Con đom đóm

Đây chỉ là vài trang trích đoạn truyện ngắn “Firefly” (Con Đom Đóm) trong tuyển tập truyện ngắn “Blind Willow, Sleeping Woman” của Haruki Murakami. Truyện của Murakami thì rất có thể là đã được dịch ra đăng lên ở đâu đó từ lâu rồi, bởi một dịch giả nổi tiếng nào đó. Tuy nhiên, tôi đang đọc một số truyện thơ về mùa hạ, và trong mùa hạ thì có đom đóm. Và thơ văn về đom đóm ở Hoa Kỳ này có khá nhiều. Sẵn gặp thì tôi dịch, mời bạn đọc chơi. Giải trí.

be1bb93n-nc6b0e1bb9bc-vc3a0-sic3aau-trc483ng

Trong truyện, ông Murakami có nhắc đến cái tháp nước. Tôi tưởng tượng cái tháp nước ở Nhật đẹp hơn mới hơn, nhưng chắc cũng giống na ná như cái tháp nước này. Có thể nó tròn hơn, sơn màu xanh hay màu trắng. Nhưng đại khái là nó có thang để leo lên và nó khá cao. Đây là cái tháp nước gần trạm xe lửa tôi đi mỗi ngày, không biết có còn dùng không. Đăng ảnh để minh họa, tiếc là tôi không chụp được ảnh đom đóm. Dưới đây là truyện Con Đom Đóm của Haruki Murakami.

@ @ @

Vào cuối tháng, người bạn ở chung phòng nội trú cho tôi một con đom đóm trong cái lọ chứa cà phê. Bên trong lọ có cọng cỏ và chút nước. Hắn đục vài cái lỗ nhỏ trên nắp lọ. Bên ngoài trời vẫn còn ánh sáng nên trông đom đóm chẳng khác gì một con bọ đen bạn có thể thấy trên bờ biển. Tôi ghé mắt nhìn vào lọ và biết đó chính là con đom đóm. Nó cố bò lên thành lọ thủy tinh trơn bóng, mỗi lần leo lên đều bị tuột xuống. Đã lâu lắm rồi tôi mới lại được nhìn tận mắt con đom đóm.

“Tôi thấy nó ở ngoài sân,” bạn chung phòng của tôi nói. “Cái khách sạn ở cuối đường thả một bầy đom đóm để được sự chú ý của mọi người, và có lẽ nó đã bay lạc đến đây.” Hắn vừa nói vừa nhồi nhét quần áo và tập vở vào trong cái va li nhỏ. Chúng tôi chuẩn bị nghỉ hè một vài tuần. Tôi thì không muốn về nhà còn hắn thì bận một số việc bên ngoài trường, vì thế hai chúng tôi là những người còn sót lại trong nội trú. Công việc xong, hắn sẵn sàng về nhà.

“Sao bạn không tặng con đom đóm cho một cô nào đó?” hắn hỏi. “Các cô thích mấy thứ này lắm.”

“Cám ơn bạn, ý kiến rất hay,” tôi nói.

@ @ @

Sau khi mặt trời lặn, nội trú trở nên im lìm. Cờ đã hạ xuống và đèn được thắp sáng ở các cửa sổ của căng tin. Chỉ một số ít học sinh còn ở lại, vì thế chỉ có một nửa số có đèn. Bên phải của căng tin đèn bị tắt đi chỉ có đèn bên trái được mở. Bạn có thể ngửi thấy mùi thức ăn thoang thoảng bay ra từ căng tin.

Tôi mang lọ cà phê có chứa con đom đóm lên mái nhà. Chung quanh rất vắng vẻ. Một cái áo sơ mi trắng ai đó bỏ quên trên dây phơi, phất phơ trong gió như một miếng da bị bong ra. Tôi leo cái thang rỉ sét ở một góc nhà lên tận điểm cao nhất của cái tháp nước. Cái tháp nước hình trụ vẫn còn ấm áp vì hấp thụ hơi nóng mặt trời lúc ban ngày. Tôi ngồi xuống trong một góc chật hẹp, dựa vào hàng rào và nhìn xuống mặt trăng ở phía trước mặt tôi, chỉ còn một hay hai ngày là sẽ trở nên tròn đầy. Ở bên phải, tôi có thể nhìn thấy đường phố của Shinjuku, bên trái là Ikebukuro. Đèn ô tô tạo thành một dòng ánh sáng, rực rỡ chảy từ bên này thành phố sang bên kia. Như đám mây trôi lơ lửng trên đường phố, tiếng động trong thành phố là tổng hợp của âm thanh, như một tiếng ngân nga dịu dàng.

Con đom đóm nhấp nháy ở đáy lọ nhưng ánh sáng của nó yếu ớt, và màu sắc mờ nhạt quá. Trong trí nhớ của tôi, đom đóm phát ra một ánh sáng khá mạnh, có thể xuyên qua bóng tối của đêm hè. Con đom đóm này tỏa ánh sáng yếu ớt quá, có thể là nó sắp chết. Tôi đoán thế. Cầm cái miệng lọ, tôi lắc vài lần, để nhìn. Đom đóm cất cánh bay lên một đôi lần, va vào thành thủy tinh. Nhưng ánh sáng của nó vẫn mờ nhạt.

Có thể vấn đề không phải là ánh sáng của nó, mà là trí nhớ của tôi. Có lẽ đom đóm không có ánh sáng rực rỡ. Có lẽ nó chỉ sáng trong óc tưởng tượng của tôi. Hoặc là, khi tôi còn bé, bóng tối chung quanh tôi dày đặc hơn. Tôi không thể nhớ nổi. Tôi không còn nhớ lần cuối cùng tôi được nhìn một con đom đóm là từ lúc nào.

Điều tôi có thể nhớ là tiếng nước chảy trong đêm. Cái cổng tháo nước cũ kỹ, có quả nắm bạn có thể xoay vòng để mở ra hay đóng lại. Một dòng suối  nhỏ, với cây cỏ mọc trên mặt nước. Chung quanh trời tối đen, và hằng nghìn con đom đóm bay lượn trên mặt nước yên tĩnh. Một chùm ánh sáng màu vàng như bụi phấn chiếu sáng cả mặt suối, và phản chiếu xuống dòng nước.

Bao giờ đấy nhỉ?  Và ở đâu chứ?

Tôi không biết.

Tất cả mọi thứ trở nên lẫn lộn.

Tôi nhắm mắt, hít thở mấy hơi dài để tự trấn tĩnh. Nếu tôi tiếp tục nhắm đôi mắt, không chừng thân thể của tôi sẽ bị cuốn hút vào trong bóng tối của đêm hè. Đây là lần đầu tiên tôi leo lên tháp nước vào buổi tối. Tiếng gió thổi nghe rõ ràng hơn bao giờ. Gió không mạnh, tuy nhiên nó để lại ấn tượng khi thổi ngang người tôi. Rất từ tốn, bóng đêm bao trùm quả đất. Ánh đèn của thành phố có thể rực rỡ nhất, nhưng dần dà và rất chậm rãi, bóng đêm luôn luôn là kẻ chiến thắng.

Tôi mở nắp lọ, thò tay bắt con đom đóm ra ngoài, đặt nó lên cái mé thềm của tháp chứa nước, mảnh kim loại dư ra ngoài chừng bốn hay năm phân. Dường như con đom đóm ngù ngờ không biết mình đang ở đâu. Sau khi bay loạng choạng va vào cái đinh ốc, nó duỗi một chân lên trên một mảnh sơn bị tróc. Nó cố tìm cách đi về bên phải nhưng bị cùng đường nên quay sang bên trái. Nó chậm chạp leo lên trên cái đầu của đinh ốc, nằm rất lâu, có vẻ chết nhiều hơn là sống. Dựa vào hàng rào, tôi nhìn đăm đăm con đom đóm. Rất lâu, cả hai chúng tôi cùng ngồi đó, bất động. Chỉ có gió, như một dòng suối, lướt qua chúng tôi. Trong bóng tối, hằng ngàn chiếc lá Zelkova rì rào, cọ xát với nhau.

@ @ @

Tôi chờ đến vô tận.

@ @ @

Một thời gian rất lâu, sau đó, đom đóm cất cánh bay đi. Như thể sực nhớ ra một chuyện gì đó, thình lình nó xòe cánh và một chốc sau bập bềnh đến trên hàng rào và thoát vào bóng tối. Có lẽ cố lấy lại thời gian đã mất, rất nhanh chóng nó vẽ một vòng cung ánh sáng bên cạnh tháp nước. Nó ngừng lại một vài giây, đủ để lằn ánh sáng bắt đầu nhòe đi rồi bay về hướng Đông.

Mãi rất lâu sau khi con đom đóm mất dạng, dấu ánh sáng của nó còn đọng mãi trong tôi. Bên trong cái bóng tối dày đặc phía sau đôi mắt nhắm của tôi, cái ánh sáng mờ nhạt ấy, giống như một linh hồn thất lạc nào đó, tiếp tục bay lang thang.

Một lần rồi thêm một lần nữa, tôi xòe bàn tay ra hướng về bóng tối. Nhưng ngón tay tôi không cảm thấy gì cả. Và đốm sáng ngời nhỏ bé ấy luôn luôn nằm ngoài tầm với của tôi.

 

Đom đóm

Nghe nói ở bên mình bây giờ ít khi nhìn thấy đom đóm, như thể chúng đã bị tuyệt chủng. Người ta tổ chức những cuộc du lịch sang Mã Lai để được xem đom đóm. Năm nay chỗ tôi ở không nhìn thấy đom đóm nhiều như năm trước hay năm trước nữa. Không nhiều nhưng vẫn xuất hiện. Bao giờ cũng loáng thoáng dưới bụi trúc hay đâu đó phía sau rừng, bên cạnh mấy cây dâm bụt hoa tím. Có thể vì tôi đi ngủ sớm nên không nhìn ra ngoài nhà trong đêm. Có thể vì tôi không thức giấc nửa đêm. Cũng có thể, đom đóm như những nàng tiên bé, đi chơi chỗ khác. Không hiểu sao, đom đóm luôn mang cảm giác vui nhẹ nhàng, có chút gì lãng mạn trong không khí. Làm người ta nghĩ đến chuyện thần tiên. “Đêm thơm như một dòng sữa,” hay “đêm vỗ về nuôi nấng, đêm trao ngọt ngào hương phấn.” Ngay cả chữ rêu cũng gợi lên một cảm giác đẹp, êm ái. Làm tôi nhớ câu thơ “Như chân chim muôn thuở. In mãi bậc thềm rêu.” (Thơ Phạm Thiên Thư.)

Tôi đọc tập truyện ngắn “Beauty and Sadness” của Yasunari Kawabata, tiếng là truyện ngắn, nhưng tất cả những truyện ngắn này có liên hệ với nhau, tạo thành một truyện vừa. Phần trích đoạn được trích từ truyện ngắn có tên “A Stone Garden.” Otoko, một nữ họa sĩ mai danh ẩn tích, và Keiko một cô đồ đệ trẻ và rất đẹp. Otoko không trẻ bằng nhưng có lẽ cũng là người đẹp. Hai người đến viếng một vườn trong một chùa thiền nổi tiếng ở Kyoto, Saiho-ji, còn gọi là vườn rêu (Moss Garden). Vườn này vốn là vườn được thiết kế toàn bằng đá, nhưng khí hậu ẩm làm rêu mọc lên đá. Cả vườn được bao trùm bằng một lớp rêu mịn.

Keiko mang tất cả những họa phẩm của nàng đến cho một họa sĩ tài danh, Oki, xem. Câu chuyện khai mở dần. Keiko và Otoko là đôi tình nhân. Keiko ngủ với ông họa sĩ (chừng hơn 50 tuổi) với ý muốn trả thù cho Otoko vì Otoko đã từng là người tình của ông Oki (ông có vợ). Keiko tỏ ý muốn mang thai với Oki khi Otoko thổ lộ là bà có con với Oki. Otoko tát Keiko. Cô gái trẻ giận dỗi và sau đó là đoạn văn này. Tôi dịch bạn đọc chơi vì nó có liên quan đến đom đóm.

“Keiko-” Otoko bước ra hàng hiên và đá mạnh cái lồng chứa đom đóm[i] văng vào trong vườn, dù chân của nàng không mang giày.

Tất cả đom đóm trong lồng dường như sáng ngời lên ngay lập tức. Một dòng ánh sáng trắng có nhuốm màu xanh chảy ra khỏi lồng rồi đáp nhẹ nhàng lên một vạt đất đóng rêu. Bầu trời đầy mây, và hơi ẩm của hoàng hôn bắt đầu lan tỏa nhẹ nhàng trong vườn làm cảnh vật trở nên mù mờ lunh linh, nhưng ngày của mùa hạ thường rất dài nên vẫn còn ánh sáng. Chừng như đàn đom đóm không thể nào chiếu sáng rực rỡ như thế, hay có lẽ, dòng ánh sáng chảy ra khỏi cái lồng chỉ là sự tưởng tượng của nàng, hoặc, dòng ánh sáng ấy chính là tình cảm trong lòng nàng kết tụ thành. Nàng đứng sững sờ và nhìn không chớp cái lồng đom đóm đang nằm nghiêng trên mặt thảm rêu.

Trích truyện ngắn “A Stone Garden” (Vườn Đá) trong tập “Beauty and Sadness” (Nhan sắc và Nỗi Buồn) của Yasunari Kawabata.

[i] Ở Nhật Bản, thời của Yasunari Kawabata (1899 – 1972), trong  vườn có lồng bắt chứa đom đóm. Trong truyện ngắn này, vườn ở đây là một công viên lớn thuộc về phần chùa Saihoji còn gọi là Moss Garden. Tôi không biết bây giờ có còn lồng chứa đom đóm hay không. Tôi cũng không biết lồng chứa đom đóm chỉ để trang trí hay có nhiệm vụ gì khác hay không, thí dụ như thay thế đèn (?) hay người ta không thích đom đóm bay khắp nơi trong vườn, trong nhà.

Thư thì mỏng

Tác giả: Nguyễn thị Hải Hà

Bài này đã đăng ở Thư Quán Bản Thảo số 74 tháng 4 năm 2017

Ở một thành phố nhỏ ít người Việt mỗi lần muốn đi ăn nhà hàng Việt phải lái xe có khi cả tiếng đồng hồ. Đa số người Việt ở các thành phố nhỏ này tự nấu ăn, nếu là đàn ông không biết nấu thì vợ nấu. Người không vợ, hay vợ không biết nấu món ăn Việt thì ráng nhịn, riết rồi quen. Một nhà hàng nhỏ nghĩ ra cách này. Họ nhận nấu cơm tháng, giá phải chăng, giao tận nhà. Câu chuyện xảy ra như thế này.

Ông mở hộp cơm. Trong cái hộp nhỏ để đựng đũa muỗng và gia vị, có kèm một mảnh giấy. Giấy màu vàng có kẻ hàng, loại giấy đóng thành xấp thường bán trong siêu thị.

Ngày … Tháng … Năm …

Thưa ông,

Tôi tự hỏi ông có thích món ăn tôi nấu hay không. Đây là ngày thứ ba tôi để ý thấy hộp cơm của ông hết sạch. Ông có thể cho tôi biết những món ăn hợp khẩu vị để tôi phục vụ khách hàng tốt hơn.

Đầu bếp.

TB: Ông không cần phải rửa gà mên đâu. Khách hàng chẳng ai làm thế cả. Ông là người duy nhất.

-@- -@- -@-

Ngày … Tháng … Năm …

Thưa cô,

Tôi đoán người nấu cơm là phụ nữ nên gọi bằng cô. Gọi cầu may chứ ở Mỹ này người đầu bếp là đàn ông cũng khá nhiều. Nếu tôi sai, xin đừng chấp. Thú thật với cô tôi chưa bao giờ được ăn cơm phần ngon đến như thế. Món ăn của cô thật vừa miệng với tôi. Cách cô bới cơm cũng thật công phu tươm tất.

Tôi đoán cô là đầu bếp mới, bởi vì chỉ gần đây tôi mới thấy món ăn ngon đặc biệt. Cô là người đầu tiên đã viết thư hỏi ý kiến của tôi. Theo thể lệ của nhà hàng tôi không được đặt món ăn. Nếu tôi đặt món ăn, nhà hàng sẽ tính giá khác. Cô nấu ăn rất ngon nên món gì tôi cũng thích.

Cô cũng là người đầu tiên sau mấy mươi năm tôi ở nước ngoài gọi hộp đựng cơm là gà mên. Tôi rửa gà mên là vì tôi đã giao ước với ông chủ nhà hàng. Tôi không thích dùng muỗng nĩa nhựa cũng như hộp nhựa để đựng cơm. Người ta ăn xong là ném hộp nhựa đũa muỗng nhựa vào thùng rác. Tôi không muốn dùng đồ nhựa vì ô nhiễm môi trường nên tôi đề nghị được dùng gà mên. Chúng tôi thỏa thuận là tôi sẽ có hai cái gà mên. Người giao thức ăn mới sẽ lấy đi cái gà mên cũ. Tôi rửa gà mên sạch sẽ trước khi giao lại người giao cơm. Trân trọng cám ơn cô.

Khách hàng trung thành của cô,

An

TB: À, tôi xin phép được trêu cô một chút. Sao cô tài thế? Làm thế nào cô biết tôi ăn hết thức ăn trong hộp, khi tôi đã rửa gà mên sạch sẽ?

-@- -@- -@-

Ngày … Tháng … Năm …

Ông An thân mến,

Cám ơn ông đã thích món ăn tôi nấu. Nếu được nhiều khách hàng như ông tôi sẽ giữ được công việc này lâu dài. Thời buổi này tìm việc khó quá nhất là những người bị tật câm điếc, có con nhỏ còn đi học, lại không biết dùng computer như tôi.

Tôi kể ông nghe cho vui. Thật ra những món ông ăn mấy ngày hôm nay là những món đặc biệt tôi nấu cho chồng tôi. Anh ấy làm việc ca ba trong một xí nghiệp, nên giờ nghỉ giải lao ăn tối của anh ấy cũng là giờ ăn cơm tối của ông. Trong xí nghiệp có nhiều người Trung Hoa và Ấn Độ họ cũng đặt cơm tháng ở nhà hàng, món Hoa và món Ấn do người khác nấu. Tôi nhờ người giao cơm tối cho khách hàng sẵn dịp giao cơm cho chồng tôi. Đây là một việc xa xỉ, chính chồng tôi cũng nói như thế, anh có thể tự mang cơm đi, nhưng tôi muốn chăm sóc anh ấy nhiều hơn.

Tôi không thể bày tỏ bằng lời nên tôi muốn bày tỏ bằng hành động. Dường như chúng tôi không còn tình yêu của buổi ban đầu. Giữa hai chúng tôi là sự im lặng bao la. Tôi nhớ mẹ tôi thường bảo rằng nấu ăn ngon là có thể chinh phục tình yêu của đàn ông bởi vì đường vào trái tim của người đàn ông đi ngang qua cái bao tử. Tôi muốn tái chinh phục chồng tôi dù khi mới quen anh ấy, tôi chẳng phải nấu nướng nuông chìu gì cả. Tôi tìm được cuốn sổ gia chánh trong đó mẹ chồng tôi chép lại cách nấu những món ăn chồng tôi rất ưa thích. Bữa đầu tiên tôi rất hồi hộp mong chồng tôi về để xem anh ấy nói gì. Anh chẳng nói gì, còn có vẻ lầm lì hơn bình thường.

– Anh ơi, món ăn em nấu hôm nay có ăn được không?

– Được!

– Chỉ được thôi sao?

– Chứ còn sao nữa!

– Anh thích món nào nhất?

– Bông cải xào thịt bò.

Anh lẳng lặng thay đồ lên giường ngủ, quay lưng lại phía tôi. Tôi ôm cánh tay anh, anh kêu nóng và mệt. Bông cải xào thịt bò? Tôi đâu có nấu món ấy. Đến ngày thứ ba thì anh ấy mắng tôi.

– Em chỉ ở nhà nấu ăn mà chẳng làm nên chuyện. Em phải thay đổi món chứ ngày nào cũng bông cải xanh xào thịt bò anh ngán tới cổ rồi.

Tôi đoán là ông giao cơm đã giao nhầm gà mên cơm của chồng tôi cho ông. Nhưng tại sao lại bông cải xanh xào thịt bò liên tiếp ba ngày? Thật là vô ý! Nhà hàng làm việc bất cẩn như vậy sẽ mất khách hàng và tôi sẽ bị mất việc làm.

Còn ông, đã đặt cơm tháng từ bao giờ? Ông không có người nấu ăn cho ông sao? Hỏi thế nhưng ông không phải trả lời nếu cảm thấy bị xâm phạm đời tư. Chúc ông ăn ngon và ngủ cũng ngon.

Đầu bếp trung thành của ông,

Anna

-@- -@- -@-

Ngày … Tháng … Năm …

Cô Anna thân mến,

Thật đáng tiếc chuyện nhầm lẫn như thế đã xảy ra, nhưng cô cũng hiểu lỗi không phải ở tôi vì tôi chỉ là người nhận. Thật là đáng buồn khi ông nhà phải ăn bông cải xanh xào thịt bò liên tiếp ba ngày mà tôi lại được ăn ngon. Tối qua, món canh khổ qua nhồi cá thát lát thật tuyệt vời. Cái cách cô dùng lá hành để cột cho trái khổ qua đừng bị bung ra thật tỉ mỉ và đẹp mắt. Ở xứ này làm sao mà cô tìm được cá thát lát? Ở đây, người ta dùng loại cá đóng hộp không vừa dai vừa dòn như cá thát lát ở Việt Nam. Trong nước dùng lại có vài cái nấm hương đã được nấu mềm. Tôi chỉ được ăn món ngon như thế này khi mẹ tôi còn sống. Cách nấu này có lẽ đã thất truyền từ lâu, phải nói là hiếm thấy ở xứ này. Ở Hoa Kỳ một mình lâu ngày, tôi rất dễ tính trong việc ăn uống, nhưng dễ tính không có nghĩa là không “appreciate” món ăn ngon.

Còn chuyện nhà hàng xào bông cải xanh với thịt bò liên tiếp ba ngày thì tôi có thể giải thích như vầy:

Ngày thứ nhất, sau khi ăn món bún thịt nướng cô làm, tôi thích quá nên gọi điện thoại với nhà hàng khen món ăn rất ngon. Cứ tiếp tục làm như thế. Ông chủ, nhà hàng vô cùng ngạc nhiên vì có lẽ chẳng ai gọi điện thoại khen nhà hàng thức ăn ngon bao giờ. Lôi thôi họ lại tăng giá cơm tháng. Tôi ăn cơm ở nhà hàng này bao nhiêu năm đâu có bao giờ tôi khen.

Xin cô đừng trách mắng người giao cơm, và tiếp tục nấu cho tôi ăn. Tôi có thể trả giá cao hơn cho nhà hàng hoặc là góp riêng cho cô. Thú thật với cô, mấy ngày nay tôi cứ nhấp nhổm chờ ông giao cơm. Thật ra tôi chờ lá thư của cô. Tôi phải đọc thư của cô trước rồi mới có thể ăn cơm một cách chậm rãi, ăn để thưởng thức món ăn. Những dòng ngăn ngắn của cô đủ để mang cho tôi một niềm vui nhỏ trong  một buổi tối cô quạnh của tôi. Tuy nhiên, thư thì mỏng…

Đồng nghiệp của tôi thường bảo tôi là một người cô độc. Tôi không nghĩ đến sự cô độc của mình mãi cho đến lúc gần đây. Buổi tối của tôi vắng lặng và dài thăm thẳm. Chính sự vắng lặng của những buổi tối khiến tôi ngại ngần không muốn về hưu. Vâng, tôi đã đến tuổi về hưu. Thật ra tôi có thể về hưu từ hai năm trước nhưng tôi cứ chần chờ. Ban ngày tôi vui với công việc nhưng buổi tối thì… tôi thật là thèm có người trò chuyện cùng tôi.

Trò chuyện là một nghệ thuật. Người ta bảo rằng về già nên kết hôn hay kết bạn với những người biết trò chuyện. Nhưng với tôi chuyện kết hôn đã quá trễ rồi. Còn kết bạn lại càng khó khăn hơn nữa. Ở đây ít người Việt, nhưng bạn Việt hay bạn Mỹ cũng thế, chúng tôi có gặp nhau thì cũng chỉ ăn và nhậu. Chỗ làm việc lại càng ít khi tâm sự với nhau. Tôi chưa hề gặp được người nào có thể nói chuyện cho tôi nghe hay chịu khó nghe chuyện tôi nói. Có được một người có thể trò chuyện với mình, chia sẻ ý nghĩ với mình thật là quá khó. Thảo nào ông hoàng trong truyện “Một Ngàn Lẻ Một Đêm” không thể giết cô gái chăn gối với ông chỉ vì cô biết kể chuyện và nghe chuyện ông kể.

