Những Điều Họ Đeo Mang, p. 3 – Tác giả: Tim O’Brien

Những thứ họ mang theo một phần tùy theo cấp bậc của họ, và một phần tùy thuộc sở trường của họ trên mặt trận.

Là Thiếu Úy và cũng là trung đội trưởng, Jimmy Cross mang một la bàn, bản đồ, sách mật mã truyền tin, ống nhòm, và một khẩu súng lục nòng .45 cân nặng 1.3 kg và trách nhiệm sự sống còn của thuộc cấp.

Là nhân viên truyền tin, Mitchell Sanders mang cái dadio PRC-25, một cái máy giết người, gần 12 kg tính luôn bình điện.

Là nhân viên cứu thương, Rat Kiley mang một cái túi vải chứa đầy mọt phin và huyết thanh và thuốc chống sốt rét và băng giải phẩu và sách tranh ảnh và tất cả những thứ một người cứu thương cần phải mang, ngay cả kẹo sô cô la M&M đặc biệt cho những người bị thương nặng, tất cả sức nặng chừng 9kg.

Là một người to béo nên được chân thủ cây súng máy, Henry Dobbins mang M-60, nặng hơn 10 kg lúc chưa nạp đạn.  Dobbins mang khoảng 4.5 kg cho đến 6 kg đạn như thắt dây lưng quàng ngang ngực và trên vai.

Là binh nhì, họ khuân những thứ nặng nề thông thường theo tiêu chuẩn. M-16, vũ khí này nặng khoảng 3.3 kg khi chưa có đạn và khoảng 3.7 kg khi có một băng đạn chừng 20 viên đạn.  Tùy theo nhiều yếu tố, thí dụ địa thế và tâm lý, những người dùng súng trường mang từ 12 cho đến 20 băng đạn chứa trong bao vải, ít nhất là 3.8 kg và nhiều nhất khoảng chừng 6.3 kg. Khi có sẵn đồ, họ cũng mang theo dụng cụ để lau chùi M-16 – que và bàn chải sắt và vải lau và các ống dầu LSA – tất cả các thứ này cộng lại chừng nửa kí lô.  Bên cạnh các thứ nặng nề, có người khuân súng phóng lựu M79, khi chưa nạp đạn nặng 2.7 kg, tương đối khá nhẹ ngoại trừ lựu đạn rất nặng.  Mỗi một trái đạn nặng đến 280 g. Mỗi một băng lựu đạn thường có 25 quả.  Nhưng Ted Lavender, người có tính hay sợ hãi, đã mang 34 quả. Khi anh bị bắn chết ở bìa làng Than Khe, và ngã xuống trong lúc mang một trọng lượng vượt quá mức bình thường, hơn 9 kg đạn dược, cùng với cái áo giáp, và mũ sắt, và phần ăn và nước uống và giấy đi cầu và thuốc cần sa và tất cả các thứ còn lại cùng với một nỗi sợ hãi không thể cân được.  Anh ta là một sức nặng chết. Không vặn vẹo hay co giật.  Kiowa, người đã chứng kiến cái chết của Ted, nói anh ta ngã xuống như một hòn đá rơi, hay một túi cát hay một cái gì đó – chỉ có bùm, rồi gục xuống – không giống như trong phim ảnh khi mà người chết lăn vòng vòng và quay mòng mòng và rơi lên trên ấm trà – không giống như thế, Kiowa nói, thằng con dại chỉ sụm xuống.  Bùm. Gục xuống. Không có gì khác hơn.  Đó là một buổi sáng tháng Tư đầy nắng.  Thiếu úy Cross cảm thấy đau đớn. Anh tự trách.  Họ cởi hết, lột hết bình nước và đạn được của Lavender, tất cả những thứ nặng nề, và Rat Kiley nói một chuyện hiển nhiên, cái thằng ấy chết rồi, và Mitchell Sanders dùng radio báo cáo một lính Mỹ chết trong lúc làm nhiệm vụ xin gởi máy bay trực thăng.  Rồi họ quấn Lavender bằng cái poncho của hắn.  Họ khuân hắn ra chỗ đồng khô, thiết lập vòng đai an toàn, và ngồi đó hút cho hết tất cả những thứ ma túy của hắn cho đến khi máy bay trực thăng đến.  Thiếu úy Cross giữ im lặng một mình.  Anh ta tưởng tượng đến gương mặt mịn màng non trẻ của Martha, nghĩ rằng anh yêu nàng hơn tất cả mọi thứ trên đời và không thể nào ngừng nghĩ đến nàng. Khi máy bay trực thăng đến họ mang Lavender lên máy bay.  Sau đó họ đốt cháy rụi làng Than Khe.  Họ hành quân cho đến chạng vạng tối, rồi đào hố cá nhân, và đêm ấy Kiowa cứ tiếp tục giải thích lý do sự hiện diện của bạn ở chỗ này, nó nhanh làm sao, cách thằng đáng thương ấy ngã xuống như là bao xi măng.  Bùm-gục xuống, hắn nói.  Như bao xi măng.

