Một vài món ăn bình thường của người Mỹ

Bạn hỏi tôi về thức ăn của người Mỹ, họ ăn những món gì? Sự hiểu biết của tôi về món ăn của người Mỹ rất phiến diện. Tôi đi ăn trưa chung với những người làm việc, vài lần đi vào nhà hàng Mỹ. Thỉnh thoảng đi dự buổi dã ngoại do người Mỹ tổ chức, hay góp chung tiền thuê người nấu rồi giao thức ăn vào công ty tiệc mừng Giáng sinh đã giúp cho tôi có khái niệm về thức ăn của người Mỹ. Tôi có thể mở một cuốn sách dạy nấu ăn, hay mở một cái thực đơn của nhà hàng, là có thể tự thỏa mãn óc tò mò nhưng làm như thế thì hơi nhàm. Tôi nghĩ tìm trong các tác phẩm văn chương phim ảnh về món ăn của người Mỹ có lẽ thú vị hơn. Mong rằng bạn sẽ đồng ý với tôi.  Để bài không quá dài, làm bạn ớn, tôi chỉ đăng phần bữa ăn sáng và món súp. Mai mốt đăng phần bữa ăn trưa. Đây chỉ là một đoạn ngắn trong bài “Bản Sắc Di Dân qua thức ăn trong truyện và phim ảnh” trong số báo Xuân Con Cún 2018 ở Gió O.

Bữa ăn sáng 

Bữa ăn đầu ngày rất quan trọng. Các chuyên viên dinh dưỡng cho rằng bữa ăn sáng mang nhiều chức năng, ngoài việc bồi dưỡng cơ thể, thu nạp năng lượng, nó còn có nhiệm vụ giúp cho người ta tránh bệnh béo phì. Ăn sáng giúp người ta cưỡng lại chứng thèm ngọt hay ăn quá độ khi đói.

Có bữa ăn sáng nào lừng danh hơn “Breakfast at Tiffany?” Đây là một phim dựa vào truyện của Truman Capote do Audrey Helpburn đóng vai chính, Holly Golightly.  Tiffany không phải là nhà hàng ăn, mà là hiệu kim hoàn nổi tiếng ở New York. Ngay từ đầu phim khán giả nhìn thấy Holly vừa ăn điểm tâm vừa nhìn vào cửa kính của Tiffany, “window shopping,” ngắm nhìn nhưng không có tiền mua.  Holly mặc áo dạ tiệc rất sang trọng rời khỏi xe tắc xi khi trời mới vừa sáng nên các tiệm chưa mở cửa. Nàng ăn điểm tâm bằng cái bánh “Danish” và ly cà phê còn nằm trong bao giấy.  Bánh “Danish” và các bạn bè của nó như “bagel với cream cheese” hay “donut” là thức ăn sáng bình dân của người Mỹ. Dân ở thành phố đi làm, ghé tạt ngang một quán cà phê nho nhỏ mua thức ăn sáng “to go” gồm có các loại bánh này cùng với ly trà hay cà phê. Hình ảnh cô gái trẻ còn mặc áo dạ hội và nữ trang (giả) lấp lánh, buổi sáng sớm châu đầu vào tường kính của một hiệu kim hoàn nổi tiếng nhất thành phố New York, là một hình ảnh không bình thường. Đạo diễn Blake Edwards, đã khéo léo giới thiệu với khán giả, nhân vật của ông là một cô gái sống về đêm. Thời ấy, Truman Capote gọi nhân vật của ông là “American geisha.” Người Mỹ hiện nay có chữ khác, dành cho những cô gái, không làm nghề ăn sương nhưng cho thuê nhan sắc và sự hiện diện của nàng trong những buổi dạ hội sang trọng trong vòng tay của một đại gia thiếu người tình, gọi là “call girl.”

