Sáng trời mưa hồi tưởng Montréal

Rừng nhỏ
Rừng sau nhà

Sáng nay mưa. Rừng sau nhà tối âm u, lướt thướt. Tấm ảnh trên đây chụp hồi tuần trước cũng vào một ngày mưa. Rừng hôm nay đã rậm rạp lắm rồi. Màu xanh của lá già nhiều hơn màu xanh của lá non.

Tuần trước đi Montreal, vẫn còn là xuân. Lá cây xanh nõn. Vài cây hoa đào nở muộn vẫn còn. Trước cửa nhà trọ, cây Eastern Redbud vẫn còn hoa nở chi chít trên cành. Lần này tôi ở một B&B, trong khu lao động. Gần con đường Côte des Neiges. Trên đường này có nhà hàng Việt và một nhà thờ có lễ Mass bằng tiếng Việt. Giá thuê apartment hai phòng cho chuyến đi rất rẻ. Chủ nhà rộng rãi, có đủ thứ đồ dùng mà chúng tôi không dùng đến. Apartment khá cũ sơn tróc loang lỗ, nhưng tương đối sạch sẽ và yên tĩnh. Nếu có trở lại Montreal, tôi có thể sẽ trở lại nơi đây. Từ chỗ trọ này đến những nơi tôi muốn xem không đến ba mươi phút lái xe (nếu không bị Google Map dẫn đi loanh quanh và kẹt xe).

Lần đi này không vui. Tôi không chụp được tấm ảnh nào ưng ý. (Thật ra mà nói, tôi chưa bao giờ ưng ý với những tấm ảnh tôi chụp). Đi ngày thứ Tư, trời mưa nhưng khi đến Canada thì tạnh. Cửa khẩu hoang vắng, mấy anh lính gác trạm cửa khẩu ngồi ngáp dài. Vào Canada dễ dàng. Ngày thứ Bảy về thì đông hơn một chút, trước xe tôi chỉ độ ba hay bốn xe, vào Mỹ cũng nhanh chóng. Nhanh hơn cửa Toronto và Ottawa.

Ngày thứ Năm tôi đi chơi phố cổ Montreal (Vieux Montréal). Ngày thứ Sáu đi xem Vườn Bách Thảo (Jardin Botanique). Chuyến đi không vui vì hình như chỉ có tôi muốn đi, còn ông Tám và cô út thì đầy miễn cưỡng. Thứ Sáu ông Tám bỏ quên chìa khóa trong xe, khóa cửa, phải kêu người ta đến giúp mở cửa lấy chìa khóa ra. Được cái bù lại là ngày thứ Sáu tất cả những nơi tôi đi chơi, xem đều được miễn phí. Đi chơi Canada thích nhất là chụp ảnh thoải mái, không bị cấm đoán, hạch hỏi như ở Mỹ. Ra vào cửa City Hall, Tòa Án đều không phải sắp hàng chờ qua máy xét vũ khí, không bị mở bóp hay túi xách cho người ta khám.

Người Mỹ càng về sau càng gắt gao hơn. Dù đã hơn 17 năm sau vụ hai tòa nhà bị đánh sập, nỗi nghi ngờ hình như cháy bỏng hơn.

Mỗi khi đi đến chỗ lạ, không kịp chuẩn bị kỹ càng, tôi thường dùng Frommer’s EasyGuide. Điểm đặc biệt của quyển này là đề nghị với du khách một vùng thưởng ngoạn mà du khách có thể đi bộ trong vòng hai hay ba giờ đồng hồ. Frommer đề nghị hai ba chỗ ở phố cổ Montreal. Tôi chấm Mont-Royal nhưng đổi ý không đi. Cũng không viếng các viện bảo tàng vì đi ít ngày. Ông Tám và cô út thì không có vẻ hứng thú nên tôi chọn nơi tôi thích nhất là phố cổ, hải cảng cũ, và vườn bách thảo.

Giữa phố cổ là quảng trường Place d’Armes, nhà thờ Đức Bà (xin quí vị theo Thiên Chúa Giáo làm ơn chỉ giúp khi nào mình dùng chữ thánh đường, Vương Cung thánh đường, có khác với nhà thờ Đức Bà không?). Phía sau nhà thờ Đức Bà là nhà nguyện Thánh Tâm (Chapelle Sacré-Coeur). Gần đấy là quảng trường Jacques-Cartier và khu chợ Bonsecours.

nhà thờ Đức Bà
Nhà thờ Đức Bà

Rất tiếc, ảnh không được sắc nét. Tôi lười sợ vác nặng nên không mang gạc ba chân.

