there is not a world of fear

Death stands above me, whispering low
I know not what into my ear:
Of his strange language all I know
Is, there is not a world of fear

Walter Savage Landor

Tử thần đứng bên trên, thì thầm
Tôi không biết điều gì lọt vào tai tôi
Ngôn ngữ của ông ta rất lạ, tôi chỉ biết là
Không có một thế giới sợ hãi  

Tối qua xem phim The Diving Bell and The butterfly về một người đàn ông bị tê liệt chỉ có một con mắt có thể nháy mắt thôi.  Ông nháy mắt để trả lời những câu hỏi có thể trả lời bằng chữ có hay không.  Còn hai thứ nữa trong người ông không bị tê liệt đó là sự suy nghĩ và trí nhớ.  Ông có cô y tá giúp ông.  Khi cô hỏi ông có muốn gì không?  Ông trả lời, ông muốn chết. Cô y tá ghi câu trả lời bằng cách đọc mẫu tự abc cho đến khi ông gặp vần nào ông muốn chọn thì ông nháy mắt, cứ tuần tự như thế cho đến khi những mẫu tự được kết hợp thành câu trả lời.  Cô y tá là một cô gái xinh đẹp, kiên nhẫn và nhân hậu.  Cô ứa nước mắt nhưng tự trấn tĩnh và nói với bệnh nhân là ông còn đang sống thì không được đòi chết.  Đòi chết là …obscene.  Bạn có thể tùy ý hiểu là thô bỉ hay tục tĩu cũng được.  Nó chỉ là một cách nói.  Bởi vì ai ở trong hoàn cảnh đó cũng chỉ muốn chết mà thôi.  Có những bệnh nhân chiến đấu dũng cảm, muốn sống mà không được sống.  Còn trường hợp của bệnh nhân trong phim Jean Dominique (phim Pháp phụ đề Anh ngữ) muốn chết mà không được chết.  Buồn thay.

Bài thơ Quét Lá

Thỉnh thoảng có một ngày cuối tuần không mưa.  Nắng.  Ấm.  Cơn mưa dài hai ngày để lại rất nhiều lá ướt và cành cây gãy trên sân.  Nhớ một bài hát phổ thơ của Phạm Thiên Thư "và ngoài sân vài cành khô gãy.  Gió lung lay một bóng lam gầy."  Liên tưởng đến mình, không gầy.  Chưa thể gọi là béo, nhưng chắc chắn không còn gầy.

Buổi sáng đi bộ.  Lúc đi xuống sân nhà, vô ý đạp lên lá ướt nên trượt té khuỵu xuống.  May mà gượng được.  Vài năm nữa chắc là dám gãy xương.  Có người quét lá dùm.  Mới hồi tuần trước tôi quét lá, và nhờ thế mà làm được một bài thơ có tựa đề là Quét Lá. 

Quét từ thu sang đông
Xuân xanh với mộng hồng
Gom buồn vui trắc trở
Trút hết vào hư không.

Chừng vài tháng nữa sẽ làm thơ xúc tuyết.

Mùa hè đã đi rồi, hỡi gió

Mưa suốt ngày hôm qua.  Sáng nay thức giấc trời vẫn còn mưa.  Trời lạnh như đã vào thu.  Tôi dậy sớm như mọi ngày, mở tuyển tập Thơ Tình Miền Nam đọc như một cách dạo đầu bản đàn trước khi bắt đầu tiếp tục viết bài điểm sách dang dở.  Gặp bài thơ của nhà thơ Từ Hoài Tấn.

Mùa hè đã đi qua rồi, hỡi nắng
Những chiều xưa áo trắng nhạt nhòa
Bay trong hồn ta những đêm vui.

Một đoạn đề Tặng PH .

Mùa hè đã đi rồi, hỡi gió
Buồn tháng năm ai thổi qua cầu
Lồng lộng cười được mấy hơi lâu

Brown Penny – William Butler Yeats

I whispered, ‘I am too young,’
And then, ‘I am old enough’;
Wherefore I threw a penny
To find out if I might love.
‘Go and love, go and love, young man,
If the lady be young and fair.’
Ah, penny, brown penny, brown penny,
I am looped in the loops of her hair.

