Tìm Tình Giữa Chợ

Bài đã xuất hiện trên trang mạng Gió – O. Tìm Tình Giữa Chợ

Từ xưa đến nay, chợ búa vẫn là chuyện của phụ nữ, và binh đao vẫn là chuyện của nam nhi.  Trai khôn tìm vợ chợ đông. Gái khôn tìm chồng giữa chốn ba quân. Người miền núi có những phiên chợ tình để trai gái gặp nhau. Muốn thành công trong việc lập gia đình phải tìm người yêu ở đúng chỗ. Trịnh Công Sơn viết: “Tìm tình, tìm tình trong nắng em gặp cơn mưa. Ô hay tìm tình giữa ngọ buồn lưa thưa về. Tìm tình, tìm tình trên núi em gặp mây bay. Ô hay, tìm tình giữa chợ tình phai mất rồi.” Té ra, chàng nghệ sĩ này, tài hoa nhưng lận đận, cũng phải đi tìm tình giữa chợ. Continue reading Tìm Tình Giữa Chợ

những giai thoại về Hemingway

Bài này đã đăng trên Văn Chương Việt.

Trích đoạn và phỏng dịch Writers Gone Wild – the Feuds, Frolics, and Follies of Literature’s Great Adventurers, Drunkards, Lovers, Iconoclasts, and Misanthropes  (Nhà Văn Đại Náo – những chuyện tranh chấp, nô đùa, và điên rồ trong văn chương của các nhà phiêu lưu, chàng say, người tình, kẻ đả phá thần tượng, và kẻ ghét người).  Bill Peschel biên soạn.

Nhà văn nổi tiếng thường được bao vây bằng hào quang của sự thành công. Người ta ngưỡng mộ tài năng của nhà văn nên quên rằng họ cũng chỉ là người, đầy tật xấu. Một trong những nhà văn nhiều tài lắm tật là Hemingway. Tôi xin tặng bạn đọc những giai thoại về Hemingway tôi trích đoạn, tóm tắt và phỏng dịch từ quyển Writers Gone Wild của Bill Peschel biên soạn. Đây là một quyển sách rất thú vị, bạn sẽ có lúc tủm tỉm cười như khi bạn đọc về các ca sĩ hay hoa hậu đánh ghen, và bạn sẽ đôi lần ngạc nhiên về sự mạo hiểm có thể đưa nhà văn vào cõi chết hay tù đày như trường hợp của Marguerite Duras, người mà bạn tưởng là chỉ viết truyện đầy nhục cảm với đàn ông châu Á. Quyển sách nhỏ này có hằng trăm giai thoại thú vị về hằng trăm tác giả nổi tiếng. Nhưng tôi không muốn dông dài lạc đề, ở đây tôi chỉ phỏng dịch những đoạn tôi trích trong quyển sách nói trên về nhà văn Hemingway.

Hemingway làm John Steinbeck nổi lôi đình (1944)

John Steinbeck thích truyện ngắn “The Butterfly and the Tank” của Hemingway nên viết thư khen ngợi và nhân dịp ngỏ ý muốn gặp Hemingway. Hẹn gặp nhau ở quán rượu Steinbeck và Hemingway tình cờ gặp nhà văn John O’Hara. O’Hara đưa cho Hemingway xem cây gậy bằng blackthorn Steinbeck đã tặng cho ông. Blackthorn là một loại gỗ nổi tiếng cứng rắn. Hemingway trề môi khịt mũi, “cái này không phải gỗ blackthorn.” Hemingway đánh cuộc năm mươi Mỹ kim với O’Hara là ông có thể bẻ gãy cây gậy bằng cái đầu của ông. O’Hara nhận lời đánh cuộc. Hemingway để gậy lên đầu dùng hai tay kéo hai đầu gậy và bẻ gãy nó. Ông ném mảnh vỡ của cây gậy vào góc quán và chế nhạo. “Cái này mà ông dám bảo là blackthorn.”

Steinbeck giận sôi gan. Không những vì cử chỉ phô trương thô lỗ của Hemingway mà còn vì cây gậy này là của ông của Steinbeck để lại. Bạn bè của Steinbeck thường giật mình khi thấy bình thường ông rất dịu dàng nhưng nổi giận khi nghe nhắc đến tên Hemingway và nỗi ghét này kéo dài hằng chục năm. Steinbeck lấy quyển sách The Sun Also Rises (Mặt Trời Vẫn Mọc) trên kệ sách và đọc một đoạn đối thoại của Hemingway bằng giọng đều đều làm nó dở đi, khó nghe, rồi bảo. “Tôi không hiểu được tại sao người ta nghĩ là Hemingway có khả năng viết đối thoại.”

Dần dần Steinbeck cũng bỏ qua. Khi ông nghe Hemingway phê bình đoạn kết của The Grapes of Wrath (Chùm Nho Uất Hận) – chỗ người đàn ông bị đói quá đã bú sữa từ ngực của một người đàn bà đang hấp hối – “không thể là giải pháp cho những khó khăn về kinh tế của chúng ta,” Steinbeck viết, “Lời phân tích của ông Hemingway không hẳn có giá trị nhưng quả là buồn cười.”

Hemingway đánh nhau với Stevens (1936)

Người Mỹ có câu nói “Sticks and stones may break my bones but words never hurt me. ” thường được dùng để biện bãi khi bị người ta dùng lời nói làm tổn thương. Câu thành ngữ này có nghĩa là “Gậy gộc và đá có thể làm gãy xương tôi nhưng lời nói thì chẳng nhằm gì.” Thật ra lời nói còn làm đau hơn gậy gộc. Giữa Hemingway và Stevens thì câu nói không phải, có thể đưa đến chỗ bị đấm vào mồm.

Ursula, em gái của Hemingway, được giới thiệu với Wallace Stevens trong một buổi tiệc ở Key West, Florida. Stevens là nhà thơ nổi tiếng, gốc gác ở Hatford thuộc tiểu bang Connecticut. Stevens bảo với Ursula, Hemingway chỉ là một kẻ giả dối, không phải là đàn ông. Sau buổi tiệc, cô nàng Ursula về nhà thuật lại với anh. Hemingway lập tức đi tìm ông nhà thơ hiện đại để cho một bài học. Đây là một cuộc đọ sức khó biết phần thắng sẽ về ai. Stevens tuy đã năm mươi sáu so với Hemingway chỉ mới ba mươi sáu, nhưng ông cao hơn, to lớn hơn. Ông cũng là một tay cừ khôi về quyền Anh. Stevens lúc ấy đang say sứa sứa và Hemingway cũng đã ngà ngà.