Nhà nguyện Thánh
Nhà nguyện Thánh Tâm

Nhà nguyện Thánh Tâm không cho phép chụp ảnh, nên tôi đứng ngoài cửa. Nhà nguyện này đã bị phá hủy và được xây cất lại vào năm 1982. Bệ thờ là 32 tấm ảnh bằng đồng miêu tả quá trình sinh, sống, và chết. Tác phẩm của điêu khắc gia Charles Daudelin. Đây là nơi Luciano Pavarotti trình diễn năm 1978, và Celine Dion làm lễ cưới năm 1994.

Hội hoa đào ở vườn Bách Thảo Brooklyn

Chắc bạn còn nhớ, một đôi lần tôi có nhắc đến vườn Bách Thảo ở Brooklyn New York. Brooklyn là một trong năm borrough của thành phố New York. Brooklyn là nơi qui tụ nhiều văn nghệ sĩ, cuộc sống cao nhưng không đắt đỏ như Manhattan. Vườn Bách Thảo Brooklyn chia ra nhiều khu vực: vườn Shakespeare, vườn đá, vườn Nhật Bản. Vườn Nhật Bản Brooklyn là một trong những vườn Nhật Bản lâu đời nhất ở Hoa Kỳ. Hằng năm, vườn Bách Thảo Brooklyn tổ chức lễ hội mừng hoa đào nở (Hakura Matsuri).

Thấy nàng Tống Mai đăng những tấm ảnh hoa đào, đẹp như thơ và đẹp như mơ tôi giật mình. Thôi chết, năm nay mình lỡ một mùa hoa. Dù biết những tấm ảnh mình chụp thì chẳng nên hồn nhưng vẫn thích chụp ảnh hoa. Thứ Bảy, ông Tám đi chơi xa một tuần, tôi đưa ông ra phi trường, sẵn dịp tôi đi New York bằng xe lửa, xe điện ngầm, và cuốc bộ. Chuyến đi thật dễ dàng. Đậu xe ở Newark, ngay bên cạnh Newark Penn Station. Đi xe lửa vào New York Penn Station. Cuốc bộ trên đường số 7 từ đường 33 đến đường 42 West. Đi thẳng đường 42 đến Grand Central Terminal. Dọc đường nhìn thấy Empire State Building chìm trong sương. Đi ngang Bryant Park và thư viện của thành phố New York, một trong những thư viện cổ, tuyệt đẹp, và có nhiều sách quí. Đi chuyến xe điện ngầm (subway) số 5, thẳng đến trạm Eastern Parkway, trạm xe điện dùng chung cho hai địa điểm, vườn bách thảo và viện bảo tàng Brooklyn.

