Boyfriend trên tuyết

Boyfriend trên tuyết

Tấm ảnh này chụp từ mấy hôm trước. Hôm qua tuyết đã tan gần hết. Và sáng nay thì có thêm một lớp tuyết mới, rất mỏng.

Hôm qua Boyfriend đến, đi lòng vòng, lên đồi, lượn qua lượn lại nhưng không ăn thức ăn để sẵn. Chắc là có người nào đó đã cho ăn. Chân trước của nó, chỗ lông màu trắng dơ bẩn xỉn xỉn màu nâu nâu. Chẳng biết vì ẩn núp chỗ bụi bẩn hay đánh nhau với các con mèo khác mà dính máu.

Có đêm tôi nghe tiếng nó kêu gào gầm gừ, dường như có một con mèo lạ đến gần, chứ Nora thì khi biết có Boyfriend ở ngoài thì không dám ra dù rất muốn ra. Tôi chỉ e ngại Boyfriend là một con mèo cái và ít hôm lại tha con nó vào nhà tôi thì tôi chẳng biết phải xử lý như thế nào.

The Song of the Jellicles

Jellicle Cats are black and white,
Jellicle Cats are rather small;
Jellicle Cats are merry and bright,
And pleasant to hear when they caterwaul.
Jellicle Cats have cheerful faces,
Jellicle Cats have bright black eyes;
They like to practise their airs and graces
And wait for the Jellicle Moon to rise.

Mèo Jellicle có màu trắng và đen
Mèo Jellicle thường nhỏ con
Mèo Jellicle vui vẻ và khôn ngoan
Tiếng chúng nghe vui tai khi chúng kêu gào
Mèo Jellicle có bộ mặt vui vẻ
Mèo Jellicel có đôi mắt đen sáng người
Chúng nó thích luyện tập cách đi đứng thế ngồi cho duyên dáng
Và chờ vầng trăng Jellicle nhô lên.

Đây là một đoạn thơ của T. S. Elliot dựng thành vở nhạc kịch “Cats.” Elliot đặt cho mỗi con mèo ít nhất là hai tên. Jellicle là tên một loại mèo cùng dòng họ với con mèo già Deuteronomy (trưởng bộ lạc mèo) bị âm mưu bắt cóc. Mèo Jellicle chờ trăng lên là mở dạ hội Jellicle. Chắc Boyfriend thuộc dòng họ Jellicle với hai màu trắng đen.

 

Ông hàng xóm

Tôi về ở căn nhà này năm 1999. Ở cuối con đường là nhà của vợ chồng ông Steve. Vợ ông có cái tên là loài chim ức nâu báo hiệu mùa xuân. Năm ấy ông khoảng chừng ở tuổi năm mươi lăm. Cao lớn và rất đẹp người, vợ ông cũng rất có nhan sắc. Sáng Chủ Nhật, vợ chồng ông thường đi nhà thờ bằng xe Mercedes. Nhà của ông to và đẹp nhất xóm. Căn nhà có vách màu đỏ mà thỉnh thoảng bạn thấy xuất hiện trong mấy tấm ảnh của tôi là nhà của ông. Dạo ấy ông có nuôi một con chó nhỏ rất đẹp, thỉnh thoảng tôi và ông Tám đi bộ con đường trước nhà vẫn thấy ông dắt chó đi dạo. Ông là cảnh sát, về hưu non, vì bị chấn thương cột sống. Vợ ông làm nghề hầu bàn. Hai con trai và một con gái cũng đẹp người và thành đạt hết.

Vợ chồng ông chăm sóc nhà cửa rất chu đáo. Sau nhà có hồ nước rất lớn, chỗ để party những ngày lễ lớn. Ông cắt cỏ, thổi tuyết bằng máy. Ông Tám không dùng máy vì máy to rất nặng, và không chịu được sức rung của máy. Thỉnh thoảng gặp nhau trên đường chúng tôi chào và trò chuyện với vợ chồng ông. Bận rộn với cuộc sống, và mùa đông ít khi gặp nhau, rồi có lần nói chuyện với ông tôi thấy tay mặt của ông run rẩy không kiểm soát được. Ông cứ phải cho tay vào túi. Khi cơn bão Sandy (năm 2012) tàn phá xóm tôi, nói chuyện với bà vợ ông về chuyện cưa cây và mất điện, tôi biết thêm là ông bị bệnh Parkinson.