Hemingway bắt kịp Stevens ở bến tàu và đòi choảng nhau. Stevens chế nhạo, “chú mày tưởng chú mày là Ernest Hemingway là ngon lành lắm sao” rồi thụi cho Hemingway một cái. Hemingway đấm trả lại và sau khi tàn cuộc chẳng những bàn tay của Stevens bị bộ xương hàm của Hemingway làm gãy, ông còn bị đánh gục vài ba lần, mặt mũi và mắt bị bầm tím.

Lo ngại cho danh tiếng của mình, Stevens là Giám đốc của một hãng bảo hiểm nổi tiếng, Stevens yêu cầu Hemingway đừng thố lộ với ai việc này. Dù đồng ý, lời yêu cầu của Stevens cắn rứt Hemingway đến độ ông ta cho chi tiết này vào một truyện ông đang viết dang dở. Trong “The Short Happy Life of Francis Macomber,” sau khi Macomber sợ hãi con sư tử nên bỏ chạy, ông ta yêu cầu Wilson, một người thợ săn người da trắng rất tài giỏi, đừng kể lại với ai điều này.

“Ông ta không đoán trước được hậu quả này,” Wilson hồi tưởng. “Ông ta là một thằng tồi, một kẻ hèn nhát … Yêu cầu chúng tôi ‘đừng kể lại chuyện này’ là một hành động đáng chê.”

Stevens có lẽ không bao giờ biết vụ này. “Về Hemingway,” ông viết thư cho một người bạn, “Tôi không thể nói gì nhiều bởi vì tôi không đọc sách của ông ấy.”

Hemingway chơi khăm vợ

Hemingway là một người ích kỷ, ông cư xử xấu với nhiều người, kể cả vợ của ông. Người vợ thứ ba của Hemingway, Martha Gellhorn, kết hôn với ông từ năm 1940 đến năm 1945, là một nhà báo có tài. Bà có nhiệm vụ tường thuật ngày tổng tấn công (D-day); tuy không phải cận chiến với Phát xít Đức, bà phải đương đầu với chính ông chồng của bà.

Lấy nhau ba năm, hai người càng lúc càng lạnh nhạt với nhau. Hemingway nhậu nhiều hơn, viết ít hơn, và – trái ngược với bà – không muốn dính líu đến chuyện chiến tranh. Ông đã chán ngán thế chiến thứ nhất và cuộc nội chiến Tây Ban Nha. Giờ đây ông chỉ muốn được nhậu cho đã đời với những anh Cuba đồng chí rượu của ông.

Tuy nhiên khi Hemingway nghe tin Gellhorn nhận lời tạp chí Collier’s, bà sẽ tường trình cuộc đổ quân lên châu Âu, bản tính ích kỷ muốn hơn vợ nổi dậy nên ông lập mưu chơi xấu. Trước tiên, ông thuyết phục tạp chí Collier’s thuê ông, ông cướp của vợ độc quyền tường thuật chiến tranh cho tờ tạp chí này. Sau đó ông không cho bà được cùng băng qua Đại Tây Dương với ông bằng phi cơ Không quân Hoàng gia mà bà đã sắp xếp cho ông.

Gellhorn, để đáp lại, đã thuyết phục một đoàn quân khác cho bà quá giang. Suốt hai mươi ngày bà theo đoàn tàu quanh co trên biển vừa đi vừa tránh tàu ngầm của Đức. Họ càng phải cẩn thận gắt gao hơn vì đoàn tàu này chở đầy chất nổ.

Ở Luân Đôn, sau khi ăn nhậu thỏa thuê với bạn bè và chờ hồi phục sau một tai nạn xe hơi trên đường phố tắt đèn điện để tránh bom, Hemingway được đưa tên một chiếc tàu khu trục để được tận mắt xem cuộc đổ bộ. Ông thành công trong nhiệm vụ mang tàu chuyên chở bộ quân đổ lên bãi biển Omaha. Ngày hôm sau ông quay trở lại Luân Đôn sắp xếp hồ sơ truyền tin.

Trong lúc ấy Gellhorn đến bãi biển Omaha bằng con đường khác. Được đi chung với tàu bệnh viện, bà đến bờ và nhìn thấy phi cơ Đồng Minh gầm thét trên đầu và đạn đại bác nổ tung tóe ở chân trời. Khi chiếc tàu bệnh viện tiếp nhận bệnh nhân, bà tiếp tay với bác sĩ và y tá, thông dịch tiếng Pháp và tiếng Đức, mang nước, và đút thức ăn cho bệnh nhân.

Đêm ấy, bà lội nước ngập thắt lưng, đi theo các người cứu thương vào đất liền. Bà nhìn thấy chiến trận xảy ra như cơn ác mộng với đèn tín hiệu đỏ cháy lóe soi sáng những chiếc xe tăng bị thủng tả tơi, những cái bệ bê tông đặt súng đại bác vị vỡ toang, và sự vận chuyển liên tục của quân nhân và nhu yếu phẩm băng qua bãi biển. Bà ghi nhận kỹ lưỡng hàng ngũ của thiết giáp và xe vận tải tiến sâu vào nội địa rượt đuổi địch quân.

Ở Luân Đôn, bà viết hai bài tường thuật cho tạp chí Collier’s trước khi bà bị bắt và bị quân đội Hoa Kỳ đe dọa trục xuất nếu bà còn vượt ra khỏi phạm vi phóng viên. Tuy nhiên bà không tuân lệnh và lại lẻn trốn. Suốt cuộc chiến tranh bà luôn đi trước cảnh sát quân đội một bước, được các quân nhân giúp đỡ vì họ thán phục sự can đảm và nhan sắc của bà.

Khi Bá Linh thất thủ, bà đã tham dự cuộc oanh kích và tường thuật cuộc giải phóng trại tập trung Dachau. Bà cũng ly dị Hemingway, người không bao giờ tha thứ cho bà vì đã đổ bộ trước ông.

Hemingway thiết lập đường dây do thám

Hemingway đã từng giúp FBI thiết lập một đường do thám ở Cuba trong chiến tranh để thu thập tin tức về những hoạt động của Đức Quốc Xã. Ông chất đầy đạn dược và chất nổ lên chiếc thuyền đánh cá Pilar của ông, rồi long rong trên biển đi tìm tàu ngầm của địch quân. Kế hoạch của Hemingway là dụ cho tàu ngầm nổi lên mặt nước. Khi quân đội Đức Quốc Xã mở cửa tàu, Hemingway và bạn bè của ông sẽ dùng súng máy và lựu đạn tấn công kẻ địch. Tuy nhiên, không có chiếc tàu ngầm nào bị mắc bẫy của Hemingway.

Tuần trăng mật của Hemingway (1921)

Ông hai mươi mốt tuổi và là “Hasovitch” của bà; Bà hai mươi chín tuổi và là “Nesto” của ông.  Trong suốt chín tháng theo đuổi nhau, họ trao đổi hằng trăm lá thư nhưng chỉ gặp nhau có bảy lần, vì thế có lẽ Hadley Hemingway rất ngỡ ngàng khi nhìn thấy bản chất thật của ông chồng Ernest.

