Phim

Vì có ấn tượng với phim Never Let Me Go dựa trên sách của Kazuo Ishiguro tôi tìm xem phim The Remains of The Day cũng dựa trên sách của tác giả này. Hai quyển sách ở hai lãnh vực hoàn toàn khác biệt nhau điều này càng làm tôi muốn đọc tác giả này. Vì chỉ mới xem phim nên có thể sách nói về những điều mà phim không chuyên chở hết. Qua phim The Remains of the Day, tôi nhìn thấy một mối tình câm lặng. Nếu bạn thích xem phim tình yêu, một tình yêu thật nhàm chán vì không có tình dục ngoại trừ một vài cái hôn, tuy thế vẫn có khả năng thu hút người xem (là tôi) vì những người trong cuộc đã đặt bổn phận lên trên tình cảm thì mời bạn xem phim này. Phần còn lại của cuối ngày, như mùa thu trong năm, như phần cuối đời người, chứa đựng nhiều hồi tưởng, nuối tiếc những mất mát, những khát vọng không thành, những mối tình vuột khỏi tầm tay vì định mệnh, vì thành kiến, như một lần yêu người, một lần mãi mãi bao giờ cho nguôi.

Tôi cũng xem phim The March of Penguin. Chẳng biết vì sao có phim này, mua từ bao giờ chỉ thấy trên kệ nên lấy ra xem. Loại Emperor Penguin sống ở Nam Cực, đi bộ 70 miles vào sâu trong vùng băng giá, một ngày trung bình, có mặt trời lạnh 58 độ F âm. Chim mái đẻ một trứng giao cho chim trống ấp. Khi chim trống ấp trứng, chim mái đi tìm thức ăn. Hơn ba tháng sau chim mái trở lại nuôi con bằng thức ăn dự trữ trong thân thể, thì chim trống đi ăn. Có khi vừa mới giao trứng, hai bên vụng về, trứng đóng băng và vỡ trước khi trứng được ấp ủ. Chim mẹ có khi bị làm mồi cho hải cẩu trong quá trình đi tìm thức ăn, điều đó có nghĩa là chim con cũng sẽ bị chết vì không có mẹ nuôi. Loài penguin này cũng là một loại chim di cư, trở về vùng băng giá để sinh sản rồi sau đó sống trên biển. Một phim rất hay và đòi hỏi rất nhiều công cũng như khó nhọc ở người quay phim.

Mấy cuốn phim nổi tiếng

Phim nổi tiếng. Tôi mượn ở thư viện, từ lúc đặt hàng đến lúc nhận được phim là mấy tháng. Nhưng khi đến thì chúng đến cùng một lượt. Vì chỉ được giữ một tuần nên liên tiếp mấy ngày nay tôi nằm dài xem phim.
Boyhood
Đạo diễn Richard Linklater, có những phim được giới trẻ thích như Before Sunrise, Before Sunset, Before Midnight. Phim này cũng có Ethan Hawke. Truyện phim không có gì đặc sắc, một cậu bé lớn lên trong một gia đình với những vấn đề thường thấy trong gia đình Mỹ trung lưu. Bố mẹ ly dị, bố lấy vợ khác, mẹ lấy chồng khác, xui gặp phải mấy ông chồng không mấy tử tế. Mẹ cậu vượt qua tất cả khó khăn, lấy bằng Thạc sĩ, hai chị em cậu bé học xong Trung học vào Đại học. Đám trẻ có khó khăn của đám trẻ. Người lớn có khó khăn của người lớn. Điểm đặc biệt của phim này là đạo diễn dùng một diễn viên từ lúc 6 tuổi cho đến lúc 18 tuổi.
Birdman
Phim này rất lạ. Vừa hiện thực, vừa siêu thực. Hiện thực ở chỗ khán giả có thể hình dung cuộc sống hậu trường như sự thật của các diễn viên kịch trên sân khấu Broadway. Cả Michael Keaton và Edward Norton đều có vẻ già, nhan sắc phai tàn. Siêu thực ở chỗ Keaton có thể bay như chim, nhưng khán giả suốt cuốn phim không biết chắc đó là do sự tưởng tượng của nhân vật hay nhân vật có thể bay thật. Truyện phim rất hay, thu hút người xem từ đầu đến cuối. Tác giả có thể tạo ra căng thẳng và đưa người xem từ ngạc nhiên này sang ngạc nhiên khác với những chi tiết tưởng chừng không đáng để chú ý.
Gone Girl
Truyện phim rất hay. Truyện phim gần giống với chuyện có thật xảy ra ở tiểu bang của tôi đang ở. Một anh chàng đẹp trai, vợ có mang bỗng biến mất. Ai cũng nghi anh chồng giết vợ vì tiền bảo hiểm và anh chàng đang sống nhờ vào tiền của vợ (cha mẹ vợ rất giàu). Tuy nhiên tác giả đã đẩy những chi tiết này đến cực độ và tạo thành một phim vẫn là những xung đột của vợ chồng nhưng gay cấn kịch liệt. Cô vợ có đầy đủ cái tốt của một người phụ nữ, đẹp, thông minh, dịu dàng, ngọt ngào, kỹ lưỡng, ngăn nắp, chu đáo, và khi phát hiện anh chồng của mình ngoại tình thì trở nên toan tính, độc ác, mưu mô, đến chỗ giết người.

