Lan man vài phim hay

Tôi xem và xem lại ba phim có kết cuộc giống nhau. “Love Story – Chuyện Tình,” “Sweet November – Tháng Mười Một Ngọt Ngào,” và “Autumn in New York – Mùa Thu ở New York.” Một tình yêu rất lãng mạn, say đắm, nhưng hạnh phúc bị tan vỡ nửa chừng vì người con gái mang trọng bệnh rồi qua đời. Chuyện Tình từ khi ra đời đến nay đã được nhiều quốc gia trên thế giới phóng tác.

Nếu bạn đang lập danh sách 100 phim hay của riêng bạn, tôi xin đề nghị (nếu bạn chưa có phim này trong danh sách) phim Wuthering Heights – Đỉnh Gió Hú. Phim này có nhiều kịch bản, tôi thích phim năm 1939 do Laurence Olivier đóng vai Heathcliff. Tôi hay nói về truyện và phim xưa, thường nhắc đến Anna Karenina và Gone With The Wind – Cuốn Theo Chiều Gió, không hiểu sao tôi không có dịp nhắc đến Đỉnh Gió Hú, một truyện tôi thích có thể nói là hơn cả Jane Eyre, Anna Karenina, và Gone With The Wind.

Tôi nhận ra khuynh hướng đọc của tôi, tôi thích loại truyện và phim, ngoài khuynh hướng cổ điển, còn thể hiện khía cạnh tăm tối và bản chất độc ác của con người. Có lẽ vì thế mà tôi bị cuốn hút vào quyển Wuthering Heights.

Mỗi khi nhắc đến chị em bà Brontë (để giản dị tôi chỉ dùng chữ é) người ta thường nhắc đến bà Charlotte Bronté với quyển Jane Eyre (thật ra bà còn vài cuốn nữa), Emily với Wuthering Heights, và người em út Jane làm thơ nhưng chưa nổi tiếng bằng hai người chị. Cả ba người con gái họ Bronté đều chết trẻ. Charlotte ở tuổi hơn bốn mươi, Emily hơn ba mươi, và Jane chỉ mới hai mươi sáu. Tôi không nhớ Charlotte chết vì bệnh gì, còn Emily và Jane chết vị bệnh lao phổi. Thật là đáng kinh ngạc và khâm phục, một người con gái gia cảnh nghèo khó, bệnh hoạn, yếu đuối như Emily lại có thể sáng tạo ra một tác phẩm đào sâu về khía cạnh tối tăm đầy thù hận và cũng đầy yêu thương với một tình yêu vượt ra ngoài cuộc sống vói đến cõi chết của Heathcliff và Cathy Earshaw trong Wuthering Heights.

Cũng như phim Chuyện Tình, Đỉnh Gió Hú có hằng chục bản khác nhau trên toàn thế giới. Tôi có xem một phim kịch bản khác của Đỉnh Gió Hú (1992) do Ralph Fiennes và Juliette Binoche đóng, thật là vô cùng thất vọng.

Còn hai phim tôi xem đã lâu, nhưng chưa biết tôi muốn làm gì viết gì. “The Lake House – Căn Nhà Trên Hồ” tôi ước gì có thể đọc được truyện bằng tiếng Hàn, hay bản dịch từ tiếng Hàn sang tiếng Anh hoặc tiếng Việt. “Stage Beauty – Mỹ Nhân (Trên) Sân Khấu” tôi mở ngoặc đóng ngoặc chữ (trên) vì nghĩ là chữ trên hơi thừa, nhưng giữ nó để nghe êm tai hơn thì có lẽ lúc nào đó siêng siêng một chút sẽ viết giới thiệu. Phải viết tựa đề của phim vào đây để khi quên còn có chỗ nhắc cho mình nhớ.

Đỉnh Gió Hú (1939) do Charles McArthur và Ben Hetch viết phim bản. Stage Beauty là phim kịch bản của Jeffrey Hatcher. Có lẽ bạn sẽ không thích lắm vì đối thoại trong phim giống như đối thoại trên sân khấu của kịch. Có người nghĩ là lối đối thoại cứng, màu mè lên gân, (cường điệu) nhưng nó rất văn chương, đầy ẩn ý, đòi người xem phải suy nghĩ và thấy thấm thía. Với người không thích kiểu đối thoại này, có thể họ sẽ bị ngủ quên. Nhưng tôi thích lối phim có thoại kịch như thế. Bạn sẽ tìm thấy đối thoại như thế trong các phim xưa như “Cat on a Hot Tin Roof” hay “Street Car Named Desire” chẳng hạn.

