Tự hỏi khi xem phim

đàn nai trong tuyết
Sáng sớm, chưa có nắng, đứng ở cửa sổ chụp cửa kính hai lớp bụi đóng dơ nên chỉ được như vậy.trái tuyết
Tuyết đóng trên nụ hoa dâm bụt khô.
bộng cây chim làm tổ
Bọng cây này là tổ của con chim gõ kiến.

Ảnh chụp đợt tuyết cuối cùng. Chỉ dọn tuyết phía sau nhà độ nửa tiếng. Phía trước nắng lên tự động tan. Mấy hôm nay trời vẫn còn rất lạnh, buổi sáng lúc đi làm chừng ba mươi độ, buổi chiều đi làm về chừng hơn bốn mươi độ. Ngày mai nghe dự báo là sẽ lên đến 65 độ, trời mưa. Thấy mưa là có chiều hướng của mùa xuân đang khe khẽ về.

Thấy blog của một cô bé nào đó giới thiệu quyển The Shadow of the Wind, tôi mượn ở thư viện về nghe thử thấy hay nhưng nửa chừng thì lại tò mò nghe đọc quyển All Quiet on the Western Front thấy hay quá nên chưa trở lại với The Shadow of The Wind. Cũng qua giới thiệu của các blog bạn tôi tìm xem phim My Sister’s Keeper và Never Let Me Go. Cô út nhà tôi thấy tôi xem hai phim này hỏi bộ mẹ chọn phim có chủ đề tặng hiến hay thay thế nội tạng của con người à. Thật ra thì chỉ là trùng hợp thôi.

Đây là hai phim rất hay. Never Let Me Go dựa trên tiểu thuyết của Kazuo Ishiguro. Phim đặt vấn đề đạo đức cho người xem suy nghĩ. Giả tỉ như có một ngày nào đó khoa học tiến bộ đến độ dùng tế bào của một người, gọi là người chính, để cấu tạo ra một người khác, người phụ, giống y hệt người chính. Người phụ được nuôi với dụng ý sẽ dùng một phần thân thể của người phụ (thí dụ như tim phổi thận tay chân) để thay thế cho một phần thân thể tương tự của người chính nếu bộ phận này bị hư hoại. Thay thế những bộ phận hư hỏng của loài người sẽ giúp được con người sống lâu hơn. Những người phụ này chỉ có thể dâng hiến thân thể của họ chừng ba hay bốn lần là họ sẽ bị loại bỏ. Những người phụ này được nuôi dạy để chấp nhận việc này. Họ biết yêu, biết ghen, biết đau khổ giận hờn có nghĩa là có tâm hồn còn linh hồn thì không biết được. Loài người không biết là những người phụ này có linh hồn, hay tâm hồn hay không. Là con người, bạn nghĩ sao về việc nuôi robot sinh học này? Chấp nhận hay không chấp nhận? Có phản đạo đức hay không?

My Sister’s Keeper đặt ra một vấn đề đao đức khác. Một người mẹ có hai đứa con gái. Cô chị bị bệnh ung thư. Bệnh cô đến hồi nghiêm trọng, cô cần phải thay thế quả thận đã hư hỏng nếu không sẽ chết. Cô em, còn bé hình như 9 hay 10 tuổi, là người duy nhất có thể hiến quả thận cho người chị nhưng cô không chịu hiến dù bà mẹ bắt buộc. Cô bé dưới mười tám tuổi nên phải chịu sự kiểm soát của người mẹ. Cô đi tìm luật sư kiện mẹ ra tòa đòi được quyền ly dị mẹ về mặt y tế y khoa. Bạn nghĩ sao, cô bé đúng hay sai? Người mẹ có quyền lấy một quả thận của đứa em để cứu sống cô chị không?

Cả hai phim đều hay, bắt người xem phải tự hỏi lương tâm mình. Phim Mỹ (My Sister’s Keeper) ồn ào, sống động, hào nhoáng, rực rỡ, đẩy cảm xúc người xem lên đến chỗ cao độ, làm người xem có thể khóc. Phim Anh (Never Let Me Go) ảm đạm, trầm mặc, héo hon, lạnh lẽo như sương mù xứ Anh vì thế dễ làm người xem chán. Nhưng tôi thích phim này hơn phim kia có lẽ vì thích cái không khí người lớn, thích cái kết cục không có hậu, dường như nó đòi hỏi người xem phải ray rức giữa sự chọn lựa một vấn đề đạo đức. Loài người có quyền xử sự chiếm bàn tay của Tạo Hóa hay không? Tôi chẳng thích Keira Knightly chút nào. Cô này đóng phim nào tôi cũng không thích. Nói vậy xin các bạn trẻ đừng giận. Cô út nhà tôi rất thích diễn viên này nên dù tôi không thích cũng làm thinh không nói. Tôi già cả khó tính, thấy cô nàng này đẹp thì cũng đẹp nhưng diễn vô duyên.

Xem phim

Tôi xem ba phim.

Enemy, do Jake Gyllenhaal đóng hai vai, phim dựa vào truyện the Double của văn hào giải Nobel (1998) José Saramago. Giải Nobel danh tiếng đến như thế mà giờ đây có mấy người biết đến nhà văn này.

Evening, dựa vào truyện của Susan Minot. Phim có nhiều tài tử thượng thặng như Meryl Streep, Glenn Close, and Vanessa Redgrave.

