Ngày xuân thong thả

cây cherry trước nhà điểm hoa trắng lấm tấm
cây cherry (anh đào) trước nhà nở hoa trắng lấm tấm
cây eastern redbud trước sân
Cây eastern redbud trước nhà nở hoa lưa thưa
hoa dại sân sau nhà
sân sau nhà tôi trơ trụi thế mà cỏ dại cũng nở hoa
hoa đầu xuân ở hàng rào của thư viện
hoa đầu xuân nở bên cạnh hàng rào của thư viện
ở góc bệnh viện tưởng là hoa giả
ở một góc bệnh viện thấy cây hoa này
đàn nai ở rừng sau nhà, sau lưng là hoa đầu xuân lác đác vàng
bầy nai ở rừng sau nhà, sau lưng là hoa đầu xuân loáng thoáng vàng
khoảng sân sau nhà tôi trơ trụi thế mà cũng có hoa
hoa dại nở ở sân sau
hoa đào nhìn thấy ở cửa sổ xe lửa buổi sáng sớm
Buổi sáng đi làm trên xe lửa, ngồi cạnh cửa sổ thấy cây anh đào
hoa lily the valley ở bệnh viện
hoa lily the valley ở bên cạnh bệnh viện
sân bệnh viện đầy hoa tím
hoa tím trong sân bệnh viện
sân hoa tím
Sân đầy hoa tím

Hôm qua tôi xin nghỉ một ngày đưa ông Tám đi khám bệnh. Không có gì trầm trọng, chẳng qua là đến tuổi, hết khám cái này thì khám cái khác. Chúng ta đều hy vọng là chận đứng được những chứng bệnh, nếu có thể, không cho chúng trở nặng. Và thế là tôi được hưởng thụ một ngày, nhìn cây cỏ chung quanh.

Cây anh đào (cherry) trước nhà nở hoa trắng lấm tấm. Cây eastern redbud cũng ra nụ hoa tim tím hồng hồng lưa thưa. Năm 2012 cơn bão sandy làm ngã hai cây cherry, đây là loại cherry có trái ăn được. Nhờ vậy cây eastern redbud có ánh sáng để mọc lên cao hơn.

Đàn nai thường tụ lại ngủ sân sau nhà tôi, màu lông lẩn vào màu lá khô, khó nhìn thấy. Chỉ có con nai lông trắng là nhìn rõ rệt. Thấy mấy chú nai ăn lá non ngấu nghiến. Sống khó khăn thế mà chúng vẫn sinh sôi tràn lan.

Hoa lily the valley màu trắng nở thành chùm như những chuỗi ngọc trai. Tôi sợ không dám ngửi xem hoa có thơm không vì tôi bị dị ứng với đủ thứ. Cứ đến mùa là sụt sùi và ngứa ngáy mặt mũi vì phấn hoa. Buổi sáng uống một viên thuốc cầm cự với chứng dị ứng, thuốc làm tôi buồn ngủ. Buổi trưa ngủ một giấc dài thấy người tỉnh táo hơn.

Mấy hôm rày tôi được xem khá nhiều phim hay. The Spotlight, phim đưa ra ánh sáng vụ các vị giám mục xâm hại tình dục trẻ em ở Boston. Trumbo, một trong những nhà văn gia nhập đảng Cộng Sản Mỹ, bị giới làm phim ảnh đưa vào danh sách đen.

Khi tôi giới thiệu phim Trumbo với bà quản thủ thư viện, bà thấy tôi trả quyển The Revenant, tôi mượn ở thư viện nhưng trả lại vì biết là không có thì giờ để đọc (vì đang đọc The Big Short) bà hỏi tôi có xem phim này chưa.
“Chưa, tôi đang chờ chắc phải mấy tháng.”
“Phim đẹp tuyệt vời. Tôi chắc bà sẽ thích.”
“Vâng. Thảo nào anh tài tử Leo DiCaprio được giải Oscar.” Tôi nói.
“Bà đã xem the Danish girl chứ?”
“Cũng chưa, tôi đang ở trong danh sách chờ xem phim. Chắc cũng phải cả tháng nữa mới đến phiên tôi.”

Đến đây thì có một bà khách đến đứng sau lưng tôi chờ được phục vụ. Tôi tránh sang một bên nhưng chưa chịu ra về. Khi bà Pat, quản thủ thư viện, xong với bà khách, tôi hỏi bà hình như bà chưa nói hết ý mà muốn nói.
“Eddie Redmayne đóng vai này còn khó diễn hơn. Phim đẹp lắm.” Bà nhấn mạnh chữ beautiful, lập lại mấy lần. Tôi tạm dùng chữ đẹp, nhưng nghĩa của nó lại là rất hay, rất tuyệt, rất sâu sắc,… “Tôi nghĩ Redmayne xứng đáng đọat giải Oscar, dù anh kia cũng tài năng không kém.”
Tôi cám ơn bà chia sẻ ý nghĩ. Tôi nói tôi háo hức chờ xem phim. Và như có phép mầu, phim đến với tôi ngay ngày hôm sau. Tôi xem được cả hai cuốn phim The Danish Girl và The Big Short.