Bên cạnh ba loại vũ khí căn bản – M-60, M-16, và M-79 – họ còn mang theo bất cứ thứ gì chúng tự giới thiệu về sự hiện diện của chúng, hay bất cứ những gì thích hợp dùng để giết người hay để tự cứu mạng sống của mình. Họ mang những gì họ gặp, những gì có sẵn. Vào những lúc khác nhau, ở những tình huống khác nhau, họ mang M-14 và CAR-15 và K Thụy điển và mỡ dầu dùng để lau súng và AK 47 được tịch thu và Chi-com và RPG và súng các bin Simonov và súng chợ đen Uzis và súng lục .38 Smith & Wesson và 66 mm LAW và súng shotguns có hãm thanh và blackjacks và dao găm và chất nổ plastic C-4.  Lee Strunk mang theo cái ná, hắn gọi là loại vũ khí cuối cùng khi không còn phương tiện nào khác.  Mitchell Sanders mang cái dùng để bọc nắm đấm có dát đồng.  Kiowa mang cái rìu có gắn lông chim của ông nội.  Mỗi người (third man) thứ ba, hay thứ tư (fourth man) mang mìn Claymore – 1.6 kg cùng với ngòi nổ.  Họ mang lựu đạn – mỗi trái gần 400g. Họ mang ít nhất là một trái lựu đạn khói màu – 680g.  Có người mang CS hay lựu đạn cay.  Họ mang bất cứ thứ gì họ có thể mang nổi, và với một số người, những thứ họ mang bao gồm cả một sự sửng sốt có phần sợ hãi  về cái sức mạnh khủng khiếp của những thứ họ mang.

Tuần đầu tiên trong tháng Tư, trước khi Lavender chết, Thiếu úy Jimmy Cross nhận một món quà nhỏ, bùa hộ mạng, do Martha tặng.  Đó là một hòn cuội trơn nặng lắm là 28g, nhẵn nhụi, màu trắng sữa lấm tấm những đốm màu cam và tím, hình bầu dục, như một quả trứng con con. Trong lá thư kèm theo, Martha viết là nàng nhặt được hòn cuội ở bờ biển New Jersey, ngay chỗ nước thủy triều lên cao giáp bờ biển, nơi những thứ gặp nhau nhưng vẫn xa nhau.  Và chính vì cái tính chất bên nhau mà vẫn xa nhau này, nàng viết, đã xui khiến nàng nhặt hòn cuội và giữ nó trong túi áo trên ngực vài ngày. Ở trong túi áo trên ngực nàng hòn cuội dường như không có sức nặng. Sau đó nàng gửi nó kèm theo trong thư, theo đường hàng không, như là một bằng chứng về cái tình cảm chân thật nhất nàng dành cho anh. Thiếu úy Cross thấy chuyện này thơ mộng quá.  Nhưng anh tự hỏi không biết tình cảm chân thật nhất của nàng, nói cho chính xác, là cái gì, và cũng không hiểu nàng có ý gì về cái ở bên nhau mà vẫn xa nhau.  Anh tự hỏi thủy triều dâng làm sao và những ngọn sóng lăn tăn thế nào vào buổi chiều hôm ấy, trên bờ biển Jersey, khi Martha nhìn thấy hòn cuội, cúi xuống nhặt và cứu nó ra khỏi vùng đất này. Anh tưởng tượng đôi chân trần.  Martha là một nhà thơ, bản tính thi sĩ, đôi chân nâu trần, móng chân không sơn phết, đôi mắt lạnh giá và buồn bã như mặt đại dương của tháng Ba, và tuy đau đớn anh cũng tự hỏi nàng đã đi dạo biển cùng ai chiều hôm ấy.  Anh tưởng tượng đôi bóng bước dài theo dải cát nơi mọi vật bên nhau nhưng vẫn xa nhau.  Đó là một cơn ghen bóng gió, anh biết, nhưng anh không thể tự kềm chế.  Anh yêu nàng nhiều quá. Trong lúc hành quân, qua những ngày nóng bức đầu tháng Tư, anh ngậm hòn cuội trong mồm, dùng lưỡi đảo nó, nếm mùi muối biển và vị ẩm ướt.  Tâm hồn anh đi hoang. Anh khó lòng tập trung tư tưởng vào cuộc chiến tranh này.  Thỉnh thoảng anh la mắng lính của anh phải đi cách xa ra, chú ý đến chung quanh, nhưng chính anh rồi cũng rơi vào cơn mơ mộng, tưởng tượng, đi chân trần dọc bờ biển, với Martha, không mang gì trên người.  Anh cảm thấy mình đang lên, mặt trời và sóng biển và gió mơn man, chỉ có tình yêu và một nỗi nhẹ thênh thang.