And the penny sang up in my face,
‘There is nobody wise enough
To find out all that is in it,
For he would be thinking of love
That is looped in the loops of her hair,
Till the loops of time had run.’
Ah, penny, brown penny, brown penny.
One cannot begin it too soon.

Gặp Người Chăng Nhắn Cho Ta

Buổi sáng, hôm nay không đi làm, (nghỉ furlough) ngồi đọc quyển Thơ Tình Miền Nam của Thư Ấn Quán do nhà thơ Trần Hoài Thư biên soạn.  Lật đến trang có thơ của Minh Đức Hoài Trinh.  Nhà thơ này nổi tiếng với hai bài hát do Phạm Duy phổ nhạc đi vào lòng người nghe và ở trong đó luôn chứ không chịu thoát ra.  Đó là bài Đừng Bỏ Em Một Mình và bài Kiếp Nào Có Yêu Nhau.    

Đừng bỏ em một mình
Bóng thuyền ma lênh đênh
Vòng hoa tang héo úa
Yêu quái vẫn vô tình

Đừng bỏ em một mình
Cho côn trùng rúc rỉa
Cỏ dại phủ mộ trinh
Cho bão tố bấp bênh  

Được Phạm Duy chuyển thành:  

Đừng bỏ em một mình
Đừng bỏ em một mình
Đường về nghĩa trang lênh đênh
Đừng bỏ em

Đừng bỏ em một mình
Đừng bỏ em một mình
Cùng một lũ cùng một lũ côn trùng rỉa rúc thân hình  

Kiếp Nào Có Yêu Nhau

Anh đừng nhìn em nữa
Hoa xanh đã phai rồi
Còn nhìn em chi nữa
Xót lòng nhau mà thôi  

Người đã quên ta rồi
Quên ta rồi hẳn chứ
Trăng mùa thu gãy đôi
Chim nào bay về xứ

  Phạm Duy chuyển thành:  

Đừng nhìn em nữa anh ơi,
Hoa xanh đã phai rồi
Hương trinh đã tan rồi

Hẳn người thôi đã quên ta
Trăng thu gãy đôi bờ
Chim bay xứ xa mờ

 

Mới kiểm lại mấy quyển sách tham khảo thấy mình có:

Tuyển tập Văn Miền Nam – bộ ba quyển. Mỗi quyển dày hơn 500 trang khoảng 40 truyện ngắn.
Thơ miền Nam trong thời chiến  – bộ hai quyển.  Tập 1 hơn 860 trang với 262 bài thơ.  Tập 2 hơn 720 trang với 200 bài thơ.
Thơ tình miền Nam hơn 700 trang với 148 bài thơ.
Một thời Lục Bát Miền Nam 600 trang 227 bài thơ.

Cả một gia tài quí giá về văn học miền Nam.  Có lẽ số của tôi là sẽ làm nhà nghiên cứu văn học.  Cứ đọc và học hỏi như thế này chừng 15 năm tôi sẽ biết khá nhiều đấy chứ.  Tôi vốn có trí nhớ rất tốt (chỉ nhớ cái tôi thích thôi, còn chuyện hằng ngày thì tôi lẩm cẩm hay quên từ thưở còn trẻ) nên đọc hay nhớ nếu không nhớ nguyên văn thì cũng nhớ đại ý và biết mình đọc nó ở đâu để đi tìm, chỉ có cái tội lười đi tìm và vì không chủ tâm theo đuổi văn học nên không sắp xếp có hệ thống như một thư viện bỏ túi.  Có lẽ từ nay sẽ bắt đầu sắp xếp tư liệu có hệ thống hơn.

Đơn Sơ của Xuân Diệu

Đọc trên mạng thấy bài thơ Đơn Sơ của Xuân Diệu  

Em nói trong thư: "Mấy bữa rày,
"Sao mà bươm bướm cứ đua bay;
"Em buồn, em nhớ, chao! Em nhớ!
"Em gọi thầm anh suốt cả ngày.

