Đạo diễn Nguyễn Phú Hữu

Nhiều khi, lang thang trong chốn giang hồ, mình gặp anh hùng (kiêm anh hiền) mà không biết. Tình cờ tôi làm bạn với ông Nguyễn Phú Hữu. Ông thấy tôi thích bàn chuyện phim ảnh, thích chụp ảnh, ông tặng cho mấy tấm ảnh và phim mùa thu tuyệt đẹp. Rồi ông chụp ảnh tuyết, ảnh nào cũng đẹp, như người rất rành về ảnh nghệ thuật. Ảnh chân dung, người mẫu cũng đẹp. Tôi xin phép được hỏi han ông vài câu. Sau đây là đoạn tôi phỏng vấn ông.

“Tôi bắt đầu chụp ảnh từ lúc còn bé khoảng 9 hay 10 tuổi. Thuở ấy tôi có ông anh rể và ông ấy có máy chụp ảnh khá tốt. Tuy có máy nhưng ông không dùng, nên đi đâu cũng chỉ có tôi chụp ảnh. Tôi sinh vào tháng 6 năm 1942, sang Pháp năm 1964, học được hai năm ngành Dược vì chính phủ không cho học mấy ngành nghệ thuật. Khoảng thời gian đó tôi có làm việc cho một Gallery tranh nổi tiếng ở Lyon và quen nhiều nhân vật trong trong hội đồng thành phố tỉnh Lyon. Năm 1968, tôi được một lúc 3 giải nhứt trong cuộc thi ảnh tổ chức hằng năm giữa các đại học Pháp và đại học thế giới. Mấy ông đó hỏi sao không theo học về phim ảnh mà học Dược. Tôi nói nếu theo học Điện ảnh thì chính phủ VN không cho phép gia đình gởi tiền… ; Do đó, họ liên lạc với Bộ Ngoại Giao Pháp xin cấp cho tôi 5 năm học bổng để theo học Nhiếp ảnh và Điện ảnh. Thế là tôi khăn gói lên Paris thi vào trường Điện Ảnh. Ra trường, tôi đi thực tập và làm việc với đài truyền hình và mấy đoàn làm phim. Mùa hè năm 1973 tôi cùng với Trần Văn Bá tổ chức đưa sinh viên Âu châu về VN trong chương trình Nối Vòng Tay Lớn, sau đó bị kẹt luôn cho đến năm 1991 mới qua được Canada theo diện đoàn tụ gia đình do gia đình của phu nhân tôi bảo lãnh.”

Rất ngạc nhiên là thời ấy VNCH cho phép du học các ngành kỹ thuật nhưng lại cấm các ngành nghệ thuật. Tôi có một số câu hỏi, tò mò về sự nghiệp điện ảnh của ông, nhưng may quá, chưa kịp hỏi thì ông đã gửi cho vài cái link. Lần theo các link này tôi biết được một số chi tiết rất hay về ông và về một cuốn phim đã trình chiếu ở “rạp chiếu bóng” trước năm 1975. Phim Chân Trời Tím.

Trung tuần tháng Sáu năm 2017, ở Toronto đã trình chiếu lại phim Chân Trời Tím của hãng phim Mỹ Vân. Phim bị hư nhiều được khôi phục lại. Qua cuộc phỏng vấn của Khánh Lan và Tôn Thất Hùng của Viet TV, ông có một vài nhận xét thú vị về phim “Chân Trời Tím.” Trước là sự thắt gút tháo gút của bức tranh khỏa thân, tranh vẽ nhân vật là một ca sĩ tên Liên do Kim Vui đóng. Sau là lời thoại hơi dài, giống văn viết hơn là văn nói.