Xem Đỉnh Gió Hú, tôi nhận ra tôi chưa hề biết yêu (như những nhân vật chính trong phim) là gì, và thú thật, tôi cũng không muốn yêu hay được yêu giống như họ. Dữ dội quá. Khốc liệt quá. Đôi khi không cần yêu nhiều, yêu nhàn nhạt thôi, chỉ cần đối xử tử tế với nhau, cũng đủ sống chung mấy chục năm.

Hai phim xem gần đây

Viết vài dòng để không quên. Gần đây tôi xem hai phim có cốt truyện hay. “Wakefield” và “Birth.”

“Wakefield” là một phim lạ. Nhân vật nữ chính là Jennifer Gardner, nổi tiếng, quen thuộc. Nhân vật nam chính là Bryan Cranston dường như tôi mới gặp lần đầu. Phim dựa vào truyện ngắn của E. L. Doctorrow. Phim nói về mặt trái (hay bóng tối) của tình yêu. Howard Wakefied có vợ đẹp. Diana là nhân viên của bảo tàng viện và đã từng là vũ công. Hai người lấy nhau 15 năm có hai con. Wakefield yêu vợ nhưng ghen. Trong cơn ghen ông tạo ra cuộc mất tích của chính mình. Thật sự ông trốn trong nhà xe (loại tách rời với gian nhà chính) để lén quan sát vợ. Chịu đói khát, lạnh, bỏ cả công việc, lục thùng rác để kiếm ăn, sống cuộc đời tệ như cuộc sống của người hành khất. Toàn phim là diễn tiến suy tưởng của Wakefield chung quanh sự mất tích của ông và sự quan sát thái độ của vợ con ông.

“Birth” do Nicole Kidman đóng vai chính. Tôi xem nhiều phim do cô đóng, nhưng không có cảm tình với cô và những vai nữ do cô đóng. Không dở, nhưng tôi không thích nếu so cô với Cate Blanchet. Anna (Kidman) có chồng mất sớm. Mười năm sau có người cầu hôn, Anna nhận lời dù vẫn còn thương nhớ người chồng. Ngày lễ đính hôn, có cậu bé tên Sean (cùng tên với người chồng đã chết) xuất hiện. Cậu bé chừng mười tuổi và cậu tự xưng cậu là người chồng cũ của Anna. Cậu biết rất nhiều chi tiết trong quá khứ của Anna, kể cả thói quen, và người thân của cả hai vợ chồng. Anna dần dần tin rằng Sean là người chồng cũ của cô đầu thai trở lại. Truyện thắt gút mở gút rất hay.

Cả hai phim đều nói về những khía cạnh phức tạp của tình yêu.

Mưa mù buổi sáng mùa đông

Tác giả: Nguyễn Phú Hữu

Trích đoạn đầu tiên trong bài thơ “From a Notebook” của James Merrill

The whiteness near and far.
The cold, the hush . . .
A first word stops
The blizzard, steps
Out into fresh
Candor. You ask no more.

Màu trắng xóa từ gần đến xa.
Không khí lạnh, s…u…ỵ…t  . . .
Âm thanh đầu tiên chận lại
Cơn bão tuyết, những bước chân
dẫm lên sự tinh khôi
Chân thật. Bạn không hỏi gì thêm.