Tuần trước ông Tám nói chuyện với Steve, được biết ông thổi lá hay thổi tuyết gì đó, trượt ngã, cái máy đè lên lưng ông, phải vào nhà thương. Hôm qua buổi sáng đi làm tôi thấy ông lái xe ra đậu trên đường. Ông mở cửa xe và cốp xe để làm gì đó, ông đi loạng choạng run rẩy, rõ ràng sức khỏe của ông sa sút rất nhiều so với ông Steve của những năm tôi mới về.

Mười sáu năm, nghe trong mình, và thấy ở người hàng xóm, những tàn phai của cuộc đời.

Một giai thoại nhỏ về Thiếu-tướng Lê Minh Đảo

Tối qua tôi tình cờ gặp trên youtube chương trình nhạc kỷ niệm 30 năm của trung tâm phát hành nhạc Asia. Tôi bỏ những đoạn giới thiệu dài dòng của các MC, chỉ nghe một vài đoạn của vài bài cho đến khi gặp bài Nhớ Mẹ này. Thấy có một vị khán giả cảm động quá khóc mướt làm tôi cũng cảm động theo. Tôi quay trở lại khúc đầu và nghe giới thiệu bài hát này của Tướng Lê Minh Đảo. Kiểm lại trong Wikipedia thấy chức vụ của ông là Major General, Thiếu-tướng.

Trước khi đi ngủ tôi có nói với ông Tám về bài hát Nhớ Mẹ. Tôi ngạc nhiên là một vị Thiếu-tướng đang đi tù lại có thể viết những dòng nhạc thương nhớ mẹ như thế. Quả thật, một cách tổng quát, người lính của quân đội VNCH tâm tính hiền lành, lúc nào cũng chỉ nghĩ đến yêu thương và mơ ước hòa bình. Tôi thích câu hát “… nắng sẽ về đẩy lùi bóng tối. Và yêu thương và tự do sẽ còn mãi mãi.” Ngay cả lúc tưởng chừng tuyệt vọng ông Đảo và ông Huề vẫn nuôi hy vọng.

Ông Tám kể tôi nghe. Trước ngày Sài Gòn thất thủ, khi bộ đội miền Bắc từ Phan Rang tràn xuống, đã gặp sư đoàn 18 (dưới quyền chỉ huy của Thiếu-tướng Đảo) chặn lại ở Xuân Lộc. Sư đoàn 18 bảo vệ Sài-gòn cho đến khi được lệnh đầu hàng của tướng Dương văn Minh. Trong khi những vị tướng khác đã chạy ra nước ngoài, Thiếu-tướng Đảo vẫn ở lại với sư đoàn dù ông có thể bỏ hàng ngũ đi bằng trực thăng. Sư đoàn của ông triệt thoái rồi giải tán trong trật tự. Ông anh chồng của tôi, là lính, bị mất hàng ngũ từ nơi nào đó, đã gia nhập với đoàn quân của Tướng Đảo. Ông Tám không phải là quân nhân nhưng khi kể lại giai thoại này giọng ông đầy vẻ kính phục. Tôi thường hay nghi ngờ những quyển hồi ký tự khoe chiến công chiến tích huy hoàng, nhưng những câu truyện truyền miệng từ gia đình thì tôi tin.

Nhân có hai bạn Bảo Bình và Kim Ánh hỏi, tôi ghi lại đây để trả lời chung.

Ngày tưởng niệm Mục sư King

Mục sư King

Hôm nay ngày lễ Mục sư King nên được nghỉ ở nhà. Ảnh này chụp hồi tháng 3 mùa hoa đào năm 2012. Thường thường cuối năm tôi hay ngẫm nghĩ về những thành kiến của mình, năm nay chẳng biết thì giờ chạy đi đâu mà chẳng có viết gì để thú tội của mình. Hôm trước bác Túy viết bài nhận định thành kiến về người đồng tính luyến ái một hiện tượng của xã hội trong văn học tôi cũng muốn viết vài câu về thành kiến của mình nhưng chắc bận quá nên quên luôn. Continue reading Ngày tưởng niệm Mục sư King

Phụ nữ – Chiến Tranh và Hòa Bình

Nhân ngày Phụ Nữ Quốc Tế, đăng lại bài đã đăng trên Gió O

Leymah Gbowee - Giải Nobel Hòa Bình 2011
Leymah Gbowee – Giải Nobel Hòa Bình 2011

