Làm thơ

Thật là thú vị khi người Mỹ nói viết thơ, nhưng người Việt lại nói làm thơ. Viết văn nhưng làm thơ. Chúng ta không nói viết thơ và làm văn, ngoại trừ khi còn ở Tiểu học chúng ta có “tập làm văn.”

Chẳng qua là do quen tai. Ai viết không thuận tai mình thì mình cho là sai.

Tôi có một cuốn lịch, từ hồi năm xửa năm xưa nào đó, mỗi ngày (mỗi tờ lịch) có in một bài thơ hay một câu phát biểu về thơ của một tác giả có tiếng. Tờ lịch ngày 19 tháng Chín, tôi lựa ra để có thể đăng lên blog mãi cả tháng sau mới có dịp dùng. Đoạn văn sau đây của tác giả Anne Stevenson. Đọc tiểu sử của bà trên Wikipedia bà sinh năm 1933. Bố mẹ người Mỹ sang Anh làm việc. Bà sinh ra ở Anh, sang Mỹ sống làm việc, sau đó trở về Anh. Thuở nhỏ bà học văn và nhạc. Về sau bà bị mất khả năng nghe nên trở thành nhà văn (và thơ).

Tôi vẫn tự hỏi người ta đã làm thế nào để có thể viết thành một bài thơ. Trong vòng quen biết trên mạng tôi rất muốn phỏng vấn các nhà thơ để các vị chỉ bảo tôi nhưng bản tính tôi hay ngần ngại, nhất là với những người mình không quen biết hay không quen thân. Nhân thấy đoạn văn của bà Anne Stevenson nên tôi đưa lên đây để suy nghĩ tiếp.


“Writing a poem is like conducting an argument between your unconscious mind and your concious self. You have to get unconsciousness and consciousness line up in some way. I suspect that’s why working to a form, achieving a stanza, and keeping to it – deciding that the first and third and fifth lines will have to rhyme, and that you’re going to insist on so many stresses per line – oddly helps the poem to be born. That is, to free itself from you and your attention to it and become a piece of art in itself. Heaven only knows where it comes from!

I suppose working out a form diminishes the thousands of possibilities you face when you begin. And once you’ve cut down the possibilities, you can’t swim off into the deep and drown.” – Anne Stevenson

 

Làm một bài thơ cũng giống như điều khiển một cuộc tranh luận giữa sự vô thức và ý thức của chính mình. Bạn phải làm sao để có thể kết hợp cả hai thứ. Tôi đoán đó là lý do tại sao phải dùng một hình thức nào đó, viết thành một khổ thơ và tiếp tục giữ thể loại này – quyết định câu thứ nhất và thứ ba và thứ năm phải gieo vần với nhau, và bạn sẽ nhất định giữ mỗi câu có bao nhiêu chỗ nhấn giọng (tôi đoán để có thể giữ cho câu thơ lên bổng xuống trầm) lạ lùng thay lại có thể giúp cho bài thơ được ra đời. Có nghĩa là giải thoát bài thơ ra khỏi bàn tay cùng với sự chú ý của bạn dành cho nó để nó trở thành một tác phẩm nghệ thuật. Có trời mới biết là bài thơ bắt đầu từ đâu!

Tôi cho rằng khi bạn chọn một thể loại cho bài thơ thì đã giúp giảm đi nhiều điều kiện bạn phải chọn lựa. Loại bỏ những sự chọn lựa này rồi bạn không thể nào bơi xa bờ ra chỗ sâu rồi bị chết đuối.” – Anne Stevenson

tỏa sáng

Nói tiếp chuyện, thơ – là gì?

Hôm trước tôi tự hỏi thơ là gì. Trả lời câu hỏi này chắc phải viết như một thứ “chuyện dài còn tiếp.” Có người bạn hỏi, nói về thơ bằng Anh ngữ, làm sao để nhận ra đó là một bài thơ, và khi đọc thơ có thấy cảm xúc, cảm động như đọc thơ Việt không.