Những chuyện xảy ra ở bàn ăn

Bữa ăn quan trọng nhất trong ngày là bữa ăn tối. Cùng ăn bữa tối với nhau hằng ngày là cách giữ hạnh phúc gia đình rất hữu hiệu. Bữa ăn tối quan trọng nhất trong năm xảy ra vào Lễ Phục Sinh, Lễ Tạ Ơn, hay Lễ Giáng Sinh. Còn nhiều ngày lễ lớn của các tôn giáo khác bữa ăn tối rất quan trọng nhưng vì không biết chắc nên tôi không nhắc đến. Đôi lứa yêu nhau khi cảm thấy có thể tính chuyện lâu dài thường đưa ý trung nhân về nhà ăn tối vào những dịp lễ lớn kể trên. Alvy và Annie trong phim “Annie Hall” đã ăn tối vào lễ Phục Sinh với gia đình Annie. Woody Allen đã dùng bữa ăn này để so sánh sự khác nhau trong cách sống và cách suy nghĩ của người trong hai gia đình. Đôi khi bữa ăn trọng đại của gia đình xảy ra vào một dịp khác, có lẽ còn đặc biệt hơn những buổi tiệc trong ngày lễ, chẳng hạn như đám cưới trong phim “Meet The Parents – Gặp Bố Mẹ Người Yêu” hay đám tang trong phim “August: Osage County – Tháng Tám ở Quận Osage.” Cả gia đình và họ hàng tụ họp nên người ta có nhiều chuyện để nói như: ôn lại chuyện quá khứ, chúc mừng sự thành công hiện tại, bàn tính việc sắp tới, hay bày tỏ lòng thương yêu với nhau. Và xin đừng ngạc nhiên, những bữa ăn quan trọng, cũng là nơi có thể xảy ra những cuộc tranh chấp, gièm siểm, thậm chí đến đánh nhau. Trong phim “The Dinner – Bữa Ăn Tối” phim Ý năm 2014, của đạo diễn Ivano De Matteo, hai anh em gặp nhau hằng năm ở một nhà hàng Pháp sang trọng. Người anh là luật sư nổi tiếng và giàu có. Người em là kiến trúc sư, không giàu bằng người anh, nhưng cũng không nghèo. Người anh có một đứa con gái trang lứa với đứa con trai của người em. Hai người trẻ tuổi, một đêm đi chơi về khuya đã cố ý giết một người không nhà. Bữa ăn hằng năm là dịp để hai anh em gặp nhau hàn huyên tâm sự, biến thành thời điểm thích hợp để bàn cách đối phó với chuyện giết người của hai đứa con: nên cho chúng nhận tội hay chối tội. Bữa ăn trong nhà hàng được đạo diễn Ivano De Matteo khai triển khéo léo, khán giả nhìn thấy sự mâu thuẫn ngấm ngầm giữa hai anh em, từ sự ganh tị của kẻ giàu người nghèo, đến quan niệm về công lý và luật pháp, từ cách đối xử với vợ đến cách nuôi nấng dạy dỗ con cái. Khi sự xung đột đến tột độ thảm kịch xảy ra.

Băng đảng Mafia thường dùng bàn ăn ở nhà hàng làm nơi bàn luận chuyện thanh toán đối phương. Và thanh toán đối phương ở bàn ăn trong nhà hàng. Bạn đọc chắc chưa quên phim “The Godfather – Bố Già,” Al Pacino trong vai Michael Corleone, là công dân mẫu mực, từng đi lính Thủy quân lục chiến, trước nguy cơ dòng họ bị băng đảng khác tiêu diệt, đã đi vào hang cọp, một nhà hàng ở Bronx, địa điểm do đối phương chọn. Đang giữa bữa ăn, viện cớ cần đi tiểu, Michael vào phòng vệ sinh, lấy cây súng được “phe mình” dấu trong bình chứa nước, ra bàn ăn giết chết đối phương, sau đó chuồn sang Ý.

Trong phim “Shadow of a Doubt – Bóng Tối Nghi Ngờ” của Hitchcock, có hai nhân vật vốn là bạn của nhau, Joseph Newton và Herbie Hawkins. Cả hai có cùng ý thích, sưu tầm và thảo luận về cách thức giết người được dùng trong tiểu thuyết trinh thám.  Herbie thường tìm gặp Joseph lúc ông bạn đang ăn tối với gia đình, có khi Herbie cũng tham dự bữa ăn và vì thế những phương pháp giết người được bàn luận ở bữa ăn. Nghe thì có vẻ rùng rợn, thật ra những thủ đoạn giết người họ bàn với nhau chỉ là chuyện nghiên cứu của hai nhà thám tử dởm, trong khi ấy Charles, em vợ của bà chủ nhà, đang lập mưu giết cô cháu gái (con của Joseph Newton) vì cô này biết được quá khứ của người cậu, thế mà hai thám tử dởm hoàn toàn không biết.