Năm 411 trước Công Nguyên, Aristophanes, kịch tác gia Hy Lạp, cho ra mắt vở hài kịch Lysistrata; trong vở kịch này phụ nữ Athens từ chối ân ái với chồng hay người yêu của họ để đòi hỏi hòa bình. Lysistrata, có nghĩa là giải tán quân đội, là một người phụ nữ phi thường. Chán ngán cuộc chiến tranh Peloponnese, do Athens ỷ có đoàn chiến thuyền hùng hậu mang quân đi đánh Sparta; Lysistrata tụ tập nữ giới kêu gọi mọi người đặt áp lực lên nam giới buộc họ phải chấm dứt chiến tranh. Một số phụ nữ lớn tuổi đảo chánh và cướp ngân khố quốc gia vì hễ không có tiền thì không thể mua vũ khí. Kế hoạch của Lysistrata gây căng thẳng giữa hai phái nam và nữ. Phụ nữ trong khi dùng tình dục để khống chế chồng hay người yêu cũng nhận ra rằng họ đã tự trừng phạt họ. Nhiều bà viện cớ phải về nhà để giặt giũ chỉ để trải khăn giường mới mời chàng. Lysistrata bắt được ông thị trưởng khi ông đi lấy tiền trong ngân khố để mua chèo cho chiến thuyền. Nàng giải thích nàng chống chiến tranh vì không muốn trở thành gái già. Tàn cuộc chinh chiến các ông dẫu già vẫn có thể tìm được cô vợ trẻ, trong khi phụ nữ tuổi xuân chỉ có thì. Vài năm sau khi vở hài kịch ra đời, chiến tranh Peloponnese chấm dứt vì hạm đội của Athens bị Sparta đánh tan tành.

Hơn hai ngàn bốn trăm năm sau, có một người phụ nữ áp dụng phương pháp “sex strike” của Lysistrata, cổ động phụ nữ từ chối ái ân với chồng hay người yêu để đòi hỏi hòa bình. Người phụ nữ ấy là Leymah Gbowee, một trong ba người phụ nữ được trao tặng giải Nobel Hòa Bình năm 2011. Cùng chia giải thưởng này với Gbowee là bà Ellen Johnson Sirleaf, vị nữ Tổng thống đầu tiên của Liberia và Tawakkul Karman, ký giả kiêm nhà cách mạng của Yemen.

Leymah Gbowee sinh ngày 1 tháng Hai năm 1972 ở Liberia. Năm 1989 khi cuộc nội chiến thứ Nhất của Liberia bộc phát bà đang sống với mẹ và hai người chị ở Monrovia, thủ đô của Liberia. Người ta bảo rằng cuộc nội chiến này là chiến tranh giai cấp giữa người giàu và người nghèo. Người khác lại cho rằng đây là cuộc chiến tranh của các chủng tộc. Lại có người cho rằng đây là cuộc tranh giành tài nguyên. Liberia có nhiều mỏ đá quý như hồng ngọc và kim cương. Charles Taylor, Tổng thống của Liberia đã dùng cả trẻ em từ chín đến mười lăm tuổi làm chiến sĩ. Cuộc chiến tranh đẫm máu kéo dài đến năm 1996, đưa đến hai trăm năm chục ngàn người chết và một phần ba dân số bị mất nơi cư ngụ. Họ chạy loạn, sống ở những trại tạm cư, trẻ em chết đói và suy dinh dưỡng rất nhiều. Gbowee theo học chương trình đào tạo nhân viên xã hội do Unicef tổ chức. Năm 1998 Gbowee tình nguyện làm việc cho tổ chức Trauma Healing and Reconciliation Program (THRP) đặt trụ sở tại nhà thờ St. Peter ở Monrovia. Tổ chức này rất có danh tiếng đã nhiều năm cố gắng vận động cho nền hòa bình ở Liberia. Đây là bước đầu tiên đánh dấu con đường chiến đấu đòi hòa bình của Gbowee.

Năm 2001, giúp chữa trị trẻ em tàn phế vì chiến tranh, nhìn thấy thảm cảnh trẻ con đi giết người và bị người giết, Gbowee bản thân bà là mẹ của bốn đứa con, nhận ra rằng những bà mẹ có thể và cần phải tích cực thay đổi thảm kịch này.