Cô hỏi tại sao tôi ăn cơm tháng. Tôi xin thưa với cô vì không có ai chịu nấu cho tôi ăn. Xưa lắm rồi, tôi có lần kết hôn với một cô gái Hoa Kỳ nhưng cuộc hôn nhân chỉ kéo dài được hai ngày. Chuyện khá phức tạp khó giải thích trong một lá thư nhưng nếu cô tiếp tục nấu ăn cho tôi thì một dịp thuận tiện nào đó tôi sẽ kể. Tôi không biết cô có tin tôi được không nhưng tôi nghiện món ăn cô nấu mất rồi. Dĩ nhiên tôi có thể ăn ngoài tiệm. Ở đây có biết bao nhiêu nhà hàng Tàu và nhà hàng Mỹ. Thức ăn bình dân thì có Ihop, McDonald, Burger King, Roy Rogers, Kentucky Fried Chicken nhưng không có ai có thể mang hương vị thức ăn VN đến tận nhà cho tôi. Cái cách nấu chỉ những bà mẹ Việt Nam thời xa xưa mới biết.

Xin được phép kể cô nghe về một cuốn phim hoạt họa, nhân vật chính là một con chuột nấu ăn ngon. Con chuột Rémy này đã chinh phục được một nhà phê bình thức ăn nổi tiếng khắc nghiệt nhất Paris; một tay ông đã làm cho bao nhiêu nhà hàng phải đóng cửa và chủ nhân nhà hàng tự tử. Cái món ăn Rémy nấu đã chinh phục được Anton lại là món ratatouille một món ăn dân dã, giống như hương vị mà bà mẹ Anton đã nấu. Như vậy chắc cô biết là tôi quí thức ăn cô nấu đến mức nào.

A! Hôm nay tôi dông dài quá mức, xin cô tha lỗi. Cô có thể cho tôi biết vì sao cô bị mất tiếng nói và không thể nghe được không? Tai nạn hay bạo bệnh? Làm thế nào cô có thể học và viết thật rành rẽ khi không thể nói và không thể nghe. Không dễ dàng để viết được như vậy. Tôi thật khâm phục cô. Thân mến.

Khách hàng trung thành của cô,

An

Tái bút: Tôi quên cảm ơn cô đã kèm theo miếng sương sa được đổ khuôn thành đóa hoa nhiều màu. Đẹp quá nên tôi không nỡ ăn, còn để dành trong tủ lạnh. Thời bây giờ tái chinh phục trái tim chồng của cô bằng món ăn thì không thực tế chút nào. Tôi nghĩ cô nên thay đổi cách trang điểm và trang phục, hẹn hò ông chồng và thử có thêm một đứa con để hâm nóng lại tình yêu thì thiết thực hơn.

-@- -@- -@-

Ngày … Tháng … Năm …

Ông An thân mến,

Con gái của Anna được sáu tuổi. Cháu thích xem phim hoạt hình. Còn Anna thì thích tất cả những gì liên quan đến thức ăn nên Anna cũng có xem phim Ratatouille cùng lúc với đứa con gái. Hai mẹ con đều rất thích phim này. Anna cảm ơn ông đã “nghiện” thức ăn Anna nấu. Hôm nay Anna trổ tài, đây là một trong những tuyệt chiêu của Anna, vịt nấu măng. Măng khô loại ngon, được ngâm cho hết chát, Anna chỉ chọn những đoạn mềm, ngọn của búp măng khi còn tươi, xào cho ngấm trước khi cho vào nước lèo. Đây là một món ăn rất nhiều công. Gỏi để ăn với bún măng có cả bắp chuối bào mỏng, toàn là những thứ nhiều công và nguyên liệu khó tìm. Nói không phải để kể công hay đòi lên giá tiền vì Anna hay kiêu ngạo nghĩ rằng tiền khách hàng trả công chẳng thể bì với tấm lòng người chăm chút món ăn.

Chồng của Anna là người sinh ra lớn lên ở Mỹ chuộng thức ăn Mỹ hơn thức ăn Việt Nam. Không hiểu tại sao mẹ chồng của Anna lại nghĩ là anh ấy thích thức ăn Việt. Hôm qua anh ấy bảo Anna nên học nấu spaghetti và các loại thức ăn Mỹ hoặc Ý. Rồi anh ấy lại bảo thôi đừng bới cơm cho người giao cơm cho anh ấy nữa vì bạn đồng nghiệp của anh chỉ ăn sandwich nên chế nhạo anh mỗi lần thấy thức ăn có muỗng đũa lỉnh kỉnh linh tinh. Lúc sau này anh về nhà rất trễ, thường khi sặc sụa mùi rượu. Và sáng nay khi anh ngủ Anna soạn quần áo đem giặt thấy quần áo anh sực nức mùi nước hoa và áo anh có vết son. Son dính bên trong lớp áo như thể người ta dở áo anh lên rồi hôn vào đó làm dấu hiệu cho Anna biết. Anna chẳng biết nói sao, làm gì cho vơi bớt nỗi buồn của mình. Có những chuyện không thể nói với người thân nhưng lại có thể giải bày với người lạ, có lẽ vì người ta chẳng biết mình là ai, lời nói hay chữ viết thả theo gió bay.

Ngày xưa anh sang Việt Nam chơi gặp Anna, đem lòng yêu đòi cưới. Anna thích lấy chồng ở ngoại quốc vì nóng lòng muốn thoát khỏi đời sống tù túng của xã hội Việt Nam. Theo anh sang Mỹ Anna có giấy tờ hợp pháp nhưng tiếng Anh vẫn chưa giỏi và không có nghề nhất định nên rất khó gia nhập xã hội Mỹ. Trước kia Anna thích nấu ăn và ở nhà nuôi con. Bây giờ thì rất nhiều khi Anna mơ được đi làm như những người phụ nữ trên tivi. Họ ăn mặc sang trọng đúng thời trang. Nếu Anna có một cái nghề được ăn mặc như thế thì Anna cũng sẽ đi làm suốt đời chứ không chịu về hưu đâu.

Sáng nay thấy trên tivi, có một người phụ nữ tự tử bằng cách lao đầu vào xe lửa. Con gái của cô ấy và con gái của Anna học chung một lớp. Mổi buổi sáng chờ xe buýt đến đón con đi học Anna thường gặp người phụ nữ này. Họ ở cùng khu chung cư nhưng ở một building khác. Đứa con bị người mẹ nắm chặt tay cố vùng vẫy khi xe lửa đến nhưng không thóat được. Nghe nói rằng gia đình cô không được hạnh phúc, quá tuyệt vọng nên cô hành động điên rồ. Anna nghĩ rằng dù tuyệt vọng, dù làm mẹ, người phụ nữ này không có quyền tước đoạt sự sống của đứa con.

Anna nghĩ ông không nên lo sợ phải về hưu. Về hưu đâu có nghĩa là ông phải ở nhà hết ngày này sang ngày khác. Ông có thể đi du lịch. Ông có thể học thêm một sở thích gì đó như chụp ảnh, đánh cờ, đọc sách, hay viết văn. À sao ông không viết văn nhỉ? Anna thấy ông có khiếu văn chương lắm đó.

Mong ông có buổi tối yên lành. Hôm nay Anna kèm thêm món chè đậu mắt đen nước dừa. Ông ăn ngon nhé.

Đầu bếp

Anna

  1. Ông viết “thư thì mỏng…” là có ý gì? Tại sao lại bỏ lửng?

-@- -@- -@-

Ngày … Tháng … Năm …

Anna thân mến,

Như thế thì cô là di dân. Di dân thường thì giàu có hơn tị nạn. Hơn ba mươi năm trước tôi bước lên đất nước này với thân phận của người dân tị nạn. Từ lúc nào tôi trở thành di dân? Có lẽ từ lúc tôi nhập quốc tịch Hoa Kỳ. Tôi có người bạn thích đi du lịch. Anh ấy thăm viếng Kyoto, cố đô của Nhật Bản nhiều lần, bảo rằng thích đời sống của thành phố ấy, có cảm giác thành phố Kyoto là của anh, và anh là dân Kyoto từ tiền kiếp.

Tôi vẫn tự hỏi mình sống bao lâu ở một thành phố thì có thể xem thành phố ấy là của mình, quốc gia ấy là quốc gia là quê hương của mình? Thời gian tôi sống ở nơi nầy đã dài hơn thời gian tôi sống ở Việt Nam, không hiểu tại sao tôi vẫn không cảm thấy nơi đây, thành phố này, là quê hương xứ sở của tôi. Và đáng buồn hơn tôi cũng không còn cảm thấy Việt Nam là quê hương của tôi nữa. Tôi có cảm giác xa lạ, thất lạc, với cả Việt Nam lẫn Hoa Kỳ. Ngôi nhà tôi đang ở là nhà của tôi. Khi đi xa tôi vẫn muốn quay về nhà. Người ta vẫn thường dùng hai chữ đi kèm, nước nhà (hay quốc gia). Tôi có nhà mà không có nước. Quê hương tôi ở không hẳn là quê hương của tôi. Còn cô, cô có nhận nơi này là quê hương?

Có lẽ cô nên cho cháu bé đến gặp counselor của trường. Có bạn qua đời trong trường hợp như thế là một chấn động tâm lý có thể tổn thương lâu dài. Tôi tự hỏi tại sao người ta dám chết mà không dám sống. Trong chuyến vượt biển của tôi, cái chết ngay trước mặt, đói khát nhiều ngày chúng tôi vẫn cứ ôm hy vọng được cứu và được sống. Chúng tôi chống chọi với cái chết trong từng cái chớp mắt, từng hơi thở gấp. Sống trong nguy ngập đến tính mệnh vẫn cứ muốn sống. Còn người phụ nữ kia sao lại bẻ một ngọn đời xanh vứt vào đầu máy xe lửa như thế. Thật đáng thương mà cũng đáng trách.

Cấp trên của tôi lại gọi tôi vào văn phòng hỏi tôi có ý định về hưu không. Tôi bảo rằng để tôi suy nghĩ. Có những buổi sáng đi làm sớm, mùa đông tôi nhìn những hàng cây trụi lá trong sương mù chạy hun hút trên con đường. Khi về hưu chắc là tôi sẽ nhớ những hình ảnh như thế. Cửa sổ phòng làm việc của tôi ngó ra một con sông. Vắt ngang sông là một chiếc cầu quay sơn màu xanh nhạt. Buổi sáng mặt trời mọc ánh sáng chiếu lên cây cầu và dòng sông, màu hồng nhạt tím nhạt màu cam màu vàng rất đẹp. Tôi nhìn cây cầu mỗi ngày và nghĩ khi về hưu tôi sẽ không còn nhìn thấy cây cầu này nữa. Thật buồn cười, tôi sẽ nhớ quang cảnh chung quanh chỗ tôi làm rất nhiều nhưng tôi sẽ không nhớ những người đồng nghiệp. Có lẽ đúng như lời người ta nói, tôi là người xa cách và lạnh lùng, không muốn làm bạn với ai. Có lẽ người vợ hai ngày của tôi không chịu nổi tính lạnh lùng của tôi. Còn tôi suốt đời sống một mình cứ tưởng không cần bạn bè bây giờ bỗng dưng thèm có người trò chuyện.

Hôm nay tôi “nói” nhiều, mà lại nói với một người tôi chưa hề biết mặt. Mong Anna tha lỗi. Và nếu cô không có thì giờ xin cứ ném thư đi. Nhưng nếu cô có lòng nuôi bao tử của tôi, xin làm ơn nuôi thêm cái trí óc cằn cỗi của tôi, và viết cho tôi vài hàng nhé. Tôi mong được đọc thư cô còn hơn mong thức ăn nữa cơ.

Khách hàng quí của cô

An

-@- -@- -@-

Ngày … Tháng … Năm

Ông An thân mến,

Anna vẫn còn suy nghĩ đến người phụ nữ tự tử và đứa con. Ngày mới lập gia đình, Anna thắm đẫm trong tình yêu và hạnh phúc không hề nghĩ đến ngày mình phải bấu víu vào sự đùm bọc hay thương hại của kẻ khác. Bảy năm về trước chắc là Anna không hiểu được sự sợ hãi và tuyệt vọng của người phụ nữ đến độ tự tử và bắt đứa con phải chết theo cô ấy. Đó là một người phụ nữ có thể nói và nghe được, có học, có bạn bè, sống ngay trên xứ sở của cô ấy. Còn Anna chẳng có ai ngoại trừ chồng và đứa con. Anna mặc áo đẹp, thay áo ngủ sexy nói bằng sign language là Anna muốn được yêu, và có thêm đứa con nữa. Tuy nhiên anh ấy từ chối và sẵn dịp thú nhận đã hết yêu Anna. Anh ấy có người yêu mới, một người làm việc chung với anh.

Trước khi lấy chồng và có con, Anna rất thích du lịch. Anna thích những nơi chốn xa lạ Anna chỉ có thể tưởng tượng. Ông đã xem phim The Wind Journeys chưa? Anna thường mượn phim của thư viện địa phương, và chỉ xem được phim có caption cho người khiếm thính. Ông hãy xem phim này để thấy vẻ đẹp của những quốc gia vùng Nam Mỹ. Phim nói về cây đàn phong cầm, bên trên có chạm cái đầu của quỷ Satan. Người giữ cây phong cầm phải đem trả cây phong cầm này cho một tu sĩ trên ngọn núi cao ở một vùng núi hẻo lánh. Ông ta và người đồ đệ đã mang cây phong cầm đi qua 80 địa danh nổi tiếng đẹp về phong cảnh thiên nhiên. Anna đã nhiều lần mơ ước được ngồi trên một đỉnh cao giữa núi rừng xanh thẳm bạt ngàn, hay ngồi bên bờ suối đá nghe dân bộ lạc thổi tiêu. Anna nghĩ rằng sẽ cùng chồng nuôi con đến lớn khôn và sẽ cùng chồng đi chu du như vậy. Một trong những cái đặc biệt của du lịch là ông có thể không là ai hết, chỉ là một khuôn mặt vô danh trong muôn vàn khuôn mặt vô danh. Hay ông có thể tiêu hết cả tiền dành dụm hàng chục năm để tưởng tượng mình là một người triệu phú.

Ông có lần kể về một người bạn của ông yêu thích Kyoto đến độ muốn qua bên ấy ở luôn. Anna cũng thích Kyoto như vậy. Anna xem rất nhiều phim về Nhật Bản, về geisha, về samurai. Anna đọc hầu hết những quyển sách du hành về Nhật Bản. Ông có biết thiền sư Basho đi một vòng phía Bắc Nhật Bản, và sau này người ta có giả thuyết ông là người do thám cho một sứ quân thời bấy giờ đang muốn triệt hạ một sứ quân khác không. Nếu Anna có điều kiện Anna sẽ đi Nhật.

Anna cũng muốn viếng thăm Bhutan. Người phụ nữ đã tự tử có lần cho Anna mượn mấy quyển sách về Bhutan, một xứ sở đo lường sự giàu có của quốc gia bằng chỉ số hạnh phúc. Anna nghĩ nếu Anna đặt chân lên quốc gia này Anna sẽ xin được ở lại và nhận Bhutan làm quê hương. Nếu ông sợ đi máy bay thì không nên đến Bhutan, vì phi đạo của xứ này rất nhỏ, rất ngắn, ở một vị trí rất hiểm trở, chỉ có khoảng mười phi công đủ tài lên xuống phi đạo này. Và xin giấy nhập cảnh Bhutan nghe nói cũng nhiêu khê lắm.

Nói như vậy để ông thấy rằng, cuộc đời không chấm dứt sau khi hết đi làm việc. Mong ông vui khỏe, và hãy suy nghĩ thêm về việc về hưu. Phải nói là khi ông về hưu và đi du lịch thì Anna sẽ rất buồn vì không còn người thuê Anna nấu ăn và đọc những dòng tâm sự của Anna. Đó là chuyện tương lai, còn bây giờ Anna phải suy nghĩ và quyết định, nếu chồng Anna cương quyết ly dị thì Anna sẽ ở đâu, làm gì để nuôi con. Dĩ nhiên người chồng sẽ trợ cấp nhưng có lẽ chẳng thấm vào đâu. Và căn nhà thì anh ấy mua trước khi cưới Anna nên nếu anh ấy không cho Anna ở thì Anna sẽ phải dọn ra.

Chúc ông ngủ ngon, và hy vọng món chè chuối với bánh cuốn nhân thịt hôm nay vừa miệng ông.

Đầu bếp trung thành của ông

Anna

-@- -@- -@-

Ngày … Tháng … Năm …

Anna thân mến,

Nghe lời cô, tôi đã mạnh dạn xin về hưu. Tôi chỉ cần thông báo trước hai tuần hay một tháng, tuy nhiên cấp trên của tôi có vẻ đã sẵn sàng. Tôi chưa nộp giấy tờ thì đã thấy có người dự đoán sẽ thế chỗ tôi vào học việc với tôi. Tôi nghĩ nếu người ta không muốn giữ tôi nữa thì tôi cũng chẳng muốn ở lại làm việc. Việc làm chắc cũng giống như tình yêu, không thể cứ yêu một chiều mãi mãi. Phải không cô? Tôi cũng tự thấy mình mệt mỏi. Trên chuyến xe lửa về nhà buổi chiều đông người tôi phải đứng. Tôi nhìn thấy bóng tôi phản chiếu trên kính cửa sổ, lưng đã còng, tóc bạc trắng, và cặp kính trắng dày cộm làm tôi trông giống như một con cá thòi lòi. Một cậu bé đứng dậy nhường chỗ cho tôi, bảo rằng xin bác ngồi cháu còn trẻ để cháu đứng.

Tôi sẽ đi du lịch Nhật Bản, Bhutan, và Chile, để tận mắt ngắm những quốc gia này thay cô, nhưng trước khi đi tôi muốn cô giúp tôi một vài việc. Ngôi nhà tôi đang ở chẳng to lớn gì, chỉ là hai cái toa xe lửa cũ tôi mua về sửa sang thành chỗ ở. Tiền thuế đất rất thấp, điện nước cống nhà vệ sinh hẳn hoi. Đồng nghiệp của tôi thường nói bóng gió lương cao, không vợ không con, ở căn nhà bằng hai toa xe lửa, tiền chất đầy nhà băng mà không chịu về hưu.

Khoảng mười năm trước tôi là kỹ sư trưởng của một nhóm kỹ sư. Vì tôi ít nói, dễ dãi trong việc kiểm tra nhân viên, nên người phụ tá lộng hành, thuê người bổ nhiệm người một cách vô trách nhiệm. Nghe nói ông ta lạm dụng tiền quỹ sao đó. Tôi chỉ chú ý đến kỹ thuật và an toàn của thiết kế và xây dựng các đồ án. Tuy nhiên khi việc đổ bể tôi vẫn phải chịu sự trừng phạt của công ty vì tôi không làm tròn trách nhiệm quản lý. Người ta đuổi việc nhân viên của tôi, còn tôi thì chỉ bị giảm chức vụ. Nếu là người khác thì người ta đã bỏ việc về hưu sớm, tuy nhiên tôi vẫn tiếp tục làm việc. Nếu người ta để tôi đi làm không trả lương tôi cũng chịu, bởi vì ở nhà chắc tôi sẽ gục xuống chết ngày hôm sau vì nhàm chán và cô đơn.

Tuy nhiên, bây giờ cô đã thay đổi ý nghĩ của tôi. Tuy không giàu, nhưng tôi giỏi quán xuyến tiện tặn, đi chơi kiểu hà tiện tôi có thể đi vài năm không về nhà.

Tôi đi chơi xa, do đó không thể thuê cô nấu ăn, nhưng tôi muốn nhờ cô làm quản gia cho tôi. Nếu cần thiết, cô có thể mang con đến ở nhà tôi trong lúc tôi đi vắng. Tôi sẽ liên lạc với cô bằng thư từ qua địa chỉ nhà tôi. Có người ở trong nhà đề phòng hư hại hay trộm cắp. Mọi chuyện khó khăn cô cứ liên lạc với người bạn của tôi. Ông V. là bạn cũng là luật sư lâu năm của tôi. Ông có thể cố vấn cho cô nhiều vấn đề, chuyện nhỏ nhặt như thuê người sửa chữa đồ dùng trong nhà, chuyện lớn như ly dị hay giúp đỡ người có thu nhập kinh tế thấp muốn được trợ giúp về mặt pháp luật. Ở đây mấy chục năm tôi biết là người ta chỉ có thể đến với công lý hay được đối xử công bằng khi có tiền. Tôi đã yêu cầu ông giúp đỡ và hướng dẫn cô. Tôi đã mở sẵn một tài khoản ngân hàng, để trả lương cho cô. Tiền lương này, ngoài việc trông chừng nhà cho tôi, còn kèm theo tiền săn sóc con mèo (bốn chân) của tôi. Tôi nuôi nó cả chục năm nay. Nếu tôi có bao giờ yêu thương một người nào đó chắc cũng chỉ bằng với yêu thương con mèo này. Tôi ngại ngần chuyện đi du lịch cũng chỉ vì không ai săn sóc Nora. Tôi có linh tính cô là người kiên nhẫn và yêu thương thú vật. Thật tình, tôi có thể gửi con mèo cho một cơ quan nuôi thú vật, nhưng tôi muốn Nora được chăm sóc và thương yêu như một người bạn nhỏ của tôi.

Tôi có computer cô nên tìm cách học, bắt đầu ở thư viện người ta thường có lớp miễn phí. Cô cũng có thể nấu ăn cho một vài người nhưng nhiều hơn thì bếp nhà tôi không đủ sức.

Chúc cô vui khỏe và mong rằng ngày tôi trở về hoàn cảnh của cô sẽ khá hơn.

Bạn của cô

An

Có lần cô hỏi về “thư thì mỏng…” mà tôi quên trả lời. Đó là câu thơ tôi quên tên tác giả. “Thơ thì mỏng như suối đời mộng ảo. Tình thì buồn như tất cả chia ly.” Những lá thư qua lại giữa chúng ta có thể chẳng đi đến đâu. Nhưng tôi muốn giữ một tình bạn giữa tôi và cô. Người ta không tin là có tình bạn giữa một người đàn ông và một người đàn bà, nhưng tôi thì tin. Tại sao không?

Dựa theo phim “The Lunchbox” của Đạo diễn Ritesh Batra

Đường hầm

Tôi đi trên con đường ở một vùng núi non hẻo lánh. Trời đang mùa thu, cây cối khô héo và bầu trời ảm đạm. Trên sườn núi xa xa, có phủ một lớp tuyết mỏng. Đường đi ướt át lầy lội. Nước đọng thành vũng ở một vài nơi; có lẽ do tuyết tan. Khi thả tôi ra người ta trả lại bộ đồ tôi mặc lúc trước khi bị bắt. Tước bỏ huy hiệu và chức vụ, tôi vẫn còn đôi ủng, cái mũ kết, và nhất là cái áo khoác trây di khá tốt. Cái “náp sắc” khoác vai trong đó có vài thứ đồ dùng cần thiết và một ít tiền lẻ (tôi ngạc nhiên là người ta không tịch thu) khiến tôi giống một chàng trai trẻ du hành theo kiểu nghèo hơn là một quân nhân.

Trước mặt tôi là một đường hầm tối thăm thẳm. Không biết chỗ này ở đâu, tên làng là gì,  và từ bao giờ người ta xây được một cái đường hầm bê tông kiên cố như thế. Cứ nghĩ mình phải đi xuyên qua đường hầm tối tăm này đã khiến tôi cảm thấy ớn lạnh ở xương sống, nhưng tôi không thể không đi. Sau lưng tôi là chặng đường hoang vắng, không hàng quán nhà cửa. Tôi cũng đã đói lắm rồi, cần tìm chỗ ăn và tạm trú qua đêm. Tôi không thể quay lại nên đành phải đi tới. Vắng vẻ đến nỗi không có cả tiếng chim hay tiếng côn trùng. Bước chân tôi khua vang như tiếng trống.

Cộp! cộp! cộp!

Tiếng chân tôi gõ đều trong im vắng. Thình lình, có tiếng chó tru từ xa. Từ trong bóng tối lao ra một con chó thật hung dữ. Con chó này không phải loại chó thường mà là loại chó được dùng để ra trận. Nó có mặc một cái áo nịt. Phủ xuống hai bên sườn của nó là túi dụng cụ chứa chất nổ dùng để chống chiến xa. Ánh sáng nhá nhem của cái đèn đỏ gắn ở đầu đường hầm chiếu xuống làm con chó ánh lên một màu đỏ như nhuộm máu. Con chó rất hung dữ. Bộ răng nanh của nó khiến nó giống quỷ hơn là giống chó nhà người ta nuôi và rất yêu mến. Nó gầm gừ, dường như muốn xé xác tôi ra thành những mảnh vụn. Tôi không có gì để tự vệ nếu cần phải đánh nhau với con chó; vì vậy tôi chỉ thủ thế, không cử động đột ngột khiến nó nghĩ là tôi tấn công. Tôi nhẹ nhàng bước lui, từ từ rời xa nó, có nghĩa là dấn bước sâu hơn vào đường hầm. Rất may, con chó không đuổi theo mà ngồi trấn ở ngay đầu đường hầm như ngăn chận không cho tôi trở ra.

