Nói nhăng

Ông Max làm việc chung với tôi mười chín năm sắp về hưu.  Trong 19 năm có mười bốn năm tôi giận không ngó mặt, không nói chuyện với ông.  Chỉ mới cách đầy vài tháng tôi và ông mới nói chuyện lại với nhau.  Tôi ít nói.  Có khi cả ngày tôi không nói một lời với ai mà không cảm thấy buồn hay cô đơn.  Khi tôi còn nhỏ mọi người nói tôi dữ.  Bây giờ mọi người nói tôi khó tính.  Cả hai nhận xét đều đúng. Những người trong gia đình nói khó tính làm gì sao không dễ tính cho người ta nhờ cho cuộc sống dễ chịu.  Tôi không biết cách trả lời.  Tôi như thế là vì tôi như thế.  Tôi cũng không nghĩ là tôi khó tính.  Tôi để mọi người sống theo cách họ muốn sống và tôi cũng muốn được sống theo ý tôi.  Nhưng chuyện không mấy dễ dàng.  Tôi vẫn  nghĩ cái gì mình muốn mình phải chịu trả bằng một cái giá nào đó.  Đôi khi tôi thà mất lòng người còn hơn mình không vui.

Ông Max thấy tôi nói chuyện trở lại và vì sắp về hưu nên thường hay ghé chỗ tôi nói dóc tí tỉnh.  Sáng nay ông kể chuyện một người em rể 66 tuổi, bà vợ của ông ấy bị bệnh nằm trong nhà thương một thời gian rồi qua đời.  Trong lúc săn sóc vợ trong bệnh viện ông và một cô y tá 24 tuổi yêu nhau.  Bây giờ họ chuẩn bị lấy nhau.  Ông Max hỏi tôi nghĩ thế nào liệu những người  này có yêu nhau thành thật không? Tôi tin là rất có thể họ yêu nhau thành thật dù không ít người cho rằng cô gái yêu ông em rể chỉ vì tiền.  Ông Max nói ông em rể vẫn còn tráng kiện và đẹp trai.  Tôi ở cái tuổi mà mọi chuyện tôi tin là đều có thể xảy ra dưới ánh mặt trời. Tôi tin vào những mối tình chênh lệch tuổi.  Có thể nó sẽ không bền nhưng không có nghĩa là họ không yêu nhau.

Ngày còn đi học tôi không giỏi toán.  Toán là một khái niệm rất trừu tượng với tôi.  Mất một thời gian khá lâu tôi mới hiểu khái niệm dấu âm và trừ của trừ thành cộng trong toán Đại Số.  Cũng như tôi khó tưởng tượng được khái niệm về một điểm, đường thẳng, đường cong, và mặt phẳng.  Phải rất lâu tôi mới hiểu được một số điều căn bản như một đường cong là tập hợp của những đoạn thẳng.  Bây giờ thì hiểu rồi.  Và dùng cái hiểu này để hiểu trong một cuộc tình không thành (đường cong) có những lúc người ta thật sự hạnh phúc (đoạn thẳng) trong tình yêu.

Như môn thermodynamics để giải những bài toán về nhiệt động học tôi phải học khái niệm giới hạn (biên giới). Nhiệt lượng vào hay ra khỏi khu vực quan sát tùy theo mình đứng bên trong hay bên ngoài cái biên giới tưởng tượng mà mình tự rào chung quanh khu vực mình cần phải quan sát. Nói như thế để nói là có những điều tùy theo chỗ đứng mà nhìn thấy điều đó đúng hay sai, chấp nhận được hay không chấp nhận được.  Kể cả những chuyện to lớn như phong tục.  Người Trung quốc ngày xưa cho phép anh em bạn dì được quyền kết hôn với nhau.  Người Ấn Độ cho phép người anh lấy vợ người em nếu người em chết đi. Nhưng người Việt Nam thì cho đó là loạn luân.

