Áo sương mù

là áo sương mù hay áo em

Sáng nay thấy trời đầy sương mù, có lẽ nhờ thế mà trời ấm, hay là vì trời ấm mà có sương mù? Chẳng biết, chỉ biết là hễ thấy sương mù là nhớ thơ Nguyên Sa, bài Paris có gì lạ không em. Paris, thành phố mới vừa bị tai nạn bắn giết. Vì tai nạn đó khiến người ta đâm ra thương mến Paris hơn, và là nguyên nhân khiến quyển Moveable Feast của Hemingway trở thành best seller.

Anh về giữa một dòng sông trắng
Là áo sương mù hay áo em?

Em có đứng ở bên bờ sông?
Làm ơn che khuất nửa vầng trăng
Anh về có nương theo giòng nước
Anh sẽ tìm em trong bóng trăng

Anh sẽ thở hơi trong sương khuya
Mỗi lần tan một chút sương sa
Bao giờ sáng một trời sao sáng
Là mắt em nhìn trong gió đưa. . . 

Ảnh chụp rừng sau nhà. Giữa những cành cây khô và màn sương là mặt trăng tròn chưa lặn. Tôi không cố gắng chụp bắt một hình ảnh nằm ngoài khả năng nhiếp ảnh của tôi nên … thôi, không chụp.

Mấy bụi cây Eastern Redbud sau khi cây cao rụng hết lá không còn bị bóng cả che khuất, hưởng thụ chút mặt trời muộn màng chuyển thành màu đỏ. Loại cây này, sau vài ngày đỏ lá sẽ nhạt màu dần biến thành hồng và hồng nhạt hơn đến độ gần như màu trắng, lá dường như mỏng hơn, rồi rụng.

 

Bobby đi lạc

Bobby đi lạc

Tôi gọi điện thoại cho Cá Linh, thăm con gái út vì thấy nó buồn. Công việc khó khăn hơn cô nàng dự đoán, lại ở xa nhà, thiếu bạn. Con nhỏ này giống mẹ ở chỗ ít khi dùng điện thoại để nói chuyện nên con không gọi thăm mẹ thì mẹ gọi thăm con.

“Suýt tí nữa là nhà mình có một con chó để nuôi.”
“Nghĩa là sao? Tại sao lại suýt tí nữa?”

Tôi kể vắn tắt cho Cá Linh nghe. Chủ Nhật qua, như thường lệ tôi và bố cô đi rừng. Hai ngày cuối tuần mỗi ngày chúng tôi đi chừng khoảng năm tiếng đồng hồ.

Tùy theo hướng đi, chỗ chúng tôi dừng lại để nghỉ chân thường là hai trạm. Hôm ấy chúng tôi ngừng ở Sky Top Picnic Area. Tôi ngồi nghỉ không lâu thì có một nhóm ba người, trẻ, Á châu đến ngồi ở bàn bên kia, khá xa. Họ bày fast food ra ăn. Hai người ăn trước, gọi người thứ ba, là một phụ nữ chừng hơn ba mươi. Cô này đến ăn sau vì mãi trông chừng một cậu bé nào đó. Tôi nghe cô gọi Bobby, Bobby, đến đây. Tôi ngồi quay lưng về hướng cậu bé nên nhìn thấy người đàn bà mà không nhìn thấy Bobby. Ăn xong chúng tôi thu dọn và đi tiếp. Ông Tám đi trước, tôi đi sau. Lấn quấn bên chân ông Tám là con chó nhỏ màu trắng. Bobby là tên của con chó này đây, tôi đoán ra. Mặc cho mẹ Bobby kêu réo, Bobby cứ đeo theo ông Tám, ngửi tay ngửi chân, và chạy lon ton dẫn đường. Bobby ngừng chỗ này một chút, chỗ kia một chút, thỉnh thoảng nhấc chân lên tè vào gốc cây này gốc cây kia như để đánh dấu. Khi chạy trước ông Tám, khi chạy sau, khi chạy bên trái, lòn qua bên phải.