Hai người cưới nhau ở Vịnh Horton, miền bắc Michigan và sau lễ cưới, họ được đưa về hồ Walloon, gần hòn đảo nơi gia đình của Hemingway có nhà nghỉ mát mùa hè.

Tuần trăng mật bắt đầu không mấy suôn sẻ vì đôi vợ chồng bị ốm và trời trở lạnh. Khi Ernest không viết văn, họ ở trong nhà và dưỡng bệnh bằng rượu vang.

Một buổi sáng, Ernest qua bên kia bờ hồ và quá giang xe để mua thức ăn. Ông mua 2 kí thịt bò, gặp một người bạn trao lại cho ông bộ quân phục cũ, và ông nhậu rượu lậu với người bạn này đến khi say không còn biết trời đất gì cả.

Loạng choạng đến bờ hồ, ông “mượn” chiếc xuồng gắn máy của người bạn và hướng về nhà. Nghe tiếng hò la của Hemingway, Hadley vội vàng xuống bờ hồ vừa kịp lúc nhìn thấy ông chồng say của bà phóng xuồng trên những đợt sóng cao. Ông ném cho bà miếng thịt bò và phóng thuyền lên mạn trên của hồ.

Hadley đi bộ xuyên rừng cho đến khi bà có thể nghe tiếng của Ernest. Bà nhìn thấy ông mặc bộ quân phục, vẫn còn nửa tỉnh nửa say, và đang hát một bài quân ca Ý.

Ông cũng chẳng đáng yêu khi cứ nhất quyết mang vợ đi giới thiệu với mấy cô bồ cũ đang sống ở Petosky gần đấy. Ông giải thích là ông muốn nâng cao con người ông trong tầm mắt của bà, nhưng bà cho là hành động ấy là một cử chỉ đề cao tính khoe khoang hợm hĩnh của ông.

Tuần trăng mật, bà thú nhận, “phần lớn là sự thất bại.”

Hemingway khi trời tối (quan niệm phòng the)

Tiểu thuyết của Hemingway có thể được xem là điển hình của trường phái văn chương hiện đại nhưng thái độ của ông đối với tình dục bắt nguồn sâu xa từ thời Victoria. Ông tin rằng mỗi người đàn ông chỉ có một số lần nhất định đạt đến tột đỉnh của khoái cảm vì thế nên phân chia đều những tột đỉnh khoái cảm này trong suốt chiều dài cuộc đời. Ông cũng tin vào hôn nhân, nên đã đến bệ thờ làm đám cưới bốn lần, và luôn luôn có một người chờ sẵn trong khi ông đang làm thủ tục ly dị bà vợ trước.

William Faulkner, người luôn giữ người vợ chính thức nhưng có hàng tá những cuộc tình vụn vặt, có cách tóm tắt triết lý về hôn nhân của Hemingway tốt nhất: “Lỗi lầm của Hemingway là ông ta cứ nghĩ là ông ta phải cưới tất cả các bà tình nhân.”

Hemingway có thể là người hùng trong những cuộc đi săn, đi câu, đánh quyền, và đấu bò, nhưng dường như ông không phải là dũng sĩ trong chăn gối. Một phần của vấn đề là do tật nghiện rượu của ông đưa đến chỗ bị bất lực và càng già càng trở nên tệ hại. Tuy nhiên, Hadley,bà vợ đầu tiên, cho rằng sự bất lực này thật ra chỉ vì Hemingway quá đãng trí với việc yêu đương. Đang cơn chăn gối, ông bỗng vói lấy quyển sách trên bàn ngủ và đọc sách bên trên bờ vai của bà. Điều này đủ để làm nguội lửa lòng của bất cứ bậc nữ nhi nào.

Nhà văn và tình dục

Honoré de Balzac tin là để bảo vệ óc sáng tạo ông cần phải tiết chế tinh dục. Sau một cơn quyến rũ đưa đến kết thúc tự nhiên, ông ta kêu rêu với bạn bè năm 1831, “Tôi mất một quyển sách sáng hôm nay!” Ông bảo với Alexandre Dumas con là chẳng có người đàn bà nào xứng đáng với giá trị của hai quyển sách trong một năm.

Victor Hugo tin rằng tình dục và thiên tài có liên hệ với nhau và cả hai thứ đều cần phải thực tập càng nhiều càng tốt. Năm 1847, khi con ông nhờ can thiệp việc cô người yêu, Alice Ozy, phản bội, Hugo giải quyết vấn đề của cậu con trai bằng cách dụ dỗ cô nàng này.

Alexandre Dumas bố, cũng giống như Hugo, hoàn toàn không đồng ý với cái vô lý của Balzac. “Nếu bạn nhốt tôi vào trong phòng ngủ với năm người đàn bà, viết, giấy, mực, và một vở kịch cần phải viết,” ông ta khoác lác năm 1861, “chỉ sau một giờ đồng hồ tôi đã viết xong vở kịch và làm thịt cả năm bà.”

Cũng như tất cả những người phụ nữ đứng đắn vào thời của bà, Edith Wharton hoàn toàn mờ mịt về chuyện phòng the. Trước khi đám cưới của bà vào năm 1885, bà đã tế nhị hỏi mẹ “có gia đình thì nó ra làm sao,” mẹ bà bảo, “tao chưa bao giờ được nghe một câu hỏi kỳ cục như thế.”

Leo Tolstoy không tìm thấy sự giải tỏa bằng tình dục, và suốt cuộc đời ông luôn tự dằn vặt giữa sự thèm muốn và mặc cảm tội lỗi đến độ tự ghét bỏ chính mình. Vợ ông cũng vì thế mà khốn khổ, sau khi sinh đứa con út – đứa thứ mười ba của hai ông bà – lúc ấy bà bốn mươi bốn và ông đã sáu mươi. “Hôn nhân không thể mang lại hạnh phúc,” ông nổi cơn giận phừng phừng, năm 1899. “Nó luôn luôn tra tấn mình, đó là giá mà người đàn ông phải trả để thỏa mãn cơn thèm tình dục của hắn ta.”

Một chuyến đi xa, một cuộc gặp gỡ

Hôm Thứ Bảy chúng tôi, anh Thư, chị Yến, tôi, và phu quân đi Falls Church, Virginia để gặp nhà văn Hoàng Dược Thảo kiêm bà chủ báo Sài Gòn Nhỏ. Năm giờ đồng hồ lái xe, suốt quảng đường mưa dầm dề. Năm nay trời ấm dọc đường ở tiểu bang Maryland đã thấy những cây hoa đào hồng nở rộ.

Con đường xa trở nên ngắn lại nhờ những câu chuyện lý thú do hai ông bà Trần Hoài Thư kể. Chúng tôi cười thú vị khi anh chị nhắc đến những bài biên khảo của ông HBT viết về các luật lệ của vua, ông thường gọi những luật lệ này là đạo dụ không hề biết người bình dân thường nói lái thành ra chữ tục.