Ai cũng nói tuy tôi khó tính nhưng lại dễ tin.  Đôi khi những người làm việc chung với tôi sau khi nói đùa họ phải đính chính vì tôi dễ dàng tin những lời nói đùa là chuyện thật. Vì bản tín dễ tin tôi ít khi nghi kỵ ai. Nhiều người cho là khờ, tôi thấy đôi khi dễ sống.

Rất nhiều bạn bè của tôi không tin là có một tình bạn chân thật giữa người đàn ông và người đàn bà.  Tôi thì tin.  Đôi khi tình bạn quá đẹp, bước qua cái biên giới tình bạn vào tình yêu khó mà trở lại tình bạn nếu tình yêu không thành.  Do đó người ta trân trọng giữ tình bạn.    

Tôi nói xàm đã đủ, đến giờ tôi đi ngủ.  Đêm qua ngủ không ngon nên hôm nay mệt. 

bốn con quạ đậu trên dây điện cao thế

Mùa đông, người ta thường mặc áo khoác ngoài màu đen.  Tôi không hiểu tại sao. Một, có lẽ màu đen hút nhiệt dễ hơn nên ấm hơn.  Hai, áo màu đen thi mặc hoài một cái không ai để ý.  Áo màu sặc sỡ quá người ta biết mình chỉ có một cái áo khoác ngoài mặc hoài thì kỳ quá chăng?  Nói đùa đấy, tôi không thấy ai ở Mỹ mà chỉ có một cái áo khoác ngoài.  Có một người phụ nữ làm việc chung với tôi cứ mỗi lần tôi gặp bà là thấy bà mặc một cái áo khoác ngoài màu tươi, kiểu lạ, chẳng có cái nào tương tự cái nào.

Mặc áo khoác màu đen làm chúng tôi, những hành khách đi xe lửa, tuy khác nhau mà vẫn có vẻ gì giống nhau.  Một đám đông như một bầy quạ khắc khổ vừa có vẻ buồn thảm vừa có vẻ buồn ngủ.

Thường thường, người Mỹ luôn cần có khoảng cách cá nhân.  Không nên đứng gần một người nào quá độ khoảng cách một cánh tay giữa hai người trong một phòng chờ xe lửa có thể chấp nhận được.  Nhiều người cần khoảng cách lớn hơn.  Họ chỉ cho người thật thân đến gần hơn khoảng cách tối thiểu đó.

Buổi sáng trong phòng đợi xe lửa có nhiều khuôn mặt đáng chú ý.  Tôi vẫn mong vẻ chân dung của họ bằng chữ.  Không biết để làm gì.  Mai sau viết văn tôi có thể biến họ thành nhân vật của tôi chăng?

Sáng nay, ngồi trên một băng ghế có bốn người đàn ông có vẻ như người Trung Đông, hay Ấn Độ trắng.  Họ ngồi cạnh nhau thật gần.  Gần đến độ không có một khoảng cách rộng hơn chiều dẹp của một bàn tay.  Trông họ có vẻ thật thân nhau như là đồng chí hay anh em.  Bốn người sàng sàng tuổi nhau, vóc dáng tương tự nhau, bốn cái áo màu đen, trông họ giống như bốn con quạ đậu trên dây điện cao thế.  Tuy nhiên họ không có vẻ buồn ngủ hay buồn thảm.

Tôi là một con quạ cô đơn, ngồi riêng một góc.  Buồn ngủ nhưng không buồn thảm.

Tôi chú ý đến vài khuôn mặt.

Tôi chú ý đến vài khuôn mặt.

