Migration – W.S. Merwin

Thiên di

Prayers of many summers come
to roost on a moment
until it sinks under them
and they resume their journey
flying by night
with the sound
of blood rushing in an ear

Lời cầu nguyện cả mấy mùa hè rồi cũng đến
có chỗ nghỉ ngơi tạm thời
nhưng chỗ ở ấy bị chìm
và chúng lại tiếp tục cuộc hành trình
bay ban đêm
với âm thanh
của máu chảy rạt rào trong lỗ tai.

Mưa mù buổi sáng mùa đông

Tác giả: Nguyễn Phú Hữu

Trích đoạn đầu tiên trong bài thơ “From a Notebook” của James Merrill

The whiteness near and far.
The cold, the hush . . .
A first word stops
The blizzard, steps
Out into fresh
Candor. You ask no more.

Màu trắng xóa từ gần đến xa.
Không khí lạnh, s…u…ỵ…t  . . .
Âm thanh đầu tiên chận lại
Cơn bão tuyết, những bước chân
dẫm lên sự tinh khôi
Chân thật. Bạn không hỏi gì thêm.

Hòn đá ném đi

The Stones

The stones we threw I hear
fall, glass-clear through the years. In the valley
the confused actions of the moment
fly screeching from
treetop to treetop, become silent
in thinner air than the present’s, glide
like swallows from hilltop
to hilltop until they’ve
reached the furthest plateaus
along the frontier of being. There all
our deeds fall
glass-clear
with nowhere to fall to
except ourselves

Tôi đăng bài thơ này, với ý nghĩ là sẽ dịch. Nhưng trước khi dịch thì tôi lại muốn viết thêm về đá. Bài này, là một trong những bài thơ có chủ đề đá tôi góp nhặt đánh dấu từ lâu, để viết. Charles Simic có hai bài thơ về đá, chị Trần thị Lai Hồng, đã dịch và đăng trên Gió O, kèm theo tấm ảnh chị chụp một tảng đá vân có màu rất đẹp.

Tôi cũng thích tìm hiểu về đá, xuất hiện trong văn chương, huyền thoại, điện ảnh như thế nào. Cóp nhặt thành một bài dài chị Huệ Gió O đặt cho cái tựa là Lữ Thứ Đá. Có lẽ chị nghĩ ra cái tựa đầy phiêu lưu giang hồ như thế từ ý nghĩ đủ thứ đá. Còn một số chi tiết về đá, hay nhưng tôi chưa dùng vì bài viết đã dài sợ độc giả mất kiên nhẫn, và cũng vì những chi tiết này xem chừng nhỏ bé vụn vặt, không làm thành chủ đề.

Hôm qua đọc lại quyển thơ của Tranströmer thấy bài The Stones thấy câu “những hòn đá chúng tôi ném đi” lại nhớ đến một hòn đá khác được ném đi trong phim Ben-Hur (1959). Chỉ một hòn đá ném đi mà xảy ra bao nhiêu tranh chấp, cốt nhục tương tàn, huynh đệ đoạn tình đoạn nghĩa, nước mất nhà tan.

Judah Ben-Hur là một vị vua giàu có cai trị Jerusalem (Do Thái), có một người em kết nghĩa tên là Messala, người gốc La Mã. Messala vốn là kỵ mã, thay mặt Đại tướng dẫn quân vào tiếp quản Jerusalem. Ngày quân đội La Mã diễn hành qua phố, vua Ben-Hur cùng em gái lên trên lầu đứng xem, không biết vô tình hay hữu ý, một viên đá từ chỗ Ben-Hur đứng xem rơi trúng con ngựa của vị tân Thống đốc. Con ngựa sợ hãi nhảy dựng hất ông rơi xuống đất suýt chết. Messala vì là người từng sống trong thành phố Jerusalem, được chỉ định đi bắt kẻ gian âm mưu ám hại Thống đốc. Lợi dụng cơ hội để chiếm đoạt tài sản của Ben-Hur và củng cố vị thế của mình, Messala bắt giam, sau đó lưu đày Ben-Hur. Mấy mươi năm lưu đày, nhiều lần suýt chết, nhiều phen được cứu giúp. Ben-Hur trở về Jerusalem tìm lại mẹ và em, hai người bị giam cầm sau đó phải sống chung với những người bị bệnh phong cùi bên ngoài thành phố. Ben-Hur cũng gặp lại Esther, con gái của người nô lệ trung tín của gia đình chàng. Khi Ben-Hur bàn việc trả thù, Esther nói (tôi tóm tắt theo trí nhớ), cái thời gian hòn đá rơi (từ chỗ Ben-Hur đứng xem diễn hành) rất dài, mãi đến bây giờ qua bao nhiêu biến động vẫn chưa kết thúc. Hòn đá rơi không chỉ trúng con ngựa của vị Thống đốc, nó bay ngược trở lại rơi xuống gia đình Ben-Hur gây nên cảnh nước mất nhà tan. Về sau nó cũng rơi lên đầu kẻ mưu mô thâm hiểm ác độc không kể tình bạn, tình anh em kết nghĩa.

