Những điều thú vị chung quanh chuyện ăn thịt chó

Cún Bơ của Bảo Bình - Blog Những Dòng Thương Nhớ
Cún Bơ của Bảo Bình – Blog Những Dòng Thương Nhớ.

Người châu Âu, có nhiều đồng cỏ nên chuyên về nuôi bò, cừu, và dê. Chó khỏe, chạy nhanh, khôn ngoan, có thể giúp chủ rất nhiều trong việc lùa đàn thú về trại hay săn tìm những con thú đi lạc. Do nhiều năm tiếp xúc với chủ nhân nên tình cảm thân thiện giữa thú và người phát triển. Đây có thể là nguyên nhân vì sao người phương Tây không ăn thịt chó. Tuy nhiên, ra luật bảo vệ súc vật nói chung, chó nói riêng, người ta chưa chắc đã nhân từ và người ăn thịt chó không hẳn là người dã man. Vài người trong họ hàng nhà tôi, bằng cấp đầy mình, văn minh văn hóa hết mực, tính tình hòa nhã tử tế, thích ăn thịt chó, bảo rằng “nhất trắng, nhì vàng, tam khoang, tứ mực.” Ai đã từng xem phim Điệp Viên 007 chắc còn nhớ ông trùm SPECTRE, tay luôn luôn ôm con mèo nhưng giết người như giết ngóe. Thủ hạ của ông ta nếu không thực hiện nhiệm vụ thành công thì ông hạ thủ chẳng lưu tình.

Cún của gia đình chủ bút Gió O
Cún của gia đình chủ bút Gió O

Từ năm 1986, người Đức cấm bán hay ăn thịt chó. Tuy nhiên, vào những năm có chiến tranh hay thiếu thốn, thịt chó được bán công khai. Từ năm 1898 cho đến năm 1925, The New York Times đăng nhiều tin dân Đức bán và ăn thịt chó[1]. Những bài báo này, làm tôi tự hỏi, liệu đây có phải là một hình thức người Mỹ kỳ thị người Đức vì họ là phe đối nghịch với Hoa Kỳ. Năm 1933 cho đến năm 1938, đảng Nazi cho ban hành bộ luật bảo vệ thú vật soạn thảo rất qui mô. Bộ luật này bao gồm luật sát sanh theo phép Kosher, luật cấm săn bắn, luật chuyên chở thú vật từ nơi này đến nơi khác bằng xe  hay tàu hỏa. Arnol Arluke và Boria Sax cho rằng Nazi soạn bộ luật này với âm mưu sẽ xem loài người như súc vật chứ không xem súc vật như con người.[2] Nếu bạn đọc trang Dog Meat của Wikipedia sẽ thấy những người ăn thịt chó ở Hoa Kỳ, vào thời rất xa xưa, khoảng hơn hai chục năm gần cuối thế kỷ mười chín, và đầu thế kỷ 20, đều là người da đỏ. Người Hoa-kỳ thuở xưa, chiếm đất người da đỏ, tàn sát một số lớn, đẩy số còn lại vào xó rừng, không có điều kiện để nuôi cừu dê bò, nên họ ăn thịt chó. Dễ hiểu thôi.

Cún của face book Lilac Tran. Ngồi sẵn trong nồi đây này.
Cún của face book Lilac Tran. Ngồi sẵn trong nồi đây này.

Ở Hoa Kỳ, chữ dog được dùng để chỉ sausage (thịt dồi, xúc xích). Vào năm 1845 người ta phát hiện trong thịt dồi có pha lẫn thịt chó từ đó phát xuất chữ hot dog. Việc bắt trộm chó không chỉ xảy ra ở Việt Nam mà còn ở nhiều quốc gia khác, Nhật Bản và Hoa Kỳ chẳng hạn. Những năm người ta dùng phương pháp vivisection mổ động vật có xương sống lúc đang sống để quan sát hoạt động nội tạng của động vật vẫn còn đang tiếp nhận tín hiệu của não bộ, chó thường bị bắt trộm đem bán cho các phòng thí nghiệm. Năm 1891, ở tiểu bang Indiana, môn thuốc dùng để trị bệnh lao phổi là thịt chó.

Người ta có đủ thứ niềm tin để lý luận ăn thịt chó là cần thiết. Người Ba Lan dùng mỡ chó để trị bệnh. Người Trung quốc tin là trong thịt chó có vị thuốc. Mùa Đông ăn thịt chó làm cho người ấm. Ngược lại, người Hàn quốc tin là ăn thịt chó có thể điều tiết nhiệt độ trong người, hoặc giải nhiệt.  Họ ăn thịt chó nhiều nhất vào ba ngày nóng nhất trong năm.

lassie
Lassie – Chó của nhà văn Đặng Đình Túy

Đa số người Nam Hàn không ăn thịt chó, nhưng có một số ít người có quan niệm chọn món ăn là quyền tự do cá nhân. Năm 1984 họ cấm bán thịt chó nhưng không kiểm soát nghiêm ngặt ngoại trừ lúc tổ chức Thế Vận Hội ở Seoul. Tháng 3/2008 một nhóm người vận động đòi được quyền công khai bán thịt chó, mở nhà hàng thịt chó nhưng không được chấp thuận. Loại chó người Nam Hàn nuôi để ăn thịt là loại chó đặc biệt thuộc giống Nureongi hay Hwangu, không phải pet.

hôn nhau – ảnh của Bà Tám

Người miền Bắc Việt Nam ăn thịt chó nhiều hơn người miền Nam. Người ta tin là ăn thịt chó sẽ được cường dương và giải xui nhất là vào dịp cuối năm và cuối tháng âm lịch. Một con chó độ 20 kg có thể bán được 100 Mỹ kim, tương đương với một tháng lương trung bình của công nhân vì thế chó ở VN thường hay bị trộm. Không có tài liệu để kiểm chứng cụ thể, người ta nói rằng giới Công giáo thường hay ăn thịt chó nhất là vào dịp Giáng sinh. Tôi, người viết bài này, nghĩ rằng rất có thể đây là sự biến thể của nghi thức tế lễ từ thời xa xưa của người Celtic sống ở Anh đến Việt Nam theo các nhà truyền giáo. Người ta thường tế lễ bằng dê và cừu, nhưng sang đến Việt Nam thì dê và cừu biến thành nai đồng quê.

