Mùa Vừa Đi Qua

1

Nắng trong vườn.  Trong phim Bridges of Madison County, nhân vật chính trong truyện, chàng lãng tử nhiếp ảnh gia Robert Kincaid, không chỉ chụp ảnh.  Theo lời của Francesca Johnson, người đàn bà mơ mộng sống chết dí ở một xó vườn quê tình cờ gặp một nhà phiêu lưu khắp nơi trên thế giới và yêu chàng mê mệt đến rụng rời, Robert chụp ánh sáng, cố gắng chộp những giây phút phù du, những cảm xúc trên mặt người chỉ nhoáng lên trong khoảnh khắc.

Đây không phải là Kincaid, không biết chụp ảnh, cũng muốn chộp lấy khoảng nắng lên phía sau nhà.  Tôi có cái “tài” nhìn thấy những mẫu đời xinh đẹp chung quanh, nhưng không có tài ghi lại những mẫu đời xinh đẹp ấy.  Thôi thì bạn cứ tưởng tượng dùm, tôi ngồi đây ngó ra khung cửa sổ, mộng nằm dưới lá trong cây, mộng hôm nay thấy ngày hôm qua.  Tôi thấy nắng nhỏ từng giọt màu xanh lung linh như ánh ngọc.

2

Hoa bên ngoài màu tím.  Vào ảnh nó biến thành màu xanh.  Tôi có thể tìm hiểu tại sao nếu tôi lật quyển manual ra xem và set up, nhưng tôi lười.  Vả lại hoa màu xanh càng hiếm chứ có sao đâu.  Tôi cũng biết tên hoa này, nhưng ngay lúc này thì tôi không nhớ ra.  Tôi hay yêu những cây hoa như những mũi nhọn đâm thẳng lên như thế này.  Tôi yêu cái dáng cứng, khẳng khiu của nó.  Vì thế tôi rất yêu loại cattail và những cành cây khô.

3

Cỏ đấy, cỏ đuôi chồn hay đuôi sóc gì đó.  Được trồng và nâng niu như bất cứ một loại hoa quí nào.  Tôi yêu những con sâu quơ phất phơ trong nắng trong gió như thế này.  Ở xứ này cái định nghĩa hoa hèn cỏ dại hình như không còn đúng nữa.  Chỉ có chỗ đứng của nó có thể bị xem là hèn mọn chứ mỗi loại hoa cỏ đều có vị trí đáng trân trọng trong đất trời.

4

Hoa hiếm, thơm, không biết tên.  Nếu lật mấy quyển tự điển về hoa cỏ dày cả ngàn trang chắc có thể tìm được tên nhưng mất thì giờ quá.  Hoa màu hồng rất nhạt.  Mới nhìn tưởng là hydrangea hay tú cầu nhưng không phải.  Tú cầu ở đây cũng có nhiều loại, hồng tú cầu, bạch tú cầu, có cả loại tú cầu màu xanh lá cây, nhưng tôi yêu cẩm tú cầu, màu tím nhưng ngã sang màu xanh dương,  Sau này người ta đã cấy nhiều loại tú cầu có hình sao trắng ở giữa tâm chùm hoa, rất đẹp.  Nhìn thấy khi đến thăm vườn nhà của một người bạn ở Virginia.

Mùa hè của tôi đi qua, còn tôi đứng lại ngó theo mùa hè.