Choosing a Stone – Chọn Đá

Bài thơ của Nancy Willard cho người đọc nhìn thấy những suy nghĩ thầm kín qua hành động nhặt đá của những người trong bài thơ.  Bài thơ này trùng hợp với nhận thức của tôi khi tôi nói rằng người ta thường nhìn thấy những gì người ta biết.  Biết ở đây tôi muốn nói là nhận dạng những gì người ta đang suy tư, một ám ảnh nào đó, hay một kỷ niệm có khi thân thiết, có khi đau đớn.  Cũng như chụp ảnh vậy, chụp gì thì cũng là chụp ý nghĩ trong tâm hồn mình.  Những chọn lựa này là những chọn lựa vô thức.  Vì sao giữa bao nhiêu là đá mà người chỉ chọn viên đá này mà không chọn viên đá kia.  Giữa muôn vàn chữ nghĩa tại sao người ta viết về chuyện này mà không viết về chuyện kia? Thằng bé với sự tò mò háo hức sinh lý của thiếu niên, người đàn ông tìm cảm giác quen thuộc ẩn dụ trong hòn đá họ chọn.  Tuy nhiên thú thật tôi không hiểu cái chọn lựa của người đàn bà trong những câu cuối cùng.  Hiểu nhưng không chắc, và sợ là mình hiểu sai ần dụ của tác giả. 

Dịch nhất là dịch thơ là một hành động dại dột nếu không nói là điên rồ. Tại vì nếu dịch có giỏi thì bài thơ sẽ mất một phần hồn và nếu dở thì không ai hiểu bài thơ muốn nói gì.  Tôi không có năng khiếu về thơ, chỉ thỉnh thoảng đọc một bài, có thấy hay thì vì nó có âm điệu, hình ảnh đẹp hay hợp với tâm trạng của mình.  Còn bảo phân tích hay diễn giải thì tôi chịu chết.

Ở đây tôi xin lược dịch bài thơ theo lối tôi hiểu.  Nếu có ai chỉ chỗ sai thì mình học hỏi thêm và sửa chữa lại.  

Bản dịch bài thơ Chọn Đá

Khi thủy triều rút lui rôi, để lại đá
trên bờ cát rộng.
Thằng bé chỉ chọn những phiến đá màu đen bị chia hai bằng một đường nứt màu trắng nhuyễn như sợi tóc,
như một gói đồ quá riêng tư không thể mở ra trước mặt mọi người
Mẹ của nó chỉ thu nhặt những viên đá giống như thức ăn:
những quả trứng thật to và khoai tây bằng đá đen
và ổ bánh mì có lớp vỏ bên ngoài lạnh ngắt.

Người đàn ông này săn những viên đá trắng,
nhẵn như một quả cây không tì vết
làm cho ông có cảm giác như nó dành riêng cho bàn tay của ông.
Ông nhặt một viên đã lên, sờ dọc theo đường nứt rất nhỏ.
ném nó đi.  Người đàn bà này để dành những viên đá
sắp sửa bị tận diệt.  Mỏng như tai mèo,
chúng bóng như những đồng xu đã mòn nhẵn
để lấy hên, trong chuyến vượt thoát.

Nancy Willard sinh ngày 26 tháng Sáu năm 1936, ở Ann Arbor, Michigan.  Bà là nhà văn viết cho thiếu nhi và cũng là nhà thơ.  Năm 1982 bà được giải thưởng Newberry Medal, một giải thưởng của hội Thư Viện Phục Vụ thiếu nhi.  Bà sống ở Poughkeepsie, New York và giảng thuyết ở Đại học Vassar.  Bà tốt nghiệp ở Đại học Michigan, được giải thưởng Hopwood dành cho học sinh xuất sắc về ngành văn.  Sau đó tốt nghiệp tiến sĩ ở đại học Standford.


The tide pulls back, leaving its cargo of stones
on the broad counter of sand.
A boy takes only black stones halved with a white thread,
like a parcel too private to open.
His mother gathers stones that mimic food:
two quartz eggs and a granite potato
and a loaf of bread with a cold crust.

This man hunts the white stones,
smooth as unblemished fruit
made, he feels, for his hand alone.
He picks one up, fingers a hairline crack.
Throws it back.  This woman saves stones
on the verge of extinction.  Thin as a cat’s ear,
they shine like coins rubbed faceless
for luck, for safe crossing. 

Nancy Willard