Những Điều Họ Đeo Mang, p. 2 – Tác giả: Tim O’Brien

 

Những thứ họ mang theo một phần tùy theo cấp bậc của họ, và một phần tùy thuộc sở trường của họ trên mặt trận.

Là Thiếu Úy và cũng là trung đội trưởng, Jimmy Cross mang một la bàn, bản đồ, sách mật mã truyền tin, ống nhòm, và một khẩu súng lục nòng .45 cân nặng 1.3 kg và trách nhiệm sự sống còn của thuộc cấp.

Là nhân viên truyền tin, Mitchell Sanders mang cái radio PRC-25, một cái máy giết người, gần 12 kg tính luôn bình điện.

Là nhân viên cứu thương, Rat Kiley mang một cái túi vải chứa đầy mọt phin và huyết thanh và thuốc chống sốt rét và băng giải phẩu và sách tranh ảnh và tất cả những thứ một người cứu thương cần phải mang, ngay cả kẹo sô cô la M&M đặc biệt cho những người bị thương nặng, tất cả sức nặng chừng 9kg.

Là một người to béo nên được chân thủ cây súng máy, Henry Dobbins mang M-60, nặng hơn 10 kg lúc chưa nạp đạn.  Dobbins mang khoảng 4.5 kg cho đến 6 kg đạn như thắt dây lưng quàng ngang ngực và trên vai.