Trang bị bằng kiến thức sách vở từ phương pháp tranh đấu bất bạo động của Martin Luther King, Gandhi và các nhà triết gia chính trị học trong và ngoài nước, xin được ngân quỷ tài trợ của West Africa Network for Peacebuilding (WANEP), được sự hướng dẫn của Thelma Ekiyor, vị luật sư người Nigeria, chuyên về hòa giải thương lượng, Gbowee tham dự cuộc họp đầu tiên của Tổ chức Phụ nữ Xây dựng Hòa bình đến từ châu Phi như Sierra Leone, Guinea, Nigeria, Senegal, Burkina Faso, và Togo.

Gbowee và các bạn, kêu gọi sự hỗ trợ của phụ nữ khác biệt chủng tộc và tôn giáo, đến nhà thờ Hồi giáo chiều thứ Sáu kêu gọi phụ nữ họp nhau ở chợ cá sáng thứ Bảy và đến nhà thờ Công giáo sáng Chủ Nhật. Truyền đơn họ phát ra có những câu như: “Chúng tôi đã chán lắm rồi, chúng tôi chán cảnh con cái của chúng tôi bị giết! Chúng tôi chán cảnh chúng tôi bị hãm hiếp. Các bà các cô, hãy thức tỉnh. Chúng ta có tiếng nói trong cuộc vận động đòi hỏi hòa bình.” Đối với những người phụ nữ không biết đọc họ phát ra những hình vẽ đơn giản để giáo dục những người phụ nữ này. Trong cuốn phim Pray the Devil Back to Hell, nói về cuộc tranh đấu đòi hòa bình của Leymah Gbowee do Agigail Disney tài trợ, nhiều phụ nữ đã kể lại cảnh họ bị hãm hiếp trước mắt chồng và sau đó chồng họ bị giết ngay trước mắt họ rất là thê thảm.

Mùa hè năm 2002, Gbowee trở thành phát ngôn viên và là lãnh đạo của phong trào Women of Liberia Mass Action for Peace tạm dịch là Phụ Nữ Liberia Vận Động Hòa Bình. Tổ chức này kết hợp nhiều chủng tộc nhiều tôn giáo gặp nhau trong chợ cá, họ ca hát, nhảy múa, và cầu nguyện. Không phải lời ca nào cũng vui, bài múa nào cũng nhộn nhịp, họ có những bài ca họ hát với hai hàng nước mắt và những bước chân run rẩy hai tay ngửa lên trời để van xin. Không phải lời cầu nguyện nào cũng ru ngủ; họ cầu nguyện cho Quỷ Dữ Quay Về Địa Ngục (Pray the Devil Back to Hell). Họ biểu tình bất bạo động để chống vị Tổng thống độc tài Charles Taylor. Họ đe dọa sẽ dùng lời nguyền và kêu gọi thành viên từ chối chuyện chăn gối để gây tiếng vang. Cuộc đình công chăn gối khi có khi không trong nhiều tháng tuy không hiệu quả nhưng được giới truyền thông chú ý vì gợi nhớ đến vở hài kịch Lysistrata.

Đoàn biểu tình bất bạo động chiếm sân bóng đá bên cạnh Đại lộ Tubman, nơi Tổng thống Charles Taylor đi ngang mỗi ngày hai lần để đến thủ phủ. Các thành viên mặc áo trắng, đội khăn trắng, nón trắng có in chữ WIPNET, cơ quan tài trợ phong trào đòi hỏi hòa bình. Charles Taylor nghe Gbowee đọc thỉnh nguyện thư và đồng ý đàm phán hòa bình ở Ghana với các nhóm Liberians United for Reconciliation and Democracy (Liberia Thống Nhất cho Hòa Giải và Dân chủ) và MODEL.

Năm 2003, Gbowee dẫn phái đoàn phụ nữ đến biểu tình bất bạo động trước khách sạn nơi cuộc đàm phán hòa bình diễn ra. Khi cuộc đàm phán kéo dài từ tháng Sáu đến tháng Bảy không có tiến triển cụ thể, Gbowee dẫn hơn hai trăm phụ nữ sảnh đường của khách sạn. Họ nêu cao biểu ngữ nói rằng: “Những tên đồ tể và sát nhân dân tộc Liberia –Phải ngưng lại.” Gbowee trao thông điệp cho Đại tướng Abukabar (cựu Tổng thống Nigeria ) cho biết các thành viên phụ nữ sẽ nối vòng tay làm bức tường người và sẽ giam giữ Đại tướng cho đến khi cuộc đàm phán có kết quả. Đại tướng Abukabar vốn có cảm tình với phong trào phụ nữ đòi hòa bình đã khôi hài: “Sảnh đường hòa bình đã bị Đại tướng Leymah và đoàn nữ quân của bà chiếm đóng.”

