Thu bên giáo đường

Cathedral basilica of the Sacred Heart (Newark)
Mùa thu bên Cathedral Basilica of Sacred Heart (Branch Brook Park, Newark, New Jersey)

Dịch các từ về tôn giáo rất khó, đòi hỏi người dịch phải có kiến thức về tôn giáo (mà tôi không có). Cathedral Basilica tôi nghĩ có thể dịch là Thánh đường. Còn Sacred Heart có thể dịch là Thánh Tâm. Tuy nhiên tôi thích dùng chữ Anh hơn vì sợ dịch đại thành ra dịch vật.

Thánh đường này, tôi đọc đâu đó, là cái thánh đường kiến trúc Gothic Revival lớn vào hàng thứ năm miền Bắc Mỹ. Ngày còn làm việc ở Newark, mùa xuân, gần lễ Phục Sinh, tôi thỉnh thoảng đến đây vào ngày thứ Tư giờ ăn trưa để nghe đàn organ. Một nhạc sĩ nổi tiếng và chuyên về đàn organ được mời đến đàn những bài thánh ca và sẽ có người đưa khách thưởng ngoạn đi xem thánh đường. Bên trong rất rộng và tuyệt đẹp với kính màu, chạm trổ trên gỗ, và hình tượng điêu khắc bằng đá. Không lộng lẫy bằng Thánh đường ở Montreal hay nổi tiếng (trong giới chính khách) như Washington National Cathedral nhưng cũng là nơi đáng chiêm ngưỡng. Thánh đường này không thu lệ phí của người thưởng ngoạn trong khi Thánh Đường ở Montreal người đến nghe nhạc phải đóng một lệ phí nhỏ.

Tôi đến nơi này nhiều lần, mùa xuân có hoa đào, và mùa thu có lá màu. Sẳn đây mời bạn nghe Tiếng Chuông Giáo Đường nhạc và lời của Nguyễn Thiện Tơ và lời giới thiệu của Nguyễn Đình Toàn trong chương trình Tình Ca Việt Nam 1970. Bản nhạc này tôi rất thích, nhưng nếu bạn không thích thì không sao, tôi không buồn hay giận đâu. Ông Tám nghe bài hát này, chê liền. Còn tôi nghe thấy hồn lâng lâng, bay bổng như con chim đậu trên nóc giáo đường.

 

Ra khỏi cửa là gặp mùa thu

mùa thu ở trạm xe lửa Dunellen

Như đã lỡ tuyên bố, mỗi ngày một tấm ảnh mùa thu. Thì đây. Phải thú nhận đây không phải là một tấm ảnh đẹp vì nó chằng chịt dây điện, hàng rào, mấy tấm bảng quảng cáo, và hai cái thùng rác chiếm vị trí hàng đầu của ảnh. Tuy nhiên, tôi không hứa là sẽ có ảnh đẹp, tôi chỉ hứa ảnh của cảnh mùa thu. Và đây là cảnh mùa thu ở trạm xe lửa Dunellen.

Hệ thống xe lửa của toàn nước Mỹ không được hiện đại so với toàn thế giới, và đặc biệt là so với những nước tân tiến như Pháp, Anh, Nhật. Hệ thống xe lửa của New Jersey tiểu bang tôi đang ở, và công ty tôi đã làm việc ba mươi năm lại thua kém nhiều tiểu bang khác. Nói chung, phương tiện giao thông công cộng của Hoa Kỳ không được tân tiến và tiện dụng như nhiều nơi trên thế giới. Giá vé đi xe lửa cũng khá đắt. Tuy nhiên, tôi là nhân viên của công ty này, đi xe lửa làm việc ba mươi năm. Nhân viên đi xe lửa, xe bus không phải trả tiền, và người thân có khi cũng được xí xóa. Khi đi xe lửa của các công ty khác như Amtrak chẳng hạn, nhiều conductor (người soát vé xe lửa) cũng có một sự thỏa thuận ngầm, những người làm việc cho công ty xe lửa là người trong gia đình với nhau và họ có thể không bắt mua vé. Tôi nghe kể thế, bản thân chưa hề đi Amtrak không trả tiền bao giờ.

