Chân dung một người đồng nghiệp (tiếp)

Ngồi đây đã lâu nhưng mắt vẫn còn ríu lại chưa tỉnh ngủ.  Ly cà phê đắng nghét dường như chẳng làm được nhiệm vụ của nó là chẳng những đánh thức tôi mà còn làm cho đầu óc tôi sáng sủa và thông minh. Tôi đang áp dụng một lối viết gọi là viết theo stream of consciousness.  Chẳng biết dịch chữ này ra làm sao chỉ biết là ngồi vào bàn là viết một mạch nghĩ gì viết nấy.  Thật ra từ trước đến giờ những gì trên blog của tôi đều là viết theo kiểu này vì thế nó lỗi bừa ra đó và không mạch lạc gì cả.  Nhưng vì nó là blog viết để trò chuyện với bạn bè nên hy vọng các bạn bỏ qua cho.  Thường khi những bài này được sửa chữa cho gãy gọn mạch lạc rồi gửi cho báo in hay báo mạng. Đôi khi có những bài viết tử tế được in đã lâu rồi to cho lên đây.  Những bài dài quá hay nghiêm túc quá thì không cho lên blog vì đọc sợ chán.

Bây giờ ngồi đây với bốn bài viết dở dang và cả nửa tá sách đọc dở dang.  Tôi đúng là một cô bé háu ăn lọt vào lâu đài trong cổ tích đâu đâu cũng đầy món ăn độc đáo nên thấy gì cũng bóc ra gặm một miếng rồi chạy theo món khác.  Bài viết về Kawabata đã rất dài, vừa dịch vừa điểm sách, nhưng lại chưa đủ để được gọi là giới thiệu tác giả.  Bài viết về Kate Chopin cũng đã rất dài nhưng chưa đủ để gọi là giới thiệu tác phẩm, và chi tiết càng sơ sài hơn bài viết về Kawabata.  Rồi còn chú bé hầu trà, ông già bày đầu thách người đọc tham gia, chỉ có tôi là dại dột.  Tôi chờ ông viết tiếp nếu ông không viết tôi sẽ biến chú bé thành ông già đầu méo miệng méo suốt ngày ôm đầu mà kêu hét, vì đau đớn và giận dỗi.  Thế là còn lại bài viết dở dang về ông già đồng nghiệp.

Tôi vốn có tham vọng làm một bộ vẽ chân dung những người tôi đã quen hay đã gặp mà không quen.  Trông hội họa có môn vẽ này.  Trong nhiếp ảnh cũng có nhánh này.  Có lẽ trong bộ môn viết lách cũng có nhưng không ai chú ý vì người ta bận chăm chú vào những chuyện quan trọng hơn.  Tôi xem như một cách mình thu nhặt những chi tiết để xây dựng nhân vật.  Thú thật người nào tôi đã từng gặp qua tôi đều muốn đưa vào làm nhân vật nếu có lúc nào đó tôi nổi hứng hay nổi điên hay vì thời thế biến đổi tôi phải bỏ công ăn việc làm để quay qua viết văn chuyên nghiệp.  Tôi đã từng tự nhủ dù yêu thích văn chương tôi sẽ không theo nghề này vì tôi sợ viết không đủ sống. Tôi cũng yêu nghề của tôi vì tôi đủ sống nhưng có lẽ văn chương như một mối tình đầu nên mấy mươi năm sau vẫn không quên.  Có lẽ sẽ như thế đến hết cuộc đời.  bởi vì tôi sợ hễ mà mình với được cái mối tình vọng tưởng này thì mình sẽ chán nó hay là nó sẽ chán mình.

000

Ông Max là người Phi luật tân.  Hôm nay là ngày chót ông sẽ vào cơ quan chào từ giã mọi người.  Phòng làm việc của ông, ông đã dọn sạch sẽ tươm tất.  Ông lôi ra những bức ảnh cũ trong hồ sơ của ông trong đó có tôi mặc áo dài quần trắng, cỗ đeo xâu chuỗi vàng, hoa tai vàng, quà của mẹ chồng tôi cho.  Có lẽ tôi mặc áo dài vào một buổi trình diễn y phục hay Tết hay một trong những ngày lễ phụ nữ quốc tế tôi quên.

