim “Nắng Chiều’’, tôi cảm nhận, bộ phim này chủ yếu trình bày những biến cố xảy ra với nhân vật chính, trong khi đó, phim không miêu tả những diễn biến đó xảy ra như thế nào. Mà trong nghệ thuật làm phim cũng như bất kỳ loại hình nghệ thuật nào khác, cái ‘’như thế nào‘’ quan trọng hơn ‘’cái gì xảy ra’’. Khi xem ‘’Xa Lộ Không Đèn’’, tôi cảm thấy, phim này có thể chiếu ở bất kỳ nơi nào ở miền Nam hay miền Bắc (dù lúc đó hai miền đều ở trong tình trạng chia cắt). Bởi câu chuyện trong phim có thể gần gũi với người xem hai miền lúc đó (thậm chí cả bây giờ. Vì phim làm theo khuynh hướng ‘’Tân hiện thực’’). Hoặc khi xem ‘’Tứ Quái Sài Gòn’’, tôi rất khâm phục tài nghệ của các diễn viên cũng như các tình huống hài mà các nhà làm phim dàn dựng. Tiếc rằng, trong phim để lẫn một vài trường đoạn thuộc thể loại khác. Tôi cũng thích ‘’Giỡn Mặt Tử Thần’’ vì bối cảnh tập trung, diễn viên thể hiện nhân vật rất tốt. Và nhất là, cái ‘’Tôi’’ của người làm phim thể hiện rất rõ. Tất nhiên, tôi cũng thích nhiều phim khác của các nhà làm phim Sài Gòn trước 1975. Tuy nhiên, tôi cảm thấy có gì đó chưa công bằng với họ. Trong khi nhiều tác phẩm âm nhạc và văn học của các tác giả miền Nam trước 1975 đã được phổ biến, song các tác phẩm điện ảnh vẫn chưa được nhìn nhận thỏa đáng. Tôi tin rằng, một ngày không xa, kho phim cũ của các nhà làm phim miền Nam trước 75 sẽ được trình chiếu và xứng đáng được nhìn nhận một cách công bằng và minh bạch. 

NTHH: Khi phim “Người Tình” quay ở Việt Nam anh có hợp tác với đoàn làm phim và với đạo diễn Jean-Jacques Annaud không? Anh có gì để kể với độc giả không?

ĐMT: Khi phim ‘’Người Tình’’ quay ở miền Nam, tôi có được chứng kiến một số cảnh. Nhưng tôi biết khá nhiều về tác giả kịch bản và đạo diễn (do đọc sách báo nước ngoài). Tôi cũng có một đống chuyện để kể cho SV.  Từ chuyện ông Annaud đã bao nhiêu năm lăn lộn ở châu Phi để làm khoảng 500 phim quảng cáo ra sao đến chuyện ông ấy đã mua bao nhiêu cuốn tiểu thuyết lãng mạn yêu cầu cô diễn viên đọc thế nào; từ chuyện ông sang Hà Lan để vào bảo tàng H. Rembrand để quan sát ông này vẽ cảnh hoàng hôn Hà Lan ra sao; rồi ông đến đồng bằng ông Cửu Long xem hoàng hôn ở miền châu thổ xuống nhanh thế nào. Tôi kể để sinh viên hiểu được công việc của người làm phim là 70 % ở trong bóng tối, còn 29 % ở trên trường quay, và chỉ 1 % trên thảm đỏ.  Nhưng các sinh viên của tôi lại chỉ  thích ngược lại. Còn về ông Sơn Nam. Tôi rất khoái nhà văn này. Nhà thơ Lê Minh Quốc đã đưa ổng đến nhà tôi ở Hà Nội. Tôi dẫn ông đi dạo lung tung. Kể cả dưới trời mưa. Kể cả ở những nơi không ai buồn ghé chân. Nhưng ổng thích vậy.  Hai người đều thích lang thang, cả đêm lẫn ngày.  Và trong khi dạo chơi như vậy, tôi học được ở ông rất nhiều về lối sống và cách làm nghề. Tôi may mắn là được ông Sơn Nam rất quý, nên ông kể nhiều chuyện .