Chị Thảo năng động và trẻ hơn tuổi. Chị rất vui vẻ, niềm nở, hoạt bát, duyên dáng, quen nói chuyện trước đám đông. Chị thuộc mẫu người phụ nữ tự tin và thành công, dám nói những ý nghĩ của mình. Ở chị toát ra một vẻ thực tế, thành thật, có uy tín và rất thu hút. Khác hẳn người phụ nữ có cách viết sắc bén trong những bài nhận định ký tên Đào Nương, suốt buổi tiệc ngồi cạnh chị nghe chị nói chuyện thủ thỉ tôi có cảm giác chị là người quen rất thân. Tôi có cảm tưởng là ai nói chuyện với chị xong cũng sẽ tin cậy và muốn cộng tác với chị.

Tôi ngạc nhiên khi biết chị là nhân vật đã gây cảm hứng để nhà thơ Du Tử Lê làm ra những câu thơ để đời nhất là bài Khúc Thụy Du được nhạc sĩ Anh Bằng phổ nhạc. Tôi đặc biệt yêu thích cái hình ảnh con chim bói cá “bói” ánh trăng ngà, lãng mạn thơ mộng và không kém phần tuyệt vọng. Chị đọc một số câu thơ tự giễu tự trào về cái thời “Thụy lang thang” và những câu thơ xin lỗi con vì tình duyên của chị trắc trở rất duyên dáng nhưng vì tôi không ghi chép lại nên không còn nhớ. Chị bảo e-mail nhắc nhở chị sẽ chép cho nguyên bài nhưng nếu chờ e-mai qua lại tôi sẽ quên mất những điều tôi muốn viết nên hôm nào xin được
những bài thơ của chị tôi sẽ đăng lên sau.

Chị Thảo kể có hai vợ chồng già ở khu vực Sài Gòn Nhỏ. Hai ông bà tuyên bố chia tay sau khi kết hôn mấy mươi năm. Một thời gian sau lại thấy hai ông bà vẫn chung đường chung lối như vẫn còn chung gối chung chăn, hỏi tại sao thì được biết rằng quyết định chia tay nhưng không thể chia chân. Có một ông sư nổi tiếng là chân tu nhưng bị kiện cáo về chuyện tiền bạc. Người đời cười bảo rằng ông sư là người chân tu nhưng tay không tu vì còn bận đếm tiền.

Chị Yến là mẫu người phụ nữ hiếm có. Chị luôn luôn nhỏ nhẹ với chồng, trân trọng đam mê hoài bão của chồng. Phải lì, có nghĩa là chịu đựng và nhẫn nại, lắm mới chịu nổi những công việc “lấy công làm lỗ” của anh Thư. Hai ông bà gửi một hai chục quyển sách để tặng mà không đòi hỏi tiền bạc là chuyện xảy ra rất thường.

Chuyến về chị đã rất mệt mỏi nhưng khi đến chỗ nghỉ anh Thư vì chân bị gout nên đi khập khễnh, tôi nghe chị nói giọng nhỏ như muỗi kêu “anh vịn vai em kẻo té.” Trông bà nhỏ bé liêu xiêu và ông lêu khêu hom hem tôi cảm động với mối tình già này.

Thế là một lần đi xa, với tôi là một hạnh ngộ, được tiếp xúc với hai người phụ nữ thành công đáng nể. Chị Thảo và chị Yến là hai người đàn bà tuyệt vời đã nuôi con nên người. Nhân ngày phụ nữ quốc tế xin viết vài lời chúc mừng hai chị.

tha hương ngộ cố tri

Người xưa có bài thơ nói về bốn niềm vui lớn trong đời:
Cửu hạn phùng cam vũ.
Tha hương ngộ cố tri.
Động phòng hoa chúc dạ.
Kim bảng quải danh thì.

Xem chừng, cái vui mừng khi đi xa mà gặp người quen trước kia ở quê nhà, chỉ đứng sau cái vui của hạn hán chín năm gặp trời mưa; và còn vui hơn cả đêm động phòng hay bảng vàng ghi tên. Tôi nghĩ, tùy theo thời theo lúc theo hoàn cảnh, sự quan trọng của những niềm vui này có thể thay đổi thứ hạng. Thí dụ như ở một nước giàu có trong sa mạc, Saudi Arabia chẳng hạn, quanh năm ít mưa, nước ngọt được lọc từ nước biển hoặc được mua và dẫn về từ các quốc gia láng giềng, nước mưa không hẳn là thứ tối cần thiết đối với họ như với những người làm nghề nông; mưa chưa chắc đã gây niềm vui lớn vì thế không thể so với niềm vui của một anh chàng học trò trung học mới được nhận vào Havard hay của một đại gia mới cưới một đại minh tinh. Còn tha phương mà nếu mình đang là một tên ăn mày gặp một cố tri khác cũng là ăn mày giống như mình; thì có lẽ, vui ít hơn tủi phận. Continue reading tha hương ngộ cố tri

Stein vs. Hemingway

1

Stein qua nét vẻ Picasso

Ảnh lấy từ Wikipedia. Chân dung của Gertrude Stein qua nét cọ của Pablo Picasso.

Có thể nói, trong số các nhà văn Mỹ tôi đọc Hemingway nhiều nhất. Lý do vì ông là một trong những nhà văn được đưa vào chương trình học tiếng Anh ở Trung học và Đại học. Thêm một lý do nữa là văn ông viết giản dị, dễ đọc. Truyện đầu tiên tôi đọc là The Snows of Kilimanjaro. Lúc ấy tôi thấy truyện này chán, có lẽ vì lúc ấy còn trẻ, thiếu kinh nghiệm sống, và thiếu vốn ngữ vựng.

Khi nhắc đến Hemingway, người ta thường nhắc thêm Gertrude Stein. Bà là người mở đường đưa ông đến chỗ nổi tiếng, bà lớn tuổi hơn ông, rồi hai người giận nhau đến độ không nhìn mặt nhau, làm tôi cứ ngỡ rằng giữa hai người ắt có một mối tình éo le. Tôi ngỡ vì bà già và xấu nên bị phụ bạc và vì thế họ thù ghét nhau. Té ra không phải thế. Gertrude Stein là người đồng tính luyến ái. Người bạn đời của bà tên là Alice Toklas. Chuyện gấu ó giữa Stein và Hemingway là chuyện gấu ó về văn học. Nhà văn mà, giỏi chữ nghĩa nên khi chửi nhau thì chửi dai chửi dài và rất văn vẻ, in thành sách vở đàng hoàng. Trong văn giới không chỉ riêng Stein và Hemingway gấu ó với nhau, mà còn rất nhiều trận duel khác, thí dụ như Mark Twain với Bret Harte, Sinclair Lewis với Theodore Dreiser, Edmund Wilson với Vladimir Nabokov, Truman Capote với Gore Vidal, và cận đại nhất là Tom Wolfe với John Updike. Hôm nay chỉ nói về Hemingway với Stein thôi nhé.