Bây giờ thì phải đi làm, chắc phải vài hôm nữa mới có thể nói chuyện phim. Chúc các bạn một ngày vui vẻ và cuối tuần nghỉ ngơi. Mùa xuân trời đẹp bạn có thể làm một chuyến đi chơi xa.

Tôi thì thèm đi chơi lắm rồi.

 

 

Chuyện gì xảy ra?

  • WordPress chập chà chập chờn mấy hôm nay. Chuyện gì?
  • Bão hôm qua, gió thổi lồng lộng. Con mèo nghe tiếng gió mạnh sợ quá chạy vào phòng tìm tôi rồi chui vào chăn của tôi lủi vào người tôi đi trốn.
  • Hai người làm việc chung nhóm với tôi về hưu, cách nhau chưa đầy một tháng.
  • Fear and Trembling của Amélie Nothomb xuất phát từ quan niệm cũ của người Nhật, khi gặp vua thì phải kính trọng (đến mức gần như khiếp sợ và có phần nào run rẩy). Quyển này cũng được làm thành phim.
  • Fear and Trembling của Soren Kierkergaard xuất phát từ Kinh Thánh, Philippians 2:12 (…continue to work out your salvation with fear and trembling) và Psalms 55:5 (Fear and trembling came upon me…). Quyển sách nhỏ nhưng nặng nề. Không phải là khó hiểu cho lắm, nhưng cách viết làm người đọc khó tập trung vào nội dung của quyển sách. Tôi nghĩ có lẽ dịch giả cố gắng dịch theo cấu trúc ngôn ngữ của người Đan Mạch. Đọc tóm tắt truyện này ở Wikipedia thấy có nhiều đoạn trích dẫn đơn giản dễ hiểu hơn. Thêm vào sự khó hiểu của tư tưởng (triết học), có lẽ vì tác giả viết quyển sách theo cảm hứng của người làm thơ, ý nọ tràn qua ý kia, nhiều khi lập lại và đặt câu dài khiến cho tôi đọc đoạn sau quên đoạn trước nói gì, phải đọc đi đọc lại. Tôi đọc được chừng 60 trang rồi thôi. Chịu thua. Cái ý quan trọng nhất trong 60 trang tôi đọc là, cái nhìn của nhân vật (đi theo Abraham) cho chúng ta một cách nhìn khác về câu chuyện trong Kinh Thánh. Abraham mang con trai Isaac lên núi Moriah theo lời Chúa dặn. Khi đi ông dấu không cho ai biết mục đích chuyến đi và lời dặn của Chúa. Kierkergaard cho chúng ta biết thêm ý nghĩ của Isaac sau khi nhìn thấy cha mình, Abraham chuẩn bị giết con để làm lễ tế dâng, và ý nghĩ của Abraham trước và sau khi vâng lời Chúa. Ông phải sống chuỗi ngày còn lại với cái quyết định và sự chọn lựa của ông trong cái nhìn của người con. Đặt hết niềm tin và lòng trung thành vào Chúa nhưng lại phản bội tình yêu và lòng tin của con (và vợ). Người đọc thời sau suy nghĩ thêm về khái niệm người đàn ông cao cả (hero).
  • Bìa của quyển sách tôi mượn từ thư viện là bản copy bức tranh “The Sacrifice of Isaac” cùa Michelangelo.

Lạnh cả không gian

Nguyên câu thơ, của ai không nhớ tên, là “lạnh cả không gian, lạnh cả lòng.” Rồi lại có người nói rằng “đất lạnh tình nồng,” hay “tay em lạnh để cho tình mình ấm.” Nói gì thì nói, thơ mấy thì thơ, nếu bạn không ở xứ lạnh thì bạn khó thể tưởng tượng ra cái lạnh chết người này. Mà lạ nhen, mấy bạn ở Canada lại ít than lạnh, còn mấy bạn ở Texas cũng ít than nóng, chỉ có một bạn ở NJ lúc nào cũng than. Lạnh cũng kêu mà nóng cũng kêu, trời dở dở ương ương càng kêu to dữ. Continue reading Lạnh cả không gian

Thử cái phone

Hôm qua trời u ám, không lạnh, cỡ 50 độ F (10 độ C). Tôi đi rừng cho tiêu bớt thức ăn dồn vào bao tử liên tiếp mấy ngày. Mấy tấm ảnh này là dùng thử cái fone mới Samsung Galaxy 6. Dùng chưa quen, thấy có nhiều cái bất tiện nhưng được cái nó nhẹ.