Thơ Anh ngữ cũng như thơ Việt, có nhiều loại, thơ có vần và thơ tự do. Tôi lập lại là tôi không chuyên về thơ, (cũng chẳng chuyên về cái gì cả, ngoài tám chuyện bâng quơ), chưa hề làm thơ, hễ thắc mắc cái gì đó không ai giải thích cho thì tự tìm hiểu qua sách vở. Người thắc mắc thơ là gì, như tôi, thì chưa hề làm thơ. Người làm thơ mấy chục năm, in ra cả chục tác phẩm thơ thì chẳng bao giờ cần phải thắc mắc thơ là gì.

Hôm trước tôi xem phim “Anonymous.”  Cuốn phim này chất vấn liệu có phải Shakespeare là tác giả của 37 vở kịch thơ và 154 bài sonnets như người ta vẫn tin tưởng từ trước đến nay hay không. Lý do người ta nghi ngờ Shakespeare là vì người ta không tìm thấy dấu tích, bản thảo có chữ viết của Shakespeare cũng như hồ sơ ghi lại mức độ học vấn của ông. Các tác giả đồng thời với ông đều có nhiều hồ sơ để lại. Cuốn phim đưa ra giả thuyết là có một vị Bá tước (Earl of Oxford) là người thật sự viết những vở kịch này. Sở dĩ Bá tước phải mượn tên của Shakespeare là vì thời bấy giờ quan chức của triều đình không được hạ mình làm việc kiếm tiền lãnh lương như dân chúng. Thêm vào đó, các vở kịch này gói ghém nhiều điều không tốt về nhà cầm quyền nên họ sợ bị tổn hại thanh danh cũng như tính mạng. Khi vị Bá tước Oxford đưa quyển thơ Romeo và Juliet cho đoàn kịch của Shakespeare trình diễn, ông nhấn mạnh với người đại diện cho ông là toàn vở kịch thơ được viết theo thể “iambic pentameter.” Nói cho đơn giản “iambic pentameter” là một thể thơ mỗi câu có năm nhịp. Mỗi nhịp luân phiên có một âm đơn, theo sau là âm kép có dấu nhấn ở một trong hai âm. Như đã nói ở phần trên, Shakespeare có 154 bài sonnets. Sonnet là một bài thơ có mười bốn câu, mỗi câu có mười chữ. Ngoài ra thơ Anh ngữ còn có một số thể loại khác như haiku (mượn từ thơ Nhật) . Tôi hỏi google có bao nhiêu loại thơ Anh ngữ. Câu trả lời là có hơn năm mươi loại thơ, kể cả thơ tự do.

Bạn hỏi, thơ Anh ngữ có gợi cảm xúc ở người đọc hay không, thì điều đó tùy người đọc. Người thích đọc thơ và giàu tình cảm sẽ cảm thấy rung động ở một số bài thơ. Tôi đọc bài thơ Dog’s Death của John Updike lần nào cũng chảy nước mắt. Bài thơ nói về một con chó, chẳng biết bị đạp hay xe tông, bị nội thương mà chủ không biết. Chủ dạy con chó đi tiểu lên tờ giấy, mỗi lần như vậy là được khen, giỏi. Khi con chó bỏ ăn nằm liệt, chủ tưởng là nó đau vì chích ngừa. Đến chừng sau khi nó chết mới biết nó bị dập gan. Trên đường đi đến sở thú y, trong cơn đau đớn tột cùng nó cắn bàn tay chủ rồi chết. Chủ về nhà mường tượng ra bóng hình con chó, tờ báo cho chó đi tiểu vẫn còn đó. Khi chủ chơi đùa với chó thì máu của chó chảy ra ngập dưới da. Tôi không chắc mấy ông bợm nhậu thịt chó đọc bài thơ này sẽ thấy cảm động. Vì vậy kết luận thơ Anh ngữ đọc có cảm động hay không thì xin trả lời là tùy bài và tùy người đọc.

Làm thế nào để nhận ra đó là một bài thơ, thì đa số thơ Anh ngữ cũng có vần. Thí dụ như đoạn ca từ trích trong bản nhạc Treaty của ông Leonard Cohen, như sau:

I heard the snake was baffled by his skin sin
He shed his scales to find the snake within
But born again is born without a skin
The poison enters into everything

Tôi nghe kể rằng con rắn thắc mắc về bộ da tội lỗi của nó
Nó lột da để tìm ra con rắn ở dưới bộ da
Nó được tái sinh thành một con rắn mới không có lớp da
Chất độc (của chính con rắn, phải không?) ngấm vào khắp nơi trong thân của nó.