NTHH: Gần đây cuốn phim tài liệu “Vietnam War” của Ken Burn được chú ý nhiều trên mạng. Anh nghĩ thế nào về sự trung thực của người làm phim? Theo anh đây có phải là cuốn phim tài liệu hay, hay không?

ĐMT: Chị hỏi về phim ‘’The Vietnam War’’. Phải nói thật là tôi rất thích. Vì trong đó có nhiều câu chuyện hay mà chưa ai kể. Đấy là điều tôi thích nhất. Dù trong phim tài liệu nhưng có nhiều chất liệu của phim truyện. Tôi thích, có lẽ do góc nhìn của người làm phim truyện. Trong phim có nhiều cuộc đời, nhiều số phận mà bây giờ tôi mới biết. Những cuộc đời, số phận đó mang gương mặt chung cho nhiều người. Trong phim, cũng có rất nhiều chi tiết, rất có ích cho người làm phim truyện. Ví dụ, chi tiết người lính Mỹ, gốc Nhật, đi càn ở Củ Chi. Nhìn những bà mẹ Việt Nam nấu cơm, bỗng trong anh ta nổi lên cơn thèm cơm ra sao. Anh ta  xin một chén. Ăn hết. Chưa đã. Lại xin thêm chén nữa. Trong khi đồng đội giục đi. Tình huống ngỡ bình thường. Nhưng bỗng anh ta phát hiện chi tiết:’’ Tại sao chỉ có mấy người đàn bà mà họ nấu nồi cơm lớn thế kia?’’ Và từ đó, xuất hiện bi kịch. Thảm kịch thì đúng hơn. Với người làm phim, những thứ này quý hơn vàng.

    Tôi biết, phim chưa thể hiện được tiếng nói nhiều chiều. Những người được phỏng vấn cũng nằm trong ý đồ của người làm phim. Còn về tính trung thực. Tôi đã đọc cuốn sách cũ về phim tài liệu ‘’Sự thật trong phim và phim về sự thật’’. Nói chung, ai cũng đều có sự hạn chế trong cách nhìn của mình. Họ đưa được bao nhiêu phần trăm ra, mình cảm nhận và chia sẻ. Như mình chơi với bạn, bạn có nhiều điểm mình không thích, thì nên né. Bách nhân bách tính mà. Ai mình cũng cố chấp thì mình chẳng chơi được với ai. Thôi thì thể tất.  Khi tôi làm phim tài liệu về tội ác của Polpot với đồng bào ta ở biên giới, có 2 tập chúng tôi không dám phát trên truyền hình. Vì nó quá rùng rợn.

   Với người làm phim, điều quan trọng là đưa ra được những chính kiến. Nhưng điều quan trọng hơn là mình phải quản lý được những chính kiến ấy. Đặt mình vào vị thế của những người làm ‘’ The Vietnam War’’, tôi biết, họ còn rất nhiều những thước phim quý giá khác. Nhưng họ chỉ trình bày những gì theo quan điểm của họ. Sẽ còn nhiều người khác khai thác tiếp đề tài này theo những cách nhìn khác nhau.

NTHH: Nếu buộc lòng phải kê khai năm (hay ba, hay mười tùy ý) cuốn phim quan trọng nhất với anh, theo anh đó là cuốn phim nào? Vì sao nó quan trọng với anh?