empire building chìm trong sương
Impire State building chìm trong sương mù
áo đỏ dù hồng
mỹ nhân áo đỏ dù hồng
beneath cherry blossoms
Cảm giác thật kỳ lạ, thấy mình đang tồn tại, dưới gốc hoa đào (Issa)
biểu diễn trống taiko
Các nữ nghệ sĩ biểu diễn trống, bản nhạc trống có tên “Girl Power”
búp bê kokeishi
Búp bê kokeshi
cửa hàng sách
Cửa hàng sách
crown imperial
hoa Crown Imperial, được Shakespeare nhắc nhở trong vở kịch “The Winter Tale”
điệu múa mừng mùa hoa đào nở
Các nữ nghệ sĩ múa mừng lễ hội hoa đào
dưới cội đào
Dưới gốc cây đào già hoa trắng
dưới gốc đào trắng nhìn lên
Hoa đào cánh kép
đường đi dưới rặng hoa đào chưa nở
Con đường dưới những cội hoa đào chưa nở
gian hàng búp bê
Búp bê Kokeshi
gian hàng dù
Gian hàng dù
grape hyacinth
Hoa Grape Hyacinth
hoa chuông màu đỏ đậm
Hoa chuông màu đỏ sậm
hoa đầu rắn
Hoa đầu rắn
kiệu vàng
Kiệu ngai vàng, không biết đây là gì, nhớ mang máng đọc ở đâu đó đây là hình mẩu thu nhỏ quốc ấn của người Nhật.
magnolia đỏ
Hoa magnolia màu hồng đậm gần như màu đỏ, đặc biệt cả hai mặt cùng màu chứ không một bên trắng một bên có màu như các loại magnolia khác
magnolia màu đen
Hoa magnolia màu đen
magnolia vàng
Magnolia vàng
một góc vườn có hoa anh đào
Một góc vườn có hoa anh đào
múa hoa anh đào
Múa mừng hội hoa đào
múa nón
Dân ca dân vũ trình diễn cùng bản nhạc trong phim Dreams (Watermill Village) của Kurosawa
nghệ sĩ đánh trống
Nghệ sĩ biểu diễn trống
nghi thức uống trà
Nghi thức uống trà
người diễn tuồng kabukai
Nghệ sĩ trình diễn một màn kịch kabukai
như những nhân vật bước ra từ những trang manga
hội hóa trang những nhân vật trong manga và anime
những nàng nghệ sĩ trình diễn kịch được đưa ra khán đài
nghệ sĩ được chở từ phòng hóa trang ra khán đài
rùa đi lạc
Rùa đi lạc lên trên đường, thấy tôi đến gần ngài rút vào trong vỏ.
sáng ngời với bộ kimono
Sáng chói trong trang phục kimono
uất kim hương đủ sắc đủ loại
hoa tulips đủ màu đủ loại
Với kimono
những người mặc kimono đi lễ hội hoa đào
vui bên những cội đào
Mai ta đứng dưới cội đào, đi đâu cũng nhìn thấy toàn người và người. Càng về chiều càng đông đúc, tôi có cảm giác không có đủ chỗ để thở
Tranh của Vik Muniz.jpg
Tranh của Vik Muniz

Tôi ra về lúc bốn giờ rưỡi chiều. Nghĩ thầm sẽ trở lại vườn Bách Thảo, đi lại tuyến đường xe điện ngầm số 5 (cuối tuần) hay số 2 (nếu là ngày thường). Xe điện đi ngang trạm Cầu Brooklyn, trạm Fulton (có phải đây là trạm xuống gần phố Tàu New York?), trạm Wall Street (muốn đến từ lâu nhưng chưa đến). Trên đường về thấy bức tranh của Vik Muniz sáng lộng lẫy trên bức tường kính của một cửa tiệm nào đó. Tranh giống như những mảnh hình cắt dán lại rất đẹp mắt.

Tôi ghiền đi New York bằng chuyên chở công cộng mất rồi. Đỡ phải lái xe vào New York thật là nhọc nhằn và bực bội.

Vườn Thiền ở Ottawa

Vườn Thiền Nhật Bản ở VBT Lịch Sử Ottawa
Vườn Thiền Nhật Bản nằm ở một góc nhỏ bên ngoài viện bảo tàng Lịch sử của Canada (Canadian Museum of History).

Viện Bảo Tàng Lịch Sử của Canada nằm ở khu vực Gatineau, nói tiếng Pháp là chính nhưng người Canada đa số đều nói thông thạo hai thứ tiếng Anh và Pháp.

vườn Thiền từ trên cao nhìn xuống
Vườn Thiền nhìn từ trên cao xuống, những vòng tròn đồng tâm tượng trưng cho sóng quanh các đảo đá. Những làn sóng này được làm ra bằng một cái cào, chế tạo đặc biệt cho vườn Thiền. Mỗi vườn Thiền có một cái cào riêng.
núi thác suối chảy ra đại dương
Bạn có thể tưởng tượng đây là đỉnh núi, tiếp theo là cái thác, và sau đó là dòng suối chảy ra biển. Biển rộng bất tận nối dài cho đến bên trong viện bảo tàng.
Con đường băng qua đại dương
Đây là con đường băng qua biển (làm bằng sỏi trắng) tượng trưng cho đường đời
con đường ngoằn ngoèo xuyên qua vườn
Từ cuối vườn Thiền người đến xem vườn có thể đi lên con đường đá ngoằn ngoèo lên đến đỉnh núi, thác, suối sông, và biển. Sau đó theo con đường đá mặt phẳng băng qua biển vào đất liền.

