Dịch thuật – Dưới lằn đạn bắn lén

Translation underfire 1

Translation underfire 2

Translation underfire 3

Translation underfire 4

Tôi không phải là người làm việc chuyên môn với dịch thuật, nhưng tôi luôn luôn chú ý về chủ đề này. Thấy có bạn nhắc đến quyển sách của David Bellos, “Is That a Fish in Your Ear?” tôi tìm đọc. Càng đọc càng thấy thú vị vì quyển sách này đề cập đến nhiều điều tôi nghĩ đến nhưng ý tưởng chưa thành hình rõ ràng để tôi có thể vượt cơn lười mà viết cho đàng hoàng thành một bài tản mạn về dịch thuật. Đăng lên đây bốn trang về sự phê bình dịch thuật và dịch giả. Bạn nào siêng, và không sợ người ta chê là ỷ tài thì dịch đi. 🙂

Khi người ta mắng mỏ, bắn bỏ, xé xác một số dịch giả tôi thầm nghĩ chắc chỉ có ở Việt Nam mới có chuyện như vậy. Té ra không phải vậy. Ở xứ khác cũng có.

Thường thường, như trong một bài hát của ban AVT ví von “như hai cô ca sĩ có khen nhau bao giờ.” Câu hát này chỉ có những người thuộc thế hệ tôi trở về trước ở miền Nam biết và nhớ. Người chung nghề, có lẽ vì tranh tài và đố kỵ ít khi khen nhau; tuy nhiên người ta cũng dè dặt ít khi chê nhau, hay khi chê cũng kín đáo rào đón trước sau. Bởi vì sở thích riêng về cái hay cái đẹp là chuyện cãi không bao giờ chấm dứt.

Người viết văn cũng ít khi chê nhau. Chẳng mấy khi nhà văn này dám đem văn của nhà văn khác ra mà sửa “cho hoàn hảo hơn,” ngoại trừ khi được chính khổ chủ yêu cầu. Thậm chí khi khổ chủ yêu cầu mà người được yêu cầu thành thật giúp thì cũng bị chửi cha như thường. Thí dụ như Hemingway gửi văn đến Stein và Fitzgerald nhờ đọc và góp ý kiến rồi sau đó cũng hằn học ghét bỏ hai “ân nhân” đã tận tình giúp đỡ sửa chữa văn của ông cho hoàn hảo hơn. Raymond Carver “nhờ” Gordon Lish “biên tập” mà trở thành nhà văn nổi tiếng. Carver luôn luôn bày tỏ lòng tri ân với Lish, nhưng vợ ông thì có vẻ cay cú. Tôi không chắc Carver nghe lời của Lish nếu ông ta không là một người nổi tiếng quyền thế nhiều móc nối trong giới xuất bản. Bạn đọc nên nhớ Carver là một nhà văn chưa nổi tiếng về văn thì đã nổi tiếng là nát rượu. Ở vị trí của Carver, làm theo lời Lish có lợi cho tương lai. Lish có giúp ích về mặt văn chương của Carver không, có thể có mà cũng có thể không. Nếu Carver đọc lại và tự sửa chữa có thể cũng đi đến cùng một kết quả.

Người ta nói hoài. Viết văn cũng như làm tình. Không ai có thể dạy người khác làm tình cả. Chỉ có người trong cuộc mới biết cảm giác và cảm xúc của họ được đánh thức như thế nào. Chỉ có một vài dịch giả tự cho mình ở vị trí thượng đỉnh mới dám dạy cho dịch giả khác một bài học, dịch làm sao cho hay hơn, cho hoàn hảo hơn.

 

Bài ca Blues (buồn) của Sonny

All I know about music is that not many people ever really hear it. And even then, on the rare occasions when something opens within, and the music enters, what we mainly hear, or hear corroborated, are personal, private, vanishing evocations. But the man who creates the music is hearing something else, is dealing with the roar rising from the void and imposing order on it as it hits the air. What is evoked in him, then, is of another order, more terrible because it has no words, and triumphant, too, for that same reason. And his triumph, when he triumphs, is ours.