Càng đi đường hầm càng tối, tiếng chân tôi càng vang to, át hẳn tiếng tim đập của tôi. Tôi muốn tìm đường về nhà, về quê hương, nhưng chẳng biết nơi đâu là chốn quê nhà. Đường vào địa ngục có lẽ cũng chỉ hoang vu đến như thế này thôi.

Bùm! Bùm! Bùm! Tiếng gót giày của tôi nện trên nền đường bê tông. Mười bước. Hai chục bước. Rồi trăm bước. Đường hầm dài như vô tận. Càng đi càng thấy lạnh, có lẽ do thiếu ánh sáng lâu năm. Cũng có thể là do âm hồn lẩn khuất đâu đây. Hơi thở tôi biến thành đám khói mờ trước mặt. Hơi nước đọng cả lên mi mắt tôi. Tôi đi như người mù cứ hướng phía trước mặt mà bước.

Rồi tôi cũng ra khỏi đường hầm. Trước mặt tôi là một vũng sáng lờ mờ. Mặt trời đã bắt đầu khuất bóng chỉ còn lại ánh sáng chạng vạng. Thứ ánh sáng của hai vùng âm dương giao nhau.

Tuy không phải là người nhát gan, nhưng phải nói là từ lúc bước vào đường hầm tôi luôn luôn thủ thế, bước chân chậm rãi vì dè dặt. Tôi luôn luôn liếc nhìn ở hai bên và thỉnh thoảng quay về phía sau lưng nghe ngóng. Tôi linh cảm là có một điều gì đó sẽ xảy ra.

Rồi tôi nghe, từ sau lưng, trong bóng tối thăm thẳm của đường hầm. Ban đầu nhỏ sau lớn dần. Tiếng bước chân. Độc hành, giống như tôi. Khi tôi ngừng lại lắng nghe thì tiếng bước chân im bặt. Mình chỉ tưởng tượng thôi. Tự nhiên sao mình lại đâm ra nhát cáy như thế này. Tôi tiếp tục bước đi xa đường hầm. Tiếng chân lại vọng ra, như đang bước theo tôi. Tôi dừng lại. Tiếng bước chân nhanh hơn, rõ hơn. Từ trong bóng tối bước ra một người. Bóng người rõ dần. Tôi giật mình, thảng thốt.

“Noguchi!”

Anh lính, binh nhì, đang bước mạnh dạn, thấy tôi vội vàng buông súng, đứng nghiêm. Chào.

“Xin chào. Đại úy!”

Giọng anh ta sang sảng như vẫn còn đang ở trong hàng ngũ quân đội.

“Cậu đã…”

“Thưa Đại úy, em đã… Có phải em đã chết trong khi chiến đấu hay không?”

Noguchi bước đến gần tôi. Tôi sợ hãi lùi lại. Noguchi đứng đó, hình hài nguyên vẹn nhưng da anh ta trắng bệch, đôi mắt là hai hố đen ngòm, dáng vẻ của một xác chết biết đi. Tôi lùi thêm hai ba bước. Noguchi lại bước tới. Giọng của anh ta đầy vẻ uất ức.

“Em không thể tin là em thật sự đã chết. Em đã được giải ngũ và về đến nhà. Em ăn bánh nếp mẹ em làm dành riêng cho em. Em nhớ rõ ràng như thế.”

Anh ta bước tới, nói như hét. Tôi lại bước lùi xa hơn, bị dí vào chân tường của đường hầm. Khi không còn thể lùi được nữa, tôi cố lấy giọng bình tĩnh nói chuyện với Noguchi.

“Cậu đã kể tôi nghe chuyện này. Cậu bị bắn, và cậu ngất xỉu. Trong lúc tôi đang săn sóc vết thương cho cậu thì cậu tỉnh dậy rồi cậu kể chuyện được ăn bánh của mẹ làm.”

Vẫn trong tư thế đứng nghiêm, Noguchi hơi nghiêng nửa thân người phía trên về hướng của tôi, chăm chú lắng nghe.

“Đó chỉ là giấc mơ cậu thấy trong lúc bị bất tỉnh. Câu chuyện nằm mơ của cậu sống động quá gây ấn tượng thật mạnh nên tôi không thể nào quên. Nhưng chỉ năm phút sau đó cậu trút hơi thở cuối cùng.”

Noguchi đứng thẳng người, trong tư thế báo cáo, dõng dạc nói:

“Em hiểu rồi. Đại úy! Nhưng bố mẹ em vẫn không chịu tin là em đã chết.” Nói dứt câu cậu binh nhì mím môi như muốn khóc.

Tôi nghẹn ngào, không nói nên lời. Các sớ thịt trên mặt tôi co giật mạnh. Noguchi nhấc nhẹ súng lên, hai tay ôm súng vào ngực, hướng về phía núi xa xa, bước thẫn thờ về phía bên phải của anh ta, hai hố đen ở vùng mắt có ánh sáng lấp lánh.

Phía trước tầm nhìn của Noguchi, có ánh đèn thấp thoáng, chắc là của một làng sơn cước nào đó. Quay lại đối diện với tôi, tay chỉ về hướng ánh đèn, vẻ mặt thiểu não, giọng Noguchi thiết tha:

“Chỗ ấy là nhà em. Bố mẹ em ở nơi ấy vẫn hằng tin và mong chờ em về.”

Noguchi nghẹn ngào. Tôi bước đến gần. Chúng tôi đứng cách nhau không đầy một sải tay. Bóng lá của cây rừng phất phơ trong gió. Tôi lạnh, không biết vì gió thu hay hơi sương. Hay hơi lạnh của tử khí bốc ra từ Noguchi. Ánh mắt cậu ta như dại hẳn đi.

“Nhưng, sự thật là cậu đã chết. Tôi rất là đau lòng dù rất vụng về tôi vẫn phải nói sự thật. Cậu đã chết trên cánh tay tôi.”

Môi Noguchi run bần bật, cố kềm tiếng nấc. Cậu quay nhìn tôi bằng một vẻ thê lương tôi không thể nào tả được. Tôi nghĩ chỉ cần tôi đưa tay ra là cậu ấy sẽ ôm chầm lấy tôi và khóc trên vai tôi. Tay ghì cây súng Noguchi nhìn về hướng làng. Mím môi. Cúi đầu. Noguchi quay người hướng vào bóng tối trong đường hầm. Bộ quân phục, phía sau lưng của Noguchi vẫn còn đẫm vết máu. Noguchi thất thểu lê bước. Tôi gọi vọng theo.

“Noguchi.”

Noguchi quay lại bồng súng chào.

Tôi ném cái náp sắc xuống đường. Giơ tay ngang vành mũ chào đáp lễ. Noguchi buông súng xuống. Sự im lặng giữa hai chúng tôi dài như hằng tiếng đồng hồ. Noguchi quay đi, tôi nghẹn ngào nuốt nước mắt. Noguchi mờ nhạt dần, khuất xa trong bóng tối.

Tiếng chân của Noguchi chưa mất hẳn thì tiếp theo là tiếng bước chân sầm sập của một đoàn quân sắp hàng như chuẩn bị lên đường ra trận. Tôi sợ hãi bước lùi mấy bước. Định thần nhìn cho kỹ đó là một đoàn quân xếp hàng ngang, mỗi hàng có sáu quân nhân, vừa đủ chật đường hầm. Tôi không biết có bao nhiêu hàng vì họ đứng khuất trong bóng tối của đường hầm. Theo mắt tôi có thể nhìn được thì toàn thể đại đội này đang sắp hàng có ít nhất là chín hàng, nghĩa là năm mươi bốn quân nhân cộng thêm người đại đội trưởng.

Đại đội trưởng cất giọng, quát to:
“Tất cả chuẩn bị. Chào Tiểu Đoàn Trưởng. Chào!”

Tất cả bồng súng lên chào. Đại đội trưởng giơ ngang thanh gươm chỉ xuống đất.

“Hạ súng! Xuống!”

Đại đội trưởng và tất cả quân nhân đều hạ súng đứng nghiêm.

“Đại đội Ba. Tất cả có mặt. Trình diện thượng cấp.”

Tôi nghẹn lời, nước mắt chực trào ra.

“Tất cả các bạn hãy nghe tôi nói!”

Tôi cố nuốt nước mắt.

“Tôi hiểu lắm. Suy nghĩ và cảm giác của các bạn. Tuy nhiên, toàn thể Đại đội Ba đã gục ngã trên chiến trường. Xin các bạn hãy tha thứ cho tôi. Tôi đã bảo toàn mạng sống của tôi. Tôi rất hổ thẹn đến độ không thể nhìn thẳng vào mắt các bạn, vì tôi đã không hoàn thành trách nhiệm bảo vệ sinh mạng của các quân nhân tùy thuộc quyền chỉ huy của tôi. Tôi có thể đổ thừa vào sự phi lý của chiến tranh hay sự nhẫn tâm của quân đội. Nhưng chối bỏ, lỗi lầm, sự do dự không dám quyết định, hay quyết định không chính xác của tôi, là một hành động hèn nhát.”

Tôi hít một hơi dài, cố nén cơn đau trào ra từ trái tim. Tôi đứng nhưng thật ra tôi muốn quì xuống trước mặt những người đã chết. Xin tạ tội. Và bày tỏ lòng kính phục sự hy sinh của họ.

“Tôi bị kẻ địch bắt, bị cầm tù. Đời sống trong tù đã cho tôi nếm đủ đòn đau đớn, cũng gần như cái chết. Và. Bây giờ. Khi tôi nhìn các bạn tôi lại trải nghiệm lần nữa những điều đau đớn ấy.”

Nước mắt tôi trào ra và chảy xuống mũi. Tôi nói để lấp đi tiếng nấc.

“So với cái chết của các bạn nỗi đau của tôi thật quá tầm thường. Nhưng tôi thành thật nói với các bạn điều này. Tôi ước gì. Tôi đã cùng chết với các bạn. Xin hãy tin tôi khi tôi nói những lời này. Tôi thông cảm với những oán hờn của các bạn. Chết trong trận mạc là cái chết tồi tàn như cái chết của loài chó! Nhưng xin hãy nghe tôi. Chẳng có gì tốt đẹp khi các bạn trôi lang thang vô định trong cuộc sống của loài người. Tôi van xin các bạn. Hãy quay lại. Quay về với bóng tối và an nghỉ muôn đời.”

Tôi đứng thẳng người, chỉnh đốn tư thế và quân phục. Rồi tôi dõng dạc ra lệnh.

“Đại đội Ba! Đằng sau! Quay!”

“Đằng trước! Bước!”

Đoàn quân sầm sập bước vào trong đường hầm. Tiếng kèn nhạc quân hành đâu đó trổi lên. Vang vọng. Xa dần. Khuất hẳn. Tôi đứng nghiêm chào cho đến khi đoàn quân và tiếng kèn không còn nghe thấy nữa. Tôi kiệt sức, phủ phục người trên mặt đất. Cơn đói ban chiều trở lại hành hạ tôi. Đêm càng khuya trời càng lạnh. Nếu tôi không đứng dậy đi tiếp tôi sẽ nằm xuống đây muôn đời.

Con chó quỷ bây giờ lại xuất hiện. Nó nhe răng, đỏ thẫm màu máu, có lẽ nó đang đói cần ăn thịt người. Tôi không biết đây là con chó thật sống sót sau chiến tranh, hay nó chỉ là một hồn ma không siêu thoát. Tại sao nó cứ theo sủa tôi, như sủa một tên trộm cướp, một kẻ hèn nhát. Người ta bảo rằng chó sủa ma; thế nhưng bao nhiêu oan hồn không siêu thoát xuất hiện lúc nãy nó chẳng kêu lên tiếng nào, mà bây giờ nó lồng lộn chực chờ xé xác tôi.

Nguyễn thị Hải Hà viết lại thành văn xuôi đoạn phim ngắn “The Tunnel” trong tập phim Akira Kurosawa’s Dreams (Những Giấc Mơ của Akira Kurosawa). Đoạn phim youtube trên đây chỉ là phần cuối của đoạn phim. Rất tiếc là có rất nhiều đoạn giấc mơ của đạo diễn Kurosawa đã được upload lên youtube nhưng tôi không tìm được đoạn phim Tunnel đầy đủ, có vẻ như người xem không thích hay không chú ý đến đoạn phim này. Theo tôi đây là đoạn phim cảm động nhất trong tập phim.

Làng Có Cối Xay Nước

Trời xuân nắng vàng rực, khá ấm. Men theo con đường mòn, lần theo tiếng nước chảy róc rách, quẹo phải quẹo trái đôi ba lần tôi lạc vào một ngôi làng nhỏ bên suối. Con suối khá rộng, trong suốt, và có rất nhiều rong lả lơi theo dòng nước chảy mạnh. Bắc ngang con suối là chiếc cầu gỗ, đơn sơ nhưng chắc chắn. Bên kia cầu có dăm ba căn nhà, mái rạ, vách gỗ, nhỏ nhắn nhưng cứng cáp và sạch sẽ. Chung quanh nhà, dọc theo bờ suối, hay ở những hòn đảo nhỏ giữa dòng suối, chỗ nào cũng có hoa nhiều màu rực rỡ. Đỗ quyên màu tím và hồng, diên vỹ nước màu vàng, babybreath màu trắng li ti nở khắp nơi. Suối rộng, có chỗ cạn chỗ sâu. Ở những chỗ sâu, được dựng lên nhiều guồng bánh xe, chạy bằng sức nước chảy. Bánh xe quay kéo theo cỗ máy bên trong, dùng để xay lúa, thóc, làm thành gạo, hay bột. Người ta gọi đơn giản là cối xay nước.

Tôi đi thong thả, qua chưa hết cầu, bên kia bờ có một đám trẻ em đang nô đùa, chạy dọc theo dòng suối. Khi tôi đến gần cuối cầu thì các em cũng vừa chạy đến. Mỗi trẻ em cúi người hái vài đóa hoa mọc ven đường đến đặt vào một phiến đá gần bên cầu. Một chú bé dường như quên đã chạy xa rồi quay trở lại hái một đóa hoa vàng đặt lên tảng đá rồi lại chạy theo các bạn. Phiến đá này ở phía trên một mô đất cao. Chân cầu chỗ tôi đứng thấp hơn phiến đá một chút. Bước chân mạnh của các em làm rung nhẹ đoạn cầu nơi tôi đang đứng. Thấy tôi các em chào “Thưa anh!” Các em vẫn còn ăn mặc theo kiểu người sơn cước, vải thô màu sậm dệt bằng tay, chân đi dép cỏ hay giày vải. Da các em rám nắng hồng hào khỏe mạnh.

Ông cụ ngồi sửa bánh xe cối xay nước trước nhà. Tôi chào.

“Chào cụ ạ!” Ông cụ mải mê làm việc chẳng nghe. Tôi lập lại, giọng to hơn. Lần này ông ngẩng đầu lên.

“Chào cháu!”

Ông đội mũ rơm còn mới, có cột dây màu đỏ. Da cụ đen xạm, nét rắn rỏi. Cụ mặc áo vải màu xanh nhạt gần giống như màu vải quần jean nhưng đây là loại vải dệt bằng tay. Râu và chân mày cụ bạc trắng như những ông tiên trong tranh. Dọc theo con suối có độ chục căn nhà, nhà nào cũng có cối xay nước.

Tôi lân la gợi chuyện.

“Làng này tên gì vậy cụ?”

Ông chậm rãi trả lời.

“Làng không có tên.” Ngừng giây lát, ông nói tiếp:

“Chúng tôi chỉ đơn giản gọi là ‘làng.’ Nhưng người sống ở ngoài làng, gọi chúng tôi là ‘Làng Có Cối Xay Nước.’ ”

Tôi nhìn chung quanh rồi nhìn vào bên trong nhà. Từ ngoài cửa nhìn vào, giữa nắng, bên trong nhà tối om. Gần bên cửa, treo lủng lẳng trên kèo nhà là một cái đèn dầu. Tôi hỏi:

“Người trong làng đều sống gần nhau cả, phải không thưa cụ?”

“Chúng tôi sống rải rác khắp nơi.”

Ông cụ trả lời nhưng vẫn chăm chỉ làm việc. Từ cổ tay đến hết bắp tay nhưng chưa đến khủyu tay ông có mặc một lớp vải màu sậm, như một loại găng tay, để chống trầy xước khi cụ sửa cỗ bánh xe gỗ của cối xay nước. Xem chừng ông không mấy hứng thú đưa chuyện, tuy thế tôi hỏi đến đâu thì cụ trả lời đến đấy. Thấy cái đèn dầu gần cửa ra vào, tôi hỏi:

“Làng mình không có điện, thưa cụ?”

Ông cụ ngước lên nhìn một thoáng lại cúi xuống với cái bánh xe, hí hoáy cột dây bện.

“Chúng tôi không cần những thứ ấy.” Ông nói chậm rãi từng câu, như nói một mình.

“Người ta dễ bị quyến rũ bởi những cái tiện lợi. Họ nghĩ rằng, ‘càng tiện nghi càng tốt,’ thế rồi họ đâm ra bỏ rơi những thứ thật sự quí giá.

Tôi nhìn ông chăm chú, không tránh khỏi thắc mắc:

“Thế cụ làm thế nào để tạo ra ánh sáng?”

“Chúng tôi dùng nến, dùng dầu thô, dầu mù u, dầu hạt cải.”

“Ban đêm như thế sẽ tối tăm lắm, phải không cụ?”

“Ban đêm thì phải tối thôi. Chúng ta sẽ khó chịu lắm nếu ban đêm sáng như ban ngày. Tôi không thích ban đêm nhiều ánh sáng quá vì tôi sẽ không nhìn thấy trời sao.”

Tôi thầm nghĩ ông cụ xem chừng lãng mạn gớm, nhưng ông cũng có lý. Thời bây giờ, ban đêm ở thành phố đèn sáng choang. Người ta làm nghiên cứu bảo rằng ở những nơi ban đêm có nhiều đèn, tỉ lệ người bị bệnh ung thư rất cao. Trong khi ông cụ nói tôi nhìn ra xa, thấy đồng ruộng xanh tăm tắp.

“Cụ ơi, cháu thấy làng mình có ruộng nhưng sao không thấy máy cày máy gặt?”

“Chúng tôi không cần dùng những thứ ấy. Chúng tôi có bò và ngựa.”

“Thế cụ dùng nhiên liệu gì?”

“Chúng tôi dùng củi. Để nấu ăn và sưởi ấm.”

Ông cụ nói giọng thân thiện, trầm ấm, nhưng vẫn chăm chỉ làm việc, thỉnh thoảng mới ngước nhìn lên.

“Chúng tôi không thấy thoải mái khi phải đốn cây còn sống, tuy nhiên cây chết ngã cũng khá nhiều. Phần lớn chúng tôi dùng những cây đã chết để làm củi. Và nếu nhốt củi làm than thì chỉ cần vài cây chết thì cũng đủ sưởi ấm như cả cánh rừng. Ngay cả phân bò cũng có thể được dùng để đốt.”

Tôi cảm thấy thật thanh nhàn khi ngồi nói chuyện với ông cụ. Chim hót ríu rít khắp nơi. Trời trong xanh, nắng ấm áp, suối chảy róc rách êm tai. Ông cụ thong thả nói tiếp:

“Chúng tôi cố gắng sống tự nhiên, như người xưa đã sống. Thời bây giờ, chúng ta quên rằng loài người là một phần của thiên nhiên. Người ta không thể sống thiếu thiên nhiên vậy mà người ta vẫn xâm phạm và phá hủy thiên nhiên. Họ cho rằng họ có thể sáng tạo ra những thứ tốt đẹp hơn, nhất là các nhà khoa học. Có thể là họ rất thông minh, nhưng đa số họ hoàn toàn không biết lắng nghe nhịp đập trái tim của thiên nhiên. Họ đã vất vả phát minh nhiều sáng kiến chỉ khiến loài người thêm bất hạnh rồi tự vỗ lưng khen mình tài giỏi. Càng tệ hại hơn là phần lớn loài người xem những sáng kiến ngu ngốc này như là phép mầu rồi tuân phục chúng. Họ không thấy rằng thiên nhiên bị giết chết và loài người tiến dần đến chỗ tự hủy diệt. Những thứ quan trọng nhất cho loài người chính là không khí sạch và nước sạch, và các loài cây cỏ để giữ cho không khí và nước trong lành. Loài người làm ô nhiễm môi trường và nó sẽ biến mất mãi mãi. Không khí bẩn và nước bẩn sẽ làm ô nhiễm tâm hồn của con người.”

Tôi lắng nghe ông cụ độc thoại, mắt nhìn cảnh đẹp chung quanh. Hoa nở đủ thứ màu sắc khắp nơi. Trông hoa tôi chợt nhớ một điều.

“Thưa cụ, lúc mới đến cháu thấy các em bé hái hoa đặt lên phiến đá. Tại sao các em làm thế?”

“Ồ, cái đó hả? Tôi nghe ông bố tôi, cụ đã qua đời, kể lại là…”

Lúc nãy tôi đã đứng lên, định tiếp tục đi thăm làng, nghe giọng ông cụ, tôi đoán là câu chuyện chắc là thú vị, nên ngồi xuống nghe tiếp.

“Hồi xưa, lâu lắm rồi, có một du khách đi ngang làng. Ông ta bệnh và chết ở bên bờ suối, ngay chỗ có phiến đá. Người làng thấy tội nghiệp nên chôn cất tử tế. Họ đặt phiến đá làm mộ bia và dâng cúng hoa. Lâu ngày điều này trở thành phong tục của làng. Không phải chỉ có trẻ em dâng hoa, ngay cả người lớn mỗi khi đi ngang cũng dâng hoa, dù lâu ngày chẳng mấy ai còn hiểu tại sao lại làm như thế.”

Ông lão xoay xoay bánh xe của cối xay nước, có vài chỗ gỗ bị hư ông thay thế bằng ống tre. Xa xa có tiếng nhạc rộn ràng. Tôi hỏi:

“Hôm nay trong làng có lễ hội gì đấy cụ?”

Ông lão lấy tay khum ở sau vành tai, cố gắng lắng nghe, rồi trả lời:

“Lễ hội gì đâu. Đám tang đấy. Chắc là cháu ngạc nhiên và cho là kỳ quái, nhưng đám tang ở đây là một ngày hội vui.”

Tôi nhìn lảng sang chỗ khác sợ bị cho là vô lễ, nhưng quả tình ông đoán trúng ý nghĩ của tôi. Ông cụ giải thích:

“Chúng ta nên sống cho đáng, làm việc chăm chỉ, sau đó tự khen mình đã làm việc tốt. Làng chúng tôi không có chùa chiền nhà thờ hay tu sĩ, vì thế dân làng cùng nhau đưa người chết lên nghĩa trang trên đồi. Dĩ nhiên nếu người chết là trẻ em thì là chuyện khác. Chúng tôi không thể xem đó là chuyện vui. Nhưng cũng may là người làng chúng tôi thường chết già, ai ra đời trước đi trước. Bà cụ qua đời hôm nay qua đời yên lành ở cái tuổi ngót nghét một trăm.”

Ông đứng dậy.

“Cháu nói nên tôi mới nhớ. Tôi phải đi dự đám tang. Cho tôi xin kiếu nhé”

Chuẩn bị bước vào ngưỡng cửa, cụ quay sang mỉm cười nói với tôi:

“Nói thật với cháu, bà ấy là mối tình đầu của tôi. Nhưng bà đạp nát trái tim tôi bằng cách đi lấy người khác.”

Ông đi vào nhà, nét mặt vẫn vui tươi, vừa đi vừa ngâm nga trong cổ một điệu nhạc vui nhộn. Tôi hướng về nơi có tiếng nhạc càng lúc càng đến gần. Nghe sau lưng có tiếng nhạc tôi quay lại. Ông cụ đã thay trang phục. Phủ bên ngoài lớp áo màu xanh lam như vải jean là một cái áo khoác, gần giống như cái tạp dề của các đầu bếp hay họa sĩ, màu đỏ tươi tắn. Chân của cụ cũng mang giày bện bằng vải, chung quanh ống chân cũng cột vải. Giày cũng cùng màu với áo khoác. Trông cụ như ăn vận cho một ngày lễ hội tưng bừng.

“Cho phép cháu hỏi cụ câu này, năm nay cụ được bao nhiêu tuổi?”

“Tôi à? Tôi được một trăm lẻ ba. Tuổi này phải nói là khá thọ cho loài người. Cháu thấy đó, loài người hay than phiền là cuộc sống quá khổ ải. Toàn là nói tướng lên cho sướng mồm. Thật ra, còn sống là điều rất tốt.”