Tháng Chín năm 2016 tôi đến xem vườn Thiền ở trong viện Bảo tàng Lịch sử Canada, nằm trong khu vực Gatineau, cạnh thủ đô Ottawa. Vừa bước vào viện Bảo tàng tôi hỏi ngay nhân viên của VBT vườn Thiền ở đâu, đường nào ngắn nhất để đi đến đó. Anh nhân viên trẻ tuổi lịch sự đáp ngay, bà chỉ cần đi thẳng ra cánh cửa này, và vườn Thiền ở ngay đấy, bên ngoài nhưng sát với một cạnh của VBT.

Rất tiếc là ngày hôm ấy rất nóng dù đã gần giữa tháng 9, và tôi đến hơi trễ nên nắng đã lên cao, chói chang, và nhiều bóng tối tỏa ra từ những tòa nhà lân cận. Tôi không khéo chụp ảnh nên không biết làm sao cân bằng giữa ánh sáng gắt gao và bóng tối. Ảnh không được tốt lắm nhưng có gì dùng nấy.

Tôi vốn mê đá, và tất cả những gì liên quan đến đá. Ngay cả nhà (tù) đá tôi cũng muốn xem (nhưng không muốn ở). Hàng rào đá ở Scotland và Ireland tôi cũng muốn xem. Và vườn đá thì tôi đã đi xem ba hay bốn cái. Vườn Thiền Đá Japanese Garden ở San Francisco, Thư viện Huntington, và Moguchi garden ở đâu đó thuộc tiểu bang California, bây giờ quên mất tên. Từ hồi trưa tôi tìm mấy quyển du lịch của chuyến đi California nhưng không thấy, chắc đã bị ông Tám cho vào thùng tái chế hết rồi.

Vườn Thiền này được thiết kế bởi Thiền sư kiêm Kiến Trúc Sư Shunmyo Toshiaki Masuno, theo chủ đề “Wakei no Niwa” có nghĩa là nhận biết và kính trọng lịch sử, văn hóa, và tinh thần của dân tộc Nhật Bản và Canada.

Vườn Bách Thảo New York

Đi chơi với con út.

thác nước
Thác nước
những người đàn bà đã quá tuổi xuân
Nhưng những người phụ nữ đã bắt đầu quá tuổi xuân
hoa củ hành
Trilliums
sóc đang gặm nhắm hạt
Đang thưởng thức món ăn ngon
chàng cóc
Chàng hoàng tử
Giai nhân và lãng tử
Giai nhân và lãng tử
hoa tím lục bình
Hoa tím lục bình
chiếc xuồng chở những giấc mơ
Chiếc thuyền chở những giấc mơ
màu sắc
Giấc mơ đầy màu sắc
tháp màu vàng và đỏ
Như một cái hoa bàn chải súc chai khổng lồ
chuỗi hoa
chuỗi hoa
những chiếc lá sen đủ màu
Lá hoa sen đủ màu
sâu xanh ốc xanh
Ốc len xanh
màu xanh
Chùm hoa xanh
hoa tulip
Uất kim hương
blue polivitro crystal
Blue glass
thư viện
thư viện
Chuyện ba người
hai người vui biết bao nhiêu. Một người lặng lẽ buồn thiu không dám nhìn.

Vài dòng về uất kim hương

Tulip hay uất kim hương được ca ngợi lần đầu tiên từ những dòng thơ của Hafis (1327 – 90) nhà thơ lớn xứ Ba Tư. “Hãy nhìn những đóa uất kim hương, đầy đặn như đôi má của những nàng thiếu nữ, vươn lên giống như những cái cốc đầy màu sắc mời mọc người ta nâng lên môi nhấp từng ngụm rượu.”

Uất kim hương được xem như lời tỏ tình. Truyện xưa kể rằng hoa sinh ra đời bởi một giọt máu: “Chỉ mới đầu mùa xuân, uất kim hương đã nâng lên cái cốc màu đỏ của nó khi Ferhad chết vì tình yêu của Schirin, nhuộm đỏ cả sa mạc với những giọt nước mắt rơi từ trái tim chàng.”