Do ảnh hưởng của Phật giáo, Thiền giáo, và Thần đạo, người Nhật không ăn thịt chó. Tuy nhiên, thịt chó rất phổ biến ở Nhật-bản mãi cho đến năm 675 sau Công Nguyên khi hoàng đế Temmu ra lệnh cấm ăn thịt chó từ tháng 4 cho đến tháng 9. Vị Hoàng đế này ra trận thường xuyên, khi đi đánh giặc ông thường mang theo con chó. Ông cho rằng ăn thịt chó sẽ mang sự xui xẻo đến cho ông. Năm 2008 Nhật Bản nhập cảng 5 tấn thịt chó từ Trung quốc trong khi chỉ mua vào 4, 714 tấn thịt bò.

nhìn cái gì
Nhìn cái gì? Ảnh của bà Tám.

Bạn đọc thích xem phim, thế nào cũng biết phim Hachiko. Phim dựa vào câu chuyện có thật và đẹp như huyền thoại. Chủ của Hachiko là giáo sư dạy ở đại học Tokyo. Hằng ngày Hachiko theo chủ ra nhà ga Shibuya đưa ông đi làm và buổi chiều ra nhà ga đón ông về. Ông đột ngột qua đời trong lúc giảng bài (vì thế không về bằng tàu hỏa). Hachiko đợi chủ ở nhà ga hằng ngày cho đến khi qua đời, nhất định không rời nhà ga này dù vợ con của ông giáo sư tìm cách đưa chó về và dời chỗ ở. Phim này về sau được quay lại bởi đạo diễn Lasstrom và diễn viên là Richard Gere. Người ta ngưỡng mộ Hachiko đến độ đúc tượng đồng con chó này. Phim làm tôi tưởng tượng tất cả mọi người đàn ông Nhật đều đẹp trai và yêu chó như Gere vì thế hơi ngỡ ngàng khi thấy người Nhật nhập cảng thịt chó nhiều hơn thịt bò. Sau khi người Nhật đầu hàng vào năm 1945, toàn nước Nhật chỉ còn lại 16 con chó giống Akita. Đây là loại chó săn, mõm ngắn, tai vểnh, lông dày, sống ở miền bắc của Nhật, nơi gọi là xứ tuyết, rất khôn ngoan và trung thành. Vào những năm chiến tranh, thực phẩm khan hiếm, chính quyền và quân đội Nhật kêu gọi toàn dân bán chó, nộp chó, để phục vụ trong chiến tranh. Để thuyết phục người dân, tượng chó Hachiko bị hạ xuống và đem dấu đi. Bộ da chó được dùng làm lớp lót bên trong áo khoác của quân phục. Ai có chó mà không chia sẻ thịt với láng giềng bị xem là ích kỷ. Trong thời gian này chó thường bị ăn trộm hay bắt cóc.[3]

hóng chuyện
Hóng chuyện. Ảnh của bà Tám

Tin một người ăn trộm một con chó hai lần để đem bán cho người ta giết lấy thịt khiến dân cư mạng bàn tán và chia thành hai phái, một bên đòi giết tên trộm, bên kia kêu lên dù gì cũng không thể lấy mạng người để trả thù cho chó. Chó có quý hơn mạng người hay không? Chó không biết nói nên mình không biết câu trả lời của nó. Giữa loài người, dù bạn đứng ở phía nào, nếu là một người có lòng nhân, trả lời câu hỏi này thế nào cũng có chút áy náy xót xa. Dĩ nhiên, tôi không đồng tình với chuyện giết người đòi mạng nhưng trộm chó là một hành động sai lầm cần phải được xét xử bằng pháp luật. Sự giận dữ của đám đông đòi xử tử người trộm chó có thể là một cách biểu lộ là người dân không còn tin tưởng vào pháp luật của nhà cầm quyền đương nhiệm. Mức độ trừng phạt phải xứng đáng với tội phạm pháp nhưng như thế nào thì xứng đáng? Giá một con chó bằng một tháng lương, phạt tiền gấp đôi hay gấp ba cộng thêm phí tổn tòa án? Còn nỗi đau đớn của người bị mất con thú mình nuôi và yêu thương thì phải bồi thường bao nhiêu? Mấy thằng trộm ấy làm gì có tiền mà phạt! Nhà tù ở đâu có nhiều đủ để chứa và nuôi cơm mấy tên trộm chó chứ! Ngay cả ở Hoa Kỳ, tội hành hạ súc vật cũng khó được xử lý theo đúng luật pháp vì không đủ tiền và nhân lực. Xử chuyện người còn không xuể ai hơi sức đâu mà quan tâm đến chuyện chó!

đối diện
đối diện – Ảnh của bà Tám

Không phải chỉ có nước nghèo và người nghèo mới ăn thịt chó. Hàn quốc và Nhật bản là hai nước giàu mạnh về kỹ nghệ, và Nhật có truyền thống văn hóa lễ độ bậc nhất thế giới cũng tiêu thụ thịt chó. Người Mỹ không ăn thịt chó nhưng không có quyền áp đặt lên các quốc gia khác quyền tự do ăn uống. Người Việt ăn thịt chó không phải vì bắt chước người Hàn, người Nhật, hay người Trung. Cũng không phải vì người Tây phương không ăn, mình không ăn. Cái ý tưởng, nuôi chó như nuôi cừu dê heo bò lấy thịt và thịt chó ở Việt Nam sẽ là một trong những món ngon nhất thế giới, là một ý tưởng hay và có thể là một hình thức kinh doanh đắc lợi. Loài người từ bấy lâu nay vẫn quan niệm thú vật sinh ra là để phục vụ con người. Người ta giết gấu lấy lông làm áo khoác, lấy mật làm thuốc, lấy bàn tay làm món ăn quí; giết voi giết tê giác lấy ngà; giết trăn và cá sấu lấy da lấy thịt. Nuôi thú vật hay giết thú vật đều là một kỹ nghệ lớn, chẳng những nuôi sống mà có khi còn đưa loài người đến chỗ giàu có và đầy quyền lực. Ngay cả khi yêu thú vật người ta cũng vô tình hành hạ thú vật, như nhốt chim trong lồng, thiến chó thiến mèo để đoạn sản, thậm chí có người còn thuê bác sĩ thú y rút móng mèo để khỏi cào phá nệm ghế nệm giường. Thương yêu chó nhưng chán thì đem bỏ. Chó bị bỏ thì bị đem vào trại nuôi thú hoang, lâu ngày không người nhận cũng bị đem giết. Ngày xưa người ta xem chó là một cái máy không biết đau, nhưng ngày nay chúng ta thấy chó biết đau và biết buồn khi mất chủ. Chó vắng chủ không buồn ăn. Lâu không gặp, gặp lại vẫn nhận ra chủ. Chó vẫn muốn được sống hoang hơn là bị bắt vào trại nuôi chờ bị giết. Ở trại nuôi thú hoang, những con chó không đẹp không có cơ hội được có người nhận nuôi bị hóa kiếp sớm hơn những con chó đẹp khác. Người ta giết chó thay vì để cho chó sống hoang để tránh trường hợp chó bị bệnh điên và cắn người. Có nghĩa là, chung qui cũng chỉ vì lợi ích của loài người.

