Giàu bao nhiêu thì đủ?

Tuần trước đọc báo The New York Times thấy một phụ nữ rất trẻ, mới hai mươi lăm tuổi có đứa con trai hai tuổi rơi vào cảnh bần cùng. Ở bên Anh mùa này mà nhà không có sưởi, không có nước nóng, không có thức ăn, nhiều hôm cô nàng và đứa con phải nhịn đói. Cô viết blog và cuộc đời đưa đẩy bây giờ đời sống của cô đã khá hơn nhiều. Cô có được hợp đồng viết văn, xuất bản sách chừng bốn mươi ngàn đồng, mỗi tuần cô lãnh được hơn ba trăm đồng đủ để nuôi con. Cô chỉ lớn hơn con tôi hai tuổi, và cô có con khi cô bằng tuổi con tôi. Đọc về cô tôi thấy lo ngại cho con tôi. Một chuỗi quyết định sai lầm có thể đưa người ta đến chỗ tận cùng trong đáy giếng của xã hội. Continue reading Giàu bao nhiêu thì đủ?

Đám tang

Mr. Wolfsheim, nhân vật trong truyện The Great Gatsby, nói một câu đại ý là, nếu thật sự yêu mến bạn bè hãy bày tỏ tình thân hữu khi anh ta còn sống. Gatsby nổi tiếng là người tổ chức những buổi dạ tiệc rất linh đình. Ăn uống khiêu vũ suốt đêm, ban nhạc sống với những điệu jazz swing nhộn nhịp, bia rượu tràn trề. Khỏi phải nói dông dài, những buổi tiệc như thế rất đông người tham dự, tay to mặt lớn, và cả những người dự tiệc mà không được chủ nhân mời. Thế mà khi Gatsby ngã xuống vì những viên đạn thù thì không một người bạn nào dự đám tang của ông. Fitzgerald nhấn mạnh sự chua xót này, bằng cách cho một nhân vật gọi Nick Carraway, bạn của Gatsby, nhờ người giúp việc của Gatsby gửi trả đôi giày đánh tennis anh ta lỡ bỏ quên ở biệt thự của Gatsby. Anh ta không muốn đến lấy đôi giày dù anh ta đang ở gần biệt thự của Gatsby như thể anh ta sợ bị dính líu với cái tên của người chết. Wolfsheim, bạn đồng hành trong công việc bán rượu lậu, người từng tự hào là người dạy dỗ Gatsby cách làm giàu, cũng từ chối không đến dự đám tang. Ông ta thực hiện đúng lời tâm niệm là chỉ làm bạn với người còn sống.

Continue reading Đám tang

Tìm Tình Giữa Chợ

Bài đã xuất hiện trên trang mạng Gió – O. Tìm Tình Giữa Chợ

Từ xưa đến nay, chợ búa vẫn là chuyện của phụ nữ, và binh đao vẫn là chuyện của nam nhi.  Trai khôn tìm vợ chợ đông. Gái khôn tìm chồng giữa chốn ba quân. Người miền núi có những phiên chợ tình để trai gái gặp nhau. Muốn thành công trong việc lập gia đình phải tìm người yêu ở đúng chỗ. Trịnh Công Sơn viết: “Tìm tình, tìm tình trong nắng em gặp cơn mưa. Ô hay tìm tình giữa ngọ buồn lưa thưa về. Tìm tình, tìm tình trên núi em gặp mây bay. Ô hay, tìm tình giữa chợ tình phai mất rồi.” Té ra, chàng nghệ sĩ này, tài hoa nhưng lận đận, cũng phải đi tìm tình giữa chợ. Continue reading Tìm Tình Giữa Chợ

những giai thoại về Hemingway

Bài này đã đăng trên Văn Chương Việt.

Trích đoạn và phỏng dịch Writers Gone Wild – the Feuds, Frolics, and Follies of Literature’s Great Adventurers, Drunkards, Lovers, Iconoclasts, and Misanthropes  (Nhà Văn Đại Náo – những chuyện tranh chấp, nô đùa, và điên rồ trong văn chương của các nhà phiêu lưu, chàng say, người tình, kẻ đả phá thần tượng, và kẻ ghét người).  Bill Peschel biên soạn.