Từ tháng Mười đến nay tôi ăn tiệc quá nhiều. Giỗ hai đám, có người thân đến viếng, đi chơi nhà người quen, lễ Giáng sinh hai ba nhà luân phiên tổ chức tiệc vì nhà nào cũng có con ở xa về, ăn nhiều và toàn là thức ăn béo bổ. Ngay cả tiệc chay cũng bổ béo với dầu chiên, dầu mè, cộng thêm đường và bột ngọt. Bạn có để ý là người ta nấu thức ăn chay hay bỏ thêm đường nên món nào cũng ngọt. Thêm nữa là thức ăn chay lại nhiều chất bột nên không phải cứ ăn chay là tốt. Bây giờ ngồi đây, tôi thầm mong là sẽ tránh được tiệc Tất Niên. Continue reading Thử cái phone

Đi thăm con

Chị tôi ở Houston Texas lên thăm miền Đông Bắc Hoa Kỳ. Dùng chữ lên là vì trên bản đồ, tiểu bang của chị nằm mãi ở cuối xứ Hoa Kỳ rộng lớn. Sẵn chị lên chơi, tôi và ông Tám đưa chị đi thăm vài người thân. Bạn thân của chị ở Virginia, đến Virginia phải đi ngang Baltimore là nơi cô út của tôi đang ở, nên sẵn đó tôi đi thăm con. Thả chị xuống nhà bạn, chị ngủ đêm ở đó, tôi quay lại chỗ con tôi, ngủ đêm. Nhà bạn chị rất giàu, có phòng ngủ cho khách, một phòng cho chị, còn một phòng nữa cho chúng tôi. Phòng rộng, trang trí lộng lẫy, có bathroom riêng, thật là tiện nghi và thoải mái, nhưng tôi từ chối vì muốn đến thăm con gái út.

Trước đó đã điện thoại xin phép trước. Bố mẹ có thể ở qua một đêm với con không? Nó bằng lòng mới dám đến. Lại hối lộ trước là bố mẹ sẽ mang bánh mì và thức ăn cho con. Bạn của chị gửi cho bún bò. Bánh mì mua người ta làm sẵn ở chợ. Cũng như mấy đứa Tây, Mỹ trẻ, chúng nó thích ăn bánh mì, phở. Bún bò thì phải có cái khẩu vị Việt Nam hơn. Continue reading Đi thăm con

Rừng tàn thu

cỏ cattail trong frost
Cỏ cattail trên đồng khi bị sương giá
cuối thu với đàn vịt trên sông
Chơi đùa với bạn trên mặt hồ
Cô đơn
Lãng tử cô đơn
trên sông
Ba loại chim vịt sống hòa bình trên hồ
trái đẹp
Trái đẹp
bắt gặp chim đang ăn đấy nhé
Đang gắp trái hoang
Ăn trái lê dại
Ăn trái
đang nhìn
Nhìn ai?

Trời cuối thu rồi em ở đâu.
Nằm bên đất lạnh chắc em sầu. 

Bài thơ Gửi Người Dưới Mộ của Đinh Hùng còn dài nữa. Buồn. Liêu Trai. Bài thơ u ám quá tôi không muốn chép thêm. Nghĩ đến bài thơ này vì trời đã cuối thu, và cũng vì bà chị tôi ở Houston, chị vừa trở thành góa phụ hai tháng nay, đến nhà tôi chơi. Giá mà có thể đổi được chữ em thành chữ anh, để dùng bài thơ tưởng tượng đến tâm sự của chị. Continue reading Rừng tàn thu

Lễ Tạ ơn năm 2015

con gà mới đem ra khỏi lò

stuffing

corn bread

đĩa gà tây

a feast

Cả gia đình của mấy anh em họp mặt. Cô lớn, Ách Cơ nướng gà, làm stuffing, và mang về một chai wine rất ngon nói là của boss tặng. Tôi nấu cháo vịt, và các anh chị em mang gỏi, bánh apple pie, bánh chuối nướng, bắp, sốt cranberry, xôi đậu đen, … Thức uống thì có bia, wine, apple cider, và mấy loại nước trái cây có hơi ép.

Mỗi lần tôi có ý kiến thế này thế nọ, thì con gái bảo rằng “mẹ, con biết nấu mà, con là người kiếm sống bằng nghề nấu ăn.” Thế là mẹ im ngay, ra khỏi bếp cho con rộng chỗ.