Năm nay ông đã 68 tuổi nhưng trông ông rất trẻ so với Jerry một người đồng nghiệp khác, người sẽ về hưu vào tháng 6 năm nay.  So với người Á châu ông thuộc loại khá cao lớn, lớn nhiều hơn cao.  Ông cao độ 5 feet 10 inch, nhưng ông rất mập, 210 lbs .  Đi làm ông ăn mặc chải chuốt lắm lúc nào cũng mặc suit, nguyên bộ com lê. Lúc nào ông cũng có vẻ đường bệ.  Có lần ông khoe với tôi ảnh ông chụp với con chó Jake, một loại berger ông nuôi đã lâu.  Trong hình ông ở trần và tôi hết hồn khi nhìn thấy ảnh của ông như thế.  Hết hồn là bởi vì tôi không thể nào hình dung được một người lúc nào cũng có vẽ đường bệ lại có thể xấu xí đến thế.  Da ông đen, và cái bụng của ông trông giống như cái trống màu đen.  Bình thường tôi vẫn thấy da ông đen xạm, đen hơn màu da người Việt (tôi) hay người Tàu (Steven một đồng nghiệp khác).  Ông đen cũng bằng Xavier (người Ecuador) nhưng không đen bằng Charles hay Anthony (hai người Jamaica).  Nhưng phải nói là tôi mất thiện cảm về nhân dáng của ông kể từ khi xem hình ông chụp chung với con chó.  Giá mà ông đừng ở trần thì trông đỡ xấu xí hơn.

Hehe, tôi chỉ nói lén ông (bạn) già đồng nghiệp.  Ông ta không bao giờ biết cái blog này và cũng không đọc được tiếng Việt.  thế là thấy cái tâm địa xấu xa nhỏ nhen của tôi.  Thật là sung sướng được viết về một người không bao giờ đọc bài viết của mình. Biết đâu chừng ông ta cũng có một cái blog và ông nói về tôi bằng giọng điệ trái ngược với tất cả những gì tôi biết về ông.

Như đã nói trong blog trước.  Ông là người rất khôn khéo ông được lòng tất cả mọi người.  Đi đâu ông cũng được mọi người yêu mến.  Nếu có một người không yêu mến hay hằn học với ông thì người đó là tôi.  Nhìn sâu vào tâm địa xấu xa của mình, tôi nghĩ tôi không thích ông chỉ vì ghen tị với bản tính khéo léo của ông.  Có thể nói tôi với ông là hai thái cực.  Ông nói nhiều còn tôi thì lúc nào cũng im ỉm.  Ông hay nói đùa hay cười.  Lúc nào cũng có người vây quanh ông để nói về chuyện stock market, chính trị, thể thao, ăn uống, v.v…  Đôi khi ông và bè bạn rất ồn ào, ông cười nói, dậm chân xuống đất thình thình, cười sằng sặc.  Và vì thế nên tôi không thích.  Tôi “rầy” ông , ông bảo tôi là prima donna, một người tự quan trọng hóa.  Tôi ghét ông từ đó nên không thèm ngó mặt và nói chuyện với ông có lẽ cũng phải hơn mười năm.  Tôi chỉ mới nói chuyện lại với ông mấy tháng nay sau khi ông loan báo là ông sẽ về hưu.  Ông về hưu cũng chẳng phải là lý do tôi nói chuyện lại với ông.  Tôi hết giận đã lâu, tuy nhiên tính tôi ít nói ít giao thiệp, càng ít giao tiếp càng dễ giữ thiện cảm của người ta với mình và của mình với người ta.  Tôi vẫn trao đổi với ông khi công việc đòi hỏi nhưng tôi không bao giờ xem ông như là bạn.  Tôi nghĩ điều này làm ông ứa gan lắm vì thế ông tiếp tục chinh phục cảm tình của tôi.  Có lẽ ông không chịu được một người phụ nữ không rơi vào vòng bùa mê của ông.

Ai cũng “yêu” ông hết.  bạn làm việc chung thì ông đãi ăn trưa.  Các phụ nữ thì ông tán tỉnh khen ngợi.  Cấp trên thì nhờ ông đủ thứ việc làm ở nhà riêng của họ.  Cấp trên của cấp trên của cấp trên mấy lớp cũng là bạn thân đi săn đi câu đi xem thể thao với ông.  Tôi nghĩ đây cũng là một điểm để tôi “ghét” ông vì ông có thế lực lắm.