Bữa ăn làm tôi căm giận nhất là bữa ăn trong phim “The Return of the King – Ngày trở về của Vua,” phim cuối trong bộ phim ba tập “The Lord of The Rings – Nhẫn Chúa” của đạo diễn Peter Jackson, người vừa lên tiếng “đả thương” Harvey Weinstein, kẻ ngã ngựa vì bị cáo buộc đã uy hiếp, lạm dụng, và tấn công tình dục cả chục (hay hơn) nữ minh tinh thượng thặng trên màn ảnh Hoa Kỳ.

Denethor
Denethor và dòng rượu trên cằm
Denethor ăn còn Pippin đứng hầu
Pippin đứng hầu trong lúc Denethor ăn

Denethor, là vị quan chấp chính đang trấn thủ thành Condor. Ông có tham vọng soán ngôi nên sai người con trai lớn, Boromir, đi tìm nhẫn chúa mang về cho ông. Boromir có tài lại rất hợp tính bố, nhưng chẳng may bị giết trong lúc bảo vệ chiếc nhẫn đang được Frodo mang đi hủy diệt. Faramir là con thứ hai của Denethor, tài năng chẳng kém gì người anh, nhưng bản tính nhân từ nên không được lòng bố. Bắt được Frodo, biết chàng hobbit này đang giữ nhẫn chúa nhưng Faramir thả Frodo đi để phá hủy nhẫn chúa mang lại hòa bình cho nhân loại. Quyết định của Faramir làm Denethor nổi giận. Khi quân đội của Sauron bao vây thành với số quân đông gấp nhiều lần, Denethor ra lệnh cho Faramir ra quân để chuộc tội, dù biết làm như thế là thí mạng con mình. Trong khi sắp sửa nước mất nhà tan, Denethor ra lệnh dọn tiệc cho ông, và còn bắt hobbit Pippin phải hát hầu trong lúc ông ta đang ăn. Bữa ăn gồm có thịt, cà anh đào, và nho tươi. Bài hát của Pippin là bài hát buồn thảm than khóc cho vận mệnh nước nhà sắp rơi vào tay quỷ dữ. Sauron nhai rau ráu. Nước của những quả cà tươi, và rượu chảy thành dòng đỏ đậm như màu máu trên môi trên cằm Denethor. Bữa ăn của Denethor là bữa ăn sang trọng, trong mùa đông, giữa lúc chiến tranh đến lúc cực độ, dân đang đói khổ mà quan cai trị vẫn còn có thịt nướng, rau quả tươi, và rượu. Đạo diễn Jackson cho luân phiên hình ảnh ứa lệ của Pippin và giọng hát thê lương, cái nhai rau ráu của Denethor với giòng rượu đỏ nhễu nhão xuống cằm, và đội quân Faramir đang phi ngựa hứng lằn tên của Orcs. Ông đã dùng “setting” bữa ăn, và cách ăn để nói lên sự kém sáng suốt và thiếu đạo đức của nhân vật một cách tuyệt diệu. Vì tôi ngưng từng khung ảnh để lấy cho được ảnh của Denethor với giòng rượu trên cằm, tôi khám phá ra một điều thú vị. Đó là khi thu cận cảnh thì miếng gà màu nâu vì nướng, nhưng trên bàn tiệc thì miếng gà màu vàng như gà luộc. Có lẽ vì đoạn phim được quay ít nhất là hai lần ở thời điểm khác nhau.

Hẹn lần sau sẽ đưa bạn đến với hai bữa ăn được dùng để nói lên thảm kịch của gia đình.

Xem phim A Quiet Passion

Oh life oh home
Diễn viên trong ảnh là Emma Bell trong vai Emily Dickinson khi còn trẻ

Mới xem qua một lần, chưa kịp ghi chú, tìm và đọc thêm tài liệu để có thể review hay giới thiệu với các bạn phim A Quiet Passion (Mối Đam Mê Thầm Kín). Và tôi đang bận rộn với một số công việc dở dang, thêm nữa là con gái út tối nay về và sẽ ở chơi cho đến hết lễ Tạ Ơn. Con về thì vui, và phải nấu cho con ăn tươm tất hơn, nên không biết bao giờ mới có thể viết về phim này một cách chỉnh chu. Tôi ghi lại vài nét chính, để cho nhớ về sau có thể quay trở lại với phim này.

