Tiếp tục khoe

Nếu tôi cứ tiếp tục khoe như thế này chẳng mấy chốc các bạn sẽ ghét tôi và tẩy chay tôi. Rồi sẽ không ai thèm thăm viếng hay trò chuyện với tôi và tôi sẽ buôn ghê lắm. Tôi lập blog là để tìm bạn cơ mà. Tuy nhiên vẫn phải khoe vì tôi vui thích quá. Hôm qua tôi nhận được quyển Trịnh Công Sơn – Vết Chân Dã Tràng của Ban Mai do nhà văn Lữ Quỳnh gửi tặng. Thật là vạn hạnh và cám ơn ông rất nhiều. Ngoài ra cô lớn nhà tôi cũng tặng tôi quyển The Surrendered của Chang-rae Lee. Quyển sách khá dày 467 trang khổ chừng 6×9.

Chang-rae Lee sinh ngày 29 tháng 7, năm 1965, người Mỹ gốc Hàn hiện đang dạy Văn chương ở Đại học Princeton nơi đây ông là Trưởng Ban Sáng tác Văn học. Ông tốt nghiệp cử nhân ngành văn chương ở Yale và Master Degree ở đại học Oregon ngành Văn chương. Quyển Native Speaker xuất bản 1995 được giải Pen/Hemingway. Quyển A Gesture Life (1000) được giải Asian American Literary. Quyển Aloft được giải Asian/Pacific American dành cho văn chương. Quyển The Surrendered được James Wood điểm sách trên The New Yorker.

Trong thời buổi nạn nhân Nhật khốn khổ ngồi đây nói về sách vở thấy mình vô tình quá.

Nhận được sách

Tôi vừa mệt, vừa lười, liên tiếp cả tuần không đọc không viết, chỉ nằm rũ liệt. Có hôm mưa quá không lấy thư, hôm sau thấy có nhiều thư chật cả thùng thư vì có nhiều sách báo. Nhớ hôm trước than thở lâu quá không có sách báo tiếng Việt. Hôm nay xin hân hạnh khoe:

Thư Quán Bản Thảo số 46, tháng 4, 2011. Báo tháng Tư mà không có nói gì vềtháng Tư đen đâu nhé. Báo tưởng nhớ nhà văn Doãn Dân. Chưa đọc hết mới xem thoáng thoáng có bài của các ông Du Tử Lê, Nguyễn Xuân Hoàng, Nguyễn Vy Khanh, Võ Hồng, Đinh Cường (viết về những kỷ niệm với ca sĩ Khánh Ly). Truyện ngắn của Khuất Đẩu, Nguyễn Trung Dũng, Đặng Kim Côn, Lữ Quỳnh, Ha Jin (Cáp Kim). Thơ của Ngu Yên, Khoa Hữu, … Tổng cộng 226 trang in rất đẹp.

Quyển Văn chủ đề Khi Mùa Mưa Tới. Những tác giả cộng tác có Kinh Dương Vương,
Mường Mán, Hồ Minh Dũng, Trần thị Ngh., Hoàng Lộc, Phạm Chu Sa, Dương Nghiễm Mậu, Thư Trung, …

Tập Thơ Để Trăng Khuya Kịp Rót Đầy Sớm Mai của Đặng Kim Côn

Tập Truyện Ngắn Một Ngày Một Ngàn Ngày của Đặng Kim Côn

Xin cám ơn các tác giả và nhà xuất bản đã gửi tặng sách báo. Vì thì giờ tôi chỉ có hạn, lớp đi làm lớp phải lo cơm nước cho gia đình lại thêm căn bệnh mất ngủ trầm trọng, tôi luôn luôn đọc và viết trạng thái mệt mỏi đôi khi như trì trệ u
mê. Tôi cố gắng đọc và học, tiếng Anh và tiếng Việt cùng lúc, nên luôn luôn sơ xuất, không bao giờ làm cái gì được trọn vẹn. Đụng vào văn học tôi luôn luôn ở trong trạng thái của đứa bé vào tiệm kẹo, tay cầm bao nhiêu là kẹo mà không thể nào hưởng trọn vẹn một vị ngon bởi vì cái nào tôi cũng thèm. Bao nhiêu dự tính còn đang dang dở, dịch hay viết, điểm sách tác giả Việt đã có tiếng từ trước 75 hay tác giả Việt viết tiếng Anh ở hải ngoại, biên khảo hay tạp ghi, còn quên mấy cái truyện ngắn thề là sẽ viết nhưng chưa bắt đầu mà cũng chưa xong việc tìm kiếm. Ước gì một ngày có thể dài ra hay ngắn lại theo cái cần thiết của tôi.