Nhà đông người, con mèo chạy trốn vào trong tủ áo của ông chủ, nằm trong cái giỏ chứa quần áo bẩn. Con gái út chế nhạo mẹ, “mẹ hãy cám ơn trời mẹ có con ngoan và mèo ngoan.”  “Ừ, cám ơn trời cho con mèo nên mẹ có cơ hội hốt phân mèo.”  “Con mèo nó cũng cám ơn trời cho mẹ cơ hội hốt phân mèo lâu hơn.” Chắc là nên giao con mèo cho nó để nó mang mèo về căn hộ bé xíu của nó và để nó gần gũi với (mùi phân) mèo nhiều hơn cho nó hết dám chọc quê mẹ. Nó photobom tôi mấy lần đến độ tôi phải dọa nó, uýnh chết bây giờ.

Áo sương mù

là áo sương mù hay áo em

Sáng nay thấy trời đầy sương mù, có lẽ nhờ thế mà trời ấm, hay là vì trời ấm mà có sương mù? Chẳng biết, chỉ biết là hễ thấy sương mù là nhớ thơ Nguyên Sa, bài Paris có gì lạ không em. Paris, thành phố mới vừa bị tai nạn bắn giết. Vì tai nạn đó khiến người ta đâm ra thương mến Paris hơn, và là nguyên nhân khiến quyển Moveable Feast của Hemingway trở thành best seller.

Anh về giữa một dòng sông trắng
Là áo sương mù hay áo em?

Em có đứng ở bên bờ sông?
Làm ơn che khuất nửa vầng trăng
Anh về có nương theo giòng nước
Anh sẽ tìm em trong bóng trăng

Anh sẽ thở hơi trong sương khuya
Mỗi lần tan một chút sương sa
Bao giờ sáng một trời sao sáng
Là mắt em nhìn trong gió đưa. . . 

Ảnh chụp rừng sau nhà. Giữa những cành cây khô và màn sương là mặt trăng tròn chưa lặn. Tôi không cố gắng chụp bắt một hình ảnh nằm ngoài khả năng nhiếp ảnh của tôi nên … thôi, không chụp.

Mấy bụi cây Eastern Redbud sau khi cây cao rụng hết lá không còn bị bóng cả che khuất, hưởng thụ chút mặt trời muộn màng chuyển thành màu đỏ. Loại cây này, sau vài ngày đỏ lá sẽ nhạt màu dần biến thành hồng và hồng nhạt hơn đến độ gần như màu trắng, lá dường như mỏng hơn, rồi rụng.

 

Bobby đi lạc

Bobby đi lạc

Tôi gọi điện thoại cho Cá Linh, thăm con gái út vì thấy nó buồn. Công việc khó khăn hơn cô nàng dự đoán, lại ở xa nhà, thiếu bạn. Con nhỏ này giống mẹ ở chỗ ít khi dùng điện thoại để nói chuyện nên con không gọi thăm mẹ thì mẹ gọi thăm con.

“Suýt tí nữa là nhà mình có một con chó để nuôi.”
“Nghĩa là sao? Tại sao lại suýt tí nữa?”

Tôi kể vắn tắt cho Cá Linh nghe. Chủ Nhật qua, như thường lệ tôi và bố cô đi rừng. Hai ngày cuối tuần mỗi ngày chúng tôi đi chừng khoảng năm tiếng đồng hồ.

Tùy theo hướng đi, chỗ chúng tôi dừng lại để nghỉ chân thường là hai trạm. Hôm ấy chúng tôi ngừng ở Sky Top Picnic Area. Tôi ngồi nghỉ không lâu thì có một nhóm ba người, trẻ, Á châu đến ngồi ở bàn bên kia, khá xa. Họ bày fast food ra ăn. Hai người ăn trước, gọi người thứ ba, là một phụ nữ chừng hơn ba mươi. Cô này đến ăn sau vì mãi trông chừng một cậu bé nào đó. Tôi nghe cô gọi Bobby, Bobby, đến đây. Tôi ngồi quay lưng về hướng cậu bé nên nhìn thấy người đàn bà mà không nhìn thấy Bobby. Ăn xong chúng tôi thu dọn và đi tiếp. Ông Tám đi trước, tôi đi sau. Lấn quấn bên chân ông Tám là con chó nhỏ màu trắng. Bobby là tên của con chó này đây, tôi đoán ra. Mặc cho mẹ Bobby kêu réo, Bobby cứ đeo theo ông Tám, ngửi tay ngửi chân, và chạy lon ton dẫn đường. Bobby ngừng chỗ này một chút, chỗ kia một chút, thỉnh thoảng nhấc chân lên tè vào gốc cây này gốc cây kia như để đánh dấu. Khi chạy trước ông Tám, khi chạy sau, khi chạy bên trái, lòn qua bên phải.