James Baldwin – Trích từ tác phẩm Sonny’s Blues (Bài Ca Buồn của Sonny)

Tất cả những điều tôi hiểu biết về âm nhạc là không mấy người thật sự nghe nhạc. Ngay cả những lúc thật hiếm hoi, khi lòng chúng ta mở cửa, cho âm nhạc đi vào, những điều chủ yếu chúng ta nghe, hoặc nghe để phụ họa, là những điều rất riêng tư, những ký ức đã và đang biến mất. Nhưng người nhạc sĩ sáng tạo ra âm nhạc thì lại nghe cái gì đó rất khác, anh ấy phải đối phó với cái tiếng gào thét đang dâng lên trong hố thẳm của tâm hồn và thiết lập trật tự trên cái tiếng gào thét ấy khi nó xuất hiện. Cái đã trổi dậy bên trong anh ấy, lại nằm ở một trạng thái trật tự khác, càng đáng khiếp hãi hơn vì nó không có lời nói, rồi cũng vì không có lời nói mà nó thắng thế. Và sự thắng cuộc của người nhạc sĩ, khi anh ấy thật sự thắng, cũng là sự thắng cuộc của chúng ta.

Không hiểu nghĩa chữ hear corroborated. Ai biết chỉ dùm, tôi cám ơn.

Sự nguy hiểm của công việc dịch

Ít người nghĩ công việc dịch có thể nguy hiểm đến tính mạng. Nếu có, thì chỉ có thể xảy ra từ hồi xa xưa. Có thật như vậy không?

Vừa dứt loạt phim Harry Potter, tôi lừng khừng lưỡng lự muốn đọc loạt truyện này, vì đã biết cốt truyện qua bộ phim, tôi hơi ngán những quyển sách dày. Và thú thật, sau này tôi chỉ thích đọc non-fiction. Rồi tình cờ tôi biết được có một nhà văn Mỹ, George R. R. Martin, nổi cáu khi mất giải thưởng (Nebula hay Hugo gì đó, dành cho thể loại fantasy và science fiction) vào tay Rowling. Rồi thêm một tình cờ tôi nhìn thấy bộ phim A Game of Thrones, dựa vào bộ truyện của tác giả này. Quyển sách của ông tôi nhìn thấy được bán rẻ, và có khi cho không ở Free Library, đôi ba lần. Tôi không mua, không nhặt, vì nghĩ là mình khó mà đọc cho xong những cuốn sách dày như thế.

A Game of Thrones cũng như The Hunger Games chiếm ngự giới mê phim kể cả phim dành cho truyền hình cả chục năm nay. Tôi cũng có một đôi lần xem The Hunger Games nhưng không thấy bị mê hoặc. Tôi lại không thoát khỏi sự hấp dẫn của A Game of Thrones. Tôi lần lượt xem bộ phim từ năm thứ nhất đến năm thứ tư. Có một vài khía cạnh tôi không thích thí dụ như cảnh giết chóc ghê rợn máu me và những cảnh tình dục quá trắng trợn và quá nhiều. Tuy nhiên tôi bị thu hút hoàn toàn, thậm chí có thể nói là bị mê hoặc, bởi plot (dàn dựng những âm mưu trong truyện), subplot (dàn dựng nhỏ hơn bên trong phạm vi của plot), và counterplot (dàn dựng âm mưu phản lại những âm mưu trong plot), chẳng biết dịch thế nào cho đúng, nói một cách khác và đơn giản hơn, đó là cốt truyện với những chi tiết âm mưu và phản pháo lắt léo được khai mở công phu và khéo léo. Tôi cũng hoàn toàn khâm phục tác giả đã cấu tạo những nhân vật rất độc đáo, khai thác nhiều khía cạnh tình cảm phức tạp trong cuộc đời, với những câu đối thoại thật thông minh. Thảo nào bộ truyện này là best seller và được dựng thành phim.

Lúc sau này, tôi có một sự ngưỡng mộ đặc biệt dành cho phim. Tôi thường xem phim trước khi chọn quyển sách để đọc, luôn nhớ rằng sách và phim tuy có cùng cốt truyện nhưng cách thể hiện rất khác nhau. Đến đây tôi chợt nhận ra rằng tôi đã đi quá xa cái đề tài tôi muốn viết cho blog này. Đó là sự nguy hiểm của công việc dịch. Đôi khi dịch đúng cũng chết mà dịch sai cũng chết.