ĐMT: Tôi thấy, để làm được phim hay viết được sách, nên đọc nhiều, xem nhiều. Đọc và xem những ai thích hợp với ‘’cái tạng’’ làm phim hay viết sách của mình. Càng đọc nhiều, xem nhiều, càng có sự chọn lọc kỹ, càng chính xác. Mỗi phim, mỗi sách mình học được một chút. Đó là những gì mình cảm nhận, cho là hay. Có thể học cả cái dở của họ, để mình tránh. Tôi thích phim dở và phim hay như nhau. Vì mình luôn là người học hỏi. Để chọn 5 hay 10 phim hay thì tôi cũng chọn được. Nhưng mỗi phim mình chọn cho mình một bài học. Ví dụ phim ‘’12 người đàn ông nổi giận’’ mình học về cách trình bày  lý lẽ của các nhân vật. Vì mỗi nhân vật đưa ra, dù là nhân vật độc ác, người làm phim phải bảo vệ họ đến cùng, như một luật sư bảo vệ thân chủ của mình.  Bộ phim cũng dạy cho tôi nhiều bài học về  cách sử dụng không gian, ngoại cảnh… . Phim “Giải cứu binh nhì Ryan’’ mình học  cách đặt nhân vật vào tình huống, cách ‘’chuyển thể’’ một lá thư cũ từ thời nội chiến sang bối cảnh Đại chiến thế giới II thế nào? Đặc biệt là những cách tạo ra tính bất ngờ trong từng trường đoạn; ‘’Những cây cầu quận Madison’’ mình học về cách thể hiện và kiềm chế tình cảm của từng nhân vật; cách đặt vấn đề hết sức táo bạo của nhà văn; quá trình chuyển biến cũng như thái độ nhân văn của các nhân vật v.v.… .

NTHH: Anh đã viết, “Để tránh thất bại khi chuyển thể, bạn phải nắm được ngôn ngữ của từng thể loại một cách chắc chắn. Ngôn ngữ văn học chứa đựng bên trong những sức mạnh tiềm ẩn. Ngôn ngữ điện ảnh cũng có những năng lượng vĩ đại của mình. Các trường hợp chuyển thể thất bại phần lớn do người chuyển thể không nắm được vẻ đẹp ngôn ngữ của từng thể loại và tham vọng quá nhiều trong khi không biết mình là ai. Nếu một cuốn tiểu thuyết hay mà tạo ra bộ phim dở thì lỗi người chuyển thể đã không dịch chuyển được ngôn ngữ văn học.”[1] Xin anh nói sơ qua về ngôn ngữ điện ảnh.

ĐMT: Việc chuyển thể, điều quan trọng là phải nắm vững ngôn ngữ điện ảnh. Có thể chuyển thể từ một truyện ngắn vài ba dòng. Có thể chuyển thể từ tiểu thuyết ngàn trang. Anh đọc. Hình dung nó vào cấu trúc phim. Nói chung, khi đọc truyện nào cũng vậy, nếu anh có ý định chuyển thể, anh nên tóm tắt câu chuyện theo kiểu điện ảnh. Nghĩa là tóm tắt nó trong khoảng vài ba dòng (Tiếng Anh thường yêu cầu khoảng 25 từ). Ví dụ. bạn đọc xong tiểu thuyết ‘’Người Tình’’. Nên tóm tắt theo cốt truyện điện ảnh thế này: “Một người con gái Pháp, nhưng nghèo, liệu cô ta có thể yêu một người đàn ông da vàng, nhưng giầu ở một đất nước và một gia đình còn kỳ thị chủng tộc?’’ Khi bạn đọc tiểu thuyết ‘’Triệu phú khu ổ chuột’’, bạn nên đặt câu hỏi (cho cốt truyện): “Điều gì sẽ xảy ra khi một cậu bé mồ côi, thất học, lăn lộn trong đời, lại giành giải?’’ Và cả bộ phim là cách bạn kể câu chuyện này.

   Điều quan trọng đối với người làm phim là nắm được ‘’ngôn ngữ điện ảnh’’. Theo tôi, ‘’ngôn ngữ điện ảnh’’ quan trọng nhất là bạn nên và cần biết về cách dựng phim (Editing hoặc Montage). Cách dựng giúp ta kể chuyện có nhiều tính điện ảnh. Ví dụ: 1 cảnh cộng 1 cảnh không bằng 2 cảnh mà phải lớn hơn 2 hoặc lớn hơn rất nhiều. Nắm được cái này, giúp ta không kể chuyện dài dòng, không cần giải thích lôi thôi. Phim của ta chưa hay vì giải thích quá nhiều, không cần thiết. Các nhà làm phim luôn sợ khán giả không hiểu, trong khi khán giả luôn thông minh hơn những người làm phim. Nhiều phim thừa rất nhiều cảnh, nhiều đoạn, thậm chí thừa cả trường đoạn. Nhiều phim thừa nhiều nhân vật. Làm sao biết? Bạn cứ thử cắt bớt những đoạn này, những nhân vật này đi, xem có ảnh hưởng đến câu chuyện không? Nếu không thì phải cắt bỏ. Nhưng cũng khó. Vì các nhà làm phim có cái đức rất bảo thủ, không chịu nghe ai bao giờ. Họ chỉ thích nghe ai ca họ thôi.