Tôi không dám phụ lòng quí mến của các nhà văn nên dù đọc chậm cũng sẽ đọc cẩn trọng. Xin cảm ơn nhà văn Trần Hoài Thư và nhà văn Đặng Kim Côn. Xin hứa sẽ điểm sách của các tác giả Lê Văn Thiện (Tập Truyện Ngắn), Nguyễn Lệ Uyên (tập 1 Trang Sách và Những Giấc Mơ Bay), Đặng Kim Côn (Một Ngày Một Ngàn Ngày). Cứ mỗi tuần một quyển đăng trên blog vào ngày thứ Năm bắt đầu là thứ Năm 17 tháng 3.

Phải nói trước để tự mình thúc đẩy lấy mình.

Đọc Quyển Thơ Tinh Âm của Nguyễn Lương Vỵ

Hôm trước trên blog, tôi có làm một cú bói thơ. Tôi mở quyển thơ Tinh Âm của nhà thơ Nguyễn Lương Vỵ, gặp một bài thơ không mấy hợp “khẩu vị” tôi có nói đùa mấy câu. Lợi dụng cái vô danh của mình, tôi nói đùa vô trách nhiệm giống như nói lén người ta. Tự biết như thế là không tốt nên tôi hôm nay tôi xin sửa sai bằng bài viết này. Để cảm tạ nhà thơ đã tặng tôi hai quyển thơ Tinh Âm và Huyết Âm, tôi đã đọc quyển thơ Tinh Âm của ông một cách rất nghiêm túc. Bài viết này là cảm nhận của tôi khi đọc thơ. Vì không quen ông và để tránh ngộ nhận tôi xin có vài lời phân trần. Hy vọng tác giả và bạn đọc thứ tội cho.

Viết là vạch trần tư tưởng mình, cho dù mình nói về người khác thì đó cũng chỉ là soi bóng tư tưởng của mình. Chê hay khen văn thơ của người ta đều bộc lộ sự hiểu biết hay kém hiểu biết của chính mình. Tôi biết mình không có tâm hồn thơ. Tôi có đọc một ít thơ, có thể nói ít hơn những người yêu thơ thật sự, đến bây giờ sở thích về thơ của tôi vẫn chịu ảnh hưởng của thơ cũ của miền Nam trước năm 75, ca dao, lục bát, thơ tiền chiến. Kiến thức về thơ của tôi rất là nhỏ bé. Ngay cả chuyện đọc thơ của tôi cũng chỉ là hành động bắt chước bạn bè.Tôi chưa bao giờ nghiêm túc làm một bài thơ và nếu tôi có làm thơ có lẽ cũng chẳng báo nào đăng.

Ở trên blog và khi comment tôi có “làm” vài ba câu rất ngây ngô, cái kiểu thơ con cóc trong hang con cóc bò ra. Tuy ít hiểu biết về thơ tôi vẫn biết những người yêu thơ, luôn cố gắng làm mới thơ, làm mới tư tưởng của chính nhà thơ. Những cố gắng làm mới thơ này có khi không được người đọc niềm nở đón nhận. Điều này cũng dễ hiểu. Khó mà thuyết phục một người rời bỏ ngôi nhà họ sống mấy mươi năm để sang một ngôi nhà mới còn đang xây dang dở. Tôi cũng không đủ trình độ để phân tích cái mới nào là hay và tốt.

