Đôi tình nhân muôn đời hôn nhau

Romeo và Juliet

Đây là ảnh của đôi tình nhân Romeo và Juliet. Họ đứng hôn nhau muôn đời trước hí viện Delacorte Theater trong Central Park nơi trình diễn kịch của Shakespeare hằng năm vào mùa hè. Khách xem tự do không phải trả tiền. Tùy theo sự hảo tâm của khán giả ai muốn giữ truyền thống văn hóa thì đóng góp. Vì là nơi xem diễn kịch free nên không dễ gì có vé vào cửa. Người muốn xem kịch có thể đăng ký online may nhờ rủi chịu, hay xếp hàng trước cửa nhà hát từ sáng sớm (6:30 am) đến trưa thì người ta phát vé, đến tối (8:00 pm) mới diễn kịch. Hằng năm người ta đều qui tụ được những diễn viên thượng thặng để đóng kịch Shakespeare như Al Pacino, Sam Waterston, v. v… . Ai không muốn đứng xếp hàng, nhưng muốn xem kịch có thể tặng ban tổ chức kịch một số tiền trước khi mở mùa kịch, năm có Al Pacino diễn người xem chỉ cần tặng ba trăm Mỹ kim thì sẽ được hai vé vào xem kịch. Ba trăm Mỹ kim ở New York City thì không phải là một con số to tát gì. Những vở nhạc kịch ở Broadway cũng có giá tương đương. Continue reading Đôi tình nhân muôn đời hôn nhau

Chuyện nhảm đầu tuần

Tân Văn 79

Nhận được báo Tân Văn cả tuần rồi, đọc xong rồi, hôm nay xin cảm ơn Tòa soạn báo Tân Văn, và Đại ca. Số báo này có bài Soi Tìm Hiện Tượng Xã Hội của bác Túy và bài Giữa Ngựa và Người của Nguyễn thị Hải Hà.

Đọc bài Giữa Ngựa và Người, phần Ann Patchett bàn luận về thái độ của con ngựa trắng Mollie trong Trại Súc Vật (Aninal Farm) của George Orwell, tôi nhận ra sự ngoan ngoãn ngây thơ của tôi, một phụ nữ lớn lên trong xã hội Á Đông. Tôi thấm nhuần lối suy nghĩ phải hy sinh cho xã hội, hy sinh cho tha nhân, gói mình trong khuôn khổ đạo đức xã hội của người khác đặt ra cho mình. Phụ nữ Tây phương họ suy nghĩ khác. Ai mà bắt họ hy sinh hạnh phúc hay lạc thú cá nhân vì quyền lợi của người khác là họ đặt dấu hỏi ngay tức khắc. Continue reading Chuyện nhảm đầu tuần

Vĩnh Long và Hà Nội trong hồi tưởng của Marguerite Duras

Vĩnh Long 
Người dịch: Bà Tám
Trích từ tác phẩm Practicalities của Marguerite Duras

Có Vĩnh Long, và còn có Hà Nội. Tôi đã nói về Vĩnh Long, nhưng chưa hề nói đến Hà Nội. Như tôi đã nói trước đây, Vĩnh Long là một vùng biên giới hẻo lánh của vùng Đông Nam Á. Bạn đã ở ngay trên Tràm Chim, một cánh đồng có nhiều sông ngòi dẫn nước lớn nhất thế giới, theo ý tôi. Continue reading Vĩnh Long và Hà Nội trong hồi tưởng của Marguerite Duras

Tìm Tình Giữa Chợ

Bài đã xuất hiện trên trang mạng Gió – O. Tìm Tình Giữa Chợ

Từ xưa đến nay, chợ búa vẫn là chuyện của phụ nữ, và binh đao vẫn là chuyện của nam nhi.  Trai khôn tìm vợ chợ đông. Gái khôn tìm chồng giữa chốn ba quân. Người miền núi có những phiên chợ tình để trai gái gặp nhau. Muốn thành công trong việc lập gia đình phải tìm người yêu ở đúng chỗ. Trịnh Công Sơn viết: “Tìm tình, tìm tình trong nắng em gặp cơn mưa. Ô hay tìm tình giữa ngọ buồn lưa thưa về. Tìm tình, tìm tình trên núi em gặp mây bay. Ô hay, tìm tình giữa chợ tình phai mất rồi.” Té ra, chàng nghệ sĩ này, tài hoa nhưng lận đận, cũng phải đi tìm tình giữa chợ. Continue reading Tìm Tình Giữa Chợ

Blog và Tôi – p. 2

Blog và Tôi – Nguyễn thị Hải Hà

Bài đã đăng ở Thư Quán Bản Thảo số 57. Bạn đọc có thể đọc toàn tạp chí TQBT 57 pdf ở blog Phay Văn và Gió O.