Uất kim hương mọc thẳng, hướng lên trời và được xem là loài hoa của mặt trời. Hoa quay theo hướng mặt trời và khép cánh lại vào lúc hoàng hôn. Uất kim hương không được nhắc đến trong huyền thoại, luôn luôn bị xem là tượng trưng cho vật chất xa hoa của trần thế. Khi gia nhập vào Thổ Nhĩ Kỳ, chỉ trong một thời gian ngắn, đã trở nên loại hoa đắt giá nhất trong các loại hoa. Các nhà sultan của Thổ Nhĩ Kỳ, vào thời Osman, đã chọn uất kim hương làm huy hiệu của triều đình. Thế kỷ thứ mười tám, khi lòng ngưỡng mộ hoa uất kim hương ở điểm cao tột độ; lễ hội uất kim hương được tổ chức trong vườn thượng uyển của các vị sultan. Hoa có nhiều loại, được đặt cho những cái tên rất kêu, như “Giấc mơ hạnh phúc”, “Bí mật vĩnh cữu” và “Thần dược tình yêu”.

Loại hoa này được mang đến Vienna (Áo) vào năm 1554 với Ghiselin de Busbeqc. đại sứ Áo vào triều đình Süleyman và vào thời gian này hoa uất kim hương được gọi là tulip. Đại sứ Busbeqc tưởng tên gọi của hoa bằng tiếng Thổ Nhĩ Kỳ là “tülbend”, nhầm với cái hoa được gắn trên khăn quấn trên đầu màu đỏ của người Thổ Nhĩ Kỳ. Thật ra loài hoa này có tên Ba Tư là “lalé”.

Giới thương gia và học giả là những người đầu tiên đã mang uất kim hương vào Netherlands từ sau năm 1593. Uất kim hương có giá trị (tiền bạc) đến độ người ta có thể đánh đổi nhà cao cửa rộng và những chuyến tàu chở đầy hàng hóa với vài ba củ rễ uất kim hương, xem chúng như là bằng chứng của sự giàu sang. Quan trọng đến độ “ülbend” được Rembrandt mang vào những bức tranh vẽ hoa và tĩnh vật. Khi quốc hội Hòa Lan ấn định giá của hoa uất kim hương vào năm 1637, thị trường uất kim hương bị sụp đổ và nhiều người bị tán gia bại sản. Chẳng ai ngạc nhiên khi uất kim hương trở thành biểu tượng chính của vanitas.

Định nghĩa của vanitas là một bức tranh tĩnh vật, loại tranh của người Hòa lan vào thế kỷ mười bảy, chứa đựng biểu tượng của cái chết hay một sự thay đổi lớn lao, nhắc nhở đến khía cạnh phù du của cuộc đời. Thế kỷ thứ mười bảy, trong tranh vẽ, hoa uất kim hương thường được đặt bên cạnh những cái xương sọ, bị xem là kiêu ngạo và phô trương, thô cứng và lạnh lùng. Loại hoa không có hương thơm này luôn luôn mang một vẻ xa cách. Không được nằm trong danh sách các loại hoa có huyền thoại, hoa cũng không là bạn của các nhà thơ. Thi sĩ không bao giờ mang uất kim hương vào trong đáy trái tim của họ. Tuy nhiên loài hoa “lalé” này đi vào trái tim của thường dân. Giới dân giả xem hoa uất kim hương là biểu tượng của mùa xuân và là biểu tượng của cuộc sống sau khi chết.