Không phải tốn rất nhiều tiền sang Nhật Bản (như chị Gió O) hay sang Hàn quốc như một bạn trên FB mới được xem cảnh thu, ở đây New Jersey, đầu tháng 11, cứ ra cửa là gặp mùa thu. Dunellen là trạm xe lửa tôi dùng hằng ngày. Thành phố nhỏ, dân đi làm ở thành phố lớn như Newark và New York. Trên xe lửa tôi gặp đủ thứ thành phần, cổ trắng và cổ xanh. Trạm khá cũ kỹ tiều tụy lại ở gần một nhà tế bần, nên cầu thang của trạm xe lửa cũng nhiều khi nồng nặc mùi của bệnh tiểu đường. Mùa đông, vài ba người ngồi ngủ trong trạm là hình ảnh quen mắt.

Với các bạn ở nước khác, đây là cái nhìn của tôi về một góc rất nhỏ trong cuộc sống của một người trung bình ở nước Mỹ. Xin tặng bạn.

You only live twice

You Only Live Twice – Bạn chỉ sống hai lần trong đời

You only live twice, or so it seems
One life for yourself, and one for your dreams

Bạn chỉ có thể sống hai lần trong đời, dường như thế
Một đời cho bạn, và một đời cho ước mơ

You drift through the years and life seems tame
Till one dream appears and love is its name

Bạn phiêu lãng nhiều năm trong đời và cuộc đời bạn dường như trở nên thuần tính
Cho đến khi ước mơ ngày xưa trổi dậy, và tên của nó là tình yêu

And love is a stranger who’ll beckon you on
Don’t think of the danger or the stranger is gone

Và tình yêu là một người xa lạ mời gọi bạn đến với chàng
Đừng nghĩ đến hiểm nguy, nếu không người xa lạ ấy sẽ biến mất

This dream is for you, so pay the price
Make one dream come true, you only live twice

Ước mơ này dành cho bạn, do đó bạn phải trả bằng một giá trị nào đó cho nó
Hãy biến ước mơ này thành hiện thực, vì bạn chỉ có thể sống hai lần

And love is a stranger who’ll beckon you on
Don’t think of the danger or the stranger is gone

Và tình yêu là một người xa lạ mời gọi bạn đến với chàng
Đừng nghĩ đến hiểm nguy, nếu không người xa lạ ấy sẽ biến mất

This dream is for you, so pay the price
Make one dream come true, you only live twice

Ước mơ này dành cho bạn, do đó bạn phải trả bằng một giá trị nào đó cho nó
Hãy biến ước mơ này thành hiện thực, vì bạn chỉ có thể sống hai lần

Theo lời yêu cầu của bạn Hoàng Anh, bảo tôi dịch bản nhạc này. Dịch để hiểu đại ý bài hát thôi nha, tôi không có khiếu đặt lời bản nhạc. Tôi có bài hát của Nancy Sinatra trong computer nên nhân tiện đăng lên đây các bạn cùng nghe. Bài hát này được viết cho phim James Bond với Sean Connery đóng vai Bond. Connery có lẽ là chàng Bond lịch thiệp nhất trong tất cả các chàng Bonds. Thường mình nghe nói “Sống chỉ một lần” nhưng bài hát này thì đặc biệt được sống đến hai lần. Sống ngoài chuyện đi làm kiếm tiền hầu chồng nuôi con, còn phải nuôi dưỡng và thực hiện những mơ ước dấu kín của mình hằng bao nhiêu năm. Đến lúc kiệt lực rồi mới lôi ước mơ ra đánh bóng, ngắm nghía và tự hỏi: “Ta làm gì với nhà mi bây giờ.”