Khi một lãnh tụ của lính du kích tham gia cuộc đàm phán tìm cách ra khỏi sảnh đường bằng cách xô ngã hay nhảy qua khỏi bức tường người, Leymah và tổ chức của bà dọa sẽ cởi quần áo để chống đối. Ở Phi châu, một người phụ nữ có tuổi tự ý phơi trần thân xác là một lời nguyền rất xấu. Đại tướng Abukabar đã khiển trách hắn ta.

Những người phụ nữ trong vở kịch Lysistrata và những người phụ nữ Liberia có một điểm tương đồng; họ cho rằng đàn ông là những người gây ra chiến tranh một cách vô trách nhiệm làm ảnh hưởng đến cuộc sống của mọi người vì không nghe lời đàn bà. Lysistrata và giới phụ nữ ở thành phố Athens dành quyền quyết định về chiến tranh. Gbowee và các thành viên muốn chiến tranh chấm dứt để không còn cảnh trẻ em cầm súng giết người và trẻ em chết đói trong các trại tị nạn.

Dĩ nhiên không ai ngây thơ đến độ tin rằng bà Gbowee và những thành viên có thể một cách đơn giản chấm dứt cuộc chiến tranh chỉ bằng ca hát nhảy múa và cầu nguyện. Hậu thuẫn vững chắc của Gbowee là bà Ellen Johnson Sirleaf, Thelma Ekiyor, và còn biết bao nhiêu người (cả nam lẫn nữ) tranh đấu trong thầm lặng, hy sinh xương máu, chịu đựng tù tội. Họ, những người tranh đấu vô danh, là cái bánh. Gbowee và ngay cả bà Ellen Johnson Sirleaf là lớp kem hoa đẹp phần nổi bật nhất trên cái bánh hòa bình.

Nhân chuyện bây giờ nhớ chuyện ngày xưa về những người phụ nữ trên thế giới qua chủ để chiến tranh và hòa bình xin mời bạn đọc giải trí bằng một đoạn kịch Lysistrata của Aristophanes.

LYSISTRATA: Lampito: tất cả các bà các mẹ các chị: hãy đến đây, đặt tay lên  bát (chứa rượu), và lập lại theo tôi: tôi sẽ không sờ đến chồng tôi, hay người yêu tôi.

KALONIKE: tôi sẽ không sờ đến chồng tôi, hay người yêu tôi.

LYSISTRATA: dù rằng anh ấy đến với tôi trong tình trạng rất đáng tội nghiệp.

KALONIKE: dù rằng anh ấy đến với tôi trong tình trạng rất đáng tội nghiệp. (Ồ, Lysistrata! Điều này quả thật là giết chết tôi!)

LYSISTRATA: Tôi sẽ ở trong nhà tôi không ai có thể đụng đến tôi.

KALONIKE: Tôi sẽ ở trong nhà tôi không ai có thể đụng đến tôi.

LYSISTRATA: Trong bộ áo bằng tơ vàng mỏng nhất.

KALONIKE: Trong bộ áo bằng tơ vàng mỏng nhất.

LYSISTRATA: Và sẽ làm cho anh thèm muốn tôi.

KALONIKE: Và sẽ làm cho anh thèm muốn tôi.

LYSISTRATA: Tôi sẽ không dâng hiến mình.

KALONIKE: Tôi sẽ không dâng hiến mình.

LYSISTRATA: Và nếu anh ấy kềm giữ bắt buộc tôi.

KALONIKE: Và nếu anh ấy kềm giữ bắt buộc tôi.

LYSISTRATA: Tôi sẽ lạnh nhạt như nước đá và im như gỗ.

KALONIKE: Tôi sẽ lạnh như nước đá và im như gỗ.

LYSISTRATA: Tôi sẽ không để mũi giày ngủ hướng lên trần nhà.

KALONIKE: Tôi sẽ không để mũi giày ngủ hướng lên trần nhà.

LYSISTRATA: Hay bò bốn chân như con sư tử cái trong tranh.

KALONIKE: Hay bò bốn chân như con sư tử cái trong tranh.