   Nói về ‘’ngôn ngữ điện ảnh’’ thì cả tháng không hết. Còn bao thứ khác. Như ánh sáng. Như âm thanh. Ví dụ, trong phim ‘’Phải Sống’’ của Trương Nghệ Mưu. Có cảnh cô gái đi đẻ. Khi cô bắt đầu nằm lên bàn, chuẩn bị sinh, bỗng từ cái radio trong phòng phát ra tiếng súng. Người xem hiểu, chắc ngoài đường phố, một trí thức bị Hồng vệ binh bắn. Nhưng tiếng súng mà khán giả nghe thấy trong phòng còn có ý nghĩa khác. Nó báo hiệu cuộc sinh nở này sẽ ‘’đẫm máu’’ đây. Và điều diễn ra đúng như vậy. Vì thế, các nhà làm phim cũng cần có đôi tai và chỉ cho người xem cách sử dụng và thưởng thức phim bằng đôi tai nữa. Tiếc rằng, đa phần các nhà làm phim của ta phó mặc phần này cho người khác. Tôi xin phép dừng ở đây kẻo mang tiếng là ba toác!

NTHH: Anh đã từng chuyển thể truyện sang phim? Có người quan niệm rằng dùng một truyện ngắn của một tác giả chưa nổi tiếng để chuyển sang phim dễ thành công hơn là dùng một tác phẩm nổi tiếng. Anh nghĩ thế nào? Theo anh những phim VN nào chuyển thể từ truyện sang phim thành công?

ĐMT: Tôi không thích chuyển thể. Vì năng lượng sáng tác của tôi còn nhiều. Nhưng vừa rồi, có người nhờ tôi chuyển thể một truyện dài của một nhà văn nổi tiếng. Tôi đã chuyển thể xong và họ đang trong quá trình chuẩn bị làm phim. Nghe nói họ sẽ làm trong năm 2018 này.  Về kịch bản chuyển thể thành công, ngoài “Người tình’’, tôi thấy thích ‘’Mùa len trâu’’, ‘’Thương nhớ đồng quê’’, Cũng có thể kể thêm ‘’Làng Vũ Đại ngày ấy’’ vì tác giả chuyển thể từ nhiều tác phẩm của Nam Cao… .Tôi cũng thích nhiều phim nữa. Mỗi phim một vẻ. Không nhất thiết phải chọn tác phẩm nổi tiếng.  Cái quan trọng là tìm được truyện ngắn có tính điện ảnh. Song điều này rất khó. Vì các nhà văn VN viết văn rất ít ngôn ngữ điện ảnh. Có thể tôi hơi cực đoan. Nhưng tôi thích những  truyện ngắn có kết thúc bất ngờ. Muốn có kết thúc bất ngờ, nhà văn phải dày công lao động nghệ thuật, phải thuộc kỹ những tác phẩm của O. Henry, A. Cheekhov, A. Maupassant v.v…

NTHH: Woody Allen, đạo diễn Mỹ, khi được Spike Lee mời dạy về cách làm phim, ông cảm thấy rất khó truyền đạt nghệ thuật làm phim. Ông quan niệm rằng, nghệ thuật làm phim là do bẩm sinh. Một người có tài năng bẩm sinh chỉ cần biết một vài nguyên tắc như thế quân bình (balance), có kỷ luật, biết tự chế (discipline), kỹ thuật thì học hỏi sau. Người làm phim cần được trợ giúp về mặt tinh thần hay tâm lý nhiều hơn. Một người làm phim có tài hoặc không có tài. Nghệ thuật làm phim vì vậy, theo ông Allen, không thể giảng dạy.[2] Anh nghĩ sao về quan niệm này?