Đoạn đường từ Sky Top Picnic Area sang Nature Trail Science Center đang lúc xuống dốc, tương đối dễ đi, cây cối không chằng chịt lắm, có khá nhiều cây thông cao. Mẹ Bobby đi theo vài bước cứ gọi Bobby comeback nhưng nó chẳng buồn đếm xỉa tiếng mẹ gọi mà cứ tung tăng chạy theo ông Tám. Bobby hoàn toàn chẳng chú ý đến tôi đi phía sau. Thỉnh thoảng Bobby chạy ngược hướng về phía tôi, tôi đoán nó sẽ chạy về với mẹ, nhưng không, nó lại đánh vòng, đuổi theo ông Tám. Ai nuôi chó thì cũng biết, cứ trông cái dáng của một con chó con chạy thật nhanh, đuôi cong tai cụp, dễ thương lắm.

Cuối con dốc qua khỏi rừng thông, con đường mòn rẽ tay mặt. Quẹo tay trái sẽ dẫn ra đường lớn. Quẹo một nhánh khác cỡ 45 độ bên trái thì sẽ dẫn về Felt Village. Đến đây tôi vẫn không thấy đám người đi tìm Bobby. Tôi đâm ra lo ngại. Bobby chạy về hướng Felt Village. Nếu nó đi lạc, nó sẽ khó mà tìm lối về, bởi vì nó chỉ là con chó con, chưa phát triển đủ khả năng săn hay đánh hơi đường về. Ông Tám tỉnh bơ dấn bước. Tôi ngồi xuống, đưa tay ra gọi con chó. Bobby Bobby come here. Bobby đã chạy khá xa sang hướng Felt Village nhưng nghe tiếng tôi và không nhìn thấy ông Tám nên chạy ngược lại. Nó không ngừng ở chỗ tôi mà lại chạy quấn bước ông Tám. Tôi nói.

“Mình mang con chó trở lại cho ba người đó đi. Chứ nếu nó đi lạc trong rừng này thì chỉ có chết. Trời lạnh rồi.”
“Chó của người ta thì để người ta lo. Đường mình đi thì đi. Sao lại lo chuyện của người. Chó của họ mà họ chẳng đi tìm, chẳng chạy theo thì thôi.”

Tôi không đồng ý với ông Tám, nhưng không nói gì. Chúng tôi lẳng lặng đi. Bobby tung tăng chạy theo dường như thấy cuộc đi chơi rất thú vị. Thỉnh thoảng tôi bế nó lên vì sợ nó mỏi. Ở cổ Bobby có tấm lắc có số điện thoại số vùng (area code) khác số vùng của tôi cũng như khu vực hiking.

“Có số điện thoại của chủ nó, mình gọi họ đi.” Tôi nói.
“Dù gì cũng phải đến Nature Science Center, đến đó rồi gọi họ đến nhận con chó. Ở đây giữa rừng có gọi họ cũng chẳng biết đường mà đến.”

Bobby bé lắm, nhỏ hơn cả Nora của tôi. Khi tôi bế nó lên tay nó liếm mặt liếm tay tôi, cũng không có vẻ gì đòi xuống đất. Tôi bế nó đi một chút thì thả nó xuống. Nó tung tăng chạy theo ông Tám, thỉnh thoảng ngừng, cào lá, ngửi, đào bới, phục người như rình, tôi kiên nhẫn đứng chờ. Thỉnh thoảng gọi nó nhắc chừng nó đi theo sợ nó lạc vào rừng. Bobby chỉ chạy theo đường mòn chứ không nhào vào bụi rặm như tôi lo ngại. Ông Tám nói, thấy nó khôn chưa, nó biết đường mòn mà.

Từ Picnic Area đến Trail Center đi bộ thong thả chừng một giờ đồng hồ. Tôi đi được nửa giờ thì nghe tiếng gọi la hét um sùm. Một người đàn ông Mỹ có con chó chạy xổng vào rừng. Ông tìm không thấy, kêu réo um sùm. Hỏi chúng tôi có nhìn thấy con chó con màu đen không. Con chó tên Molly. Chó khi vào rừng thường hay xổng chạy mất. Không hiểu tại sao, vì mùi rừng đánh thức bản năng săn bắn hoang dã hay vì nhiều người nhiều chó qua lại trên đường mòn làm tràn ngập khả năng đánh hơi của chó? Một lúc sau tôi nghe có tiếng chân phía sau, nhìn lại thấy hai người có vẻ là vợ chồng rất trẻ có dẫn một con chó loại pitbull cao lớn có dây xích cổ. Tôi nói với hai người.

“Ông bà giữ dùm con chó của ông bà. Phía trước có con chó nhỏ tôi sợ con chó của ông bà quật chết con chó nhỏ ấy.”
“Vâng. Vâng. Không sao đâu, con chó của chúng tôi thân thiện lắm.”
Nói thế nhưng họ cũng giữ chặt dây xích. Bobby nhảy bổ lại sủa con chó pitbull inh ỏi. Hai vợ chồng mỉm cười. Cả hai người đều rất trẻ, tuổi hơn ba mươi. Người chồng cao lớn như dân chơi football.
“Con chó không phải của chúng tôi. Nó bỏ rơi chủ của nó và chạy theo chúng tôi cả tiếng đồng hồ.”
“Thế à? Tôi cứ tưởng con chó là của ông bà.”