Đoạn đường từ Sky Top Picnic Area sang Nature Trail Science Center đang lúc xuống dốc, tương đối dễ đi, cây cối không chằng chịt lắm, có khá nhiều cây thông cao. Mẹ Bobby đi theo vài bước cứ gọi Bobby comeback nhưng nó chẳng buồn đếm xỉa tiếng mẹ gọi mà cứ tung tăng chạy theo ông Tám. Bobby hoàn toàn chẳng chú ý đến tôi đi phía sau. Thỉnh thoảng Bobby chạy ngược hướng về phía tôi, tôi đoán nó sẽ chạy về với mẹ, nhưng không, nó lại đánh vòng, đuổi theo ông Tám. Ai nuôi chó thì cũng biết, cứ trông cái dáng của một con chó con chạy thật nhanh, đuôi cong tai cụp, dễ thương lắm.

Cuối con dốc qua khỏi rừng thông, con đường mòn rẽ tay mặt. Quẹo tay trái sẽ dẫn ra đường lớn. Quẹo một nhánh khác cỡ 45 độ bên trái thì sẽ dẫn về Felt Village. Đến đây tôi vẫn không thấy đám người đi tìm Bobby. Tôi đâm ra lo ngại. Bobby chạy về hướng Felt Village. Nếu nó đi lạc, nó sẽ khó mà tìm lối về, bởi vì nó chỉ là con chó con, chưa phát triển đủ khả năng săn hay đánh hơi đường về. Ông Tám tỉnh bơ dấn bước. Tôi ngồi xuống, đưa tay ra gọi con chó. Bobby Bobby come here. Bobby đã chạy khá xa sang hướng Felt Village nhưng nghe tiếng tôi và không nhìn thấy ông Tám nên chạy ngược lại. Nó không ngừng ở chỗ tôi mà lại chạy quấn bước ông Tám. Tôi nói.

“Mình mang con chó trở lại cho ba người đó đi. Chứ nếu nó đi lạc trong rừng này thì chỉ có chết. Trời lạnh rồi.”
“Chó của người ta thì để người ta lo. Đường mình đi thì đi. Sao lại lo chuyện của người. Chó của họ mà họ chẳng đi tìm, chẳng chạy theo thì thôi.”

Tôi không đồng ý với ông Tám, nhưng không nói gì. Chúng tôi lẳng lặng đi. Bobby tung tăng chạy theo dường như thấy cuộc đi chơi rất thú vị. Thỉnh thoảng tôi bế nó lên vì sợ nó mỏi. Ở cổ Bobby có tấm lắc có số điện thoại số vùng (area code) khác số vùng của tôi cũng như khu vực hiking.

“Có số điện thoại của chủ nó, mình gọi họ đi.” Tôi nói.
“Dù gì cũng phải đến Nature Science Center, đến đó rồi gọi họ đến nhận con chó. Ở đây giữa rừng có gọi họ cũng chẳng biết đường mà đến.”

Bobby bé lắm, nhỏ hơn cả Nora của tôi. Khi tôi bế nó lên tay nó liếm mặt liếm tay tôi, cũng không có vẻ gì đòi xuống đất. Tôi bế nó đi một chút thì thả nó xuống. Nó tung tăng chạy theo ông Tám, thỉnh thoảng ngừng, cào lá, ngửi, đào bới, phục người như rình, tôi kiên nhẫn đứng chờ. Thỉnh thoảng gọi nó nhắc chừng nó đi theo sợ nó lạc vào rừng. Bobby chỉ chạy theo đường mòn chứ không nhào vào bụi rặm như tôi lo ngại. Ông Tám nói, thấy nó khôn chưa, nó biết đường mòn mà.

Từ Picnic Area đến Trail Center đi bộ thong thả chừng một giờ đồng hồ. Tôi đi được nửa giờ thì nghe tiếng gọi la hét um sùm. Một người đàn ông Mỹ có con chó chạy xổng vào rừng. Ông tìm không thấy, kêu réo um sùm. Hỏi chúng tôi có nhìn thấy con chó con màu đen không. Con chó tên Molly. Chó khi vào rừng thường hay xổng chạy mất. Không hiểu tại sao, vì mùi rừng đánh thức bản năng săn bắn hoang dã hay vì nhiều người nhiều chó qua lại trên đường mòn làm tràn ngập khả năng đánh hơi của chó? Một lúc sau tôi nghe có tiếng chân phía sau, nhìn lại thấy hai người có vẻ là vợ chồng rất trẻ có dẫn một con chó loại pitbull cao lớn có dây xích cổ. Tôi nói với hai người.