ĐMT: Không những ông Woody Allen nói như vậy mà nhiều thầy giáo của tôi, người Nga, người Pháp cũng nói, kiểu như “không thể giảng dạy hay học nghệ thuật’’. Nhưng tôi nghĩ, họ nói câu này khi họ đã trở thành bậc thầy. Họ đứng ở trung tâm nghệ thuật hay ở giữa nghề mà nói ra. Chứ hồi trẻ, ai mà chẳng phải học. Nhưng cái quan trọng mà mỗi người nên biết, là học nghệ thuật không giống như những môn học khác, nghĩa là mỗi người phải tìm ra được cách học riêng của mình. Không giống ai. Vì mỗi người là một thế giới riêng, có con đường trải nghiệm riêng.  Ai tìm ra được cho mình cái này sớm, sẽ đi xa và vững bền. Đó là sự bí ẩn với từng người và với nghệ thuật.

NTHH: Tốt quá. Tôi rất vui nghe anh nói thế. Tôi vẫn tin người ta có thể học về nghệ thuật, như học viết văn chẳng hạn. Trong phim hoạt họa “Ratatouille,” đầu bếp Auguste Gusteau, có câu châm ngôn nằm lòng là “ai cũng có thể nấu ăn” tôi rất muốn tin là ai cũng có thể viết văn và tiếp theo là ai cũng có thể làm phim. Tuy nhiên, nếu có thiên tài người ta có thể tiến xa hơn. Anh còn có gì muốn bày tỏ với độc giả nữa không. Và xin đừng quên nói rộng ra hơn về ngôn ngữ điện ảnh như anh đã hứa phần trên.

ĐMT: Ngày tôi mới vào nghề, một người thầy của tôi đã nói: ’’Điện ảnh là con vật phàm ăn. Trên đường đi, nó xơi tất cả mọi thứ, từ sân khấu đến thơ ca hay âm nhạc, hội họa v.v…’’. Càng ngày tôi càng thấm thía. Vâng, trong phim, nếu xem kỹ, có tất cả những loại hình nghệ thuật đó. Nhưng những loại hình nghệ thuật này, khi vào điện ảnh, nó không chỉ là chính chúng, mà chúng chính là sự nối tiếp, sự tiếp theo của chúng.  Nghệ thuật điện ảnh làm cho chúng đẹp hơn. Tôi đã từng nghe một nhà phê bình phim Hàn Quốc phân tích một cảnh trong phim ‘’Ngọa Hổ Tàng Long’’. Ông lấy cảnh phim cô gái đứng trên lá tre múa gươm làm cảnh trung tâm của phim. (Phim nào cũng cần có cảnh trung tâm, các cảnh khác là những cảnh vệ tinh). Và ở cảnh này, có đủ mọi chất liệu của nhiếp ảnh, điện ảnh, âm nhạc, hội họa, múa, thơ ca v.v…Vì vậy, càng ngày tôi càng cảm thấy, nghệ thuật điện ảnh vô cùng kỳ diệu. Bao bậc thầy điện ảnh viết sách về nghề, nhưng ở trang cuối, ông thầy nào cũng nói, tôi thực sự chưa hiểu hết về nghề. Đó vừa là sự khiêm nhường nhưng đồng thời cũng là lời tự thú chân thành. Tôi cảm thấy mình hạnh phúc vì được làm cái nghề mà mình yêu thích. Trong mỗi nghề, cần có sự may mắn. Một nhà văn Trung Quốc viết, bạn hãy làm tốt công việc của bạn, bạn sẽ thấy, trong đó có rất nhiều quý nhân phù hộ cho bạn. Khi bạn làm tốt, có ông thầy bên cạnh. Khi bạn làm rất tốt, có Trời Phật giúp bạn.

NTHH: Cám ơn anh đã nhín thì giờ trò chuyện với tôi. Mong được xem nhiều phim và đọc nhiều sách của anh.

[1] Đoàn Minh Tuấn, “Hướng Dẫn Viết Kịch Bản Phim.” p. 188, nxb. Hồng Đức, 2013.