Tháng Hai năm 1922, khi Stein và Hemingway gặp nhau lần đầu, Stein 48 tuổi và Hemingway được 22 tuổi. Hai người không ai nói gì nhiều về cuộc gặp gỡ đầu tiên nhưng về sau họ có rất nhiều chuyện để nói xấu nhau và những người liên quan cũng có rất nhiều chuyện chẳng đẹp gì để nói.

Stein là con nhà giàu. Anh chị em bà thừa hưởng của cải của bố mẹ; là những người đầu tư vào ngành xe hỏa. Lúc ấy, sống ở Paris vật giá rẻ hơn là sống ở Buffalo, một vùng vắng vẻ của New York Hoa Kỳ, người ta đổ xô qua Paris để sống nhất là giới văn nghệ sĩ vốn không giàu có dư dả. Gertrude và Leo Stein, anh trai của bà, sống ở Paris . Leo Stein đầu tư vào ngành hội họa thành công. Họ trở nên giàu có và rất có thế lực trong giới văn nghệ sĩ. Phòng triển lãm tranh của anh em bà Stein là nơi tựu tập của những người nổi tiếng như Matisse, Cocteau, Eliot, Pound, Bertrand Russell, Picasso, và Sherwood Anderson. Theo lời của Hemingway thì người ta đến phòng tranh của anh em nhà Stein vì nơi ấy luôn có thức ăn và rượu ngon thượng hạng. Stein giới thiệu Hemingway với bạn bè của bà và Hemingway kết thân với đám bạn văn nghệ sĩ nổi tiếng này (tôi còn quên chưa nhắc đến tác giả của The Great Gasby). Người Mỹ luôn luôn quan niệm, sự thành công không chỉ nhờ vào tài năng mà còn nhờ vào sự giao tiếp và móc nối với đúng người.

Mặc dù có nhiều người khen ngợi sự thông minh và văn tài của Gertrude Stein, cũng có nhiều người, Anthony Arthur tác giả quyển Literary Feuds là một, không tin Getrude là người có tài về văn học. Lúc bấy giờ Gertrude có nhiều tác phẩm không xuất bản được. Arthur cho rằng Gertrude chỉ giỏi tự thổi phồng mình. Bà luôn đặt những lời tự khen bản thân vào mồm của Toklas.  Chính bà đã cho Toklas phát biểu trong quyển Tự thuật của Alice Toklas xuất bản năm 1933 rằng Toklas có cái hân hạnh được quen với ba thiên tài trong cuộc đời bà đó là Stein, Alfred Whitehead, và Picasso. Stein ưa thích tâng bốc. Những văn nghệ sĩ không tâng bốc bà như James Joyce, Ezra Pound, T.S. Eliot, William Carlos Williams không được bà tiếp đón ân cần hay mời đến phòng tranh. Ngay cả John Malcolm Brinnin, người viết tiểu sử và rất có thiện cảm với bà, đã nhận xét là Stein không mấy chú ý đến tác phẩm của những nghệ sĩ bà không quen biết. Bà chỉ chú ý đến những tài năng đã chết hay cách bà cả thế hệ.

Hemingway lúc ấy là ký giả đang vất vả kiếm sống, ông cưới Hadley Richardson lớn hơn ông tám tuổi, và hai người có một con trai đầu lòng được Stein nhận lời làm mẹ đỡ đầu. Nếu bạn nhìn ảnh sẽ thấy Hemingway là một chàng trẻ tuổi cao ráo, vai rộng, rất đẹp trai, có cặp mắt nâu mơ màng, ăn nói dịu dàng. Nghe đồn rằng khi ông nói chuyện với ai ông tập trung vào người đối diện một cách say sưa và đó là lời khen ngợi gián tiếp. Nhiều người khen ông có cặp mắt đáng chú ý, đáng yêu, rất thú vị. Một trong những truyện ngắn đầu tay của Hemingway được Stein góp ý cắt bỏ những rườm rà vô vị và được Sherwood Anderson chú ý. Anderson, lúc ấy là tác giả của một quyển sách ăn khách, đã giúp Hemingway ký một hợp đồng với nhà xuất bản Boni & Liveright để xuất bản ba tác phẩm của Hemingway.

Hemingway cũng biết ơn sự giúp đỡ của Gertrude Stein. Ông khen ngợi bà hết lời công khai trên tờ báo ông làm ký giả. Ông còn tự tay chép hằng trăm trang bản thảo của bà và đốc thúc Ford Madox Ford xuất bản một phần lớn bản thảo The Making of Americans của Stein.

Hemingway cũng kết bạn với Wilson Edmund, nhà phê bình rất được quí trọng. Edmund khen ngợi một số truyện ngắn của Hemingway trong đó có Indian CampBig Two-Hearted River. Wilson cũng so sánh Hemingway với Anderson và Stein, tuy nhiên ông nhấn mạnh Hemingway có tài hơn hai người kia. Hemingway là người rất kiêu ngạo; ông không vui vì lời so sánh này vì ông cho là tài năng của ông hơn hẳn. Mặc dù Anderson là người giúp ông ký được hợp đồng  xuất bản ba tác phẩm với Boni & Liveright, Hemingway không vừa ý với sự tiến hành chậm chạp của nhà xuất bản. Để có cớ rút tên ra khỏi hợp đồng ông viết bài chế nhạo diễu cợt Anderson trên báo. Anderson là ngôi sao sáng của Boni & Liveright, vì thế để bênh vực Anderson, nhà xuất bản hủy bỏ hợp đồng. Hemingway ký hợp đồng khác với Scribner, to hơn mạnh hơn nổi tiếng hơn. Hemingway cũng chế nhạo Stein, với cách viết lập lại trong các bài thơ của bà A rose is a rose is a rose.