“Ông bà giữ dùm con chó của ông bà. Phía trước có con chó nhỏ tôi sợ con chó của ông bà quật chết con chó nhỏ ấy.”
“Vâng. Vâng. Không sao đâu, con chó của chúng tôi thân thiện lắm.”
Nói thế nhưng họ cũng giữ chặt dây xích. Bobby nhảy bổ lại sủa con chó pitbull inh ỏi. Hai vợ chồng mỉm cười. Cả hai người đều rất trẻ, tuổi hơn ba mươi. Người chồng cao lớn như dân chơi football.
“Con chó không phải của chúng tôi. Nó bỏ rơi chủ của nó và chạy theo chúng tôi cả tiếng đồng hồ.”
“Thế à? Tôi cứ tưởng con chó là của ông bà.”

Cô vợ đưa dây xích chó cho anh chồng giữ. Cúi xuống bế Bobby lên tay, giọng cô trìu mến.
“Con đi lạc đấy à?”

Cô rút điện thoại ra, gọi số điện thoại đeo trên cổ Bobby, rồi bảo chúng tôi.

“Ông bà có thể đi trước, chúng tôi sẽ lo cho Bobby.” Cô nói.
“Dự tính của ông bà như thế nào?” Tôi hỏi.
“Chúng tôi sẽ mang nó đến Trail Center và chủ của Bobby sẽ đến đón.”

Chúng tôi đi, họ cũng đi. Cô vợ dắt con chó lớn. Anh chồng bế Bobby như bế một đứa con. Trông cái cách họ quán xuyến chuyện con chó tôi thấy cảm động. Hai người rất trẻ, có lòng nhân, thương thú vật. Họ biết ngay họ cần phải làm gì, và chẳng ngại ngần phải làm những công việc nằm ngoài kế hoạch của một ngày Chủ Nhật.  Họ đi rồi tôi tự hỏi mình. Họ mang con chó đến Trail Center, cũng cùng đường với mình, tại sao mình không làm chuyện này.

“Thấy chưa. Họ cũng làm đúng như anh nghĩ.” Ông Tám nói.

Chắc chắn là tôi không bao giờ có thể bỏ Bobby trong rừng. Tôi có nghĩ đến chuyện gọi người chủ của Bobby nhưng bản tính của tôi rất ngại tiếp xúc với người không quen. Tôi sợ, nếu như họ cố tình bỏ Bobby vào rừng vì không muốn nuôi nữa, họ sẽ không trả lời điện thoại, hoặc trả lời mà không nhận đó là con chó của họ. Tôi sẽ làm gì với con chó? Khi tôi bế Bobby lên tay, nó liếm má tôi, tôi đã có ý nghĩ là giữ con chó để nuôi, đúng là một thứ tà tâm.

“Tưởng là có duyên nợ với con chó nhưng té ra không có.” Tôi nói.
“Nợ nhiều hơn duyên.” Ông Tám nói.

Đã nhiều lần tôi nhìn thấy tôi mê mẩn nhìn những con chó nhỏ. Nora sẽ phản ứng như thế nào nếu tôi mang Bobby về. Tôi muốn đi chơi mà không ai trông chừng Nora, nếu có thêm Bobby thì sao. Bốn giờ sáng Nora đánh thức tôi, cho Nora ăn, cho Boyfriend ăn. Rồi tôi phải dẫn Bobby đi đồng. Khi bế Bobby trên tay, một chút xíu là tôi bảo tôi phải thả Bobby xuống đất. Nó chỉ cần hôn tôi vài ba cái là tôi sẽ phải lòng nó và tôi sẽ trở thành một bà già ăn trộm chó.

Kể Cá Linh nghe, một chút điểm tô cho một ngày Chủ Nhật yên lặng.

“Một lần kể lại để rồi thôi”*

*Thơ Tô Thùy Yên, trích trong bài Ta Về

Cái ảnh cậu bé con, Aylan Kurdi, nằm úp mặt trên bờ biển, và cũng ảnh của cậu bé ấy khi cậu được “múc” lên, nằm gọn trong cái lõm của cánh tay người kiểm tra bờ biển, làm nao lòng những trái tim chính trị cứng rắn khô khan nhất. Đủ mềm lòng để họ tiếp nhận người tị nạn. Cậu bé với cái quần màu xanh dương đậm và áo màu đỏ làm tôi nghĩ đến Pinochio, một trong những cậu bé đáng yêu nhất trong cổ tích. Nghĩ đến Pinochio, vì nhờ lòng yêu thương chân thành của ông thợ làm đồ chơi, và của chính Pinochio cùng với phép mầu của Thượng Đế, con búp bê bằng gỗ biến thành người. Pinochio cũng bị chìm thuyền, nhờ là gỗ nên không chết đuối, vào bụng cá, cứu được cha. Aylan bất hạnh, nhỏ bé và bất động như một con búp bê bằng gỗ trôi giạt vào bờ biển. Lòng nhân của loài người đến không kịp để cứu cậu bé, anh của cậu bốn tuổi, mẹ của cậu và còn bao nhiêu người vô danh nữa. Chúa đâu, Phật đâu. Phải chăng “Chúa đã bỏ loài người. Phật đã bỏ loài người?”