Phim

Tôi xem một loạt phim bao gồm: “The Drop” của đạo diễn Michael R. Roskan, “The Ninth Gate” của Roman Polanski, “Capitaine Alatriste” của Antonio Cardenal, “Under the skin” của Jonathan Glazer dựa vào truyện của Michel Faber, “Whiplash” của Damien Chazelle, và “Snow Piercer” của Bong Joon-ho.

Tôi chẳng nhớ vì sao tôi xem những phim này, có thể vì đọc các blog bạn, có liên quan đến giải thưởng Oscar, hay vì thích một cuốn phim nào đó đã dựa vào một tác giả nào đó mà tôi chú ý.

“The Ninth Gate” tài tử Johnny Depp đóng. Cô út nhà tôi ghé mắt nhìn rồi phê bình, thỉnh thoảng mới thấy anh ta đóng một phim không kỳ khôi. Tôi đoán cô nói đến phim Pirates of the Caribbean có anh này và dĩ nhiên có cô Keira mà cô có một thời thích xem. Phim xem được, giải trí giết thì giờ. Tôi chẳng bao giờ muốn giết thì giờ một cách vô lý, nhưng nhiều khi phải xem thì mới biết nó hay dở như thế nào. Vả lại cái tên Polanski cũng đáng chú ý, đạo diễn của những phim tình dục táo bạo cấm phụ nữ từ 48 trở lên và 18 trở xuống. Một đạo diễn vướng vào tội ấu dâm. Dù người phụ nữ bị xâm phạm từ lúc 13 tuổi đã lên tiếng tha thứ ông, nhưng trong đầu óc những người bảo thủ thì ông vẫn là một người pervert.

“Capitaine Alatriste” do Viggo Mortensen đóng. Tôi chỉ thích anh chàng này trong phim Lord of the Rings, lúc anh chàng quay sang nói với mấy anh hobbits là “You bowed to no one!” Tôi cũng thích lúc anh ta hiệu triệu đoàn quân ma màu xanh lá cây cầm gươm xông vào trận. Phim Lord of the Rings ăn cắp ý của truyện Tàu rất nhiều chỗ, ngay cả cách ăn mặc cũng giống phim kiếm hiệp. Tôi xem nhiều phim khác có anh này đóng thấy xoàng thôi. Đặc biệt phim nào anh cũng có vẻ bẩn thỉu, tóc tai bê bết. Đây là một phim hay nhờ nhiều tình tiết ly kỳ và trang phục đẹp mắt.

“Under the skin” theo tôi thì cốt truyện không hay. Đây là một phim khoa học giả tưởng không mấy lôi cuốn hay mới mẻ, nhưng nếu nói về mặt nghệ thuật nhiếp ảnh trong phim thì đây là một phim rất đẹp.

“Whiplash” có nhiều nhạc jazz, rất hay. J.K. Simmons đóng vai Terence Fletcher được giải Oscar cho diễn viên vai phụ trong phim này. Tôi đã gặp Simmons nhiều lần trong các show truyền hình Law and Order, ông đóng rất hay rất thật và là nhân vật tốt, nhưng trong vai một giáo viên dạy nhạc của Whiplash, ông rất là tàn bạo, nhẫn tâm với học sinh, có thể nói là đến mức độ sadistic. Được giải Oscar thật là xứng đáng với sự diễn xuất trong vai này.