Cô vợ đưa dây xích chó cho anh chồng giữ. Cúi xuống bế Bobby lên tay, giọng cô trìu mến.
“Con đi lạc đấy à?”

Cô rút điện thoại ra, gọi số điện thoại đeo trên cổ Bobby, rồi bảo chúng tôi.

“Ông bà có thể đi trước, chúng tôi sẽ lo cho Bobby.” Cô nói.
“Dự tính của ông bà như thế nào?” Tôi hỏi.
“Chúng tôi sẽ mang nó đến Trail Center và chủ của Bobby sẽ đến đón.”

Chúng tôi đi, họ cũng đi. Cô vợ dắt con chó lớn. Anh chồng bế Bobby như bế một đứa con. Trông cái cách họ quán xuyến chuyện con chó tôi thấy cảm động. Hai người rất trẻ, có lòng nhân, thương thú vật. Họ biết ngay họ cần phải làm gì, và chẳng ngại ngần phải làm những công việc nằm ngoài kế hoạch của một ngày Chủ Nhật.  Họ đi rồi tôi tự hỏi mình. Họ mang con chó đến Trail Center, cũng cùng đường với mình, tại sao mình không làm chuyện này.

“Thấy chưa. Họ cũng làm đúng như anh nghĩ.” Ông Tám nói.

Chắc chắn là tôi không bao giờ có thể bỏ Bobby trong rừng. Tôi có nghĩ đến chuyện gọi người chủ của Bobby nhưng bản tính của tôi rất ngại tiếp xúc với người không quen. Tôi sợ, nếu như họ cố tình bỏ Bobby vào rừng vì không muốn nuôi nữa, họ sẽ không trả lời điện thoại, hoặc trả lời mà không nhận đó là con chó của họ. Tôi sẽ làm gì với con chó? Khi tôi bế Bobby lên tay, nó liếm má tôi, tôi đã có ý nghĩ là giữ con chó để nuôi, đúng là một thứ tà tâm.

“Tưởng là có duyên nợ với con chó nhưng té ra không có.” Tôi nói.
“Nợ nhiều hơn duyên.” Ông Tám nói.

Đã nhiều lần tôi nhìn thấy tôi mê mẩn nhìn những con chó nhỏ. Nora sẽ phản ứng như thế nào nếu tôi mang Bobby về. Tôi muốn đi chơi mà không ai trông chừng Nora, nếu có thêm Bobby thì sao. Bốn giờ sáng Nora đánh thức tôi, cho Nora ăn, cho Boyfriend ăn. Rồi tôi phải dẫn Bobby đi đồng. Khi bế Bobby trên tay, một chút xíu là tôi bảo tôi phải thả Bobby xuống đất. Nó chỉ cần hôn tôi vài ba cái là tôi sẽ phải lòng nó và tôi sẽ trở thành một bà già ăn trộm chó.

Kể Cá Linh nghe, một chút điểm tô cho một ngày Chủ Nhật yên lặng.

“Một lần kể lại để rồi thôi”*

*Thơ Tô Thùy Yên, trích trong bài Ta Về

Cái ảnh cậu bé con, Aylan Kurdi, nằm úp mặt trên bờ biển, và cũng ảnh của cậu bé ấy khi cậu được “múc” lên, nằm gọn trong cái lõm của cánh tay người kiểm tra bờ biển, làm nao lòng những trái tim chính trị cứng rắn khô khan nhất. Đủ mềm lòng để họ tiếp nhận người tị nạn. Cậu bé với cái quần màu xanh dương đậm và áo màu đỏ làm tôi nghĩ đến Pinochio, một trong những cậu bé đáng yêu nhất trong cổ tích. Nghĩ đến Pinochio, vì nhờ lòng yêu thương chân thành của ông thợ làm đồ chơi, và của chính Pinochio cùng với phép mầu của Thượng Đế, con búp bê bằng gỗ biến thành người. Pinochio cũng bị chìm thuyền, nhờ là gỗ nên không chết đuối, vào bụng cá, cứu được cha. Aylan bất hạnh, nhỏ bé và bất động như một con búp bê bằng gỗ trôi giạt vào bờ biển. Lòng nhân của loài người đến không kịp để cứu cậu bé, anh của cậu bốn tuổi, mẹ của cậu và còn bao nhiêu người vô danh nữa. Chúa đâu, Phật đâu. Phải chăng “Chúa đã bỏ loài người. Phật đã bỏ loài người?”