Bài báo đăng trên The New Yorker mở đầu bằng chuyến vượt biển của thuyền nhân người Việt. Tôi nghĩ thế giới đang chú ý đến số phận hẩm hiu của những người lánh nạn sang châu Âu, mình không nên viết bài cái kiểu ăn theo sự chú ý này. Tuy nhiên tôi vẫn thấy xót xa đến độ muốn nhắc lại chuyện xưa. Hay là mượn câu thơ của thi sĩ Tô Thùy Yên, một lần kể lại để rồi thôi.

Bài báo của Philip Gourevitch nói rằng ước tính có ba người đi thì một người chết. Gia đình tôi đi năm người, chia làm hai đợt, hai người mất tích. Tỉ lệ như thế là hai phần năm, lớn hơn một phần ba. Không phải đợt sóng nào cũng đưa người chìm trong biển vào bờ. Hai người mất tích trong gia đình tôi là cô cháu gái gọi tôi bằng dì với đứa con gái của cô. Chồng cô đi trước cùng lúc với em trai của cô và tôi. Đáng lẽ cô đi cùng chuyến, nhưng chiếc xe đò chở cô và đứa con gái, lúc ấy ba tuổi, bị bể bánh xe hai lần, và bể cả bốn bánh. Cô bị trễ xe nên lỡ chuyến đò. Cô đi chuyến sau, và vài lần sau nữa, cuối cùng, cô đi mãi mãi và không bao giờ đến. Nói thì nghe vô duyên. Không may như Aylan chết vẫn tìm được xác. Gia đình tôi nhiều năm cố tìm kiếm tông tích hai mẹ con cô cháu của tôi. Hằng năm lấy ngày ra đi làm ngày giỗ.

Bài báo nói chiếc ghe của người Việt vượt biên năm 1988 gặp rất nhiều tàu lớn nhưng họ không cứu. Ghe tôi đi năm 1980, sau ba ngày chạy ngon lành, gặp giàn khoan, họ cho thức ăn hộp, nước uống, và chỉ đường đi. Thẳng hướng này, chừng hai ngày hay một ngày rưỡi sẽ đến bờ Mã Lai, chỉ còn một trăm năm mươi hải lý nữa thôi. Chúng tôi không cần thức ăn nước uống vì chẳng ai ăn uống được gì những ngày đầu, ói đến mật xanh mật vàng, và thức ăn nước uống mang theo vẫn còn đầy ăm ắp. Chúng tôi muốn được cứu, được chở vào đất liền bằng tàu lớn vì đêm trước thuyền chúng tôi gặp bão tưởng chìm. Nhưng đời không như là mơ.

Chạy được nửa ngày, hay một ngày, tôi không nhớ hay nói đúng hơn trong cơn say sóng vật vã, tôi không có khái niệm về thời gian, thuyền tôi bị thuyền hải tặc đuổi theo. Ghe nhỏ làm sao chạy thoát thuyền hải tặc vốn là tàu sắt, máy lớn, đánh cá ngoài khơi. Thuyền của hải tặc đâm thẳng vào ghe tôi cốt ý đâm lủng thuyền. Anh tài công của ghe tôi nhanh trí lách lệch chiếc ghe qua một bên. Tàu sắt lúc ấy đã tắt máy, chỉ cái trớn của nó cũng đủ đâm bể cái máy đuôi tôm. Sau khi cướp, bọn hải tặc lùa 22 người Việt đã bị cướp, bắt nhốt từ trước trên tàu của chúng, sang ghe chúng tôi đã có sẵn 79 người. Chiếc ghe loại buôn bán trên sông, dài cũng chỉ chừng 15 mét như chiếc ghe Gourevitch nhắc đến trên báo The New Yorker. Và trên chiếc ghe không máy, chúng tôi 101 người trôi giạt lênh đênh không nhớ là mấy ngày.