Cho chó uống nước - Ảnh của bà Tám.
Cho chó uống nước – Ảnh của bà Tám.

Sau khi ngâm cứu loạt bài về thịt chó này tôi cũng hiểu rõ tôi hơn. Nếu thật sự yêu thú vật thì người ta nên ăn chay. Tôi không ăn chay vì vẫn còn thích ăn thịt. Tôi chưa hề ăn thịt chó nên không biết thịt chó ngon như thế nào. Có được thử món chân lợn giả cầy nhưng không thấy hấp dẫn lắm. Không thể nào biết được, trước khi lâm chung tôi lại không gào thét đòi ăn một miếng thịt chó, giống như một nhân vật ni cô suốt đời ăn chay lại đòi húp một chút nước mắm trước khi qua đời. Với tôi, một chàng trai ôm con chó nhỏ trên tay, hay cúi người rót nước vào cái đĩa cầm trên tay cho chó uống, thấy đáng mến hơn là nhìn thấy những người mặt đỏ lựng hô hào hò hét “dzô, dzô” trước đĩa thịt chó và mắm tôm. Nếu tôi đi ngang một cửa hàng thịt chó, gia vị thơm lừng, và tôi đang đói meo thì có thể tôi sẽ cầm lòng không đậu. Bạn đọc đến đây sẽ cười bảo rằng tôi (một bà già rỗi hơi) là người ba phải, nhiều trang chữ chẳng đưa đến một kết luận nào, hay đứng hẳn về phía nào. Thế viết bài này để làm gì? Để thỏa mãn tính tò mò, để biết vì sao người ta ăn hay không ăn thịt chó. Biết để làm gì. Chẳng làm gì cả. Biết thôi, bộ chẳng đủ hay sao?

Bạn nỡ lòng nào ăn thịt những con chó đáng yêu như thế này!


[1] http://en.wikipedia.org/wiki/Dog_meat

[2] http://en.wikipedia.org/wiki/Animal_rights

[3] Sherrill, Martha, “Dog Man” – An Uncommon Life on a Farwaway Mountain, New York, The Penguin Press.

Để trả lời một câu hỏi – tại sao người Mỹ không ăn thịt chó?

Tại sao người Mỹ không ăn thịt chó?

Người Mỹ, không ăn thịt chó (và mèo) vì họ xem đó là một hành động dã man, và độc ác. Họ xem chó, mèo là bạn, là người thân trong gia đình. Ăn thịt chó (mèo), ở Mỹ và một số nước Tây phương, là một điều cấm kỵ (taboo), một thứ luật vô hình của xã hội mà ai cũng muốn tuân theo nếu không sẽ bị xã hội tẩy chay.

Mấy quyển sách tôi mang về từ thư viện[1] không trực tiếp trả lời cho tôi hai câu hỏi đơn giản, vì sao người Mỹ không ăn thịt chó và có luật cấm ăn thịt chó hay không. Đọc lướt qua những quyển này tôi có cảm tưởng tôi là một người muốn tìm cách giải một bài toán nhân lại gặp sách toán về phương trình vi phân hay đại số tuyến tính. Tìm trên mạng tôi thấy blog của luật sư Matt Pfau. Ông cho biết, có 44 tiểu bang người ta có thể làm thịt chó (một cách nhân đạo), ăn thịt chó, và mời cả láng giềng cùng nhậu. Tuy nhiên, có 6 tiểu bang cấm ăn thịt chó; đó là Virginia, New York, California, Georgia, Michigan và Hawaii. Cùng là ngăn cấm, nhưng cách cấm của mỗi tiểu bang mỗi khác. Virginia cấm giết thú vật nếu không cần thiết, ngoại trừ thú vật dùng trong nông nghiệp. Và chó không phải là thú nông nghiệp. New York bảo rằng giết hay chặt mổ chó (pet) để làm thực phẩm cho người hay súc vật là bất hợp pháp. California cấm giết pet. Georgia cấm bán chó (hay mèo) để ăn thịt. Michigan không thẳng thừng cấm ăn thịt chó nhưng bán thịt chó hay ngựa phải để nhãn hiệu cho minh bạch. Vi phạm sẽ bị tội (misdemeanor). Hawaii ra luật giết hay bán chó (và mèo) cho người ta tiêu thụ là bất hợp pháp. Luật này có hiệu lực cho đến năm 2100.[2]

Năm 1989, hai người gốc Cambodia sống ở miền nam của tiểu bang California bị bắt tội độc ác với thú vật. Họ làm thịt một con chó con loại German Shepherd. Tòa không kết tội hai người này, với lý do, giết chó cũng giống tương tự giết thịt thú vật nuôi trong ngành nông nghiệp. Hội bảo vệ thú vật ra sức vận động, sau đó, California ban hành luật cấm ăn thịt chó hay mèo.  Tiếp theo, luật được nới rộng ra, bao gồm tất cả các loại pet khác. Dân Mỹ có những hội thiếu nhi, thí dụ như hội 4-H, trong đó trẻ em tham gia nuôi thú nông nghiệp như bò, heo, dê, thỏ, v. v… . Đến mùa, các em đem gia súc đi thi lấy giải thưởng. Vì nuôi những con thú nông nghiệp này nhiều năm, các em xem những con thú này như là pet. Các nhà thi hành luật pháp phải làm ngơ khi những con thú, vừa là thú nông nghiệp vừa là pet, này bị đem bán và đưa vào lò sát sinh.[3]

Tuy chỉ có sáu tiểu bang Hoa Kỳ ra luật tương đối rõ ràng, cấm ăn thịt chó (và mèo), người Tây phương có luật bảo vệ súc vật từ xa xưa.