“Snow Piercer” là một phim bạo động đầy máu me. Phim nói về một ngày tận thế, tất cả những người sống sót ở trên một chuyến xe lửa và bên ngoài chiếc xe lửa này thế giới trở nên giá băng. Mỗi toa xe là chỗ ở của một giai cấp. Tất cả những người nghèo khó không thế lực bị dồn vào vài toa cuối cùng. Đạo diễn và những người viết phim bản cố làm cho phim có vẻ suy nghĩ, với những người anh hùng và những kẻ ác độc, nhưng nói chung, tôi không thích phim này vì nhiều lý do. Máu me giết chóc và ngu xuẩn là một vài điểm đập vào tôi trước nhất.

The Drop” là phim tôi thích nhất trong loạt phim tôi xem gần đây. Mặc dù các nhà phê bình chân chính không quan tâm đến phim xã hội đen với nhiều tội ác, án mạng, hình sự, cướp bóc của các “bố già” nhưng tôi thích loại phim này vì cấu trúc và plot của chúng. Phim này dựa vào truyện của Dennis Lehane, nổi tiếng với Mystic River, và cũng đồng dạng với phim Mystic River. Nhân vật thuộc giai cấp trung bình  hoặc nghèo trong xã hội, dễ dàng vướng vào tội ác và tội lỗi. Gay cấn, thắt mở, người xem được mở mắt từ đầu đến cuối.

Tự hỏi khi xem phim

đàn nai trong tuyết
Sáng sớm, chưa có nắng, đứng ở cửa sổ chụp cửa kính hai lớp bụi đóng dơ nên chỉ được như vậy.trái tuyết
Tuyết đóng trên nụ hoa dâm bụt khô.
bộng cây chim làm tổ
Bọng cây này là tổ của con chim gõ kiến.

Ảnh chụp đợt tuyết cuối cùng. Chỉ dọn tuyết phía sau nhà độ nửa tiếng. Phía trước nắng lên tự động tan. Mấy hôm nay trời vẫn còn rất lạnh, buổi sáng lúc đi làm chừng ba mươi độ, buổi chiều đi làm về chừng hơn bốn mươi độ. Ngày mai nghe dự báo là sẽ lên đến 65 độ, trời mưa. Thấy mưa là có chiều hướng của mùa xuân đang khe khẽ về.

Thấy blog của một cô bé nào đó giới thiệu quyển The Shadow of the Wind, tôi mượn ở thư viện về nghe thử thấy hay nhưng nửa chừng thì lại tò mò nghe đọc quyển All Quiet on the Western Front thấy hay quá nên chưa trở lại với The Shadow of The Wind. Cũng qua giới thiệu của các blog bạn tôi tìm xem phim My Sister’s Keeper và Never Let Me Go. Cô út nhà tôi thấy tôi xem hai phim này hỏi bộ mẹ chọn phim có chủ đề tặng hiến hay thay thế nội tạng của con người à. Thật ra thì chỉ là trùng hợp thôi.

Đây là hai phim rất hay. Never Let Me Go dựa trên tiểu thuyết của Kazuo Ishiguro. Phim đặt vấn đề đạo đức cho người xem suy nghĩ. Giả tỉ như có một ngày nào đó khoa học tiến bộ đến độ dùng tế bào của một người, gọi là người chính, để cấu tạo ra một người khác, người phụ, giống y hệt người chính. Người phụ được nuôi với dụng ý sẽ dùng một phần thân thể của người phụ (thí dụ như tim phổi thận tay chân) để thay thế cho một phần thân thể tương tự của người chính nếu bộ phận này bị hư hoại. Thay thế những bộ phận hư hỏng của loài người sẽ giúp được con người sống lâu hơn. Những người phụ này chỉ có thể dâng hiến thân thể của họ chừng ba hay bốn lần là họ sẽ bị loại bỏ. Những người phụ này được nuôi dạy để chấp nhận việc này. Họ biết yêu, biết ghen, biết đau khổ giận hờn có nghĩa là có tâm hồn còn linh hồn thì không biết được. Loài người không biết là những người phụ này có linh hồn, hay tâm hồn hay không. Là con người, bạn nghĩ sao về việc nuôi robot sinh học này? Chấp nhận hay không chấp nhận? Có phản đạo đức hay không?