Hạnh phúc của người về hưu

Giống như cây kẹo
Branch Brook Park ngày 1 tháng 11, 2018 lúc giữa trưa

Tôi dự tính mỗi ngày đăng một tấm ảnh mùa thu từ bây giờ cho đến khi lá rụng hết, có lẽ là cuối tháng.

Những người mới học nhiếp ảnh thường được nhắc nhở là nên để điểm nổi bật nhất của tấm ảnh ở vị trí một phần ba của tấm ảnh. Nguyên tắc một phần ba này gọi là rule of thirds. Tôi chụp tấm ảnh cây phong vừa chín tới này rồi không biết làm sao mà đặt nó vào vị trí một phần ba. Nó to lớn quá, tương vào ảnh nó tràn ngập cả khung hình, tuy nhiên khi nhìn ảnh sẽ không biết nó lớn hay bé cỡ nào. May sao có một người đi trờ tới.

Tôi thích cây phong này, vì nó làm tôi tưởng tượng đến một cây kẹo khổng lồ có màu đỏ, cam, và vàng.

Sáng hôm qua, tôi vào công ty cũ để nhận cái ngân phiếu. Đó là tiền của số ngày nghỉ vacation tôi chưa dùng hết. Bà thư ký không chịu gửi thư, mà cũng không chịu cho thẳng vào ngân hàng như công ty đã làm hằng bao nhiêu năm. Có lẽ bà muốn đày tôi phải vác bị xách gậy vào công ty lần nữa để đi ăn mày. Bà bảo rằng số tiền lớn quá bà sợ lạc mất. Mở cái ngân phiếu thấy đóng thuế tiền này tiền kia đủ thứ, tôi chỉ còn nhận được khoảng bốn mươi phần trăm của cái ngân phiếu.

Gặp lúc có nắng, trời lại ấm, hôm qua nhiệt độ lên đến 67 độ F (19 độ C.), chẳng bù ngày bạn tôi đến chơi mưa dầm lạnh lẽo chỉ có 47 độ F. (8 độ C.) tôi lấy xe điện ngầm đến Branch Brook Park. Đúng là cái hạnh phúc của người về hưu. Lúc còn đi làm, khó mà tìm được cơ hội đi chụp ảnh lá mùa thu. Chúng ta vẫn thường đọc trên mạng những người về hưu cô quạnh vì con cái lớn hết rồi dọn ra khỏi nhà đi xa. Lâu dài thì chắc mình sẽ thấy quạnh quẽ cô đơn, nhưng bây giờ thì như một bạn đã nói, không phải luôn luôn vội vã về nhà để kịp nấu cơm chiều. Và nếu không lười thì cứ xách bị gậy ra đường mang theo máy ảnh đi săn ảnh.

Viết đến đây thấy còn trống chỗ nên mời bạn đọc thêm một đoạn thơ, tôi chép lại lúc xem phim Autumn in New York

Oh world that I could not hold you
close enough
thy winds,
thy wide gray skies!
thy mists that roll and rise!

Ồ thiên nhiên tôi đã không thể giữ người
kề cận bên tôi
gió lộng
bầu trời xám
sương mù giăng phủ

Bài thơ God’s World của Edna St. Vincent Millay

 

The stars are as soft as flowers
and as near
the hills are webs of shadow
slowly spun

Sao trời mềm mại như hoa
vô cùng gần gũi
đồi núi là mạng lưới bóng tối
từ từ giăng

Bài Midnight – Thơ của Dorothy Parker

Cọng buồn cỏ khô

Cọng buồn cỏ khô

Ở đây đang thật sự là mùa thu rồi đó. Có những ngày “Ngoài hiên giọt mưa thu thánh thót rơi” (Đặng Thế Phong). Cũng có những ngày “Nước nghiêng mặt ngọc lưu ly phớt buồn” (Đinh Hùng). Khắp nơi cây lá đổi màu. Phong chưa đỏ thắm, nhưng cũng đang rục rịch chuyển mình. Lá vàng bắt đầu rơi, chưa rơi nhiều để làm thành trận mưa lá, nhưng đi đâu cũng có lá rơi lác đác. Hai bên đường xa lộ, hay dọc theo những cung đường ôm quanh đèo, phía sau những thương xá, cây cối đủ thứ màu, nổi bật ba màu chính, xanh lá cây, màu cam, màu vàng. Thỉnh thoảng có màu đỏ. Tôi không vẽ được. Không chụp được ảnh (vì nhìn thấy trong lúc lái xe).