Năm 1822, Richard Martin, người Anh (1754 – 1834), đã vận động đưa ra luật Martin cấm đánh đập, hành hạ, bỏ đói, đối xử tệ với các loại thú dùng trong nông nghiệp như lừa, ngựa, trâu, bò, cừu… Người nào vi phạm sẽ bị phạt năm bảng Anh hoặc là 2 tháng tù.[4] Tuy nhiên luật này không mấy khi được thực hiện nghiêm túc.

Cũng trong năm 1822, New York ban hành luật cấm hành hạ súc vật, tuy nhiên không trừng phạt nặng.

Năm 1835 Cruety to Animal Act được ban hành, cấm đá gà, cá độ, đấu chó.

Năm 1850, Pháp ra luật Loi Grammont cấm đối xử độc ác với gia súc. Luật này gây tranh luật sôi nổi vì người Pháp thích xem đấu bò, do đó họ không biết bò đấu có bị ghép vào thành phần gia súc hay không.

Năm 1876, Anh quốc ban hành Cruelty to Animal Act 1876 cấm hành hạ độc ác, làm thú vật đau đớn, trong những cuộc thí nghiệm khoa học sau khi có một vụ mổ chó (vivisection) lúc còn đang sống để xem sinh hoạt của các bộ phận bên trong cơ thể mà không có thuốc gây mê.

Năm 1966, Tổng-thống Hoa Kỳ Lyndon Johnson ban hành luật  liên bang Animal Welfare Act 1966 để quản lý tất cả các loại thú được dùng trong thí nghiệm khoa học. Và từ hơn trăm năm trước cho đến bây giờ rất nhiều đạo luật được ban hành để quản lý cuộc sống và làm giảm sự hành hạ của con người đặt lên thú vật.

Vào thế kỷ 17 ảnh hưởng bởi lý thuyết của nhà toán học kiêm triết gia René Descarte, thú vật được xem như những cái máy tự hoạt động, Nicholas Malebranche bảo rằng “Thú vật ăn không biết ngon, kêu la mà không đau, không biết là chúng đang lớn lên, không biết ao ước, chẳng biết sợ hãi, và không hiểu biết gì cả. “[Animals] eat without pleasure, cry without pain, grow without knowing it; they desire nothing, fear nothing, know nothing. — Nicolas Malebranche (1638–1715).[5]

Đến bây giờ, quan niệm của người Tây phương nói chung, và người Mỹ nói riêng, cách đối xử với pet (tôi xin được dùng chữ pet từ đây về sau, không dịch ra là thú nuôi trong nhà làm bạn được yêu mến như người trong gia đình), đã thay đổi rất nhiều, tạo một khoảng cách rất xa với cách đối xử với thú vật của người Việt Nam. Người Mỹ không còn xem thú vật là tài sản của con người nữa. Họ nâng thú vật, nhất là pet, lên địa vị gần với loài người hơn. Pet là bạn, là người đồng hành, người thân trong gia đình, thậm chí là người thừa hưởng của cải khổng lồ sau khi chủ nó qua đời. Để theo kịp cuộc sống và đối phó với sự phức tạp của đời sống con người, người Mỹ đặt ra luật xử sự quan hệ của loài người với thú vật (Animal Law). Khi hai vợ chồng ly dị nhau, ai sẽ là người được nuôi con chó. Cặp vợ chồng John Kennedy, Jr. khi chưa thành vợ chồng, có lúc hục hặc đòi bỏ nhau, báo chí bàn tán um sùm vì cả hai ai cũng dành nuôi con chó. Bà hoàng keo kiệt Hemsley khi chết để lại tài sản kếch sù cho con mèo. Còn lại 44 tiểu bang tuy không có luật rõ ràng là cấm ăn thịt chó nhưng các bạn nhậu chớ vội mừng. Họ có đủ thứ luật lệ về y tế, vệ sinh, thực phẩm để ngăn cấm người ta ăn thịt chó. Ai ăn thịt chó trong nhà, trong rừng, họ không biết thì thôi, chứ nếu họ biết được, và nhất là bạn không phải là người da trắng sinh ra lớn lên là công dân của đất nước này thì họ có đủ cách để làm bạn nhục nhã, tốn kém, khổ sở để bạn cảm thấy thà là không được ăn, dù là món ngon nhất trên đời, còn hơn phải qua cái quá trình xử tội bạn bằng luật pháp của nước này. Thí dụ như, muốn nấu thịt chó bạn phải giết chó, mà giết chó thì phạm vào tội hành hạ súc vật. Bạn có thể bị kết tội không giữ vệ sinh, gây bệnh cho mọi người, hoặc người ta chỉ nghi ngờ vết máu đó là máu người rồi điều tra tới lui thì bạn cũng chết dở, và còn biết bao nhiêu luật địa phương mà chính người địa phương cũng không biết đến.

Tạm ngưng ở đây, lần sau tôi sẽ kể các bạn một vài trường hợp đặc biệt liên quan đến chuyện ăn thịt chó.

[1] “Law 101 – Everthing You Need to Know About the American Legal System” của Jay M. Fienman, “Just A Dog – Understanding Animal Cruelty and Ourselves” của Arnold Arluke, và “The Animal Rights Debate – Abolition or Regulation?” của Gary L. Francione và Robert Garner.

[2] http://pickardparry.com/2015/02/is-it-legal-to-eat-dog/.

[3] Hopkins, Jerry, “Extreme Cuisine – The Weird & Wonderful Foods that People Eat”, Hong Kong, Periplus, 2004,  p. 19.

[4] http://en.wikipedia.org/wiki/Animal_rights.

[5] http://en.wikipedia.org/wiki/Animal_rights.