Cụ cúi xuống ngắt một nhánh hoa đỗ quyên màu hồng thắm. Tay phải của cụ đang cầm một cái lục lạc, cụ lắc leng keng, tiếng nhạc thật vui tai. Tay trái cụ phe phẩy nhánh hoa theo tiếng lục lạc.

Đoàn đám tang đã đến rất gần. Ban nhạc đám tang thật lớn, nhiều kèn, nhiều trống, nhiều lục lạc. Tiếng kèn tuba hòa quyện với tiếng trombone nghe thật hùng hồn nhưng không thể che lấp tiếng tambourine. Sáu người khiêng một cái kiệu phủ tấm khăn kết bằng vải nhiều màu. Các cô gái trong làng đội mũ có kết hoa, áo đỏ, yếm đỏ, giày đỏ, tay cầm hoa, tay rung lục lạc, vừa đi vừa hát và nhảy múa. Trẻ em dẫn đầu đoàn người đưa tang, đi đến đâu các em rải hoa đến đó. Các chàng trai cũng ăn vận sặc sỡ, người ôm kèn, kẻ mang trống. Không ai ngờ rằng đây là một đám tang. Người trong làng Cối Xay Nước, khi sống cuộc sống đầy vẻ thanh bình. Khi chết, cái chết xem chừng cũng là một niềm vui, hạnh phúc.

Ông cụ chờ đoàn người đến gần rồi nhập cuộc. Cụ đi trước, vung vẩy hoa và lục lạc theo tiếng nhạc. Tôi đứng ngẩn người nhìn theo. Khi đám tang đi rồi tôi quay trở lại ra khỏi làng. Trước khi đi, chợt nhớ ra, tôi quay trở lại dâng một đóa hoa lên bia mộ.

Rồi tôi tỉnh giấc.

Ghi chú: “Tôi” trong bài là tên của nhân vật (hay Kurosawa) trong tập phim “Dreams of Kurosawa” (Những Giấc Mơ của Kurosawa) bao gồm nhiều đoạn phim ngắn. NTHH viết lại thành văn xuôi đoạn phim ngắn tựa đề là “The Village of Watermills” (Làng Có Cối Xay Nước). Dịch là Cối Xay Nước (Watermill) để phân biệt với cối xay gió (windmills)

 

Một con Gà và hai con Công

Mệt mỏi, chán chồng con, và trên hết Gà Dầu sợ sẽ bị làm thịt vào dịp Tết nên trốn đi. Chị không biết đi đâu làm gì chỉ biết trước nhất là tìm sự bình yên cho thể xác. Sau đó chị hy vọng sẽ tìm được hạnh phúc cho tâm hồn. Không phải là gà có học thức chị nghĩ là trước nhất mình phải đi tìm người hiểu biết hơn mình để học hỏi. Học gì cũng được, miễn là học.

Ngày kia, đến một khu rừng Gà Dầu gặp hai con chim, nhìn hơi giống gà nhưng có màu sắc xinh đẹp hơn. Một con từ cổ đến ức màu xanh lục và con kia xanh dương đậm. Thân người của hai con chim có lông màu nâu nhạt cũng như Gà Dầu.

Gà Dầu đến gần con chim màu xanh lục, tự giới thiệu, rồi hỏi:

“Tôi là người ở xa đến muốn tìm người tài giỏi để học hỏi. Cô nương có nhận học trò không?”

Continue reading Một con Gà và hai con Công

Gia đình gà

Mời các bạn đọc truyện ngắn Gia Đình Gà của Nguyễn thị Hải Hà đăng trên Gió O. Tranh Gà (trên trang Gió O) của họa sĩ Hà Cẩm Tâm.

Lục trong computer tôi có vài tấm ảnh cũ. Từ trái sang phải, viện bảo tàng ở Ottawa đã mời các họa sĩ cộng tác, gởi tác phẩm để được chọn làm tem mừng năm con gà (2005) Ảnh tem gà là tác phẩm của họa sĩ Hélène L’Heureux. Tấm giữa là bức tranh gà làm bằng hoa. Tấm thứ ba là ba con gà lôi (còn gọi là gà tây) băng ngang con đường trước nhà tôi. Tấm cuối là tượng của con gà bằng đồng. Gà đứng trên đống tiền vàng, tượng trưng cho sự giàu sang thịnh vượng. Con gà này tôi thấy ở nhà một người trong họ hàng của ông Tám.

Giới thiệu truyện ngắn

A Clock Ticks at Christmas của bà Patricia Highsmith. Truyện do Nguyễn thị Hải Hà dịch đăng ở Gió O.

Patricia Highsmith (1921 – 1995) sinh ra ở Fort Worth, Texas nhưng sống ở Pháp và Thụy Điển, phần lớn. Tác phẩm đầu tay của bà Stranger on the Train được đạo diễn Alfred Hitchcock làm thành phim năm 1950. Tuy thành công và nổi tiếng rất sớm ở Châu Âu, giới xuất bản và nhà văn ở Hoa Kỳ làm ngơ với bà. Truyện của bà có khuynh hướng đen tối, sát nhân, bạo lực (noir fiction). Nhân vật của bà, cả nam lẫn nữ, đều giỏi lên kế hoạch, âm mưu, thủ đoạn. Sở trường của bà là có thể biến một tình huống bình thường thành một môi trường chín mùi cho một cuộc sát nhân với biến chuyển tâm lý của nhân vật thật tinh tế. Với ngòi bút của bà, một con ngựa cũng có thể trả thù cho người chủ hiền lành và loại trừ một tên ma đầu đại gian ác. Bên cạnh Stranger on the Train, ở Hoa Kỳ, tác phẩm của bà được chuyển thành phim có Carol dựa vào tiểu thuyết The Price of Salt, và The Talented Mr. Ripley.

Hằng năm, vào dịp Giáng sinh tôi thường cố chọn vài truyện Giáng sinh tôi thích để giới thiệu với độc giả. Một việc làm xem có vẻ dễ dàng nhưng thật ra khá khó khăn. Điểm thứ nhất là có quá nhiều truyện. Thứ hai, truyện hay nhưng dài quá. Thời buổi điện tử và facebook, truyện dài kén độc giả. Truyện Giáng sinh thường xoay quanh một số chủ đề, tin hay không tin vào ông già Noel, còn gọi là Santa Claus, Kris Kringle, v. v… . Một chủ đề khác là kêu gọi lòng vị tha, thương người nghèo, san sẻ cái giàu có, tha thứ những hờn giận oán ghét trong quá khứ. Phải công nhận là chủ đề Giáng sinh đã được khai thác tận cùng. Một tác phẩm mới muốn được độc giả chú ý, phải có gì đó vượt qua cái giới hạn văn chương của những nhà văn lừng lẫy trong quá khứ đã tạo nên. Nói về lòng vị tha hay bần tiện của con người, chắc không ai có thể dám so sánh với Charles Dickens qua The Christmas Carol, hay Oliver Twist.

Tôi gặp truyện ngắn A Clock Ticks at Christmas từ nhiều năm trước nhưng không chọn dịch vì nó dài. Tôi thích truyện này vì cái tính nhị nguyên của nó và không đi theo truyền thống hiền lành vị tha ngọt ngào như thường thấy trong truyện Giáng sinh. Bà Patricia Highsmith đã tài tình diễn tả sự đối xứng của hai nhân vật giàu-nghèo, nam-nữ, hào phóng – keo kiệt. Sở trường của bà, phân tích tâm lý nhân vật thật tinh tế, cái lý do xô đẩy họ đi đến quyết định thi hành một điều tối tăm hay tàn ác, như trong The Stranger on the Train, hay The Talented Mr. Ripley, cũng xuất hiện trong truyện ngắn A Clock Ticks at Christmas.

Tôi có cảm tưởng tác giả bênh vực Michèle, nàng đã có lòng yêu thương trẻ em nghèo khó. Tuy nhiên nếu đặt mình ở cương vị của Charles tôi hiểu tại sao Charles tức giận. Phản ứng của chàng cũng không bất bình thường. Tôi không thể truyền đạt được ý nghĩa của chữ ticks trong tựa đề. Nó chỉ là tiếng tíc tắc của cái đồng hồ, nhưng tôi có cảm tưởng tôi nghe tiếng tíc tắc của một trái bom đặt nổ đúng giờ, để phá tan nát một cuộc hôn nhân lỗi nhịp.

Đóa hoa cúc cuối cùng

Quảng cáo trước mấy hôm rồi. Mời các bạn đọc nha. Ai muốn tặng ý kiến, chê cũng được miễn đừng nặng lời quá đáng, thì còm trên blog này.

http://www.gio-o.com/NguyenThiHaiHa/NguyenThiHaiHaDoaHoaCuc.htm

Trang Gió O bị hư hỏng nặng nên bài không còn đọc được nữa. Vì vậy xin đăng lại nguyên bài. Hôm nay ngày 8 tháng 12 năm 2018. Bài này cũng copy lại ở Tương Tri vì computer của tôi bị hư, mất hết bài.

20/02/2018 by TUONGTRI1

đóa hoa cúc cuối cùng (truyện phóng tác)

Xin cảm ơn quí vị tiền bối
Shofu Muramatsu, tác giả truyện,
Kenji Mizoguchi đạo diễn phim “The Story of the last Chrysanthemum,”
và Osamu Dazai, tác giả của “The Chrysanthemum Spirit.”

Đang ngồi trầm ngâm với chén rượu, Kiku nghe tiếng guốc chạy lộp cộp. Cái bóng đen nhảy vụt vào bụi rậm. Một thiếu nữ chừng mười sáu mười bảy tuổi chạy đến.  Cô gái mặc kimono màu xanh ô liu cũ, guốc thô, tóc bới đơn giản, không cài trâm, cách ăn mặc của đầy tớ nhà chàng. Kimono hơi bó ở đầu gối khiến cô vướng víu, suýt té.

“Có chuyện gì thế, cô bé kia?”

“Dạ, con mèo, con mèo kia… , thưa công tử.” Cô gái thở gấp, tay chỉ vào bụi rậm.

Nhìn theo, Kiku thấy con mèo của chàng đang tha một cái gì đó. Thấy chủ nhìn mình, con mèo thả chiến lợi phẩm trước mặt chàng như dâng tặng. Kiku cầm món đồ đưa trả cho cô gái. Đó là một con búp bê trai, bằng vải, dài độ hai gang tay, mặc kimono lụa có thêu hoa cúc rất tinh xảo. Đây không phải là thứ đồ chơi của một cô gái nghèo.  Kiku thắc mắc:

“Ở đâu mà cô có một con búp bê đẹp như thế?”

“Dạ, đây là quà người ta tặng, nhân dịp lễ đầy tháng cho em trai của công tử. Em tên là Otoku, bảo mẫu của tiểu công tử.”

“Cô hãy cất món quà của em tôi cho tử tế nhé.  Kẻo mèo cắn rách hay bị mất là cô sẽ bị phạt đấy.”

Kiku Onoe không phải là con ruột của Goro Onoe. Ông nhà giàu chủ đoàn hát Kabuki hiếm muộn, tin rằng phải nhận con nuôi thì mới có thể có con nối dòng. Sau khi bà vợ qua đời, Goro cưới người vợ kế, sinh được một bé trai.  Nổi tiếng rất yêu nghề, Goro quan niệm là nghệ sĩ phải hết lòng với nghệ thuật dù phải hy sinh hạnh phúc cá nhân. Điều phân biệt giữa nghệ thuật và tay ngang là sự hoàn hảo của tác phẩm. Kiku được dạy nghề diễn để sau này nối nghiệp ông Goro. Yêu nghề và luôn muốn học hỏi, Kiku thường hay hỏi ý kiến các diễn viên trong đoàn về cách trình diễn của mình. Kế mẫu Kiku muốn bảo đảm quyền lợi của con trai nên tìm cách gạt Kiku ra khỏi gia đình. Các nghệ sĩ trong đoàn vì muốn bảo vệ địa vị của họ nên cũng hùa theo phía mẹ kế của chàng. Sau lưng chàng họ thường chê bai nhưng trước mặt ai cũng hết lời khen tặng tài nghệ của Kiku.

Một đêm từ quán rượu ra về, chàng tình cờ gặp lại Otoku. Kiku đi trước, cô gái lẽo đẽo theo sau:

“Em thường được bà chủ mang theo mỗi khi bà xem kịch Kabuki. Bà muốn mang tiểu công tử theo để tiểu công tử có cơ hội quấn quít với ông chủ, nhưng lại không muốn bị tiểu công tử quấy rầy khi bà xem kịch. Tuy nhiên tiểu công tử rất ngoan thường ngủ suốt buổi nên em rảnh rang có thể xem công tử diễn xuất.”

“Thế à? Cô thấy tôi diễn thế nào? Có hay không? Nói thật cho tôi biết.”

Cô gái suy nghĩ một hồi rồi nói.

“Xin cho phép em nói thật, Công tử đừng giận và trách mắng em nhé.”

“Xin cô cứ nói. Tôi thật lòng muốn dâng mình cho nghệ thuật. Người ta hay ca tụng tôi nhưng tôi không biết họ có thật lòng không.”

“Diễn viên chung đoàn với công tử, được đãi đằng rượu chè, ngoài mặt thì họ ngọt ngào tâng bốc ca tụng, nhưng sau lưng thì họ chê bai không ngớt.”

“Họ nói những gì?”

“Rằng công tử kiêu ngạo, luôn nghĩ là mình hơn người. Công tử nhậu nhẹt quá độ nên không nhớ tuồng chỉ có mấy câu đối thoại cũng không thuộc, không biết vẽ mặt, không biết hát, múa càng tệ hơn. Công tử chỉ đóng được vai trộm cướp, hay công tử con nhà giàu phá của ăn chơi, chứ không đóng được vai anh hùng, và càng không diễn được nỗi bi thương.”

“Có thể vì họ ganh tị với tôi, là con của ông chủ đoàn hát. Tôi được đóng vai chính.”

“Họ nói công tử chỉ là con nuôi. Vài năm sau tiểu công tử lớn lên, sẽ thay địa vị của công tử. Công tử sẽ bị thất sủng. Mẹ kế sẽ tìm cách đuổi đi.”

“Họ nói thế nhưng ý cô thì sao? Tôi có thật sự tệ như thế không?”

“Công tử diễn được, nhưng chưa xuất sắc. Công tử chưa được giao cho một vai khó đến độ đòi hỏi hoàn toàn tâm sức của công tử. Công tử thể hiện tạm được ở những vai đàn ông, anh hùng và kẻ cướp. Nhưng vai trò đòi hỏi sự diễn xuất thượng thặng trong đoàn hát Kabuki phải là vai phụ nữ. Vai đào thương trước dành cho nữ nghệ sĩ nhưng sau này các đoàn Kabuki bị cấm ngặt thuê phụ nữ, chỉ giao cho những diễn viên nam thật sự có tài và có thể nhập vai.”

Kiku lặng thinh đi trước. Otoku tưởng là vị chủ trẻ đang tức giận, nhưng chỉ một lúc sau Kiku quay lại cúi đầu tạ ơn Otoku.

“Cám ơn những lời thành thật của cô. Tôi mong cô trở thành bạn tốt của tôi. Nếu có thể được xin cô đến xem tôi diễn hằng đêm và chỉ giúp tôi những chỗ tôi cần phải luyện tập thêm.”

Otoku hiểu biết tinh tường về nghệ thuật Kabuki đến độ làm Kiku ngạc nhiên. Những khi không diễn xuất, chàng thường tìm gặp Otoku để nghe nàng nói chuyện nghệ thuật. Nàng chịu khó quan sát và khi góp ý cũng rất từ tốn nên Kiku nhận ra khuyết điểm mà không giận nàng. Hai người trở nên tâm đắc như bạn thân. Sự thân thiết giữa Kiku và Otoku khiến kế mẫu của chàng không vui. Không muốn tài năng của Kiku tiến bộ, và viện cớ không muốn có chuyện tư tình giữa chủ và đầy tớ, bà đuổi việc Otoku. Kiku hết lời đính chính, rằng quan hệ giữa hai người hoàn toàn đứng đắn. Để bảo toàn danh dự cho Otoku chàng xin phép được cưới nàng làm vợ. Bố chàng cự tuyệt chuyện kết hôn cô đầy tớ. Kiku bỏ đi, thề không nhận sự giúp đỡ của bố nuôi. Kiku lang thang theo đám hát rong, cương quyết không nhờ vào tên tuổi của bố nuôi, diễn xuất nay đầu đình mai góc chợ, ngày càng sa sút.

Vào một ngày Kiku đói rách tả tơi, hoàn toàn mất niềm tin vào tài nghệ của mình, Otoku đến tìm chàng.

“Chàng không thể trở thành nghệ sĩ Kabuki thượng thặng nếu đi hát dạo như thế này. Nếu chàng không chê em nghèo hèn, xin mời chàng về nhà em để tìm cách sinh nhai và phát huy tài năng của chàng.”

Otoku đưa chàng về một hòn đảo nhỏ cách Edo chưa đến một ngày đường. Trên đảo chỉ có gia đình của Otoku. Ngoài khu gia trang, phần lớn diện tích đảo được dùng để trồng hoa cúc. Otoku sống với em trai. Ichi khoảng chừng 15 tuổi, mảnh khảnh trắng trẻo không có vẻ gì là một nhà nông nhưng lại là một người trồng cúc rất tài.

“Chị Otoku kể, anh là diễn viên Kabuki. Anh có ngỏ ý cưới chị làm vợ và vì thế mà chị bị đuổi việc còn anh thì bỏ nhà ra đi. Cả hai chị em tôi đều yêu thích môn kịch Kabuki nhưng không thể theo đuổi. Gặp nhau đây quả là duyên. Mời anh ở tạm với chúng tôi, dưỡng sức một thời gian, rèn luyện thêm tài nghệ và sau đó sẽ tìm cơ hội diễn xuất trở lại.”

Tuy mới gặp Ichi lần đầu, nhưng Kiku thấy chàng trai này có vẻ gì rất quen thuộc, như thể chàng đã gặp thiếu niên này nhưng không nhớ gặp ở đâu. Ichi vui vẻ lịch thiệp với Kiku như là bạn lâu ngày. Tuy là người trồng cúc nhưng Ichi ăn mặc rất lịch sự. Cái áo kimono của chàng bằng lụa bóng có thêu hoa cúc cả hai mặt. Loại lụa thêu của những người giàu có sang trọng thường đến xem đoàn hát Kabuki của bố Kiku.

“Cúc chỉ nở có mùa. Từ mùa xuân đến cuối mùa thu chúng tôi bận rộn với việc trồng cúc, nhưng vào mùa đông chúng tôi có nhiều thì giờ rảnh rang. Giai đoạn vất vả nhất đã gần xong. Anh có thể giúp chúng tôi tưới hoa vào sáng sớm. Thời gian còn lại trong ngày là của anh.”

Giữa mùa thu, rừng cúc trên đảo đã đến mùa khai nở. Đây không phải là loại cúc thường thấy ở chợ. Những cây cúc cao đến đầu người. Có những nụ hoa to bằng nắm tay, được trồng trong giỏ trúc. Mỗi chậu hoa chỉ có một cây cúc. Mỗi cây cúc chỉ nở một đóa hoa, dưới nụ hoa có một vòng trúc vót thật mảnh, uốn theo hình trôn ốc để đỡ cho đóa hoa không bị gãy.

“Chúng ta ở giữa đảo như thế này, ai sẽ đến đây mua cúc?” Kiku hỏi.

“Đây là loại hoa chỉ cung cấp cho các nhà vườn thượng uyển hay các bậc trưởng giả. Một số ít sẽ được dâng cúng ở các đền thờ Shinto hay chùa Phật nổi tiếng. Một vài lái buôn sẽ đi thuyền đến đây, mang theo người của họ để vận chuyển hoa. Người vận chuyển toàn là người chuyên nghiệp để hoa không bị gãy. Người mua hoa đều muốn giữ bí mật chỗ mua hoa để vườn hoa của họ thuộc loại độc nhất. Mỗi lái buôn chỉ được mua một loại cúc.”

Trên đảo có một giếng nước rất trong, dưới là cát sỏi, chung quanh miệng giếng được viền bằng những hòn đá nhẵn thín. Giếng rộng như một cái ao. Mỗi sáng Kiku nghiêng thùng gỗ gánh nước đến tưới những chậu hoa cúc. Trang trại có ba gian nhà, mỗi người ở một gian, họ lặng lẽ làm việc, Kiku ít khi gặp Ichi hay Otoku.

Một đêm trăng sáng, Kiku bỗng nghe như có tiếng hát, tiếng samisen, và tiếng phách gõ nhịp vọng lại từ cuối đảo. Men theo con đường mòn đi một đỗi chàng thấy có ánh đèn thấp thoáng. Theo ánh đèn chàng đến một ngôi nhà vọng nguyệt, đơn sơ nhưng trang nhã. Nơi đây, Ichi trang điểm lộng lẫy đang múa hát một mình. Ichi diễn vai Sumizome, một kỹ nữ chết đi và biến thành một cây anh đào để trả thù cho người tình là lãnh chúa bị kẻ thù giết chết, nàng dùng ma thuật đánh đuổi kẻ thù, lấy lại vương ấn giao cho người em trai của người yêu.

Mãi xem Ichi diễn kịch, Kiku không để ý đến người đang đàn và gõ nhịp cho Ichi chính là Otoku. Cả hai đứng dậy cúi chào Kiku. Otoku lên tiếng:

“Em biết sẽ gặp chàng ở đây. Xin cám ơn chàng đã săn sóc tưới cúc giúp hai chúng em. Chàng nghĩ gì về cách diễn của Ichi?”

“Tôi không ngờ Ichi tài hoa như thế này. Cậu thật là đáng bậc thầy của tôi. Xin thứ lỗi nếu tôi đã vô tình mạo muội hay hống hách với nhị vị mỗi khi bàn luận về nghệ thuật Kabuki.” Nhờ còn trẻ, dáng người mảnh khảnh, giọng nói chưa vỡ tiếng, nên Ichi đóng vai phụ nữ rất hợp. Cả ba người bàn chuyện nghệ thuật đến khuya khi trăng lên đến đỉnh đầu. Otoku và Ichi mời Kiku đi xem vài đóa hoa cúc nở đầu tiên.

Ở một góc rừng có một loại cúc đại đóa. Hoa bắt đầu nở vài cánh. Otoku nói:

“Dưới ánh trăng khó thấy màu thật, nhưng đây là loại cúc màu xanh và có vân như cẩm thạch.”

Ngày còn làm bảo mẫu nuôi em trai của Kiku, Otoku mặc trang phục của gia nhân, đơn sơ nhưng nhìn cũng xinh xắn. Nhưng bây giờ trong bộ kimono lụa bóng, lớp áo lót dưới kimono phủ dưới chân cũng bằng loại tơ mềm, hài thêu, tóc cài trâm, trông nàng khá uy nghi như thuộc hàng vương giả. Kiku ngay từ khi là con nuôi của ông chủ đoàn hát Kabuki đã biết thân phận của mình. Bây giờ chàng lại là người tá túc với chị em nàng, thật không còn dám nghĩ đến chuyện cưới nàng làm vợ.

Ichi kéo tay áo Kiku:

“Xin anh hãy đi với tôi, tôi sẽ chỉ anh xem mấy loại cúc tôi ưng ý nhất.”

Đây cũng là loại cúc hiếm, mỗi cánh hoa nhỏ như cọng len và dài, nở lưa thưa, trông như một con nhện khổng lồ. Loại cúc này có nhiều lớp, xen kẻ nhau một lớp màu đỏ, một lớp màu vàng. Ở một góc rừng khác có loại cúc giống như một con công màu xanh đậm. Sau đó là một loại cúc cánh mỏng như sợi tơ; mỗi đóa cúc giống một con ong khổng lồ màu vàng có râu đen mắt đen, to như một cái mâm. Mỗi khi gió thoảng qua, cúc công xanh dường như xòe đuôi múa dưới ánh trăng. Con ong vàng chập chờn như có thể bay lên bất cứ lúc nào. Còn loại cúc trắng cánh dày nhưng lại rất mịn. Mỗi đóa cúc trông giống như một cụm mây trắng. Đặc biệt loại cúc vàng có mùi thơm như rượu, đứng gần ngửi mùi hoa có thể say. Không cần trồng nhiều hoa, chỉ cần trồng loại hoa quí này là cả hai chị em có thể sống sung túc cả đời. Nhưng tại sao Otoku lại vào làm bảo mẫu của gia đình chàng. Kiku định có lúc nào thuận tiện sẽ hỏi Otoku.