Là binh nhì, họ khuân những thứ nặng nề thông thường theo tiêu chuẩn. M-16, vũ khí này nặng khoảng 3.3 kg khi chưa có đạn và khoảng 3.7 kg khi có một băng đạn chừng 20 viên đạn.  Tùy theo nhiều yếu tố, thí dụ địa thế và tâm lý, những người dùng súng trường mang từ 12 cho đến 20 băng đạn chứa trong bao vải, ít nhất là 3.8 kg và nhiều nhất khoảng chừng 6.3 kg. Khi có sẵn đồ, họ cũng mang theo dụng cụ để lau chùi M-16 – que và bàn chải sắt và vải lau và các ống dầu LSA – tất cả các thứ này cộng lại chừng nửa kí lô.  Bên cạnh các thứ nặng nề, có người khuân súng phóng lựu M79, khi chưa nạp đạn nặng 2.7 kg, tương đối khá nhẹ ngoại trừ lựu đạn rất nặng.  Mỗi một trái đạn nặng đến 280 g. Mỗi một băng lựu đạn thường có 25 quả.  Nhưng Ted Lavender, người có tính hay sợ hãi, đã mang 34 quả. Khi anh bị bắn chết ở bìa làng Than Khe, và ngã xuống trong lúc mang một trọng lượng vượt quá mức bình thường, hơn 9 kg đạn dược, cùng với cái áo giáp, và mũ sắt, và phần ăn và nước uống và giấy đi cầu và thuốc cần sa và tất cả các thứ còn lại cùng với một nỗi sợ hãi không thể cân được.  Anh ta là một sức nặng chết. Không vặn vẹo hay co giật.  Kiowa, người đã chứng kiến cái chết của Ted, nói anh ta ngã xuống như một hòn đá rơi, hay một túi cát hay một cái gì đó – chỉ có bùm, rồi gục xuống – không giống như trong phim ảnh khi mà người chết lăn vòng vòng và quay mòng mòng và rơi lên trên ấm trà – không giống như thế, Kiowa nói, thằng con dại chỉ sụm xuống.  Bùm. Gục xuống. Không có gì khác hơn.  Đó là một buổi sáng tháng Tư đầy nắng.  Thiếu úy Cross cảm thấy đau đớn. Anh tự trách.  Họ cởi hết, lột hết bình nước và đạn được của Lavender, tất cả những thứ nặng nề, và Rat Kiley nói một chuyện hiển nhiên, cái thằng ấy chết rồi, và Mitchell Sanders dùng radio báo cáo một lính Mỹ chết trong lúc làm nhiệm vụ xin gởi máy bay trực thăng.  Rồi họ quấn Lavender bằng cái poncho của hắn.  Họ khuân hắn ra chỗ đồng khô, thiết lập vòng đai an toàn, và ngồi đó hút cho hết tất cả những thứ ma túy của hắn cho đến khi máy bay trực thăng đến.  Thiếu úy Cross giữ im lặng một mình.  Anh ta tưởng tượng đến gương mặt mịn màng non trẻ của Martha, nghĩ rằng anh yêu nàng hơn tất cả mọi thứ trên đời và không thể nào ngừng nghĩ đến nàng. Khi máy bay trực thăng đến họ mang Lavender lên máy bay.  Sau đó họ đốt cháy rụi làng Than Khe.  Họ hành quân cho đến chạng vạng tối, rồi đào hố cá nhân, và đêm ấy Kiowa cứ tiếp tục giải thích lý do sự hiện diện của bạn ở chỗ này, nó nhanh làm sao, cách thằng đáng thương ấy ngã xuống như là bao xi măng.  Bùm-gục xuống, hắn nói.  Như bao xi măng.

Bên cạnh ba loại vũ khí căn bản – M-60, M-16, và M-79 – họ còn mang theo bất cứ thứ gì chúng tự giới thiệu về sự hiện diện của chúng, hay bất cứ những gì thích hợp dùng để giết người hay để tự cứu mạng sống của mình. Họ mang những gì họ gặp, những gì có sẵn. Vào những lúc khác nhau, ở những tình huống khác nhau, họ mang M-14 và CAR-15 và K Thụy điển và mỡ dầu dùng để lau súng và AK 47 được tịch thu và Chi-com và RPG và súng các bin Simonov và súng chợ đen Uzis và súng lục .38 Smith & Wesson và 66 mm LAW và súng shotguns có hãm thanh và blackjacks và dao găm và chất nổ plastic C-4.  Lee Strunk mang theo cái ná, hắn gọi là loại vũ khí cuối cùng khi không còn phương tiện nào khác.  Mitchell Sanders mang cái dùng để bọc nắm đấm có dát đồng.  Kiowa mang cái rìu có gắn lông chim của ông nội.  Mỗi người (third man) thứ ba, hay thứ tư (fourth man) mang mìn Claymore – 1.6 kg cùng với ngòi nổ.  Họ mang lựu đạn – mỗi trái gần 400g. Họ mang ít nhất là một trái lựu đạn khói màu – 680g.  Có người mang CS hay lựu đạn cay.  Họ mang bất cứ thứ gì họ có thể mang nổi, và với một số người, những thứ họ mang bao gồm cả một sự sửng sốt có phần sợ hãi  về cái sức mạnh khủng khiếp của những thứ họ mang.