Có một người Á châu, khoảng năm mươi, tóc bạc nhiều.  Tuy là người Á châu nhưng ông ta rất cao lớn, cao và to hơn cả người Mỹ thuộc loại cao to hơn người Mỹ trung bình.  Đi làm mỗi sáng ông mang giày sneaker, quần jean, một cái áo khoác ngắn khỏi mông, rộng và khá cũ kỹ.  Mắt lộ, mũi khoằm như mũi ó.  Miệng như mỏ nhọn của con chim, môi trên ngó quặm xuống môi dưới.  Tóm lại ông ta không mấy đẹp trai.  Tuy nhiên ông có nụ cười bẽn lẽn nên trông ông có vẻ hiền lành.  Cứ nhìn ông là tôi lại liên tưởng đến một nhân vật trong truyện ngắn của Ha Jin, căn nhà phía sau cây anh đào la đà.  Nhân vật trong truyện này là một người hiền lành, công nhân hãng may cắt quần áo, vì định mệnh đưa đẩy anh ta trở nên người đưa rước một cô điếm người Việt Nam.  Hai người trở nên yêu nhau và cùng dẫn nhau bỏ trốn khỏi New York vì cô gái thiếu nợ người cho vay ăn lời cắt cổ đã giúp cô trốn rồi ở lại New York.  Tôi không có ý nói ông Á châu này giống ma cô.  Tôi chỉ có ý muốn nói tôi liên tưởng đến nhân vật mà không hiểu tại sao, có lẽ vì cách ăn mặc, vì là người Á châu, và vì trông ông có vẻ gì hiền lành.  Ông nói tiếng Mỹ sành sõi như là người sinh ra lớn lên ở Mỹ. Ông hay ngồi gần một người Mỹ khác để đọc báo cọp.  Ông thích đọc báo mà không chịu mua báo cứ ngày nào cũng ngồi cạnh ông Mỹ, ngóng cổ ngó theo tờ báo mỗi lần ông bạn già này lật tờ báo sang trang.

Ông Mỹ này cũng vào trạc từ năm mười đến năm mươi lăm.  Ông gầy và cao, tuy nhiên đứng bên cạnh ông Á châu trông ông có vẻ nhỏ người hơn.  Ông ăn mặc chững chạc. Luôn luôn mặc nguyên bộ com plê, áo khoác dài bằng len đắt tiền, giày loafer của Ý.  Ông thường đọc tờ báo The New York Post, nhiều hình hơn tờ New York Times. Ông có vẻ khô héo khắc khổ lạnh nhạt, không nhìn đến ai.  Ông ngồi ở một góc, tréo chân.  Hễ ông Á châu đến ngồi gần để đọc báo cọp ông không hề nhìn lên, không nhích chân, không để lộ vẻ gì nhận biết người Á châu này.  Ông không tỏ ý phiền cũng không khuyến khích ông Á châu, cũng không để lộ vẻ muốn chia sẻ tờ báo.  Mỗi lần ông ngồi xuống trước khi đọc báo là hai tay ông có những cử động như một người muốn làm dấu thánh giá nhưng ngượng ngùng muốn che dấu.  Cũng có thể đó là một phản xạ không tình nguyện của những người bị bệnh như Tourette syndrome. 

Tôi tưởng hai người hoàn toàn không quen biết nhau cho đến một hôm tôi thấy hai người đi xe chung.  Người Á châu lái xe còn người mặc com lê là hành khách tuy nhiên tay lại bưng ly cà phê của người Á châu.

Có một người phụ nữ cũng trạc tuổi năm mươi.  Cao lớn, hơi đẫy đà.  Người ta có thể nhận thấy bà có thiện cảm với người Á châu.  Bà hay tìm cách ngồi gần ông này.  Đôi khi họ trò chuyện.  Có vẻ như họ biết nhau vì tôi nghe bà ta hỏi ông Á châu về một con gà mà ông ấy nướng cho một buổi tiệc nào đó.

Đôi khi tôi tự hỏi nếu bà yêu ông Á châu, và nếu ông Á châu yêu ông mặc com lê, và ông mặc com lê thì không yêu ai hết, chỉ yêu tờ báo New York Post mà thôi?  