Súp

Tôi lấn cấn không biết nên viết là xúp hay súp. Tôi dùng chữ “S” để nó giống với cách viết của tiếng Anh.  Súp (soup) là món ăn thường ngày của người Mỹ gần giống với món canh của người Việt. Trong bữa ăn tối, món súp được xem như món khai vị hay chuẩn bị cho bữa ăn chính. Người Nhật có món súp miso chỉ toàn nước với vài miếng đậu hủ nhỏ như hạt bắp, để dằn bụng trong khi chờ bữa ăn chính được dọn ra. Tuy nhiên, súp cũng có thể là món ăn trưa đơn giản. Chỉ cần một chén súp với vài miếng crackers (giống như bánh lạt nhưng khá mặn) là tạm đủ cho bữa ăn trưa. Súp để ăn trưa có thể là chicken noodles hay clam chowder (súp sò hay súp nghêu). Chicken noodles, còn gọi là súp gà, thường được xem là chính hiệu Hoa Kỳ, tương tự như apple pie (bánh táo). Súp gà được xem là thức ăn bồi bổ tinh thần, mang cho người ăn cảm giác được mẹ, vợ, hay người yêu săn sóc lúc bệnh. Bởi vậy người ta có một loại sách tâm lý có tên là “Chicken soup for the soul.” Tuy nhiên, có giả thuyết cho rằng súp gà không phải của người Mỹ, mà có nguồn gốc từ Do Thái.

Súp nghêu thường gặp ở các nhà hàng phục vụ thức ăn trưa, có hai loại. Nghêu nấu với cà chua, cần tây, nước trong và loãng gọi là “Manhattan” clam chowder. “Boston” clam chowder, (còn có tên khác là New England clam chowder) nghêu được nấu với khoai tây và sữa nên có màu trắng ngà, đặc, vị béo, hấp dẫn như nước cốt dừa ăn với chè đậu. Súp nghêu Boston chiếm một chương trong quyển “Moby Dick,” được xem là sách cổ điển gối đầu của giới cầm bút.

“Moby Dick” là câu chuyện về một vị thuyền trưởng tên là Ahab. Suốt cuộc đời Ahab đi tìm con cá voi trắng khổng lồ để trả thù vì nó đã cắn mất một chân của ông. Moby Dick là tên thuyền trưởng Ahab đã đặt cho con cá voi. Người kể câu chuyện là Ishmael, một trong những thủy thủ của Ahab. Khởi đầu cuộc hành trình đi tìm việc làm từ Manhattan Island, Ishmael đến New Bedford, thuộc tiểu bang Massachusett thì trời đã tối. Bụng đói, Ishmael và anh bạn đồng hành Queequeg, bước vào lữ quán Try Pots. Chủ quán hỏi: “Nghêu hay cá tuyết (cod)?”

“Có chuyện gì với cá tuyết vậy, thưa bà?” Tôi lễ phép hỏi.

“Nghêu hay cá tuyết?” bà ta lặp lại.

“Nghêu cho bữa ăn tối? Chỉ một con nghêu lạnh tanh; ý của bà là như vậy, phải không bà Hussey? tôi nói; “Tiếp đón khách hàng như vậy thì lạnh nhạt quá, thưa bà!”

Bà Hussey vội vàng đi qua chỗ hai cánh cửa đã mở sẵn dẫn vào trong bếp, hô to “hai phần nghêu,” rồi biến mất.

“Queequeg,” tôi nói, “mình có thể chia nhau bữa ăn tối bằng một con nghêu không?”

Ở đây tôi xin mạn phép giải thích thêm vì có thể bạn đọc không hình dung được chuyện hai người ăn bữa tối chỉ bằng một con nghêu. Khác với Việt Nam, những loại nghêu sò ốc hến thường rất nhỏ. Một con nghêu hay sò lông cỡ lớn chỉ độ hai hay ba ngón tay. Người Mỹ có loại nghêu Cherry Stone Clam mỗi con nghêu có thể to bằng hai bàn tay chụm lại. Một con nghêu này đem nấu cháo cho hai người ăn thì tuy vẫn rất ít, nhưng dễ hình dung hơn là một con nghêu nhỏ cùng cỡ với loại sò lông. Tôi cũng lấn cấn, không thể phân biệt được con sò và con nghêu có khác nhau hay không, và con sò thì nhỏ hơn hay lớn hơn con nghêu. Xin độc giả tha cho khiếm khuyết này.