Nói xấu người thì ngẫm ra cái nhỏ nhen của mình.  Ông đưa được nhiều người vào chỗ làm.  Cái ưu điểm của ông, people skill, là cái nhược điểm của tôi.  Tôi càng lạnh nhạt với ông, ông càng chìu chuộng tôi.  Ngày còn trẻ có một lần tôi bị giao cho một đồ án ngoài khả năng của tôi.  Số là tôi có một người đồng nghiệp da đen có hục hặc với ông xếp của tôi.  Để bỉ mặt anh đồng nghiệp da đen, ở cấp cao hơn tôi và tay nghề cao hơn, ông xếp tôi giao cho đồ án phải thiết kế một cái nền tảng cho một nhà máy chuyển điện trong một khu vực cạnh bờ sông thường hay bị ngập nước.  Tôi học về cơ khí, trong trường tôi làm luận án về kỹ nghệ điện lạnh và máy quay cầu.  Cái đồ án này cũng là một thử thách nếu tôi vượt qua được tôi sẽ được lên cấp.  Ông Max là kỹ sưu htuyr lợi nhưng biết khá khá về thiết kế cấu trúc.  Tôi hỏi một người chuyên về thiết kế cấu trúc, một ông xếp khác chuyên về xây dựng công trình lớn, và ông Max là người tận tâm chỉ dẫn tôi cách thiết kế từng mối nối của những cây rebar.  Thiết kế xong, người ta xây dựng, ông Max đi với tôi ra chỗ xây dựng cái nền này, tự tay ông khắc vào xi măng tên của tôi và ngày tôi làm xong đồ án.  Những người làm việc chung đều tận tâm chỉ dẫn giúp đỡ tôi.  Ai cũng nhìn tôi như là một đồ đệ ưng ý của họ.  Tôi kính trọng nể nang tất cả mọi người nhưng tôi không ưa ông Max là người tận tâm với tôi nhất.

Trước ngày ông nghĩ việc về hưu ông xin phép được đưa tôi đi ăn nhưng tôi từ chối.  Ông năn nỉ mãi nhưng tôi cứ cười bảo rằng “You are silly!” (Ông kỳ cục quá!).  Mỗi lần ông đi chơi đâu xa ông hay mua quà cho tôi, có khi là bánh kẹo có khi là những đồ mỹ nghệ địa phương.  Tôi luôn từ chối nhưng có khi ông nài ép quá tôi nhận rồi cho vào thùng rác.  Có lần người đổ rác nghĩ là tôi vô tình làm rơi những món đồ này vào thùng rác nên nhặt ra để riêng qua một bên gần thùng rác.  Ông nhìn thấy nên biết là tôi ném đi.  Nếu ông có giận ông cũng không để lộ ra.

Trong tất cả những chìu đãi khéo léo, ông Max đã có một lỗi lầm nghiêm trọng vì ông kể cho tôi nghe những thành công trong việc chinh phục trái tim phụ nữ làm việc với ông.  Ông cho tôi xem ảnh ông đi chơi với Dianne một cô thư ký tóc vàng, chân dài, cao hơn ông một cái đầu.  Ông kể tôi nghe những lần ông đi ăn nghe nhạc với Wendy, Chris,  Carol, v.v… Tôi hỏi vợ ông không nói gì à, ông cười đâu có biết gì mà nói.  Từ đó tôi giữ thái độ xa cách vì tôi không muốn ông nghĩ là ông cũng mua được cảm tình của tôi.  Ông thường tự hào là phụ nữ thương ông nên khi xa ông họ hay khóc.  Tôi không tham dự lễ ăn tiệc về hưu của ông.  Hôm thứ Sáu tôi chào ông, đưa tay ra bắt.  Ông xin phép được hug tôi nhưng tôi cười, bước lui lại và nói ông lại silly rồi.

Blog này đã dài và còn một chuyện liên quan đến việc tranh chấp lên cấp giữa tôi và Steven và nhờ ông mà Steven được chức principal engineer nhưng xin để lần khác.  Có một lúc nào đó tôi sẽ viết về chuyện làm việc nhiều hơn.

Chân dung một người đồng nghiệp

Tôi thức giấc lúc 4 giờ rưỡi nghĩ là nếu tôi đi xuống nhà ngồi viết một mạch cho đến 8 giờ sẽ có một blog nhưng chiếu chăn và chàng ấm quá nên tôi ôm lấy cái ấm mà ngủ mãi cho đến 6 giờ rưỡi.  Ngủ quá giấc tôi mệt nhoài bò ra khỏi giường đi xuống nhà mãi đến bây giờ là 7 giờ rưỡi sau khi uống cà phê tắm nước nóng tôi vẫn chưa tỉnh ngủ.