Con chích chòe

Thường đón chung chuyến xe lửa với tôi có một cô bé Việt Nam.  Cô bé rất bé, như là một con chim chích chòe vậy.  A, đến đây tôi xin rút lời.  Tôi chưa hề thấy con chim chích chòe bao giờ nhưng tưởng tượng là nó vừa bé vừa xinh.

Chắc chắn là cô phải thấp hơn tôi.  Thấp hơn tôi là chuyện khó xảy ra, nhất là ở xứ Mỹ, người trẻ luôn luôn cao lớn hơn người già. Cô bé hơn một con bé Việt mười hai tuổi.  Cô học xong đại học và đang làm việc cho một trường đại học Y khoa trong ban nghiên cứu.  Tôi biết vì có vài lần chúng tôi nói chuyện với nhau.

Có một buổi sáng cô đứng đón xe lửa gần tôi.  Cô có một cái khăn quàng crochet màu trắng rất dài.  Tôi hỏi cô mua ở đâu cô nói quà tặng của bà ngoại ở Việt Nam.  Cô tưởng tôi là người Philippine.  Chuyện này bình thường, người Philippine hễ gặp tôi là nói chuyện bằng ngôn ngữ của họ ngay lập tức.  Chúng tôi nói chuyện với nhau bằng tiếng Việt, cô chỉ mới qua Mỹ chừng mười năm nên nói tiếng Việt rất giỏi.  Trước khi ra trường đi làm cô giúp mẹ cô làm trong tiệm làm móng tay của mẹ.

Cô nói chuyện giọng nói nhỏ xíu, cái lỗ mũi nhỏ xíu của cô nhăn lên mỗi khi cô cười.  Cô ăn mặc khá xốc xếch, ngay cả những khi cô cố ý chưng diện, có lẽ vì mái tóc dài mà quăn và thường khi rối bù.  Cô thích mặc halter.  Thường, cách ăn mặc này khá lộ liễu nhưng vì cô nhỏ người quá nên cách ăn mặc này càng làm cô có vẻ bé con hơn.  Mặt mũi khá xinh.  Tôi có lúc định mời cô về nhà chơi để giới thiệu với một người cháu.  Chú bé này cần mẫn, hiền lành dễ thương, đang học lấy tiến sĩ.  Chú lận đận đường tình duyên và vì mãi mê vừa học vừa làm nên đã ba mươi mà vẫn mồ côi.  Tuy nhiên người ta thường hay nói ở đời có bốn cái ngu, làm mai lãnh nợ gác cu cầm chầu.  Làm mai là cái nghề ngu nhất, nghĩ thế nên thôi.

Tối thứ Sáu cô lên xe lửa ngồi băng ghế trước mặt tôi.  Cô cười chào nhưng không ngồi cạnh tôi.  Cùng đi với cô có một chú bé khá cao lớn, da ngăm đen như người Trung Đông hay Ấn Độ.  Chú còn trẻ mà tóc chú bạc lấm tấm vì chú húi ngắn nên tôi thấy tóc bạc rất nhiều.  Cả hai có vẻ thân mật nhưng không suồng sả.  Thỉnh thoảng chú quàng vài cô có vẻ như dọa cù lét cô. Hai người châu đầu vào nhau bàn tán gì về một quyển catalogue về một trường đại học nào đó.  Có lúc tôi nghe cô bé nói về bữa tiệc với các món ăn và chú bé hỏi “tôi có thể đến dự không?”  Cô bé nói có chứ, dĩ nhiên rồi.  Cô cười khúc khích luôn làm tôi tưởng tượng đến cái mũi nhăn của cô.

Tôi nghĩ tôi đang chứng kiến một mối tình chớm nở trên xe lửa.  Rồi có một ngày nào đó tôi sẽ viết về những chuyện tình hạnh phúc, kẻo người ta bảo rằng những cuộc tình  hạnh phúc chẳng có gì để kể.