Khi thấy Kiku tập lại những vở kịch cũ, Otoku đề nghị Kiku cùng tập với Ichi một vở kịch mới do nàng soạn lại từ một vở kịch cổ của mấy trăm năm trước. Otoku xem, hướng dẫn, và phê bình. Ichi và Kiku thay phiên nhau, khi thì đóng vai nam, khi thì vai nữ. Cả Otoku và Ichi đều bắt chàng phải hứa. Khi nào còn ở trên đảo tập kịch với hai chị em nàng, thì không được uống rượu, ngoại trừ khi hai chị em nàng mời bằng chính rượu của Otoku. Otoku có ủ rượu hoa cúc, loại đặc biệt trên đảo. Mỗi khi Kiku bực dọc vì không thể nhập vào vai phụ nữ, chén rượu cúc làm chàng thấy lâng lâng, người như nhẹ nhàng hơn, tay chân bớt phần nào lóng cóng hơn. Có khi rượu làm chàng có cảm tưởng như mình biến thành đàn bà. Suốt thời gian ở đảo, Kiku không một lần cảm thấy sự thôi thúc của tình dục.

Kiku không biết mình đã trải qua mấy mùa hoa cúc. Chàng yên tâm để hết thì giờ vào việc tập kịch. Otoku và Ichi cứ thỉnh thoảng lại đưa ra thêm một vở kịch mới và bảo chàng đọc thêm thơ của các thiền sư. Otoku đôi ba lần dùng quạt gõ vào vai chàng nhắc nhở:

“Chuyện bắt chước thái độ của người phụ nữ tuy quan trọng nhưng không phải là cốt yếu. Chàng phải đặt mình vào chỗ của nhân vật, hiểu tâm lý nhân vật, lý do nào làm họ đau đớn. Cảm được nỗi đau của nhân vật thì những cái múa, cái cúi đầu, cái vung tay, che mặt của chàng sẽ biểu lộ được tâm hồn phụ nữ. Mỗi bước đi dáng đứng của người đàn bà là một điệu múa. Bây giờ em dạy chàng điệu múa, nhưng về sau chàng hãy tự nghĩ ra điệu múa để biểu lộ tình cảm trong lòng chàng.”

Vào lúc đầu một mùa xuân, Otoku mời Kiku và Ichi đến gian nhà của nàng. “Tài nghệ của hai người đã chín muồi. Xin hãy gia nhập thế cuộc để thử xem tài năng của hai người hơn xưa đến mức độ nào.” Trong nhà nàng có căn phòng nhỏ chứa rất nhiều hòm rương cũ kỹ. Bên trong rương là  rất nhiều gấm vóc lụa là và rất nhiều vật dụng như son phấn và đồ trang sức dành cho nghệ sĩ Kabuki. Otoku đưa Ichi và Kiku qua sông, thuê lừa thuê ngựa, thuê thêm tùy tùng lập thành một đoàn kịch diễn rong. Ichi nghe từ người qua lại, kể lại với Kiku:

“Đoàn Kabuki của bố anh đang diễn ở một thành phố gần đây. Chúng ta hãy đến xem họ diễn như thế nào và tạo cơ hội để phô trương tài nghệ của chúng ta.”

“Ichi. Tôi đã thề không dựa vào danh tiếng của cha tôi, cũng như không nhờ ông giúp đỡ.”

“Ai bảo với anh chúng ta sẽ cầu cạnh bố anh? Anh không tin rằng chúng ta có đủ tài để tự tỏa hương thơm sao?”

Đoàn Kabuki lưu diễn này do chú của Kiku điều động. Họ lưu diễn với mục đích tuyển mộ thêm nghệ sĩ có tài nhưng chưa nổi tiếng đồng thời quảng bá danh tiếng của đoàn. Chẳng khó khăn gì, Ichi và Kiku tìm ra ngay nơi ăn nhậu đám nghệ sĩ Kabuki. Tự giới thiệu mình là người bán rượu cúc Ichi mang rượu ra mời, nhưng tuyệt nhiên không mời Kiku cũng như không uống giọt nào. Kiku vì đã hứa với Otoku và Ichi nên không cũng giữ ý không hề nếm một giọt rượu. Chỉ vài chén rượu đám diễn viên đều gật gù say nên cả hai kiếu từ ra về. Sau đó Ichi và Kiku đến tìm trưởng đoàn kịch xin được làm diễn viên. Để thử tài hai người ông chú cho phép hai người trình diễn bất cứ vở kịch nào họ thích. Ichi chọn vở kịch Sakura Sumizome. Kiku đóng vai Sumizome khi nàng còn là kỹ nữ. Và Ichi đóng vai Sumizome khi nàng dùng ma thuật đánh kẻ thù rồi sau đó biến thành cây anh đào. Lúc Ichi biến thành cây anh đào, Kiku tưởng như mình say rượu trông gà hóa cuốc vì Ichi hóa thành khói và cây anh đào không biết bằng cách nào hiện lừng lững trên sân khấu. Ông chủ đoàn kịch hết lời khen ngợi hai người.

“Tôi sẽ dành cho hai cậu một đặc ân chưa bao giờ dành cho đoàn hát rong. Đêm nay các cậu sẽ diễn vở kịch này để đám diễn viên của tôi được nghỉ ngơi một bữa. Đoạn kịch này hơi ngắn, nên nếu hai cậu có thêm vở kịch nào nữa tôi sẽ cho diễn luôn. Nếu khán giả hài lòng, chúng tôi sẽ thu hai cậu vào làm diễn viên chính.” Ông không nói thật nhưng Kiku và Ichi đều biết là đám nghệ sĩ trong đoàn hát của ông đã say rượu, ngủ như chết cả ngày trời không ai đánh thức được. Đêm đó Kiku và Ichi diễn thêm một vở kịch mới soạn của Otoku. Vở kịch có tên là “Đóa Hoa Cúc Cuối Cùng.”

Vở kịch này nói về cô đầy tớ tên là Otoku, vì yêu công tử con của ông bầu gánh Kabuki nàng bị đuổi việc. Nàng về quê trồng cúc. Anh công tử đi diễn kịch rong trở nên nghèo đói muốn bỏ nghề. Nàng theo làm vợ, giúp đỡ và khuyến khích chồng tiếp tục theo nghề. Lúc nào nàng cũng thương yêu hầu hạ chồng ngay cả khi chồng nàng nhậu nhẹt say sưa, có lúc đánh đập nàng. Khi chồng thành công nàng vẫn không được nhà chồng chấp nhận. Để chồng được theo đuổi nghệ thuật đến nơi đến chốn nàng ở lại quê nhà. Những năm vất vả nghèo khổ khiến nàng lâm trọng bệnh. Chồng nàng vinh qui về làng, trống nhạc huyên náo ngay dưới cửa sổ nhà nàng, vừa lúc nàng trút hơi thở cuối cùng. Otoku đã khéo léo dùng một một ít chi tiết trong đời mình rồi biến nó thành một bi kịch. Khi diễn vai Otoku, Kiku nhận ra thân phận đàn bà đã bị ngược đãi trong xã hội của chàng. Phụ nữ đứng mũi chịu sào, gồng gánh buôn bán nuôi chồng và nuôi con nhưng không được biết đến công ơn. Sự hy sinh thầm lặng của Otoku khiến chàng cảm động vì thế Kiku diễn vai này thật xuất sắc, nhất là khi nhân vật Otoku trút hơi thở cuối cùng, chung quanh nàng thật vắng lặng, ngoài sân trời bắt đầu trở lạnh trong sân chỉ còn một đóa cúc ủ rủ sắp tàn. Chàng nguyện với lòng khi trở thành chủ đoàn kịch chàng sẽ thu nhận nữ nghệ sĩ vì chàng tin là họ có thể diễn vai này tốt hơn chàng. Đó là chuyện xa vời, nhưng trước mắt chàng hy vọng mình có thể cầu hôn với Otoku sau buổi diễn thành công này.

Ông chú của Kiku vui mừng vì tiếng đồn tài nghệ của Kiku và Ichi khiến người đến xem chật cả nhà hát. Ông càng vui mừng hơn khi Kiku thú thật chàng là con nuôi của Goro Onoe, chàng trang điểm khéo quá nên ông không nhận ra. Ngày xưa Kiku giận bố bỏ nhà ra đi thề chỉ trở lại sau khi thành nghệ sĩ Kabuki thật sự.

“Nghệ thuật diễn xuất của cháu đã trở nên vượt trội, không có người nào trong đám diễn viên của chú có thể sánh kịp với cháu. Có lẽ cuộc đời với những năm tháng nổi trôi vất vả của cháu khiến cho cháu nhạy cảm hơn nên diễn tả tình cảm sâu sắc hơn. Chú tin rằng bố cháu sẽ rất hài lòng.”

Vài ngày sau, khi đoàn lưu diễn sắp sửa dọn đi nơi khác, Ichi đến gặp chàng ở phòng trọ mang theo bình rượu hoa cúc.

“Đã đến lúc chúng ta chia tay nhau.”

“Cậu không cùng đi diễn với tôi à? Nghệ thuật Kabuki sẽ bị thiệt thòi nếu thiếu một diễn viên như cậu.”

“Công việc của tôi là trồng hoa cúc. Tôi chỉ vâng lời chị Otoku theo hỗ trợ anh thôi.”

“Tôi có một vài điều thắc mắc từ lâu, nếu không có gì quá đáng xin cậu giải thích dùm tôi. Xem chừng cậu không phải là dân trồng trọt bởi vì cậu phong lưu công tử thế kia. Otoku xem chừng cũng là dòng trâm anh thế phiệt, tài nghệ và hiểu biết hơn người. Tôi thật không xứng đáng để cầu hôn với nàng. Hai chị em cậu là ai, sao lại giúp tôi hết lòng hết sức, đến nơi đến chốn như thế?”

“Anh không nhận ra tôi sao?”

“Tôi dường như đã gặp cậu ở đâu đó, ngờ ngợ mãi nhưng không nhớ ra. Tôi ngỡ là gặp cậu đến xem diễn tuồng.”

“Anh còn nhớ ngày đầu tiên, chị Otoku rượt theo con mèo để lấy lại một con búp bê nam không?”

“Có chứ. Tôi vẫn tự hỏi vì sao một người giàu có, xinh đẹp hiểu biết tường tận về nghệ thuật Kabuki như Otoku lại làm bảo mẫu trong nhà tôi.”

Otoku lấy bình rượu cúc, rót cho mỗi người một chén.

“Trước khi ra về, tôi mời anh một chén rượu đặc biệt của dòng họ tôi nhưng xin đừng uống vội, hãy để tôi kể anh nghe câu chuyện về gia đình tôi. Bà tổ của chúng tôi là Izumo no Okuni. Bà sáng chế ra một điệu vũ mới và một nhạc cụ lạ. Lúc đầu bà chỉ trình diễn ở những dòng sông đã cạn nước, dùng đáy sông làm sân khấu. Dần dần nghệ thuật của bà ăn khách, bà tổ chức thành đoàn Kabuki và chỉ thu nhận phụ nữ. Để làm mất danh tiếng của bà, người ta cài vào đoàn nghệ thuật của bà những cô gái điếm, và dùng đó để làm lý do bắt giải tán đoàn kịch của bà. Từ đó phụ nữ bị cấm tiệt không cho tham dự vào các đoàn Kabuki. Bà tôi cương quyết khôi phục địa vị diễn viên cho phụ nữ nhưng bất cứ phụ nữ nào theo bà cũng bị bỏ tù hay giết đi. Bà truyền nghề cho con cháu. Mỗi chúng tôi trước khi trưởng thành có cuộc sống riêng đều phải học cho đến khi có thể trình diễn Kabuki. Phụ nữ phải học viết kịch và phê bình kịch bản. Otoku thông minh nhất dòng họ và cũng bướng bỉnh nhất. Chị cương quyết xuống trần gian, và thề không về nếu không thành công. Vâng, chúng tôi không phải là người trần gian. Chúng tôi ở một cõi khác, không phải là thiên đàng hay địa ngục mà là ở một thời gian khác và không gian khác. Để giúp chị, tôi trốn theo Otoku. Tôi tự tin có thể giúp chị vì tôi có tài nuôi trồng cây cỏ. Bất cứ loại cây cỏ nào tôi cũng có thể biến nó thành khổng lồ hay tí hon. Tôi có thể biến cây cỏ thành chất lỏng như nước hay rượu, cũng như thành hơi. Tôi cũng có thể biến chất lỏng và chất hơi của cây cỏ thành hiện thực. Mà thôi những chuyện này chẳng liên quan với anh. Otoku chọn gia đình anh vì đó là gia đình có đoàn kịch Kabuki. Chẳng may con mèo nhà anh ngoạm phải tôi, chị tôi sợ nó xé tôi tan xác nên rượt theo. Trả ơn anh cứu mạng nên chúng tôi quyết định giúp anh thành công trong nghệ thuật Kabuki. Tôi không ở lại làm diễn viên vì tôi có thể diễn lúc nào tôi muốn theo ý của tôi mà không cần phải vâng lời một ông chủ nào cả. Nơi tôi ở, chúng tôi không theo đuổi nghệ thuật như một cách sinh sống hay để nổi danh. Nghệ thuật nơi chúng tôi ở chỉ để làm phong phú tâm hồn, một trò chơi phong lưu tao nhã thôi.

“Tại sao không phải đào hay lan mà lại trồng hoa cúc?” Kiku hỏi.

“Bởi vì duyên anh đã cứu tôi, Và Kiku, tên anh nghĩa là hoa cúc.” Ichi trả lời.

“À quên, mỗi lần muốn cậu bé em trai anh ngủ say để chị có thể xem kịch, Otoku đã cho cậu bé một vài giọt rượu. Chúng tôi yêu cầu anh không được uống rượu, vì rượu có tác động rất mạnh lên chúng tôi. Tôi bị biến thành con búp bê bằng vải cũng chỉ vì uống phải rượu của trần gian. Sắp đến lúc chia tay, xin anh đừng lo, một tí rượu cúc của Otoku làm ra không có hại cho chúng ta đâu. Bình rượu cúc này có thể giúp chúng ta gặp lại nhau, và anh có thể gặp lại Otoku. Nhớ là với bình rượu cúc này anh phải làm thế này thế này. . .”

Ichi cầm chung rượu uống phân nửa. Sau đó cậu ta nằm lăn trên đất, ngủ say sưa. Theo đúng lời dặn, Kiku đổ nốt phần còn lại lên người Ichi. Ichi biến thành một đóa cúc trắng to như cụm mây và trong như thủy tinh. Đóa cúc từ từ bốc hơi rồi biến mất. Kiku không uống chén rượu Ichi rót cho chàng, rót rượu trở lại vào bình, mang đem cất.

Khi đạt đến đỉnh cao của danh vọng, Kiku vận động với Shogun, người yêu thích tài nghệ của chàng, đổi luật, cho phép phụ nữ được trình diễn. Tuyên bố bỏ nghề, Kiku tìm đường trở lại hòn đảo ngày xưa để trồng cúc. Ba gian trại trước kia chỉ còn lại ba căn chòi mục nát. Cái giếng nước ngày xưa như cái ao giờ thu nhỏ lại như một tấm gương soi mặt trên bàn trang điểm của nghệ sĩ. Một đêm trăng sáng, trong giấc ngủ Kiku mơ hồ nghe tiếng hát, tiếng đàn samíen, và tiếng phách. Đi về hướng cuối đảo không thấy gì chàng lang thang ra giếng. Vầng trăng như soi gương. Nhìn theo vầng trăng trong giếng chàng nhìn thấy một cõi không gian và thời gian khác. Và Otoku nhìn chàng mỉm cười:

“Em quay về xin lỗi bố vì nhận ra em không thể thành công một mình nếu không có sự giúp đỡ của những người đàn ông trong gia đình em. Nhờ công của chàng, em thực hiện được nguyện vọng của bà tổ, nay phụ nữ đã được phép diễn trong đoàn Kabuki. Cảm động vì tấm lòng chàng yêu mến. Em xin tặng chàng mấy chậu cúc để gây giống. Chúng sẽ không được to và đẹp như cúc do Ichi trồng, nhưng có thể tự chống bệnh và không cần nhiều nước. Giếng nước càng dùng càng có nhiều nước. Chúng ta không thể là vợ chồng vì em ở cõi khác và thời gian nơi em ở cũng khác. Tính ra em hơn chàng vài trăm hay cả ngàn tuổi.”

Quay trở lại rừng cúc, chàng nhìn thấy cây hoa cúc ngọc thạch. Nhớ lời Ichi dặn, chàng lấy bình rượu cúc rót một chút rượu tưới lên cây cúc. Cây cúc héo rũ ra sau đó bốc hơi. Còn lại dưới đáy chậu cúc là một con búp bê mặc áo lụa đắt tiền. Cho phần rượu còn lại lên con búp bê, con búp bê đổi màu trong suốt rồi dần dần lớn lên hiện thành Otoku bằng xương bằng thịt.

Nguyễn Thị Hải Hà

Cái kén đỏ

Tác giả: Kobo Abé. Người dịch: Nguyễn thị Hải Hà

Trích trong quyển “A Late Chrysanthemum – Twenty-one Stories from the Japanese” Lane Dunlop dịch từ tiếng Nhật sang tiếng Anh.

Mặt trời bắt đầu lặn. Đây là lúc người ta vội vã về nhà, về tổ ấm, nhưng tôi không có một tổ ấm để về. Tôi bước chầm chậm trên con đường hẹp giữa hai dãy nhà. Mặc dù có rất nhiều nhà dọc hai bên đường, tại sao không có căn nào là của tôi? Tôi suy nghĩ, lập lại câu hỏi này hằng trăm lần.

Khi tôi đi tiểu vào cái cột điện thoại, có một đoạn dây rơi thòng xuống, tôi muốn dùng nó mà tự tử cho rồi. Sợi dây, liếc nhìn cái cổ tôi, nói rằng: “Chúng ta hãy cùng nhau nghỉ ngơi, anh ạ.” Tôi cũng muốn thế, nhưng tôi lại không thể nghỉ ngơi. Tôi không phải là anh của sợi dây, thêm vào đó, tôi vẫn không thể hiểu được tại sao tôi không có nhà.

Ngày lại ngày, đêm cứ về. Khi đêm về, bạn phải ngủ. Nhà là nơi để người ta ngủ. Nếu quả vậy, đó không phải vì tôi không có lấy một căn nhà. Đúng không?

Bỗng nhiên, tôi có ý nghĩ. Có lẽ tôi đã sai lầm. Tôi đã phạm một lỗi rất quan trọng trong cách suy nghĩ của tôi. Có lẽ không phải vì tôi không có nhà, mà tại vì tôi đã quên căn nhà của tôi. Đúng rồi. Có thể là như vậy. Thí dụ như, tôi dừng lại trước căn nhà này, nơi tôi ngẫu nhiên đi ngang qua. Rất có thể đây không phải là căn nhà của tôi? Dĩ nhiên rồi, so nó với mấy căn nhà kia, nó chẳng có nét gì đặc biệt cả, điều này đã được “thở ra” rồi, nhưng ai cũng có thể nói điều này về bất cứ căn nhà nào. Không thể dùng điều này làm bằng chứng để loại trừ một sự thật, đây có lẽ là căn nhà của tôi. Tôi thấy can đảm hơn. Ok, mình gõ cửa đi.

Tôi thật là gặp may. Gương mặt tươi cười của người đàn bà ló ra sau cánh cửa sổ mở hé. Nàng có vẻ tử tế. Ngọn gió hy vọng thổi xuyên qua vùng lân cận của trái tim tôi. Trái tim tôi như một lá cờ trải rộng ra và bay phất phơ trong ngọn gió này. Tôi cũng mỉm cười tươi. Như là một gã đàn ông lịch thiệp, tôi nói:

“Xin lỗi cô, đây là nhà của tôi, phải không?”

Gương mặt nàng bỗng đanh lại. “Hả? Ông là ai?”

Đang dợm giải thích, bất thình lình tôi mất khả năng. Tôi không biết tôi phải giải thích cái gì. Làm sao tôi có thể khiến nàng hiểu rằng đây không phải là lúc đặt câu hỏi tôi là ai? Bắt đầu cảm thấy hơi tuyệt vọng, tôi nói:

“Thôi được, nếu như cô không đồng ý căn nhà này là của tôi, xin cô vui lòng chứng minh, được không?”

“Trời ơi. . . ” Khuôn mặt nàng đầy vẻ sợ hãi. Điều này làm tôi tức giận.

“Nếu cô không có bằng chứng, thì tôi có quyền nghĩ rằng căn nhà là của tôi.”

“Nhưng đây là nhà của tôi.”

“Nghĩa lý gì chứ? Cô bảo đây là nhà của cô không có nghĩa đây không phải là nhà tôi. Đúng là như thế đấy.”

Thay vì trả lời tôi, nàng quay mặt vào tường và đóng cửa sổ lại. Đó là bản chất thật của người đàn bà có khuôn mặt tươi cười. Sự biến chuyển này luôn luôn dẫn đến một lý luận rất khó hiểu, đó là, một món đồ của một người nào đó, thì nó không là của tôi.

Nhưng, tại sao. . . tại sao tất cả mọi thứ đều là của người khác và không là của tôi? Ngay cả nếu như có một thứ gì đó không là của tôi, thì nó có thể không là của bất cứ người nào không?

Đôi khi, tôi mang ảo tưởng. Rằng những cái ống cống xi măng ở các công trường xây dựng hay ở trong sân chứa đồ dùng hư cũ, là nhà của tôi. Nhưng chúng đang sắp sửa thuộc về người khác. Bởi vì chúng trở thành đồ dùng của người khác, chúng biến mất, không ẩn chứa dấu vết gì về những ao ước của tôi hay những ý thích của chúng. Hay chúng trở thành cái gì đó rõ ràng là chẳng phải nhà của tôi.

Thế thì, còn những cái băng ghế trong công viên? Chúng chẳng sao cả, tất nhiên rồi. Nếu thật sự chúng là nhà của tôi, và nếu như hắn đừng đến và rượt đuổi tôi bằng cây gậy của hắn…  Chắc chắn chúng là của dành cho tất cả mọi người chứ không riêng của ai. Nhưng hắn nói:

“Ê, anh kia, đi chỗ khác. Cái băng ghế này là của chung. Nó không thuộc về một cá nhân nào cả, ít nhất nó không là của anh. Nào đứng dậy, bắt đầu, đi. Nếu anh không thích vâng lời, anh có thể bị giam vào tù suốt đêm ở dưới hầm trong đồn cảnh sát. Nếu anh ngừng lại ở bất cứ nơi nào khác, không cần biết ở đâu, anh sẽ vi phạm luật lệ.”

Một gã Do Thái lang thang – đó có phải là tôi không?

Mặt trời bắt đầu lặn. Tôi tiếp tục bước.

Một căn nhà . . .  những ngôi nhà không biến mất, mà biến thành một thứ khác, đứng trên mặt đất và không di chuyển. Ở giữa chúng, con đường hẹp cứ tiếp tục thay đổi. Không có bất cứ khuôn mặt nào quen thuộc. . .  trong con đường. Ngày mưa, con đường giống như cây cọ nhúng màu. Ngày tuyết, nó biến thành chiều ngang của những vệt bánh xe. Ngày gió, nó tuôn chảy như một cái băng cuốn chở hàng hóa. Tôi cứ tiếp tục đi. Tôi không thể hiểu tại sao tôi không có nhà, và vì thế ngay cả tự treo cổ tôi cũng không làm được.

Ê, người nào đang nắm chặt cổ chân tôi thế? Nếu đó là sợi dây dùng để treo cổ, thì đừng nên khích động, và đừng quá vội vàng. Nhưng đó không phải là sợi dây treo cổ. Nó chỉ là một sợi chỉ tơ nhơm nhớp trên ngón tay. Khi tôi nắm kéo nó, phần cuối sợi tơ bị tách rời ra làm hai, một phần ở trên chiếc giày và phần kia ở dưới đế giày của tôi. Nó cứ tiếp tục dài ra, dài ra, giống như là bị trơn tuột vậy. Thật là lạ lùng quá. Cơn tò mò khiến tôi cứ tiếp tục kéo mãi. Rồi một chuyện càng lạ lùng hơn đã xảy ra. Tôi chầm chậm xoay nghiêng người. Tôi không thể đứng thẳng góc với mặt đất. Phải chăng cái trục xoay của địa cầu đã nghiêng hay là trọng lực đã thay đổi hướng?

Uỵch! Chiếc giày của tôi rơi ra, chạm mặt đất. Tôi thấy chuyện đang xảy ra. Trục địa cầu không nghiêng, mà một chân của tôi trở nên ngắn hơn. Lúc tôi kéo sợi tơ, thì chân tôi nhanh chóng bị ngắn dần. Giống như cái khuỷu tay áo khoác bị mòn và bung chỉ. Cái chân tôi cứ bị tháo chỉ ra. Sợi chỉ tơ, giống như xơ của trái bầu dài hình con rắn, chính là cái chân của tôi bị tháo tung.