Bạn để ý những chữ cuối câu có vần “in.” Tôi nhờ vần điệu mà nhận ra đó là bài thơ.  Tôi thích bài thơ này, vì tuy đơn giản nhưng nó có nghĩa sâu xa nhờ dùng ẩn dụ của tôn giáo.

Nếu không có vần điệu thì tôi “đoán” đó là bài thơ tự do. Nói thì nói vậy, đọc quen có kinh nghiệm thì có thể nhận ra một bài thơ dù không vần.  Tôi kèm theo bài thơ “Dog’s Death” để bạn nào có thì giờ thì đọc thêm. Bài thơ làm tôi cảm động bởi vì tôi rất nhạy cảm với thơ dù cả đời chưa làm được bài thơ nào.

Dog’s Death – John Updike

She must have been kicked unseen or brushed by a car.
Too young to know much, she was beginning to learn
To use the newspapers spread on the kitchen floor
And to win, wetting there, the words, “Good dog! Good dog!”

We thought her shy malaise was a shot reaction.
The autopsy disclosed a rupture in her liver.
As we teased her with play, blood was filling her skin
And her heart was learning to lie down forever.

Monday morning, as the children were noisily fed
And sent to school, she crawled beneath the youngest’s bed.
We found her twisted and limp but still alive.
In the car to the vet’s, on my lap, she tried

To bite my hand and died. I stroked her warm fur
And my wife called in a voice imperious with tears.
Though surrounded by love that would have upheld her,
Nevertheless she sank and, stiffening, disappeared.

Back home, we found that in the night her frame,
Drawing near to dissolution, had endured the shame
Of diarrhoea and had dragged across the floor
To a newspaper carelessly left there.  Good dog.

Và sau đây là phần comment của em Đậu Hủ. Thấy hay quá, nên tôi mang lên đây để dành.

Nói làm thơ Anh ngữ thì đúng cái em đang học rồi, mà học mới thấy khác thơ văn phương Đông mình lắm.

Em bắt đầu học lớp Poetry trước khi bắt đầu viết thơ tiếng Anh, và càng học thì càng thấy có quá nhiều loại và quá nhiều dạng thơ, quá nhiều cách tính vần true rhyme, half rhymes, bởi vì khác với tiếng Việt, cách phát âm tiếng Anh đa dạng nên tìm vần cũng khó khăn, hầu hết đều chỉ là nửa vần, hoặc vần na ná. Bên này học thơ người ta khuyến khích tự mình đọc diễn cảm, nhìn vào gương đọc hay đọc cho cả lớp cũng được, người viết phải tự đọc người nghe mới biết nhấn ở đâu, ngắt nghỉ thế nào, hàm nghĩa ra làm sao. Nói chung rất khác ở Việt Nam. Mà ở VN thì cũng không có lớp dạy bài bản làm thơ, không có chỉ dẫn về bằng trắc lên xuống, cái này thì em hi vọng là tương lai sẽ có thêm 🙂

Thơ tự do cũng có quy luật của nó, như sonnet quy luật là iambic pentameter (thi thoảng là tetrameter) và vần cuối dòng xen kẽ, hai dòng cuối vần cho nhau hay villanelle mười chín dòng, chỉ vần hai âm và lặp câu nhưng yêu cầu mỗi lần lặp đều phải mang một nghĩa khác. Quy luật thơ tự do nằm ở ngắt nghỉ, xuống dòng, rồi còn có thể loại visual poetry, tức thơ tự do dùng cách cắt câu và sắp xếp các dòng tạo thành hình miêu tả hay tạo một cái hiệu ứng nào đó lên người đọc, rồi còn cả prose poetry, về cơ bản thì chỉ là một đoạn văn xuôi, nhưng dùng hình ảnh ẩn dụ để người ta đọc vào là biết đó là thơ.

Có lần em dịch một đoạn thơ prose poetry, nhưng không nhận ra đó là thơ mà dịch luôn thành văn xuôi nữa cơ 🙂

 

Thơ – Là gì?