Xavier, người làm việc chung

Hai cô tiểu thư của tôi thức giấc và đang ăn sáng.  Hai cô đòi đi Thư viện mà tôi chờ hai cô từ sáng đến giờ.  Trong khi chờ đợi tôi chẳng biết phải làm gì nên ngồi viết nhảm nhí.

Xavier người làm việc chung với tôi đã vào làm trở lại sau khi nghỉ ba ngày tang.  Người chết là em gái của ông, năm mươi mốt tuổi, chết vì stroke, để lại hai con 15 và 11.

Xavier là người Ecuador làm việc chung với tôi đã hơn hai mươi năm.  Chúng tôi không thân nhau nhưng không có gì hiềm thù mất lòng nhau.  Xavier da đen, không đen lắm.  Tóc rậm như rừng.  Tuy làm việc lâu năm với nhau tôi không biết ông có vợ không và có mấy con.  thỉnh thoảng chúng tôi nói chuyện việc làm, nói đùa bâng quơ nhưng không bao giờ nói chuyện gia đình.  chúng tôi nói đùa là Xavier có bảy bà vợ và vài chục đứa con, trong đó có vài đứa con nuôi ông gửi tiền về xứ để nuôi.

Xavier ít nói, có lẽ vì nói tiếng Anh không giỏi.  Ông làm kỹ sư giỏi về design còn tôi không giỏi về kỹ thuật nhưng mồm năm miệng mười, viết kỹ thuật khá nên làm công việc quản lý project.  Tôi vào làm sau Xavier, cùng một cấp bậc với ông.  Tuy nhiên tôi mềm mỏng, phục tùng, chìu chuộng cấp trên, trong khi Xavier cứng cỏi, ngang ngạnh, bướng bỉnh.  Ông xếp cũ của tôi đã về hưu là một người rất yếu về mặt kỹ thuật, nên như người ta thường nói người ta thường che dấu những mặc cảm thua thiệt bằng những cao ngạo quá đáng, ông xếp cũ này hay ngược đãi Xavier.  Và Xavier vì chống đối nên mất lòng ông xếp.  Tôi tránh va chạm nên tôi vượt qua mặt Xavier mấy cấp trong vòng vài năm.  Nếu Xavier là người xấu tính có lẽ ông ghét tôi ghê lắm.  Những năm sóng gió ông không để lộ vẻ ghét bỏ tôi nhưng lạnh lùng.  Sau khi ông xếp cũ về hưu rồi không khí trong chỗ làm bớt lạnh lùng bớt tranh giành hẵn đi.  Xavier mới được lên chức Senior Engineer năm ngoái hay năm kia, có lẽ thế ông bớt lạnh lùng.

Hôm trước khi nghĩ Giáng sinh cho đến New Year, ông chào từ biệt.  Và ông hôn tôi, hôn gió thôi, ở hai bên má, theo tục lệ người Tây phương.  Tôi là một trong hai người phụ nữ làm việc trong nhóm và tôi ít khi cho phép ai hôn tôi.  Tôi thường xuyên chìa tay ra bắt tuy nhiên với Xavier là một ngoại lệ.  Có lẽ làm việc với nhau lâu làm tôi dễ dãi hơn.