Tuần đầu tiên trong tháng Tư, trước khi Lavender chết, Thiếu úy Jimmy Cross nhận một món quà nhỏ, bùa hộ mạng, do Martha tặng.  Đó là một hòn cuội trơn nặng lắm là 28g, nhẵn nhụi, màu trắng sữa lấm tấm những đốm màu cam và tím, hình bầu dục, như một quả trứng con con. Trong lá thư kèm theo, Martha viết là nàng nhặt được hòn cuội ở bờ biển New Jersey, ngay chỗ nước thủy triều lên cao giáp bờ biển, nơi những thứ gặp nhau nhưng vẫn xa nhau.  Và chính vì cái tính chất bên nhau mà vẫn xa nhau này, nàng viết, đã xui khiến nàng nhặt hòn cuội và giữ nó trong túi áo trên ngực vài ngày. Ở trong túi áo trên ngực nàng hòn cuội dường như không có sức nặng. Sau đó nàng gửi nó kèm theo trong thư, theo đường hàng không, như là một bằng chứng về cái tình cảm chân thật nhất nàng dành cho anh. Thiếu úy Cross thấy chuyện này thơ mộng quá.  Nhưng anh tự hỏi không biết tình cảm chân thật nhất của nàng, nói cho chính xác, là cái gì, và cũng không hiểu nàng có ý gì về cái ở bên nhau mà vẫn xa nhau.  Anh tự hỏi thủy triều dâng làm sao và những ngọn sóng lăn tăn thế nào vào buổi chiều hôm ấy, trên bờ biển Jersey, khi Martha nhìn thấy hòn cuội, cúi xuống nhặt và cứu nó ra khỏi vùng đất này. Anh tưởng tượng đôi chân trần.  Martha là một nhà thơ, bản tính thi sĩ, đôi chân nâu trần, móng chân không sơn phết, đôi mắt lạnh giá và buồn bã như mặt đại dương của tháng Ba, và tuy đau đớn anh cũng tự hỏi nàng đã đi dạo biển cùng ai chiều hôm ấy.  Anh tưởng tượng đôi bóng bước dài theo dải cát nơi mọi vật bên nhau nhưng vẫn xa nhau.  Đó là một cơn ghen bóng gió, anh biết, nhưng anh không thể tự kềm chế.  Anh yêu nàng nhiều quá. Trong lúc hành quân, qua những ngày nóng bức đầu tháng Tư, anh ngậm hòn cuội trong mồm, dùng lưỡi đảo nó, nếm mùi muối biển và vị ẩm ướt.  Tâm hồn anh đi hoang. Anh khó lòng tập trung tư tưởng vào cuộc chiến tranh này.  Thỉnh thoảng anh la mắng lính của anh phải đi cách xa ra, chú ý đến chung quanh, nhưng chính anh rồi cũng rơi vào cơn mơ mộng, tưởng tượng, đi chân trần dọc bờ biển, với Martha, không mang gì trên người.  Anh cảm thấy mình đang lên, mặt trời và sóng biển và gió mơn man, chỉ có tình yêu và một nỗi nhẹ thênh thang.

 

Những Điều Họ Đeo Mang, p. 1 – Tác giả: Tim O’Brien

Tim O’Brien (1946 – ) là người được trao giải văn học National Book Award năm 1979 với quyển Going After Cacciato.  Ông cũng là tác giả của quyển In the Lake in the Woods, được Tạp chí Time mệnh danh là Tác Phẩm hay nhất trong năm 1994; The Things They Carried, là tác phẩm vào chung kết của giải Putlizer và được giải National Book Critics Circle Award; quyển If I Die in a Combat Zone, hồi ký về chiến tranh Việt Nam, và hai tác phẩm khác.

Thiếu úy Jimmy Cross cất giữ những lá thư từ một cô gái tên là Martha, sinh viên năm thứ ba Đại học Mount Sebastian College ở New Jersey .  Những lá thư này không phải là những lá thư tình, tuy nhiên Thiếu úy Cross vẫn nuôi hy vọng, vì thế anh gấp chúng lại gói bằng bao nhựa và xếp tận ở dưới đáy ba lô. Những buổi chiều, sau một ngày hành quân, anh đào hố cá nhân, rửa tay bằng nước chứa trong bi-đông, mở cái bao nhựa có những lá thư, cầm nhón những lá thư đưa chúng ra dưới ánh sáng một cách trịnh trọng vờ là những bức thư tình. Anh tưởng tượng những buổi cắm trại lãng mạn ở trong núi White Mountains ở tiểu bang New Hampshire .  Anh cũng thỉnh thoảng liếm nắp phong bì, biết là cô nàng cũng đã liếm bì thư.  Hơn tất cả, anh muốn được Martha yêu như anh đã yêu nàng, tuy nhiên những lá thư chỉ nói chuyện bâng quơ, không đề cập gì đến tình yêu.  Nàng vẫn còn là một cô thiếu nữ trinh nguyên, anh chừng như có thể cam đoan điều này. Nàng học ngành văn chương ở Đại học Mount Sebastian và nàng viết những lá thư rất hay nói về các vị giáo sư, các bạn học, và những kỳ thi giữa khóa.  Nàng nói nàng rất nễ phục nhà văn Chaucer và rất yêu thích nhà văn Virginia Woolf.  Nàng thường trích dẫn thơ nhưng tuyệt nhiên không đả động gì đến chiến tranh, ngoại trừ câu nói, Jimmy anh phải bảo trọng lấy thân.  Lá thư cân nặng 10 ounces (283g), cuối lá thư được ký tên với Thương, Martha, nhưng Thiếu úy Cross hiểu rằng chữ Thương ở đây chỉ là một thói quen người ta chấm dứt lá thư chứ không có nghĩa thương yêu như anh vẫn đôi khi giả vờ với chính mình là nó có nghĩa thương yêu thật sự. Khi chiều buông, anh cẩn thận cất những lá thư vào ba lô.  Thong thả, hơi lơ đễnh, anh đứng lên di chuyển giữa đội ngũ, kiểm soát chung quanh, và khi trời hoàn toàn tối đen anh trở về hố cá nhân nhìn đêm tối, tự hỏi có thật Martha vẫn còn là một thiếu nữ trinh nguyên không.