Mãi đến tám năm sau Stein mới trả lời những câu chế nhạo của Hemingway dành cho bà và Anderson. Vào năm 1933, quyển Tự Thuật của Alice Toklas là sách bán chạy và Gertrude Stein càng nổi tiếng hơn. Stein qua giọng đối thoại với Toklas đã nói về nhà văn nổi tiếng Hemingway “đẹp trai vô cùng nhưng đôi mắt ấy là đôi mắt để ngắm chứ không phải là đôi mắt thông minh.” Theo lời của Toklas, Gertrude luôn luôn nói là “tôi chắc chắn là dễ bị mềm lòng vì Hemingway. Nói cho đúng, vỏn vẹn chỉ có hắn là chú bé đẹp trai đến gõ cửa nhà tôi và hắn quả là đã xui Madox Ford in bản đầu tiên của quyển The Making of Americans.” Nhưng Toklas lại nói thêm vào. Tôi không chắc đấy là công của hắn. Tôi chẳng biết chuyện đầu đuôi như thế nào nhưng tôi chắc là có nhiều lý do khác kèm theo. Những đoạn tiếp theo càng làm cho Hemingway điên tiết. Nào là Hemingway không biết ơn với Anderson , Hemingway trở nên nhà văn nổi tiếng là nhờ Anderson và Stein, cả hai đã sinh ra quái thai và họ vừa tự hào vừa xấu hổ vì sản phẩm trí tuệ của họ. Còn nói về sự độc đáo chủ nghĩa hiện đại của Hemingway thì đó là đồ giả, ông ta giả vờ là nhà văn theo chủ nghĩa hiện đại vì đó là cái vỏ ngoài thích hợp cho ông ta chứ thật ra trong thâm tâm ông ta chỉ là một nhà văn theo lề thói cổ truyền. “Ông ta trông giống người hiện đại nhưng sặc sụa mùi của viện bảo tàng.”

Thế còn cái chuyện Hemingway cổ võ viết sự thật, sự thật sẽ làm cho câu truyện hay. Stein chế nhạo Hemingway không phải là người dám viết sự thật bởi vì sự thật của ông ta chỉ là leo bậc thang, tăng tiến trên đường sự nghiệp. Ông ta không phải là mẫu người hùng, dũng cảm đi săn và đấu bò, ông ta chỉ là những tên đủ sức chống bè trên sông Mississippi như Mark Twain miêu tả. Ông ta không phải là người khỏe mạnh có cú đấm thần tốc như ông ta hằng khoe khoang, ngay cả học trò học quyền Anh của ông ta cũng đấm ngã được ông ta. Gertrude nói ông ta là học trò ngoan, nhưng rất mong manh dễ bị vỡ. Đụng đến là ông ta gãy tay, gãy chân, và vỡ đầu óc (bà nói kháy là phát điên). Rằng hai bà chán không muốn mời ông đến nhà của hai bà nữa.

Chuyện gấu ó của Stein với Hemingway còn dài. Hemingway thì khỏi nói, tài viết văn của ông không cần phải học ở Stein, nhưng bạn cũng thấy là người có máu phản bội. Không chỉ phản bội Stein và Anderson. Cứ mỗi lần ông bắt đầu một quyển sách mới thì ông lấy một bà vợ mới, sang một quốc gia khác. Ban đầu lấy vợ già hơn tám tuổi, rồi sau đó lấy vợ trẻ hơn rồi trẻ hơn. Độc giả nếu tò mò muốn biết thêm chuyện gấu ó của hai nhà văn này xin đọc quyển Literary Feuds của Anthony Arthur. Ban đầu tôi định dịch bài biên khảo này nhưng ngại vi phạm tác quyền và cũng sợ bị lôi ra tẩm quất tội dịch sai dịch dở (nói đùa đấy, bài này dài quá dịch mất thì giờ mà tôi thì đang bận, nếu tôi sợ bị tẩm quất thì tôi đã chẳng dám tự xưng là Lì),vì vậy tôi chỉ tóm tắt một vài ý chính viết để các bạn đọc giải trí. Kê khai nguồn đàng hoàng để các các quan không quở là tôi ăn cắp văn người khác, nhé.

về chuyện dịch

Quyển Please Look After Mom có giọng kể tự nhiên, chữ dùng đơn giản theo cách nói chuyện hằng ngày, cách viết này dễ dịch. Tuy nhiên, ngay trang đầu tôi đã gặp một cái khó.

Trích nguyên văn:

It’s been one week since Mom went missing.

The family is gathered at your eldest brother Hyong-chol’s house, bouncing ideas off each other. You decide to make flyers and hand them out where Mom was last seen.

Vì tôi đã đọc xong quyển này nên biết người kể chuyện ở đây là cô con gái lớn, nhà văn nổi tiếng, thường đi du lịch nhiều nơi. Nhưng với tôi cái khó dịch ở đây lại là chữ You. Có vẻ như cô con gái tự quan sát và nói về cô, như một lời trách phiền.

Thế là đã một tuần kể từ ngày Mẹ đi lạc.

Cả gia đình họp lại ở nhà anh cả Hyong-chol góp ý với nhau. You (Cô, Bạn) đề nghị làm giấy in rời và phân phát cho mọi người nơi người ta nhìn thấy Mẹ sau cùng.

Dùng Cô hay Bạn thì đều được nhưng tôi thấy dường như không lột tả được cái tự trách của nhân vật. Dùng “mày” hay “mi” có nặng lắm không?

Giả tỉ như người kể chuyện ở đây không phải là cô con gái, mà là bà mẹ? Nếu như là mẹ ở đâu đó nhìn thấy cô con gái đang tìm kiếm mình thì chữ You này có thể dịch là con. Ban đầu tôi tin chắc nhân vật kể chuyện là cô con gái. Chỉ đến cuối truyện tôi mới nghĩ đây có thể là giọng của bà mẹ. Cho dù tôi có biết chắc đây là giọng của bà mẹ thì tôi phải chọn từ danh xưng sao cho độc giả không thể khám phá ngay từ đầu ai là người kể.

Mỗi khi gặp một quyển sách hay tôi thường nghĩ cần phải dịch để chia sẻ với bạn đọc. Chuyện dịch hay hay dở tuy quan trọng nhưng chuyện giới thiệu với những người cùng thích truyện hay cũng là một việc cần thiết. Đời người quá ngắn ngủi, nhiều khi người ta không thể chờ đến lúc mình thật giỏi hay “hoàn hảo” để có thể làm những việc người ta thích làm. Nếu bạn già cở tuổi tôi bây giờ bạn sẽ thấy chữ “hoàn hảo” thật ra chỉ là một khái niệm chưa hoàn hảo chút nào. Cái hoàn hảo có thể chỉ hoàn hảo trong mắt một số người hay chỉ trong mắt của chính bạn mà thôi.

Khi đọc quyển này, tôi thấy tình cảm của người Đại Hàn có nhiều nét giống tình cảm của người VN. Họ cũng hiền lành, dịu dàng, chịu đựng, và tốt bụng như người mình. Khó mà tưởng tượng được những người lính Đại hàn đã từng được gửi sang VN chiến đấu cũng có người tàn bạo làm hại người dân VN cũng như những người chồng Hàn đã giết cô vợ Việt mới cưới một cách độc ác. Bà cụ Park So-nyo thì khỏi phải nói, giống bà mẹ VN vô cùng. Hiền lành, dịu dàng, luôn phục vụ chồng, đi sau ba bước nhưng lại là trụ cột trong gia đình con cái no ấm là nhờ một tay bà cày cấy. Luôn luôn hy sinh tận tụy với các con, rất ham học nhưng không được đi học bà nhất quyết bằng đủ mọi cách để các con được đến trường và tất cả đều thành công. Tưởng yếu mềm nhưng lại cứng rắn, luôn dấu mình sau bóng chồng con nhưng lại là người quyết định chuyện trong nhà, chinh phục người trong kẻ ngoài không bằng trí tuệ hay miệng lưỡi mà bằng tình cảm chân thành, bà là mẫu người mẹ và vợ Á châu của thế kỷ 20 mà con cái thường vô tâm đẩy vào bóng tối bởi vì chúng bận theo đuổi công danh, sự nghiệp, và tình cảm lứa đôi. Nói nhiều không bằng mời bạn đọc.