Thêm một ông già dễ thương

Buổi chiều đi làm về tôi phải đi bộ một quảng đường, ngắn thôi.  Ra khỏi building tôi làm việc, băng qua một con đường, vào trong một tòa nhà có đường đưa vào trạm xe lửa.  Có nghĩa là mình đi từ một chỗ này qua một chỗ khác chừng vài trăm yard mà không phải ra ngoài trời nên tránh mưa tránh tuyết.  Lên một cầu thang một bên là đi bộ lên hay xuống, còn một bên là thang tự động cuốn lên.  Người nào vội vàng thì vừa bước lên còn thang thì cứ tiếp tục cuốn.  Lên khỏi cầu thang là một cánh cửa mở ra chỗ bến xe lửa đậu.  Những cái bến này được gọi là platform, cao hơn đường rầy xe lửa chừng hai thước.  Nó như một cái sàn dài đúc bằng bê tông.  Khách chờ nơi đây khi xe lửa cập bến là bước vào xe lửa.  Cửa xe lửa mở ngang tầm với sàn chờ này.  Dọc theo sàn xe lửa người ta để nhiều băng ghế cho khách ngồi.  Mỗi băng ghế có thể ngồi bốn hay năm người.  Xe lửa của tôi đi luôn luôn chờ sẵn tại bến trong khi các tuyến đường khác khách phải chờ khá lâu xe lửa mới cập bến.  Chuyến tôi về mỗi chiều là một chuyến tốc hành.  Xe lửa chỉ đỗ ở những bến cố định.  Chuyến sau chuyến tôi đi chừng mười lăm phút là một chuyến bình thường, ngừng ở tất cả mọi trạm.  Có nhiều người đến sớm nhưng không đi được chuyến tốc hành họ chờ để đi chuyến sau và ngồi trên những hàng ghế dài trên sàn của bến xe.

Trên một trong những băng ghế ấy có một người đàn ông, chừng hơn sáu mươi.  Ông rất cao và gầy.  Tôi biết ông cao vì ông ngồi mà thấy chân ông dài lắm.  Da của ông trắng xanh, nên trông ông không có vẻ khỏe.  Ông thường đội một cái mũ len xám trông ông càng có vẻ yếu đuối hơn.

Tôi hay suy nghĩ và hay cười một mình.  Ai nói cái gì đó tôi tức cười là tôi cứ nghĩ và cười tủm tỉm.  Có một người nói cho tôi nghe ông thỉnh thoảng ra quán uống rượu.  Tôi hỏi sao không uống ở nhà bộ ở nhà không có rượu sao.  Người ấy nói ra quán có người ta hầu.  Người ta hỏi thưa ông ông uống gì.  Rồi nói chêm thêm một câu hay người ta nói, cái thằng kia mày uống gì thì bảo.  Tôi nghe bắt tức cười nên cười tủm tỉm lúc đi về.

Cái ông già (thật ra tôi không nên nói là ông già vì ông ấy còn trẻ nhưng gọi ông trẻ thì hơi kỳ, vả lại gọi là ông già để mình có tự minh bạch là không có tình ý gì với ông, hê hê, rào trước đón sau quá) da trắng xanh ấy thường hay nhìn tôi.  Tôi thỉnh thoảng bắt gặp ông nhìn tôi, vẻ thân thiện, mặt hình như muốn cười.  Và tự khi tôi thấy ông nhìn tôi, chiều nào đi ngang chỗ ông ngồi tôi cố gắng đi thẳng lưng hơn, vuốt tóc cho thẳng, kéo áo quần cho thẳng để mình không có vẻ bèo nhèo, già cọm.  Để làm gì?  Bản chất đàn bà ấy mà. Thấy đàn ông nhìn thì chỉ sợ mình xấu xí.  Mỗi lần thấy ông nhìn tôi, tôi vẫn hằng ước ao mình trẻ hơn hai mươi tuổi để làm vui mắt của ông hơn.

Rồi giữa lúc tôi đang nghĩ về câu nói mà tôi thấy tức cười và cười tủm tỉm, ông già nhìn tôi và tưởng tôi cười với ông.  Tôi ngượng ngùng quay mặt đi, và đỏ mặt.  Vâng, tôi vẫn còn đỏ mặt lãng nhách như thế.