Thắc mắc chung quanh chuyện thịt chó

Hôm nọ tôi thắc mắc, tại sao người Việt ăn thịt chó. Có người nói vì nghèo. Nghĩ cũng có phần đúng. Người Việt đã trải qua nhiều thảm họa, trong đó có trận đói năm Ất Dậu, người chết đói rất nhiều. Khi thiếu thức ăn, đói trầm trọng thì ăn thịt chó thay thế thịt lợn thịt bò, người ta ăn bất cứ thứ gì có thể ăn được để sinh tồn. Tuy nhiên, tại sao sau khi hết nghèo đói người ta vẫn tiếp tục ăn thịt chó? Vì thịt chó ngon. Sau nhiều năm ăn thịt chó, người ta rút kinh nghiệm, biết chế biến nên món thịt chó ngon và đầy hương vị. Lâu dần, người ta ăn vì quen miệng. Sau đó người ta ăn, có thể, vì nhớ những kỷ niệm đi cùng với món thịt chó như tình bạn nhậu chung quanh bàn tiệc, hay những ân tình chia xẻ với nhau từ lúc hàn vi… Người ta cũng ăn thịt chó vì phong tục của xã hội Việt Nam chấp nhận, cho phép chuyện ăn cũng như mua bán thịt chó (và mèo nữa chứ.) Continue reading Thắc mắc chung quanh chuyện thịt chó

Để tự trả lời vài câu hỏi

Hôm nọ tôi có một số thắc mắc. Tại sao người Mỹ không ăn thịt chó? Có phải họ không ăn vì bị cấm không? Người Mỹ có luật cấm ăn thịt chó hay không? Chuyện không có gì là quan trọng nhưng đã thắc mắc thì tôi tự tìm câu trả lời.

Thường thường, hễ thấy nơi nào có bảng cấm thì biết là nơi ấy có sự vi phạm điều bị cấm. Thí dụ như đi hiking, đi rừng leo núi, trong rừng của địa phương (county park) hay của tiểu bang (state park) thấy có bảng cấm trượt băng trên một cái hồ cạn hay đầm lầy, tôi đoán là mùa đông người ta trượt băng ở đây, đã từng có tai nạn. Những bảng cấm như thế, là để bảo vệ người sử dụng rừng, và cũng để bảo vệ chính quyền. Nếu người ta vi phạm điều cấm, họ không thể kiện tụng chính quyền.

Có khi tôi thấy bảng cấm ngồi ăn trong xe, thường thì gặp bảng cấm này ở chung quanh tiệm fast food. Thấy vậy thì biết người ta có ngồi ăn trong xe.

Nhưng tôi chưa hề thấy bảng cấm bán thịt chó, hay cấm ăn thịt chó. Nghĩ cho cùng, khó mà cấm người Mỹ một điều gì nếu không chính đáng vì họ biết quyền tự do dân chủ dành cho mỗi cá nhân. Người ta bán thịt cừu, thịt bò, thịt heo, thịt gà vịt, cá, ngỗng, thỏ, gà tây, chim cút nhưng không ai bán thịt chó. Tại sao?

Đôi khi tôi tự hỏi người Mỹ có ăn thịt ngựa, thịt trâu không? Những người thích săn bắn chắc là ăn thịt nai. Mình không biết, nhưng thầm lén chắc thế nào cũng có người Mỹ ăn thịt chó. Người Mỹ sang Việt Nam có lẽ cũng có người ăn thịt chó. Chuyện gì cũng có thể xảy ra dưới ánh mặt trời, và kể cả khi không có ánh mặt trời. Ngay cả ăn thịt người thỉnh thoảng báo chí Mỹ cũng đăng, và tiểu thuyết Mỹ cũng có vài quyển nổi tiếng vì nhân vật ăn thịt người (thí dụ như the Silence of the Lambs). Thịt người mà còn có kẻ ăn thì nói gì thịt chó.

Có phải vì nước Mỹ giàu có, họ có nhiều thứ để ăn nên không ăn thịt chó? Họ không ăn vì chê chó bẩn hay là vì họ không đủ sành sỏi nhạy bén để khám phá cái ngon của thịt chó? Người theo đạo Hồi chê con heo bẩn không ăn. Người theo đạo Do Thái không ăn shellfish và một số loại cá. Phải chăng vì phong tục tập quán bắt nguồn từ xa xưa, và người ta sống theo thói quen nên không ăn chó? Chẳng những họ không ăn thịt chó mà họ còn yêu thương chó, mèo như những người bạn nhỏ.

Tôi đọc sơ sơ quyển Law 101 Everything You Need to Know about the American Legal System của Jay M. Feinman không thấy nói gì về luật lệ đối với thú vật, tuy nhiên Wikipedia có một trang nói về Animal Law. Animal Law xuất hiện hầu như cùng lúc với environmental law chỉ chừng ba mươi năm gần đây. Sau khi đọc trang này xong tôi tìm ở thư viện địa phương được hai quyển “The Animal Rights Debate – Abolition or Regulation?” của Gary L. Francione và Robert Garner; và “Just A Dog – Understanding animal cruelty and ourselves” của Arnold Arluke.

Tôi không chắc tôi sẽ tìm được câu trả lời cho những thắc mắc kỳ cục của tôi, tuy nhiên, đây là bước đầu để tìm hiểu về sự khác nhau trong văn hóa ẩm thực của Việt Nam và Hoa Kỳ. Đặc biệt là món thịt chó.

Bận lòng

Hôm trước đọc trên blog của một bạn, thấy có một người đi ăn trộm chó. Con chó trốn thoát về nhà. Người ấy lại đến bắt trộm chó lần nữa. Lần này thì con chó bị giết làm thịt. Sau đó kết quả là người ăn trộm bị bắt bị đánh. Người ta đòi giết người ăn trộm chó.

Tôi đọc đâu như từ tuần trước, nhưng từ hôm ấy cứ thấy bận tâm. Đăng cái post tầm nhìn từ đầu gối có ảnh hai con chó cũng vì cái bận tâm chuyện con chó đã trốn thoát một lần rồi vẫn bị rơi vào cái chết. Tôi có nhiều câu hỏi nhưng câu trả lời nào cũng dẫn tôi đến chỗ bế tắc. Tôi nhìn thấy sự bất lực của tôi.