Tôi đặt phim này ở thư viện, có ngay lập tức. Có nghĩa là không ai dành với tôi, và như thế có nghĩa là phim không thuộc loại “đắt hàng.” Sự thật là, cũng đúng như tôi nghĩ. Nếu bạn có khuynh hướng thích xem phim sôi động, hấp dẫn, éo le, thì đây không phải là một phim cho bạn mong đợi. Phim này kén người xem. Bạn phải có sở thích đặc biệt, hiểu biết và thẩm thấu nghệ thuật phim ảnh hơi nằm ngoài thị hiếu bình thường.

Phim khô khan, cách diễn xuất cứng ngắc, gần như kịch trên sân khấu, lời đối thoại rời rạc như đọc chứ không nói (với cách lên giọng xuống giọng như người ngoài đời bình thường). Đó là những nhận xét (gần như thiếu thiện cảm) về phim này. Để thích nó bạn phải đặt mình ở một vị trí khác, như sống trong thời đại nghiêm khắc của bà Dickinson để cảm được cuộc sống cũng như tâm hồn nhân vật. Tôi nghĩ đạo diễn Terence Davies cố ý làm phim như thế. Cynthia Nixon thì khỏi phải nghi ngờ gì về tài diễn xuất của nàng. Bạn sẽ không nhìn thấy dấu vết gì về nhân vật Miranda Hobbes trong “Sex and the City.” Tôi có cảm tưởng Cynthia Nixon chính là Emily Dickinson trong trí tưởng tượng của tôi.

Tôi thích quần áo của nhân vật. Đẹp và sang. Những tấm vải the, những vạt đăng ten, màu xanh lục, xám, xanh rêu trang nhã; và ước gì tôi có những cái áo trắng mà Cynthia Nixon mặc trong lúc đóng vai Emily Dickinson vào lúc gần cuối đời để mặc đi làm. Tôi thích mặc đồ trắng nhưng thường chỉ mặc lúc mùa hè. Tuy cách đối thoại khô cứng nhưng lời thoại rất hay, “witty,” thông minh, hiểu biết, ý nhị, thâm trầm cả trong lúc khôi hài hay đối chọi nhau chan chát.

Dickinson không dễ dịch vì không dễ đọc. Nhiều bài đơn giản nhưng mình vẫn phải tự hỏi là mình có hiểu đúng ý của bà không. Năm 2018 tôi sẽ đi thăm viện bảo tàng Emily Dickinson. Coi như đây là một cái New Year resolutions vậy nhé.

Buổi chiều hôm qua đi làm về, trong lúc chờ thang máy, tôi nghe bà đưa thư và ông lao công quét dọn cãi đùa với nhau. Bà đưa thư người Hispanic mới nhập cư, nói tiếng Anh còn bập bẹ với giọng ngoại quốc đặc sệt. Ông lao công người Mỹ nói hơi ngọng và biết đọc rất ít. Bà hỏi, Who do you think you are? Ông trả lời, I am nobody! (Bà hỏi, ông nghĩ ông là ai chứ, ngầm bảo ông chẳng có quyền hành gì đừng có lớn lối). Ông trả lời, tôi chẳng là ai cả, chỉ là một kẻ vô danh. Nghe ông bà cãi nhau tôi chợt nghĩ đến một bài thơ của Emily Dickinson.

I’m Nobody! Who are you?
Are you – Nobody – too?
Then there’s a pair of us!
Dont tell! they’d advertise – you know!

How dreary – to be – Somebody!
How public – like a Frog –
To tell one’s name – the livelong June –
To an admiring Bog!

Trong phim này, Emily Dickinson đọc bài thơ khi đang bế đứa bé, con của người anh trai. Tôi đoán chắc, rất nhiều người trong các bạn, kể cả tôi, ít nhất cũng một lần nghĩ về mình qua câu thơ. I am a Nobody!