Nhà văn nổi tiếng thường được bao vây bằng hào quang của sự thành công. Người ta ngưỡng mộ tài năng của nhà văn nên quên rằng họ cũng chỉ là người, đầy tật xấu. Một trong những nhà văn nhiều tài lắm tật là Hemingway. Tôi xin tặng bạn đọc những giai thoại về Hemingway tôi trích đoạn, tóm tắt và phỏng dịch từ quyển Writers Gone Wild của Bill Peschel biên soạn. Đây là một quyển sách rất thú vị, bạn sẽ có lúc tủm tỉm cười như khi bạn đọc về các ca sĩ hay hoa hậu đánh ghen, và bạn sẽ đôi lần ngạc nhiên về sự mạo hiểm có thể đưa nhà văn vào cõi chết hay tù đày như trường hợp của Marguerite Duras, người mà bạn tưởng là chỉ viết truyện đầy nhục cảm với đàn ông châu Á. Quyển sách nhỏ này có hằng trăm giai thoại thú vị về hằng trăm tác giả nổi tiếng. Nhưng tôi không muốn dông dài lạc đề, ở đây tôi chỉ phỏng dịch những đoạn tôi trích trong quyển sách nói trên về nhà văn Hemingway.

Hemingway làm John Steinbeck nổi lôi đình (1944)

John Steinbeck thích truyện ngắn “The Butterfly and the Tank” của Hemingway nên viết thư khen ngợi và nhân dịp ngỏ ý muốn gặp Hemingway. Hẹn gặp nhau ở quán rượu Steinbeck và Hemingway tình cờ gặp nhà văn John O’Hara. O’Hara đưa cho Hemingway xem cây gậy bằng blackthorn Steinbeck đã tặng cho ông. Blackthorn là một loại gỗ nổi tiếng cứng rắn. Hemingway trề môi khịt mũi, “cái này không phải gỗ blackthorn.” Hemingway đánh cuộc năm mươi Mỹ kim với O’Hara là ông có thể bẻ gãy cây gậy bằng cái đầu của ông. O’Hara nhận lời đánh cuộc. Hemingway để gậy lên đầu dùng hai tay kéo hai đầu gậy và bẻ gãy nó. Ông ném mảnh vỡ của cây gậy vào góc quán và chế nhạo. “Cái này mà ông dám bảo là blackthorn.”

Steinbeck giận sôi gan. Không những vì cử chỉ phô trương thô lỗ của Hemingway mà còn vì cây gậy này là của ông của Steinbeck để lại. Bạn bè của Steinbeck thường giật mình khi thấy bình thường ông rất dịu dàng nhưng nổi giận khi nghe nhắc đến tên Hemingway và nỗi ghét này kéo dài hằng chục năm. Steinbeck lấy quyển sách The Sun Also Rises (Mặt Trời Vẫn Mọc) trên kệ sách và đọc một đoạn đối thoại của Hemingway bằng giọng đều đều làm nó dở đi, khó nghe, rồi bảo. “Tôi không hiểu được tại sao người ta nghĩ là Hemingway có khả năng viết đối thoại.”

Dần dần Steinbeck cũng bỏ qua. Khi ông nghe Hemingway phê bình đoạn kết của The Grapes of Wrath (Chùm Nho Uất Hận) – chỗ người đàn ông bị đói quá đã bú sữa từ ngực của một người đàn bà đang hấp hối – “không thể là giải pháp cho những khó khăn về kinh tế của chúng ta,” Steinbeck viết, “Lời phân tích của ông Hemingway không hẳn có giá trị nhưng quả là buồn cười.”

Hemingway đánh nhau với Stevens (1936)

Người Mỹ có câu nói “Sticks and stones may break my bones but words never hurt me. ” thường được dùng để biện bãi khi bị người ta dùng lời nói làm tổn thương. Câu thành ngữ này có nghĩa là “Gậy gộc và đá có thể làm gãy xương tôi nhưng lời nói thì chẳng nhằm gì.” Thật ra lời nói còn làm đau hơn gậy gộc. Giữa Hemingway và Stevens thì câu nói không phải, có thể đưa đến chỗ bị đấm vào mồm.

Ursula, em gái của Hemingway, được giới thiệu với Wallace Stevens trong một buổi tiệc ở Key West, Florida. Stevens là nhà thơ nổi tiếng, gốc gác ở Hatford thuộc tiểu bang Connecticut. Stevens bảo với Ursula, Hemingway chỉ là một kẻ giả dối, không phải là đàn ông. Sau buổi tiệc, cô nàng Ursula về nhà thuật lại với anh. Hemingway lập tức đi tìm ông nhà thơ hiện đại để cho một bài học. Đây là một cuộc đọ sức khó biết phần thắng sẽ về ai. Stevens tuy đã năm mươi sáu so với Hemingway chỉ mới ba mươi sáu, nhưng ông cao hơn, to lớn hơn. Ông cũng là một tay cừ khôi về quyền Anh. Stevens lúc ấy đang say sứa sứa và Hemingway cũng đã ngà ngà.