Những khi tâm hồn chộn rộn, tôi thích đọc thơ của ông Tranströmer, hay nghe nhạc của ông Cohen. Và đây là bản dịch đại. Bạn đọc xin tha cho tội dịch thơ mà câu văn dịch không có chất thơ.

Đá

Những hòn đá chúng tôi ném đi, tôi nghe
tiếng rơi, trong trẻo như thủy tinh xuyên qua năm tháng.
Trong thung lũng
những hành động thiếu cân nhắc nhất thời
bay vi vút từ
ngọn cây này sang ngọn cây khác, rồi trở nên im lặng
trong một không gian loãng hơn không gian hiện tại, trôi lướt
nhẹ nhàng như cánh én từ đỉnh đồi này
sang đỉnh đồi kia cho đến khi chúng
dừng lại ở đỉnh cao nhất
dọc theo lằn ranh giới của hữu thể. Nơi ấy
tất cả hành động của chúng ta rơi
trong trẻo như thủy tinh
không có chỗ nào khác hơn
ngoại trừ lên chính chúng ta   

026a

Đối diện

rừng sau nhà sáng hôm nay
Tuyết rơi tối qua, rừng sau nhà sáng hôm nay.

Vào tháng Hai, mọi sinh vật im lìm bất động.
Chim ngập ngừng không muốn bay và linh hồn
bị trầy trụa vì cảnh trí, như chiếc thuyền
bị trầy trụa bởi chân cầu, nơi nó bị trói vào

Hàng cây đứng quay lưng lại với tôi.
Lớp tuyết phủ được đo chiều dày bằng những cọng rơm khô khốc.
Dấu chân in trên tuyết khô dòn trở nên cũ mòn.
Dưới tấm bạt ngôn ngữ buồn lịm chết.

Rồi một ngày cái gì đó đến bên khung cửa sổ.
Tôi ngừng việc, ngẩng đầu nhìn lên.
Màu sắc rực rỡ. Vạn vật chuyển mình.
Trời đất và tôi ùa vào vòng tay của nhau.

Dịch từ bài thơ Face to Face của Tomas Transtromer.

In February living stood still
The birds flew unwillingly and the soul
chafed against the landscape as a boat
chafed against the pier it lies moored to.

The trees stood with their backs turned to me.
The deep snow was measured with dead straws.
The footprints grew old out on the crust.
Under a tarpaulin language pined.

One day something came to the window.
Work was dropped, I look up.
The colors flared. Everything turns around.
The earth and I sprang toward each other.

Trích từ tuyển tập “The Great Enigma.” Robin Fulton dich ra tiếng Anh.

Lá thư cuối cùng của Vincent van Gogh

24 tháng Bảy, 1890

Thật ra, chỉ có qua những bức tranh chúng ta mới có thể trò chuyện với nhau. Tuy thế, em ạ, anh vẫn còn những điều phải nói với em và một lần nữa anh sẽ nói thật nghiêm túc cố gắng truyền đạt ý nghĩ của mình một cách toàn vẹn nhất – với anh, em không phải chỉ là một người đại lý bán tranh in Corots, qua anh, em cũng thật sự tham dự vào công việc thực hiện một vài bức tranh trên mặt vải. Những bức tranh ấy ngay cả khi ở giữa cơn khủng hoảng to lớn này, vẫn giữ được sự điềm tĩnh của chúng.

Đó là chỗ đứng tình cảm của anh em mình, hay ít nhất cũng là điểm chính anh cần phải nói với em trong tình trạng khủng hoảng lúc này. Lúc này là lúc mọi sự trở nên giả mạo giữa những kẻ buôn bán tranh vẽ của những người nghệ sĩ đương thời hay đã chết.