LYSISTRATA: Và nếu tôi giữ lời thề này xin rót rượu vào bát.

KALONIKE: Và nếu tôi giữ được lời thề này xin rót rượu vào bát.

LYSISTRATA: Nếu không hãy cho nước lã.

KALONIKE: Nếu không hãy cho nước lã.

LYSISTRATA: Tất cả chúng ta đều đã thề rồi chứ?

MYRRHINE: Chúng tôi đã thề.

Chân dung một người đồng nghiệp (tiếp)

Ngồi đây đã lâu nhưng mắt vẫn còn ríu lại chưa tỉnh ngủ.  Ly cà phê đắng nghét dường như chẳng làm được nhiệm vụ của nó là chẳng những đánh thức tôi mà còn làm cho đầu óc tôi sáng sủa và thông minh. Tôi đang áp dụng một lối viết gọi là viết theo stream of consciousness.  Chẳng biết dịch chữ này ra làm sao chỉ biết là ngồi vào bàn là viết một mạch nghĩ gì viết nấy.  Thật ra từ trước đến giờ những gì trên blog của tôi đều là viết theo kiểu này vì thế nó lỗi bừa ra đó và không mạch lạc gì cả.  Nhưng vì nó là blog viết để trò chuyện với bạn bè nên hy vọng các bạn bỏ qua cho.  Thường khi những bài này được sửa chữa cho gãy gọn mạch lạc rồi gửi cho báo in hay báo mạng. Đôi khi có những bài viết tử tế được in đã lâu rồi to cho lên đây.  Những bài dài quá hay nghiêm túc quá thì không cho lên blog vì đọc sợ chán.

Bây giờ ngồi đây với bốn bài viết dở dang và cả nửa tá sách đọc dở dang.  Tôi đúng là một cô bé háu ăn lọt vào lâu đài trong cổ tích đâu đâu cũng đầy món ăn độc đáo nên thấy gì cũng bóc ra gặm một miếng rồi chạy theo món khác.  Bài viết về Kawabata đã rất dài, vừa dịch vừa điểm sách, nhưng lại chưa đủ để được gọi là giới thiệu tác giả.  Bài viết về Kate Chopin cũng đã rất dài nhưng chưa đủ để gọi là giới thiệu tác phẩm, và chi tiết càng sơ sài hơn bài viết về Kawabata.  Rồi còn chú bé hầu trà, ông già bày đầu thách người đọc tham gia, chỉ có tôi là dại dột.  Tôi chờ ông viết tiếp nếu ông không viết tôi sẽ biến chú bé thành ông già đầu méo miệng méo suốt ngày ôm đầu mà kêu hét, vì đau đớn và giận dỗi.  Thế là còn lại bài viết dở dang về ông già đồng nghiệp.

Tôi vốn có tham vọng làm một bộ vẽ chân dung những người tôi đã quen hay đã gặp mà không quen.  Trông hội họa có môn vẽ này.  Trong nhiếp ảnh cũng có nhánh này.  Có lẽ trong bộ môn viết lách cũng có nhưng không ai chú ý vì người ta bận chăm chú vào những chuyện quan trọng hơn.  Tôi xem như một cách mình thu nhặt những chi tiết để xây dựng nhân vật.  Thú thật người nào tôi đã từng gặp qua tôi đều muốn đưa vào làm nhân vật nếu có lúc nào đó tôi nổi hứng hay nổi điên hay vì thời thế biến đổi tôi phải bỏ công ăn việc làm để quay qua viết văn chuyên nghiệp.  Tôi đã từng tự nhủ dù yêu thích văn chương tôi sẽ không theo nghề này vì tôi sợ viết không đủ sống. Tôi cũng yêu nghề của tôi vì tôi đủ sống nhưng có lẽ văn chương như một mối tình đầu nên mấy mươi năm sau vẫn không quên.  Có lẽ sẽ như thế đến hết cuộc đời.  bởi vì tôi sợ hễ mà mình với được cái mối tình vọng tưởng này thì mình sẽ chán nó hay là nó sẽ chán mình.

000

Ông Max là người Phi luật tân.  Hôm nay là ngày chót ông sẽ vào cơ quan chào từ giã mọi người.  Phòng làm việc của ông, ông đã dọn sạch sẽ tươm tất.  Ông lôi ra những bức ảnh cũ trong hồ sơ của ông trong đó có tôi mặc áo dài quần trắng, cỗ đeo xâu chuỗi vàng, hoa tai vàng, quà của mẹ chồng tôi cho.  Có lẽ tôi mặc áo dài vào một buổi trình diễn y phục hay Tết hay một trong những ngày lễ phụ nữ quốc tế tôi quên.