Hơi ấm bốc mùi thức ăn từ nhà bếp bay ra mịt mù như muốn che dấu những điều không tốt đẹp trước mắt chúng tôi. Nhưng khi món súp nghêu bốc khói được mang ra, sự bí ẩn (từ hai chữ nghêu hay cá tuyết) được giải thích một cách thú vị. Súp được nấu bằng những con nghêu nhỏ, không to hơn hạt óc chó (walnut) nhưng tươi ngon, với bột bánh bích qui. Thịt heo ướp muối thái nhỏ cho vào trong súp, đậm đà mùi bơ, và rắc thật nhiều tiêu. Chúng tôi đói meo trong chuyến tàu lạnh giá, đặc biệt là Queequeg (dân biển, nghề biển); nhìn thấy hải sản, và món súp nghêu ngon lành ngoài sức tưởng tượng, chúng tôi ăn ngấu nghiến chỉ chốc lát là hết sạch. Khi dựa lưng vào ghế nghĩ đến câu hỏi nghêu hay cá tuyết của bà Hussey, tôi bỗng muốn làm một cuộc thí nghiệm. Bước đến cửa nhà bếp, tôi hô to “cá tuyết,” rồi trở lại chỗ ngồi. Chỉ một chốc sau mùi thức ăn thơm lừng lại bốc lên, nhưng lần này có vị khác, sau đó món súp cá tuyết được mang ra đặt trước mặt chúng tôi.

16 thoughts on “Một vài món ăn bình thường của người Mỹ”

  1. Oh the lovely actress from Belgique ! Mai nói thêm chút xíu behind the scene trong cảnh Audrey Hepburn gặm bánh Danish trước tiệm kim hoàn Tiffany – Cô ấy ăn rất khó khăn, vừa cắn vào miếng Danish là ho sặc sụa. Cô xin ăn kem thay vì Danish vì không thích Danish nhưng Truman Capote không đồng ý. Cảnh đó phải quay đi quay lại vài lần mới xong vì Audrey Hepburn cứ bị sặc vì bánh…

    Hà kể món ăn bằng movie scenes hay lắm.

    Liked by 2 people

    1. Cám ơn Mai đã kể cho nghe một giai thoại thú vị. Mình nghĩ bánh Danish ăn cũng được không dở tệ đến độ người ăn phải ngán đến mức độ phát nôn. Có lẽ trời cho bà Hepburn cái đặc ân là không thích ăn những món ăn gây béo nhờ thế đến già bà vẫn thon thả xinh đẹp.

      Liked by 2 people

      1. Mai nghĩ không phải Danish dở ngán, nhưng bà bị sặc vì bột áo chung quanh bánh. Bà mê ice-cream nên trong phim Charade bà được cho ăn một ice-cream cone, ăn hấp tấp thế nào mà thảy cả một bệt kem vào áo Cary Grant bên bờ sông Seine gần nhà thờ Notre Dame de Paris. Trong Roman Holiday cũng được ăn ice-cream. Bà mình hạc xương mai vì chứng anemia từ lúc nhỏ bị đói trong trận Nazi thanh trừng người Do Thái ở Hòa Lan.