Với những tác phẩm của anh, anh đã dâng hiến cả cuộc đời của anh cho nghệ thuật và vì thế mà tư tưởng của anh đã bị mất đi nửa phần sáng suốt – cũng tốt thôi – nhưng em không phải là một kẻ trong đám đầu nậu con buôn nghệ thuật như anh biết. Em có thể chọn lựa đứng về phía nào, theo như anh nghĩ, biết đối xử có tình người chân thật. Nhưng với hoàn cảnh hiện tại, biết phải làm gì?

Ghi chú: Đây là bản nháp của lá thư số 251. Người ta tìm thấy bản nháp này trên người ông Vincent van Gogh khi ông qua đời ngày 27 tháng Bảy.

Dịch từ “van Gogh’s letters – the Mind of the Artist in Paintings, Drawings, and Words 1875-1890. Edited by H. Anna Suh Includes an all new translation of van Gogh’s letters.”

10

Làm thơ

Thật là thú vị khi người Mỹ nói viết thơ, nhưng người Việt lại nói làm thơ. Viết văn nhưng làm thơ. Chúng ta không nói viết thơ và làm văn, ngoại trừ khi còn ở Tiểu học chúng ta có “tập làm văn.”

Chẳng qua là do quen tai. Ai viết không thuận tai mình thì mình cho là sai.

Tôi có một cuốn lịch, từ hồi năm xửa năm xưa nào đó, mỗi ngày (mỗi tờ lịch) có in một bài thơ hay một câu phát biểu về thơ của một tác giả có tiếng. Tờ lịch ngày 19 tháng Chín, tôi lựa ra để có thể đăng lên blog mãi cả tháng sau mới có dịp dùng. Đoạn văn sau đây của tác giả Anne Stevenson. Đọc tiểu sử của bà trên Wikipedia bà sinh năm 1933. Bố mẹ người Mỹ sang Anh làm việc. Bà sinh ra ở Anh, sang Mỹ sống làm việc, sau đó trở về Anh. Thuở nhỏ bà học văn và nhạc. Về sau bà bị mất khả năng nghe nên trở thành nhà văn (và thơ).

Tôi vẫn tự hỏi người ta đã làm thế nào để có thể viết thành một bài thơ. Trong vòng quen biết trên mạng tôi rất muốn phỏng vấn các nhà thơ để các vị chỉ bảo tôi nhưng bản tính tôi hay ngần ngại, nhất là với những người mình không quen biết hay không quen thân. Nhân thấy đoạn văn của bà Anne Stevenson nên tôi đưa lên đây để suy nghĩ tiếp.


“Writing a poem is like conducting an argument between your unconscious mind and your concious self. You have to get unconsciousness and consciousness line up in some way. I suspect that’s why working to a form, achieving a stanza, and keeping to it – deciding that the first and third and fifth lines will have to rhyme, and that you’re going to insist on so many stresses per line – oddly helps the poem to be born. That is, to free itself from you and your attention to it and become a piece of art in itself. Heaven only knows where it comes from!

I suppose working out a form diminishes the thousands of possibilities you face when you begin. And once you’ve cut down the possibilities, you can’t swim off into the deep and drown.” – Anne Stevenson

 

Làm một bài thơ cũng giống như điều khiển một cuộc tranh luận giữa sự vô thức và ý thức của chính mình. Bạn phải làm sao để có thể kết hợp cả hai thứ. Tôi đoán đó là lý do tại sao phải dùng một hình thức nào đó, viết thành một khổ thơ và tiếp tục giữ thể loại này – quyết định câu thứ nhất và thứ ba và thứ năm phải gieo vần với nhau, và bạn sẽ nhất định giữ mỗi câu có bao nhiêu chỗ nhấn giọng (tôi đoán để có thể giữ cho câu thơ lên bổng xuống trầm) lạ lùng thay lại có thể giúp cho bài thơ được ra đời. Có nghĩa là giải thoát bài thơ ra khỏi bàn tay cùng với sự chú ý của bạn dành cho nó để nó trở thành một tác phẩm nghệ thuật. Có trời mới biết là bài thơ bắt đầu từ đâu!

Tôi cho rằng khi bạn chọn một thể loại cho bài thơ thì đã giúp giảm đi nhiều điều kiện bạn phải chọn lựa. Loại bỏ những sự chọn lựa này rồi bạn không thể nào bơi xa bờ ra chỗ sâu rồi bị chết đuối.” – Anne Stevenson

tỏa sáng