Năm 1973 ông về nước cộng tác với Giáo sư kiêm kịch tác gia Vũ Khắc Khoan dạy các lớp Cử Nhân kịch và điện ảnh ở Đại học Tri Hành và Đại học Minh Đức. Ông cũng cộng tác với Hội Điện Ảnh Việt Mỹ phụ trách phần art graphic. Ông là phụ tá của đạo diễn Jean-Jacques Annaud, khi đoàn phim của ông Annaud sang Việt Nam quay phim “Người Tình.” Ông phụ trách việc chuẩn bị các khâu quay phim, phân cảnh, trang trí, kiến trúc, hiện trường, suốt cả năm, vì đoàn phim chỉ sang VN làm việc ba tháng một lần. Thậm chí ông còn tổ chức thuê cả xưởng may để làm bối cảnh quay phim. Việc ông tham gia làm cuốn phim này cũng thú vị. Số là đoàn phim sang VN, mất nhiều thì giờ nhưng không được việc. Các nhà làm phim bên Pháp biết tên ông, biết ông còn ở VN nên tìm đến ông mời làm việc.

Ông cũng tham gia công việc hậu kỳ của phim “Đất Khổ” nói về cuộc chiến năm 1972. Bạn nào không ái mộ Trịnh Công Sơn thì đừng chú ý đến đoạn này hay phim này.

Ông nói tiếng Việt rặc giọng miền Nam, với phong cách thật là bình dị. Bạn nào muốn tìm hiểu thêm tôi xin đính kèm một vài cái links tôi đã dùng để tham khảo.

Khánh Lan phỏng vấn ông Nguyễn Phú Hữu và Tôn Thất Hùng của Viet TV. Canada

Trò chuyện với ông Nguyễn Phú Hữu. Tôn Thất Hùng phỏng vấn. Canada

 

 

Boyfriend trên tuyết

Boyfriend trên tuyết

Tấm ảnh này chụp từ mấy hôm trước. Hôm qua tuyết đã tan gần hết. Và sáng nay thì có thêm một lớp tuyết mới, rất mỏng.

Hôm qua Boyfriend đến, đi lòng vòng, lên đồi, lượn qua lượn lại nhưng không ăn thức ăn để sẵn. Chắc là có người nào đó đã cho ăn. Chân trước của nó, chỗ lông màu trắng dơ bẩn xỉn xỉn màu nâu nâu. Chẳng biết vì ẩn núp chỗ bụi bẩn hay đánh nhau với các con mèo khác mà dính máu.

Có đêm tôi nghe tiếng nó kêu gào gầm gừ, dường như có một con mèo lạ đến gần, chứ Nora thì khi biết có Boyfriend ở ngoài thì không dám ra dù rất muốn ra. Tôi chỉ e ngại Boyfriend là một con mèo cái và ít hôm lại tha con nó vào nhà tôi thì tôi chẳng biết phải xử lý như thế nào.

The Song of the Jellicles

Jellicle Cats are black and white,
Jellicle Cats are rather small;
Jellicle Cats are merry and bright,
And pleasant to hear when they caterwaul.
Jellicle Cats have cheerful faces,
Jellicle Cats have bright black eyes;
They like to practise their airs and graces
And wait for the Jellicle Moon to rise.

Mèo Jellicle có màu trắng và đen
Mèo Jellicle thường nhỏ con
Mèo Jellicle vui vẻ và khôn ngoan
Tiếng chúng nghe vui tai khi chúng kêu gào
Mèo Jellicle có bộ mặt vui vẻ
Mèo Jellicel có đôi mắt đen sáng người
Chúng nó thích luyện tập cách đi đứng thế ngồi cho duyên dáng
Và chờ vầng trăng Jellicle nhô lên.

Đây là một đoạn thơ của T. S. Elliot dựng thành vở nhạc kịch “Cats.” Elliot đặt cho mỗi con mèo ít nhất là hai tên. Jellicle là tên một loại mèo cùng dòng họ với con mèo già Deuteronomy (trưởng bộ lạc mèo) bị âm mưu bắt cóc. Mèo Jellicle chờ trăng lên là mở dạ hội Jellicle. Chắc Boyfriend thuộc dòng họ Jellicle với hai màu trắng đen.