Tại sao người Việt ăn thịt chó? Tại sao người Mỹ không ăn thịt chó? Người Mỹ không ăn thịt chó vì xã hội Mỹ không cho phép ăn thịt chó? Có luật nào ở Mỹ cấm ăn thịt chó không? Tôi biết chắc chắn là ở Mỹ, nếu người ta biết được có người giết chó, ăn thịt chó, thậm chí ngược đãi, đánh đập, bỏ đói, để chó bị bẩn sẽ bị rắc rối ngay. Rắc rối cỡ nào, ai sẽ trừng phạt những người này, và mức độ trừng phạt đến cỡ nào thì tôi không biết. Thử dùng Google để tìm hiểu, tôi biết có 44 tiểu bang không cấm ăn thịt chó nhưng tôi không biết tiểu bang nào. Chỉ thấy nói là tiểu bang New York cấm ăn thịt chó. Sống ở Mỹ lâu năm, tôi nghĩ tôi chỉ biết luật giao thông rành hơn các luật khác. Biết rành hơn những thứ luật khác ở đây không có nghĩa là tôi biết hết, biết tường tận. Chỉ biết luật giao thông giới hạn trong việc sử dụng xe thường ngày.

Lúc mới qua Mỹ, đọc báo thấy có người (Mỹ) tức giận mấy con sóc (squirrel) phá hoại cây cối trong vườn đã đặt bẫy sóc. Có người nhìn thấy báo cảnh sát. Thế là người ấy bị kêu ra cảnh sát, ra tòa. Hội bảo vệ thú vật biểu tình trước nhà ông ta, làm xấu hổ. Thấy vậy mình biết là mình không được làm hại cả những con thú hoang chứ đừng nói là chó mà lại là chó của người ta nuôi. Ở Mỹ có chó hoang không? Có chứ. Có người nuôi chó một thời gian, chán ghét, hay vì hoàn cảnh nào đó, mang chó đem bỏ ngoài đường cao tốc. Con chó khôn ngoan ngỡ ngàng bị chủ bỏ rơi, chạy theo xe. Người ta quay được phim đăng lên mạng. Không biết có ai bắt phạt người chủ này hay không nhưng người xem thấy tội nghiệp con chó. Hôm nọ có người dẫn chó đi rừng, thả dây xích, con chó lồng lên chạy như điên, biến mất. Chủ ngơ ngác đi tìm mặt buồn hiu. Nếu tìm không được con chó này sẽ biến thành chó hoang. Có người sẽ gọi báo cảnh sát. Người ta sẽ bắt chó đem đến một chỗ giữ thú hoang. Nếu không người nhận, không người nuôi, rồi thì con chó sẽ bị giết chết (một cách yên thấm chứ không tàn bạo hay ăn thịt.)

Tôi còn nhiều thắc mắc về chuyện ăn thịt chó, nhưng bây giờ phải đi làm. Tôi đã mượn một quyển về luật căn bản người dân nên biết, nhưng không biết có nói gì về súc vật không. Cuối tuần mang sách về mới biết được.

Chuyện Nghe Lóm

Cá Linh, con gái út, tính tình ôn hòa (giống bố) và hợp chuyện với tôi hơn Ách Cơ, cô lớn.  Những khi tôi lái xe đưa cô đi đến nhà bạn hay đến trường chúng tôi nói đủ thứ chuyện, đa số là chuyện phim ảnh và văn học.

Sở thích đọc của hai mẹ con khác nhau nhưng chúng tôi thường trao đổi ý kiến và tôi nghe nhiều hơn nói. Thỉnh thoảng cô kể chuyện bạn bè của cô nhiều chuyện rất tức cười. Tôi nhiều lần cố tìm cách ghi lại vì thấy câu chuyện khá khôi hài, thú vị nhưng viết xong rồi lại bỏ vì tôi không biểu lộ được sự khôi hài. Có lẽ tính tôi nghiêm nghị quá.  Hôm nay tôi lại cố gắng một lần nữa và sẽ không xóa. Chuyện này tôi nghe Cá Linh kể lại và Cá Linh cũng nghe kể do đó không biết chuyện có thật hay không, và nếu có thật thì thật đến mức độ nào.

Cá Linh có một cô bạn tên Alice. Alice học rất giỏi đã được nhận vào trường đại học Cornell. Cô cũng thích phiêu lưu. Mùa hè này cô đi Trung quốc và có đến Việt Nam. Cô cố tìm thịt chó để ăn nhưng không biết chỗ và hỏi ai người ta cũng không chỉ.  Alice đi nhiều nơi. Năm 16 tuổi cô giả mạo chữ ký của bố để đi Phi châu (Ghana) với một tổ chức giúp trẻ em của những người bị nhiễm HIV. Câu chuyện này là một trong những câu chuyện nho nhỏ xảy ra trong chuyến đi Ghana của Alice.

Alice được đưa đến lều nơi cô sẽ tạm trú hai hoặc ba ngày.  Ngày đầu tiên cô được đưa đi thăm safari.  Chiều tối cô được đưa về trại. Trại ở một nơi hoang vắng, có rào và có người canh gác bảo vệ. Mỗi lều có hai người. Alice được ở chung với một bạn gái tên là Sunny.  Buổi chiều khi về đến lều, Alice nhìn thấy một con nhện rất to rằn ri và có màu, con nhện to bằng bàn tay của Alice. Alice là một cô gái gốc Đại Hàn, cao lớn, vóc dáng khỏe mạnh. Cô cao ít ra cũng một mét bảy do đó bàn tay của cô cũng không nhỏ nhắn gì. Con nhện gườm gườm nhìn Alice rồi thong thả bò đi. Alice sợ quá không dám vén cửa lều để vào. Alice gọi Sunny nhờ Sunny kéo zipper mở cửa lều chứ Alice không dám mó tay vào. Sunny thấy cô này khá quái đản nhưng cũng chìu bạn. Alice ngó chung quanh bên trong lều rồi phóng người lộn nhào vào như thể không muốn bước chân lên mặt đất. Sau này Alice giải thích cô làm thế với hy vọng nếu con nhện nằm đâu đó dưới lớp trải trong lều, cô hy vọng trọng lượng của cô kết hợp với tốc độ cái lộn nhào để phóng vào lều của cô sẽ nghiền nát con nhện mà cô không phải nhìn thấy nó.