Sáng nay trời đẹp. Dù hàn thử biểu bảo là 2 độ dưới không độ, nắng vẫn tràn trề.  Rừng sau nhà lá trên những bụi cây nhánh khô đã mọc loáng thoáng xanh.  Nắng tràn vào nhà từ phòng khách lan vào phòng học làm ấm lưng tôi.

Ngày hôm nay tôi sẽ đưa cô bé nhà tôi đi xem một trường đại học.  Và thứ Hai tôi nghỉ để đưa cô đi xem Princeton.

Có bao giờ bạn thử liệt kê một ngày bất kỳ trong cuộc đời để xem bạn đã làm những gì?  Tôi đoan chắc là bạn sẽ ngạc nhiên vì nhiều quá không viết hết.

Liên tiếp mấy hôm nay tôi muốn vẽ chân dung một người đồng nghiệp.  Thứ Hai sắp tới là ngày chót của ông vì ông về hưu.  Tôi không thể chia tay ông vào ngày thứ Hai vì tôi xin nghĩ ngày thứ Hai để đưa con bé đi xem trường vì thế tôi chào từ giã ông hôm qua.

Max đã 68 tuổi. Ông vào sau tôi.  Ông là kỹ sư thủy lợi. Khi ông vào tôi vẫn còn ở cấp thấp nhất của một người mới ra trường.  Nói về vị trí và cấp bậc tôi vẫn còn bị những người họa viên kỹ thuật dưới quyền tôi bắt nạt.  Rồi tôi bắt kịp ông.  Nói về mặt cấp bậc tôi và ông bằng nhau nhưng lương của ông cao hơn lương của tôi cả chục ngàn.  Và ông có thế lực hơn tôi rất nhiều.  Ông là một người rất khôn ngoan khéo léo, được lòng tất cả mọi người.  Rất khó mà làm được việc của mình mà vẫn giữ được tình cảm người khác.  Tôi thường hay gật gù bảo rằng “You have a blessed working life!” bởi vì hơn bốn mươi năm trong nghề ông chưa có ngày nào mất việc.

Ông thường hãnh diện bảo rằng ở nơi nào ông làm việc, khi ông rời chỗ làm để đi chỗ khác vì chỗ mới trả lương cao hơn người ta đều thương và nhiều người phụ nữ đã khóc.  Ngày hôm qua, Jean, bà thư ký dữ dằn ôm chầm lấy ông mà khóc.  Ông nhìn tôi và nói ông cũng chờ tôi khóc.  Ông nói, “tôi muốn thấy giọt nước mắt của bà hơn bất cứ những ai!”  Tôi cười chế nhạo, “ông là một người kỳ cục!”

Sẽ viết tiếp.

Lạ Hay Quen

1

Nói là nhật ký nhưng thật ra đây là ghi chép chuyện ngày hôm qua.  Như bạn thấy ngày hôm qua ở đây nắng đẹp, trời xanh, và như thường lệ buổi trưa tôi đi bộ.  Tấm ảnh chụp ở tiểu bang New Jersey, thành phố Newark, đường Broad (Street), ngay ở công viên Washington (Park), phía trước thư viện chính của thành phố.  Thư viện này rất lớn có một số ít truyện Việt Nam viết bằng tiếng Việt và truyện của một số nhà văn Việt Nam viết tiếng Anh.

Bức ảnh tuy là ở ngay công viên nhưng chụp về hướng nhà ga Newark ở Broad Street nên trong ảnh bạn không nhìn thấy cây cối gì cả. Thường tôi chỉ đi bộ đến công viên này và quay về hôm nào đi nhanh thì 45 phút.  Hôm nào la cà chụp ảnh thì mất một giờ. Cảnh vật này tôi đã quen nhẵn nên khó tìm thấy cái gì lạ và thú vị cho chính mình, nhất là tôi luôn luôn mệt mỏi và buồn ngủ.

Cái vật nhọn kỳ lạ xấu xí màu xanh đậm có dính lủng lẳng 7 cái bong bóng tròn màu trắng giống như cột đèn là cột đèn.  Tôi không biết buổi tối có bao nhiêu bóng đèn được thắp sáng vì tôi chưa hề đến đây buổi tối bao giờ.  Người Mỹ quen sống ở ngoại ô cũng sẽ sợ hãi khi vào thành phố này buổi tối vì sợ đi lạc vào thành phố lạ nhất là thành phố nổi tiếng có nhiều tội ác nhất tiểu bang. Thật ra tôi không thấy đáng sợ đến thế và tùy theo phần nào ở thành phố người lạ vào sẽ thấy chỗ đẹp lộng lẫy và chỗ thì xơ xác điêu tàn.  Và điều mà tôi thấy hay ho nhất là không có cái bóng đèn nào bị bắn vỡ dẫu nó không mấy cao, chỉ cần một viên đá ném mạnh là rồi, tiêu tán đường.