Tôi vẫn tự hỏi chụp ảnh thu làm sao cho đẹp. Cứ chụp cây lá hoài cũng chán. Thôi thì chụp ảnh cỏ. Nhớ câu hát “Ta thấy em trong tiền kiếp. Với cọng buồn cỏ khô” (Trịnh Công Sơn). Thật là kỳ lạ ngôn ngữ của thi nhân. Cọng buồn. Sao không viết là cọng cỏ khô buồn? Nếu cỏ khô biết buồn thì cọng cũng buồn được chứ. Thảo nào tôi không thể làm thơ bởi vì ngôn ngữ của thơ khác với ngôn ngữ bình thường.

Mời bạn nghe Autumn Leaves qua giọng hát của Nana Mouskouri. Bài hát này, theo Wikipedia, nhạc của Joseph Kosma, nhạc sĩ Hungary – Pháp, lời Pháp Jacques Presvert, lời Anh Johnny Mercer. Nguyên thủy (1945), bài hát “Les Feuilles Mortes” là bài hát tiếng Pháp, trích từ trong một vở ballet (Renderz-Vous, viết cho Roland Petit). Lời nhạc lấy từ bài thơ Poèm d’ Octobre của Jules Massenet.  Từ đó về sau nó được trích, biến hóa, hòa nhạc, … thành ra rất nhiều bài hát, đoạn nhạc, trong phim, kịch, nhạc kịch, hòa tấu…

 

Nếu anh sẽ ra đi

Nghe bài này, nghe nhiều lần, nhiều người hát. Patricia Kaas, Neil Diamond, và bây giờ là Barbara Streisand. Mỗi người mỗi vẻ. Mười phân vẹn mười một.

Xin mời bạn cùng nghe “If you go away.”

 

Bất tử

Bất Tử

Tác giả: Yasunari Kawabata

Ông cụ và cô bé đi với nhau.

Hai người có nhiều đặc điểm khiến người ta phải tò mò, chú ý. Họ đi sát vào nhau như đôi tình nhân, như thể không bận tâm giữa họ có sự chênh lệch sáu mươi năm tuổi. Ông cụ đã nặng tai. Ông không hiểu được hầu hết những gì cô bé nói. Cô bé mặc hakama (1) màu tím sậm với cái kimono hai màu tím và trắng có nhiều vân nhọn như mũi tên rất nhỏ. Tay áo của cô cũng khá dài. Ông cụ mặc y phục giống như kiểu của mấy cô gái làm ruộng mặc để nhổ cỏ, chỉ khác cái là cụ không mang vớ dài. Tay áo nhỏ và chật mặc cùng với cái quần túm lại ở cổ chân khiến cho ông giống như đang mặc quần áo phụ nữ. Bộ quần áo khá rộng chỗ thắt lưng vì ông khá gầy.

Hai người băng ngang sân cỏ. Có một cái mạng lưới rất cao chắn trước mặt họ. Đôi tình nhân có vẻ không để ý rằng nếu họ cứ tiếp tục bước tới thì họ sẽ lao thẳng vào trong lưới. Hai người không ngừng lại, cứ dấn bước xuyên qua mạng lưới như một ngọn gió xuân nhẹ nhàng thổi qua.

Sau khi họ đi xuyên qua, cô bé mới chú ý đến cái lưới. “Ồ,” cô nhìn ông cụ. “Sintarō, anh cũng đi xuyên qua mạng lưới à?”