Năm 2009 Hoàng Anh, bạn học thời Trung học với tôi mở blog trên yahoo. Để đọc blog và xem ảnh trên yahoo tôi cũng mở blog yahoo. Cùng bị rủ rê với tôi có “ông già hưu trí” và một người bạn học khác lấy tên Hoalan. Anh bạn này ghép tên của bà xã với tên anh và từ đó tôi bắt đầu viết blog bằng tiếng Việt. Ông già hưu trí trong một dịp về thăm Việt Nam và quen với Hoàng Anh. Khi trở lại Pháp Hoàng Anh ông vẫn giữ liên lạc bằng thư từ. Lúc ấy tôi không biết, ông già hưu trí đã viết rất nhiều, đã có sách xuất bản, và có cả một trang riêng đăng truyện của ông. Còn tôi chỉ viết blog lèng èng. “Ông già hưu trí” là nhà văn Đặng Đình Túy. Phần còn lại thì ai đọc blog của tôi cũng biết rồi. Continue reading Blog và Tôi – p. 2

Blog và tôi – p.1

Blog và Tôi – Nguyễn thị Hải Hà

Bài đã đăng ở Thư Quán Bản Thảo số 57. Bạn đọc có thể đọc toàn tạp chí TQBT 57 pdf ở blog Phay Văn và Gió O.

@  @ @

Năm 2004, Ách Cơ con gái đầu lòng của tôi đang học lớp 9. Trường của Ách Cơ khuyến khích học sinh luyện cách viết bằng cách mở một blog và viết bất cứ cái gì học sinh muốn. Ách Cơ bị xung đột gay gắt giữa cách nuôi dạy của bố mẹ Việt, nghiêm khắc và gò bó, và môi trường văn hóa Hoa Kỳ nghiêng về sự phát triển cá nhân đòi hỏi nhiều tự do đã có chiều hướng nổi loạn. Cô nàng muốn được như bạn bè muốn có “boyfriend,” được đi “mall,” được “go out” và những chuyện tương tự. Continue reading Blog và tôi – p.1

Tuần trước

Tuần trước tôi đi làm sưu (tình nguyện) ba ngày. Thứ Ba buổi sáng ngồi chờ xe lửa, trăng tròn vàng sậm, ở hướng Tây, to như một cái nia. Thấy hối tiếc là đã bỏ cái máy ảnh ở nhà. Thứ Tư, vẫn bỏ máy ảnh ở nhà, thấy có con sóc gầy, bước từng bước đến gần, ngồi trước mặt tôi và đi tè. Xong rồi nó chạy ra thùng rác gần đấy hai tay ôm một mẩu thức ăn màu vàng nhắm nháp. Nguyên tắc đầu tiên của những người học nhiếp ảnh là đi đâu cũng phải mang máy ảnh theo. Thứ Năm, có máy ảnh, trời nhiều mây, không thấy mặt trăng. Chờ mãi không thấy chú sóc đã tè trước mặt mình hôm trước.

Continue reading Tuần trước

Thư viện chưa xây

thư viện 2

thư viện 1

Hôm trước blog về một thư viện xây cất lâu đời (thế kỷ 19) bên Anh quốc, được kết hợp với khách sạn để dụ dỗ những con mọt sách đi du lịch. Nói về thư viện thì ở Hoa Kỳ có rất nhiều thư viện nổi tiếng, vì kiến trúc đẹp, nhiều sách, nhiều tài liệu cổ có giá trị. Một trong những thư viện ấy là Thư viện Quốc hội ở Washington DC. Còn ở gần chỗ tôi ở thì có thư viện của thành phố New York. Cả hai thư viện này tôi đều có ảnh nhưng muốn tìm phải mất một ít thì giờ, mà tôi thì đang lười. Tất cả những thư viện tôi vừa nhắc đến đều là những thư viện có lối kiến trúc cổ.