Chùm ảnh lang thang từ San Bruno đến Golden Gate Park

amphitheater
Không để ý tên gọi của amphitheater này. Thấy nam thanh nữ tú đến đây đều chụp ảnh. Có lẽ nó gợi sức tưởng tượng của người thời bây giờ về những buổi trình diễn của nền văn minh Hy lạp thời xưa.
ba-goc-palm-va-bon-hoa-hong-trang
Buổi sáng đi dạo ở gần chỗ trọ Anaheim
buc-tranh-tren-tuong-ngoai-cua-quan-ca-phe-vesuvio
Bức tranh tường bên cạnh quán cà phê Vesuvio
chang-biet-co-quan-gi-co-hai-cay-co
Chẳng biết cơ quan gì có treo hai lá cờ.
cua-tiem-cua-nguoi-viet
Cửa tiệm mang tên Việt, nhiều vô số kể trong thành phố này
dung-tren-cau-o-san-bruno-ngo-ve-duong-cao-toc-thay-ket-xe
Ở San Bruno, trên cầu nhìn sang đường cao tốc US 101 kẹt xe vô cùng tận, luôn luôn kẹt xe không kể sáng chiều
goc-ben-canh-san-khau-cua-ampitheater
Nối tiếp của amphitheater với hàng cột tiêu biểu kiến trúc Hy Lạp
hoa-vang
Hoa vàng trước ngõ
mot-loai-xuong-rong
hoa xương rồng
ngoi-nha-be-ti-dung-lam-cua-tiem
Một ngôi nhà rất bé được biến thành cửa tiệm
quai-thu-va-ran
Tượng thú và rắn không biết kể sự tích gì đây
quang-truong-co-cau-be-nguoi-a-chau-dang-ngoi-phac-hoa
quảng trường trong Golden Gate Park có một cậu bé Á châu ngồi phác họa cái gì đó, bồn nước phun, có lẽ
quang-truong
Quảng trường và fountain
tuong-dai-francis-scott
Tượng đài của Francis Scott
tuong-hai-con-sphynx-va-binh-ruou-wine-ben-canh-vien-bao-tang-de-young
Tượng hai con sphynx ở giữa là bình rượu wine

Dinh Quốc hội

Sir Wilfred Laurier, được đặt tên cho lâu đài Laurier (Chateau Laurier) là nhà chính khách có tài hùng biện. Ông thuyết phục dân Canada hoàn thành những công trình lớn như chính sách di dân, nông nghiệp, và kỹ nghệ. Và là một trong những người thành lập ra thủ phủ Ottawa lộng lẫy. Tôi không (có cơ hội) nhìn tận mắt bên trong lâu đài. Thấy người ta đến tấp nập, áo quần tươm tất. Có vẻ là nơi hội họp và tiệc tùng của những người giàu có. Google một phát thấy phòng tiếp tân của lâu đài rất to lớn, dĩ nhiên là rất đẹp. Lâu đài này (bên trong đại sảnh đường) nổi tiếng với hàng cột Hy Lạp cổ, phòng khiêu vũ với những trang trí trên trần, trên tường, v.v… . Dẫu tôi vẫn quan niệm chẳng mắc mớ gì phải ca tụng lâu đài của giới nhà giàu nhưng vẫn phải thán phục hễ giàu thì có thể làm ra nhiều cái đẹp. Phía sau lâu đài Laurier là một công viên rất đẹp. Đứng ở đây có thể nhìn thấy cây cầu dẫn qua Viện Bảo Tàng Lịch Sử thuộc địa phận Gatineau.

Ngọn lửa Centennial Flame được thắp sáng lần đầu ngày 31 tháng 12, năm 1966 kỷ niệm 100 năm thành lập liên bang Canada. Lửa được thắp cháy bằng gas, trên mặt nước chảy. Đứng gần ngửi thấy mùi gas nồng nặc. Buổi tối chúng tôi trở lại lâu đài cố ý xem chương trình biểu diễn ánh sáng. Nhưng rất tiếc, chương trình chiếu sáng suốt mùa hè, một trong những điểm thu hút độc đáo nhất của Ottawa đã chấm dứt vào đêm hôm qua. Đành mời các bạn xem ảnh vậy.

Tôi lấn cấn mãi không biết nên gọi là lâu đài hay tòa nhà Quốc hội ở ngay trên đầu con dốc Parliament Hill. Tự hỏi mình dùng chữ “dinh” có được không? Để được vào xem bên trong dinh Quốc hội chúng tôi phải sắp hàng ở một chỗ khác gần đó lấy vé, và hơn một giờ sau mới được hướng dẫn bằng chương trình tiếng Anh. Ông Tám cứ đòi đi chương trình tiếng Pháp mau hơn nhưng tôi không chịu vì (không nghe được tiếng Pháp) làm sao hiểu được những chi tiết người hướng dẫn nói.