Ông cụ không nghe thấy, nhưng ông nắm lấy mạng lưới, “Đồ mất dạy. Đồ mất dạy.” Ông vừa nói vừa xô đẩy mạng lưới. Ông kéo rung lưới thật mạnh, và trong một thoáng ngắn ngủi, mạng lưới bị đẩy xa ra. Ông cụ loạng choạng mất đà ngã chúi, tay vịn vào mạng lưới.

“Cẩn thận, Shintarō! Có chuyện gì thế?” Cô bé quàng tay lên người ông cụ và đỡ ông đứng lên.

“Hãy thả cái lưới ra… Ồ, anh gầy đi rất nhiều,” cô bé nói.

Ông cụ đứng lên. Ông thở nặng nề lúc ông cất tiếng. “Cám ơn em.” Ông lại đưa tay nắm cái lưới, nhưng lần này nhẹ nhàng hơn, chỉ bằng một tay. Rồi với giọng nói rất to của một người bị lảng tai. “Tôi đã từng lượm banh phía sau màn lưới hằng ngày. Suốt mười bảy năm.”

“Mười bảy năm là dài ư?…. Chỉ là một khoảng thời gian rất ngắn thôi.”

“Chúng nó đánh banh tùy thích. Tiếng banh chạm vào lưới nghe ghê người. Trước khi tôi quen nghe tiếng đánh banh, tôi thường nhăn mặt. Chỉ vì tiếng đánh banh này mà tôi trở nên bị điếc.”

Đó là một mạng lưới bằng kim loại được dựng lên để bảo vệ mấy cậu bé nhặt banh ở khuôn viên dùng máy ném banh cho người tập đánh golf. Những cái lưới này được gắn bánh xe ở phía dưới vì vậy chúng có thể di chuyển tới lui hay trái phải. Khuôn viên tập đánh golf và sân đánh golf chỉ cách nhau bởi một hàng cây. Ban đầu đây là một cái rừng nho nhỏ với đủ thứ loại cây, nhưng dần dần cây bị đốn hạ cho đến khi chỉ còn một hàng cây không đều.

Cả hai tiếp tục đi, mạng lưới ở phía sau họ.

“Nhiều kỷ niệm êm đềm sẽ trở lại nếu chúng ta được nghe âm thanh của đại dương.” Muốn ông cụ có thể nghe tiếng nói của mình, cô bé ghé môi sát vào tai ông. “Em có thể nghe âm thanh của đại dương.”

“Gì thế?” Ông cụ nhắm mắt. “A! Misako. Đó là hơi thở ngọt ngào của em. Như tôi đã từng nghe thấy từ những năm xưa.”

“Anh có thể nghe âm thanh của đại dương không? Nó có thể mang về những kỷ niệm đáng yêu không?”

“Đại dương… Có phải em nói đại dương? Kỷ niệm đáng yêu? Làm sao đại dương, nơi em đã trầm mình, có thể mang về những kỷ niệm êm đẹp chứ?”

“Có đấy chứ. Đây là lần đầu tiên em trở lại làng xưa sau năm mươi lăm năm. Và anh, anh cũng trở lại nơi nầy. Chính sự trở lại của anh đã mang về những kỷ niệm êm đẹp.” Ông cụ không thể nghe nhưng nàng vẫn tiếp tục nói. “Em mừng là em đã tự trầm mình. Bằng cách ấy em có thể nghĩ đến anh mãi mãi, như cái khoảnh khắc em đang nghĩ đến anh và tự trầm mình. Chỉ những kỷ niệm và hồi tưởng em có cho đến lúc em mười tám tuổi. Với em, anh trẻ mãi muôn đời. Và với anh, em cũng thế. Nếu em không tự trầm mình ngày ấy và anh trở về làng lúc này để tìm gặp lại em, em chỉ là một lão bà. Thật là xấu xí đáng tởm. Em không muốn anh nhìn thấy em như thế.”