All Quiet on the Western Front. Tôi hơi ngần ngại khi xem phim chiến tranh vì rất sợ cảnh giết chóc đổ máu. Nhưng vẫn xem hết phim. Phim có nhiều câu rất hay. Ở đầu cuốn phim có trích một đoạn từ quyển sách (tôi đang nghe, sách audio): “This book is to be neither an accusation nor a confession, and least of all an adventure, for death is not an adventure to those who stand face to face with it. It will try simply to tell of a generation of men who, even though they may have escaped shells, were destroyed by the war.” (Quyển sách này không nhằm để cáo buộc cũng không phải là lời tự thú, và càng không phải là một cuộc phiêu lưu, bởi vì cái chết không phải là một cuộc phiêu lưu đối với những người phải đối diện với nó. Quyển sách này, đơn giản chỉ để kể chuyện về một thế hệ của những người, dù cho họ có thoát được những trận pháo kích, vẫn bị hủy hoại bởi chiến tranh.

Xem Ratatouille nghĩ đến phê bình văn học

Chủ nhật mấy tuần trước tôi mời Ách Cơ và cậu bạn trai của nàng, về ăn phở. Ông Tám mời thêm hai người cháu trai, một kêu bằng chú, một kêu bằng cậu đến chơi. Tôi dặn Cá Linh là đừng có chọc ghẹo đời tư của mấy cậu trẻ tuổi này tại vì tôi biết tính con tôi. Coi nó hiền hiền im ỉm vậy nhưng giữa đám người cùng trang lứa nó thuộc loại mồm năm miệng mười. Tấn công chọc ghẹo không ngừng, cũng may mọi người thấy nó khôi hài nên chẳng giận.

Ách Cơ từ nhỏ đã thích nấu ăn làm bánh. Hiện nay Ách Cơ đang nấu ăn, phụ trách phần pasta cho một nhà hàng haute cuisine. Trong bữa ăn, khi Ách Cơ khoe khả năng nấu pasta của nàng được nhà phê bình ẩm thực của báo New York Times khen ngợi, người anh họ hỏi, ở đâu mà có cái tài nấu ăn này. (Ai cũng biết cả tôi và ông Tám không biết nấu ăn). Cá Linh chêm ngay vào “Where is the rat?” Con chuột đâu rồi?

Ông Tám và hai cậu anh họ, có thể có, nhưng cũng có thể không, hiểu ý Cá Linh. Tôi nghĩ chỉ có tôi và hai nàng con gái thích xem phim hoạt họa. Tôi với Ách Cơ thì biết chắc Cá Linh nhắc đến con chuột Rémy trong phim Ratatouille, ngụ ý Rémy là người chỉ dẫn Ách Cơ nấu ăn.

Tôi xem phim này nhiều lần, con tôi thường bắt gặp tôi xem lại phim hoạt họa này. Ngay cả con tôi cũng không hiểu tại sao tôi thích xem phim dành cho trẻ con. Có gì đâu, tôi thích xem phim. Với những người quen ở Việt Nam đến chơi, tôi thường quảng cáo không công, Hoa Kỳ có hai thứ rẻ tiền đáng được thưởng thức, đó là kem (ice cream) và phim ảnh. Phim của Mỹ rất hay, ngay cả phim trẻ con cũng có bài học dành cho người lớn. Nói riêng về phim Ratatouille, tôi tìm thấy ý nghĩa phê bình văn học trong phim này.

Ratatouille là tên một món ăn dân dã của người Pháp. Wikipedia nói rằng xuất phát từ vùng Nice. Dường như, đây là một món xào các loại rau cải thừa vụn trong nhà chung với xốt cà, một món ăn bình dân ở vùng thôn quê. Sẵn đây, tôi xin tóm lược phim, kẻo quí vị người lớn không biết đến phim hoạt họa dành cho trẻ em này nói gì. Ở Paris có một nhà hàng rất nổi tiếng, của một người đầu bếp trứ danh tên Gusteau làm chủ. Gusteau có một quan niệm khá đặc biệt là “bất cứ người nào cũng có thể nấu ăn” không cần phải có một tài năng thiên phú. Gusteau qua đời, nhà hàng bị xuống cấp, từ năm sao thành ba sao. Nhà hàng của Gusteau bị xuống cấp vì lời phê bình khắc nghiệt của Anton Ego, một nhà phê bình ẩm thực danh tiếng. Remy, con chuột có tài bẩm sinh phân biệt mùi vị rất tinh tế, thích thức ăn, thích ăn ngon, và đặc biệt là rất đam mê nấu ăn. Remy giúp Linguini, đứa con rơi của Gusteau, dùng món Ratatouille chinh phục Anton Ego. Không ai dám nghĩ là một món ăn bình dân ở thôn quê lại có thể được dâng hiến cho thực khách trong một nhà hàng nổi tiếng trên thế giới ở giữa lòng Paris. Thì bạn cũng biết mà, lạ miệng nên thấy ngon. Hoàng tử còn phải lòng khoai lang Dương Ngọc kia mà. Cũng không ai ngờ tận trong đáy tim của một nhà phê bình ẩm thực nổi tiếng khắc nghiệt lại ẩn chứa sự thèm khát tình yêu của mẹ và nuối tiếc tuổi thơ hạnh phúc của một chú bé quê mùa.

Sau đây xin mời các bạn đọc vài đoạn trích dẫn trong phim. Đoạn đầu là lời phát biểu của đại đầu bếp Gusteau. Đoạn thứ hai là lời nói của nhà phê bình ẩm thực Anton Ego. Tôi dịch:

Văn chương cũng giống như âm nhạc bạn có thể nếm được, màu sắc bạn có thể ngửi thấy. Cái tuyệt hảo luôn có mặt chung quanh bạn. Bạn chỉ cần dừng lại và thưởng thức sự tuyệt hảo này.”