Năm nay ông đã 68 tuổi nhưng trông ông rất trẻ so với Jerry một người đồng nghiệp khác, người sẽ về hưu vào tháng 6 năm nay.  So với người Á châu ông thuộc loại khá cao lớn, lớn nhiều hơn cao.  Ông cao độ 5 feet 10 inch, nhưng ông rất mập, 210 lbs .  Đi làm ông ăn mặc chải chuốt lắm lúc nào cũng mặc suit, nguyên bộ com lê. Lúc nào ông cũng có vẻ đường bệ.  Có lần ông khoe với tôi ảnh ông chụp với con chó Jake, một loại berger ông nuôi đã lâu.  Trong hình ông ở trần và tôi hết hồn khi nhìn thấy ảnh của ông như thế.  Hết hồn là bởi vì tôi không thể nào hình dung được một người lúc nào cũng có vẽ đường bệ lại có thể xấu xí đến thế.  Da ông đen, và cái bụng của ông trông giống như cái trống màu đen.  Bình thường tôi vẫn thấy da ông đen xạm, đen hơn màu da người Việt (tôi) hay người Tàu (Steven một đồng nghiệp khác).  Ông đen cũng bằng Xavier (người Ecuador) nhưng không đen bằng Charles hay Anthony (hai người Jamaica).  Nhưng phải nói là tôi mất thiện cảm về nhân dáng của ông kể từ khi xem hình ông chụp chung với con chó.  Giá mà ông đừng ở trần thì trông đỡ xấu xí hơn.

Hehe, tôi chỉ nói lén ông (bạn) già đồng nghiệp.  Ông ta không bao giờ biết cái blog này và cũng không đọc được tiếng Việt.  thế là thấy cái tâm địa xấu xa nhỏ nhen của tôi.  Thật là sung sướng được viết về một người không bao giờ đọc bài viết của mình. Biết đâu chừng ông ta cũng có một cái blog và ông nói về tôi bằng giọng điệ trái ngược với tất cả những gì tôi biết về ông.

Như đã nói trong blog trước.  Ông là người rất khôn khéo ông được lòng tất cả mọi người.  Đi đâu ông cũng được mọi người yêu mến.  Nếu có một người không yêu mến hay hằn học với ông thì người đó là tôi.  Nhìn sâu vào tâm địa xấu xa của mình, tôi nghĩ tôi không thích ông chỉ vì ghen tị với bản tính khéo léo của ông.  Có thể nói tôi với ông là hai thái cực.  Ông nói nhiều còn tôi thì lúc nào cũng im ỉm.  Ông hay nói đùa hay cười.  Lúc nào cũng có người vây quanh ông để nói về chuyện stock market, chính trị, thể thao, ăn uống, v.v…  Đôi khi ông và bè bạn rất ồn ào, ông cười nói, dậm chân xuống đất thình thình, cười sằng sặc.  Và vì thế nên tôi không thích.  Tôi “rầy” ông , ông bảo tôi là prima donna, một người tự quan trọng hóa.  Tôi ghét ông từ đó nên không thèm ngó mặt và nói chuyện với ông có lẽ cũng phải hơn mười năm.  Tôi chỉ mới nói chuyện lại với ông mấy tháng nay sau khi ông loan báo là ông sẽ về hưu.  Ông về hưu cũng chẳng phải là lý do tôi nói chuyện lại với ông.  Tôi hết giận đã lâu, tuy nhiên tính tôi ít nói ít giao thiệp, càng ít giao tiếp càng dễ giữ thiện cảm của người ta với mình và của mình với người ta.  Tôi vẫn trao đổi với ông khi công việc đòi hỏi nhưng tôi không bao giờ xem ông như là bạn.  Tôi nghĩ điều này làm ông ứa gan lắm vì thế ông tiếp tục chinh phục cảm tình của tôi.  Có lẽ ông không chịu được một người phụ nữ không rơi vào vòng bùa mê của ông.