Ông cụ nói. Đó là lời độc thoại của một người điếc. “Anh đến Tokyo và thất bại. Giờ đây, tàn tạ với thời gian, anh trở về làng cũ. Ngày xưa có một cô gái đã đau buồn vì chúng ta bị buộc phải xa cách nhau. Nàng đã tự trầm mình trong đại dương, nên anh xin việc làm ở sân tập đánh golf vì nó nhìn ra biển. Anh van nài quá nên người ta cho anh công việc này… chỉ vì thương hại anh.”

“Chỗ này, chỗ chúng ta đang đi, ngày xưa nó là cánh rừng của gia đình anh.”

“Anh chẳng làm được việc gì, ngoại trừ đi nhặt banh. Lưng của anh trở nên đau đớn vì phải cúi khom suốt ngày… Nhưng có một cô gái đã tự tử vì anh. Những triền đá ấy ở gần quanh anh vì thế anh có thể leo lên những triền đá ấy để nhảy xuống biển, ngay cả khi anh đi đứng xiêu vẹo. Anh đã nghĩ như thế.”

“Không được. Anh phải tiếp tục sống. Nếu anh chết đi sẽ không còn ai nghĩ đến em. Và như thế là em đã hoàn toàn chết.” Cô bé ôm chầm lấy ông cụ. Ông cụ không thể nghe nhưng ông cũng ôm nàng.

“Thế là xong. Chúng ta hãy cùng chết với nhau. Lần này… Em đến đây vì anh phải không?”

“Cùng chết? Nhưng anh phải sống. Sống vì em, Shintarō.”

Cô bé thở gấp khi nàng nhìn qua bờ vai ông cụ. “Ô, mấy cây cổ thụ vẫn còn kia. Cả ba cây… như hồi xửa hồi xưa.” Cô gái đưa tay chỉ, nên ông cụ quay lại nhìn.

“Những người đánh golf rất sợ mấy cái cây ấy. Họ cứ bảo người làng hãy đốn chúng đi. Khi họ đánh quả banh golf, họ nói quả banh đi đường vòng hướng qua bên tay phải như thể chúng bị hút đi bằng phép ma thuật của mấy cái cây.”

“Mấy người đánh golf đến lúc thì cũng sẽ chết thôi – rất lâu trước khi mấy cái cây này sẽ chết. Hàng cây này đã cả hằng trăm tuổi rồi. Mấy người đánh golf nói như thế, nhưng họ không hiểu chiều dài suốt cuộc đời của con người,” cô bé nói.

“Đây là mấy cái cây tổ tiên anh đã chăm sóc hằng mấy trăm năm, vì thế anh bắt người mua đất phải hứa là sẽ không đốn hạ mấy cây này khi anh bán đất cho họ.”

“Thôi đi, anh.” Cô bé nắm lấy tay ông cụ. Hai người chập choạng hướng về hàng cây.

Cô bé đi xuyên qua gốc cây dễ dàng. Ông cụ cũng vậy.

“Ô kìa.” Cô bé nhìn ông cụ chăm chăm rồi khen ngợi. “Ồ, thế anh cũng đã chết rồi à, Shintarō? Phải không anh? Anh chết từ bao giờ?”

Ông cụ không trả lời.

“Anh đã chết… Đúng không? Thật là lạ lùng vì em đã chẳng gặp anh ở cõi âm. Anh hãy thử đi xuyên qua cái cây lần nữa để em xem có thật anh đã chết hay vẫn còn sống. Nếu anh đã chết, chúng ta có thể đi vào và ở lại trong cây.”

Họ biến mất vào trong gốc cây. Cả ông cụ và cô bé không tái xuất hiện.

Màu của hoàng hôn bắt đầu trôi biến vào các cây non phía sau hàng cổ thụ. Bầu trời biến thành màu đỏ nhạt nơi đại dương có tiếng sóng vỗ rì rào.


Nguyễn thị Hải Hà dịch truyện ngắn “Immortality” trích từ tuyển tập “Palm of the Hand” của Yasunari Kawabata. J. Martin Holman dịch từ tiếng Nhật sang tiếng Anh.

(1) hakama: y phục cổ truyền của người Nhật. Tương tự như cái váy dài lưng váy rất cao.