Văn chương bậc nhất không phải là thứ dành cho những người nhút nhát. Bạn phải có óc tưởng tượng phong phú, phải can đảm. Bạn phải thử nghiệm những phương pháp có thể không dẫn đến thành công. Và bạn phải tránh không để bất cứ người nào giới hạn tài năng của bạn bởi vì nơi bạn xuất thân. Cái giới hạn độc nhất của bạn chính là tâm hồn của bạn. Những điều tôi nói đây là sự thật. Người nào cũng có thể viết văn. Nhưng chỉ có những người can đảm mới có thể là nhà văn lớn.”

Dưới đây là lời nói của Anton Ego:

“Ở nhiều khía cạnh, công việc của nhà phê bình rất dễ dàng. Chúng ta chẳng mất mát gì, tuy thế chúng ta có thể hưởng thụ chỗ đứng bên trên những người đã dâng tặng tác phẩm của họ và cả cá nhân của họ nữa cho chúng ta phê phán. Chúng ta phát triển nhờ những lời chê bai chỉ trích, chuyện xấu thì dễ viết và người ta thích đọc. Nhưng sự thật cay đắng mà chúng ta, những nhà phê bình phải đối diện đó là, trong tầm nhìn rộng hơn, một tác phẩm trung bình có lẽ vẫn có giá trị hơn là những lời chê bai của chúng ta dành cho nó. Tuy nhiên cũng nhiều phen khi một nhà phê bình dám liều đánh mất thể diện hay danh tiếng, đó là khi khám phá ra và bảo vệ, người mới. Thế giới thường xuyên không mấy nhân hậu với tài năng mới hay tác phẩm mới. Người mới cần có bạn bè. […] Trước đây, tôi không hề dấu diếm sự khinh thường tôi dành cho khẩu hiệu của Gusteau: ‘Bất cứ người nào cũng có thể viết văn.’ Nhưng tôi nhận ra, chỉ bây giờ tôi mới thật sự thấu hiểu ý nghĩa câu nói của ông. Không phải ai cũng có thể trở thành một nghệ sĩ lớn, nhưng một nghệ sĩ lớn có thể xuất thân ở bất cứ môi trường nào. […]

Xin lỗi các bạn tôi đã thay đổi những chữ liên quan đến món ăn hay nấu ăn thành ra chữ văn học hay viết văn có in đậm và cắt bớt một vài câu. Bạn có thể đọc nguyên tác đoạn văn Anton Ego nói trong phim ở Wikiquote. Phần trích dẫn Chef Gusteau tôi chép từ trong phim.

1234567

Xem phim với con gái

Tôi nghỉ, kết hợp vừa ngày lễ vừa ngày vacation, bắt đầu từ ngày 24 tháng 12, 2014 và sẽ đi làm trở lại vào ngày 5 tháng 1, 2015. Kể từ hồi tháng 10 đến hôm nay tôi đã trải qua mấy bữa tiệc lớn (3 đám giỗ, hai bữa tiệc tốt nghiệp, Giáng Sinh, Tạ Ơn). Trọng lượng đã thấy tăng ba hay bốn pounds. Đang thầm hy vọng được “không ăn” lễ Tất Niên. Nói nghe bắt ghét sợ bà con mắng là chảnh. Người ta mời thì mình đừng ăn, ngồi đó ngó thôi. Ha! Tôi có cái tật thích ăn ngon, và vì nấu ăn dở nên ai nấu tôi ăn cũng ngon hết. Miễn là tôi không phải nấu. Và tôi lại lên cân rất nhanh, chỉ cần tôi ăn tự nhiên đừng kiêng cử tôi có thể lên cân mỗi tuần nửa kí một cách dễ dàng.

Hôm qua, tôi và Cá Linh đi xem phim Wild, from lost to found on the Pacific Crest Trail. Nguyên tác có cái tên dài dòng nên tôi chỉ gọi tắt là Wild. Chúng tôi mời Ách Cơ cùng đi nhưng cô từ chối. Tôi đã nghe đọc quyển Wild, đang chờ mượn của thư viện quyển sách này để có thể chép lại những câu danh ngôn của những nhà văn nhà thơ nổi tiếng như Emily Dickinson, Lord Byron, Adrienne Rich, Cheryl Strayed đã dùng để ghi vào sổ lưu chữ ký đặt trên những cột mốc đánh dấu đường mòn Pacific Crest Trail. Có nhiều câu rất hay. Sáng nay check, thấy quyển sách đang trên đường đến thư viện, thứ Bảy này sẽ có sách.

Đi xem phim này với con gái út có chỗ không hay, nhất là những sex scenes. Cheryl Strayed trong quyển sách khá cuồng loạn về mặt sex cũng như drugs. Cá Linh nói đỡ cho tôi, khi tôi bảo là tôi thấy awkward, bảo rằng chỉ ngắn và thoáng qua thôi.

Wild, ở trên danh sách best seller mấy chục tuần, có thể mang đến cho người đọc một vài suy nghĩ. Cheryl Strayed, không hẳn là một người leo núi dày kinh nghiệm, cũng không phải là một người chưa bao giờ xuất bản sách. Tôi trộm nghĩ không biết đây có phải là một tính toán cẩn thận của Strayed, kết hợp sự trải nghiệm của người leo núi và hồi ức cuộc đời của Strayed, để làm thành tác phẩm. Hồi ức của một cô gái 26 tuổi với một tuổi trẻ lạc lối có lẽ không tạo ấn tượng nhiều bởi vì có biết bao nhiêu tuổi trẻ lạc lối ở Hoa Kỳ, mà quá khứ còn nhiều đau đớn đầy ấn tượng hơn. Nếu viết về trải nghiệm đường trường của một người leo núi tay mơ cũng chẳng gây ấn tượng bởi vì đã có biết bao nhiêu quyển sách viết về chuyện leo núi, những ngọn núi cao nổi tiếng như Hy Mã Lạp Sơn, hay Kilimanjaro chẳng hạn. Tuy nhiên kết hợp cả hai, Strayed đã tạo nên một quyển sách dễ đọc và hấp dẫn.