Không phải đợt sóng nào cũng đưa ghe hay người chết đuối vào bờ. Có khi thuyền tôi thấy đảo rất gần, tưởng chừng có thể lội nước biển đi bộ vào. Nhưng nhìn thì biết là đảo hoang, vào có sống được không? Vào rồi làm sao ra? Nghĩ như vậy nhưng đâu phải muốn vào là có thể vào. Ghe chúng tôi lại bị cuốn ra ngoài biển khơi. “Ngó trông ra biển mù chong. Thấy người thiên hạ sao không thấy chàng.” Từ trong bờ ngó ra biển thì không thấy chàng mà mình mơ mộng. Ở ngay trên biển ngó chung quanh thì chỉ thấy biển muôn trùng, sóng chập chùng, biển nối vào chân mây. Có lần thấy tàu to, loại tàu chở hàng thương mại to như mấy tòa nhà lầu cao ngất đi ngang, tưởng chừng chỉ quăng cuộn dây là có thể kéo chúng tôi vào bờ nhưng không ai nhìn thấy chúng tôi. Thật ra không ai muốn nhìn thấy chúng tôi. Không phải một chiếc tàu to, mà nhiều chiếc. Hết chiếc này đến chiếc khác. Chúng tôi đi từ thất vọng này đến thất vọng khác. Chúng tôi như một đàn kiến loi nhoi giữa biển khơi trên một chiếc bao diêm. Đám đàn ông bắt đám đàn bà leo lên mui thuyền khóc la vái lạy, với hy vọng họ thấy đàn bà trẻ con họ sẽ cứu. Hừm, người đang cơn tuyệt vọng lúc nào cũng tưởng bở. Bây giờ thì tôi hiểu vì sao họ không cứu người tị nạn.

Chuyện cậu bé Aylan, cùng với mẹ và anh trai đều chết đuối, khi theo bố lội nước vào bờ, không phải là chuyện mới. Người ta chết đuối khi vào gần đến bờ rất thường xảy ra. Vì sóng lớn, phụ nữ và trẻ em sức yếu bị nhận chìm. Người đàn ông cần phải bảo vệ họ thì không thể bảo vệ nổi. Có khi đang nắm tay con hay cõng con trên vai thì té, vuột tay, sóng cuốn đi. Những cuộc đổ bộ thường vào lúc tối trời, đi chui mà, làm gì dám đổ bộ công khai vào lúc có ánh sáng. Không khéo lại bị tàu của người trong nước kéo ngược ra biển khơi như người Việt tị nạn trước kia.

Người đọc thường tự hỏi, tại sao họ, những người vượt biển không chuẩn bị, như đeo phao, làm thuyền cho thật chắc thật tốt, chẳng hạn. Tại vì đây là những cuộc chạy trốn. Họ ra đi trong lúc giả vờ đi đâu đó, và nếu bị chận lại họ không thể chối cãi nếu tang vật bị bắt gặp. Họ không thể xây cất thuyền, mua thuyền công khai. Họ không biết được chuyến đi ở đâu, bao nhiêu người, lên tàu lúc nào. Những điều người ta bảo với họ nhiều khi chỉ là gian dối. Người đọc mắng thầm, cứ mơ mộng hão, đi tìm ảo vọng của thiên đàng, thật ra phần lớn họ chỉ lo chạy cho thoát khỏi địa ngục trần gian.

Tôi thường nghĩ vượt biên mà còn sống là đại phúc rồi. Chuyến vượt biên thay đổi tôi rất nhiều, biến tôi thành một người rất “neurotic.” Chuyện của tôi không có gì đáng kể. Những chuyện đáng kể đã nằm dưới lòng đại dương. Có lần tôi dịch một bài của Matt Steinglass (hay tên gì đó tôi không nhớ chắc, lười tra cứu lại) anh này phỏng vấn một giáo sư kiêm học giả trẻ ở Hà Nội. Tiếng là phỏng vấn, thật ra anh ta đang viết bài để promote quyển sách của O’Brien được in lại sau một thời gian xuất bản khá lâu. Anh chàng than phiền vì sao người Việt Nam không đọc sách về chiến tranh Việt Nam. Không ai nói thật cho anh hiểu là người Việt Nam sống thở và chết trong chiến tranh, họ chán ngấy chiến tranh rồi. Không có tác phẩm hư cấu nào có thể nói hết được cái bi thảm tàn khốc độc ác của chiến tranh, biết quá rồi đọc rất chán. Chuyện vượt biên cũng vậy. Biết rồi, khổ lắm, nói mãi. Nhàm!