Xem phim

Trong bốn phim mượn của thư viện thì đã xem phim Nights in Rodanthe, xem Unfaithful tối Chủ Nhật, tối qua chỉ mới xem đoạn đầu của Bridges in Madison county.  Trong khi Diane Lane (trong vai Connie Sumners) trông rất chic trong phim Unfaithful, Merry Streep (Francesca Johnson) có vẻ trung bình của một người nội trợ không mấy nhan sắc.  Thật ra Merryl Streep rất đẹp và thân hình của bà rất đầy đặn nở nang.  Vì chỉ mới xem đoạn đầu nên chưa nhận xét được.  Chỉ thấy đoạn đầu của hai phim cả Connie và Francesca, đều cười nắc nẻ.  Phim có quanh cảnh và không khí gia đình.  Clint Eastwood trong vai Robert Kincaid kể chuyện ông gặp con đười ươi hay dã nhân gì đó thật duyên dáng làm cô chủ nhà ở miền quê cười nắc nẻ.  Có lẽ ngay từ đầu Robert đã “strike a fancy” làm Francesca liên tưởng đến một cuộc sống khác với đời sống nhàm chán bình thường mỗi ngày của mình, những chân trời xa lạ chàng đã đi qua, cái đẹp chàng đã thu nhận và đóng khuôn vào trong những tấm ảnh.  Còn Francesca mang đến cho chàng lãng tử giấc mơ gia đình, bữa ăn tươm tất, cái dừng chân để bổi dưỡng cả thể xác lẫn tâm hồn.  Xem hai người cùng nấu ăn thật là … lãng mạn.  Francesca cười liên tục, khi thì thú vị, khi tự chế riễu, khi thì cười phá lên thật ồn ào.

Điều này làm tôi không khỏi tự hỏi đã bao lâu rồi mình chưa được cười như thế.  Đa số những nụ cười (rất hiếm hoi) của tôi đều nhuốm vẻ mệt mỏi, và giữ gìn.  Tâm lý chung, mình có thể chiếm tình cảm người ta dễ dàng nếu mình có thể làm người ta cười, nhất là trong tình thế rất nghiêm trang.  Tôi vẫn tự cho tính của mình rất tếu.  Trong những cuộc họp thảo luận về hợp đồng người ta rất căng thẳng gắt gao, tôi vẫn có thể làm người ta cười phì nhẹ nhõm.  Tôi rất sợ cái không khí nghiêm nghị đầy phê phán bao quanh tôi.  Có lẽ người Mỹ đều sợ như thế nên những chương trình buổi tối trên TV thường là những chương trình khôi hài.

Ba phim

Hôm qua đến thư viện mang về 4 phim Anna Karenina, Bridges in Madison County, Unfaithful, và Nights in Rodanthe.  Hai phim chót đều do Richard Gere và Diane Lane đóng.  Đêm qua xem Nights in Rodanthe.  Phim này dựa vào tiểu thuyết của Nicholas Sparks, tác giả chuyên viết tiểu thuyết tình cảm xã hội,lãng mạn trữ tình.  Tôi đã xem vài phim dựa vào tiểu thuyết của ông.  Truyện của ông rất được lòng độc giả nữ, tuy nhân vật của ông ở nhiều hạng tuổi, nhưng các cô ở lứa tuổi đôi mươi rất thích truyện của ông vì nó rất tình cảm, ướt át, lãng mạn.

Phim Unfaithful tôi xem đã lâu nhưng không mấy chú ý.  Chỉ mới chú ý sau này khi có người chỉ ra cô diễn viên biểu lộ tâm trạng bối rối phức tạp của một người làm chuyện tội lỗi.  Lúc trước, khi xem phim này tôi bị chi phối bởi cái bàn tay xục xạo lục lọi hỗn láo của chàng sinh viên trẻ tuổi.  Diane Lane mang nụ cười, lấp liếm, ngượng ngùng, nửa vời như muốn thố lộ điều gì nhưng lại dập tắt ý muốn của mình vào tất cả các phim cô đã đóng như hai phim nói trên, trong Under the Tuscan Sun và trong một phim cô đóng với Harrison Ford vai tình nhân trẻ bị giết chết và người ta nghi ngờ Ford là thủ phạm.

Anna Karenina, Bridges in Madison County, Unfaithful đều là phim nói về đàn bà ngoại tình.  Chủ đề này luôn luôn hấp dẫn tôi nhưng tôi chưa có lập trường vững chắc để viết một bài thật … thuyết phục.