Bây giờ sẵn đây thì nói về một thư viện rất mới, chưa được xây cất mà chỉ còn là một cái trứng đang thời kỳ thai nghén. Thành phố New York đang dự định xây một chi nhánh mới để thay thế một chi nhánh cũ có tên là Donnell Library Center. Thư viện mới sẽ có ba tầng nằm trong một cao ốc. Hai tầng của thư viện sẽ nằm dưới mặt đất. Giá xây cất ước tính là 20 triệu.

Thư viện mới này không còn mang tính chất thư viện cổ truyền, nơi đến để học, nghiên cứu, nghiêm trang, im lặng. Thư viện mới sẽ mang tính chất vui chơi, một trung tâm văn hóa để gặp gỡ bàn thảo giải trí và dĩ nhiên cả nghiên cứu nghiêm túc. Người dùng thư viện khi bước vào sẽ gặp những bậc thềm để ngồi chơi, những bậc này cũng là bậc thang dẫn xuống tầng hầm, kết hợp thành một hí viện có 144 chỗ ngồi, người ta sẽ xem phim hay kịch hay trình diễn nhạc. Và cũng là nơi người ta trò chuyện,  viết lách, hay đọc sách.

Hai tấm ảnh phía trên là thư viện đang thành hình.

Nguồn: The New York Tímes

Tưởng niệm nhà văn Võ Hồng (1921 – 2013)

Tôi nhận được e-mail của nhà văn NLU báo tin nhà văn Võ Hồng qua đời rất sớm. Có thể nói nhà văn Võ Hồng là một trong số rất hiếm nhà văn được yêu chuộng bởi nhiều độc giả trước và sau năm 1975. Tôi biết là sẽ được đọc tin này trên hầu hết các báo mạng và blog Việt ngữ nên không nghĩ đến chuyện viết vài lời tưởng niệm. Tôi không có cơ duyên quen biết ông hay gia đình ông, tuy nhiên một bạn văn khác lại bảo, bà đã đọc Võ Hồng, nên viết theo cảm nhận của người đọc. Để tưởng niệm ông.

Thú thật tôi không phải là người đọc có đẳng cấp. Tôi yêu văn học nhưng không là nhà văn, tôi không kiếm sống bằng nghề văn, vì thế cái đọc của tôi cũng chỉ lõm bõm bạ đâu đọc đấy, cái gì vớ được thì đọc. Hôm trước chị Gió O rủ viết về chủ đề Võ Phiến nên tôi được dịp đọc nhiều tác phẩm của Võ Phiến. Tuy nhiên trước khi tôi được biết về nhà văn Võ Phiến tôi đã biết tiếng nhà văn Võ Hồng. Ở đây tôi xin thanh minh là tôi không dám so sánh về sự nổi tiếng của hai nhà văn lớn, tôi biết tiếng nhà văn Võ Hồng có lẽ là nhờ sự đa dạng của chủ đề ông chọn để khai thác trong đó có tình gia đình. Tôi cũng không có cơ hội đọc nhiều tác phẩm của ông. Hầu hết những tác phẩm nổi tiếng của nhà văn của Võ Hồng được đăng tải trên trang mạng http://www.vohong.de/. Tôi tự bảo là sẽ vào trang này, đọc cho bằng hết những tác phẩm này để học viết văn, nhưng tôi vì cuộc sống đòi hỏi, và cũng vì mới bước vào làng văn chương nhìn đâu cũng thấy toàn hoa thơm cỏ lạ nên la cà mãi vẫn chưa đọc được mấy tác phẩm của ông. Truyện đầu tiên của Võ Hồng tôi đọc và nhớ mãi đến giờ là Trận Đòn Hòa Giải. Quyển này tôi nhớ được in theo lối khổ nhỏ khoảng một phần hai trang giấy 8×11, giấy mỏng, trông giống như một tập thơ.