Nói dài dòng như thế để bạn đọc hiểu là tôi tự biết không có tư cách gì để bàn về thơ, lại càng không dám phê bình thơ. Tôi đọc thơ của Nguyễn Lương Vỵ với cái thật thà của người đọc, một cách tự học về thơ. Những bài thơ tôi thích thường là thơ cũ, hình ảnh đẹp, có vần, có nhạc điệu, và dễ hiểu.

Cách tôi đọc thơ cũng tương tự như cách tôi xem tranh. Những bức tranh tôi thấy đẹp thường là vì hợp mắt, và tôi hiểu được. Những bức tranh trừu tượng, lập thể, qua nhãn quan của người không chuyên, ít hiểu biết về hội họa, có thể bị chê là xấu xí. Lời chê này có thể biểu lộ cái taste, hay sự khiếm khuyết của người thưởng ngoạn.

Ở vị trí người đọc, đọc và suy nghĩ nghiêm túc là cách tôi bày tỏ sự trân trọng của tôi với tác giả và tác phẩm. Tôi không thể một sớm một chiều thay đổi quan niệm thẫm mỹ về văn học mà tôi đã được làm quen trong mấy chục năm. Nhưng tôi xin cố gắng nhìn những điểu mới mẻ một cách thành thật và cởi mở.

Quyển thơ có hai phần. Phần đầu là những bài thơ có chủ đề Tinh Âm. Phần thứ hai là phụ bản gồm những câu ngũ ngôn tứ tuyệt.  Tôi thích phần phụ bản hơn phần chính vì phần này hợp với quan niệm về thơ của tôi.  Đó là
những câu thơ tôi có thể phần nào hiểu được, hình ảnh quen thuộc và đẹp. Sự gò bó của vần điệu, theo tôi, là cái hay của thơ.

Bài Cuối Thu với hơi hướm của thơ Đường.

Lay lắt gió mười phương
Vườn xưa đau dấu nguyệt
Những linh hồn trúc biếc
Đã bay về kêu sương… 

Bài Con Đường gói ghém tính chất của thời gian và cũng cho thấy nỗi ám ảnh của tác giả về cái chết. Cái ám ảnh này thể hiện rất rõ nét ở phần thứ nhất của tập Tinh Âm.

Ghiền sống và ghiền chết
Ghiền vu vơ suốt đời
Một con đường không hết
Làm sao còn chút hơi

Trong bài thơ tác giả viết tặng nhà thơ Phạm Phú Hải, (bài này ở phần chính của quyển thơ) hơi thơ khác hẳn những bài thơ ngũ ngôn tứ tuyệt của phần phụ bản. Dường như ông thử dùng một cách biểu lộ khác để diễn tả tâm tình. Tôi thích bài thơ này, nó vẫn còn chất lãng mạn của thơ cũ nhưng cách dùng chữ mới hơn, lạ hơn, và khó hiểu hơn. Cái khó hiểu này gợi sự chú ý của tôi bắt tôi phải suy nghĩ nhiều hơn cảm nhận. Ông viết: “Đường
trở về bi thiết chiếc khăn mây. Cây vũ trụ nhạc rụng đầy cúc áo.”
Đường trở về bi thiết thì hiểu được, chiếc khăn mây thì tưởng tượng được, một hình ảnh đẹp mắt, êm ả. Đem ghép lại với nhau câu thơ bỗng trở nên khó hiểu. Cái khăn mây thì có dính dáng gì đến đường trở về bi thiết? Tôi nên ngắt câu ở đâu, đường trở về bi thiết, hay bi thiết chiếc khăn mây? Chiếc khăn mây là khăn lụa mềm như mây, dùng để lau nước mắt? Người đọc, tùy cách diễn dịch, muốn hiểu sao cũng được. Đem câu thơ chiếc khăn mây so với câu thơ của Trịnh Công Sơn lòng như khăn mới thêu thì mức độ khó hiểu hay gợi trí tưởng tượng của tôi, chẳng khác gì nhau. Hình ảnh cái khăn bao giờ cũng làm tôi liên tưởng đến sự chia tay, trao nhau khăn lụa nhớ ngày sầu đưa ấy mà. Cây vũ trụ là gì? Nhạc rụng từ cây vũ trụ? Cúc áo là hoa? Hay hoa nhỏ như cúc áo? Và cúc áo này có liên qua gì với mông vú nổi như mồ của câu thứ tư trong đoạn thơ thứ nhất? Ông nhắc đến một kỷ niệm cũ với người bạn? Câu thơ tuy khó hiểu nhưng tượng hình như một bức tranh khỏa thân. Tùy theo cách nhìn và chỗ đứng, trong một bức tranh thì núi đồi rất có thể chẳng khác gì nấm mồ. Trong đoạn thứ nhì tác giả đã cho thấy rõ hơn nỗi ám ảnh của ông về những chia lìa của cái chết. Thơ của ông dù cách xếp chữ trong câu thơ khá lạ nhưng vẫn mang hình ảnh cũ trong thơ, giọt mực, giọt trăng, lệ, ly bôi. Nguyễn Lương Vỵ dùng thơ để vẽ những bức tranh siêu thực: người đọc có thể ngầm hiểu có một nhân vật tôi không được tác giả nhắc đến trên câu thơ, hay muốn hiểu là sự nhân cách hóa trong những câu thơ của ông cũng được: con đường, được nhân cách hóa, trở về và nhớ mùi hương, nắng trườn theo tiếng gió núi, ngày đứng xòe tay, đêm qua ngõ, những giọt nhạc khát tình. Ông cũng có những câu thơ đầy màu sắc và âm thanh nhưng tôi (vì dốt quá nên) không hiểu nghĩa như câu Gõ âm vàng xanh tím lục hòa thanh, dù thế, tôi vẫn cảm được vẻ đẹp của âm thanh hòa trong màu sắc.