Cùng vẽ với các họa sĩ thuộc trường phái ấn tượng

“Tôi đã nói, với (hội họa) Ấn Tượng không phải chỉ có nhại cho giống với vẻ bên ngoài. ‘Không ai là họa sĩ’, Monet nói, ‘trừ khi anh ta mang trong đầu một bức tranh trước khi vẽ nó ra, và đã biết chắc cách thức anh ta muốn vẽ và sự phối hợp nội dung của bức tranh. Kỹ thuật có thể thay đổi, nhưng nghệ thuật thì bất biến.”

Tôi ở đây là Jonathan Stephenson, tác giả của quyển Paint With the Impressionists.

Câu nói của Stephenson làm tôi ngẫm nghĩ. Nếu một họa sĩ  có một bức tranh trong đầu, màu sắc, ánh sáng, bố cục của bức tranh đã được biết trước khi họa sĩ vẽ ra. Thì nhạc sĩ cũng luôn có âm thanh réo rắt trong đầu, và văn/thi sĩ cũng có những câu văn/thơ chờn vờn trong óc? Tôi luôn luôn tò mò về quá trình sáng tác của các họa sĩ, nhạc sĩ, và văn/thi sĩ. Làm thế nào để họ có những tác phẩm cho người ta thưởng thức?

Xem tranh ấn tượng thú vị ở chỗ là nhìn gần nó chỉ là những mảng màu nhưng đứng xa thì nó lại là những bức tranh có đường nét khá rõ ràng.

17 tháng 3

Hôm nay là ngày 17 tháng 3, ngày lễ thánh Patrick của quốc gia Irish. Thảo nào hôm nay nhiều người mặc quần áo màu xanh lá cây tươi. Một vài người đeo huy hiệu có câu nói đùa Hôn tôi đi vì tôi là người Irish. Hôm nay có diễn hành trước nhà thờ thánh Patrick ở thành phố New York . Có năm những người ủng hộ giới đồng tính luyến ái tổ chức diễn hành nhập chung vào cuộc diễn hành tôn vinh thánh Patrick này. Những người diễn hành thế là gặp may bởi vì hôm nay là một ngày rất đẹp trời. Buổi sáng sớm tôi đã can đảm không đội mũ vì không thấy lạnh.

Buổi trưa, tôi ăn trưa sớm hơn thường lệ để được đi bộ. Mặt trời chiếu trên lưng tôi thật ấm. Dọc đường đi những cây mơ cây táo đã có nụ hoa thật bụ bẫm. Trời trong xanh và những con chim hải âu bay lượn đầy trong sân nhà thờ thánh John, nơi đây người ta vẫn tổ chức phát chẩn, thức ăn trưa cho người nghèo năm ngày một tuần. Hôm qua đọc báo thấy thành phố nơi tôi đang làm việc, Newark, là một trong 10 thành phố khó tìm việc làm nhất nước Mỹ.

Đi ngang hí viện thành phố thấy rất nhiều xe buýt chở học sinh Trung học đến xem trình diễn. Hình như có buổi trình diễn về các bộ môn nghệ thuật dành riêng cho học sinh các trường Trung học. Thấy trên các tấm bích chương có rất nhiều cuộc trình diễn âm nhạc, ca vũ, nhạc kịch, hòa tấu, và độc tấu từ bây giờ cho đến cuối năm. Đâu như tuần lễ cuối tháng ba sẽ có trình diễn vở nhạc kịch Monty Python’s Spamalot. Những người yêu thích các vở nhạc kịch của Broadway thỉnh thoảng có thể tìm thấy những buổi trình diễn những vở nhạc kịch nổi tiếng ở hí viện này.

Tôi thong thả đi dạo cho đến thư viện chính của thành phố rồi quay trở về. Lúc về thì mặt trời chiếu ấm áp trên ngực và trên mặt tôi. Những ngày như thế này tôi thấy nếu được mang thức ăn đi nuôi chim bồ câu hay xách máy ảnh đi lang thang chụp hình thật là tuyệt.

Liên tiếp mấy hôm stock market xuống đùng đùng. Hôm nay giá stock tăng trở lại. Đàn ông Mỹ mê bóng rổ tiếp tục kháo nhau về March madness. Buổi chiều đi làm về trời đã đủ ấm để các cô gái Mỹ đi dự diễn hành mừng ngày Irish mặc quần shorts ngắn ơi là ngắn để thấy đôi chân dài vô tận. Chung quanh tôi có vẻ như mọi việc đều yên ổn bình thường. Vậy mà tôi có cảm giác có cái gì đó không bình thường cũng không yên ổn.

Chồng Việt, chồng Mỹ

Hôm trước có người hỏi tôi có đọc bài của ông Nguyễn Hưng Quốc trên báo VOA không, bài nói về đàn ông Việt. Hôm ấy ông Quốc nói đến bài của ông Trương Duy Nhất và tôi thấy ý kiến của ông Quốc không có gì quá khích, đọc cũng vui vui. Ông Quốc có nói là để cho các nhà văn nữ có ý kiến về đàn ông Việt. Có ý kiến thì ai cũng có thể có ý kiến, không cứ gì phải là nhà văn. Tôi thì chắc chắn không phải là nhà văn rồi. Tôi nói về đàn ông Việt hay đàn ông Mỹ thì chỉ nói cái kiểu người mù sờ chân voi. Đàn ông Việt ở Mỹ tôi quen biết thì toàn là người trong gia đình, chồng, anh chồng, em chồng, anh rể, em rể. Tất cả đều là gia đình bên chồng.

Tôi là con út, người thân tôi đều đã qua đời. Tất cả những người chung quanh tôi càng biết ít hơn. Gia đình chồng tuy đến Mỹ sau tôi đều quen biết người Việt nhiều hơn tôi. Tôi sống khép kín lắm, rất ngại tiếp xúc. Những gì tôi biết ở người chung quanh đểu là những mảnh vụn nhỏ nhặt, lờ mờ, phiến diện. Và vì thế xin giới hạn chỉ nói những gì tai nghe mắt thấy.