Tôi bị thu hút bởi sự gan dạ và kiên trì của Strayed. Đi đường trường, 1 ngàn 1 trăm dặm, tương đương với 1 ngàn tám trăm cây số, một mình giữa rừng núi. Nhiều lần muốn bỏ cuộc nhưng vẫn tiếp tục đi tới. Tác giả tự xưng mình là một nhà nữ quyền. Ở quan điểm của một bà mẹ tôi thấy cô vừa ngu vừa điên. Giả tỉ như cô bị hiếp dâm và bị giết giữa rừng, chẳng ai hay biết. Có biết bao nhiêu người chỉ đi nghỉ hè, xui xẻo gặp kẻ xấu, mất mạng dễ dàng.

Nhìn về quyển sách bằng cặp mắt của một người đi tìm chủ đề để viết, tôi khâm phục Strayed ở chỗ cô nghĩ ra được đề tài và dâng hết sức lực để khai thác đề tài thành quyển sách.

Với tôi, quan trọng nhất, tôi nhìn thấy cách suy nghĩ của một cô gái trẻ, lao vào cuộc sống với tất cả nhiệt tình, cô phạm nhiều lỗi lầm nhưng tự tìm cách thoát ra, và tôi nhìn thấy quan hệ giữa mẹ và con gái.

Người ta thường bảo rằng, mẹ thường yêu con trai hơn con gái. Tôi nhìn thấy điều này qua mẹ tôi. Quan hệ của mẹ với con gái rất phức tạp. Tôi nghĩ bà mẹ nào cũng yêu thương con, nhưng cũng có lúc ghét con, nhất là khi nhìn thấy con gái của mình đi vào con đường không hay, và khi nó phạm phải những lỗi lầm mà mình đã từng phạm phải vì ngu dốt. Nếu mẹ của Strayed không qua đời khi tuổi mới bốn lăm, bà sẽ nghĩ gì khi thấy con mình làm những điều không hay.

Quyển Wild cũng củng cố một niềm tin của người Hoa Kỳ. Ignorance is bless. Nếu Strayed biết trước mức độ nguy hiểm trên đường đi có thể cô không dám đi, hay ít ra không dám đi một mình, khi còn thiếu kinh nghiệm như thế. Tác giả cũng làm tôi thèm một cuộc lên đường solo, để ghi chép, tìm kiếm chính mình, tìm kiếm đề tài đủ hấp dẫn mình ngồi viết cả năm trời hay mấy tháng để làm thành một tác phẩm. Best seller càng tuyệt vời hơn nữa.

Lord Byron

Đây là một trong những bài thơ Cheryl Strayed trích dẫn trong chuyến đi.

Xem vài phim hay

Mấy hôm nay trời mát. Tháng Bảy là một trong những tháng nóng nhất trong năm thế nhưng mấy ngày nay nhiệt độ cao nhất chỉ chừng 80 độ F (chừng 27 độ C), sáng nay chỉ hơn 60 độ F, nhờ cơn bão đi ngang mấy hôm trước.

Ở Mỹ có hai món ngon nên thưởng thức, đó là kem và phim ảnh. Ở tầng hầm của thư viện địa phương, người ta có bán nhiều sách cũ, phim cũ, CD nhạc cũ. Sách bìa mềm 25 xu. Bìa cứng, 50 xu. Phim, một đồng. Thỉnh thoảng tôi tìm được những cuốn sách hay những CD phim ảnh tôi thích. Mấy tuần nay, tôi xem nhiều phim hay. Continue reading Xem vài phim hay

Điểm sơ sơ vài cuốn phim

Tôi bắt đầu nhuốm cảm hôm thứ Ba, ráng đi làm ngày thứ Tư đã thấy đau nhức mỏi mệt muốn nằm, lỡ đã đóng tiền ăn tiệc Giáng sinh ngày thứ Năm nên phải vào ăn. Bạn tôi biết chuyện chế nhạo tôi tiếc hai chục bạc mà hành xác mình. Nghĩ cũng đúng. Thứ Sáu tôi ở nhà, nằm mẹp, chập chờn ngủ suốt ngày. Hôm nay thứ Bảy lại không đi thư viện được vì trời tuyết nhiều thư viện đóng cửa. Có cuồn phim Hobbit đã đặt thư viện từ lâu, nay nó về nhưng không được xem. Thứ Hai sắp tới sẽ đi thư viện xem người ta còn giữ nó không. Continue reading Điểm sơ sơ vài cuốn phim

Nói thêm chút nữa

Và sau đây là lời dịch của đoạn phim ngắn nói trên. Thấy nó có vẻ gì giống cách suy nghĩ của người Việt Nam về số phận, nên tôi nghĩ có bạn sẽ thích. Người post đoạn này trên you tube nghĩ rằng đây là đoạn phim hay nhất.

If only one thing had happened differently: if that shoelace hadn’t broken; or that delivery truck had moved moments earlier; or that package had been wrapped and ready, because the girl hadn’t broken up with her boyfriend; or that man had set his alarm and got up five minutes earlier; or that taxi driver hadn’t stopped for a cup of coffee; or that woman had remembered her coat, and got into an earlier cab, Daisy and her friend would’ve crossed the street, and the taxi would’ve driven by. But life being what it is — a series of intersecting lives and incidents, out of anyone’s control — that taxi did not go by, and that driver was momentarily distracted, and that taxi hit Daisy, and her leg was crushed.