Chiều nay đi vể, tôi nghe như mình kiệt lực.  Bước chân tôi nặng như không nhấc nổi.  Tôi đứng dưới chân cái thang cuốn mà dùng dằng chưa muốn bước lên.  Tôi chỉ muốn tìm một góc nào chúi xuống nằm và biến mất cho rồi.  Bỗng dưng tôi có cảm giác có người nhìn tôi.  Tôi quay người và bắt gặp ông già da trắng xanh.  Ông nói Hi! Và ông mỉm cười.  Tôi trả lời Hi! Nhưng dường như tôi ngại phải nói chuyện nên bước nhanh lên thang cuốn và đi một mạch lên xe lửa.  Tôi không kiêu căng, nhưng tôi ngại phải nói chuyện khi tôi bỗng dưng kiệt lực.

Những người già thường dễ thương.  Tôi cũng dễ thương bởi vì tôi cũng già.

Những ông già dễ thương và … không dễ thương

Buổi trưa đi bộ có hai ông già thường nói chuyện thủ thỉ bên tai tôi.   Nói cho đúng hai ông nói còn tôi chỉ có nghe thôi.  Hai ông đều hiền, đều triết lý lắm.  Đôi khi tôi mệt mỏi vì buồn ngủ, ông hay dụ tôi ôm trăng đánh giấc bên đồi dạ lan.  Còn mỗi lần đi qua công viên có cây cao rợp bóng ông cứ xúi dại mai ta chết dưới cội đào.  Đôi khi tôi cũng muốn kiếm một cây đào chết thử coi có lãng mạn như thế không.  Ôi, ông thất tình cứ đòi leo lên cây bưởi khóc người rưng rưng.  Sao không leo lên cây xoài cây me cây cóc mà lại leo lên cây bưởi.  Còn ông kia thì cũng đáng yêu không kém.  Giọng hát của ông rất hom hem run rẩy.  Tôi nghe ông than thở mà đứt ruột.  Bỏ tôi hoang vu và nhỏ bé.  Giọng ông khản, yếu ớt.  Ông khá giàu có, người yêu nổi tiếng, ca sĩ, hát hay, trẻ đẹp, bạn bè vô số, vậy mà cũng có lúc ông thấy đời hoang vu và ông nhỏ bé vì mất người yêu.  Thương hai ông già này quá. 

Trong chỗ tôi làm việc có một người đàn ông Á châu hình như mới vào làm.  Ông không làm trong department của tôi.  Tôi cũng không biết ông làm ở đâu.  Thỉnh thoảng tôi đi lên xuống cầu thang gặp ông, cả hai chúng tôi đều làm lơ, không chào nhau.  Và điều này vẫn làm tôi áy náy.  Ông chừng 55 đến 60, cao độ thước rưỡi , rất nhỏ người.

Thường khi tôi gặp một người mới vào, nhất là một phụ nữ Á châu, tôi hay chào, tự giới thiệu; đôi khi chúng tôi hẹn nhau ăn trưa.  Dù tôi hay mang thức ăn theo, nhưng nếu có hẹn nhau trước thì tôi không mang.  Tôi muốn chào ông nhưng thấy ông ngó chỗ khác không nhìn về hướng tôi nên tôi không biết có nên chào hay không.  Tính tôi lại ít nói, nhất là với người lạ.  Có khi đi bộ tôi đi rất xa, có gặp ông lúc nửa chặn đường, ông đi bên kia đường ngó thấy tôi nhưng giả vờ không thấy và tôi thấy thế nên cũng giả vờ không thấy luôn.  Tự hỏi sao cũng người Á châu với nhau mà sao không chảo hỏi nhau, thấy không yên lòng, nhưng thôi.  Thấy ông này không dễ thương.  Nhưng đời mà, nếu ai cũng dễ thương thì đâu có chuyện gì để nói.