Lần đầu tiên tôi đọc Trận Đòn Hòa Giải, tôi khóc. Mấy mươi năm sau, đầu hai thứ tóc đọc lại tôi vẫn khóc. Tôi không nhớ tôi đọc quyển này mấy lần, có thể nói ít nhất là ba lần. Lần nào cũng cảm động, mỗi lần đọc lại nhận ra một cái gì đó trong lòng mình.

Nhân vật kể chuyện (narrator) trong Trận Đòn Hòa Giải là một thiếu nữ tên Hằng. Cô có hai đứa em. Em trai kế tên Hào. Em gái út tên Thủy. Cả ba đều còn đang tuổi đi học. Cô chị là học sinh Trung học. Cô em út là học sinh Tiểu học. Mẹ mất sớm, bố gà trống nuôi con.

Những lần đọc đầu tiên tôi cám cảnh những đứa trẻ mồ côi. Tôi hình dung cô bé út nhõng nhẽo đáng yêu. Rồi tôi thấy xót xa cho ông thầy giáo mồ côi vợ. Sau đó tôi tưởng tượng đến nỗi bơ vơ của cô gái lớn đến tuổi trưởng thành không có mẹ để tâm sự hay trao đổi những thắc mắc trong sự thay đổi của thể xác. Bây giờ đọc lại tôi thấy truyện bắt người đọc nhìn lại lòng mình, nhìn lại cách cư xử của mình với người chung quanh. Có những suy nghĩ hành động của mình lúc ấy mình thấy là mình đúng mình phải nhưng về sau càng nghĩ thì càng thấy vướng víu. Không hẳn là sai nhưng mà có cái gì đó không hay, không đúng, không rộng lượng hay cao thượng. Thấy cái ghen tị, thấy cái nghĩ xấu của mình dành cho người thân, thấy cái mình bắt trẻ con phải hiểu và hành động như người lớn. Và trời ạ, cái đánh đòn, cứ nghĩ mình đánh con là mình dạy con là muốn cho con nên người. Thật ra, có phải mình dùng đòn để đạt kết quả mình muốn cho nhanh chóng, trong giây phút, để con không quấy rầy mình, để cuộc sống của mình được dễ dàng trong tạm bợ.

Tôi không được cái diễm phúc làm học trò của nhà văn. Nhưng truyện của ông, chỉ một truyện tôi đọc trong rất nhiều truyện ông viết, là một bài học cho tôi. Mấy mươi năm sau đọc lại tôi vẫn chảy nước mắt, có khi vì hối lỗi với con mình.

Văn của ông bao giờ cũng có vẻ nhân hậu. Đọc ông tôi luôn nhìn thấy sự phải trái của cuộc đời. Cám ơn ông. Ông yên nghĩ nhé.

Bánh Mì

Thức ăn Việt Nam nổi tiếng trên thế giới đã lâu đời. Từ người Pháp, người Mỹ, và cả nhiều quốc gia trên thế giới nếu thử qua đều bị phở, chả giò, gỏi cuốn chinh phục. Hồi còn đi học, chị bạn tôi có lần ca tụng chả giò của tiệm Tàu; cái thứ chả giò úng dầu ngán ngậy, bên trong có lèo tèo mấy con tôm bóc vỏ làm sẵn của siêu thị và bắp cải thái nhuyễn. Bạn tôi có tổ chức một bữa tiệc, tôi muốn khoe thức ăn Việt Nam nên cuốn chả giò, chiên tại nhà bạn, đem ra ba đĩa to đầy vun; thế mà nhoáng một cái là sạch béng. Ban đầu họ cầm cuốn chả giò lên, ngại ngùng. Cắn một miếng, nóng quá, xuýt xoa, tợp miếng nữa, rồi tiếp tục. Một cuốn chả giò lớn của người VN mình, cắn làm ba miếng là hết. Cuốn nhỏ, cắn làm hai.  Cuốn chả giò của người Tàu to còn hơn cổ tay tôi, nhìn đã bắt ớn. Một cậu bé chừng bảy tám tuồi ăn một hơi hai ba cuốn chả giò rồi nhìn người mẹ và hỏi, tại sao mẹ không làm món ăn như thế này.