Cây cột đèn hình dáng không mấy đẹp kia lại là một vật rất cổ xưa, có lẽ từ khi thành phố mới bắt đầu được xây cất.  Cột đèn này để tưởng niệm những người di dân đến thành phố này.  Tuy nhiên tôi sẽ thu thập tài liệu về cây cột đèn này rồi sẽ nói sau.  Bây giờ nói theo trí nhớ sợ không đúng, mà thật ra cũng không nhớ hết.

Ngay dưới chân cột đèn bạn sẽ thấy một người đàn ông, ngồi trên một tấm đệm màu xanh.  Đây là “người quen” của tôi.  Một người quen mà tôi không biết mặt, không biết tên.  Hằng ngày mỗi khi đi bộ đến đây tôi thường thấy ông ngồi đó.  Và theo chiều hướng đi của tôi, tôi chỉ thấy cái lưng của ông.  Tôi chưa hề tìm cách ngó mặt ông vì không cảm thấy cần thiết làm chuyện ấy.  Sự có mặt của ông ở cái góc đường này làm tôi có cảm giác ông là một người quen dù không quen. Có lẽ ông làm việc ở một cơ quan nào gần đấy.  Viết về ông hôm nay là một phác họa về một người tuy lạ mà quen.

Đôi khi tôi tự hỏi ông làm nghề gì. Ông ngồi đó luôn luôn im lặng một mình, đôi khi tôi thấy ông ăn trưa là một kẹp sandwich.  Ông ngồi đó với niềm vui hay nỗi buồn. Ông nghĩ gì về những người đi ngang đây mỗi buổi trưa.  Khi ông về có khi nào ông vẽ lại chân dung người đi ngang chỗ này như đi qua đời ông.  Một phần đời vài phút của một ngày trong những tháng những năm dài ông có mặt ở đây.

Tôi có một vài người quen như thế này mà tôi xin lần lượt từ từ kể.

Nói nhăng

Ông Max làm việc chung với tôi mười chín năm sắp về hưu.  Trong 19 năm có mười bốn năm tôi giận không ngó mặt, không nói chuyện với ông.  Chỉ mới cách đầy vài tháng tôi và ông mới nói chuyện lại với nhau.  Tôi ít nói.  Có khi cả ngày tôi không nói một lời với ai mà không cảm thấy buồn hay cô đơn.  Khi tôi còn nhỏ mọi người nói tôi dữ.  Bây giờ mọi người nói tôi khó tính.  Cả hai nhận xét đều đúng. Những người trong gia đình nói khó tính làm gì sao không dễ tính cho người ta nhờ cho cuộc sống dễ chịu.  Tôi không biết cách trả lời.  Tôi như thế là vì tôi như thế.  Tôi cũng không nghĩ là tôi khó tính.  Tôi để mọi người sống theo cách họ muốn sống và tôi cũng muốn được sống theo ý tôi.  Nhưng chuyện không mấy dễ dàng.  Tôi vẫn  nghĩ cái gì mình muốn mình phải chịu trả bằng một cái giá nào đó.  Đôi khi tôi thà mất lòng người còn hơn mình không vui.

Ông Max thấy tôi nói chuyện trở lại và vì sắp về hưu nên thường hay ghé chỗ tôi nói dóc tí tỉnh.  Sáng nay ông kể chuyện một người em rể 66 tuổi, bà vợ của ông ấy bị bệnh nằm trong nhà thương một thời gian rồi qua đời.  Trong lúc săn sóc vợ trong bệnh viện ông và một cô y tá 24 tuổi yêu nhau.  Bây giờ họ chuẩn bị lấy nhau.  Ông Max hỏi tôi nghĩ thế nào liệu những người  này có yêu nhau thành thật không? Tôi tin là rất có thể họ yêu nhau thành thật dù không ít người cho rằng cô gái yêu ông em rể chỉ vì tiền.  Ông Max nói ông em rể vẫn còn tráng kiện và đẹp trai.  Tôi ở cái tuổi mà mọi chuyện tôi tin là đều có thể xảy ra dưới ánh mặt trời. Tôi tin vào những mối tình chênh lệch tuổi.  Có thể nó sẽ không bền nhưng không có nghĩa là họ không yêu nhau.