Những người tôi gặp

Buổi sáng lái xe đi họp với Construction Team.  Joe, đại diện của nhà thầu, cứ lải nhải đòi tiền nếu tôi làm cái này phải trả thêm tiền nếu tôi làm cái kia phải trả thêm tiền.  Tôi phát cáu nên nói nửa đùa nửa thật.  Tôi sẽ rất vui mừng khi nào cậu thôi việc.  Joe còn trẻ nhưng đã khá béo.  Hắn cao lớn khổng lồ.  Tuyên bố cuối tháng này sẽ nghỉ việc ở nhà để trông hai đứa con một đứa 3 tuổi còn đứa kia 11 tháng.  Lý do là vợ hắn làm lương cao hơn.  Không chịu gửi con cho nhà giữ trẻ.  Cũng không chịu mướn người về nhà trông con chỉ muốn tự tay nuôi con.  Tôi nói xin bái phục hắn.  Làm việc với tụi nhà thầu xây cất tôi đã ngán ngẩm lắm rồi.  Nhớ có người nói không phải lúc nào mình cũng có thể bỏ tất cả để theo đuổi một bóng hình hay một mơ ước nào đó.  Tôi còn nặng nợ trần ai nhiều lắm nên không thể nào theo đuổi văn chương.  Đôi khi nghĩ đến những đề tài mình muốn viết mà thấy nhức nhối cả người vì … khổ.  Tôi còn nhiều trách nhiệm lắm.

Họp dây dưa quá lâu khi tôi trở về đến văn phòng thì đã khá trễ.  Ăn vội vàng rồi đi bộ.  Trời nhiều mây xám, ẩm, không nóng lắm nhưng ngột ngạt.  Trước thư viện Newark ở đường Broad lại có họp chợ lộ thiên.  Năm ngoái tôi có mua cho một bà cụ da đen một phần ăn trưa vì bà đói mà không tiền.  Thế mà đã một năm trôi qua.

Đi bộ hằng ngày tôi cũng có những “người quen.”  Một ông trung niên thường đi ngược chiều với tôi.  Tôi gặp ông khi bắt đầu đi ở gần công ty của tôi và khi tôi về thì tôi gặp ông đi ngược chiều ở gần thư viện  Hình như hai chúng tôi làm việc ở hai cực của đoạn đường đi bộ.  Tôi tránh không bao giờ nhìn mặt ông ấy nên cũng không biết là ông ấy có nhìn mình hay không.  Chỉ nhìn thoáng xa xa là nhận ra dáng người.  Tuy nhiên nếu bắt tôi ngồi đối diện có lẽ là tôi không nhận ra mặt ông ta.  Trước cửa thư viện là một ông da trắng ông ngồi một chỗ cố định.  Ông dùng một tấm vải bố hay một tấm nệm mỏng màu xanh để lót ngồi.  Đều đặn như thế mấy năm nay, tôi nhìn ra dáng lưng và tấm nệm màu nhưng không biết mặt.

Cứ mỗi lần về gần đến công ty là tôi thấy hai người làm việc chung cơ quan mới bắt đầu đi.  Tôi bắt đầu buổi đi của tôi lúc 12 giờ.  Hai người đi lúc 1 giờ.  Hôm nay tôi đi trễ nên khi tôi đi được nửa đường thì thấy họ đang đi về.  Từ xa đã thấy họ nắm tay nhau.  Tôi quay mặt đi hướng khác giả vờ không nhìn thấy họ hy vọng là họ không nhận ra tôi vì tôi đã đeo kính đen.  Gặp họ mỗi ngày đi đâu cũng có đôi tôi nghĩ chuyện gì phải đến sẽ đến.  Người đàn ông chừng giữa thập niên năm mươi.  Người đàn bà tôi không thể đoán tuổi nhưng có lẽ còn trẻ hơn nhiều.  Cô này mặt mũi khắc khổ nhưng được cái dáng gầy.  Ở cái xứ này gầy là đã được xem là dễ nhìn dù mặt cô giống như chim cú.  Cô có cái tên và giọng nói của người Nga.  Còn người đàn ông tuy còn trẻ mà đầu tóc bạc trắng.  Hai người không làm việc chung một ngành nhưng có vẻ như là tình nhân đã mấy năm nay.  Đây là lần đầu tiên tôi thấy họ nắm tay.