Một người đọc thơ trung bình như tôi có thể bị choáng ở phần đầu của quyển thơ Tinh Âm vì khó hiểu. Ông có những câu thơ đầy ám ảnh của cô liêu, cái chết, xương, máu, mộ phần.

Là cô liêu chói chang
Tinh âm buốt hết nàng
 (trang 35, bài Ngũ Ngôn Mồ Hư Không)

Là cô liêu chói rực
Tinh âm buốt đáy vực
 (trang 36, bài Ngũ Ngôn Mồ Hư Không)

Là cô liêu trắng xương
Tinh âm  rung cồi máu
 (trang 36, bài Ngũ Ngôn Mồ Hư Không)

Chữ âm trong thơ ông thường thì mang nghĩa âm thanh như:

Mà khắp nơi tinh âm sao sa
Mà tội nghiệp ta bà thế giới
 (trang 7)

Mà khắp nơi tinh âm đang reo
Mà réo rắt đời sau đang mọc 
(trang 8)
tôi tự hỏi tinh âm đây là âm thanh của tinh tú hay là tinh túy của âm thanh?

Nghẹn ngào âm vọng quốc âm
Nghe buốt vai tiếng cổ câm

(trang 38, Lục Huyền Âm: Vọng Quốc Âm, có phải chữ âm trước là tiếng vang trong khi chữ âm sau là ngôn ngữ?)

Có khi chữ âm làm tôi liên tưởng đến âm hộ, nhưng không biết chắc là tác giả có ý ấy hay không, như câu: mà khắp nơi tinh âm đang chảy (trang 7). Chữ âm đôi khi làm tôi liên tưởng đến cõi âm hồn.

Ta tử hình ta trong tuyết đỏ
Một nhúm tinh âm ấm mộ phần
 (trang 74)

Ghiền âm cựa khẽ trong đáy mộ
Ghiền ngó trời sâu hút lỗ đen

Tuy không hiểu hết nghĩa, nhưng tôi thấy được quá trình sáng tạo nghiêm túc, đẽo gọt chữ nghĩa của những câu thơ này.

Mối sầu cong như võng
Nỗi nhớ đọng như chiều
thổ mộ oằn lưng ngựa
Núi thất sắc cô liêu
 (trang 29, Ngũ Linh Âm: Hóa Thân)

Nhiều khi thơ của ông là những đùa bỡn nghịch ngợm bằng chữ

Em đã cho ta muôn tưởng tượng
Thơ mần ngưỡng vọng cọng ngò… gai!!! 

hay:

Giật thót bậu ơi! Thơ vắng xa
Thơ? Tờ lơ! Tớ lỡ lầm?! A!!!
À Á Ả ?! Ma Ma Phật Phật
Thời của lụi tàn Phật khóc Ma !!!