Tôi tự hỏi, hình ảnh nào của người Việt vượt biên đã làm động lòng Mã Lai, Phi Luật Tân, Úc, Canada để họ cứu giúp chúng tôi. Những người như tôi khi ra đi rất ngây thơ, có lẽ những người Syria cũng ngây thơ không kém. Họ không biết là nước biển sóng biển đẹp đẽ thơ mộng hùng vĩ như thế cũng có thể tàn bạo lấy đi mạng người, mấy trăm mạng cùng lúc không thương tiếc. Họ chạy trốn cơn tuyệt vọng này để phải đương đầu với cơn tuyệt vọng khác như người Việt đã từng đương đầu. Họ cũng không nghĩ đến sự có mặt của họ sẽ gây tốn kém nhức đầu với nhiều vấn đề cho những người phải nuôi phải chứa họ. Họ chỉ muốn tìm một nơi để sống bình yên, có cơm ăn áo mặc, con cái được đến trường, họ không phải sống trong bom đạn và cái chết. Họ sống trong cái chết bao chung quanh. Họ đi vào chỗ chết để mong tìm cái sống.

Chúa ở đâu? Phật ở đâu? Lòng nhân của con người ở đâu? Họ cần Chúa, Phật, lòng nhân của loài người hơn bao giờ hết.

Thuyền nhân

Ảnh minh họa của Tom Bachtell, trong bài Search and Rescue của The New Yorker

Hôm nay không có jazz

Lẵng hoa bằng gỗ Gỗ khắc thành lẵng chợ lộ thiên
Liên tiếp mấy tuần, tôi đi nghe nhạc jazz vào ngày thứ Năm. Tuần này trời nóng quá tôi lười đi bộ, và hôm ấy tôi ra hơi trễ nên thay vì đến chỗ nghe nhạc tôi ngừng ở khu chợ lộ thiên. Một tuần hai ngày, thứ Ba và thứ Năm, người ta tổ chức chợ lộ thiên. Bán nông phẩm, đồ thủ công mỹ nghệ. Có nhiều gian hàng màu sắc nhưng tôi sợ chụp hình người ta sẽ mắng nên chỉ đứng xa xa mà ngắm. Đây là quảng trường của công ty điện lực, lúc trước có ngân hàng, mỗi lần chụp ảnh là bảo vệ ra đuổi. Sợ làm hại tài sản của công ty.

Tôi thấy một gian hàng bán đồ mỹ nghệ. Gỗ được khắc thành những cái giỏ, tôi gọi là lẵng hoa vì hình dáng của nó, nhưng nó không được để chứa hoa mang hoa. Xếp lại, nó đẹp như một bức tranh gỗ với vân hoa. Mở ra nó biến thành cái giỏ. Tôi nghĩ đến những tính toán trong công nghệ, độ clearance và interference, cái kiên nhẫn của người khắc gỗ.

Ngày trôi qua

Thỉnh thoảng tôi muốn ghi lại những chuyện hằng ngày, nhỏ nhặt thôi, nhưng đánh dấu cuộc sống của mình.

Đi rừng.

Không thể nói là leo núi vì độ cao rất ít. Đường đi, đi mãi trở nên quen thuộc. Mùa nóng đi trong rừng có nhiều bóng cây nên ít nóng nhưng những hôm độ ẩm cao đi rất mệt. Hồ Surprise trong rừng Watchung có rất nhiều loại chim, chụp được một con cò trắng và một con cò xám (hình như là heron, không biết tên nên gọi đại là cò xám), còn hai ba loại chim cổ dài màu nâu hay xám sậm bay nhanh quá chụp không kịp. Có nhiều loại hoa lạ nhưng không lẽ đứng lại chụp hoài bắt ông Tám chờ sợ ông phiền. Trên đầu ngọn cây tiếng ve đã râm ran.

Monkey Mind.

Cũng nhờ các blog bạn giới thiệu, tôi mượn được quyển A History of Reading của Alberto Manguel. Quyển sách dày, tôi chỉ mới đọc một chương The Translator as Reader. Rất hay. Đủ để tôi đặt mua sách cũ trên Amazon. Trang 276 có một đoạn như thế này. Tôi dịch tạm tạm thôi nhé, lúc nào rảnh sẽ gõ nguyên văn vào sau.