My Sister’s Keeper đặt ra một vấn đề đao đức khác. Một người mẹ có hai đứa con gái. Cô chị bị bệnh ung thư. Bệnh cô đến hồi nghiêm trọng, cô cần phải thay thế quả thận đã hư hỏng nếu không sẽ chết. Cô em, còn bé hình như 9 hay 10 tuổi, là người duy nhất có thể hiến quả thận cho người chị nhưng cô không chịu hiến dù bà mẹ bắt buộc. Cô bé dưới mười tám tuổi nên phải chịu sự kiểm soát của người mẹ. Cô đi tìm luật sư kiện mẹ ra tòa đòi được quyền ly dị mẹ về mặt y tế y khoa. Bạn nghĩ sao, cô bé đúng hay sai? Người mẹ có quyền lấy một quả thận của đứa em để cứu sống cô chị không?

Cả hai phim đều hay, bắt người xem phải tự hỏi lương tâm mình. Phim Mỹ (My Sister’s Keeper) ồn ào, sống động, hào nhoáng, rực rỡ, đẩy cảm xúc người xem lên đến chỗ cao độ, làm người xem có thể khóc. Phim Anh (Never Let Me Go) ảm đạm, trầm mặc, héo hon, lạnh lẽo như sương mù xứ Anh vì thế dễ làm người xem chán. Nhưng tôi thích phim này hơn phim kia có lẽ vì thích cái không khí người lớn, thích cái kết cục không có hậu, dường như nó đòi hỏi người xem phải ray rức giữa sự chọn lựa một vấn đề đạo đức. Loài người có quyền xử sự chiếm bàn tay của Tạo Hóa hay không? Tôi chẳng thích Keira Knightly chút nào. Cô này đóng phim nào tôi cũng không thích. Nói vậy xin các bạn trẻ đừng giận. Cô út nhà tôi rất thích diễn viên này nên dù tôi không thích cũng làm thinh không nói. Tôi già cả khó tính, thấy cô nàng này đẹp thì cũng đẹp nhưng diễn vô duyên.

Xem phim

Tôi xem ba phim.

Enemy, do Jake Gyllenhaal đóng hai vai, phim dựa vào truyện the Double của văn hào giải Nobel (1998) José Saramago. Giải Nobel danh tiếng đến như thế mà giờ đây có mấy người biết đến nhà văn này.

Evening, dựa vào truyện của Susan Minot. Phim có nhiều tài tử thượng thặng như Meryl Streep, Glenn Close, and Vanessa Redgrave.

All Quiet on the Western Front. Tôi hơi ngần ngại khi xem phim chiến tranh vì rất sợ cảnh giết chóc đổ máu. Nhưng vẫn xem hết phim. Phim có nhiều câu rất hay. Ở đầu cuốn phim có trích một đoạn từ quyển sách (tôi đang nghe, sách audio): “This book is to be neither an accusation nor a confession, and least of all an adventure, for death is not an adventure to those who stand face to face with it. It will try simply to tell of a generation of men who, even though they may have escaped shells, were destroyed by the war.” (Quyển sách này không nhằm để cáo buộc cũng không phải là lời tự thú, và càng không phải là một cuộc phiêu lưu, bởi vì cái chết không phải là một cuộc phiêu lưu đối với những người phải đối diện với nó. Quyển sách này, đơn giản chỉ để kể chuyện về một thế hệ của những người, dù cho họ có thoát được những trận pháo kích, vẫn bị hủy hoại bởi chiến tranh.

Xem Ratatouille nghĩ đến phê bình văn học

Chủ nhật mấy tuần trước tôi mời Ách Cơ và cậu bạn trai của nàng, về ăn phở. Ông Tám mời thêm hai người cháu trai, một kêu bằng chú, một kêu bằng cậu đến chơi. Tôi dặn Cá Linh là đừng có chọc ghẹo đời tư của mấy cậu trẻ tuổi này tại vì tôi biết tính con tôi. Coi nó hiền hiền im ỉm vậy nhưng giữa đám người cùng trang lứa nó thuộc loại mồm năm miệng mười. Tấn công chọc ghẹo không ngừng, cũng may mọi người thấy nó khôi hài nên chẳng giận.