Bài báo đăng trên The New Yorker mở đầu bằng chuyến vượt biển của thuyền nhân người Việt. Tôi nghĩ thế giới đang chú ý đến số phận hẩm hiu của những người lánh nạn sang châu Âu, mình không nên viết bài cái kiểu ăn theo sự chú ý này. Tuy nhiên tôi vẫn thấy xót xa đến độ muốn nhắc lại chuyện xưa. Hay là mượn câu thơ của thi sĩ Tô Thùy Yên, một lần kể lại để rồi thôi.

Bài báo của Philip Gourevitch nói rằng ước tính có ba người đi thì một người chết. Gia đình tôi đi năm người, chia làm hai đợt, hai người mất tích. Tỉ lệ như thế là hai phần năm, lớn hơn một phần ba. Không phải đợt sóng nào cũng đưa người chìm trong biển vào bờ. Hai người mất tích trong gia đình tôi là cô cháu gái gọi tôi bằng dì với đứa con gái của cô. Chồng cô đi trước cùng lúc với em trai của cô và tôi. Đáng lẽ cô đi cùng chuyến, nhưng chiếc xe đò chở cô và đứa con gái, lúc ấy ba tuổi, bị bể bánh xe hai lần, và bể cả bốn bánh. Cô bị trễ xe nên lỡ chuyến đò. Cô đi chuyến sau, và vài lần sau nữa, cuối cùng, cô đi mãi mãi và không bao giờ đến. Nói thì nghe vô duyên. Không may như Aylan chết vẫn tìm được xác. Gia đình tôi nhiều năm cố tìm kiếm tông tích hai mẹ con cô cháu của tôi. Hằng năm lấy ngày ra đi làm ngày giỗ.

Bài báo nói chiếc ghe của người Việt vượt biên năm 1988 gặp rất nhiều tàu lớn nhưng họ không cứu. Ghe tôi đi năm 1980, sau ba ngày chạy ngon lành, gặp giàn khoan, họ cho thức ăn hộp, nước uống, và chỉ đường đi. Thẳng hướng này, chừng hai ngày hay một ngày rưỡi sẽ đến bờ Mã Lai, chỉ còn một trăm năm mươi hải lý nữa thôi. Chúng tôi không cần thức ăn nước uống vì chẳng ai ăn uống được gì những ngày đầu, ói đến mật xanh mật vàng, và thức ăn nước uống mang theo vẫn còn đầy ăm ắp. Chúng tôi muốn được cứu, được chở vào đất liền bằng tàu lớn vì đêm trước thuyền chúng tôi gặp bão tưởng chìm. Nhưng đời không như là mơ.

Chạy được nửa ngày, hay một ngày, tôi không nhớ hay nói đúng hơn trong cơn say sóng vật vã, tôi không có khái niệm về thời gian, thuyền tôi bị thuyền hải tặc đuổi theo. Ghe nhỏ làm sao chạy thoát thuyền hải tặc vốn là tàu sắt, máy lớn, đánh cá ngoài khơi. Thuyền của hải tặc đâm thẳng vào ghe tôi cốt ý đâm lủng thuyền. Anh tài công của ghe tôi nhanh trí lách lệch chiếc ghe qua một bên. Tàu sắt lúc ấy đã tắt máy, chỉ cái trớn của nó cũng đủ đâm bể cái máy đuôi tôm. Sau khi cướp, bọn hải tặc lùa 22 người Việt đã bị cướp, bắt nhốt từ trước trên tàu của chúng, sang ghe chúng tôi đã có sẵn 79 người. Chiếc ghe loại buôn bán trên sông, dài cũng chỉ chừng 15 mét như chiếc ghe Gourevitch nhắc đến trên báo The New Yorker. Và trên chiếc ghe không máy, chúng tôi 101 người trôi giạt lênh đênh không nhớ là mấy ngày.

Không phải đợt sóng nào cũng đưa ghe hay người chết đuối vào bờ. Có khi thuyền tôi thấy đảo rất gần, tưởng chừng có thể lội nước biển đi bộ vào. Nhưng nhìn thì biết là đảo hoang, vào có sống được không? Vào rồi làm sao ra? Nghĩ như vậy nhưng đâu phải muốn vào là có thể vào. Ghe chúng tôi lại bị cuốn ra ngoài biển khơi. “Ngó trông ra biển mù chong. Thấy người thiên hạ sao không thấy chàng.” Từ trong bờ ngó ra biển thì không thấy chàng mà mình mơ mộng. Ở ngay trên biển ngó chung quanh thì chỉ thấy biển muôn trùng, sóng chập chùng, biển nối vào chân mây. Có lần thấy tàu to, loại tàu chở hàng thương mại to như mấy tòa nhà lầu cao ngất đi ngang, tưởng chừng chỉ quăng cuộn dây là có thể kéo chúng tôi vào bờ nhưng không ai nhìn thấy chúng tôi. Thật ra không ai muốn nhìn thấy chúng tôi. Không phải một chiếc tàu to, mà nhiều chiếc. Hết chiếc này đến chiếc khác. Chúng tôi đi từ thất vọng này đến thất vọng khác. Chúng tôi như một đàn kiến loi nhoi giữa biển khơi trên một chiếc bao diêm. Đám đàn ông bắt đám đàn bà leo lên mui thuyền khóc la vái lạy, với hy vọng họ thấy đàn bà trẻ con họ sẽ cứu. Hừm, người đang cơn tuyệt vọng lúc nào cũng tưởng bở. Bây giờ thì tôi hiểu vì sao họ không cứu người tị nạn.