Và có khi thơ của ông cũng dở (xá xá, xin ông tha cho tội nói hỗn), giống như một bài vè vui tai.

Tụng với nắng điếc
Đất nứt giọng hò
Thôn ổ lùi tro
Trâu ho bò ợ

(Trang 26, bài thơ Thi Tụng III)

Ông làm tôi điên tiết   vì ông có thói quen dùng dấu hỏi đi kèm với dấu chấm than, và khi ông muốn than thở điều gì ông chấm than luôn ba cái.

Thế, mạo muội mấy lời, đăng trên blog đọc cho vui chứ tôi không dám hỗn và xin ông đừng giận. Tôi đã bỏ suốt hai ba ngày đọc và ghi chú. Đọc thơ ông là một cách tôi tự học phân tích cái hay, lạ và đẹp của thơ thời hiện đại.

Những bài thơ hay trích trong tập thơ Tinh Âm của Nguyễn Lương Vỵ

Tinh âm 
Vết thương tâm ngày cũ
Trăng quá xanh trên đồi
Em khai hoa một nụ
Hồn ta vừa thoát hơi …


Đường Trở Về
 (tặng nhà thơ Phạm Phú Hải)
Đường trở về bi thiết chiếc khăn mây
Cây vũ trụ nhạc rụng đầy cúc áo
Áo giang hồ ô hô vui như bão
Sầu như giông, mông vú nổi như mồ ! ! ! 

(Những giọt mực những giọt trăng huyết khô
Những giọt lệ của bao giờ chẳng biết
Mà tiếng hú xé dài niềm ly biệt
Mà ly bôi sôi hết tủy trong xương)

Đường trở về tê dại nhớ mùi hương
Nắng lạ lẫm trườn theo âm núi gió
Ngày thẳng đứng xòe tay đêm qua ngõ
Gõ âm vàng xanh tím lục hòa thanh

(Những giọt âm những giọt trời long lanh
Những giọt nhạc khát tình gom chớp biển
Mà cơn lạnh núi đứng ngồi im tiếng
Rồi im hơi ngực đá đẫm môi người…)

Đường trở về quê quán hít một hơi
Ngắt một đóa bông trời gom hết lại
Thân tứ đại xác ngũ hành hoang dại
Trời ngu ngơ đất ngớ ngẩn niềm chi ?!

(Những giọt tinh những giọt khí ly kỳ
Những giọt giọt bình minh khuya nức nở
Mà cơn điện sáng lòa ôm nỗi nhớ
Mà nỗi cuồng sáng rực khóc thơ ngây.)

Đường trở về bi thiết chiếc khăn mây
Chào hư huyễn cây đời rung nắng quái
Chào xa ngái phù du trống với mái
Sắc tươi rằm tận tuyệt đã từ lâu ! ! !


Bài Thơ Tình Không Gửi
 (Tặng nhạc sĩ Lại Tôn Dũng)
Chẳng còn giọt nhạc nào trong đáy ly đêm
Ta hát như cơn khát âm
Đôi môi khô trận gió giao mùa
Đôi mắt khô nỗi nhớ

Đáy ly đêm trong suốt thủy tinh
Ta hát như cơn khát mưa
Tuyết rung chuông trong từng mảnh vỡ
Bao la lạc giọng tìm nhau

Giấc mơ hoang trở về đấm cửa
Ta hát như cơn khát định mệnh hiện hình
Bồng em đi trong đêm tận
Tiếng kêu thương xé lá gửi hồn đàn

Chẳng còn giọt nhạc nào trong đáy ly đêm
Ta hát như cơn khát dạ lai hương
Ru em ngủ giấc hồn nhiên 
Những cánh tuyết rung chuông hóa bướm …


Cuối Thu

Lay lắt gió mười phương
Vườn xưa đau dấu nguyệt
Những linh hồn trúc biếc
Đã bay về kêu sương… 