Ách Cơ từ nhỏ đã thích nấu ăn làm bánh. Hiện nay Ách Cơ đang nấu ăn, phụ trách phần pasta cho một nhà hàng haute cuisine. Trong bữa ăn, khi Ách Cơ khoe khả năng nấu pasta của nàng được nhà phê bình ẩm thực của báo New York Times khen ngợi, người anh họ hỏi, ở đâu mà có cái tài nấu ăn này. (Ai cũng biết cả tôi và ông Tám không biết nấu ăn). Cá Linh chêm ngay vào “Where is the rat?” Con chuột đâu rồi?

Ông Tám và hai cậu anh họ, có thể có, nhưng cũng có thể không, hiểu ý Cá Linh. Tôi nghĩ chỉ có tôi và hai nàng con gái thích xem phim hoạt họa. Tôi với Ách Cơ thì biết chắc Cá Linh nhắc đến con chuột Rémy trong phim Ratatouille, ngụ ý Rémy là người chỉ dẫn Ách Cơ nấu ăn.

Tôi xem phim này nhiều lần, con tôi thường bắt gặp tôi xem lại phim hoạt họa này. Ngay cả con tôi cũng không hiểu tại sao tôi thích xem phim dành cho trẻ con. Có gì đâu, tôi thích xem phim. Với những người quen ở Việt Nam đến chơi, tôi thường quảng cáo không công, Hoa Kỳ có hai thứ rẻ tiền đáng được thưởng thức, đó là kem (ice cream) và phim ảnh. Phim của Mỹ rất hay, ngay cả phim trẻ con cũng có bài học dành cho người lớn. Nói riêng về phim Ratatouille, tôi tìm thấy ý nghĩa phê bình văn học trong phim này.

Ratatouille là tên một món ăn dân dã của người Pháp. Wikipedia nói rằng xuất phát từ vùng Nice. Dường như, đây là một món xào các loại rau cải thừa vụn trong nhà chung với xốt cà, một món ăn bình dân ở vùng thôn quê. Sẵn đây, tôi xin tóm lược phim, kẻo quí vị người lớn không biết đến phim hoạt họa dành cho trẻ em này nói gì. Ở Paris có một nhà hàng rất nổi tiếng, của một người đầu bếp trứ danh tên Gusteau làm chủ. Gusteau có một quan niệm khá đặc biệt là “bất cứ người nào cũng có thể nấu ăn” không cần phải có một tài năng thiên phú. Gusteau qua đời, nhà hàng bị xuống cấp, từ năm sao thành ba sao. Nhà hàng của Gusteau bị xuống cấp vì lời phê bình khắc nghiệt của Anton Ego, một nhà phê bình ẩm thực danh tiếng. Remy, con chuột có tài bẩm sinh phân biệt mùi vị rất tinh tế, thích thức ăn, thích ăn ngon, và đặc biệt là rất đam mê nấu ăn. Remy giúp Linguini, đứa con rơi của Gusteau, dùng món Ratatouille chinh phục Anton Ego. Không ai dám nghĩ là một món ăn bình dân ở thôn quê lại có thể được dâng hiến cho thực khách trong một nhà hàng nổi tiếng trên thế giới ở giữa lòng Paris. Thì bạn cũng biết mà, lạ miệng nên thấy ngon. Hoàng tử còn phải lòng khoai lang Dương Ngọc kia mà. Cũng không ai ngờ tận trong đáy tim của một nhà phê bình ẩm thực nổi tiếng khắc nghiệt lại ẩn chứa sự thèm khát tình yêu của mẹ và nuối tiếc tuổi thơ hạnh phúc của một chú bé quê mùa.

Sau đây xin mời các bạn đọc vài đoạn trích dẫn trong phim. Đoạn đầu là lời phát biểu của đại đầu bếp Gusteau. Đoạn thứ hai là lời nói của nhà phê bình ẩm thực Anton Ego. Tôi dịch:

Văn chương cũng giống như âm nhạc bạn có thể nếm được, màu sắc bạn có thể ngửi thấy. Cái tuyệt hảo luôn có mặt chung quanh bạn. Bạn chỉ cần dừng lại và thưởng thức sự tuyệt hảo này.”