Hemingway bắt kịp Stevens ở bến tàu và đòi choảng nhau. Stevens chế nhạo, “chú mày tưởng chú mày là Ernest Hemingway là ngon lành lắm sao” rồi thụi cho Hemingway một cái. Hemingway đấm trả lại và sau khi tàn cuộc chẳng những bàn tay của Stevens bị bộ xương hàm của Hemingway làm gãy, ông còn bị đánh gục vài ba lần, mặt mũi và mắt bị bầm tím.

Lo ngại cho danh tiếng của mình, Stevens là Giám đốc của một hãng bảo hiểm nổi tiếng, Stevens yêu cầu Hemingway đừng thố lộ với ai việc này. Dù đồng ý, lời yêu cầu của Stevens cắn rứt Hemingway đến độ ông ta cho chi tiết này vào một truyện ông đang viết dang dở. Trong “The Short Happy Life of Francis Macomber,” sau khi Macomber sợ hãi con sư tử nên bỏ chạy, ông ta yêu cầu Wilson, một người thợ săn người da trắng rất tài giỏi, đừng kể lại với ai điều này.

“Ông ta không đoán trước được hậu quả này,” Wilson hồi tưởng. “Ông ta là một thằng tồi, một kẻ hèn nhát … Yêu cầu chúng tôi ‘đừng kể lại chuyện này’ là một hành động đáng chê.”

Stevens có lẽ không bao giờ biết vụ này. “Về Hemingway,” ông viết thư cho một người bạn, “Tôi không thể nói gì nhiều bởi vì tôi không đọc sách của ông ấy.”

Hemingway chơi khăm vợ

Hemingway là một người ích kỷ, ông cư xử xấu với nhiều người, kể cả vợ của ông. Người vợ thứ ba của Hemingway, Martha Gellhorn, kết hôn với ông từ năm 1940 đến năm 1945, là một nhà báo có tài. Bà có nhiệm vụ tường thuật ngày tổng tấn công (D-day); tuy không phải cận chiến với Phát xít Đức, bà phải đương đầu với chính ông chồng của bà.

Lấy nhau ba năm, hai người càng lúc càng lạnh nhạt với nhau. Hemingway nhậu nhiều hơn, viết ít hơn, và – trái ngược với bà – không muốn dính líu đến chuyện chiến tranh. Ông đã chán ngán thế chiến thứ nhất và cuộc nội chiến Tây Ban Nha. Giờ đây ông chỉ muốn được nhậu cho đã đời với những anh Cuba đồng chí rượu của ông.

Tuy nhiên khi Hemingway nghe tin Gellhorn nhận lời tạp chí Collier’s, bà sẽ tường trình cuộc đổ quân lên châu Âu, bản tính ích kỷ muốn hơn vợ nổi dậy nên ông lập mưu chơi xấu. Trước tiên, ông thuyết phục tạp chí Collier’s thuê ông, ông cướp của vợ độc quyền tường thuật chiến tranh cho tờ tạp chí này. Sau đó ông không cho bà được cùng băng qua Đại Tây Dương với ông bằng phi cơ Không quân Hoàng gia mà bà đã sắp xếp cho ông.

Gellhorn, để đáp lại, đã thuyết phục một đoàn quân khác cho bà quá giang. Suốt hai mươi ngày bà theo đoàn tàu quanh co trên biển vừa đi vừa tránh tàu ngầm của Đức. Họ càng phải cẩn thận gắt gao hơn vì đoàn tàu này chở đầy chất nổ.

Ở Luân Đôn, sau khi ăn nhậu thỏa thuê với bạn bè và chờ hồi phục sau một tai nạn xe hơi trên đường phố tắt đèn điện để tránh bom, Hemingway được đưa tên một chiếc tàu khu trục để được tận mắt xem cuộc đổ bộ. Ông thành công trong nhiệm vụ mang tàu chuyên chở bộ quân đổ lên bãi biển Omaha. Ngày hôm sau ông quay trở lại Luân Đôn sắp xếp hồ sơ truyền tin.