Con Đường

Ghiền sống và ghiền chết
Ghiền vu vơ suốt đời
Một con đường không hết
Làm sao còn chút hơi


Cầm Nguyệt

Trăng tan, đêm cũng tàn
Đàn đa mang nhan sắc
Nhương sao trời phương Bắc
Nhớ một trời phương Nam …


Hoài Cảm

Mưa rừng Thu năm trước
Bướm trắng chết sau đồi
Quay quắt gió luân hồi
Mồ hoang còn tóc ướt … 


Gọi

Gió bao giờ trở lại
Cuốn hết trời Thu đi
Em bao giờ trở lại
Cuốn hết lá phong thi ?!…

Được Quà

Đi làm về, nhận được
một phong bì to và một thùng giấy to gấp ba bốn lần cái phong bì. Trong phong bì là 7
tờ báo Sài Gòn Nhỏ và một quyển đặc san Chiến Sĩ Cộng Hòa. Cám ơn SGN và đại ca
VTrD.

Thùng giấy to là sách của nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng gửi tặng, gồm có:

Ba tờ báo Việt Tribune
Tháp Ký Ức, Đêm Oakland và những truyện khác của Phùng Nguyễn
Tiếng Nói của Linda Lê
Thư Lạ của Đinh Linh
Chế tạo thơ ca của Phan Nhiên Hạo
Văn số 66 và 67 về Phạm Duy
Văn số 77 các nhà văn nữ ở Pháp
Văn số 80
Văn số 81 và 82
Văn số 113 và 114 về Thanh Tâm Tuyền
Văn số 115 và 116 về Hoàng Anh Tuấn
Văn số 117 và 118 về Kiệt Tấn
Văn số 123 và 124
Bất Cứ Lúc Nào Bất Cứ Ở Đâu của Nguyễn Xuân Hoàng

Quà xịn quá, xin thành thật cảm ơn nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng.

Sách Bán Rẻ

Đến thư viện mua được bốn quyển sách mới keng, mỗi quyển 50 xu. Of Mice and men – John Steinbeck, Presumed Innocent – Scott Turow, The Gravedigger’s Daughter – Joyce Carol Oates; Short Girls – Bich Minh Nguyen.

Một người không biết làm thơ đọc Thơ Phạm Cao Hoàng

Tôi để ý thấy nhà thơ thường hay chọn mười năm làm một cái mốc đánh dấu một sự thay đổi, thường là một cuộc tình đã qua.  Vâng, vâng, tôi nhớ Nguyễn Tất Nhiên với hai năm tình lận đận và năm năm trời không gặp. Nhưng Vũ Hoàng Chương thì có rất nhiều bài thơ nói đến mười năm sau lúc chia tay. Trong bài thơ Lá Thư Ngày Trước ông hai lần nhắc đến chữ mười năm.

yêu một khắc để mang sầu trọn kiếp
tình mười năm còn lại những tờ thư

yêu mê thế để mang sầu trọn kiếp
tình mười năm còn lại chút này đây

bài thơ Phố Cũ ông yêu một người khi ông vừa đến tuổi hai mươi và mười năm sau ông than thở

thế mà tan tác mười năm mộng
có kẻ ra đi chẳng một lời
nửa kiếp lênh đênh dừng phố cũ
một mình trơ với tuổi ba mươi

trong bài Tình Xưa ông thương tiếc

Thời gian qua, anh chỉ suốt mười năm
tiếc cho hoa đang nụ nguyệt đang rằm

Không riêng gì nhà thơ Vũ Hoàng Chương, nhà thơ Phạm Công Thiện cũng dùng cái mốc mười năm. Trong bài thơ Bất Nhị ông theo đuổi một bóng hình.

mười năm qua gió thổi đồi tây
tôi long đong theo bóng chim gầy
một sớm em về ru giấc ngủ
bông trời bay trắng cả rừng cây

Mười năm trong thơ Vũ Hoàng Chương là thời gian chứa đầy cơn đau.  Mười năm trong thơ của Phạm Công Thiện trôi qua nhẹ nhàng lãng đãng như cánh chim, êm ả như hoa trắng bay đầy gió, phảng phất hương Thiền.