 

Ông hàng xóm

Tôi về ở căn nhà này năm 1999. Ở cuối con đường là nhà của vợ chồng ông Steve. Vợ ông có cái tên là loài chim ức nâu báo hiệu mùa xuân. Năm ấy ông khoảng chừng ở tuổi năm mươi lăm. Cao lớn và rất đẹp người, vợ ông cũng rất có nhan sắc. Sáng Chủ Nhật, vợ chồng ông thường đi nhà thờ bằng xe Mercedes. Nhà của ông to và đẹp nhất xóm. Căn nhà có vách màu đỏ mà thỉnh thoảng bạn thấy xuất hiện trong mấy tấm ảnh của tôi là nhà của ông. Dạo ấy ông có nuôi một con chó nhỏ rất đẹp, thỉnh thoảng tôi và ông Tám đi bộ con đường trước nhà vẫn thấy ông dắt chó đi dạo. Ông là cảnh sát, về hưu non, vì bị chấn thương cột sống. Vợ ông làm nghề hầu bàn. Hai con trai và một con gái cũng đẹp người và thành đạt hết.

Vợ chồng ông chăm sóc nhà cửa rất chu đáo. Sau nhà có hồ nước rất lớn, chỗ để party những ngày lễ lớn. Ông cắt cỏ, thổi tuyết bằng máy. Ông Tám không dùng máy vì máy to rất nặng, và không chịu được sức rung của máy. Thỉnh thoảng gặp nhau trên đường chúng tôi chào và trò chuyện với vợ chồng ông. Bận rộn với cuộc sống, và mùa đông ít khi gặp nhau, rồi có lần nói chuyện với ông tôi thấy tay mặt của ông run rẩy không kiểm soát được. Ông cứ phải cho tay vào túi. Khi cơn bão Sandy (năm 2012) tàn phá xóm tôi, nói chuyện với bà vợ ông về chuyện cưa cây và mất điện, tôi biết thêm là ông bị bệnh Parkinson.

Tuần trước ông Tám nói chuyện với Steve, được biết ông thổi lá hay thổi tuyết gì đó, trượt ngã, cái máy đè lên lưng ông, phải vào nhà thương. Hôm qua buổi sáng đi làm tôi thấy ông lái xe ra đậu trên đường. Ông mở cửa xe và cốp xe để làm gì đó, ông đi loạng choạng run rẩy, rõ ràng sức khỏe của ông sa sút rất nhiều so với ông Steve của những năm tôi mới về.

Mười sáu năm, nghe trong mình, và thấy ở người hàng xóm, những tàn phai của cuộc đời.

Một giai thoại nhỏ về Thiếu-tướng Lê Minh Đảo

Tối qua tôi tình cờ gặp trên youtube chương trình nhạc kỷ niệm 30 năm của trung tâm phát hành nhạc Asia. Tôi bỏ những đoạn giới thiệu dài dòng của các MC, chỉ nghe một vài đoạn của vài bài cho đến khi gặp bài Nhớ Mẹ này. Thấy có một vị khán giả cảm động quá khóc mướt làm tôi cũng cảm động theo. Tôi quay trở lại khúc đầu và nghe giới thiệu bài hát này của Tướng Lê Minh Đảo. Kiểm lại trong Wikipedia thấy chức vụ của ông là Major General, Thiếu-tướng.

Trước khi đi ngủ tôi có nói với ông Tám về bài hát Nhớ Mẹ. Tôi ngạc nhiên là một vị Thiếu-tướng đang đi tù lại có thể viết những dòng nhạc thương nhớ mẹ như thế. Quả thật, một cách tổng quát, người lính của quân đội VNCH tâm tính hiền lành, lúc nào cũng chỉ nghĩ đến yêu thương và mơ ước hòa bình. Tôi thích câu hát “… nắng sẽ về đẩy lùi bóng tối. Và yêu thương và tự do sẽ còn mãi mãi.” Ngay cả lúc tưởng chừng tuyệt vọng ông Đảo và ông Huề vẫn nuôi hy vọng.