Tôi không thể bước thêm bước nào nữa cả. Tôi chẳng biết phải làm gì, cứ ì ra đấy. Rồi tay tôi cũng chẳng biết phải làm gì, chân tôi, cái chân đã biến thành chỉ tơ bắt đầu tự di chuyển. Nó bò ra nhẹ nhàng. Phần ngoài cùng của chân, không cần sự giúp đỡ của bàn tay tôi, bắt đầu tự tháo tung và như là một con rắn bắt đầu bao quanh người tôi. Khi cái chân trái của tôi tự tháo tung ra hết rồi, sợi tơ tự thay đổi, rất tự nhiên, quay sang chân phải của tôi. Chẳng mấy chốc, sợi tơ đã quấn đầy người tôi như gói trọn vào trong một cái bọc. Ngay cả lúc ấy nó vẫn không ngừng tháo tung tôi từ dưới mông lên đến ngực, từ ngực lên đến vai, và cùng lúc nó đang tháo chỉ, nó làm tăng độ bền chắc của cái bọc từ bên trong. Cuối cùng, tôi biến mất.

Sau đó, tất cả chỉ còn lại một cái kén rỗng.

A ha, rồi thì tôi cũng được nghỉ ngơi. Nắng hoàng hôn nhuộm cái kén thành màu đỏ. Đây, cuối cùng, là căn nhà của tôi, chắc chắn không ai có thể đuổi tôi ra. Điều đáng phiền bây giờ là tôi đã có căn nhà, nhưng tôi không còn “cái tôi” để trở về nhà nữa.

Bên trong cái kén, thời gian ngừng lại. Bên ngoài, trời tối đen, nhưng bên trong cái kén, luôn luôn là buổi chiều. Tỏa sáng từ bên trong, nó ánh ngời màu đỏ như màu của hoàng hôn. Cái điểm kỳ dị tuyệt diệu này rồi sẽ bắt được ánh mắt tinh tường của gã cảnh sát. Hắn nhìn thấy tôi, cái kén, nằm giữa hàng rào của con đường. Ban đầu hắn nổi giận, nhưng ngay sau đó hắn đổi ý về món đồ lạ này. Hắn cho tôi vào trong túi. Sau một hồi tí toáy cái kén, hắn chuyển tôi sang hộp chứa đồ chơi của thằng con trai.

Màu Mắt Chưa Quên

Mời bạn nghe truyện ngắn Màu Mắt Chưa Quên qua giọng đọc của Ngọc Phụng. Cám ơn chị Ngọc Phụng và Gió O.  Nhắn nhỏ: Truyện hoàn toàn là tưởng tượng.

Tác giả: Nguyễn thị Hải Hà

Tháng Chín, tôi trở lại trường cũ ghi tên học một lớp. Buổi chiều tôi đáp xe điện ngầm đến trường. Mùa thu, năm giờ chiều trời đã nhá nhem. Bước vội về hướng lớp học tôi nghe gió lao xao trên ngọn cây, thứ gió đặc biệt của mùa thu làm lá rung mà cành không lay. Thoảng trong gió hình như có ai gọi tên tôi theo đúng kiểu Việt Nam. Tôi nhìn chung quanh chẳng thấy ai và tự nhủ mình chỉ giỏi tưởng tượng. Đã gần hai mươi năm tôi mới trở lại trường, ngay từ lúc còn đi học chẳng ai có thể gọi tên tôi bằng tiếng Việt. Chỉ có một người làm việc chung có thể gọi tên tôi như thế. Tôi đang cắm cúi bước đi chợt nhận ra có người đứng chắn ngang đường; ngẩng mặt lên tôi nhìn thấy Scott.

Anh cười tươi. Bao nhiêu năm rồi sao nụ cười và ánh mắt ấy vẫn còn rất trẻ. Trong nắng chiều chập choạng, tóc anh đã nhiều sợi bạc. “Tôi thấy em từ lúc em đi ngang Colton Hall, gọi em khản cả giọng mà em không nghe.” Tôi ngạc nhiên. “Thì ra đó chính là anh? Tôi nghe tiếng gọi nhưng chẳng thấy người. Và cũng không nghĩ là ở đây có người biết tên mình.” Chỉ có Scott là người có thể gọi tên tôi phát âm đúng cách. Có lẽ vì anh đã thực tập biết bao nhiêu lần. Lòng tôi chùng xuống.

Khi mới biết nhau, cái tên của tôi đơn giản hai chữ như vậy; mà anh, cũng như bao nhiêu người Mỹ khác, đều vất vả khó khăn trong việc phát âm. Tôi dễ dãi bảo mọi người gọi tôi bằng gì cũng được. “Cứ cười ‘Ha Ha’ thì tôi biết ngay đó chính là tôi!” Tuy thế, dần dần anh phát âm tên tôi thật chính xác và không ngần ngại sửa sai những người làm việc chung với một chút bỡn cợt. Scott hỏi: “Em đã ăn tối chưa? Tôi đang đói, em có thể dành cho tôi vài phút không? Sáu giờ lớp học mới bắt đầu. Em làm gì ở đây?” Tôi nói, “trời nhá nhem thế này mà anh cũng nhận ra tôi, hay thật!” Scott nhìn tôi: “Em chẳng khác ngày xưa bao nhiêu, vẫn mái tóc dài, vẫn dáng đi cúi đầu.” Anh trêu: “Và vẫn không cao thêm chút nào.”

Tôi ngoan ngoãn theo Scott đi ra phía sau khuôn viên của trường nơi có những quán ăn cho sinh viên. Và trong chừng ba mươi phút ngắn ngủi giữa pizza và trà Lipton, chúng tôi cố gắng ghi nhận phần đời của nhau trong mười năm không gặp, tưởng như tình đã cũ. Gió thu như nhẹ nhàng thổi bay đi lớp tro tàn, ngọn lửa của than hồng vẫn còn âm ỉ cháy.

Chúng tôi làm việc chung với nhau. Tôi có nhiệm vụ đặt thang và bậc thềm cho công nhân phụ trách công việc chăm sóc cầu quay có thể lên xuống dễ dàng. Scott có nhiệm vụ cung cấp ngân quỹ, và vượt qua những luật lệ lỗi thời áp dụng lên những chiếc cầu cổ lỗ sĩ của công ty xe lửa. Công việc không khó nhưng người ta cấm đoán và đòi hỏi đủ thứ giấy tờ phức tạp; lý do là vì đây là một trong những cây cầu đã hơn trăm tuổi. Giới bảo tồn văn hóa không muốn làm mất vẻ cổ kính của cây cầu. Nhóm kỹ sư muốn công việc dễ dàng nhanh chóng và ít tổn phí. Nếu ai đã từng làm việc cho cơ quan nhà nước của Mỹ sẽ biết là đôi khi vì bè nhóm phe phái, ai cũng muốn làm vua một cõi, người ta tha hồ gây khó khăn làm cản trở công việc của nhau. Scott gọi điện thoại yêu cầu tôi đưa anh đến chỗ cây cầu ở gần cửa biển. Tôi hẹn giờ, chỉ đường và chúng tôi gặp nhau ở bên đầu của cây cầu.

Trời đã bắt đầu xuân. Hôm ấy nắng ấm dù mới mấy ngày trước một cơn bão tuyết đã để lại cả mét tuyết. Tuyết đã được gom thành từng đống cao nghệu rải rác khắp nơi. Scott nhìn tôi trong áo thun dài tay, quần jean, nón bảo hộ, anh cười tự giới thiệu, rồi bảo thêm, “trông cô như vẫn còn là học sinh Trung học.” Tôi cười, “Tôi đã có gần mười năm kinh nghiệm lận lưng rồi đấy nhé.”

Scott cao lớn vạm vỡ như một ông thần hộ pháp. Tóc anh vàng tơ, mắt xanh như màu biển, màu trời, và màu của cây cầu ngày hôm ấy. Scott có cái vẻ đỏm dáng của dân làm việc văn phòng sống trong thành phố, đi ra cầu mà anh mặc áo trắng quần ka ki như thể đây là bộ đồ cũ nhất và xấu nhất của anh. Cái áo khoác mỏng không cài cúc dù chỉ mới mười giờ sáng. Gió biển lồng lộng làm tôi thấy lạnh. Cơn bão tuyết đã qua nhưng trời vẫn lộng gió và lạnh. Anh khen trời đẹp và mát.

Tôi dẫn Scott băng ngang cầu, nhắc chừng anh ngoái đầu trông chừng xe lửa. Tôi chỉ cho anh những chỗ trú an toàn nếu xe lửa đến giữa lúc chúng tôi đi trên cầu. Tôi nói, để chứng tỏ tôi biết rõ môi trường và công việc của tôi. “Cầu dài chừng sáu trăm mét. Thời khóa biểu cho biết là sẽ có xe lửa chạy ngang trong vòng hai mươi phút nữa nhưng chúng ta không thể ỷ y.” Đến giữa cầu chúng tôi leo xuống chân cầu. Từ chân cầu chúng tôi phải vào hầm, chỗ đặt cái trục quay bằng thép của cầu. Tôi chỉ Scott những chỗ có mỡ bò được dùng để làm trơn máy. Dặn anh đừng dựa lưng bất cứ nơi nào nếu anh không muốn ném cái áo trắng của anh vào sọt rác.

Từ trên thành cầu, Scott nhảy xuống gọn gàng và đưa tay đỡ tôi xuống hầm. Tôi đã trồng vào người bộ đồ bảo hộ lao động màu nâu mà các người làm việc chung thường bảo làm tôi giống cái bánh ginger bread. Lúc mới xuống từ ngoài sáng vào chúng tôi không nhìn thấy gì, một lúc sau định thần nhìn kỹ Scott nói: “Tôi sẽ chẳng ngạc nhiên nếu thấy ở đây có một bộ xương khô và chuột bò lúc nhúc.” Tôi cười, “nơi đây tuy tối tăm bẩn thỉu nhưng không đến nỗi mất an toàn. Người canh giữ cầu ở trên cái tháp kia.” Tôi mở túi xách lấy ra cái đèn bấm, bản vẽ, giải thích công việc của tôi. Những người thợ chăm nom và sửa chữa máy quay cầu cần có thang để công việc của họ an toàn và hữu hiệu hơn. Scott cười, “nếu có thang những người nhỏ bé như cô không cần phải có người giúp.” Tôi nói, “bình thường dưới hầm không tối như thế này, tuy nhiên trận bão tuyết mấy ngày trước đã lấp đi nhiều chỗ cho ánh sáng rọi vào. Và nếu tuyết không lấp lối, tôi có thể tự leo lên xuống dễ dàng.” Scott đưa mắt nhìn chung quanh nào là nùi giẻ rách dính dầu, tàn thuốc lá, chai đựng sô đa bằng nhựa, những cái ly đựng cà phê bằng mốp xốp: “Công việc này không khó tuy nhiên chỗ này chật hẹp khó xoay trở.” Gió thổi qua những kẽ hở của cầu nghe như tiếng hú. Tôi rùng mình vì lạnh. Qua Mỹ bao nhiêu năm tôi vẫn giữ bản chất của cô gái miền nhiệt đới, dưới hai mươi độ C là tôi thấy khó chịu.

Chúng tôi đo đạc, ghi chép, chụp ảnh xong trời đã trưa. Mây lại tụ về làm chúng tôi sợ bị mắc mưa nên thu xếp ra về. Lúc xuống dễ dàng nhưng bây giờ leo lên là chuyện khó. Scott nhảy lên bám lấy thành cầu rồi đu nhẹ nhàng lên như một lực sĩ. Còn tôi, tôi không thể tự leo lên. Tôi bám lấy một thanh ngang đưa cái túi xách có chứa bản vẽ, máy chụp hình, thước đo, của mình cho Scott mang lên trước, nhưng hai cánh tay của tôi quá yếu nên tôi không thể tự đu lên như Scott. Scott muốn kéo tôi lên nhưng thành cầu ở gần mé nước nếu sơ xuất cả hai sẽ rơi xuống nước. Cửa biển, nước chảy xiết, và ở buổi đầu xuân như thế này có lẽ nước lạnh cỡ chừng tám độ. Nếu rơi xuống chắc là khó sống. Loay hoay một hồi, thấy không có cách nào hiệu quả, Scott nhảy xuống trở lại. Scott bảo tôi, “thế này nhé, cô đứng lên đầu gối của tôi, bám tay vào vách thép của cầu, leo lên hai cánh tay của tôi và leo lên mặt ngang của thành cầu. Cẩn thận đừng để rơi xuống biển nhé.”

Tôi cởi đôi ủng, cởi cả bộ quần áo bảo hộ lao động dày cui ngăn cản tôi không thể xoay trở dễ dàng, nhưng hai cánh tay của Scott vẫn còn chông chênh quá. Cái nón bảo hộ của tôi cứ va vào hết nơi này đến nơi kia kêu côm cốp. Cuối cùng, tôi phải ngồi lên vai Scott, anh đứng lên rồi tôi đứng lên vai anh, tay anh đẩy tôi lên rồi cho đến khi tôi có thể nằm lên mặt thép của thành cầu thấp nhất. Trong lúc vất vả như thế cái nón của tôi rơi xuống trúng đầu Scott và tóc của tôi xõa đầy mặt anh. Vốn không quen việc người lạ chạm vào người tôi nghe người mình nóng hổi, tim đập thình thình, mùi kem dùng để cạo râu, hơi thở đàn ông hăng hăng của Scott làm tôi ngây ngất. Chỉ một cái quay đầu là môi sẽ chạm và thân thể sẽ bốc cháy khi những sợi thần kinh đã căng thẳng cực độ vì sợ và hoạt động mạnh. Khi lên khỏi cầu cả hai chúng tôi đều bẩn thỉu, cái áo trắng và cái quần ka ki của anh dính cả dấu giày ủng của tôi.

Trở về chỗ đậu xe, anh nói đùa về trọng lượng của tôi còn tôi chê đôi cánh tay của anh không đủ khỏe. Rồi tôi trêu trọng lượng của anh và anh trả đủa bằng cách chế nhạo đôi cánh tay yếu đuối của tôi. Scott rút khăn tay lau vài chỗ bẩn trên mặt tôi và nói “Cái nón của cô rơi làm u đầu tôi, nhưng vì tóc của cô rất thơm nên tôi tha thứ cho cô.” Tôi đỏ mặt, nhìn Scott rồi ngó ra biển và chợt nhận ra màu mắt anh thay đổi theo màu trời và màu nước biển. Tôi nói lảng. “Anh có biết là cầu dành riêng cho xe lửa, nếu băng ngang mặt nước thì phải sơn màu xanh biển còn băng ngang đất thì sơn màu xanh lá cây không?” Có những nơi tuyết đã tan tạo thành những vũng nước nhỏ Scott nắm tay giúp tôi nhảy qua những vũng tuyết này. Cái ngăn cách ban đầu giữa hai người làm việc khác phái cũng bắt đầu tan. Anh có cái ân cần săn sóc phụ nữ rất tự nhiên của đàn ông Âu Mỹ. Anh giúp tôi mở cửa xe và khi tôi ngồi vào xong anh đóng cửa lại. Tôi nhìn anh lái xe đi, sân nhà ai có những đóa hoa crocus nở tim tím vươn lên trên mặt đất còn đọng tuyết. Gió mang theo mùi hoa hyacinth làm tôi nhớ hai câu thơ “Trông theo ai đến cuối đường. Gió bay làm dậy mùi hương ngây lòng.” Dấu giày của tôi in trên quần của Scott và mùi kem cạo râu cùng với hơi thở của Scott dính đầy trên tóc tôi.

Tôi hỏi anh lập gia đình chưa, có con không, có hạnh phúc không? Anh cho tôi xem ảnh vợ và hai con trai. Vợ anh là người Phi Luật Tân, tóc dài, da màu mật, dáng nhỏ nhắn. Tôi ngạc nhiên. “Thế còn cô tóc vàng?” “Cô tóc vàng nào?” Tôi tả hình dáng cô gái tóc ngắn, dáng cao và thanh, đã thân mật quàng vai anh trong buổi tiệc tiễn đưa anh. Tôi có hứa đến dự nhưng không về kịp vì bận đi họp ở một cái cầu quay rất xa ở tận cái mõm bùn cuối tiểu bang. Anh bảo không nhớ ra, không biết tôi nói đến ai, có thể đó là một khách hàng, cũng có thể đó là cô em gái của anh đến gặp anh. Tôi hỏi: “Anh đến đây để làm gì?” “Tôi hiện đang làm chủ tịch hội đồng cựu sinh viên kiến trúc của trường. Tôi đến họp. Còn em?” “Lấy một lớp học cho vui.”

Do công việc chúng tôi gặp gỡ nhau thường xuyên. Tôi cung cấp tài liệu bản vẽ, ước tính tổn phí và những chuyện linh tinh. Scott cung cấp ngân quỹ và thuyết trình về dự án. Anh thuyết phục mọi người công việc này rất cần thiết. Chuyện hai chúng tôi bị kẹt dưới chân cầu là bằng chứng hiển nhiên. Nhân viên có thể bị tai nạn chết người nếu không có thang giúp thi hành công việc dễ dàng hơn. Chúng tôi sẽ cố gắng duy trì vẻ cổ kính của cây cầu. Tôi thán phục nhìn Scott làm chủ buổi thuyết trình dễ dàng bơi lội trong ao nhà. Ao nhà với anh nhưng lại là biển lạ với tôi. Nơi đây, phụ nữ và đặc biệt phụ nữ ngoại quốc, luôn luôn là người ngoại cuộc. Những lý luận Scott dùng trong buổi thuyết trình là của tôi nhưng anh nói người ta nghe còn tôi nói thì như viên đá nhỏ rơi xuống hồ không đủ khoắn thành vòng. Scott bảo nếu tôi đảm nhiệm công việc thuyết trình tôi sẽ được chú ý nhiều hơn nhưng tôi từ chối viện cớ là mình nói có giọng ngoại quốc người ta nghe không hiểu. “Em không biết, giọng nói người ngoại quốc có cái duyên của nó.” Anh nói, đôi mắt xanh cười lóng lánh.

Tôi nghe lòng mình nhiều mơ ước. Anh luôn tràn đầy trong tư tưởng tôi ngay cả khi anh không có mặt ở bên tôi. Tôi tìm đủ mọi cách để bôi xóa ý nghĩ của mình. Không khéo mình tự biến mình thành một cô Phà Ca thời đại và chế diễu mình khi tự so sánh với Tiểu Siêu. Chúng tôi ăn trưa chung với nhau một vài lần khi công việc cho phép nhưng không tiến xa hơn. Tôi vốn không thích bị lệ thuộc vào ai cả. Nương vào Scott tôi có thể vượt biên giới da màu, trở thành người nhập cuộc và nhờ đó sẽ tiến xa hơn trong lãnh vực nghề nghiệp nhưng như thế là tôi sẽ lệ thuộc vào cái bóng lớn của anh. Scott làm tôi thấy nhỏ bé và thèm được anh bảo bọc. Tôi mơ ước được che chở nâng niu và cố gắng từ bỏ niềm ao ước ấy. Đôi khi tôi nghĩ đến việc mang Scott vào cuộc đời tôi, dạy cho anh phong tục của tôi. Anh bảo rằng từ khi biết tôi anh thích ăn chả giò và phở. Tôi cười, anh cần phải biết ăn bánh cuốn và nước mắm, rồi còn mắm kho với cá bông lau rau kèn và bông súng chẻ. Và Việt Nam không chỉ có bao nhiêu đó thôi. Có lần tôi thử hát một câu tiếng Việt cho anh nghe, ngâm một câu Kiều, đọc một câu ca dao, rồi tôi bỗng nghe giọng của mình lạ lẫm, nhạt thếch. Tôi có thể bơi lội ngụp lặn trong phong tục xứ anh nhưng không thể nào giải thích cho anh hiểu sự rung cảm một câu thơ xưa trong lòng tôi “Quê hương khuất bóng hoàng hôn. Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai.” “quê nhà xa lắc xa lơ đó, ngoảnh lại tha hồ mây trắng bay.” Làm sao khi tôi gác chân ngang bụng anh, tôi có thể mang anh vào một không gian nơi đó có bóng trăng xuyên lá dừa, bát ngát hương lài, hương dạ lý ở một miền quê ngoài thành phố Sài Gòn có con kênh đào và đồng cỏ u ru. Nói thì tôi cứ nói nhưng chắc anh không bao giờ hiểu được hay thấy được những gì tôi đã thấy và vẫn còn đang thấy. Nếu giữa tôi và anh sẽ có những phút giây mê đắm của hai thể xác quyện thành một, thì những dị biệt mù mờ lẩn khuất trong ngõ ngách của tâm hồn sẽ không thể nào với tới dù ở cạnh bên nhau.

Scott không săn đuổi quá đáng dù là tôi biết lòng anh mở cửa chờ đón tôi. Tôi không tiến tới dù chưa có người đàn ông nào làm tôi cơ thể thèm muốn đến thế. Tôi nhớ cái mùi đàn ông của anh đến ngây ngất. Tim tôi vẫn đập rộn ràng khi nghĩ đến buổi sáng dưới chân cầu. Scott thích mái tóc dài, dáng dấp nhỏ nhắn, nước da màu mật của tôi. Anh không ngần ngại nói với tôi điều này và ngạc nhiên khi tôi nói thật là tôi vẫn thường mang mặc cảm xấu xí. Màu da của anh và màu da của tôi thường làm tôi liên tưởng đến cà phê sữa và kem vanilla hay con ong bầu đậu trên hoa lan trắng. Anh thường bảo, “mỗi sáng em phải soi gương và tự bảo mình là Scott thấy em rất là xinh xắn.” Tôi nói xa xôi, “quan hệ làm việc không nên để lẫn tình cảm cá nhân. Những người làm việc chung dễ ghét nhau vì tranh tài giành chức giành quyền, tình cảm riêng tư thường bị tổn thương và chết sớm.” Anh hay nói đùa là tôi là hiện thân của sắt (thành cầu) và đá (chân cầu). Anh nói nếu vợ anh làm lương cao hơn, anh tình nguyện ở nhà nấu cơm và viết văn. “Nếu em trở thành xếp của tôi, tôi sẵn sàng nâng xếp lên khỏi đầu bằng hai cánh tay tôi.” Tôi dùng một ẩn dụ của dân kỹ thuật trả lời, “thép này đã từng đổ biết bao nhiêu mồ hôi đấy nhé!” Điều mà tôi muốn nói nhưng giữ lại lời là, tôi là một phiến đá biết sầu tư!

Rồi Scott xin thuyên chuyển qua một công ty khác. Buổi tiệc đưa tiễn anh tôi bận không về kịp chỉ thấy nhìn anh từ nơi xa khi tiệc đã tàn. Anh đứng nói chuyện có vẻ thân mật với một cô tóc vàng. May là chúng ta chưa có gì trước khi có cô gái xinh đẹp này. Tôi không tranh giành nên không thể nói tôi là người thua cuộc. Anh gọi điện thoại vài lần dặn tôi gọi lại cho anh nhưng tôi không trả lời. Thỉnh thoảng tôi có dịp trở lại cây cầu cũ, bây giờ đã có những bậc thang màu vàng gắn theo thành cầu người ta dễ dàng lên xuống. Tôi đứng tần ngần chỗ ngày xưa Scott đỡ tôi lên.

“Đặt chân lên dấu chân người đã khuất.
Trồng cây hoa lên dấu chân của người.
Suối ngừng xối. Rừng thôi thay lá.
Để giấc mơ người cũ lại về.”

Tôi tự nhắc nhở vì sao tôi không tiến tới. Tôi chọn nhìn thấy những dị biệt mà làm ngơ những tương đồng. Tôi chọn cái quá khứ quen thuộc của một quê nhà xa lắc xa lơ để từ chối một hiện tại còn quá xa lạ. Tôi được quyền chọn lựa, biết điều mình muốn và cả những điều mình không muốn. Tôi yên tâm với sự chọn lựa của mình. Scott không phải của tôi, chưa bao giờ là của tôi, mà sao tôi thấy trong sự chọn lựa này có nhiều mất mát đến độ làm tôi đau đớn.

Hôm nay gặp lại người năm xưa. Dòng đời mang chúng tôi đến gần nhau rồi cuốn chúng tôi xa nhau rồi đưa chúng tôi gặp lại nhau. Lần đầu tiên gặp anh trời vào xuân, gió lạnh và hoa bắt đầu nở. Lần này gặp lại anh trời chuyển sang thu, gió vẫn lạnh và lá bắt đầu rơi. Chúng tôi trao đổi số điện thoại. Anh nhắc lại ngày chúng mình bị vướng dưới chân cầu chưa có cell phone. Anh đưa tôi đến lớp học. Tôi nhìn bóng anh khuất dần ở hành lang hun hút. Lại thêm một lần nữa tôi mang cảm giác phải ở lại. Làm người ở lại có bao giờ vui.