Trong lúc ấy Gellhorn đến bãi biển Omaha bằng con đường khác. Được đi chung với tàu bệnh viện, bà đến bờ và nhìn thấy phi cơ Đồng Minh gầm thét trên đầu và đạn đại bác nổ tung tóe ở chân trời. Khi chiếc tàu bệnh viện tiếp nhận bệnh nhân, bà tiếp tay với bác sĩ và y tá, thông dịch tiếng Pháp và tiếng Đức, mang nước, và đút thức ăn cho bệnh nhân.

Đêm ấy, bà lội nước ngập thắt lưng, đi theo các người cứu thương vào đất liền. Bà nhìn thấy chiến trận xảy ra như cơn ác mộng với đèn tín hiệu đỏ cháy lóe soi sáng những chiếc xe tăng bị thủng tả tơi, những cái bệ bê tông đặt súng đại bác vị vỡ toang, và sự vận chuyển liên tục của quân nhân và nhu yếu phẩm băng qua bãi biển. Bà ghi nhận kỹ lưỡng hàng ngũ của thiết giáp và xe vận tải tiến sâu vào nội địa rượt đuổi địch quân.

Ở Luân Đôn, bà viết hai bài tường thuật cho tạp chí Collier’s trước khi bà bị bắt và bị quân đội Hoa Kỳ đe dọa trục xuất nếu bà còn vượt ra khỏi phạm vi phóng viên. Tuy nhiên bà không tuân lệnh và lại lẻn trốn. Suốt cuộc chiến tranh bà luôn đi trước cảnh sát quân đội một bước, được các quân nhân giúp đỡ vì họ thán phục sự can đảm và nhan sắc của bà.

Khi Bá Linh thất thủ, bà đã tham dự cuộc oanh kích và tường thuật cuộc giải phóng trại tập trung Dachau. Bà cũng ly dị Hemingway, người không bao giờ tha thứ cho bà vì đã đổ bộ trước ông.

Hemingway thiết lập đường dây do thám

Hemingway đã từng giúp FBI thiết lập một đường do thám ở Cuba trong chiến tranh để thu thập tin tức về những hoạt động của Đức Quốc Xã. Ông chất đầy đạn dược và chất nổ lên chiếc thuyền đánh cá Pilar của ông, rồi long rong trên biển đi tìm tàu ngầm của địch quân. Kế hoạch của Hemingway là dụ cho tàu ngầm nổi lên mặt nước. Khi quân đội Đức Quốc Xã mở cửa tàu, Hemingway và bạn bè của ông sẽ dùng súng máy và lựu đạn tấn công kẻ địch. Tuy nhiên, không có chiếc tàu ngầm nào bị mắc bẫy của Hemingway.

Tuần trăng mật của Hemingway (1921)

Ông hai mươi mốt tuổi và là “Hasovitch” của bà; Bà hai mươi chín tuổi và là “Nesto” của ông.  Trong suốt chín tháng theo đuổi nhau, họ trao đổi hằng trăm lá thư nhưng chỉ gặp nhau có bảy lần, vì thế có lẽ Hadley Hemingway rất ngỡ ngàng khi nhìn thấy bản chất thật của ông chồng Ernest.

Hai người cưới nhau ở Vịnh Horton, miền bắc Michigan và sau lễ cưới, họ được đưa về hồ Walloon, gần hòn đảo nơi gia đình của Hemingway có nhà nghỉ mát mùa hè.

Tuần trăng mật bắt đầu không mấy suôn sẻ vì đôi vợ chồng bị ốm và trời trở lạnh. Khi Ernest không viết văn, họ ở trong nhà và dưỡng bệnh bằng rượu vang.

Một buổi sáng, Ernest qua bên kia bờ hồ và quá giang xe để mua thức ăn. Ông mua 2 kí thịt bò, gặp một người bạn trao lại cho ông bộ quân phục cũ, và ông nhậu rượu lậu với người bạn này đến khi say không còn biết trời đất gì cả.

Loạng choạng đến bờ hồ, ông “mượn” chiếc xuồng gắn máy của người bạn và hướng về nhà. Nghe tiếng hò la của Hemingway, Hadley vội vàng xuống bờ hồ vừa kịp lúc nhìn thấy ông chồng say của bà phóng xuồng trên những đợt sóng cao. Ông ném cho bà miếng thịt bò và phóng thuyền lên mạn trên của hồ.

Hadley đi bộ xuyên rừng cho đến khi bà có thể nghe tiếng của Ernest. Bà nhìn thấy ông mặc bộ quân phục, vẫn còn nửa tỉnh nửa say, và đang hát một bài quân ca Ý.