Văn chương bậc nhất không phải là thứ dành cho những người nhút nhát. Bạn phải có óc tưởng tượng phong phú, phải can đảm. Bạn phải thử nghiệm những phương pháp có thể không dẫn đến thành công. Và bạn phải tránh không để bất cứ người nào giới hạn tài năng của bạn bởi vì nơi bạn xuất thân. Cái giới hạn độc nhất của bạn chính là tâm hồn của bạn. Những điều tôi nói đây là sự thật. Người nào cũng có thể viết văn. Nhưng chỉ có những người can đảm mới có thể là nhà văn lớn.”

Dưới đây là lời nói của Anton Ego:

“Ở nhiều khía cạnh, công việc của nhà phê bình rất dễ dàng. Chúng ta chẳng mất mát gì, tuy thế chúng ta có thể hưởng thụ chỗ đứng bên trên những người đã dâng tặng tác phẩm của họ và cả cá nhân của họ nữa cho chúng ta phê phán. Chúng ta phát triển nhờ những lời chê bai chỉ trích, chuyện xấu thì dễ viết và người ta thích đọc. Nhưng sự thật cay đắng mà chúng ta, những nhà phê bình phải đối diện đó là, trong tầm nhìn rộng hơn, một tác phẩm trung bình có lẽ vẫn có giá trị hơn là những lời chê bai của chúng ta dành cho nó. Tuy nhiên cũng nhiều phen khi một nhà phê bình dám liều đánh mất thể diện hay danh tiếng, đó là khi khám phá ra và bảo vệ, người mới. Thế giới thường xuyên không mấy nhân hậu với tài năng mới hay tác phẩm mới. Người mới cần có bạn bè. […] Trước đây, tôi không hề dấu diếm sự khinh thường tôi dành cho khẩu hiệu của Gusteau: ‘Bất cứ người nào cũng có thể viết văn.’ Nhưng tôi nhận ra, chỉ bây giờ tôi mới thật sự thấu hiểu ý nghĩa câu nói của ông. Không phải ai cũng có thể trở thành một nghệ sĩ lớn, nhưng một nghệ sĩ lớn có thể xuất thân ở bất cứ môi trường nào. […]

Xin lỗi các bạn tôi đã thay đổi những chữ liên quan đến món ăn hay nấu ăn thành ra chữ văn học hay viết văn có in đậm và cắt bớt một vài câu. Bạn có thể đọc nguyên tác đoạn văn Anton Ego nói trong phim ở Wikiquote. Phần trích dẫn Chef Gusteau tôi chép từ trong phim.

1234567

Xem phim với con gái

Tôi nghỉ, kết hợp vừa ngày lễ vừa ngày vacation, bắt đầu từ ngày 24 tháng 12, 2014 và sẽ đi làm trở lại vào ngày 5 tháng 1, 2015. Kể từ hồi tháng 10 đến hôm nay tôi đã trải qua mấy bữa tiệc lớn (3 đám giỗ, hai bữa tiệc tốt nghiệp, Giáng Sinh, Tạ Ơn). Trọng lượng đã thấy tăng ba hay bốn pounds. Đang thầm hy vọng được “không ăn” lễ Tất Niên. Nói nghe bắt ghét sợ bà con mắng là chảnh. Người ta mời thì mình đừng ăn, ngồi đó ngó thôi. Ha! Tôi có cái tật thích ăn ngon, và vì nấu ăn dở nên ai nấu tôi ăn cũng ngon hết. Miễn là tôi không phải nấu. Và tôi lại lên cân rất nhanh, chỉ cần tôi ăn tự nhiên đừng kiêng cử tôi có thể lên cân mỗi tuần nửa kí một cách dễ dàng.

Hôm qua, tôi và Cá Linh đi xem phim Wild, from lost to found on the Pacific Crest Trail. Nguyên tác có cái tên dài dòng nên tôi chỉ gọi tắt là Wild. Chúng tôi mời Ách Cơ cùng đi nhưng cô từ chối. Tôi đã nghe đọc quyển Wild, đang chờ mượn của thư viện quyển sách này để có thể chép lại những câu danh ngôn của những nhà văn nhà thơ nổi tiếng như Emily Dickinson, Lord Byron, Adrienne Rich, Cheryl Strayed đã dùng để ghi vào sổ lưu chữ ký đặt trên những cột mốc đánh dấu đường mòn Pacific Crest Trail. Có nhiều câu rất hay. Sáng nay check, thấy quyển sách đang trên đường đến thư viện, thứ Bảy này sẽ có sách.