Xem phim Under the Tuscan Sun

Đinh Hùng than rằng “Ta từng có những buổi sầu ghê gớm.”  Với tôi thì tôi từng có những buổi lười ghê gớm.  Liên tiếp hai ngày cuối tuần tôi chẳng viết được gì, đầu óc lao đao với bao nhiêu là ý nghĩ.  Khi nào tôi có hai ba ý nghĩ trong đầu mà tôi muốn viết là tôi như chai bị nghẹt cứ rót mà nước trong chai không chảy ra được.  Và tôi chỉ nằm xem phim hay nhìn lên ngọn cây ngắm trời.  Hôm nay trời rất ấm, rất đẹp.  Tôi lười đến độ không đi bộ, chỉ ngồi đó ngắm cây.   Continue reading Xem phim Under the Tuscan Sun

Hàng Rào Ngăn Thỏ

Năm 1859, Thomas Austin nhập cảng 24 loại thỏ và thả vào nông trại ở tiểu bang Victoria, hiện nay Melbourne là thủ đô và cũng là thành phố lớn nhất của tiểu bang này.  Ông tin là một châu Úc rộng như thế một ít thỏ không làm hại gì mà có thể mang thêm vẻ sinh động.  Năm 1894  thỏ lan tràn khắp Úc Châu, cắn phá mùa màng.  Sau thế chiến đệ nhất, miền Tây của Châu Úc bị dịch thỏ hoành hành, nông dân phải dựng hàng rào cá nhân và dùng mồi có thuốc độc để trừ thỏ.  Năm 1901, người ta dựng một hàng rào để ngăn chận sự lan truyền của thỏ.  Hàng rào này chạy theo hướng Bắc Nam, dài hơn 1,100 dặm, bắt đầu từ Wallal gần Eighty Mile Beach ở hướng Tây Bắc, đến bờ biển phía nam Jerdacuttup. 
 
Năm 1907, hàng rào số một được dựng xong từ Starvation Harbour đến gần Cape Kedraudren.  Hàng rào này còn có tên Barrier Fence, chưa dựng xong thì thỏ đã tràn qua.  Hàng rào số hai được dựng lên năm 1905 phía Tây của hàng rào số một, 723 dặm (một dặm tương đương 1.6 km).  Hàng rào thứ ba được dựng lên chạy theo hướng Đông Tây kết hợp với hàng rào một và hai thành hình chữ T. 

Trước khi Anh chiếm Úc Châu làm thuộc địa, đa số người sinh sống ở đây là thổ dân, được gọi chung là Aborigines, thuộc giòng họ người Torres Strait Islanders.  Lâu dần, một số ít người da trắng kết hợp với dân địa phương sinh ra một số trẻ em mang hai giòng máu.  Dân số thổ dân suy giảm trầm trọng do cuộc sống không mấy phát triển về mặt kinh tế và y tế.  Nạn dịch thỏ hoành hành do đó giới chính quyền thuộc địa tin là họ cần phải bảo vệ nhóm trẻ em có mang dòng máu người da trắng.  Họ bắt gom các trẻ em này vào trại tập trung, bắt dùng tiếng Anh, dạy nghề để làm việc phục dịch người da trắng. 

Hàng Rào Ngăn Thỏ là tên của một cuốn phim phát hành năm 2002 dựa vào quyển sách cùng tên của tác giả Doris Pilkington Garimara.  Doris thuật lại câu chuyện cuộc đời người mẹ của bà.  Câu chuyện xảy ra năm 1931, dưới sự cầm quyền của A. O. Neville người lãnh đạo chương trình bảo vệ trẻ em có nửa dòng máu trắng, Molly Craig (mẹ của Doris) cùng với người em gái tên Daisy Craig, và một người em họ tên Gracie Field, bị bắt đem về trại định cư dành cho người dân tộc.  Trại định cư này được gọi là Trại Định Cư Sông Moore. 