 

Xem phim Sea of Trees

Tôi xem bốn phim. “Silence,” “Light Between Oceans,” “Nocturnal Animals,” và “Sea of Trees.” Cả bốn phim tôi đều ngần ngừ không muốn xem nhưng xem xong rồi thì thấy phim nào cũng hay. Nếu phải chấm điểm tôi cho ba phim nhắc đến đầu tiên bốn điểm trên năm. Riêng phim Sea of Trees tôi cho bốn điểm rưỡi vì ý thích cá nhân. Chẳng hiểu duyên cơ gì, tôi cứ đọc sách xem phim nếu không của người Nhật thì cũng nói những chuyện liên quan đến Nhật.

“Nocturnal Animals” do Tom Ford đạo diễn nên phim có thiết kế theo kiểu đương đại, diễn viên ăn mặc theo thời trang rất sang, đẹp lộng lẫy. Amy Adams trong phim này trông khác hẳn cô nàng khoa học gia về ngôn ngữ học trong phim Arrivals.

“Silence” do Martin Scorsese đạo diễn dựa vào truyện “Silence” của Shūsaku Endo. Quyển truyện này tôi mượn ở thư viện, đọc vài ba trang, đem trả, mượn lại, vẫn không thể đọc. Trước đó tôi đọc một truyện ngắn khác của Endo, thấy thích, nghĩ là có thể đọc tiếp. Bây giờ thì không nhớ ra truyện ấy nói gì, tựa đề là gì. (Tuổi già thật là khó ưa. Thậm chí những điều tôi viết ra trong hai ba ngày là đã quên.) Cuối cùng tôi xem hết cuốn phim và tôi mừng là tôi đã xem. Có lẽ tôi sẽ mượn lại quyển sách và lần này sẽ đọc cho đến hết. Ông Scorsese khi làm cuốn phim này đã xin gặp Đức Giáo Hoàng, có lẽ vì những chi tiết trong phim, làm cho đạo diễn e ngại bị xem là phỉ báng tôn giáo. Một trong những lý do khiến tôi muốn xem phim là vì, có lẽ, có một diễn viên tôi thích. Liam Neeson. Well, Andrew Garfield is also a plus.

Trong “Sea of Trees” tôi suýt không nhận ra Matthew McConaughey. Hoàn toàn mất vẻ sáng láng hào hoa phong nhã, trong vai Arthur Brennan, trông anh chàng tàn tạ khắc khổ. Arthur chán đời, mua vé máy bay một chiều sang một khu rừng đặc biệt ở gần núi Phú Sĩ, để tự tử. Aokirahara Forest, còn được gọi là suicide forest, là khu rừng nổi tiếng là nơi hoàn hảo để tìm cái chết. Khu rừng này rất rộng lớn, như một cái biển và nước biển được thay thế bằng cây của rừng. Do đó phim có tựa đề “Sea of Trees.”

Thoạt tiên thấy có diễn viên Nhật, Ken Wantanabe, đóng chung với Matthew McConaughey, và bối cảnh trong phim là rừng của Nhật tôi đoán do người Nhật viết phim bản. Tuy nhiên vào phim một lúc tôi nhận ra đây là cách viết phim bản của người Mỹ. Làm cho người ta quan tâm hay yêu mến nhân vật. Nhiều chi tiết được đưa vào phần đầu trong phim (thắt gút) về sau dùng thật tài tình (mở gút), đúng dịp, đúng lúc. Tạo chướng ngại vật, đẩy nhân vật vào trong tình trạng gian nan. Mỗi nhân vật đều có xung đột của họ. Sau khi giải quyết xung đột, mỗi nhân vật đều thay đổi, “trưởng thành.”

Arthur Brennan khi vào rừng, ngoài ống thuốc tự tử còn có một phong thư. Phong thư này gửi đến Joan, người vợ của Arthur. Joan vừa mới qua đời và là một trong những nguyên nhân đưa đến chuyện tự tử của Arthur. Về sau chúng ta biết trong phong thư là quyển sách thiếu nhi mà Joan thích nhất. Arthur chăn gối với Joan bao nhiêu năm, không biết vợ thích màu gì, thích quyển sách nào. Nhiều người trong chúng ta cũng như vậy. Vợ chồng sống với nhau mấy mươi năm thật ra người này không hề biết ý nghĩ của người kia.