Hướng dẫn viên là một cô sinh viên ban Triết, chừng hai mươi hay hai mươi mốt, thuyết trình rất hay. Khỏi phải nói là tôi say mê vô cùng, có cảm tưởng như mình là một học sinh trong phim Harry Potter lần đầu tiên được nhìn thấy trường Hogwarts. Người xem được khuyến khích đi một bên, dọc theo hành lang, bước lên trên những tấm gạch đá cẩm thạch màu xanh biếc láng bóng. Người hướng dẫn nói hãy nhìn những chi tiết chung quanh, trên tường, bạn sẽ thấy rất nhiều chim cú. Cô bảo khi nào xem xong, nhớ nhắc, cô sẽ kể cho chúng tôi nghe một riddle về chim cú. Chim cú là tượng trưng cho những nhà thông thái, hiểu biết về pháp luật (hay pháp thuật).

Chúng tôi phải qua một chặn khám xét rất cẩn thận. Túi xách to lớn, packback quá khổ phải gửi bên ngoài. Tuy nhiên nhìn chung thành phố Ottawa có vẻ thư thả ít lo sợ như thành phố New York và Newark, nhìn ai cũng sợ dân khủng bố. Ở đây đa số chỗ nào cũng được phép chụp ảnh chớ không như chỗ tôi ở, cứ giơ máy ảnh lên là có bảo vệ xông ra trước mặt ngay lập tức.

Bên trong dinh Quốc hội tôi được đưa đến xem phòng họp, và thư viện. Không thể tả được cái giàu sang vĩ đại trong từng chi tiết của tòa nhà. Thư viện với những điêu khắc tỉ mỉ trên gỗ. Khắp nơi là những vòm cao, mái cong, hình búp sen nhọn ribbed arches, tất cả tường, cột, bậc thang, bệ cửa sổ, còn nhiều thứ tôi không biết tên gọi, được xây bằng đá cẩm thạch trắng. Cái giàu sang của bậc vua chúa trưởng giả được phô diễn qua chỗ làm việc hội họp. Họ bảo vệ được sự giàu có và những công trình điêu khắc, kiến trúc của họ nhờ không bị trải qua sự tàn phá chiến tranh. Nền lịch sử của Ottawa không hơn ba trăm năm mà kiến trúc xứ sở của họ vĩ đại qui mô vô cùng. Trong khi lịch sử của ta hơn bốn ngàn năm văn hiến mà gia tài của mẹ để lại cho con chỉ là một sứ xở tang hoang rách nát, tham nhũng vơ vét từng giọt máu của người dân. Thật là chán mớ đời. Ối, xin tha thứ cho tôi, một bà già nhà quê chẳng biết gì mà bày đặt nói leo. Thôi mời bạn xem ảnh, cho vui mắt thôi. Cái giàu cái đẹp của người ta xem một hồi cũng chán.

Thư viện Quốc hội là nơi tồn trữ quá khứ về ngành luật pháp của Canada. Thư viện xây từ năm 1859 cho đến năm 1876 thì xong, nổi tiếng với cách kiến trúc Gothic Revival (Gothic thời Phục hưng). Hơn 600 người thợ cao cấp đã góp phần xây dựng trong các bộ môn điêu khắc gỗ, tạc tượng trên đá, tường đá, đào bới và di chuyển đá tảng, và điêu khắc kim loại. Đã có lần Dinh Quốc hội bị cháy lớn nhưng thư viện thóat được nhờ cánh cửa kim loại khá dày.

High Victorian Gothic architecture là lối kiến trúc với những vòm cung có nhiều đỉnh nhọn, tường làm bằng đá tảng với hình dáng và màu sắc khác nhau, có nhiều hình ảnh điêu khắc rất chi tiết đẹp mắt. Càng nhìn, du khách càng khám phá ra nhiều hình ảnh điêu khắc của quái vật, thú vật, người dị tướng, danh nhân, xuất hiện từ các góc tường. Những hình ảnh này được gọi chung là grotesque. Tôi cứ nghĩ mình lạc vào một cuốn phim nào đó, như Thằng Gù trong nhà thờ Đức Bà hay mới nhất như Harry đi học phép thuật trong trường Hogwarts.

Xong cuộc hướng dẫn, cô “tua gai” hỏi chúng tôi có biết chữ parliament là gì không. Đây là cái câu đố mà có một người đi xem còn nhớ nên nhắc cô cho giải đáp. Parliament (quốc hội) còn có nghĩa là một đàn chim cú. Đó là lý do cô bảo hãy nhìn và tìm ra hình điêu khắc của những con cú trên tường.