Nếu chỉ một chi tiết trên đây thay đổi: nếu sợi dây cột giày đừng bị đứt; hay chiếc xe tải giao hàng chạy trước lúc ấy một chút; hay gói quà đã được gói trước như đã dặn, bởi vì cô gái bán hàng không đoạn tuyệt với người yêu; hay người đàn ông để đồng hồ báo thức sớm hơn năm phút; hoặc là anh tài xế tắc xi không dừng xe để mua cà phê; hoặc là người đàn bà ấy đừng quên cái áo khoác, và lên xe tắc xi sớm hơn một chút, Daisy và bạn của nàng có lẽ đã sang bên kia đường, và anh tài xế tắc xi đã đi qua khỏi chỗ ấy. Tuy nhiên cuộc đời tự nó như thế – những cuộc đời gặp gỡ nhau, và những sự kiện xảy ra, bên ngoài khả năng kiểm soát của bất cứ ai – nếu chiếc xe tắc xi không đi ngang, và anh tài xế ấy lơ đễnh trong tíc tắc, và chiếc tắc xi đụng Daisy, và cái chân của nàng bị cán dập nát.

Toàn bộ cuốn phim được Bảo Vân mang cái link về trong comment của bài blog trước nếu có bạn nào thích xem phim thì xin mời.

So sánh truyện và phim The Curious Case of Benjamin Button

Theo quyển truyện, mối tình của Benjamin và cô nàng Hildegarde, con gái của ông Đại tướng, thật là đáng thất vọng. Cưới nàng xong, Benjamin đâm ra chán vợ, vì vợ ngày càng già, mà anh ta ngày càng trẻ ra. Thích “chim” gái, Ben chôm mấy nàng phu nhân trẻ vợ của mấy ông nhà giàu, và chĩa luôn những cô gái trẻ trong vùng. Vợ đã già lại hay cằn nhằn, nên Benjamin để vợ ở nhà, đi giang hồ. Khi Benjamin quay về thì bà vợ đã bỏ sang Ý ở từ lâu.

Phim hoàn toàn khác với truyện. Có thể nói chỉ mỗi chi tiết của truyện không thay đổi, là cuộc đời của Benjamin đi ngược dòng thời gian, bắt đầu là cụ già và chấm dứt khi Benjamin trở thành một đứa trẻ.

Tôi sẽ không bàn đến cách diễn xuất của diễn viên. Họ đều là những diễn viên danh tiếng. Tôi chỉ điểm qua những điểm khác biệt trong phim mà theo tôi đã làm phim phong phú hơn.

Truyện của phim bắt đầu về một ông thợ chuyên thiết kế đồng hồ tên là Gateau (nghĩa là cái bánh). Con ông Bánh tham gia thế chiến thứ nhất rồi bỏ thây ở chiến trường. Ông Bánh vì đau buồn đã làm cái đồng hồ chạy ngược chiều thời gian. Ông Bánh hy vọng là con ông sẽ đi ngược dòng thời gian và trở về trong vòng tay của cha mẹ. Cái ước muốn ấy gặp giờ thiêng nên vận vào Benjamin.

Truyện phim lấy bối cảnh ở Baltimore. Phim lấy bối cảnh ở New Orleans, qua Murksman (Nga), sang Paris, đến New York, sau đó chu du trên biển bằng thuyền buồm.

Trong phim, Benjamin bắt đầu là ông cụ bảy mươi biết nói, đi được. Có lẽ thấy chi tiết này vô lý quá, vì để sinh ra một “người” đã trưởng thành thì có lẽ sản phụ phải là một người khổng lồ, và xương xẩu cứng còng thế kia thì làm sao mà chui ra khỏi lòng mẹ, nên người viết phim đổi lại khi sinh ra Benjamin vẫn là một đứa bé nhưng có vẻ mặt của một người già.

Trong truyện, người cha nuôi Benjamin ngay từ lúc mới sinh nhưng trong phim thì người cha mang đứa con đem bỏ ở bậc thềm của một nhà dưỡng lão. Benjamin được Queenie một người phụ nữ da đen nuôi và xem như con ruột. Qua chi tiết này phim ca ngợi người da màu vào thời điểm người da màu ở miền Nam rất bị kỳ thị chủng tộc.

Nếu viết lại truyện dựa vào phim thì đây phải là một truyện rất dài, bởi vì chi tiết trong phim rất là phong phú. Cho Benjamin lớn lên trong nhà dưỡng lão ở New Orleans là mang nền văn hóa của miền Nam Hoa Kỳ, đậm ảnh hưởng Pháp và Cajuns, vào truyện. Ben làm bạn với người già, không biết mình chỉ là một cậu bé, chứng kiến sự ra đi vĩnh viễn của những người bạn này. Một trong những người cư trú trong viện dưỡng lão là một người lẩm cẩm, ông kể (nhiều lần) ông bị sét đánh bảy lần. Mỗi lần ông bị sét đánh được miêu tả bằng một đoạn phim rất ngắn rất xưa.

Nếu trong truyện mối tình của Benjamin với Hildegarde là một mối tình ngắn ngủi thì mối tình trong phim của Benjmain với Daisy là một mối tình lý tưởng trải dài mấy thập niên. Gặp Daisy khi cô bé chừng bốn năm tuổi, Benjamin đã bị tiếng sét ái tình. Ông cụ Benjamin nghe lời cô bé Daisy dụ dỗ nửa đêm chui xuống gầm bàn để chơi. Năm Daisy mười hai hay mười ba, ông già Benjamin đưa cô bé lên chiếc tàu kéo của ông chủ để ngắm cảnh sương mù trên biển. Sau đó Benjamin gia nhập quân đội nhưng vẫn thư từ liên lạc với cô bé Daisy. Nơi nào anh chàng đi qua đều gửi bưu thiếp cho Daisy và cô bé mơ mộng này giữ tất cả thư từ để về sau khi nằm chờ thần chết được nghe cô con gái của Daisy đọc lại. Benjamin lúc ấy chừng hai mươi nhưng có dáng dấp của một người chừng 65 tuổi. Ở Murksman Benjamin gặp một người phụ nữ có chồng là một nhà ngoại giao cao cấp kiêm do thám. Benjamin gặp nàng hằng đêm. Có lần nàng say kéo Benjamin đi trên đường phố mùa đông, đây là một đoạn phim đẹp và rất lãng mạn. Có lẽ đây cũng là một thứ tình yêu, tuy ngắn ngủi và không chân chính, giữa một thủy thủ lang bạc và một bà mệnh phụ danh giá.