Rất nhiều khi, tôi tự hỏi. Thơ là gì? Làm thế nào để biết đó là một bài thơ? Làm thế nào để biết đó là một bài thơ hay? Hỏi rồi cũng tự trả lời. Thơ hay – khi nào mình đọc thấy nó hay thì đó là một bài thơ hay.

Làm sao để nhận ra đó là một bài thơ. Tưởng dễ mà lại khó trả lời. Thật thà, vụng về, hay đơn giản đến không còn có thể đơn giản được nữa, thì có thể đáp liều rằng, cái gì mà không thuộc về văn, tiểu luận, phóng sự, luận đề, báo cáo, và vân vân thì mình gọi đó là thơ.

Tôi hỏi lẩn thẩn như thế là vì hôm nọ xem phim Paterson, nhân vật trong phim, có cùng tên với địa danh Paterson, đã làm thơ. Bài thơ đầu tiên trong cuốn phim nói về những que diêm:

We have plenty of matches in our house.
We keep them on hand always
Currently our favorite brand is Ohio Blue Tip.
Though we used to prefer Diamond brand.
That was before we discovered Ohio Blue Tip matches.

Chúng tôi có rất nhiều que diêm trong nhà
Chúng tôi giữ nó để tiện dùng
Ngay bây giờ chúng tôi thích dùng Ohio Blue Tip.
Dù trước kia chúng tôi thích hiệu Diamond hơn.
Đó là trước khi chúng tôi khám phá ra diêm quẹt hiệu Ohio Blue Tip.

Ngay lúc ấy tôi đã kêu lên thơ là như vậy sao. Sau đó tôi đọc wikipedia thấy mấy bài thơ trong cuốn phim là của nhà thơ Ron Padgett, giáo sư văn chương, học giả, dịch giả, được giải thưởng thơ. Mấy bài thơ này còn có vẻ phức tạp hơn mấy bài thơ của William Carlos Williams về cái xe cút kít màu đỏ và quả mận chín trong thùng nước đá. Thơ như vậy là thơ hay, hay sao? Tự hỏi như vậy nhưng chữ hay thì quả thật, mỗi người mỗi khác.

*Thơ là gì? William Wordsworth, nhà thơ của thế kỷ 19, định nghĩa thơ là “sự tuôn trào của cảm xúc mạnh.” Adrienne Rich, bảo rằng “bài thơ cũng như giấc mơ, bạn cho vào trong giấc mơ tất cả những thứ mà bạn không biết là bạn biết.” Javier Heraud, bảo rằng thơ là “bài ca của những người bị áp bức, bài ca mới của những người được giải phóng.”

Thi sĩ làm thơ viết thơ vì nhiều lý do nhưng nói chung họ cùng có một sức tưởng tượng được thể hiện qua ngôn ngữ và họ tin vào sức thuyết phục của chữ nghĩa. Emily Dickinson nghĩ về từ ngữ như sau:

A word is dead
When it is said,
Some say.
I say it just
Begin to live
That day.

(Tôi thử sắp xếp lại bài thơ như sau: “A word is dead, when it is said, some say. I say it just begin to live that day.” Bỗng dưng bài thơ chỉ còn là hai câu văn đơn giản. Một chữ sau khi nó được thốt ra là đã chết. Tôi cho rằng, chữ này thật ra bắt đầu cuộc sống của nó vào ngày hôm ấy.) 

Nhà thơ Anne Sexton, khoảng một trăm năm sau cũng viết một bài thơ từ ngữ như sau:

Words and eggs must be handled with care,
Once broken they are impossible
things to repair.

Chữ cũng như trứng, phải được nâng niu cẩn thận
Khi rạn vỡ chúng là những thứ
không thể hàn gắn được.

Mặc dù hầu như mỗi người có một định nghĩa về thơ và những định nghĩa này có khi trái ngược với nhau, một cách tổng quát, nhiều người đồng ý rằng, thơ bao gồm những thể hiện về tình cảm, ý nghĩa, và kinh nghiệm về cuộc đời và sự sống qua vần điệu (và không vần điệu), hình ảnh, cấu trúc, và trên tất cả là kết hợp của từ và ngữ.