Chuyện cậu bé Aylan, cùng với mẹ và anh trai đều chết đuối, khi theo bố lội nước vào bờ, không phải là chuyện mới. Người ta chết đuối khi vào gần đến bờ rất thường xảy ra. Vì sóng lớn, phụ nữ và trẻ em sức yếu bị nhận chìm. Người đàn ông cần phải bảo vệ họ thì không thể bảo vệ nổi. Có khi đang nắm tay con hay cõng con trên vai thì té, vuột tay, sóng cuốn đi. Những cuộc đổ bộ thường vào lúc tối trời, đi chui mà, làm gì dám đổ bộ công khai vào lúc có ánh sáng. Không khéo lại bị tàu của người trong nước kéo ngược ra biển khơi như người Việt tị nạn trước kia.

Người đọc thường tự hỏi, tại sao họ, những người vượt biển không chuẩn bị, như đeo phao, làm thuyền cho thật chắc thật tốt, chẳng hạn. Tại vì đây là những cuộc chạy trốn. Họ ra đi trong lúc giả vờ đi đâu đó, và nếu bị chận lại họ không thể chối cãi nếu tang vật bị bắt gặp. Họ không thể xây cất thuyền, mua thuyền công khai. Họ không biết được chuyến đi ở đâu, bao nhiêu người, lên tàu lúc nào. Những điều người ta bảo với họ nhiều khi chỉ là gian dối. Người đọc mắng thầm, cứ mơ mộng hão, đi tìm ảo vọng của thiên đàng, thật ra phần lớn họ chỉ lo chạy cho thoát khỏi địa ngục trần gian.

Tôi thường nghĩ vượt biên mà còn sống là đại phúc rồi. Chuyến vượt biên thay đổi tôi rất nhiều, biến tôi thành một người rất “neurotic.” Chuyện của tôi không có gì đáng kể. Những chuyện đáng kể đã nằm dưới lòng đại dương. Có lần tôi dịch một bài của Matt Steinglass (hay tên gì đó tôi không nhớ chắc, lười tra cứu lại) anh này phỏng vấn một giáo sư kiêm học giả trẻ ở Hà Nội. Tiếng là phỏng vấn, thật ra anh ta đang viết bài để promote quyển sách của O’Brien được in lại sau một thời gian xuất bản khá lâu. Anh chàng than phiền vì sao người Việt Nam không đọc sách về chiến tranh Việt Nam. Không ai nói thật cho anh hiểu là người Việt Nam sống thở và chết trong chiến tranh, họ chán ngấy chiến tranh rồi. Không có tác phẩm hư cấu nào có thể nói hết được cái bi thảm tàn khốc độc ác của chiến tranh, biết quá rồi đọc rất chán. Chuyện vượt biên cũng vậy. Biết rồi, khổ lắm, nói mãi. Nhàm!

Tôi tự hỏi, hình ảnh nào của người Việt vượt biên đã làm động lòng Mã Lai, Phi Luật Tân, Úc, Canada để họ cứu giúp chúng tôi. Những người như tôi khi ra đi rất ngây thơ, có lẽ những người Syria cũng ngây thơ không kém. Họ không biết là nước biển sóng biển đẹp đẽ thơ mộng hùng vĩ như thế cũng có thể tàn bạo lấy đi mạng người, mấy trăm mạng cùng lúc không thương tiếc. Họ chạy trốn cơn tuyệt vọng này để phải đương đầu với cơn tuyệt vọng khác như người Việt đã từng đương đầu. Họ cũng không nghĩ đến sự có mặt của họ sẽ gây tốn kém nhức đầu với nhiều vấn đề cho những người phải nuôi phải chứa họ. Họ chỉ muốn tìm một nơi để sống bình yên, có cơm ăn áo mặc, con cái được đến trường, họ không phải sống trong bom đạn và cái chết. Họ sống trong cái chết bao chung quanh. Họ đi vào chỗ chết để mong tìm cái sống.

Chúa ở đâu? Phật ở đâu? Lòng nhân của con người ở đâu? Họ cần Chúa, Phật, lòng nhân của loài người hơn bao giờ hết.

Thuyền nhân

Ảnh minh họa của Tom Bachtell, trong bài Search and Rescue của The New Yorker