Nếu xem phim như là một bản dịch của truyện thì các nhà phê bình có thể kêu thét lên rằng bản dịch đã hoàn toàn phản bội nguyên tác. Tuy nhiên tôi lại thấy những chi tiết trong phim hoàn toàn không có trong truyện là những điểm làm phong phú truyện. Như đã nói ở blog trước, tình yêu chỉ đẹp lúc hai bên còn vờn nhau. Tôi thấy đoạn phim giữa Benjamin và Elizabeth Abbot với những ngượng ngập lúc ban đầu, rồi nàng điểm trang để gặp chàng, rồi chàng ăn mặc tươm tất để hẹn hò với nàng là những chi tiết dễ thương, và rất duyên dáng.

Một người đã thu khúc phim lúc Benjamin sang Paris để thăm Daisy lúc nàng bị xe tông gãy chân đến độ phải bỏ nghề múa ballet và bảo rằng đoạn phim đó là đoạn hay nhất. Đoạn phim ấy giàu suy nghĩ. Cái triết lý trong đoạn phim ấy chất chứa quan niệm của người Á Đông, mỗi việc xảy ra đều do số mạng. Nhưng tôi lại thích hai đoạn phim khác. Một đoạn nói về không khí khách sạn ở Murksman nơi Benjamin gặp Elizabeth Abbot. Còn một đoạn nữa là lúc Daisy quyến rủ Benjamin và chàng từ chối. Daisy lúc ấy vừa 21 tuổi còn Benjamin đang khoảng 26 hay 27 nhưng có vẻ ngoài của một người đang ở độ tuổi 50 hay hơn. Benjamin bảo rằng sợ Daisy thất vọng dù rằng vẻ mặt của diễn viên cho thấy anh chàng rõ ràng bị mê hoặc với vẻ đẹp của một vũ nữ ballet trong ánh sáng huyền hoặc của bóng đêm.

Phim nói lên được cái triết lý của cuộc đời, sinh lão bệnh tử khổ. Phim đào sâu hơn những khía cạnh có khi tương đồng và có khi xung đột trong tình yêu của hai người có độ chênh lệch tuổi rất xa, cái điểm yếu đuối đến vô dụng và bất lực của thể xác, cái thiếu khả năng suy nghĩ và quyết định vận mạng của chính mình giữa đứa trẻ sơ sinh và một người đến mức cuối của cuộc đời.

Nếu phải vạch lá tìm sâu, tôi sẽ cằn nhằn là những người làm phim có một vài chỗ không thể duy trì đồng nhất tuổi của thân xác song song và ngược chiều với tuổi của tinh thần qua những giai đoạn trong cuộc đời của Benjamin. Khi Benjamin 13 tuổi, Benjamin đi làm thủy thủ với sức khỏe của thiếu niên 13 tuổi thay vì sức khỏe của một người 70 tuổi. Thuyền trưởng dẫn Benjamin đi nhà thổ lần đầu, Benjamin có sự ham muốn và sức khỏe của một thiếu niên mới vào đời. Benjamin gặp Elizabeth Abbot lúc chàng chưa đến 30 nhưng phải chống gậy như một người 70. Điều tôi muốn nói là nếu hình dáng đi từ già đến trẻ, sức khỏe và sự suy nghĩ cũng đi từ già đến trẻ. Đạo diễn và nhà viết phim đã tùy tiện cho sức khỏe và sự suy nghĩ của Benjamin có khi tương ứng với tuổi của thể xác (từ già đến trẻ), có khi tương ứng với tuổi của một người bình thường với thời gian (từ trẻ đến già). Tuy nhiên đây là sự tùy tiện cần thiết để cuốn phim có thể thành hình.

Mở đầu bài là một ít hình ảnh trong phim tôi copy lại bằng snipping tool.

Nói thêm về truyện The Curious Case of Benjamin Button

Truyện Benjamin Button ra đời khi tác giả Fitzgerald chừng 25 hay 26 tuổi. Năm 1860, Benjamin ra đời, có dáng dấp của một ông già bảy mươi tuổi. Vào thời ấy, bảy mươi tuổi là già lắm rồi. Benjamin nói được đi được. Bác sĩ hoảng sợ bỏ chạy. Mẹ ông mất lúc sinh ra ông. Bố ông ra tiệm mua bộ quần áo của thiếu niên về cho Benjamin mặc.

Truyện đưa ra những chi tiết khôi hài của một người khi mới sinh ra làm người già và dần dần trẻ lại. Ông bố phải ấp úng giải thích tại sao mua quần áo trẻ sơ sinh lại chọn cỡ thiếu niên. Benjamin không có bạn cùng tuổi. Khi Benjamin được 5 tuổi cậu bé có dáng dấp của người 65. Cậu hay chơi với ông nội. Trông hình dáng hai người trạc tuổi nhau.

Khi Benjamin 18 tuổi vào đại học người ta ngỡ đó là người bố đưa con vào đại học và đuổi cậu ra vì cho là cậu giả vờ mạo nhận. Benjamin 20 tuổi có dáng dấp của người đàn ông 50, trông giống như là anh em với ông bố. Benjamin yêu và cưới vợ năm 20 tuổi. Benjamin 50 tuổi giống thanh niên 20 tuổi, cậu gia nhập quân đội. Khi Benjamin 65 tuổi cậu phải đi nhà trẻ. Các bạn hăng hái tập tô màu thì Benjamin mau mệt và hay buồn ngủ.