[2] Tirard, Laurent, “Moviemakers’ Master Class – Private Lessons From the World’s Foremost Directors.”  p. 38. Faber and Faber, Inc.  New York, 2002

6 thoughts on “Đoàn Minh Tuấn – Tự sự của một người làm phim”

  1. Hà hỏi câu nghệ thuật có học được không rất hay, nghệ thuật làm phim, viết văn…
    Mai lại đồng ý với Woody Allen là nghệ thuật trong tâm hồn là bẩm sinh, không học được từ ai. Học kỷ thuật làm phim nhưng phần nghệ thuật của nó chỉ có xuất phát được từ hồn của mình.

    Mai nói vậy từ kinh nghiệm nhỏ bé của mình trong hội họa, âm nhạc và nhiếp ảnh. Học technique của cách vẽ, cách xử dụng đàn, cách xử dụng máy hình nhưng để có một tác phẩm nghệ thuật thì chỉ có từ cái hồn của riêng mình.
    Viết lách cũng vậy, do bẩm sinh thôi.

    Hà đặt những câu hỏi rất ý nghĩa.

    Liked by 2 people

    1. Cám ơn Mai. Hà mà nghĩ như Mai thì Hà sẽ tuyệt vọng mất. Hà tin có những người có thiên tài. Nhưng Hà cũng tin cái gì cũng có thể dạy được, truyền đạt được, ở một mức giới hạn nào đó. Thầy dạy như ngón tay chỉ đường, tự mình phải đi con đường đó. Những người có tài bẩm sinh, có thể họ sinh ra đời với một bộ óc, hay một thể lực nào đó. Những người, có thể, do môi trường đưa đến chỗ tiếp cận với chủ đề sớm, thích, tự học hỏi, tự quan sát mài giũa một thời gian, đến một lúc chín mùi, thành công. Người ta bảo rằng đó là thiên tài, hoặc vận may, hoặc cả hai. Tim Burton thành công ngay ở cuốn phim ngắn đầu tiên, nhưng ông đã mày mò làm phim từ hồi mười hai mười ba tuổi. Vincent van Gogh suốt đời tự học, bắt chước các danh họa, trước khi đến với hội họa ông cũng thử nhiều nghề khác ngành khác, và không thành công. Hà không bác bỏ thiên tài của ông. Hà vẫn tin có những người trời sinh ra chỉ để làm việc đó, có tài đó, có tâm hồn đó, nhưng cũng có những người gặp thầy giỏi, trò giỏi, hoàn cảnh thuận tiện khiến họ trở nên giỏi hơn, và thành công ở một mức giới hạn nào đó. Hà vẫn mong nếu mình tự học viết văn đến ngày nào đó mình phát huệ sẽ viết được tác phẩm tốt dù có thành công hay không. Nếu không nghĩ thế chắc Hà không thể học viết được cái gì cả.

      Liked by 2 people

    1. Cám ơn nhokhucsongque đã đọc. Bài dài thiệt. Nhưng những câu trả lời đánh đúng vào ý muốn tìm tòi để hiểu biết của mình nên mình thấy đọc rất nhanh và thời gian rất ngắn.

      Like

  2. Cháu có được đọc cuốn Mùa chinh chiến ấy, thấy đề tác giả Đoàn Tuấn ở chiến trường Miên. Hôm nay mới biết là chú Đoàn Minh Tuấn cô hay nhắc đến. Thế hệ đi sau như cháu lần đầu đọc văn chiến trường mà cảm thấy thực tế khốc liệt đến vậy, những người lính nằm xuống hàng ngày, người lính khát nước đến mức hoá điên rút súng bắn vào đầu.
    Đọc post của cô không sót một chữ để hiểu về tác giả hơn. Cháu cảm ơn ạ.

    Liked by 1 person

    1. Cám ơn cháu đã đọc (không sót một chữ). Cô thật cảm thấy vinh hạnh có cháu và các cô nhokhucsongque, Tống Mai đọc bài này. Cô chưa đọc quyển “Mùa Chinh Chiến Ấy.” Sẽ đọc vào dịp 30 tháng 4 với một số tác phẩm khác có chủ đề chiến tranh.

      Like

Leave a Reply

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

w

Connecting to %s