Anh rể và em rể (chồng của chị chồng và em chồng) là hai người đàn ông siêng năng rất thương vợ con. Anh rể là lính VNCH đi cải tạo mười mấy năm. Em rể là người ngoài Bắc vào Nam, đi bộ đội, mẹ của chú (em) là cán bộ tập kết, chú đi lao động bên Đức và theo gia đình vợ sang Mỹ. Hai người khác chiến tuyến nhưng trở nên người trong một nhà. Cả hai người đều quý (và sợ) vợ   , tại vì phải công nhận chị chồng tôi và em chồng tôi là hai người đàn bà rất đáng sợ (nói giỡn nghe) ở chỗ rất đảm đang, quán xuyến, khôn ngoan, hết lòng chăm lo cho gia đình. Hai ông này đều biết nấu ăn và nhất là chú em, nấu ăn ngon hết xẩy (vì đã có thời đi làm nhà hàng Tàu ở Đức). Làm công việc nhà răm rắp, nấu cơm rửa chén giặt quần áo đi chợ, đi làm về đưa tiền cho vợ giữ hết. Anh chồng tôi và em chồng tôi thì không siêng bằng. Ông nhà tôi (thường được mọi người tôn sùng cho đứng hàng ngoại lệ) nếu cần thì cũng làm được, nhưng ông nấu thì chỉ có ông ăn được cả nhà ai cũng chê, ngoại trừ món cải chua ông làm ngon lắm. Ông chăm hai đứa con tốt hơn là tôi chăm. Ngày hai cô còn bé ông là người cho con ăn, cho con bú bình, chở đi nhà trẻ. Còn bây giờ thì ông lo chuyện giấy tờ học hành.

Đàn ông ở VN thì tôi  không biết. Tôi về VN lần cuối là 2005 chỉ gặp người cháu rể một lần. Thấy cháu rể tôi nhàn nhã hơn. Chuyện nhà thì vợ quán xuyến và nhà có một người giúp việc đối đãi như người thân trong nhà. Còn ở ngoài đường thì thấy các ông ngồi quán cà phê sáng trưa chiều tối. Người ngoại quốc thường hay nói về đàn ông VN là những người được cưng chìu hầu hạ chẳng phải làm gì. Có lẽ đó là thành kiến nhưng tôi cũng lờ mờ có cảm tưởng như thế.

Nói như thế không có nghĩa là không có người hư hỏng. Tôi biết có hai vợ chồng Việt, vợ làm thợ may sửa quần áo, chồng làm thợ máy, người chồng đánh vợ đến độ lôi nhau ra tòa, báo đăng um sùm. Một cô bạn trẻ, cả hai vợ chồng đều là người Việt, làm chủ tiệm móng tay, giàu có nhưng chồng đánh bạc thua mỗi lần mấy chục ngàn. Có người Việt lấy vợ Mỹ, đánh vợ, con chung của hai người kêu cảnh sát bắt bố vào tù.

Có vài người đàn ông Mỹ tôi làm việc chung với họ hơn hai mươi năm nhưng không thể nói là “biết” họ. Như đã nói, tôi khá khép kín. Đời sống ở đây rất kín đáo, đèn nhà ai nấy sáng. Một vài người thân của tôi ngỏ ý muốn lập gia đình với người ngoại quốc và hỏi tôi đời sống bên này. Người Mỹ thế nào. Chuyện này thì mông lung thiên địa, người thế này người thế khác. Có một vài điểm quan trọng, các bà các cô muốn lập gia đình với người Mỹ nên cẩn thận tìm hiểu; tìm hiểu bằng cách nào thì tôi chịu thua, không biết. Tôi nghĩ, thực tế nhất và quan trọng nhất là chuyện tiền, dĩ nhiên là phải sau khi đã yêu.

Hai người làm việc chung với tôi có cho biết chuyện tiền bạc họ thu xếp trong gia đình họ. Một người là ông xếp cũ của tôi. Vợ ông làm y tá. Tiền của ai nấy giữ. Còn ông kia thì giữ hết tiền. Vợ ông là người nội trợ, ông đưa credit card cho vợ cho phép tiêu xài. Cuối tuần ông đi chợ, bà vợ ông ít khi đi đâu hay giao thiệp. Có khi ông than phiền là bà cho ông ăn hamburger hay hot dog (là những món ăn giản dị không cần phải chăm sóc bỏ công nấu) hay bỏ bát đĩa dơ qua đêm. Điều đó có nghĩa là bà nấu ăn và rửa chén.

Nếu phụ nữ người Việt có quan niệm mình là người giữ tiền thì có lẽ sẽ không vui bởi vì không phải người Mỹ nào cũng đồng ý việc này. Ông sếp của tôi hiện nay có lần bảo rằng ở trong gia đình ông, ông là người nấu nướng và làm bánh. Ông sếp này là Kỹ sư trưởng của một ban kỹ sư công chánh cầu đường, dưới tay ông ngót ngét trăm nhân viên, lương của ông có lẽ phải 150 ngàn mỹ kim. Một người bạn Mỹ của ông nhà tôi, là luật sư về bằng phát minh sáng kiến, sang VN cưới vợ. Cô vợ nhỏ nhắn có lẽ bằng phân nửa sức nặng của ông chồng. Cô biết nói tiếng Anh và thấy hai người rất hạnh phúc. Đến nhà tôi ăn tối thỉnh thoảng tôi thấy cô nắm tay chồng. Một cô bạn người Trung quốc của tôi lấy chồng Mỹ. Anh chồng mảnh khảnh hơn cả người Trung quốc chuyện tài chánh bạn tôi nắm hết, cô nấu ăn còn anh thì rửa bát. Hai người không có con với nhau nhưng cô bạn tôi có con riêng. Người yêu trước cũng là người Mỹ. Nhìn chung thì họ cũng vui vẻ hạnh phúc. Những bất đồng trong gia đình dĩ nhiên là phải có. Tiền bạc là một nguyên nhân. Cá tính khác biệt nhau cũng là một nguyên nhân rất quan trọng. Còn nếu bất đồng vì sự khác biệt về văn hóa và liên hệ với gia đình hai bên cũng không kém phần quan trọng có khi còn quan trọng hơn. Chuyện sứt mẻ hôn nhân vì chuyện in-law cũng thường xảy ra. Phụ nữ Việt lấy chồng ngoại quốc cần nhất là phải biết tự bảo vệ mình về nhiều phương diện. Ông bà mình đã từng nói:

Mẹ thương con mẹ còn thơ.
Lấy chồng xứ lạ bơ vơ một mình.

Xứ lạ của ông bà mình là lấy chồng ở làng khác, tỉnh khác, vẫn còn nói chung một ngôn ngữ mà đã thấy khó khăn. Lấy chồng về một cái xứ nào mà mình không nói được tiếng xứ ấy, không độc lập về tài chánh, không có hậu thuẫn của gia đình, người thân, thì càng khó khăn hơn gấp bội lần.