Ông Tám kể tôi nghe. Trước ngày Sài Gòn thất thủ, khi bộ đội miền Bắc từ Phan Rang tràn xuống, đã gặp sư đoàn 18 (dưới quyền chỉ huy của Thiếu-tướng Đảo) chặn lại ở Xuân Lộc. Sư đoàn 18 bảo vệ Sài-gòn cho đến khi được lệnh đầu hàng của tướng Dương văn Minh. Trong khi những vị tướng khác đã chạy ra nước ngoài, Thiếu-tướng Đảo vẫn ở lại với sư đoàn dù ông có thể bỏ hàng ngũ đi bằng trực thăng. Sư đoàn của ông triệt thoái rồi giải tán trong trật tự. Ông anh chồng của tôi, là lính, bị mất hàng ngũ từ nơi nào đó, đã gia nhập với đoàn quân của Tướng Đảo. Ông Tám không phải là quân nhân nhưng khi kể lại giai thoại này giọng ông đầy vẻ kính phục. Tôi thường hay nghi ngờ những quyển hồi ký tự khoe chiến công chiến tích huy hoàng, nhưng những câu truyện truyền miệng từ gia đình thì tôi tin.

Nhân có hai bạn Bảo Bình và Kim Ánh hỏi, tôi ghi lại đây để trả lời chung.

Ngày tưởng niệm Mục sư King

Mục sư King

Hôm nay ngày lễ Mục sư King nên được nghỉ ở nhà. Ảnh này chụp hồi tháng 3 mùa hoa đào năm 2012. Thường thường cuối năm tôi hay ngẫm nghĩ về những thành kiến của mình, năm nay chẳng biết thì giờ chạy đi đâu mà chẳng có viết gì để thú tội của mình. Hôm trước bác Túy viết bài nhận định thành kiến về người đồng tính luyến ái một hiện tượng của xã hội trong văn học tôi cũng muốn viết vài câu về thành kiến của mình nhưng chắc bận quá nên quên luôn. Continue reading Ngày tưởng niệm Mục sư King

Phụ nữ – Chiến Tranh và Hòa Bình

Nhân ngày Phụ Nữ Quốc Tế, đăng lại bài đã đăng trên Gió O

Leymah Gbowee - Giải Nobel Hòa Bình 2011
Leymah Gbowee – Giải Nobel Hòa Bình 2011

Năm 411 trước Công Nguyên, Aristophanes, kịch tác gia Hy Lạp, cho ra mắt vở hài kịch Lysistrata; trong vở kịch này phụ nữ Athens từ chối ân ái với chồng hay người yêu của họ để đòi hỏi hòa bình. Lysistrata, có nghĩa là giải tán quân đội, là một người phụ nữ phi thường. Chán ngán cuộc chiến tranh Peloponnese, do Athens ỷ có đoàn chiến thuyền hùng hậu mang quân đi đánh Sparta; Lysistrata tụ tập nữ giới kêu gọi mọi người đặt áp lực lên nam giới buộc họ phải chấm dứt chiến tranh. Một số phụ nữ lớn tuổi đảo chánh và cướp ngân khố quốc gia vì hễ không có tiền thì không thể mua vũ khí. Kế hoạch của Lysistrata gây căng thẳng giữa hai phái nam và nữ. Phụ nữ trong khi dùng tình dục để khống chế chồng hay người yêu cũng nhận ra rằng họ đã tự trừng phạt họ. Nhiều bà viện cớ phải về nhà để giặt giũ chỉ để trải khăn giường mới mời chàng. Lysistrata bắt được ông thị trưởng khi ông đi lấy tiền trong ngân khố để mua chèo cho chiến thuyền. Nàng giải thích nàng chống chiến tranh vì không muốn trở thành gái già. Tàn cuộc chinh chiến các ông dẫu già vẫn có thể tìm được cô vợ trẻ, trong khi phụ nữ tuổi xuân chỉ có thì. Vài năm sau khi vở hài kịch ra đời, chiến tranh Peloponnese chấm dứt vì hạm đội của Athens bị Sparta đánh tan tành.