Có cái gì đó song song đồng dạng giữa người già và trẻ con, sự yếu đuối, bất lực, cần được nuôi nấng giúp đỡ, giữa một sự sống mới bắt đầu và một sự sống đang tàn lụi. Truyện không gây ấn tượng mạnh với tôi, ngoại trừ cái ý tưởng con người bắt đầu cuộc đời lúc già và giống như trẻ sơ sinh lúc chết đi. Tôi càng thất vọng hơn khi thấy Wikipedia bảo rằng đây cũng không phải là ý tưởng do Fitzgerald nghĩ ra đầu tiên.

Tôi dịch chương 5 của truyện The Curious Case of Benjamin Button để lúc nào bạn rảnh thì đọc. Truyện tình nào cũng thế, giai đoạn đẹp nhất là lúc tình yêu mới bắt đầu, khi hai người bắt đầu vờn nhau. Trong chương này bạn sẽ thấy trong đôi mắt của người đẹp Hildegarde Moncrief, Benjamin là một người độ năm mươi, giàu có, thành công. Bạn phải nhớ “bên trong” của Benjamin, tư tưởng và tình cảm, Benjamin là một chàng trai 20 tuổi.

Nếu bạn thích đọc nguyên tác, toàn thể truyện The Curious Case of Benjamin Button đăng trên Wikipedia. Có cả truyện The Jazz Age của Fitzgerald.

Tôi dịch không theo sát nguyên tác vì muốn bản dịch gần với văn Việt. Vì thế bạn cứ sửa chữa nắn nót tùy ý sao cho phù hợp với cách đọc của bạn.

Già khi còn trẻ hay trẻ khi đã già

Bản dịch chương 5 truyện The Curious Case of Benjamin Button
Tác giả: F. Scott Fitzgerald Người dịch: Nguyễn thị Hải Hà