        Liked by 2 people

  2. Một người luôn tràn trề hứng thú với tất tần tật các món ăn và đọc sách như em cứ vào trang của chị là y như ăn mày vào được buffer. Cái gì cũng thích, cũng hay, cũng ưng đọc, rồi tưởng tượng và bật cười thành tiếng. Không biết “cá tuyết” của bà chủ quán Hussey ra sao chị hen?
    P/s:
    1. đọc tới câu “sự hiện diện của nàng trong những buổi dạ hội sang trọng trong vòng tay của một đại gia thiếu người tình…” cái đầu nhanh nhảu và nhạy quá đáng của em đã tự đọc thành đại gia thiếu… tình người, hì hì…
    2. em cũng dùng chữ “súp”
    3. em đi chợ hải sản, hay tự phân biệt sò/nghêu dựa vào hình dáng vỏ chứ không phải kích thước đâu chị. Con sò thường có vỏ cứng, thô, xù xì, màu đậm, hoa văn của vỏ sắc nét. Con nghêu có vỏ mỏng, nhạt màu, hoa văn rất mờ, gần như trơn láng.

    Liked by 3 people

  3. Đọc (xem, nghe) mấy bà tán về món ăn, thật là thú vị, thích hơn cả xem Thạch Lam, Vũ Bằng viết về quà Hà Nội. (Chú ý: tôi viết tán mà không viết là mạn đàm, tôi viết là món ăn mà không viết là đồ ăn).
    Tôi thích đọc đi đọc lại các lời phẩm bình của mõt số độc giả quen thuộc của bà Tám, người chiêu dụ được những cây bút có tâm hồn tinh tế như thế, bà Tám chứ ai, thật là đáng bội phục. Cảm ơn quý vị.

    Liked by 1 person

  4. Sáng nay, má chồng nói ăn bacon với trứng. Bữa qua, bà ấy với xã con nghe thời tiết hôm nay có thể có tuyết dày nên mua đồ về trữ :)). Con coi thấy vùng new Jersy có bão. Con bỏ tỏi với muối vào trứng, bà ấy ăn mỗi bacon hihi. May mà hai mẹ con bị đường cao nên không có pancake.

    Liked by 1 person

    1. Tuyết đang rơi ngập đầy trắng xóa. Gió mạn suýt cắt đứt đường internet. Mấy hôm trước nhiều thành phố của tiểu bang NJ bị mất điện bốn năm tiếng đồng hồ, vùng lân cận với cô có một con đường bị mất điện hai ba ngày chưa có điện lại.

      Cũng là món ăn mà mỗi người mỗi ý thích khác nhau. Cháu ở chung với má chồng hả? Thấy sao?

      Like

      1. Má chồng con ở mạn Queens – thất thủ bởi người Hàn. Vc con sang chơi mươi bữa rồi về Vegas lại. Má chồng khác quốc tịch – văn hoá – và màu da nhưng cơ bản giống nhau :)) con trai mình là nhất hihi. Bữa nay tụi con sẽ đi Pennsylvania chơi – nghe nói bên đó tuyết dày hơn bên này.

        Liked by 1 person

        1. Loinho kể tiếp chuyện má chồng, khác biệt văn hóa nghen. Tuyết lu bù, thành phố hoang tàn, mất điện, mất sưởi, không có nước dùng (mất nước). Sáng nay thứ Ba, March 13 lại có tuyết nữa. Sợ luôn. Kiểu này phải chạy qua Las Vegas ở cho khỏe 🙂

          Liked by 1 person

    1. Ba chồng ở một nơi, má chồng ở một nẻo. Không phải Alaska sẽ giống New Jersey đâu. Chỗ cô ở, vì cô dùng nước giếng, bơm bằng điện, nên hễ cúp điện là cúp nước. Và vì cúp nước nên lò sưởi cũng tự động tắt dù chạy bằng gas, vì không có nước luân chuyển mang nước nóng đi để sưởi ấm và mang nước lạnh về để giữ nhiệt độ như ý. Vì không có điện nên lò gas không tự động bật lò cho thùng nấu nước nóng. Chỗ bố chồng của cháu ở có thể có lò sưởi kiểu khác. Nhà cô có lò sưởi dùng gỗ nhưng không chứa gỗ sẵn nên cũng như không. Vả lại tháng Sáu ở Alaska thời tiết dễ chịu rồi, không lạnh nữa.

      Like

Leave a Reply

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s