Hơn hai ngàn bốn trăm năm sau, có một người phụ nữ áp dụng phương pháp “sex strike” của Lysistrata, cổ động phụ nữ từ chối ái ân với chồng hay người yêu để đòi hỏi hòa bình. Người phụ nữ ấy là Leymah Gbowee, một trong ba người phụ nữ được trao tặng giải Nobel Hòa Bình năm 2011. Cùng chia giải thưởng này với Gbowee là bà Ellen Johnson Sirleaf, vị nữ Tổng thống đầu tiên của Liberia và Tawakkul Karman, ký giả kiêm nhà cách mạng của Yemen.

Leymah Gbowee sinh ngày 1 tháng Hai năm 1972 ở Liberia. Năm 1989 khi cuộc nội chiến thứ Nhất của Liberia bộc phát bà đang sống với mẹ và hai người chị ở Monrovia, thủ đô của Liberia. Người ta bảo rằng cuộc nội chiến này là chiến tranh giai cấp giữa người giàu và người nghèo. Người khác lại cho rằng đây là cuộc chiến tranh của các chủng tộc. Lại có người cho rằng đây là cuộc tranh giành tài nguyên. Liberia có nhiều mỏ đá quý như hồng ngọc và kim cương. Charles Taylor, Tổng thống của Liberia đã dùng cả trẻ em từ chín đến mười lăm tuổi làm chiến sĩ. Cuộc chiến tranh đẫm máu kéo dài đến năm 1996, đưa đến hai trăm năm chục ngàn người chết và một phần ba dân số bị mất nơi cư ngụ. Họ chạy loạn, sống ở những trại tạm cư, trẻ em chết đói và suy dinh dưỡng rất nhiều. Gbowee theo học chương trình đào tạo nhân viên xã hội do Unicef tổ chức. Năm 1998 Gbowee tình nguyện làm việc cho tổ chức Trauma Healing and Reconciliation Program (THRP) đặt trụ sở tại nhà thờ St. Peter ở Monrovia. Tổ chức này rất có danh tiếng đã nhiều năm cố gắng vận động cho nền hòa bình ở Liberia. Đây là bước đầu tiên đánh dấu con đường chiến đấu đòi hòa bình của Gbowee.

Năm 2001, giúp chữa trị trẻ em tàn phế vì chiến tranh, nhìn thấy thảm cảnh trẻ con đi giết người và bị người giết, Gbowee bản thân bà là mẹ của bốn đứa con, nhận ra rằng những bà mẹ có thể và cần phải tích cực thay đổi thảm kịch này.

Trang bị bằng kiến thức sách vở từ phương pháp tranh đấu bất bạo động của Martin Luther King, Gandhi và các nhà triết gia chính trị học trong và ngoài nước, xin được ngân quỷ tài trợ của West Africa Network for Peacebuilding (WANEP), được sự hướng dẫn của Thelma Ekiyor, vị luật sư người Nigeria, chuyên về hòa giải thương lượng, Gbowee tham dự cuộc họp đầu tiên của Tổ chức Phụ nữ Xây dựng Hòa bình đến từ châu Phi như Sierra Leone, Guinea, Nigeria, Senegal, Burkina Faso, và Togo.

Gbowee và các bạn, kêu gọi sự hỗ trợ của phụ nữ khác biệt chủng tộc và tôn giáo, đến nhà thờ Hồi giáo chiều thứ Sáu kêu gọi phụ nữ họp nhau ở chợ cá sáng thứ Bảy và đến nhà thờ Công giáo sáng Chủ Nhật. Truyền đơn họ phát ra có những câu như: “Chúng tôi đã chán lắm rồi, chúng tôi chán cảnh con cái của chúng tôi bị giết! Chúng tôi chán cảnh chúng tôi bị hãm hiếp. Các bà các cô, hãy thức tỉnh. Chúng ta có tiếng nói trong cuộc vận động đòi hỏi hòa bình.” Đối với những người phụ nữ không biết đọc họ phát ra những hình vẽ đơn giản để giáo dục những người phụ nữ này. Trong cuốn phim Pray the Devil Back to Hell, nói về cuộc tranh đấu đòi hòa bình của Leymah Gbowee do Agigail Disney tài trợ, nhiều phụ nữ đã kể lại cảnh họ bị hãm hiếp trước mắt chồng và sau đó chồng họ bị giết ngay trước mắt họ rất là thê thảm.