*Từ phần này cho đến cuối bài tôi chép lại những định nghĩa trên trong quyển sách giáo khoa “Literature Across Cultures” trích đoạn “An Introduction to the Elements of Fiction, Poetry, and Drama.” do Sheena Gillespie, Terezinha Fonceca, và Carol Sanger biên soạn. Simon & Schuster Inc., @1994, p. 988.

Hài cú mùa thu của Buson

I go,
you stay;
two autumns.

Ta đi
Người ở lại;
Hai mùa thu 

Coolness-
the sound of the bell
as it leaves the bell.

Hơi lạnh-
Tiếng chuông
Khi rời khỏi chuông

Autumn evening-
there’s joy also
in loneliness.

Chiều thu
Có niềm vui
Trong nỗi quạnh hiu

Chrysanthemum growers-
you are the slaves
of Chrysanthemums.

Hỡi người trồng hoa cúc
Các người là nô lệ
Của hoa cúc.

Niềm tin vững chắc của bảy phụ nữ

Tôi thường đọc sách giáo khoa môn viết văn hay văn học. Hôm qua tôi gặp bài thơ của bà Maya Angelou, thấy hay nên muốn giới thiệu bài thơ với các bạn. Bài thơ theo kiểu tứ tuyệt, bốn chữ bốn câu, chữ dùng rất đơn giản, vần điệu cũng không gò bó lắm nhưng vẫn có vần. Bài thơ nói lên suy nghĩ của bảy phụ nữ, một sự tự tin về nhan sắc của họ, dù mỗi người đều có khuyết điểm. Tâm lý phụ nữ, luôn luôn sợ già, sợ xấu, sợ béo, sợ gầy, luôn luôn bươi móc cho ra khuyết điểm của người, và của mình. 🙂

Thơ của bà như một cách giải tỏa. Dịch tạm tạm để hiểu thôi nha, tôi không biết làm thơ nên không thể từ thơ dịch ra thơ. Cáo lỗi vậy.

Seven Women’s Blessed Assurance

Maya Angelou (1928 – 2014)

 

1

One thing about me,
I’m little and low,
find me a man
wherever I go.

Một điều về tôi
Nhỏ con thấp bé
đi đâu tôi cũng
tìm được anh bồ

2

They call me string bean
‘cause I’m so tall.
Men see me,
they ready to fall.

Trêu tôi đậu đũa
vì tôi quá cao
đàn ông gặp tôi
sẵn sàng nói yêu

3.

I’m young as morning
and fresh as dew.
Everybody loves me
and so do you

Non như buổi sáng
trong như sương mai
ai cũng yêu tôi
anh cũng vậy thôi

4

I’m fat as butter
and sweet as cake.
Men start to tremble
each time I shake.

Béo như thỏi bơ
ngọt như bánh kem
Đàn ông bủn rủn
khi tôi lắc lư

5

I’m little and lean,
sweet to the bone.
They like to pick me up
and carry me home.

Tôi dáng thon thả
ăn nói ngọt ngào
các anh đòi ẵm
cõng bé về nhà

6

When I passed forty
I dropped pretense,
‘cause men like women
who got some sense

Tôi hơn bốn mươi
không còn ỡm ờ
đàn ông họ thích
đàn bà hiểu đời

7

Fifty-five is perfect,
so is fifty-nine,
‘cause every man needs
to rest sometime.

năm lăm tuổi ngọc
năm chín tuổi hồng
đàn ông nào cũng
có lúc hết gân

Đi vào trong hố thẳm

into the abyss
Into an abyss

Thêm một bức tranh trừu tượng. Thiên nhiên sao khéo vẽ vời.

Virginia Woolf, năm 1941 khi bước vào giữa lòng suối, tôi tưởng tượng bà đã nghĩ như thế này.

những vòng tròn xoáy
méo mó
rung rinh

những đôi mắt
trố ra
soi mói
liếc háy

cái mồm há của bức tranh “The Scream”
vài con rắn ngẩng đầu
loài thủy quái len lỏi
bao quanh những đóa hoa
nằm bên cạnh mấy viên ngọc hình vuông
trong như nước đá

nhúng ngón tay vào giữa bức tranh
phá vỡ khuôn mặt người
phì nộn méo mó nằm ngược

bước vào đây Virginia Woolf
một căn phòng vắng lặng để thả tự do
cho trí tưởng tượng
của nàng