Những thứ họ đeo mang phần lớn được xác định bởi vì sự cần thiết. Giữa những thứ cần thiết có những thứ ít cần thiết như đồ mở hộp P-38, dao con loại bỏ túi, nguyên liệu làm thành viên để đốt lửa, đồng hồ đeo tay, thẻ bài, thuốc chống muỗi, kẹo cao su, kẹo viên, thuốc lá, muối viên, mấy gói bột Kool-Aid để pha nước uống, bật lửa, diêm quẹt, kim chỉ, thẻ lãnh lương, thẻ lãnh phần thức ăn, hai hay ba bi-đông nước. Tổng cộng những thứ này cân nặng từ 6.5 kg cho đến 9 kg, tùy theo thói quen và sức tiêu thụ nhiệt lượng của mỗi người. Henry Dobbins, là một anh chàng to béo, đã mang theo thức ăn nhiều hơn mức cố định, hắn đặc biệt rất yêu thích loại đào hộp ngâm nước đường thật ngọt để trên mặt bánh bông lan.  Dave Jensen người rất quan tâm việc vệ sinh cho mồm và răng mang theo bàn chải đánh răng, dây tơ xỉa răng, và vài thỏi xà bông nho nhỏ loại người ta hay dùng trong khách sạn hắn đã trộm trong R&R ở Sydney , Australia .  Ted Lavender, người hay sợ hãi, luôn luôn mang theo cần sa cho đến khi hắn bị bắn vào đầu phía bên ngoài làng Than Khe vào giữa tháng Tư.  Bởi vì cần thiết và cũng bởi vì tiêu chuẩn hoạt động của quân đội, tất cả đều phải đội nón sắt nặng khoảng 250 g kể cả vải lót và vải bọc.  Họ phải mặc áo lính và quần lính.  Một vài người mang theo quần lót. Họ phải mang giày bốt, nặng một kg – và Dave Jensen mang theo ba đôi vớ với một chai bột trừ mùi hôi trong giày.  Cho đến khi hắn bị bắn, Ted Lavender mang theo khoảng chừng 2 g cần sa loại tốt nhất, bởi vì đối với hắn những thứ này thật cần thiết.  Mitchell Sanders, chuyên viên truyền tin, mang theo condom. Norman Bowker mang nhật ký. Rat Kiley mang truyện tranh.  Kiowa, một người rất tin đạo Baptist, mang quyển thánh kinh Tân Ước quà của ông bố, người từng dạy tôn giáo mỗi Chủ nhật ở thành phố Oklahoma thuộc tiểu bang Oklahoma . Như dùng để làm hàng rào chắn ngăn ngừa chuyện không hay, Kiowa mang theo trong lòng cái nghi kỵ người da trắng hắn đã thừa hưởng của người bà với cái mã tấu đi săn của người ông.  Bởi vì đó là những điều cần thiết. Bởi vì mặt đất thì bị cài mìn và đặt bẫy, tiêu chuẩn hoạt động bắt buộc mỗi quân nhân phải mặc áo giáp bên ngoài là vải ny lông bên trong có lót thép. Cái áo giáp này nặng 3kg, nhưng trong những ngày nóng bức dường như nó nặng nề hơn.  Bởi vì bạn có thể chết rất nhanh, mỗi người mang theo ít nhất là một một tấm băng lớn có sức ép thật mạnh, thường thường được cất trong mũ sắt để tiện dùng.  Bởi vì ban đêm thường khá lạnh và mùa mưa rất ướt át, mỗi người phải mang một cái poncho màu xanh lá cây vừa có thể che mưa vừa có thể dùng làm cái lều tạm trú.  Với tấm vải lót kèm theo, cái poncho nặng khoảng 900g nhưng công dụng rất đáng kể.  Trong tháng Tư, thí dụ, khi Ted Lavender bị bắn, họ dùng cái poncho của hắn để gói thân thể hắn, rồi khiêng hắn băng đồng, để đưa lên phi cơ trực thăng chở hắn đi.