Molly dẫn Daisy và Gracie trốn khỏi trại tập trung.  Mặc dù Neville cho người tìm bắt về, trong nhóm người đi tìm có một người da đen rất có tài trong việc lùng bắt trẻ em trốn trại, Molly dùng trí thông minh của mình đánh lạc hướng họ và trốn thoát.  Không biết đường về nhưng Molly biết là hàng rào ngăn thỏ chạy ngang qua Jigalong làng ḿnh nên dẫn hai người em đi bộ dọc theo hàng rào để về.  Cuộc hành trình kéo dài 9 tuần, 1500 dặm đường, Molly và hai em sống sót nhờ đôi khi được sự giúp đở của một ít người đi rừng, đa số là ăn hay uống những gì cả ba người tìm được dọc đường gió bụi.   Neville đoán biết là cả ba sẽ lần theo hàng rào, và cho người phục sẵn, nhưng một phần vì những người này không đủ kiên nhẫn ở trong hoàn cảnh khắc nghiệt với cái nắng giết người trong sa mạc, một phần vì Molly rất khôn ngoan, và đôi khi may mắn, nên thoát.  Neville lại tung tin đồn thất thiệt là mẹ của Molly đã dọn về một làng khác có thể dùng xe lửa để đến làng ấy.  Gracie tin theo lời đồn đi về đường xe lửa nên bị bắt lại.  Molly dẫn em mình về làng, ngất xỉu dọc đường trong cái nắng sa mạc.  Nghe tiếng ó kêu trên trời, nhớ lại lời mẹ dặn là chim ó là thần nhân dẫn đường và bảo hộ mình.  Molly lần theo hướng chim về đến làng, gặp lại mẹ và bà.  Họ dẫn nhau vào trong núi sâu để trốn. 

Doris cũng bị bắt đem vào trại tập trung sống một thời gian, chưa bao giờ nghe mẹ kể lại chuyện quá khứ của bà.  Có lần trong cuộc họp mặt gia đình bà nghe dì Daisy kể lại.  Một người trong họ xác nhận là chuyện có thật và đưa cả xấp hồ sơ tài liệu chứng minh.  Doris viết lại chuyện đời của mẹ và của mình trong bộ truyện gồm ba cuốn: Caprice, a Stockman's Daughter, Follow the Rabbit-Proof Fence, và Under the Wintamarra Tree.  

Đây là một cuốn phim rất cảm động, diễn viên không thuộc hàng danh tiếng trong làng phim ảnh Mỹ, không có cảnh khiêu dâm, không có giết người, không có bắn súng, không có chạy xe tông vào nhà hàng hay cao ốc, vậy mà vẫn làm mắt tôi dính cứng vào màn ảnh, và tôi cố ngăn không cho tiếng khóc của mình thoát ra khỏi môi.  Tôi nghĩ là tôi rất may khi tình cờ chọn cuốn phim này ở thư viện.  Tôi chưa hề nghe ai nói nhắc đến phim này, cũng chưa từng được đọc review về phim này.  Tôi nhận ra tên người đạo diễn.  Ông là người đạo diễn phim Người Mỹ Trầm Lặng (The Quiet American).  Có một diễn viên tôi không biết, nhưng nét mặt ông hơi hao hao giống Christopher Plummer, sau khi xem phim tôi mới biết đó là Kenneth Branagh.  Mặt ông có vẻ lạnh nhạt, khắc khổ, dễ gây ác cảm. 

Lúc người da trắng bắt ba cô bé bỏ lên xe hơi chạy đi, hai người đàn bà, mẹ của Molly và Daisy, và mẹ của Gracie nằm lăn trên đường để khóc.  Tiếng khóc của họ không phải là tiếng khóc, nó như một tiếng tru đau đớn thống thiết của người rừng, một nỗi đau mà không ngôn từ, nước mắt nào có thể diễn tả được.  Bà của Molly ngồi ở vệ đường, cầm cục đá nện vào đầu mình và nện mãi.  Đau lòng không thể nói hết. 

Người ta bảo vệ trẻ em hai giòng máu hay đó chỉ là một cách bắt người làm nô lệ trá hình?  Neville cho người chờ sẵn trong làng chỉ cần chờ Molly về tới là bắt lại.  Cho dù anh ta có súng nhưng với lòng quyết tâm bảo vệ con mình, mẹ Molly dù chỉ có một cây gậy chuốt nhọn đã làm người lính phải bỏ chạy. 

Người ta nói rằng loài người cần được thỏa mãn chuyện cần thiết như ăn ngủ trước.  Tình yêu và những cần thiết về tinh thần là thứ yếu.  Molly và câu chuyện Hàng Rào Ngăn Thỏ đã chứng minh ngược lại.  Molly đă đặt lòng yêu mẹ, yêu làng mạc, và yêu tự do lên trên những cần thiết cá nhân.