Trong đoạn phim Walk of Punishment, Third Season, Disc 2, Chapter 5 và 6 của bộ phim A Game of Thrones, Daenerys, mẹ của ba con rồng, đến viếng một bộ lạc trong sa mạc mà chúa tể của bộ lạc này là chủ của đám dân nô lệ. Daenerys qua đoạn phim trước đã giải phóng một bộ lạc nô lệ khác họ tự nguyện làm dân và quân của nàng. Lần này, Daenerys đòi mua tất cả số nô lệ trong bộ lạc này con số lên đến 8000 người. Vị chúa bộ lạc này là một người thô lổ dùng toàn những lời thóa mạ Daenerys. Hai người nói chuyện với nhau qua một nữ thông dịch viên. Ở cuối đoạn phim này, thông dịch viên nói tên cô là Missandei. Vị chúa bộ lạc tên là Greizhen. Daenerys với đoàn tùy tùng và dân quân mới thu phục là một đoàn quân rách rưới và đói khát. Khi nàng nằng nặc đòi mua tất cả 8000 nô lệ, Greizhen nói:

– She wants to buy them all. (Missandei)
– She can’t afford them. The slut thinks she can flash her tits, and makes us give her whatever she wants. (Greizhen)
. . .
– The slut cannot pay for all of this. (Greizhen)
– Master Kraznys says you cannot afford this. (Misandei)
Dịch: Slut là tiếng tục ám chỉ một người lang chạ, tạm dịch là con đĩ.
– Bà ấy đòi mua tất cả (8000 quân nô lệ).
Ả không có khả năng để trả. Con đĩ này cứ tưởng là nhá cái bộ vú ra là có thể sai khiến chúng ta mang cho ả tất cả mọi thứ ả muốn.
. . .
– Con đĩ này không thể nào trả tiền mua cho tất cả đám nô lệ này.
– Ông chủ (người Kraznys) nói là bà không đủ khả năng để mua.
Hai bên trả giá qua lại, Greizhen nói là tài sản của Daenerys, kể cả chiếc thuyền nàng mới thu phục từ bộ lạc trước chỉ mua được cho nàng 100 người lính Unsullied.
– Her ship will buy her 100 Unsullied, no more. (Greizhen)
– Your ship will buy you 100 Unsullied. (Missandei)
– And this because I like the curve of her ass. (Greizhen)
– Because Master Kraznys is generous. (Missandei)
Dịch:
Chiếc thuyền của cô ả chỉ đáng giá 100 người lính Unsullied.
– Chiếc thuyền của bà có thể mua được 100 người lính Unsullied.
– Và đó là nhờ ta thích cái đường cong nét lượn của cái mông của ả.
– Bởi vì ông chủ là người hào phóng.
Bạn đọc chú ý là khi dịch lại lời ông chủ, Missandei đã tự động dịch khác đi, không dùng những chữ nhục mạ tục tằn, nhưng vẫn giữ được ý chính của người chủ. Greizhen thóa mạ cả những người Dothraki bộ hạ mới thu phục của Daenerys.

– Her Dothraki smell of shit. (Greizhen)
– The Dothraki you have with you. (Missandei)
– But may be useful as pig feed. (Greizhen)
– The Dothraki you have are not worth what they cost to feed… (interpretor)
Dịch là:
– Đám Dothraki thúi như cứt.
– Người Dothraki đi với bà.
– Có thể được dùng làm thức ăn nuôi heo.
– Người Dothraki đi với bà giá trị không bằng tiền dùng để nuôi…
Lúc này, may mắn là tiếng ồn của người chung quanh làm át đi lời dịch của Missandei. Sau khi mặc cả, Daenerys có thể mua tất cả 8000 lính Unsullied bằng một con rồng lớn nhất trong ba con rồng của nàng. Nàng cũng đòi mua luôn Missandei vì nhờ có Missandei mà cuộc mua bán mặc cả được dễ dàng. Sau khi Missandei thuộc về Daenerys, hai người trò chuyện với nhau:

– You belong to me now. It is your duty to tell me the truth.
– Yes, Your Grace. Lying is a great offense. Many of those on the Walk of Punishment were taken there for less.
– I offered water to a slave dying on the Walk of Punishment. Do you know what he said to me? “Let me die.”
– There are no masters in the grave, Your Grace.
Dịch:
– Mi đã thuộc về ta. Bổn phận của mi là phải nói thật với ta.
– Vâng, thưa Ngài. Nói dối là tội rất lớn. Nhiều người (bị đóng đinh treo trên cây thập tự) trên đoạn Đường Trừng Phạt lỗi của họ còn nhẹ hơn tội nói dối.
– Ta mang nước cho một nô lệ đang hấp hối trên Đường Trừng Phạt. Mi có biết hắn nói gì với ta không? “Hãy để cho tôi chết.”
– Trong mộ thì không có ông chủ nữa. Thưa Ngài.
Ở đây, Missandei có thể không chú ý, Daenerys thố lộ là nàng có thể nghe và hiểu được tiếng Valyr. Sau khi thu được đoàn quân Unsullied, những người được huấn luyện thuần thục, không sợ chết, tuyệt đối trung thành với chủ. Daenerys dùng tiếng Valyr một cách thuần thục để điều động đoàn quân. Valyr là tiếng mẹ đẻ của Daenerys, ít người biết điều này vì nàng bị lưu lạc sau khi cha nàng bị giết chết và vương quốc của nàng bị rơi vào tay người khác. Để trả thù sự nhục mạ của Greizhen, nàng cho con rồng phà lửa đốt cháy Greizhen.

Missandei là một thông dịch viên tài giỏi và khôn khéo. Ở trường hợp của nàng, dịch sai ý của Greizhen thì sẽ chết, vì hắn ta là một người thô lổ và độc tài. Nếu dịch cho sát với ý của Greizhen thì sẽ làm Daenerys phật ý và có thể nàng sẽ thóa mạ trở lại và nếu nàng dịch những lời chửi bới này thì sẽ bị Greizhen giết. Khi làm thông dịch viên của cuộc mua bán này, Missandei không biết được khả năng ngôn ngữ của hai người đang mua bán với nhau đến mức độ nào. Missandei cũng không thể nào biết trước là nàng sẽ thuộc về quyền sở hữu của Daenerys, người chủ mới. Mọi sự thất kính, hay sai lầm của nàng, đều có thể khiến nàng bị chết trong tay của hai người. Missandei không dịch sai, cũng không hoàn toàn thật hay sát với ý người nói. Đôi khi nàng dùng chữ nhẹ đi, đôi khi bỏ lửng nhân lúc ồn ào. Tóm lại, nàng vẫn “Tell the truth, but tell it slant” (Emily Dickinson).

Đừng tưởng công việc dịch không nguy hiểm đến chết người. Số thông dịch viên Iraq bị giết rất nhiều vì dân và cả quân Iraq thường đổ lỗi cho người thông dịch nếu kết quả không được như ý họ muốn.

Trích đoạn quyển Chim Vàng Anh

Hôm nọ tôi có hứa sẽ cố dịch một đoạn ngắn trong quyển The Goldfinch. Liên tiếp mấy tuần nay, nhà tôi có khách, rồi cả mấy gia đình đi chơi với nhau, rồi hết nhà này đến nhà kia đãi tiệc. Mỗi lần đãi tiệc mất cả ngày. Mỗi lần đi ăn tiệc, thường thường ngồi chơi từ bốn năm giờ chiều đến mười giờ mười một giờ khuya. Bận nhưng toàn là bận chuyện vui, ăn chơi, nên không thể than phiền. Nhưng thật tình tôi thèm có những giờ rảnh rỗi để viết chơi, để đọc sách, và dạo blog. Có chút thì giờ thì đầu óc tứ tán nên không viết được và dịch thì càng khó hơn. Continue reading Trích đoạn quyển Chim Vàng Anh

Vitæ Summa Brevis

Vitæ Summa Brevis

They are not long, the weeping and the laughter,
Love and desire and hate:
I think they have no portion in us after
We pass the gate.
They are not long, the days of wine and roses:
Out of a misty dream
Our path emerges for a while, then closes
Within a dream

Ernest Dowson (1867 – 1900)

Đời người một giấc chiêm bao

Ngắn ngủi như tiếng khóc cười
Tình yêu dục vọng và thù ghét:
không có phần trong chúng ta sau khi
chúng ta qua khỏi cổng trời
Ngắn ngủi như ngày của men rượu với hoa hồng:
Từ trong cõi chiêm bao mịt mùng
Đường ta đi hiện ra chốc lát, rồi đóng lại
Trong giấc chiêm bao.