Mùa hè năm 2002, Gbowee trở thành phát ngôn viên và là lãnh đạo của phong trào Women of Liberia Mass Action for Peace tạm dịch là Phụ Nữ Liberia Vận Động Hòa Bình. Tổ chức này kết hợp nhiều chủng tộc nhiều tôn giáo gặp nhau trong chợ cá, họ ca hát, nhảy múa, và cầu nguyện. Không phải lời ca nào cũng vui, bài múa nào cũng nhộn nhịp, họ có những bài ca họ hát với hai hàng nước mắt và những bước chân run rẩy hai tay ngửa lên trời để van xin. Không phải lời cầu nguyện nào cũng ru ngủ; họ cầu nguyện cho Quỷ Dữ Quay Về Địa Ngục (Pray the Devil Back to Hell). Họ biểu tình bất bạo động để chống vị Tổng thống độc tài Charles Taylor. Họ đe dọa sẽ dùng lời nguyền và kêu gọi thành viên từ chối chuyện chăn gối để gây tiếng vang. Cuộc đình công chăn gối khi có khi không trong nhiều tháng tuy không hiệu quả nhưng được giới truyền thông chú ý vì gợi nhớ đến vở hài kịch Lysistrata.

Đoàn biểu tình bất bạo động chiếm sân bóng đá bên cạnh Đại lộ Tubman, nơi Tổng thống Charles Taylor đi ngang mỗi ngày hai lần để đến thủ phủ. Các thành viên mặc áo trắng, đội khăn trắng, nón trắng có in chữ WIPNET, cơ quan tài trợ phong trào đòi hỏi hòa bình. Charles Taylor nghe Gbowee đọc thỉnh nguyện thư và đồng ý đàm phán hòa bình ở Ghana với các nhóm Liberians United for Reconciliation and Democracy (Liberia Thống Nhất cho Hòa Giải và Dân chủ) và MODEL.

Năm 2003, Gbowee dẫn phái đoàn phụ nữ đến biểu tình bất bạo động trước khách sạn nơi cuộc đàm phán hòa bình diễn ra. Khi cuộc đàm phán kéo dài từ tháng Sáu đến tháng Bảy không có tiến triển cụ thể, Gbowee dẫn hơn hai trăm phụ nữ sảnh đường của khách sạn. Họ nêu cao biểu ngữ nói rằng: “Những tên đồ tể và sát nhân dân tộc Liberia –Phải ngưng lại.” Gbowee trao thông điệp cho Đại tướng Abukabar (cựu Tổng thống Nigeria ) cho biết các thành viên phụ nữ sẽ nối vòng tay làm bức tường người và sẽ giam giữ Đại tướng cho đến khi cuộc đàm phán có kết quả. Đại tướng Abukabar vốn có cảm tình với phong trào phụ nữ đòi hòa bình đã khôi hài: “Sảnh đường hòa bình đã bị Đại tướng Leymah và đoàn nữ quân của bà chiếm đóng.”

Khi một lãnh tụ của lính du kích tham gia cuộc đàm phán tìm cách ra khỏi sảnh đường bằng cách xô ngã hay nhảy qua khỏi bức tường người, Leymah và tổ chức của bà dọa sẽ cởi quần áo để chống đối. Ở Phi châu, một người phụ nữ có tuổi tự ý phơi trần thân xác là một lời nguyền rất xấu. Đại tướng Abukabar đã khiển trách hắn ta.