Hôm sau cả hai dậy sớm và được đưa đi làm việc. Buổi tối về Alice vẫn sợ nhưng miễn cưỡng vào lều. Cô tin chắc là con nhện vẫn còn lẫn tránh đâu đó chung quanh lều chờ đợi cô. Con nhện biết cô sợ nên sẽ tấn công cô.  Đêm trước cô mắc tiểu nhưng nhịn không đi nhà xí. Với Alice đây là một sự chiến đấu âm thầm giữa cô và con nhện. “Nếu tao đi tiểu mày sẽ có cơ hội tấn công tao. Tao cứ nằm lì ở đây mày sẽ không có cơ hội.” Cô thắng con nhện đêm trước bằng cách cầm cự cơn mắc tiểu. Đêm thứ hai cô không nhịn đi nhà xí được vì hôm ấy cô ăn nhiều và thức ăn không hợp với bộ tiêu hóa lẫn bộ bài tiết.  Cô cố gắng nhịn đã lâu cuối cùng phải đánh thức Sunny.

– Sunny! Sunny!

Sunny ngủ say sưa sau một ngày làm việc mệt nhọc ở nhà thương. Alice lay mãi Sunny giật mình chới với.

– Gì thế, cháy nhà hả?

Buổi chiều cả trại được nhắc nhở không nên dùng lửa sợ cháy lều.

– Không phải. Tớ mắc đi cầu. Cậu phải đưa tớ đi.

– Hả, đừng có nói nhăng. Cậu đi một mình. Tớ buồn ngủ lắm.

Nhà cầu đâu có xa xôi gì. Đó là một thứ johnny ở sát cạnh lều của hai cô. Đây là một căn lều có cửa bằng loại dây kéo zipper. Một loại cầu tiêu tạm dã chiến dùng hóa chất và có nước rửa tay.

– Tớ sợ lắm. Con nhện nó biết tớ nó đang chờ ngoài kia. Nhưng tớ mắc đi lắm. Cậu không đưa tớ đi tớ phải ị ra quần mất thôi.

– Thôi thì đi.

Sunny miễn cưỡng trả lời vì nếu Alice bĩnh ra quần thì càng khổ thêm. Cái lều quá nhỏ mà thối hoăng thì chịu sao thấu.

– Cậu lấy đèn bấm đi. Sunny bảo bạn.

– Tớ không có đèn bấm. Alice trả lời.

Sunny lấy đèn bấm soi đường cho Alice. Đến nhà xí, Alice không chịu tự soi đèn. Cầu rất dơ hôi hám nhưng Sunny phải mở cửa lều, soi đèn cho bạn.

– Đừng nhìn tớ cậu cầm đèn nhưng quay mặt ra ngoài.

Lặng thinh trong cơn bực bội và buồn ngủ, Sunny chìu bạn. Alice hai tay túm chặt lưng quần Sunny gần như dúi mặt vào mông bạn, lải nhải vì sợ hãi.

– Ôi tớ sợ quá. Con nhện nó ở gần đâu đây. Nó biết tớ mà. Nó biết tớ mà.

Alice chợt nhận ra nhà xí không có giấy vệ sinh. Bây giờ Sunny phải trở về lều để lấy giấy. Mà Alice thì mồm cứ bài hãi không cho Sunny đi. Dùng dằng mãi cuối cùng Alice mới chịu ngồi đó với cây đèn bấm và Sunny đi về lều lấy giấy vệ sinh.

Sáng hôm sau, Sunny trách nhẹ nhàng. Sao bạn hành động có vẻ vô lý như thế. Alice bảo rằng:  Trên đời tớ có ba cái sợ, sợ đến có thể chết được. Sợ nhện, sợ thất bại, và sợ cái núm vú giả (pacifier).

Hương vị quê nhà

Hôm trước được tặng tập thơ trong đó có mấy câu rất giản dị.

Nhớ nhà không cần châm điếu thuốc
Mà cắn vào cánh lá quế thơm
Vị ngây ngây đầu lưỡi – quê hương. (Trần Hoài Thư)


Câu đầu tiên gợi nhớ thơ Hồ Dzếnh. Hai câu sau nói về vị của rau thơm. Ông bà mình đã nói từ ngày xưa, hương gây mùi nhớ. Mùi hương đánh thức ký ức và hương thường đi đôi với vị. Nếu có lúc nào mũi không còn cảm nhận được mùi hương thì vị giác sẽ không còn tinh nhạy, người ăn sẽ không nhận biết được cái ngon của thức ăn.

Nói đến rau quế người Nam nhớ ngay đến canh chua thơm nấu với cá lóc và dĩ nhiên cũng nghĩ đến phở. Thay thế hoặc ăn kèm với quế là lá ngò tây. Rau thơm dùng làm gia vị xuất hiện khá thường xuyên trong văn học dân gian của Việt Nam. Khi nhà thơ Đoàn Phú Tứ (không biết có nhớ đúng hay không) cầu kỳ gán cho thời gian màu xanh xanh, thì một nhà thơ nào đó cho biết, tình yêu có vị cay và mặn.

Tay bưng dĩa muối chấm gừng
Gừng cay muối mặn xin đừng bỏ nhau

Có người thì cho là tình yêu có vị đắng của trái khổ qua. Hôm trước tôi đã viết về bài hát có câu đường vào tình yêu có nhiều trái đắng mang tên khổ qua. Nhưng khi mới vào yêu, người ta cho là tình yêu có vị ngọt ngon như là trái táo chíntình thì được cho không biếu không.

Rau quế làm cho nhà thơ Trần Hoài Thư nhớ quê xưa. Còn nhà văn Bùi Ngọc Tấn trong quyển Chuyện Kể Năm 2000 đã kể lại những năm tháng trong tù, buổi chiều sau khi đi lao động về ông lén hái rau thơm gói vào cái khăn lau mặt mang vào trại. Ông bị khám, quản trại bắt được, nhưng không trừng phạt chỉ thắc mắc các người tù không có gì để ăn với rau thơm tại sao lại hái mang về. Nhà văn giải thích qua nhân vật Nguyễn văn Tuấn, rau thơm gợi ông nhớ cuộc sống tự do ở bên ngoài và không khí gia đình. Với ông, rau thơm là hình ảnh của tự do.

Rau thơm dùng làm gia vị trong ca dao nói rõ ràng rau gì ăn với món gì.