Cuốn phim này không được khán giả yêu thích. Trong liên hoan phim (hình như ở Cannes) đạo diễn Gus van Sant đã bị “boo” (la ó để chê bai). Sách báo review phim cũng chê. Khán giả nói chung không thích phim có khuynh hướng u ám. Phim cũng có những chỗ không được lô gích và cường điệu hơi quá đáng. Tuy nhiên, tôi không chê phim vì những chi tiết này, nó phải có để được sự chú ý của khán giả rồi sau đó truyền tải những điểm quan trọng mà người viết phim bản và đạo diễn muốn truyền đạt.

Tôi thích phim này có lẽ vì tôi hay suy nghĩ chuyện sống chết. Như đã nói trước đây, tôi chết hụt nhiều lần nên rất quan tâm đến sự sống và cái chết. Bạn đã thấy tôi tự hỏi sống là gì. Tôi không muốn nghĩ rằng sống “chỉ” là nuôi dưỡng, kéo dài (càng dài càng tốt) sự sống mà chúng ta được ban cho từ lúc chào đời.

Khi Arthur vào rừng, uống hai viên thuốc màu xanh, chưa kịp uống hết cả ống thuốc, thì bắt gặp Takumi đang lảo đảo tìm đường đi ra khỏi rừng. Ông lạc lối đã hai ngày, cổ tay ông đẫm máu vì những vết cắt. Thay vì nằm chờ cái chết đến ông bỗng đâm ra nhớ vợ con và muốn tìm đường về nhà. Thấy ông quẩn quanh một cách tuyệt vọng Arthur tìm cách giúp ông, nhưng cũng bị lạc luôn. Takumi tự tử vì bị giáng chức. Arthur không hiểu được tại sao người ta lại muốn chết chỉ vì bị giáng chức trong công việc làm.  Takumi nói “Tôi không muốn chết. Tôi chỉ không muốn sống!” Arthur hỏi, như thế thì có khác gì? Suy ngẫm một chút tôi thấy động từ sống và động từ chết có cái chủ động và tích cực của nó. Dĩ nhiên chúng ta thừa hiểu rằng người Nhật tôn trọng danh dự hơn là mạng sống.

Sự u ám của phim được làm dịu bớt bởi một chút dí dỏm. Buổi tối để sưởi ấm, hai người đốt lửa trong rừng. Ở bìa rừng có nhiều sợi dây màu được cột để đánh dấu phòng hờ người đi tìm cái chết, sau khi suy nghĩ, đổi ý và muốn trở về. Ngày xưa, truyện cổ tích của anh em nhà Grimms, Hansel và Gretel, hai đứa bé nhà nghèo bị bố và mẹ ghẻ mang vào bỏ trong rừng, đã rải đá cuội và bánh mì vụn để tìm dấu trở về. Arthur bảo rằng anh là người sử dụng mẩu bánh mì chứ không dùng dây màu (vì anh không muốn trở về.) Takumi nói “You are handsome!” Đây là một cách chơi chữ mà tôi không thể truyền đạt ngắn gọn. Câu nói có nghĩa là “anh rất đẹp trai” làm Arthur ngỡ ngàng. Takumi nói “Handsome and Gretel” khiến Arthur chợt hiểu ra, Takumi muốn nhắc đến nhân vật Hansel, cậu bé trong truyện cổ tích đã dùng vụn bánh mì để đánh dấu đường về. Là người Nhật, Takumi có thể nhớ lầm, hoặc là phát âm sai chữ Hansel. Arthur đã bật cười. Còn tôi cười to hơn vì nó gợi tôi nhớ những lần phát âm sai làm xấu hổ muốn chết luôn cho rồi của tôi. Chưa bao giờ tôi xem một phim có không khí nặng nề lại làm tôi cười to như thế.

Tôi ngưng ngang ở đây vì thấy không muốn viết tiếp. Cũng không muốn xui các bạn nên xem phim này. Tôi viết chỉ vì nó gợi tôi suy nghĩ về chuyện sống nhiều hơn là chuyện chết, chuyện quan hệ giữa vợ chồng, người ta ở với nhau lâu năm, có thật là bởi vì tình yêu không?

Post trước sửa sau. Bây giờ tôi phải chuẩn bị đi làm.