Rich, một người bạn học, dẫn vợ đi lang thang trong phố Tàu New York, thấy nhà hàng VN, vì biết tôi là người VN nên dẫn vợ vào ăn thử. Thích gỏi cuốn, nhưng với món bánh cuốn anh bảo rằng nước mắm ăn ngon nhưng cái mùi của nó “funny.” Tuy funny có nghĩa là tức cười, nhưng trong trường hợp này anh bảo nó kỳ kỳ.

Ông boss cũ của tôi có lần tôi đãi tiệc cho ông ăn phở và lần khác cho ông ăn bún riêu, ông thích phở nhưng không mặn mà cho lắm với món bún riêu. Khi ăn, dù tôi đã cẩn thận mang thìa và nĩa cho ông, ông vẫn đòi dùng đũa. Và khi ăn hết bánh phở ông nhất định bưng tô nước lèo lên húp chứ không dùng thìa. Không biết ông lấy từ đâu cái ý nghĩ là ăn phở hay bún có nước đúng kiểu Việt Nam là phải bưng tô lên để húp chứ không dùng thìa. Đúng là vớ vẩn. Nhưng cái ông boss này cứ nghĩ ông là người đầy văn hóa, hiểu biết, ông ương ngạnh và có tunnel vision, cái gì ông cũng nghĩ là ông giỏi hơn, hiểu biết hơn, nên ông chẳng bao giờ biết ngoài cái giới hạn thiển cận sai lầm của ông, nên tôi cứ để ông bưng tô mà uống. À còn quên nói là ông này đặc biệt rất thích nước mắm pha ngọt, ông cứ bưng chén nước mắm lên sì sụp húp.

Con tôi, vẫn thường nổi dóa khi mấy đứa bạn của tụi nó hỏi “mày Việt Nam hả, mày có biết phở không?” Mỗi lần rủ nhau đi ăn cơm hàng cháo chợ chúng lôi con tôi theo để được “tám” về phở. Con tôi thỉnh thoảng dẫn bạn về cho ăn phở mẹ tao nấu. Tôi nấu phở cũng thanh đạm giản dị như phở nhà nghèo, thường là bò tái, thỉnh thoảng có sách, hay bò viên. Vớt bớt nước béo, gia vị thường chỉ có gừng nướng, hành nướng và hồi. Hành ngò rau quế ngò tây tương đen ớt đỏ. Nhưng trẻ con ở Mỹ mà, làm sau đủ tinh tế để khám phá sự vắng mặt của những gia vị làm món ăn trở nên đặc biệt, những gia vị mà chúng không hề biết có mặt ở trên đời. Tôi cũng không thiết tha lắm với những gia vị “exotic” này, tôi chỉ tha thiết với cái mùi vị ám ảnh trong trí nhớ của tôi.

Những ngày ấy, người ta chưa khám phá ra món bánh mì. Bây giờ thì các báo Mỹ, những báo danh tiếng như New York Times hay Wall Street Journal cứ nhắc mãi đến món bánh mì. Họ còn sáng chế ra đủ kiểu bánh mì, đôi khi tương tự như bánh mì của Mỹ. Bánh mì thịt heo băm có sốt sữa chua ở đây.

Với tôi món bánh mì ngon nhất là bánh mì trong trí nhớ. Ổ bánh mì chợ Cũ da
vàng, mỏng, dòn rụm, ruột thơm nở mềm. Tôi đi tìm cái vị bánh mì chợ Cũ ở Mỹ mấy chục năm chưa hề gặp. Bánh mì Ý, bánh mì Tây, bánh mì Tây Bán Nhà, Bố Đào Nhà, quảng cáo mấy mua về ăn thử vẫn không bằng bánh mì chợ Cũ. Bánh mì ở đây vỏ dày, cứng, ruột cũng cứng, không thơm, không ấm, không làm tôi chảy nước miếng khi nghĩ đến. Tôi đến cả những tiệm bánh mì, mua bánh mới ra lò vẫn không tìm được cái vị bánh mì năm cũ. Tôi đi tìm bánh mì như tìm lá Diêu bông. Một sự hoàn hảo chỉ có trong trí nhớ đã kết hợp với kỷ niệm cộng vào chút thần thánh hóa. Ở những nhà hàng Bồ Đào Nha, khu vực Ironbound của New Jersey, món khai vị thường là ổ bánh mì tròn như quả bưởi cắt thành lát mỏng, hay những cái bánh mì nhỏ như nắm tay của trẻ con, nóng ấm ủ dưới khăn để giữ độ nóng và độ ẩm, để cho khách nhấm nháp với bơ trong khi chờ món chính. Loại bánh mì này là loại hảo hạng của nhà hàng, và cũng may, họ không mang bánh mì chợ Cũ nếu không có lẽ tôi chỉ ăn bánh mì rồi ra về.