Ai cũng “yêu” ông hết.  bạn làm việc chung thì ông đãi ăn trưa.  Các phụ nữ thì ông tán tỉnh khen ngợi.  Cấp trên thì nhờ ông đủ thứ việc làm ở nhà riêng của họ.  Cấp trên của cấp trên của cấp trên mấy lớp cũng là bạn thân đi săn đi câu đi xem thể thao với ông.  Tôi nghĩ đây cũng là một điểm để tôi “ghét” ông vì ông có thế lực lắm.

Nói xấu người thì ngẫm ra cái nhỏ nhen của mình.  Ông đưa được nhiều người vào chỗ làm.  Cái ưu điểm của ông, people skill, là cái nhược điểm của tôi.  Tôi càng lạnh nhạt với ông, ông càng chìu chuộng tôi.  Ngày còn trẻ có một lần tôi bị giao cho một đồ án ngoài khả năng của tôi.  Số là tôi có một người đồng nghiệp da đen có hục hặc với ông xếp của tôi.  Để bỉ mặt anh đồng nghiệp da đen, ở cấp cao hơn tôi và tay nghề cao hơn, ông xếp tôi giao cho đồ án phải thiết kế một cái nền tảng cho một nhà máy chuyển điện trong một khu vực cạnh bờ sông thường hay bị ngập nước.  Tôi học về cơ khí, trong trường tôi làm luận án về kỹ nghệ điện lạnh và máy quay cầu.  Cái đồ án này cũng là một thử thách nếu tôi vượt qua được tôi sẽ được lên cấp.  Ông Max là kỹ sưu htuyr lợi nhưng biết khá khá về thiết kế cấu trúc.  Tôi hỏi một người chuyên về thiết kế cấu trúc, một ông xếp khác chuyên về xây dựng công trình lớn, và ông Max là người tận tâm chỉ dẫn tôi cách thiết kế từng mối nối của những cây rebar.  Thiết kế xong, người ta xây dựng, ông Max đi với tôi ra chỗ xây dựng cái nền này, tự tay ông khắc vào xi măng tên của tôi và ngày tôi làm xong đồ án.  Những người làm việc chung đều tận tâm chỉ dẫn giúp đỡ tôi.  Ai cũng nhìn tôi như là một đồ đệ ưng ý của họ.  Tôi kính trọng nể nang tất cả mọi người nhưng tôi không ưa ông Max là người tận tâm với tôi nhất.

Trước ngày ông nghĩ việc về hưu ông xin phép được đưa tôi đi ăn nhưng tôi từ chối.  Ông năn nỉ mãi nhưng tôi cứ cười bảo rằng “You are silly!” (Ông kỳ cục quá!).  Mỗi lần ông đi chơi đâu xa ông hay mua quà cho tôi, có khi là bánh kẹo có khi là những đồ mỹ nghệ địa phương.  Tôi luôn từ chối nhưng có khi ông nài ép quá tôi nhận rồi cho vào thùng rác.  Có lần người đổ rác nghĩ là tôi vô tình làm rơi những món đồ này vào thùng rác nên nhặt ra để riêng qua một bên gần thùng rác.  Ông nhìn thấy nên biết là tôi ném đi.  Nếu ông có giận ông cũng không để lộ ra.

Trong tất cả những chìu đãi khéo léo, ông Max đã có một lỗi lầm nghiêm trọng vì ông kể cho tôi nghe những thành công trong việc chinh phục trái tim phụ nữ làm việc với ông.  Ông cho tôi xem ảnh ông đi chơi với Dianne một cô thư ký tóc vàng, chân dài, cao hơn ông một cái đầu.  Ông kể tôi nghe những lần ông đi ăn nghe nhạc với Wendy, Chris,  Carol, v.v… Tôi hỏi vợ ông không nói gì à, ông cười đâu có biết gì mà nói.  Từ đó tôi giữ thái độ xa cách vì tôi không muốn ông nghĩ là ông cũng mua được cảm tình của tôi.  Ông thường tự hào là phụ nữ thương ông nên khi xa ông họ hay khóc.  Tôi không tham dự lễ ăn tiệc về hưu của ông.  Hôm thứ Sáu tôi chào ông, đưa tay ra bắt.  Ông xin phép được hug tôi nhưng tôi cười, bước lui lại và nói ông lại silly rồi.

Blog này đã dài và còn một chuyện liên quan đến việc tranh chấp lên cấp giữa tôi và Steven và nhờ ông mà Steven được chức principal engineer nhưng xin để lần khác.  Có một lúc nào đó tôi sẽ viết về chuyện làm việc nhiều hơn.