“Năm 1836, học giả người Đức Alexander Von Humboldt gợi ý rằng mỗi ngôn ngữ chứa đựng một ‘inner linguistic shape’ (dáng dấp ngầm của ngôn ngữ) và cái ngôn ngữ ngầm này biểu hiện một thế giới (ngôn ngữ) đặc biệt của những người sử dụng nó. Điều này ám chỉ rằng, không có một ngôn ngữ nào có chữ đồng nghĩa thật chính xác (như là sinh đôi) so với một ngôn ngữ khác, và vì thế biến việc dịch thành ra một chuyện khó có thể thực hiện, như thể ghi khắc lên mặt của cơn gió, hay thắt một sợi dây bằng cát. Dịch chỉ có thể hiện hữu như một công việc không theo đúng nguyên tắc cũng không hoàn toàn chính thức, qua ngôn ngữ của dịch giả để giúp đọc giả hiểu biết nguyên tác…”

Chỉ là một đoạn ngắn thôi, nhưng có hai câu ngắn tôi không hiểu hết ý. Ghi ra đây để bạn nào vớ được quyển này thì giúp tôi dịch. Một câu là “coining in the face of the wind” và câu kia ở phần chót của đoạn văn “that which lies irretrievably concealed within the original.” Tôi bị nghẹn ở chữ which. Tôi đoán câu này có nghĩa là ý nghĩa chính xác toàn vẹn (của văn bản gốc) có khi hoàn toàn bị chôn vùi không thể nào thể hiện hết bằng bản dịch.

Tôi đọc cùng một lúc nhiều quyển nên không thu thập được gì. Lang thang trong văn học Nhật, tôi nghe nói nhiều đến Yukio Mishima. Đọc xong quyển “The Sound of Waves” của ông, tôi đọc qua tập truyện “Acts of Worship.”

“The Sound of Waves” là một quyển truyện tình yêu của những người mới lớn. Dễ đọc. Dễ mến. Dấu ấn của Mishima là thích khai thác khía cạnh tình dục. Quyển này hiền nếu so với “The Thirst of Love.” “Acts of Worship” khô khan hơn. Tôi chưa đọc hết chỉ mới đọc bốn truyện ngắn “Fountain in the Rain”, “Sword”, “Acts of Worship” và “Martyrdom”. “Fountain of Rain” nói về hai người trẻ yêu nhau, giận nhau, cãi nhau trong suốt một cơn mưa. Sau đó kết thúc nửa chừng, họ dường như làm hòa hay vẫn tiếp tục lưng chừng. “Sword” nói về một hiệp sĩ, tài ba, chính trực, đáng kính, nhưng vì đòi hỏi tuyệt đối sức lực ở chính mình nên chết bất ngờ giữa lúc đang luyện kiếm. “Acts of Worship” nói về một ông giáo sư học giả, muốn đưa thanh danh của mình vào huyền thoại nên đòi hỏi sự phục vụ tuyệt đối của một người nữ tì. Ông vì danh mà lãng quên hạnh phúc thật của cuộc đời. “Martyrdom” kể chuyện hai cậu học trò đồng tính, truyện táo bạo, kết thúc bất ngờ. Truyện Nhật thời của Yukio Mishima luôn làm tôi nhận thấy cái bất hạnh của người phụ nữ Nhật Bản.

Chủ đề jazz

Tôi tò mò về chủ đề này, nên gom được một số tài liệu, nhạc, phim, và sách. Như đã nói trước đây, những bản nhạc jazz hay lưu truyền từ trước đến nay rất nhiều. Có vài bản tôi đã nghe như Nature Boy, If I Didn’t Care, và mới đây là How long has this been going on? Phim đã xem, Chicago, Blues Paris, Man With a Horn, and Round Midnight. Sách thì chỉ mới bắt đầu “Why Jack Kerouac Matters” của John Leland. Tôi mua quyển sách này lúc Borders bị sập tiệm, để mấy năm chưa đọc, nhân dịp tìm về chủ đề Jazz nhớ lại lục tìm nó ra, chỉ đọc phần jazz thôi là thấy trúng tủ rồi, đúng ngay cái mình muốn biết mà không cần phải đọc “On the Road.” Tôi thử đọc “On the Road” mấy lần, không cảm được. Với tôi, “On the Road” is overrated.