Tôi không bao giờ nghĩ là tôi khó tính nhất là về mặt ăn uống. Ngay cả so sánh về bánh mì Việt và bánh mì Mỹ tôi cũng chưa hề bộc lộ công khai với người ngoài gia đình. Tôi chỉ có nói riêng với các con tôi là bánh mì ở Việt Nam rất ngon, ngon hơn bánh mì của tất cả các nước Pháp, Ý, Tân Ban Nha, Bồ Đào Nha) được sản xuất ở Mỹ. Hình như người Mỹ hễ họ nhúng tay vào cái gì đó là đều làm mất bản chất, cái hay cái đẹp thuần túy của của cái đó. Ngay cả Panera là hiệu bánh mì nổi tiếng ở Mỹ có chi nhánh ở nhiều tiểu bang bán đủ loại bánh mì, có bán thức ăn như súp, xà lách, cà phê bánh ngọt, có internet; tôi và các con thỉnh thoảng đến ăn, tôi vẫn nghĩ bánh mì hiệu này dở họ nên gửi thợ đến Việt Nam học cách làm bánh mì. Có lẽ có những nghệ thuật bí quyết không thể bắt chước được vì đòi hỏi nhiều công quá, thực hiện được thì bán không có lời nữa? thí dụ như muốn làm bánh mì ngon phải tùy thuộc vào cách xây lò nướng, gạch đá xây lò, độ nóng, độ ẩm tùy thuộc vào không khí? Tùy thuộc vào bàn tay nhồi bột? Chắc có mồ hôi đổ vào bột chăng? Hy vọng là không ai ghét khách hàng đển độ phun nước miếng

!

Mấy chục năm ở Mỹ, tôi vẫn thèm ổ bánh mì thịt có đồ chua ở đầu hẻm. Bánh mì có ủ than nóng dòn. Vị thịt mỡ ba rọi beo béo. Dưa leo, miếng ớt, cọng ngò. Bánh mì gà tôi cũng thấy ngon nhưng vẫn thích bánh mì thịt. Chồng tôi về Việt Nam bao giờ cũng ăn bánh mì ở đầu ngõ, sáng sớm gần Tết bánh mì vẫn còn ủ bằng than, nóng giòn. Ông cũng mê món bánh mì ăn với phó mát ngày xưa thời còn đi học không có tiền ăn như thế gọi là sang trọng với ông. Mấy chục năm sau ở Mỹ thỉnh thoảng ông vẫn ăn bánh mì kẹp phó mát để nhớ hương vị cũ. Nhớ thôi. Cái trí nhớ đã được tôn thờ lên ngôi thần tượng thì có sự thật trần trụi nào sánh bằng.

Người Mỹ họ cũng thích biến chế món ăn. Gỏi cuốn, vào trong các nhà hàng sang trọng họ biến chế thay vì cuốn với tôm thịt họ cuốn với quả bơ, dưa leo và càng cua giả. Còn bánh mì Việt Nam thì bây giờ họ mới có một món bánh mì tương tự như bánh mì xíu mại nhưng thịt không được vò viên. Trái lại họ xào và cho chút mayonaise theo bài báo tôi mới đọc trên tuần trước trong The New York Times. Không hiểu sao đọc bài này không thấy cái ngon của bánh mì nữa mà thấy ớn đến cổ.

Làm sao tôi có thể nói cho họ hiểu là bánh mì ngon không cần có thịt béo và
mayonaise thì nó vẫn ngon. Tôi thèm ruột bánh mì chấm sữa đặc. Sữa đặc có thể mua được, nhưng mấy chục năm nay tôi vẫn còn đi tìm bánh mì ngon tôi đã in sâu vào trong trí tưởng (tượng).

Thấy trên mạng có ảnh bánh mì nên dẫn về đây.Bánh mì Việt. Còn đây là Bánh Mì Mỹ