Ngày còn đi học tôi không giỏi toán.  Toán là một khái niệm rất trừu tượng với tôi.  Mất một thời gian khá lâu tôi mới hiểu khái niệm dấu âm và trừ của trừ thành cộng trong toán Đại Số.  Cũng như tôi khó tưởng tượng được khái niệm về một điểm, đường thẳng, đường cong, và mặt phẳng.  Phải rất lâu tôi mới hiểu được một số điều căn bản như một đường cong là tập hợp của những đoạn thẳng.  Bây giờ thì hiểu rồi.  Và dùng cái hiểu này để hiểu trong một cuộc tình không thành (đường cong) có những lúc người ta thật sự hạnh phúc (đoạn thẳng) trong tình yêu.

Như môn thermodynamics để giải những bài toán về nhiệt động học tôi phải học khái niệm giới hạn (biên giới). Nhiệt lượng vào hay ra khỏi khu vực quan sát tùy theo mình đứng bên trong hay bên ngoài cái biên giới tưởng tượng mà mình tự rào chung quanh khu vực mình cần phải quan sát. Nói như thế để nói là có những điều tùy theo chỗ đứng mà nhìn thấy điều đó đúng hay sai, chấp nhận được hay không chấp nhận được.  Kể cả những chuyện to lớn như phong tục.  Người Trung quốc ngày xưa cho phép anh em bạn dì được quyền kết hôn với nhau.  Người Ấn Độ cho phép người anh lấy vợ người em nếu người em chết đi. Nhưng người Việt Nam thì cho đó là loạn luân.

Ai cũng nói tuy tôi khó tính nhưng lại dễ tin.  Đôi khi những người làm việc chung với tôi sau khi nói đùa họ phải đính chính vì tôi dễ dàng tin những lời nói đùa là chuyện thật. Vì bản tín dễ tin tôi ít khi nghi kỵ ai. Nhiều người cho là khờ, tôi thấy đôi khi dễ sống.

Rất nhiều bạn bè của tôi không tin là có một tình bạn chân thật giữa người đàn ông và người đàn bà.  Tôi thì tin.  Đôi khi tình bạn quá đẹp, bước qua cái biên giới tình bạn vào tình yêu khó mà trở lại tình bạn nếu tình yêu không thành.  Do đó người ta trân trọng giữ tình bạn.    

Tôi nói xàm đã đủ, đến giờ tôi đi ngủ.  Đêm qua ngủ không ngon nên hôm nay mệt. 

bốn con quạ đậu trên dây điện cao thế

Mùa đông, người ta thường mặc áo khoác ngoài màu đen.  Tôi không hiểu tại sao. Một, có lẽ màu đen hút nhiệt dễ hơn nên ấm hơn.  Hai, áo màu đen thi mặc hoài một cái không ai để ý.  Áo màu sặc sỡ quá người ta biết mình chỉ có một cái áo khoác ngoài mặc hoài thì kỳ quá chăng?  Nói đùa đấy, tôi không thấy ai ở Mỹ mà chỉ có một cái áo khoác ngoài.  Có một người phụ nữ làm việc chung với tôi cứ mỗi lần tôi gặp bà là thấy bà mặc một cái áo khoác ngoài màu tươi, kiểu lạ, chẳng có cái nào tương tự cái nào.

Mặc áo khoác màu đen làm chúng tôi, những hành khách đi xe lửa, tuy khác nhau mà vẫn có vẻ gì giống nhau.  Một đám đông như một bầy quạ khắc khổ vừa có vẻ buồn thảm vừa có vẻ buồn ngủ.

Thường thường, người Mỹ luôn cần có khoảng cách cá nhân.  Không nên đứng gần một người nào quá độ khoảng cách một cánh tay giữa hai người trong một phòng chờ xe lửa có thể chấp nhận được.  Nhiều người cần khoảng cách lớn hơn.  Họ chỉ cho người thật thân đến gần hơn khoảng cách tối thiểu đó.

Buổi sáng trong phòng đợi xe lửa có nhiều khuôn mặt đáng chú ý.  Tôi vẫn mong vẻ chân dung của họ bằng chữ.  Không biết để làm gì.  Mai sau viết văn tôi có thể biến họ thành nhân vật của tôi chăng?