Năm 1969, những năm lửa đạn, tuổi trẻ Việt Nam như những chàng Romeo ngây thơ bước vào chiến tranh là đương đầu với cái chết. Phạm Cao Hoàng trong bài Đi Giữa Chiến Tranh thương tiếc cho tuổi trẻ của thế hệ ông cũng dùng cái mốc thời gian mười năm.

quê cũ mười năm mây lớp lớp
mười năm mưa khóc buổi sang mùa
dưới trời sương lạnh rơi tan tác
rét mùa đông cũ rét lê thê

Mây lớp lớp làm tôi nghĩ đến câu thơ “bạch vân thiên tải không du du” và thương tiếc cho kiếp trần ngắn ngủi.  Mười năm ông xa nhà vì chiến cuộc nỗi nhớ quê nhà gắn liền với cái rét của mùa đông. Không buồn sao được vì

ai bắn vào hồn tôi trái nổ
đứt từng mạch máu nát tim tôi
vỡ vỡ chiều nay tôi sắp vỡ
chiến tranh chiến tranh bao giờ thôi

Các nhà thơ Việt Nam người nào cũng phản chiến. Càng nhân bản càng thương yêu cuộc đời và thương yêu loài người người ta càng nên chống chiến tranh ngoại trừ khi cần phải bảo vệ quê hương.

Trong bài thơ Dù Sao Vẫn Cám Ơn Đời ông viết ở Virginia năm 2009 đề tặng nhà thơ Trần Hoài Thư ông cũng nói đến khoảng cách mười năm.  Mười năm có lẽ là một khoảng cách thời gian đủ dài để nỗi đau của một mối tình tan vỡ lắng xuống nhưng mười năm xa quê mà nỗi nhớ nhà vẫn cồn cào.

mười năm nước chảy qua cầu
chuyện về đất nước là câu chuyện buồn
mười năm sống kiếp tha phương
thân nơi biển bắc mà hồn biển đông
mười năm thương ruộng nhớ đồng
lòng còn ở lại sao không quay về
mười năm nhớ đất thương quê
bước đi một bước nặng nề đôi chân
mười năm một thoáng phù vân
tiếng chim vườn cũ mùa trăng quê người
dù sao vẫn cám ơn đời
biển xanh và sóng núi đồi và em

mười năm như một giấc mơ

Đem so sánh hai bài thơ, Đi Giữa Chiến Tranh (1969) và Dù Sao Vẫn Cám Ơn Đời (2009) tôi thấy rõ ràng một bước tiến dài trong cách ông thể hiện tình cảm. Trong bài thơ sau tình cảm của câu thơ đậm đà hơn, lời thơ chất chứa suy tư nhiều hơn.  Ở đây cũng phải công bằng mà nói trong bài thơ Đi Giữa Chiến Tranh ông chỉ có hai câu nói về mười năm, ông dùng chữ mây lớp lớp gợi lên sự phù du của kiếp người và cái vô tình của thời gian. Khi thơ còn non trẻ dùng mưa thay nước mắt để tả nỗi buồn. Vài mươi năm sau cũng là nỗi buồn mười năm nhưng lời thơ mượt mà, tình cảm sâu kín mà nồng nàn, buồn vì nhiều nỗi, đất nước, xa quê, muốn về thăm mà không được, tiếng chim vườn cũ mùa trăng quê người, biển xanh và sóng, núi đồi và em, mây lớp lớp được thay bằng phù vân, âm thanh và hình ảnh thật là đậm nét, thơ điêu luyện hơn.

Đây là những câu thơ hay ông tặng một người tên Cúc Hoa

Bây giờ lạ đất lạ quê
bước chân phiêu bạt biết về nơi đâu
thương em nắng dãi mưa dầu
đau cùng tôi với nỗi đau riêng mình
chia cùng tôi một chút tình
của ngàn năm trước và nghìn năm sau

bàn tay nắm chặt bàn tay
dìu nhau qua những tháng ngày gian nan (Bây giờ Virginia 2009)