Đêm đó tôi lái xe về. Nhà ai đó đã treo đèn Halloween sáng rực, những con ma dễ thương màu trắng, những bà phù thủy áo tím mặt xanh, và những trái bí màu cam vàng rực. Trong tôi vọng nhẹ một câu thơ Trong hồn tôi có một chút gì cô quạnh và vườn tôi xưa vẫn một vuông rất nhỏ. Ở những con đường tối, mặt trăng sáng lấp lánh lẽo đẽo theo tôi. Trong tâm tư tôi lãng đãng màu mắt của Scott. Ánh trăng trong veo lạnh lẽo, cái lạnh như thấm cùng bóng tối trong tim tôi thành những hạt sương lăn dài vòng quanh buồng tim âm thầm nhói buốt.

Một nhân vật trong Alexis Zorba bỗng hiện về. “Rồi bạn sẽ không còn nhớ đôi mắt của chàng màu xanh hay màu đen!”

Tôi ước gì tôi có thể đồng tình với nhân vật ấy.

 

Kesa và Morito

Tác giả: Ryunosuke Akutagawa

Người dịch: Nguyễn thị Hải Hà

Lời người dịch: Càng ngày tôi càng nhận ra tôi có khuynh hướng thích đọc truyện cổ điển. Truyện này, làm tôi nghĩ đến nhân vật A Châu trong truyện Kim Dung nửa đêm cải trang đi chết thay cho người nàng yêu. Truyện nào thì không còn nhớ. Không nhớ A Châu chết thay cho ai. Phải Lệnh Hồ Xung không? Hay là Kiều Phong (Tiêu Phong)?

Part I

Nhìn trăng một cách tư lự, Morito đi lại trên thảm lá bên ngoài hàng rào nhà của mình.

Lời Độc Thoại của Morito

Bây giờ trăng đang lên.  Tôi thường không mấy kiên nhẫn khi chờ trăng lên.  Nhưng đêm nay, trăng lên sáng rực làm rúng động tôi đến khủng khiếp.  Tôi rùng mình nghĩ rằng đêm nay sẽ phá hủy cái tôi hiện tại và biến tôi thành một tên sát nhân khốn nạn.  Hãy tưởng tượng khi đôi bàn tay này trở nên đỏ vì máu!  Tôi trở nên một hiện diện đáng bị nguyền rủa với chính tôi.  Lòng tôi sẽ không đến nỗi bị dày vò đau đớn nếu tôi chuẩn bị giết một kẻ thù mà tôi căm ghét, nhưng tối nay tôi phải giết một người đàn ông mà tôi không chút hận thù.

Tôi biết ông ấy từ lâu.  Mặc dù tôi mới chỉ biết tên ông ấy gần đây, Wataru Saemonno-jo, khuôn mặt đẹp trai của ông rất quen thuộc với tôi từ khi tôi bắt đầu có trí nhớ.  Khi tôi biết rằng ông là chồng của Kesa, nói thật, tôi ghen như cháy cả người một thời gian.  Nhưng bây giờ thì lòng ghen của tôi đã phôi pha, không còn dấu vết nào trong tôi, tim hay óc.  Do đó cho dù tranh chấp trong tình yêu, tôi không thù ghét cũng chẳng khinh bỉ.  Thật ra tôi luôn nghĩ đến ông một cách trân trọng.  Khi cô tôi, Koromogawa, bảo tôi ông ấy không sá gì đau đớn hay khổ ải để chiếm được lòng yêu của Kesa, tôi thấy thông cảm với ông.  Tôi còn biết là với tất cả tấm lòng mong ước cháy bỏng được lấy nàng làm vợ, ông ấy cố gắng hết sức mình ngay cả việc học làm thơ.  Tôi không thể nào tưởng tượng nỗi người đàn ông đơn giản và lù đù như ông ấy có thể làm thơ ca tụng tình yêu, và môi tôi nở nụ cười chế giễu chính mình.  Đây không phải là một cái cười khinh bỉ; tôi thấy cảm động bởi lòng yêu thương dịu dàng của một người đàn ông đã làm đủ mọi cách thậm chí quá độ để được lòng một người đàn bà.  Rất có thể lòng yêu cháy bỏng của ông đến nỗi ông tôn thờ Kesa yêu quí của tôi làm cho tôi khá thỏa mãn.

Nhưng tôi có thật sự yêu Kesa không?  Cuộc tình vụng trộm của chúng tôi có thể được chia thành hai thời kỳ, quá khứ và hiện tại.  Nhưng ngay lúc này nhìn thẳng vào tim mình, tôi thấy có nhiều động cơ.  Tôi muốn những gì ở nàng?  Nàng là một người đàn bà mà tôi luôn thèm muốn kể cả những ngày mà tôi phải chay tịnh.  Nếu tôi được phép lộng ngôn, tình yêu của tôi dành cho nàng chẳng khác gì một thúc đẩy hào nhoáng đã đưa Adam đến với Eve.  Dù rằng tôi vẫn nghĩ đến nàng cả ba năm kể từ khi chúng tôi không còn thuộc về nhau, tôi không dám cả quyết rằng tôi yêu nàng.  Về sau khi tôi trở nên quyến luyến với nàng, niềm nuối tiếc lớn nhất của tôi là tôi đã không tìm hiểu nàng một cách thật sâu đậm.  Tự tra tấn mình với sự bất mãn, tôi lao vào mối quan hệ hiện nay và điều này làm tôi hãi sợ cho dù tôi biết rằng đó là chuyện phải đến.  Bây giờ tôi lại hỏi chính tôi một câu hỏi mới tinh khôi “Tôi có thật sự yêu nàng không?”

Ba năm sau khi tôi gặp lại nàng trong dịp lễ hoàn tất cây cầu Watanabe, tôi đã dùng đủ mọi cách để được gặp riêng nàng.  Cuối cùng tôi thành công.  Không những tôi chỉ gặp nàng mà tôi còn chiếm đọat được thân thể của nàng, điều mà tôi ao ước từ lâu.  Lúc ấy, cái tiếc rẻ không được biết rõ thân xác nàng không mạnh mẽ lắm.  Nhưng khi tôi ngồi cạnh nàng trong căn phòng có trải nệm ở nhà của Koromogawa, tôi để ý là sự tiếc rẻ ấy đã tàn lụi.  Rất có thể cơn thèm muốn của tôi cũng yếu dần vì tôi không phải nhịn thèm.  Nhưng lí do chính là nàng không phải là người mà tôi vẫn nuôi dưỡng trong trí tưởng của tôi.  Khi tôi ngồi đối diện với nàng, tôi chợt nhận ra nàng không còn đẹp, cái đẹp của một pho tuợng nho nhỏ, mà tôi hằng tưởng tượng trong ba năm vừa qua.  Nàng thua xa cái thần tượng mà tôi hằng lí tưởng hóa trong tim tôi.  Mặt nàng, trát dày những phấn có pha chì, đã mất đi cái vẻ tươi tắn rạng rỡ cũng không còn mịn màng duyên dáng.  Dưới mắt nàng quầng thâm tụ lại.  Điều không hề thay đổi là đôi mắt nàng, vẫn trong trẻo và lóng lánh đen.  Nhìn thấy nàng lần này tôi sững sờ kinh ngạc, nhưng dù thế tôi vẫn không thể nhìn đi hướng khác.

Thế thì tại sao tôi lại có thể giao hợp với người đàn bà mà tôi không mấy quyến luyến?  Trước nhất là tôi có một mong ước kỳ cục là chinh phục được quả tim nàng.  Ngồi bên nàng, mặt đối mặt, nàng kể tôi nghe tình yêu nàng dành cho chồng, một cách cố tình phóng đại.  Câu chuyện không để lại gì ngoại trừ tiếng rung trong cái lỗ tai trống rỗng của tôi.  “Nàng thổi phồng cái lí tưởng hão huyền về người chồng,” tôi nghĩ thế.  Tôi cũng ngờ là nàng không muốn thổi cháy cái thèm muốn của tôi.  Cùng lúc ấy, cái thèm muốn được vạch trần sự dối trá của nàng trở nên càng lúc càng mạnh hơn.  Vì sao tôi nghĩ rằng nàng giả dối?  Nếu quí vị nói, bạn đọc thân mến, rằng sự giả dối của chính tôi làm cho tôi nghi ngờ lời nàng nói không phải là sự thật, thì tôi không chối cãi.  Tuy vậy, lúc đó tôi tin như vậy và bây giờ tôi vẫn còn tin lời của nàng chỉ là một lời nói dối.

Nhưng không phải chỉ có lòng thèm muốn chinh phục nàng ám ảnh tôi lúc ấy.  Tôi thật xấu hổ mà thú nhận điều này –  Tôi bị tràn ngập bởi lòng thèm muốn xác thịt.  Điều này không phải chỉ là sự tiếc nuối là tôi chưa lần nào được biết thân thể của nàng.  Nó là một cơn thèm muốn xác thịt thật hạ cấp, thèm muốn xác thịt chỉ vì thèm muốn xác thịt mà đối tượng của sự thèm khát không nhất thiết phải là một người đàn bà cố định.  Có lẽ, không một người đàn ông nào đi chơi điếm có thể hạ cấp hơn tôi lúc ấy.

Nói cho cùng, viện dẫn những lí do này khác, cũng chỉ là vì tôi có liên hệ với Kesa.  Nói đúng hơn là tôi làm nhục nàng.  Trở về với câu hỏi đầu tiên mà tôi đã đặt ra từ trước, tôi không cần hỏi tôi ngay lúc đó tôi có yêu nàng hay không.  Khi mọi chuyện đã xong, tôi nâng xốc nàng lên trong tay tôi – người đàn bà này đã nằm lăn xuống đất khóc ngất.  Lúc đó nàng có vẽ nhục nhã hơn tôi.  Tóc rối tung và mồ hôi nhễ nhại, tất cả những điều biểu lộ cái xấu xí của nàng, tâm hồn và thể xác.  Có thể nói mà không sai với sự thật là trong tôi hình thành một nỗi chán ghét thật mới mẻ, dành cho nàng ngay từ ngày hôm ấy.  Và đêm nay, tôi sẽ giết một người đàn ông mà tôi không ghét chỉ vì một người đàn bà mà tôi không hề yêu.

“Mình cùng nhau giết Wataru đi,” tôi thì thầm vào tai nàng.  Tôi chắc là phải rồ dại ghê lắm mới dám đề nghị một cách táo tợn đến thế với nàng.  Lơ đãng tôi thở vào tai nàng trước đây tôi từng mong ước được thách đấu với Wataru để chiếm lòng yêu của nàng.  Bất cứ giá nào, “mình cùng giết Wataru,” tôi thì thào và chắc chắn, tôi nghiến răng thì thào cùng nàng và cùng lúc ấy tôi muốn đả thương tôi.  Hồi tưởng lại, tôi không biết cái gì đã xui khiến tôi làm một chuyện thiếu suy nghĩ như vậy.  Tất cả những lý lẽ mà tôi nghĩ ra là tôi chỉ muốn đền bù cho cái chuyện ngoại tình lúc này, và khi tôi càng khinh bỉ và ghét bỏ nàng thì tôi càng trở nên kiên nhẫn chờ để bêu xấu nàng.  Không có gì để thỏa mãn mục đích này thích hợp hơn là giết người chồng mà nàng thú nhận là rất yêu với sự chấp thuận của nàng, một ý chí yếu mềm, dễ bị lung lạc.  Vì thế như một người trong ác mộng, tôi phải thành công trong việc dụ dỗ nàng cùng nhau phạm cái tội sát nhân mà tôi không mơ ước.  Nếu điều này không đủ để giải thích cái lý do mà tôi đề nghị giết Wataru, không có lời nào có thể thử giải thích được, ngoại trừ một quyền lực không hề biết đến đạo đức là gì (có thể là yêu tinh hay quỷ sứ) đã dẩn dắt tôi trên con đường tội lỗi.  Kiên trì tôi lập đi lập lại điều này vào tai nàng.

Cuối cùng nàng ngẩng mặt lên nói rằng, “Được rồi, nếu anh thật sự muốn giết Wataru.”  Không những sự đồng ý ngay lập tức của nàng làm tôi thật ngạc nhiên, mà tôi còn thấy một ánh nhìn thật bí mật trong mắt nàng mà tôi chưa hề để ý.  Một người đàn bà ngoại tình – nàng cho tôi cái ấn tượng ấy lúc đó.  Ngay tức thì thất vọng và khủng hoảng – và vâng, cả khinh bỉ nữa – nhoáng lên trong bộ óc đang lên cơn sốt của tôi.  Tôi có thể hủy bỏ những toan tính của tôi ngay lập tức nếu tôi thấy có thể làm được.  Xong rồi tôi có thể gán cho nàng cái tên đàn bà ngoại tình, và lương tâm của tôi có thể tìm được chổ trú ẩn trong đạo dức hợp lẽ phải.  Nhưng tôi không thể làm được chuyện ấy.  Tôi thú nhận là tôi đã nhìn thấy cái tuyệt đối bất lực của mình ngay cái phút giây mà tôi bắt gặp bất thình lình cái nhìn đắm đuối của nàng.  Thái độ của nàng thay đổi hẳn như là nàng đã nhìn thấu rõ quả tim tôi.  Tôi lỡ há miệng nên mắc quai trong việc chuẩn bị giết chồng nàng bởi vì tôi sợ nàng sẽ trả thù nếu tôi không thực hiện phần của tôi.  Bây giờ thì nỗi sợ hãi như đã có móng vấu bám chặt lấy tôi.  Cứ cười tôi là một tên hèn nhát nếu bạn muốn.  Đây là hành động của một người không biết người tình vụng trộm của hắn thấp hèn đến mức nào.  “Nếu tôi không giết chồng nàng, nàng sẽ giết tôi không bằng cách này thì cũng bằng cách khác.”  Tôi suy nghĩ một cách tuyệt vọng, nhìn vào đôi mắt như khóc mặc dù không có giọt nước mắt nào.  Sau khi tôi tuyên bố lời thề của mình, không biết tôi không có nhìn thấy nụ cười trên môi nàng, và đồng tiền trên má nàng hay không?  Ồ, bởi vì lời hứa đáng bị nguyền rủa này, tôi sẽ cộng thêm cái tội sát nhân độc ác vào trái tim đen tối nhất không ngoài sức tưởng tượng.  Nếu như mà tôi không giữ đúng lời hứa để thực hiện cái việc ấy tối nay . . . Không, lời hứa của tôi phải được tôn trọng.  Điều này quá sức chịu đựng của tôi.  Thêm vào đó, tôi rất sợ bị nàng trả thù.  Điều này khá đúng đấy.  Ngoài ra còn có một việc khác đã xui khiến tôi hành động.  Cái gì thế?  Cái gì có quyền lực thật mạnh mẽ đã thúc đẩy một tên hèn nhát như tôi đến chổ giết người?  Tôi không thể thố lộ.  Tôi không thể thố lộ.  Nhưng rất có thể . . .  Không, không thể như thế được.  Tôi khinh bỉ nàng.  Tôi sợ nàng.  Tôi ghét nàng.  Và có thể, và có thể, có thể vì tôi yêu nàng.

Morito, tiếp tục đi đi lại lại, không nói thêm gì nữa.  Lời hát của một bài hát trữ tình được viết ra từ trong đêm ấy.

Trí óc của con người trong bóng tối
Không có ánh sáng soi lên
Nó cháy một ngọn lửa mà nhân loại quan tâm
Nhưng tàn rụi chỉ trong khoảnh khắc

Part II

Ban đêm dưới ánh đèn, Kesa đắm chìm trong suy nghĩ, nàng cắn tay áo của mình, và đứng quay lưng về ánh sáng.

Lời độc thoại của Kesa.

Hắn có đến hay không hay là hắn không đến.  Tôi tự hỏi.  Chuyện hắn không đến rất khó có thể xảy ra.  Trăng đã bắt đầu lặn, nhưng không nghe tiếng bước chân, biết đâu chừng hắn đổi ý.  Nếu như mà hắn không đến? . . .  Ta sẽ sống trong nhục nhã ngày này sang ngày khác như một con điếm.  Tại sao ta có thể đánh mất chính mình trong nhục nhã và tội lỗi đến thế?  Ta chẳng khác gì một xác chết bị ném bên lề đường.  Ta sẽ bị sỉ nhục và chà đạp khi mối nhục của ta bị phơi bày ra ánh sáng.  Tuy thế ta sẽ giữ im lặng như là một con ngu.  Trong trường hợp này ta sẽ mang nỗi tiếc nuối này xuống mộ.  Ta tin là hắn sẽ đến.

Ngay từ lúc ta nhìn vào mắt hắn, khi ta chia tay hắn ngày nọ, ta đã thuyết phục hắn đồng ý làm chuyện đó.  Hắn sợ ta.  Thật thế, nếu như ta chỉ dựa vào bản thân ta, ta không tin chắc ở hắn cho lắm.  Nhưng ta phải nhờ cậy hắn.  Ta nhờ vào lòng ích kỷ của hắn.  Ta nhờ vào cái sợ hãi đốn mạt đã mọc lên từ bản chất ích kỷ của hắn.

Nhưng từ khi ta không còn chỉ tự dựa vào chính bản thân nữa thì ta khốn khổ làm sao.  Từ xưa cho đến ba năm trước đây, ta tự tin vào chính bản thân, và trên hết, vào nhan sắc của mình.  Nói chính xác là “cho đến ngày hôm ấy” hơn là nói “ ba năm trước đây.”  Hôm ấy ta gặp hắn trong phòng ở nhà người cô, chỉ cần thoáng liếc vào trong mắt hắn ta đã thấy phản chiếu sự xấu xa đê tiện trong đầu hắn.  Hắn nói những lời yêu thương êm dịu với ta như thể mọi chuyện trên đời này đều không đáng để quan tâm.  Nhưng làm sao trái tim của một người đàn bà có thể được xoa dịu một khi đã nhìn thấy sự xấu xa bỉ ổi trong chính tâm hồn nàng?  Ta sợ hãi, khủng hoảng, và hối tiếc.  Cái ánh sáng nhợt nhạt bất an của một lần nguyệt thực mà ngày còn bé ta đã xem lúc còn được bế trên tay người vú nuôi có lẽ vẫn sáng hơn, tốt đẹp hơn so với sự tuyệt vọng quái đản đã làm đen tối trí óc ta lúc ấy.  Tất cả những mơ ước viễn ảnh tốt đẹp cho tương lai trong tim ta bỗng hoàn toàn biến mất.  Cái cảm giác đơn độc của một cơn mưa vào buổi sáng bỗng lặng lẽ bao trùm ta.  Rùng mình trong đơn độc, cuối cùng ta phó mặc thân thể ta, như một xác chết, trong vòng tay của một người đàn ông ta không yêu, vào vòng tay của người đàn ông dâm đãng một kẻ vừa ghét vừa khinh ta.  Có phải tôi không chịu nổi sự cô đơn của mình bởi vì cái xấu xí của tôi bị vạch trần sống sượng đập vào mặt tôi?  Có phải tôi cố che giấu mọi thứ trong cái giây phút chất ngất ấy bằng cách dấu mặt mình vào ngực hắn?  Hoặc là tôi bị chinh phục chỉ bởi cái khao khát rất nhục nhã cũng giống như hắn mà thôi?  Chỉ cần nghĩ đến chuyện ấy tôi đã thấy tràn ngập lòng mình một nỗi nhục nhã!  Nhục nhã thật.  Nhục nhã thật!  Đặc biêt lúc tôi nhấc mình ra khỏi vòng tay của hắn, tôi xấu hổ làm sao.

Nhàm chán và đơn lẻ làm tôi rơi nước mắt triền miên cho dù tôi cố gắng không khóc hết sức.  Tôi không những chỉ hối tiếc là mình bị mất danh dự, tôi còn bị tra tấn đau đớn hơn bởi vì tôi bị rẻ rúng hơn cả con chó bị cùi hủi mà người ta ghét và đánh đập.  Tôi đã làm gì từ lúc ấy?  Tôi chỉ có một kí ức mù mờ về về việc ấy như đó là một chuyện xa xôi trong trí nhớ.  Tôi chỉ nhớ giọng nói hắn thì thào, “mình giết Wataru đi,” và bộ ria mép của hắn cọ vào tai tôi lúc tôi khóc nấc.  Ngay lập tức lúc tôi nghe những lời này, tôi bỗng dưng nghe sống động một cách kỳ lạ.  Vâng, tôi nghe mình sinh động và rạng rỡ như ánh trăng xanh, nếu ánh sáng của mặt trăng có thể được xem là rạng rỡ.  Nói cho cùng, tôi có được an ủi bởi những lời này?  Ồ! Không đâu!  Có phải đàn bà là một hiện thể chỉ sung sướng khi được đàn ông yêu cho dù nàng phải giết chồng mình?

Tôi tiếp tục khóc một hồi lâu với sự cô đơn và cảm giác sống động như ánh trăng.  Tôi đã hứa giúp một tay vào việc giết chồng mình từ lúc nào?

Ngay đến lúc ấy hình ảnh chồng tôi cũng chưa đi vào trong óc tôi.  Tôi thành thật nói rằng không, ngay cả lúc ấy.  Cho đến khi ấy, toàn bộ trí óc tôi choáng ngập bởi chính tôi và cái mất danh dự của mình.  Rồi thì tôi tưởng tượng đến bộ mặt tuơi cười của chồng tôi, cái âm mưu lóa lên trong óc tôi.  Ngay lúc ấy, tôi quyết định tìm cái chết, và tôi rất mừng mình đã quyết định như thế.  Nhưng khi tôi ngừng khóc, ngẩng mặt lên và nhìn vào mặt hắn để nhìn thấy sự xấu xí của mình phản chiếu trong đó tôi cảm thấy dường như tất cả những vui sướng trong đời tôi mờ dần đi.  Nó làm tôi nghĩ đến cái bóng tối trên mặt trăng đang bị khuyết dần trong nguyệt thực mà tôi đã xem với người nhủ mẫu.  Đó, như tự lúc nào, tự bao giờ, giải phóng tôi ra khỏi mọi tư tưởng ác độc ẩn náu dưới vẻ ngoài vui sướng của tôi.  Đó, có phải vì tôi yêu chồng mà tôi muốn chết thế cho chàng?  Không, đó chỉ vì điều này hợp lí hợp tình, chỉ vì tôi muốn chuộc tội là tôi đã ngủ với người khác.  Không có đủ can đảm tự tử, tôi có cái khao khát ác độc là muốn giữ cái bề ngoài tốt đẹp với mọi người chung quanh.  Cái lòng ác độc này của tôi có thể được tha thứ.  Dưới cái ý tưởng mình chết thế cho chồng, phải chăng chính tôi đang âm mưu trừng phạt tình nhân của tôi với cái tội là hắn đã ghét bỏ tôi, khinh bỉ tôi, và cái lòng dâm dục khả ố của hắn dành cho tôi.  Điều này được chứng minh bằng một sự thật là cái nhìn thoáng qua mặt hắn đã dập tắt mọi những ánh lửa bí ẩn và mầu nhiệm của cuộc đời như là chút ánh sáng nhợt nhạt của mặt trăng và làm tê điếng cả lòng tôi với niềm hối tiếc.  Tôi sẽ chết, không phải chết cho chồng tôi mà cho chính tôi.  Tôi sẽ chết một cái chết để trừng phạt tình nhân của tôi đã làm tổn thương trái tim tôi và để trả đũa hắn đã xâm phạm thân thể tôi.  Ồ! Không những tôi không xứng đáng trong cuộc sống của tôi, tôi không xứng đáng ngay cả trong cái chết cho mình.

Nhưng bây giờ, chết một cái chết không xứng đáng vẫn xứng đáng hơn là sống.  Cười một cái cười gượng gạo, tôi lập đi lập lại lời hứa giúp hắn giết chồng tôi.  Bởi vì hắn rất khôn ngoan nhạy bén, hắn chắc là đoán ra từ lời nói của tôi cái hậu quả hắn phải chịu nếu hắn không giữ lời hứa.  Vì thế, dường như không thể xảy ra được sau khi hứa hẹn đủ điều hắn lại phản bội lời hứa.  Đó có phải tiếng gió?   Khi tôi nghĩ rằng tất cả khốn khổ của tôi bắt đầu từ ngày hôm ấy sẽ kết thúc đêm nay, tôi cảm thấy dễ chịu.  Ngày mai sẽ không thất bại trong việc chiếu ánh sáng lạnh lẽo trên cái xác không đầu của tôi.  Nếu chồng tôi nhìn thấy cái xác, anh ấy sẽ . . . không, tôi không muốn nghĩ đến anh ấy.  Chồng tôi yêu tôi nhưng tôi không còn đủ sức đáp lại tình yêu của anh ấy.  Tôi chỉ có thể yêu một người.  Và người đàn ông ấy sắp đến giết tôi đêm nay.  Ngay cả cái ánh sáng của ngọn nến này cũng trở nên sáng quá độ đối với tôi, bị tra tấn bởi tình nhân của mình, như chính tôi.