Sáng nay, ngồi trên một băng ghế có bốn người đàn ông có vẻ như người Trung Đông, hay Ấn Độ trắng.  Họ ngồi cạnh nhau thật gần.  Gần đến độ không có một khoảng cách rộng hơn chiều dẹp của một bàn tay.  Trông họ có vẻ thật thân nhau như là đồng chí hay anh em.  Bốn người sàng sàng tuổi nhau, vóc dáng tương tự nhau, bốn cái áo màu đen, trông họ giống như bốn con quạ đậu trên dây điện cao thế.  Tuy nhiên họ không có vẻ buồn ngủ hay buồn thảm.

Tôi là một con quạ cô đơn, ngồi riêng một góc.  Buồn ngủ nhưng không buồn thảm.

Tôi chú ý đến vài khuôn mặt.

Tôi chú ý đến vài khuôn mặt.

Có một người Á châu, khoảng năm mươi, tóc bạc nhiều.  Tuy là người Á châu nhưng ông ta rất cao lớn, cao và to hơn cả người Mỹ thuộc loại cao to hơn người Mỹ trung bình.  Đi làm mỗi sáng ông mang giày sneaker, quần jean, một cái áo khoác ngắn khỏi mông, rộng và khá cũ kỹ.  Mắt lộ, mũi khoằm như mũi ó.  Miệng như mỏ nhọn của con chim, môi trên ngó quặm xuống môi dưới.  Tóm lại ông ta không mấy đẹp trai.  Tuy nhiên ông có nụ cười bẽn lẽn nên trông ông có vẻ hiền lành.  Cứ nhìn ông là tôi lại liên tưởng đến một nhân vật trong truyện ngắn của Ha Jin, căn nhà phía sau cây anh đào la đà.  Nhân vật trong truyện này là một người hiền lành, công nhân hãng may cắt quần áo, vì định mệnh đưa đẩy anh ta trở nên người đưa rước một cô điếm người Việt Nam.  Hai người trở nên yêu nhau và cùng dẫn nhau bỏ trốn khỏi New York vì cô gái thiếu nợ người cho vay ăn lời cắt cổ đã giúp cô trốn rồi ở lại New York.  Tôi không có ý nói ông Á châu này giống ma cô.  Tôi chỉ có ý muốn nói tôi liên tưởng đến nhân vật mà không hiểu tại sao, có lẽ vì cách ăn mặc, vì là người Á châu, và vì trông ông có vẻ gì hiền lành.  Ông nói tiếng Mỹ sành sõi như là người sinh ra lớn lên ở Mỹ. Ông hay ngồi gần một người Mỹ khác để đọc báo cọp.  Ông thích đọc báo mà không chịu mua báo cứ ngày nào cũng ngồi cạnh ông Mỹ, ngóng cổ ngó theo tờ báo mỗi lần ông bạn già này lật tờ báo sang trang.

Ông Mỹ này cũng vào trạc từ năm mười đến năm mươi lăm.  Ông gầy và cao, tuy nhiên đứng bên cạnh ông Á châu trông ông có vẻ nhỏ người hơn.  Ông ăn mặc chững chạc. Luôn luôn mặc nguyên bộ com plê, áo khoác dài bằng len đắt tiền, giày loafer của Ý.  Ông thường đọc tờ báo The New York Post, nhiều hình hơn tờ New York Times. Ông có vẻ khô héo khắc khổ lạnh nhạt, không nhìn đến ai.  Ông ngồi ở một góc, tréo chân.  Hễ ông Á châu đến ngồi gần để đọc báo cọp ông không hề nhìn lên, không nhích chân, không để lộ vẻ gì nhận biết người Á châu này.  Ông không tỏ ý phiền cũng không khuyến khích ông Á châu, cũng không để lộ vẻ muốn chia sẻ tờ báo.  Mỗi lần ông ngồi xuống trước khi đọc báo là hai tay ông có những cử động như một người muốn làm dấu thánh giá nhưng ngượng ngùng muốn che dấu.  Cũng có thể đó là một phản xạ không tình nguyện của những người bị bệnh như Tourette syndrome. 

Tôi tưởng hai người hoàn toàn không quen biết nhau cho đến một hôm tôi thấy hai người đi xe chung.  Người Á châu lái xe còn người mặc com lê là hành khách tuy nhiên tay lại bưng ly cà phê của người Á châu.