Con gà cục tác lá chanh
Con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi
Con chó khóc đứng khóc ngồi
Mẹ ơi mẹ hỡi mua tôi đồng riềng

Củ riềng không thể nào thiếu trong mắm thái và trong món rựa mận, tuy nhiên nói thật tôi chưa hề ăn thịt chó bao giờ, kể cả món giả cầy nêm  bằng củ riềng. Lá chanh không những chỉ ăn với thịt gà luộc; nếu đem nấu nước gội đầu, mùi thơm làm mái tóc càng đáng yêu quyến rũ hơn. Hôm trước tôi thấy lá chanh bán trong siêu thị, giá 160 đô la một kí lô. Chỉ vài cái lá chanh, người ta đòi người mua phải trả với giá năm đô la để được thưởng thức hương vị quê nhà. Rau răm không những chỉ dùng trong gỏi vịt hay trứng vịt trứng gà lộn mà còn được dùng để ví von với thân phận của người góa phụ.

Gió đưa cây cải về trời
Rau răm ở lại chịu đời đắng cay

Đang viết dang dở nửa chừng bị bế tắc ý tưởng thì cô nhớn nhà tôi đi đâu về mang theo ba loại rau thơm người Mỹ hay dùng:  parsley: mùi tây, sage: cây xô thơm, thyme: cây húng tây. Chỉ thiếu một thứ rosemary: lá hương thảo. Bốn thứ rau thơm này đã được nhắc đến trong bài hát dân ca nổi tiếng Scarborough Fair. Phạm Duy viết lời khác đặt tên Giàn Thiên Lý đã xa. Thiên Lý một loại hoa màu xanh lá cây nhạt ngã sang màu vàng, có mùi thơm, cũng được dùng để nấu canh hay xào. Lời hát của Phạm Duy dìu dặt lãng mạn Tội nghiệp thằng bé cứ nhớ thương mãi quê nhà. Giàn thiên lý đã xa mãi ngàn xa. Đấy cũng mùi hương thiên lý hay vị hoa thiên lý gợi người ta nhớ quê nhà. Nhà văn quá cố Duyên Anh trong truyện ngắn Hoa Thiên Lý đã nói, rất cảm động, về bà mẹ ở miền quê ngoài Bắc dáng gầy dưới dàn hoa thiên lý tìm hái hoa để nấu canh cho con ăn. Lời hát của Phạm Duy đã đi xa bản gốc của bài hát Scarborough Fair chỉ còn duy nhất một câu này này nàng hỡi nhớ may áo cho người là còn phảng phất giống một câu trong bài hát chính. Xin độc giả tha lỗi, tôi không có ý phê bình bài hát của nhạc sĩ Phạm Duy. Ông chỉ dùng nhạc còn lời hát ông viết đã thành một bài hát khác. Bởi vì dịch lời hát mà vẫn còn giữ nhạc điệu là một chuyện vô cùng khó khăn, nếu cố cho mằng được có thể làm mất đi nhạc tính và thi tính.

Bài hát Scarborough Fair  là bài hát đã dùng cả bốn loại rau thơm.

Are you going to Scarborough Fair?
Parsley, sage, rosemary and thyme,
Remember me to one who lives there,
She once was a true love of mine.

Bài hát theo tôi hiểu như thế này Có phải bạn đang trên đường đi chợ phiên nhóm ở Scarborough. Ở đấy chắc chắn là sẽ có những loại rau thơm như mùi tây, xô thơm, hương thảo, và húng tây. Nơi ấy có một người tôi đã từng yêu. Yêu thật.

Scarbourough Fair là một phiên chợ ở Anh thời Trung cổ (1253 dưới thời vua Henry đệ tam), kéo dài 45 ngày. Phiên chợ này nằm ở một vị trí giao thông tiện lợi cho các quốc gia trong vùng như Anh quốc, Đan Mạch, Na uy và các quốc gia lân cận. Phiên chợ này ngày nay không còn nhưng bài hát Scarborough Fair là một trong những di tích nổi tiếng còn lại. Qua nhiều năm, bài hát được thay đổi, biến thành nhiều phiên bản.

Bốn loại rau thơm được lập lại trong mỗi phiên khúc đầy vẻ bí ẩn. Hai người yêu nhau vì kiêu hãnh và thành kiến nên xa nhau.

Nhân vật trong bài hát, một thanh niên, nói với người nghe, nhắn với người tình của anh ta, bảo cô gái thực hiện một số công việc rất khó khăn không thể nào thực hiện được, để được tình yêu của anh. Cô phải may một cái áo không có đường may không có mũi kim, giặt ở một cái giếng khô (không nước). Nếu cô làm được việc này thì anh sẽ yêu cô, hay nói đúng hơn, anh sẽ nhận cô trở lại với tình yêu của anh. Thường thì bài hát này được song ca. Người nữ ca sĩ cũng nêu ra nhiều công việc rất khó khăn và hứa với người tình sẽ dâng cho anh cái áo mà anh đòi hỏi nếu anh thực hiện được những công việc mà nàng đòi hỏi ở anh.

Tương truyền rằng bài hát này nói về một trận dịch khủng khiếp ngày xưa, và bốn loại rau thơm này được người dân thời bấy giờ tin là có thể dùng để đẩy lui bệnh dịch. Ngay cả cái áo Cambric cũng có vẻ là một cái áo tang dùng để tẩn liệm người chết vì thế không có đường may.

Bốn loại rau thơm này, có người cho rằng, có thể là một loại bùa yêu. Ngày xưa có một hiệp sĩ trẻ được một vị phu nhân tên là Scarlett tặng cho một chai bùa yêu trong đó có bốn loại rau thơm. Parsley (mùi tây) tượng trưng cho tình dục, sage (cây xô thơm) tượng trưng cho sự khôn ngoan, rosemary (hương thảo) tượng trưng cho tưởng nhớ và thyme (rau húng tây) tượng trưng cho sự hấp dẫn không thể tự kềm chế được. Trong phiên bản này, đôi tình nhân hẹn gặp nhau ở chợ phiên Scarborough nhưng gặp nhiều trắc trở cuối cùng với tình yêu chân thành họ vượt qua nhiều trở ngại để đến với nhau. Tôi rất yêu giọng hát đôi của Simon và Garfunkel nên mời các bạn nghe.