Viết thêm

Hôm trước, hỏi mình nhạc jazz là gì. Nhiều khi nghe nhạc jazz mà không biết là nhạc jazz. Sáng nay sực nhớ ra có hai bài, mình biết là nhạc jazz, đã đăng lên blog để nghe, nhưng quên nhắc đến. Đó là bài “Nature Boy” và “If I Didn’t Care.”

“Nature Boy” có nhiều người hát. Nat King Cole và sau này Celine Dion. Tác giả là eden ahbez, ông này nhất định viết tên mình bằng chữ lower case. Nhạc sĩ viết tiếng Yiddish Herman Yablokoff kiện ahbez cáo buộc tội đạo nhạc, hai bên thỏa thuận một số tiền bên ngoài tòa án. Ngoài ra có người bảo rằng ahbez mượn đỡ một đoạn nhạc của Antonin Dvorak – Piano Quintet No. 2 in A, Op. 81. Bài này xuất hiện ở nhiều phim The Talented Mr. Ripley và Moulin Rouge.

“If I Didn’t Care” xuất hiện trong phim “Miss Pettigrew Lives for a Day” và “The Shawshank Redemption.”

Còn nhiều nữa nhưng tôi chỉ ghi chú lại đây một chút để dành cho mai mốt.

Boyfriend

Nora
Nora aka Tiểu Thư

Không biết bạn thì sao, chứ tôi thì thích được lười biếng. Không có gì tuyệt vời hơn, khi chung quanh mình mọi người đang ngủ, rừng sau nhà lá xanh biếc, trời mát dịu, và tiếng chim reo vang vọng khắp nơi. Và tôi sau mấy tuần lễ bận rộn với chuyện tốt nghiệp đại học của cô út, đi tìm thuê nhà ở tiểu bang khác để cô có thể dọn đến đi làm; hôm nay tôi được lười biếng, ngồi đây thả trí óc đi rong. Cô được đại học John Hopkins nhận vào làm trong phòng thí nghiệm của trường. Hôm qua tôi làm tiệc mừng lễ ra trường cho cô.

Mấy hôm gần đây, có một con mèo lạ màu trắng đen lảng vảng chung quanh nhà tôi. Cá Linh bảo đó là con mèo đực. Có thể lắm, vì Nora là mèo cái nên mèo đực đến tìm. Tuy nhiên Nora đã bị trung tính rồi nên nó nhìn con mèo trắng đen như một kẻ muốn xâm phạm lãnh thổ của nó chứ không như một người tình. Lâu dài rồi hai đứa nó làm bạn có được không? Maybe.

Boyfriend aka Lãng Tử
Boyfriend aka Lãng Tử

Con mèo kêu to lắm, như hú vậy. Tiếng gào của mèo hoang đôi khi nghe rợn cả người. Vì tiếng gào của nó mà tôi muốn đặt cho nó tên Howl hay Allen Ginsberg. Cô út đặt cho nó cái tên gì đó khó nhớ nên cuối cùng hai chúng tôi quyết định gọi con mèo là Boyfriend. Không hẹn mà cả tôi và Cá Linh đều đem thức ăn để ở ngoài sân cho con mèo, dường như trong thâm tâm chúng tôi đều muốn dụ con mèo. Để làm gì? Nuôi thêm một con mèo nữa ư? Cô bạn tôi, hôm qua đến chơi, nghe kể chuyện Boyfriend bảo rằng mèo thường là con nuôi của vài ba gia đình, lê la các nhà khác để ăn xin, ăn chực. Bản năng của con mèo là đòi ăn, chỉ muốn được ăn. Thật không? Có thể lắm. Nora đã béo lắm rồi, nhưng vẫn năn nỉ kèo nài đòi ăn thêm. Cứ nhìn nó chồm lên ghế, khều chân tôi mà thấy thương lắm.

Boyfriend không mấy đẹp trai, nhưng nếu nó muốn tôi cũng sẽ rước nó vào nhà nuôi chung với Nora cho hai đứa có bạn. Nora nhút nhát ít khi lang thang sang nhà hàng xóm. Boyfriend có vẻ mập mạp, có lẽ là con mèo của nhà láng giềng nào đó.

Hồi cuối tuần đi thư viện tôi tha về hai quyển “A Cat, a Man, and Two Women” của Jun’ichiro Tanizaki và “The Sophisticated Cat” do Joyce Carol Oates và Daniel Harlpen tuyển chọn. Bà quản thủ thư viện cười bảo rằng, tuần trước thì chó, bây giờ đến mèo.