Có một người phụ nữ cũng trạc tuổi năm mươi.  Cao lớn, hơi đẫy đà.  Người ta có thể nhận thấy bà có thiện cảm với người Á châu.  Bà hay tìm cách ngồi gần ông này.  Đôi khi họ trò chuyện.  Có vẻ như họ biết nhau vì tôi nghe bà ta hỏi ông Á châu về một con gà mà ông ấy nướng cho một buổi tiệc nào đó.

Đôi khi tôi tự hỏi nếu bà yêu ông Á châu, và nếu ông Á châu yêu ông mặc com lê, và ông mặc com lê thì không yêu ai hết, chỉ yêu tờ báo New York Post mà thôi?  

Con chích chòe

Thường đón chung chuyến xe lửa với tôi có một cô bé Việt Nam.  Cô bé rất bé, như là một con chim chích chòe vậy.  A, đến đây tôi xin rút lời.  Tôi chưa hề thấy con chim chích chòe bao giờ nhưng tưởng tượng là nó vừa bé vừa xinh.

Chắc chắn là cô phải thấp hơn tôi.  Thấp hơn tôi là chuyện khó xảy ra, nhất là ở xứ Mỹ, người trẻ luôn luôn cao lớn hơn người già. Cô bé hơn một con bé Việt mười hai tuổi.  Cô học xong đại học và đang làm việc cho một trường đại học Y khoa trong ban nghiên cứu.  Tôi biết vì có vài lần chúng tôi nói chuyện với nhau.

Có một buổi sáng cô đứng đón xe lửa gần tôi.  Cô có một cái khăn quàng crochet màu trắng rất dài.  Tôi hỏi cô mua ở đâu cô nói quà tặng của bà ngoại ở Việt Nam.  Cô tưởng tôi là người Philippine.  Chuyện này bình thường, người Philippine hễ gặp tôi là nói chuyện bằng ngôn ngữ của họ ngay lập tức.  Chúng tôi nói chuyện với nhau bằng tiếng Việt, cô chỉ mới qua Mỹ chừng mười năm nên nói tiếng Việt rất giỏi.  Trước khi ra trường đi làm cô giúp mẹ cô làm trong tiệm làm móng tay của mẹ.

Cô nói chuyện giọng nói nhỏ xíu, cái lỗ mũi nhỏ xíu của cô nhăn lên mỗi khi cô cười.  Cô ăn mặc khá xốc xếch, ngay cả những khi cô cố ý chưng diện, có lẽ vì mái tóc dài mà quăn và thường khi rối bù.  Cô thích mặc halter.  Thường, cách ăn mặc này khá lộ liễu nhưng vì cô nhỏ người quá nên cách ăn mặc này càng làm cô có vẻ bé con hơn.  Mặt mũi khá xinh.  Tôi có lúc định mời cô về nhà chơi để giới thiệu với một người cháu.  Chú bé này cần mẫn, hiền lành dễ thương, đang học lấy tiến sĩ.  Chú lận đận đường tình duyên và vì mãi mê vừa học vừa làm nên đã ba mươi mà vẫn mồ côi.  Tuy nhiên người ta thường hay nói ở đời có bốn cái ngu, làm mai lãnh nợ gác cu cầm chầu.  Làm mai là cái nghề ngu nhất, nghĩ thế nên thôi.

Tối thứ Sáu cô lên xe lửa ngồi băng ghế trước mặt tôi.  Cô cười chào nhưng không ngồi cạnh tôi.  Cùng đi với cô có một chú bé khá cao lớn, da ngăm đen như người Trung Đông hay Ấn Độ.  Chú còn trẻ mà tóc chú bạc lấm tấm vì chú húi ngắn nên tôi thấy tóc bạc rất nhiều.  Cả hai có vẻ thân mật nhưng không suồng sả.  Thỉnh thoảng chú quàng vài cô có vẻ như dọa cù lét cô. Hai người châu đầu vào nhau bàn tán gì về một quyển catalogue về một trường đại học nào đó.  Có lúc tôi nghe cô bé nói về bữa tiệc với các món ăn và chú bé hỏi “tôi có thể đến dự không?”  Cô bé nói có chứ, dĩ nhiên rồi.  Cô cười khúc khích luôn làm tôi tưởng tượng đến cái mũi nhăn của cô.

Tôi nghĩ tôi đang chứng kiến một mối tình chớm nở trên xe lửa.  Rồi có một ngày nào đó tôi sẽ viết về những chuyện tình hạnh phúc, kẻo người ta bảo rằng những cuộc tình  hạnh phúc chẳng có gì để kể.