Năm 1880, Benjamin Button được hai mươi tuổi, và chàng đánh dấu ngày sinh nhật của mình bằng cách làm việc cho bố trong công ty Roger Button – chuyên môn bán sỉ dụng cụ. Cũng trong năm này chàng bắt đầu “tiếp xúc với xã hội” –nghĩa là, bố chàng nhất định phải đưa chàng đi tham dự những buổi dạ tiệc có khiêu vũ thật “à la mode.” Roger Button đã năm mươi, hai bố con có vẻ đồng lứa và thân thiết như bạn bè –và bởi vì, Benjamin không nhuộm tóc nữa (vẫn còn màu muối tiêu) hai người có vẻ bằng tuổi với nhau, thoạt nhìn người ta có thể nhầm là anh em.
Một buổi tối tháng Tám hai người thay quần áo sang trọng, đánh cỗ xe ngựa bốn bánh và đến Shevlins để dự tiệc dạ vũ. Shevlins, nhà hàng sang trọng chuyên tổ chức những buổi tiệc huy hoàng ở ngoại ô của thành phố Baltimore. Đó là một đêm hè tuyệt đẹp. Ánh trăng tròn tắm đẫm con đường ngoại ô một thứ ánh sáng bạc, và những đóa hoa mùa hè nở muộn phả vào không khí im ắng một mùi thoang thoảng như tiếng cười rơi nửa chừng. Một cánh đồng bao la, trải thảm lúa mi sáng rực như ban ngày. Thật là không thể nào chịu nổi vẻ đẹp thuần túy của bầu trời.
“Việc buôn bán hàng hóa khô (như vải vóc, quần áo may sẵn, hay thực phẩm khô) tương lai rất là sáng sủa,” Roger Button trò chuyện. Ông không phải là người hay suy nghĩ triết lý – khả năng thưởng ngoạn của ông rất đơn sơ.
“Những người già như bố thì không thể thu nhận những kiến thức mới,” ông quan sát sâu sắc. “Chỉ có lớp người trẻ như con, năng động và đầy sức sống, mới có tương lai tươi sáng đang chờ đón.”
Ở cuối đường, họ nhìn thấy ánh đèn của biệt thự Shevlins, và dường như có tiếng thở dài len lén nhưng rất kiên trì đến với hai người – rất có thể đó là tiếng vĩ cầm hay tiếng rì rào của những cọng lúa mì màu bạc dưới ánh trăng.
Hai người đậu phía sau một cỗ xe tuyệt đẹp, độc mã, chở được bốn người, và hành khách đang bước xuống xe. Một người phụ nữ đứng tuổi bước ra, theo sau là một người đàn ông trọng tuổi, và sau cùng là một cô gái rất trẻ, có nét đẹp đầy quyến rủ. Benjamin bắt đầu thấy có một sự chuyển biến trong chàng; dường như những tố chất cũ trong cơ thể chàng tự phân hủy rồi kết hợp trở lại tạo thành một tố chất hoàn toàn mới trong chàng. Một sự cường tráng tràn ngập chàng, máu chảy mạnh dâng lên má, lên trán, và tai chàng nghe tim mình đập mạnh. Đó là cảm giác của lần đầu tiên biết yêu.
Người thiếu nữ có dáng mảnh mai, mái tóc có màu tro dưới ánh trăng và biến thành màu mật ong dưới ánh đèn đốt bằng hơi ga trên sân. Vai nàng quàng cái khăn quàng, loại khăn mỏng của người Tây Ban Nha dệt bằng đăng ten, màu vàng nhạt, phía sau có hình những con bướm màu đen; hai bàn chân nàng là hai hạt nút nhỏ lấp lánh dưới cái gấu áo dạ hội, phía sau váy phồng lên như đuôi công.
Roger Button nghiêng người nói với con trai. “Đó,” ông nói, “là con gái của Đại tướng Moncrief, tên cô là Hildegarde Moncrief.”
Benjamin gật đầu lạnh nhạt. “Một cô nàng be bé xinh xinh,” chàng đáp lời bố với vẻ hững hờ, Nhưng khi cậu bé da đen đánh cỗ xe đi đậu vào nhà chứa xe, chàng nói thêm: “Bố à, xin bố giới thiệu con với cô ấy.”
Họ tiến đến gần một đám đông, cô Moncrief đang là tâm điểm. Được nuôi nấng dạy dỗ đúng theo phong tục, nàng nhún chân cúi người chào Benjamin. Vâng, ông có thể khiêu vũ với tôi. Chàng cám ơn nàng và đi ra – lảo đảo chênh vênh.
Cái khoản thời gian chờ đợi đến phiên chàng dài vô tận. Chàng đứng dựa tường, im lặng, soi mói, quan sát bằng đôi mắt của kẻ giết người cái đám thanh niên của Baltimore đang bao vây cô nàng Hildegarde Moncrief, một vẻ si mê thờ phượng hiện trên mặt họ. Benjamin thấy bản mặt của chúng sao mà nhố nhăng quá; hồng hào trẻ trung một cách không chịu được! Mấy bộ râu mép cong của chúng mang cho chàng cái cảm giác như là ăn không tiêu.
Nhưng khi đến phiên chàng, và chàng dìu nàng lướt nhẹ nhàng trên sân với những điệu luân vũ waltz mới nhất ở Paris, sự ghen tị và những mối lo lắng của chàng tan dần như một mớ tuyết. Say sưa trong nỗi hân hoan, chàng có cảm tưởng đời chàng mới bắt đầu.
“Ông và người anh đến đây cùng lúc với chúng tôi, phải không?” Hildegarde hỏi, ngước lên nhìn chàng với đôi mắt như bằng sứ xanh sáng rực.
Benjamin ngập ngừng. Nếu nàng hiểu lầm chàng là em trai của bố chàng, thì cách nào là cách tốt nhất để chinh phục nàng? Chàng nhớ đến kinh nghiệm không vui của chàng ở đại học Yale, vì thế chàng quyết định không hành động như thế. Chống lại ý kiến của phụ nữ thì thiếu lịch sự lắm; thật là một tội ác nếu phá hủy một cơ hội tuyệt vời như thế này với cái nguồn gốc dị dạng của chàng. Về sau, có lẽ chàng sẽ nói rõ hơn. Vì thế chàng gật đầu, mỉm cười, lắng nghe, và đầy hạnh phúc.
“Em thích đàn ông ở lứa tuổi của anh,” Hildegarde nói với chàng. “Đám trai trẻ ngu ngốc quá. Họ kể em nghe họ đã uống bao nhiêu rượu sâm banh ở trong trường đại học, và họ đã đánh bài thua hết bao nhiêu tiền. Đàn ông ở lứa tuổi của anh biết cách yêu quí phụ nữ hơn.”
Benjamin có cảm tưởng như mình sắp sửa cầu hôn với nàng – với tất cả cố gắng chàng nén cảm giác này lại.
“Anh đang ở lứa tuổi rất lãng mạn,” nàng tiếp tục – “năm mươi. Hai mươi lăm thì hiểu biết thông thái về những chuyện trên thế giới nhiều quá; ba mươi thì xanh xao vì làm việc nhiều quá; bốn mươi thì là cái tuổi với nhiều chuyện để kể, phải mất cả cái điếu xì gà mới kể xong; còn sáu mươi thì – ồ, sáu mươi thì gần bảy mươi, nhưng năm mươi là cái tuổi dịu dàng ngọt lịm. Em yêu tuổi năm mươi.”
Năm mươi, đối với Benjamin chừng như là cái tuổi rực rỡ. Chàng thèm muốn được ở vào cái tuổi năm mươi một cách say mê.
“Em luôn luôn nói rằng,” Hildegarde tiếp tục, “em thà lấy một ông chồng năm mươi và được chăm sóc còn hơn là lấy một anh chồng ba mươi mà em phải săn sóc anh ta.” Đối với Benjamin, phần còn lại của buổi tối, chàng tắm đẫm trong một vùng sương mù màu mật ong. Hildegarde khiêu vũ với chàng thêm hai lần nữa và, họ khám phá ra một điều là họ rất hợp ý nhau về bất cứ những vấn đề nào họ nói đến trong ngày hôm ấy. Nàng sẽ đi du ngoạn với chàng vào Chủ nhật sắp đến và sau đó họ sẽ thảo luận những vấn đề khác.
Về nhà trong cỗ xe ngựa trước khi trời rạng đông, khi những con ong đầu tiên bắt đầu hát vo ve, và vầng trăng mờ dần trong sương đêm, Benjamin mù mờ nhận ra bố chàng đang bàn thảo việc mua bán sĩ các món hàng.
‘. . . Và con nghĩ chúng ta nên đánh giá thế nào về những món hàng mà chúng ta rất chú ý như búa và đinh?” ông bố hỏi chàng con trai.
“Yêu,” Benjamin trả lời một cách mơ màng.
“Tiêu?” Roger Button lên giọng, “Hử, chúng ta đã bàn chuyện ấy rồi mà.”
Benjamin nhìn bố bằng đôi mắt xa vắng vừa khi ấy bầu trời ở hướng đông chợt hé ánh sáng, và một con chim sơn ca ngáp dài, tiếng ngáp xuyên ngang hàng cây bắt đầu chạy vun vút…”

Nguồn:

http://en.wikisource.org/wiki/The_Curious_Case_of_Benjamin_Button/V