Ông cũng chẳng đáng yêu khi cứ nhất quyết mang vợ đi giới thiệu với mấy cô bồ cũ đang sống ở Petosky gần đấy. Ông giải thích là ông muốn nâng cao con người ông trong tầm mắt của bà, nhưng bà cho là hành động ấy là một cử chỉ đề cao tính khoe khoang hợm hĩnh của ông.

Tuần trăng mật, bà thú nhận, “phần lớn là sự thất bại.”

Hemingway khi trời tối (quan niệm phòng the)

Tiểu thuyết của Hemingway có thể được xem là điển hình của trường phái văn chương hiện đại nhưng thái độ của ông đối với tình dục bắt nguồn sâu xa từ thời Victoria. Ông tin rằng mỗi người đàn ông chỉ có một số lần nhất định đạt đến tột đỉnh của khoái cảm vì thế nên phân chia đều những tột đỉnh khoái cảm này trong suốt chiều dài cuộc đời. Ông cũng tin vào hôn nhân, nên đã đến bệ thờ làm đám cưới bốn lần, và luôn luôn có một người chờ sẵn trong khi ông đang làm thủ tục ly dị bà vợ trước.

William Faulkner, người luôn giữ người vợ chính thức nhưng có hàng tá những cuộc tình vụn vặt, có cách tóm tắt triết lý về hôn nhân của Hemingway tốt nhất: “Lỗi lầm của Hemingway là ông ta cứ nghĩ là ông ta phải cưới tất cả các bà tình nhân.”

Hemingway có thể là người hùng trong những cuộc đi săn, đi câu, đánh quyền, và đấu bò, nhưng dường như ông không phải là dũng sĩ trong chăn gối. Một phần của vấn đề là do tật nghiện rượu của ông đưa đến chỗ bị bất lực và càng già càng trở nên tệ hại. Tuy nhiên, Hadley,bà vợ đầu tiên, cho rằng sự bất lực này thật ra chỉ vì Hemingway quá đãng trí với việc yêu đương. Đang cơn chăn gối, ông bỗng vói lấy quyển sách trên bàn ngủ và đọc sách bên trên bờ vai của bà. Điều này đủ để làm nguội lửa lòng của bất cứ bậc nữ nhi nào.

Nhà văn và tình dục

Honoré de Balzac tin là để bảo vệ óc sáng tạo ông cần phải tiết chế tinh dục. Sau một cơn quyến rũ đưa đến kết thúc tự nhiên, ông ta kêu rêu với bạn bè năm 1831, “Tôi mất một quyển sách sáng hôm nay!” Ông bảo với Alexandre Dumas con là chẳng có người đàn bà nào xứng đáng với giá trị của hai quyển sách trong một năm.

Victor Hugo tin rằng tình dục và thiên tài có liên hệ với nhau và cả hai thứ đều cần phải thực tập càng nhiều càng tốt. Năm 1847, khi con ông nhờ can thiệp việc cô người yêu, Alice Ozy, phản bội, Hugo giải quyết vấn đề của cậu con trai bằng cách dụ dỗ cô nàng này.

Alexandre Dumas bố, cũng giống như Hugo, hoàn toàn không đồng ý với cái vô lý của Balzac. “Nếu bạn nhốt tôi vào trong phòng ngủ với năm người đàn bà, viết, giấy, mực, và một vở kịch cần phải viết,” ông ta khoác lác năm 1861, “chỉ sau một giờ đồng hồ tôi đã viết xong vở kịch và làm thịt cả năm bà.”

Cũng như tất cả những người phụ nữ đứng đắn vào thời của bà, Edith Wharton hoàn toàn mờ mịt về chuyện phòng the. Trước khi đám cưới của bà vào năm 1885, bà đã tế nhị hỏi mẹ “có gia đình thì nó ra làm sao,” mẹ bà bảo, “tao chưa bao giờ được nghe một câu hỏi kỳ cục như thế.”

Leo Tolstoy không tìm thấy sự giải tỏa bằng tình dục, và suốt cuộc đời ông luôn tự dằn vặt giữa sự thèm muốn và mặc cảm tội lỗi đến độ tự ghét bỏ chính mình. Vợ ông cũng vì thế mà khốn khổ, sau khi sinh đứa con út – đứa thứ mười ba của hai ông bà – lúc ấy bà bốn mươi bốn và ông đã sáu mươi. “Hôn nhân không thể mang lại hạnh phúc,” ông nổi cơn giận phừng phừng, năm 1899. “Nó luôn luôn tra tấn mình, đó là giá mà người đàn ông phải trả để thỏa mãn cơn thèm tình dục của hắn ta.”