Đi xem phim này với con gái út có chỗ không hay, nhất là những sex scenes. Cheryl Strayed trong quyển sách khá cuồng loạn về mặt sex cũng như drugs. Cá Linh nói đỡ cho tôi, khi tôi bảo là tôi thấy awkward, bảo rằng chỉ ngắn và thoáng qua thôi.

Wild, ở trên danh sách best seller mấy chục tuần, có thể mang đến cho người đọc một vài suy nghĩ. Cheryl Strayed, không hẳn là một người leo núi dày kinh nghiệm, cũng không phải là một người chưa bao giờ xuất bản sách. Tôi trộm nghĩ không biết đây có phải là một tính toán cẩn thận của Strayed, kết hợp sự trải nghiệm của người leo núi và hồi ức cuộc đời của Strayed, để làm thành tác phẩm. Hồi ức của một cô gái 26 tuổi với một tuổi trẻ lạc lối có lẽ không tạo ấn tượng nhiều bởi vì có biết bao nhiêu tuổi trẻ lạc lối ở Hoa Kỳ, mà quá khứ còn nhiều đau đớn đầy ấn tượng hơn. Nếu viết về trải nghiệm đường trường của một người leo núi tay mơ cũng chẳng gây ấn tượng bởi vì đã có biết bao nhiêu quyển sách viết về chuyện leo núi, những ngọn núi cao nổi tiếng như Hy Mã Lạp Sơn, hay Kilimanjaro chẳng hạn. Tuy nhiên kết hợp cả hai, Strayed đã tạo nên một quyển sách dễ đọc và hấp dẫn.

Tôi bị thu hút bởi sự gan dạ và kiên trì của Strayed. Đi đường trường, 1 ngàn 1 trăm dặm, tương đương với 1 ngàn tám trăm cây số, một mình giữa rừng núi. Nhiều lần muốn bỏ cuộc nhưng vẫn tiếp tục đi tới. Tác giả tự xưng mình là một nhà nữ quyền. Ở quan điểm của một bà mẹ tôi thấy cô vừa ngu vừa điên. Giả tỉ như cô bị hiếp dâm và bị giết giữa rừng, chẳng ai hay biết. Có biết bao nhiêu người chỉ đi nghỉ hè, xui xẻo gặp kẻ xấu, mất mạng dễ dàng.

Nhìn về quyển sách bằng cặp mắt của một người đi tìm chủ đề để viết, tôi khâm phục Strayed ở chỗ cô nghĩ ra được đề tài và dâng hết sức lực để khai thác đề tài thành quyển sách.

Với tôi, quan trọng nhất, tôi nhìn thấy cách suy nghĩ của một cô gái trẻ, lao vào cuộc sống với tất cả nhiệt tình, cô phạm nhiều lỗi lầm nhưng tự tìm cách thoát ra, và tôi nhìn thấy quan hệ giữa mẹ và con gái.

Người ta thường bảo rằng, mẹ thường yêu con trai hơn con gái. Tôi nhìn thấy điều này qua mẹ tôi. Quan hệ của mẹ với con gái rất phức tạp. Tôi nghĩ bà mẹ nào cũng yêu thương con, nhưng cũng có lúc ghét con, nhất là khi nhìn thấy con gái của mình đi vào con đường không hay, và khi nó phạm phải những lỗi lầm mà mình đã từng phạm phải vì ngu dốt. Nếu mẹ của Strayed không qua đời khi tuổi mới bốn lăm, bà sẽ nghĩ gì khi thấy con mình làm những điều không hay.

Quyển Wild cũng củng cố một niềm tin của người Hoa Kỳ. Ignorance is bless. Nếu Strayed biết trước mức độ nguy hiểm trên đường đi có thể cô không dám đi, hay ít ra không dám đi một mình, khi còn thiếu kinh nghiệm như thế. Tác giả cũng làm tôi thèm một cuộc lên đường solo, để ghi chép, tìm kiếm chính mình, tìm kiếm đề tài đủ hấp dẫn mình ngồi viết cả năm trời hay mấy tháng để làm thành một tác phẩm. Best seller càng tuyệt vời hơn nữa.

Lord Byron

Đây là một trong những bài thơ Cheryl Strayed trích dẫn trong chuyến đi.