Những người phụ nữ trong vở kịch Lysistrata và những người phụ nữ Liberia có một điểm tương đồng; họ cho rằng đàn ông là những người gây ra chiến tranh một cách vô trách nhiệm làm ảnh hưởng đến cuộc sống của mọi người vì không nghe lời đàn bà. Lysistrata và giới phụ nữ ở thành phố Athens dành quyền quyết định về chiến tranh. Gbowee và các thành viên muốn chiến tranh chấm dứt để không còn cảnh trẻ em cầm súng giết người và trẻ em chết đói trong các trại tị nạn.

Dĩ nhiên không ai ngây thơ đến độ tin rằng bà Gbowee và những thành viên có thể một cách đơn giản chấm dứt cuộc chiến tranh chỉ bằng ca hát nhảy múa và cầu nguyện. Hậu thuẫn vững chắc của Gbowee là bà Ellen Johnson Sirleaf, Thelma Ekiyor, và còn biết bao nhiêu người (cả nam lẫn nữ) tranh đấu trong thầm lặng, hy sinh xương máu, chịu đựng tù tội. Họ, những người tranh đấu vô danh, là cái bánh. Gbowee và ngay cả bà Ellen Johnson Sirleaf là lớp kem hoa đẹp phần nổi bật nhất trên cái bánh hòa bình.

Nhân chuyện bây giờ nhớ chuyện ngày xưa về những người phụ nữ trên thế giới qua chủ để chiến tranh và hòa bình xin mời bạn đọc giải trí bằng một đoạn kịch Lysistrata của Aristophanes.

LYSISTRATA: Lampito: tất cả các bà các mẹ các chị: hãy đến đây, đặt tay lên  bát (chứa rượu), và lập lại theo tôi: tôi sẽ không sờ đến chồng tôi, hay người yêu tôi.

KALONIKE: tôi sẽ không sờ đến chồng tôi, hay người yêu tôi.

LYSISTRATA: dù rằng anh ấy đến với tôi trong tình trạng rất đáng tội nghiệp.

KALONIKE: dù rằng anh ấy đến với tôi trong tình trạng rất đáng tội nghiệp. (Ồ, Lysistrata! Điều này quả thật là giết chết tôi!)

LYSISTRATA: Tôi sẽ ở trong nhà tôi không ai có thể đụng đến tôi.

KALONIKE: Tôi sẽ ở trong nhà tôi không ai có thể đụng đến tôi.

LYSISTRATA: Trong bộ áo bằng tơ vàng mỏng nhất.

KALONIKE: Trong bộ áo bằng tơ vàng mỏng nhất.

LYSISTRATA: Và sẽ làm cho anh thèm muốn tôi.

KALONIKE: Và sẽ làm cho anh thèm muốn tôi.

LYSISTRATA: Tôi sẽ không dâng hiến mình.

KALONIKE: Tôi sẽ không dâng hiến mình.

LYSISTRATA: Và nếu anh ấy kềm giữ bắt buộc tôi.

KALONIKE: Và nếu anh ấy kềm giữ bắt buộc tôi.

LYSISTRATA: Tôi sẽ lạnh nhạt như nước đá và im như gỗ.

KALONIKE: Tôi sẽ lạnh như nước đá và im như gỗ.

LYSISTRATA: Tôi sẽ không để mũi giày ngủ hướng lên trần nhà.

KALONIKE: Tôi sẽ không để mũi giày ngủ hướng lên trần nhà.

LYSISTRATA: Hay bò bốn chân như con sư tử cái trong tranh.

KALONIKE: Hay bò bốn chân như con sư tử cái trong tranh.

LYSISTRATA: Và nếu tôi giữ lời thề này xin rót rượu vào bát.

KALONIKE: Và nếu tôi giữ được lời thề này xin rót rượu vào bát.

LYSISTRATA: Nếu không hãy cho nước lã.

KALONIKE: Nếu không hãy cho nước lã.

LYSISTRATA: Tất cả chúng ta đều đã thề rồi chứ?

MYRRHINE: Chúng tôi đã thề.