Họ gọi những thứ đó là legs hay grunts.  Tiếng lóng dùng để chỉ những thứ nặng nề nhọc nhằn ngoài sức diễn tả.

Mang một vật gì thì gọi là khuân, như khuân của nợ hay như con lạc đà khuân cái bướu trên lưng của nó. Như Thiếu úy Jimmy Cross đã khệ nệ khuân cái tình yêu dành cho Martha lên đồi và qua đầm lầy.  Chữ khuân ở đây ám chỉ một sức trì trệ ray rức nặng nề hơn nghĩa của nó.

Hầu như người nào cũng khuân theo một vài tấm ảnh.  Trong ví, Thiếu úy Cross đã giữ hai tấm ảnh của Martha.  Tấm ảnh đầu là một tấm ảnh màu Kodac có viết chữ Thương, dù anh biết là nó không chứa đựng cái nghĩa như thế. Nàng đứng tựa vào một tường gạch.  Đôi mắt xám không biểu lộ vui buồn, môi hé mở khi nàng nhìn thẳng vào máy ảnh.  Đôi khi trong đêm tối Thiếu úy Cross tự hỏi ai đã chụp cho nàng tấm ảnh ấy bởi vì anh biết nàng có nhiều bạn trai, bởi vì anh yêu nàng quá, và bởi vì anh nhìn thấy cái bóng của người chụp ảnh trải lên trên tường gạch.  Tấm ảnh thứ hai được cắt từ quyển niên giám của trường Mount Sebastian năm 1968.  Đó là một bức ảnh chụp trong lúc di động – đội bóng chuyền nữ – và Martha đang cúi người nằm rạp song song với mặt đất, nhoài người vói quả banh, lòng bàn tay của nàng thật rõ nét, lưỡi mím chặt giữa đôi môi, nét biểu hiện rất thật và đầy tranh đua.  Không thấy rõ những giọt mồ hôi. Nàng mặc quần thể thao ngắn màu trắng.  Đôi chân của nàng, anh nghĩ, chắc bẩm là đôi chân xử nữ, khô và nhẵn, đầu gối bên trái hơi co lại và chịu toàn thể sức nặng của nàng, chừng hơn 45 kg. Thiếu úy Cross nhớ là đã từng sờ vào cái đầu gối này.  Trong bóng tối của một rạp chiếu phim, anh còn nhớ, phim Bonnie and Clyde, Martha đã mặc một cái váy bằng vải tuýt xô, phim đang chiếu màn cuối, khi anh sờ đầu gối nàng, nàng quay lại nhìn anh bằng cái nhìn vẻ buồn bã nhưng rất tỉnh táo làm anh phải rút tay về. Tuy nhiên anh nhớ mãi cái cảm giác của cái váy và cái đầu gối dưới làn vải và tiếng súng đã giết chết Bonnie cùng với Clyde, anh đã hổ thẹn như thế nào, chậm chạp và dồn nén như thế nào.  Anh nhớ đã hôn nàng đêm ấy, lúc chào từ giã ở cửa phòng nội trú của sinh viên.  Ngay lúc ấy, anh nghĩ, anh nên làm một cái gì thật gan dạ.  Anh nên bế nàng leo những bậc thang vào phòng cột nàng vào giường và sờ cái đầu gối bên trái ấy suốt đêm.  Đáng lẽ anh nên mạo hiểm làm chuyện ấy. Rồi mỗi khi anh nhìn tấm ảnh anh lại nghĩ thêm nhiều điều mới mà anh nên làm.