Một chuyến đi xa, một cuộc gặp gỡ

Hôm Thứ Bảy chúng tôi, anh Thư, chị Yến, tôi, và phu quân đi Falls Church, Virginia để gặp nhà văn Hoàng Dược Thảo kiêm bà chủ báo Sài Gòn Nhỏ. Năm giờ đồng hồ lái xe, suốt quảng đường mưa dầm dề. Năm nay trời ấm dọc đường ở tiểu bang Maryland đã thấy những cây hoa đào hồng nở rộ.

Con đường xa trở nên ngắn lại nhờ những câu chuyện lý thú do hai ông bà Trần Hoài Thư kể. Chúng tôi cười thú vị khi anh chị nhắc đến những bài biên khảo của ông HBT viết về các luật lệ của vua, ông thường gọi những luật lệ này là đạo dụ không hề biết người bình dân thường nói lái thành ra chữ tục.

Chị Thảo năng động và trẻ hơn tuổi. Chị rất vui vẻ, niềm nở, hoạt bát, duyên dáng, quen nói chuyện trước đám đông. Chị thuộc mẫu người phụ nữ tự tin và thành công, dám nói những ý nghĩ của mình. Ở chị toát ra một vẻ thực tế, thành thật, có uy tín và rất thu hút. Khác hẳn người phụ nữ có cách viết sắc bén trong những bài nhận định ký tên Đào Nương, suốt buổi tiệc ngồi cạnh chị nghe chị nói chuyện thủ thỉ tôi có cảm giác chị là người quen rất thân. Tôi có cảm tưởng là ai nói chuyện với chị xong cũng sẽ tin cậy và muốn cộng tác với chị.

Tôi ngạc nhiên khi biết chị là nhân vật đã gây cảm hứng để nhà thơ Du Tử Lê làm ra những câu thơ để đời nhất là bài Khúc Thụy Du được nhạc sĩ Anh Bằng phổ nhạc. Tôi đặc biệt yêu thích cái hình ảnh con chim bói cá “bói” ánh trăng ngà, lãng mạn thơ mộng và không kém phần tuyệt vọng. Chị đọc một số câu thơ tự giễu tự trào về cái thời “Thụy lang thang” và những câu thơ xin lỗi con vì tình duyên của chị trắc trở rất duyên dáng nhưng vì tôi không ghi chép lại nên không còn nhớ. Chị bảo e-mail nhắc nhở chị sẽ chép cho nguyên bài nhưng nếu chờ e-mai qua lại tôi sẽ quên mất những điều tôi muốn viết nên hôm nào xin được
những bài thơ của chị tôi sẽ đăng lên sau.

Chị Thảo kể có hai vợ chồng già ở khu vực Sài Gòn Nhỏ. Hai ông bà tuyên bố chia tay sau khi kết hôn mấy mươi năm. Một thời gian sau lại thấy hai ông bà vẫn chung đường chung lối như vẫn còn chung gối chung chăn, hỏi tại sao thì được biết rằng quyết định chia tay nhưng không thể chia chân. Có một ông sư nổi tiếng là chân tu nhưng bị kiện cáo về chuyện tiền bạc. Người đời cười bảo rằng ông sư là người chân tu nhưng tay không tu vì còn bận đếm tiền.

Chị Yến là mẫu người phụ nữ hiếm có. Chị luôn luôn nhỏ nhẹ với chồng, trân trọng đam mê hoài bão của chồng. Phải lì, có nghĩa là chịu đựng và nhẫn nại, lắm mới chịu nổi những công việc “lấy công làm lỗ” của anh Thư. Hai ông bà gửi một hai chục quyển sách để tặng mà không đòi hỏi tiền bạc là chuyện xảy ra rất thường.

Chuyến về chị đã rất mệt mỏi nhưng khi đến chỗ nghỉ anh Thư vì chân bị gout nên đi khập khễnh, tôi nghe chị nói giọng nhỏ như muỗi kêu “anh vịn vai em kẻo té.” Trông bà nhỏ bé liêu xiêu và ông lêu khêu hom hem tôi cảm động với mối tình già này.

Thế là một lần đi xa, với tôi là một hạnh ngộ, được tiếp xúc với hai người phụ nữ thành công đáng nể. Chị Thảo và chị Yến là hai người đàn bà tuyệt vời đã nuôi con nên người. Nhân ngày phụ nữ quốc tế xin viết vài lời chúc mừng hai chị.