Kesa thổi tắt ngọn nến.  Không bao lâu, tiếng động khẽ khàng như tiếng mở cửa vang lên, và ánh trăng nhợt nhạt tràn vào.

Nguyễn Thị Hải Hà dịch

Đôi Chim Bạch Yến

Tác giả: Yasunari Kawabata

Người dịch: Nguyễn thị Hải Hà

Thưa Bà:

Tôi xin lỗi đã thất hứa và viết thư cho Bà, chỉ một lần này thôi.

Tôi không thể tiếp tục nuôi giữ mấy con chim bạch yến tôi nhận của bà từ năm ngoái. Vợ tôi là người săn sóc mấy con chim này. Tôi chỉ ngắm chúng – và nghĩ đến Bà khi thấy mấy con chim này.

Có phải Bà là người đã nói, “Anh có vợ, và em cũng có chồng. Thôi ta đừng yêu nhau nữa. Phải chi anh đừng có vợ. Em tặng anh mấy con chim bạch yến này là để anh nhớ đến em. Anh nhìn chúng đi. Đôi bạch yến này trông như là vợ với chồng, nhưng thật ra chủ tiệm chỉ bắt bừa một con trống và một con mái rồi nhốt chúng vào chung một lồng. Tự chúng chẳng hề quen biết nhau. Thôi thì cứ nhìn chúng mà nhớ đến em. Nghĩ ra cũng kỳ quái khi đem tặng thú vật sống làm quà, nhưng kỷ niệm của chúng ta cũng đang sống đấy thôi. Rồi một ngày nào đó, đôi bạch yến này sẽ chết. Và, khi ấy kỷ niệm của chúng ta cũng phải chết theo, xin hãy để nó chết đi.”

Giờ đây, đôi bạch yến nhìn có vẻ như sắp chết. Người săn sóc chúng đã mất rồi. Một họa sĩ, bất cẩn và nghèo túng như tôi, không thể nuôi những con chim yếu ớt này. Nói thẳng ra, vợ tôi là người chăm sóc chúng, từ khi nàng qua đời, tôi không biết đôi chim này có chết theo nàng hay không. Và nếu đôi chim này chết, thưa Bà, có phải vợ tôi là người mang đến những kỷ niệm về bà hay không?

Tôi nghĩ đến thả đôi chim này, nhưng, từ khi vợ tôi mất, đôi cánh của cặp chim dường như trở nên yếu ớt. Thêm vào đó, đôi chim này rất xa lạ với bầu trời. Chúng không có người thân hay bạn bè, trong thành phố này hay trong khu rừng lân cận, để chúng có thể nhập đàn. Và nếu một con chim tách ra bay riêng, cả hai cũng sẽ chết một cách lẻ loi. Nhưng mà, chính Bà đã nói rằng, người chủ tiệm bán chim chỉ bắt bừa hai con chim một trống một mái rồi nhốt vào chung một chuồng.

Tôi không muốn đem bán chúng cho tiệm bán chim, vì Bà đã cho tôi mấy con chim này. Tôi cũng không muốn trả lại cho Bà, bởi vì vợ tôi là người đã nuôi mấy con chim. Thêm vào đó, mấy con chim này – có lẽ Bà đã quên bẵng chúng rồi – sẽ gây trở ngại cho Bà rất nhiều.

Tôi sẽ lập lại. Nhờ có vợ tôi mà đôi chim này còn sống đến bây giờ – làm kỷ vật gợi tôi nhớ đến Bà. Vì thế, thưa Bà, tôi muốn đôi chim này đi theo vợ tôi về cõi chết. Giữ cho kỷ niệm của Bà còn sống trong tôi không phải chỉ là một việc vợ tôi đã làm. Làm thế nào mà tôi có thể yêu một người đàn bà như Bà chứ? Không phải bởi vì vợ tôi đã ở với tôi sao? Vợ tôi đã giúp tôi quên hết những nỗi đau đớn trong đời. Nàng đã từ chối không nhìn thấy phân nửa phần đời của tôi. Nếu nàng không làm như thế, tôi chắc chắn là sẽ quay nhìn hướng khác, hoặc nhìn xuống chân, trước một người phụ nữ như Bà.

Thưa Bà, chắc là không sao chứ, nếu tôi giết đôi chim bạch yến này và chôn chúng vào cùng huyệt mộ với vợ tôi, phải không?

Trích trong tập truyện ngắn The Palm-of-Hands của Yasunari Kawabata.

Nhưng chỉ là giấc mơ thôi

Bài của người quen gửi đăng.

Tác giả: Nam Huân

Ba mươi tuổi tôi vẫn còn trinh. Không. Tôi không xấu xí cũng không có quan niệm bảo thủ phải giữ gìn trinh tiết cho đến khi lấy chồng. Quan niệm này chỉ thịnh hành ở Việt Nam vào thế kỷ trước.  Tôi không còn ở Việt Nam và không muốn lãng phí thì giờ lo nghĩ về những phong tục tập quán đã lỗi thời. Continue reading Nhưng chỉ là giấc mơ thôi

Từ Một Con Vịt

Tác giả: Nguyễn thị Hải Hà

Chiyo, cô bé con của một dân chài nghèo rớt mồng tơi và bà mẹ bị ung thư, về sau bị bán cho trà đình rồi trở thành nàng geisha Sayuri nổi tiếng, đã tả căn nhà thời thơ ấu của mình ở trên một triền núi cheo leo, nó có vẻ ngất ngưởng lảo đảo như người say rượu. Căn nhà thời thơ ấu của tôi thì không như thế, nó giống một bức tranh ghép bằng nhiều mảnh giấy màu, như một tấm bích họa.

Má khoe, “Nhà mình ngon lành nhất xóm!”  Chúng tôi phải đi bộ từ khu tạm cư đến bến đò. Ngồi trên đò Má bảo ngồi xuống nền ghe, tay giữ thành ghe kẻo ngã xuống sông. Khách đi đò, người lớn, ngồi hai bên thành ghe. Cùng đi chung chuyến đò với tôi có mấy con heo con còn đỏ hỏn, nằm trong giỏ ló mõm ra ngoài kêu eng éc, mũi hếch hếch cố tìm một mùi quen thuộc nào đó, có lẽ là của mẹ nó. Từ bến đò đi vào khu nhà mới định cư của dân nhà cháy cũng chừng hai cây số.

Tôi hơi thất vọng, vì nó không phải là căn nhà ngon lành nhất xóm như tôi tưởng tượng. Trái lại nó như một cái hộp được mặc cho cái áo vá chằng chịt. Vách nhà là những tấm vá theo chiều nằm ngang, mỗi mảnh vá dài và hẹp gồm nhiều màu từ nâu đậm đến nâu nhạt. Mái tôn thì là những tấm vá hình vuông của tôn mới và tôn cũ hơi rỉ sét. Nhà hình hộp, không cửa sổ. Sở dĩ căn nhà tôi có vẻ giống như một bức tranh bích họa dán ghép bằng những mẩu báo giấy bời rời bởi vì Má mua gỗ vụn ở một trại cưa gần đấy. Sau này, tôi mới biết là Má một thân một mình, hai tay cắp hai mảnh gỗ kéo từ trại cưa về nhà, kể cả những khi mưa dầm trên con đường đất sét. Đường đất sét trời mưa đi rất trơn. Muốn không té thì phải đi chân không, hai ngón chân cái phải bấu quặp xuống đất để không bị ngã. Có khi tôi đi học về, trường học ở mãi ngoài bến đò, từ trường về nhà bình yên, nhưng khi đến dưới cổng dàn hoa giấy, chỉ lơ đãng một giây thôi, tôi té lăn quay lấm dơ hết quần áo. Ý là tôi đi tay không, trên vai chỉ đeo cái cặp. Má không than kéo cây nặng mà chỉ than đau ở hai đầu ngón chân cái và bàn chân của Má nứt rạn khắp nơi nhất là phía sau gót. Cất xong cái nhà, ai giúp Má cất nhà tôi không biết, bà bị lao phổi, ho từng búng máu. Tuy nhiên không thể buộc tội Má nói láo, bởi vì so với những căn nhà mái lá,vách đất chung quanh, nó có vẻ rất bề thế. Bây giờ nghĩ lại tôi thấy mình may mắn, bởi vì tôi đã chẳng bao giờ mang cảm giác tủi hổ mình là con nhà nghèo.

Một hôm tôi chạy về nói với Má, “Má ơi, nhà trước mặt mới mua một bầy vịt con, dễ thương lắm.” Má thấy vậy ra chợ mua cho tôi một chục vịt con mới nở lông còn vàng óng.  Tôi mê lắm. Má dạy tôi xắt rau, xắt hành lá trộn với tấm cho vịt ăn. Cái mùi vịt con trộn với mùi tấm và hành lá làm tôi mê đến phát run. Mấy con vịt con có cặp mắt như hạt cườm nhấp nháy, rỉa ngón tay tôi, rỉa cả mũi tôi khi tôi cầm một chú vịt con đưa ngang mặt. Thả ra khỏi chuồng là chúng chạy theo tôi làm như tôi là mẹ chúng vậy.  Nuôi trong chuồng cho đến khi chúng lớn lông cánh mọc lơ thơ thì thả ra đồng ra kênh đào cho nó bơi lội và mò tôm ốc.  Tôi chăm sóc đàn vịt kỹ lắm, chúng là bạn của tôi. Đôi khi mất một con vịt vì bị rắn bắt tôi khóc rưng rức cả ngày. Buổi chiều, để kêu vịt về tôi chỉ cần mang thau lúa đứng trên bờ kêu “kía kía,” để cái thau thấp xuống là đàn vịt bu đến ăn. Thau lúa rủ đàn vịt về chuồng, chỉ làm một lần là sẽ trở thành thông lệ. Đôi khi chúng ham ăn ốc ăn cua không chịu về, Má làm cho tôi một cần lùa vịt bằng một thanh trúc dài, có buộc một miếng giẻ ở đầu cần và tôi chỉ đứng trên bờ xua vịt về.

Đàn vịt của tôi lớn lên thì đàn vịt của bác Ba cũng lớn lên. Vịt nhà tôi được ăn lúa nên đến giờ là chạy về chuồng. Còn vịt của bác Ba thì cũng chạy theo đàn vịt của tôi để được ăn ké. Lúa thì ít mà đàn vịt của bác Ba thì cũng như đám con của bác, thường xuyên đói. Tôi khổ sở bảo vệ thức ăn cho đàn vịt của tôi. Hai tay nắm hai cổ hai con vịt, một hai ba, tôi ném. Vậy mà không có con vịt nào bị gãy cổ hay gãy chân, nghĩ cũng lạ thiệt. Dường như trời cũng thương hại những con vịt đói nên ban cho chúng một khả năng tự tồn không dễ bị bẻ gãy. Về sau khôn hơn một chút, tôi nhốt vịt vào sân đóng cổng rào rồi mới cho vịt ăn.

Rồi có một hôm đàn vịt về mà vẫn còn thiếu một con. Tôi đoán có lẽ con vịt này nhập bọn với đàn vịt của bác Ba và quên lối về. Mặt trời bắt đầu lặn, nước kênh đào dâng đầy, gió thổi hây hây, giờ này mà Má đi chợ bổ hàng bán vẫn chưa về. Tôi cần phải đi tìm con vịt này trước khi Má về.

Tôi đi dọc theo bờ kênh đào ra hướng cầu sắt. Bên trái là con kênh đào nước lớn đục ngầu, rộng gấp đôi lúc nước ròng. Bãi lát ven bờ nước ngập lên gần đến ngọn. Bên phải là những ngôi nhà vách lá đứng thành hàng thành luống, chung quanh nhà nào cũng có mương. Nước của con kênh đào chảy theo những cái cống nhỏ vào mương, nhà nào cũng cắm vài bè rau muống hay rau nhúc. Không thấy con vịt tôi đi dần đến chỗ cầu sắt và đến đây thì tôi nghe tiếng vịt kêu.

Quẹo trái tôi sẽ đi qua cây cầu sắt và con đường này sẽ đưa tôi đến trường học ở ngoài bến đò tôi vẫn đi mỗi ngày. Quẹo phải là hướng đi về ngôi chùa mới. Chùa này cũng là do những người bị cháy nhà mới xây chung nên gọi là chùa mới để phân biệt với ngôi chùa cũ ở trên đường ra bến đò và gần đó là một cái đình rất to nơi đó tôi thường ra xem cải lương. Thỉnh thoảng có gánh cải lương hát dạo về trình diễn ở đây. Trước mặt tôi là con đường mòn đầy cỏ u ru cao khỏi đầu người. Đây là một chỗ vắng vẻ, cỏ mọc bít kín lối đi. Thường xuyên khi đi đến ngã tư này tôi chỉ quẹo trái, hay quẹo phải. Tôi chưa bao giờ đi vào còn đường mòn này. Rậm rạp nên tôi sợ có rắn, tuy nhiên, tôi nghe tiếng vịt kêu nên tiếp tục đi lần về hướng đó. Con đường mòn dẫn đến một lối cụt. Cuối đường là bãi cỏ mọc cao, bên ngoài bãi cỏ là khúc quanh của con kênh đào. Tôi mon men đến gần bãi cỏ, tiếng vịt kêu rõ ràng hơn. Buổi chiều, nước lớn, tiếng vịt kêu nghe thăm thẳm buồn, cái buồn lẽ bạn. Con vịt của tôi, có cái bớt đen trên đầu, cái sẹo to ở gần mép vì có lần bị vướng lưỡi câu của bác Hai Tôn ở cách nhà tôi mấy căn, đang ở trong đám lác vừa kêu vừa rỉa nước.

Tôi gọi con vịt về. Kía kía. Nó nhấp nhỏm cái cổ có vẻ muốn theo tôi nhưng lại thôi không theo. Lúc nãy tôi quên mang theo cái cần lùa vịt. Đàn vịt đã nhốt vào chuồng rồi còn xách cần lùa vịt để làm gì. Rất là sai lầm, chứ nếu không thì giờ này có thể dùng cái cần mà xua con vịt. Túng thế, tôi lấy vài viên đá nhỏ ném chung quanh con vịt cho nó sợ mà chạy về. Con vịt hốt hoảng bơi vòng tròn chung quanh bụi lát. Tôi ném thêm vài viên đá nhỏ gần con vịt hơn thì tình cờ một viên đá trúng vào đầu con vịt. Nó quay vòng vòng rồi cắm đầu xuống nước bất động. Tôi húi húi, xuỵt xuỵt, nhưng nó vẫn cắm đầu xuống nước. Có lẽ nó đã chết. Tôi không biết làm sao nên ngồi bệt xuống đất khóc rấm rức. Khóc vì thương con vịt vì tôi mà chết và vì sợ phải trả lời với Má số phận của con vịt và sẽ gặp cái lắc đầu chán ngán thở dài của Má. Tôi chẳng làm gì nên thân.

“Con vịt của mày nó bị kẹt chân vào bụi lát. Chắc là chân nó bị dính dây nhợ gì đó nên càng vùng vẫy nó càng bị kẹt.”

Nghe tiếng nói sau lưng, tôi quay lại nhìn. Con nhỏ tóc hớt bom bê, cao bằng tôi, đầu có cái khăn màu đỏ sậm, rất cũ dính bùn đen lấm tấm. Cái khăn cột như một cái băng đô, để lộ chòm tóc phủ ngang trán.

Tôi nói qua nước mắt: “Tao lỡ tay, chọi cục đá trúng đầu con vịt chết rồi.

“Chắc là nó xỉu thôi, mày chờ một chút nó tỉnh dậy. Sao mày không lội xuống bắt con vịt về?” Con nhỏ đội khăn đỏ hỏi tôi như thế. Trời tối dần, nắng trên sông phản chiếu đủ để tôi thấy cái lúm đồng tiền nhỏ xíu gần khóe miệng của nó. Câu nó nói làm tôi yên tâm nên tôi nín khóc.

“Tao bơi chưa rành. Má tao dặn không đuợc xuống sông khi lùa vịt.” Nhìn mặt nó tôi nói thêm. “Cái đồng tiền của mày coi ngộ quá. Thường thường đồng tiền của người ta nằm ở giữa má còn đồng tiền của mày nằm ở gần mép môi.”
“Ờ, lùa vịt mà không biết bơi dễ bị chết đuối. Bữa nào mày rảnh tao chỉ mày bơi. Mày không có số chết dưới nước đâu.” Con nhỏ khăn đỏ nói.

“Nhà mày ở gần đây hả? Sao tao ít khi gặp mày?” Tôi hỏi. Nó đưa tay chỉ về hướng chùa mới rồi nói “Đằng kia.” Tôi hỏi tiếp, “Ủa, nhà mày ở gần chùa hả, sao tao với má tao đi chùa hoài mà chưa lần nào gặp mày?” Nó nhìn về hướng chùa rồi nhìn tôi, “tao ở ngay phía sau chùa.” Nó nói tiếp “mày có gì ăn không, tao đói bụng quá.” Trong túi tôi có viên kẹo dừa tôi đưa cho nó. Nó nói, “thôi mày đi về đi không thôi má mày đi kiếm đánh đòn bây giờ, để tao canh con vịt cho mày.”

Tôi thấy trời đã tối, và đói bụng. “Mày có muốn theo tao về nhà ăn cơm không? À mày tên gì?” Tôi hỏi. Nó nói, “thôi, tao ở đây, chút nữa mày có rảnh thì ra đây chơi với tao.” Tôi hỏi, “sao mày không về nhà đi?” Nó nhiếc tôi, “mày hỏi nhiều mà hỏi cái gì đâu không. Tao ở đây canh con vịt, chút nữa nó tỉnh lại tao sẽ lội xuống bắt nó dùm mày.” Con nhỏ đội khăn đỏ nói giọng chắc nịch nên tôi không nghi ngờ gì cả. Quên hỏi coi làm sao mà con nhỏ hay quá biết con vịt không chết. Quên hỏi nó là sao nó không vớt con vịt lên giùm mình bây giờ. Tuy nhiên tôi sợ Má rầy nên lật đật chạy về.

Tối hôm đó, khi theo Má đến chùa tôi lén rọc một miếng lá chuối ở cây chuối trồng bên hè rồi gói theo một ít cơm mới nấu và cá khô nướng. Khi Má bắt đầu cầu kinh tôi lẻn ra khỏi chùa chạy đến chỗ ban chiều. Tôi gọi, nhỏ ơi, nhỏ khăn đỏ ơi, nhưng không có ai trả lời. Trong bóng tối mịt mùng, tiếng gọi của tôi rơi vào con sông nước đã bắt đầu lui. Con vịt không còn ở đó, có lẽ nó đã bị nước cuốn đi. Tôi trở lại chùa ngồi đợi Má. Cái chùa này về sau trở nên thân thiết với tôi lắm. Thân thiết vì tôi đã ở đó mấy năm khi có một lúc lẫy hờn tôi ôm gói bỏ nhà đi ở chùa. Không cạo đầu đi tu, vẫn mặc áo dài đi học, nhưng khi qua khỏi cây cầu sắt thì thay vì quẹo tay mặt đi về nhà tôi đi thẳng đến chùa. Mãi khi căn bệnh lao phổi của Má trở nặng, và Má năn nỉ, tôi mới chịu về.

Buổi sáng hôm sau, trước khi đi học, tôi thả vịt ra đồng và ngạc nhiên thấy số vịt đầy đủ. Con vịt tối qua tôi tưởng đã chết và nước cuốn trôi đã về từ lúc nào và làm thế nào để vào chuồng thì tôi không biết. Ban đầu tôi ngỡ là con vịt hàng xóm lẫn lộn vào nhưng cái bớt đen trên đầu và cái sẹo gần mỏ vịt không thể nào nhầm lẫn được. Tôi định bụng sẽ đi tìm con nhỏ khăn đỏ để cảm ơn, và hỏi nó đã làm thế nào để trả con vịt lại cho tôi, chợt nhớ ra là mình không biết chỗ ở của nó.

Má đi chùa thường vào buổi tối, ngày rằm và mồng một. Khi đến chùa tôi cố ý tìm nó khắp nơi nhưng không gặp. Sau chùa có vài căn nhà tôi biết mặt gần hết mấy đứa trẻ. Bên trái của chùa là nhà con Tiền con của cô hai Đẹp. Cô ở nhà quê, chỗ nào đó còn nhà quê hơn chỗ này, có chồng theo du kích, bị bắt tra hỏi mãi nên phải trốn lên Sài gòn. Đằng sau chùa là nhà của ông bà Tư Xị có một đàn con gái tên Khai, Nở, Nhị Hoa, Hường, đúng năm cô nên được gọi là Ngũ Long Công Chúa. Công chúa gì mà nghèo rớt mồng tơi cứ phải qua chùa ăn cơm ké. Kế bên nhà con Tiền là nhà hai anh em thằng Quan thằng Quyền. Thẳng Quan hơi giống giống Ấn Độ, có đôi mắt rất to và hàng lông mi vừa rậm vừa cong. Tôi rong chơi nghịch ngợm khắp nơi mà tôi không bao giờ thấy con nhỏ khăn đỏ. Một hôm đi chùa với Má, tôi ngu dại chê ông Mười bán cơm tấm đánh trống Bát Nhã không đúng bài bản gì cả nên ông nổi giận đuổi tôi ra khỏi chùa. Mọi người bắt tôi mang hương đèn ra xin lỗi ông nhưng tôi đổ chướng, không đúng thì tôi nói không đúng chứ làm gì mà phải xin lỗi. Tôi bỏ chạy ra khỏi chùa và đến bờ sông, chỗ bụi lác mà con vịt bị mắc kẹt, ngồi khóc thút thít một hồi thì tôi nghe giọng con nhỏ sau lưng. “Sao mày ít khi đến đây mà lần nào đến đây mày cũng khóc hết vậy.” Giọng nó bất thình lình làm tôi giật mình nhưng nghe nó cười thì tôi nín khóc ngay. Thật ra tôi khóc không phải vì sợ mà vì giận. Giận là sao không ai bênh mình kể cả má của mình. Tôi kể nó nghe đầu đuôi câu chuyện. Nó nói, “Mày nín khóc đi tao kể chuyện trong chùa cho mày nghe. Cái ông Mười bán cơm tấm đó tu hành gì mà tham sân si dữ lắm. Mày xui lắm mới dám chê ổng, mà thiệt ổng không phân biệt tiếng trống nào là tiếng trống nào. Ông đánh trống bài gì nghe cũng như người ta đánh trống múa lân vậy. Ông sắp đuổi thầy Xuân ra khỏi chùa vì thầy và chị Khai có tình ý với nhau. Chị Khai người nảy nở tròn trịa, một bên mắt bị hột cườm nhưng tính rất dễ thương. Thầy Xuân có miệng móm móm có duyên hết cỡ. Trời ơi thầy chùa gì mà hát vọng cổ hay quá xá hay. Ổng đi tu từ hồi nhỏ, vì nhà ổng rất nghèo nuôi không nổi nên cho đi tu, chứ không phải đi tu kiểu trốn lính như mấy ông thầy chùa khác. Ổng nói đuổi thầy Xuân ra khỏi chùa bây giờ thì thầy sẽ phải bị đi lính.” Con nhỏ nói vanh vách cái gì cũng biết hay thật. Tôi và nó hẹn nhau cứ mỗi lần rằm hay mồng một tôi theo Má đến chùa thì chúng tôi sẽ ra bờ sông gặp nhau nói chuyện chơi.

Chúng tôi nói đủ thứ chuyện. Tôi kể nó nghe chuyện tôi đi học sáng sớm bị heo rượt. Chị Bé lớn chê ông thầy giáo dạy chị tướng đi hai hàng giống như người mắc bệnh phong tình. Nó bảo tôi học bơi muốn cho giỏi thì phải học chìm trước rồi mới học nổi và học bơi. Điều này cũng đúng khi đã hết sợ bị chìm thì tôi muốn chìm cũng không được, thân hình cứ tự động nổi lên, ngay cả khi tôi trầm minh xuống đáy sông, cấu lấy bùn để được chìm lâu lâu chút nữa. Đêm mùa hè nóng nực nó cởi quần áo nhảy tòm xuống sông và nằm thật lâu dưới mặt nước đến độ tôi sợ nó chết đuối. Dưới ánh trăng, mặt nó nhìn xuyên qua lớp nước trông giống như cười. Tôi ngạc nhiên hỏi làm sao mày cười dưới nước hay vậy. Nó dạy tôi khi bơi thì phải gối sóng theo dòng, hễ muốn giữ mạng sống thì không nên bơi ngược nước. Nó chỉ tôi ngôi sao sáng nhất trên trời xéo xéo phía dưới mặt trăng đó là sao Lớn bây giờ tôi biết đó là sao Hôm và cũng là sao Mai. Chùm sao bốn góc hình thang có một dọc ngôi sao bên trên như cái cán chổi là chùm sao bánh lái lớn và gần đó là chùm sao bánh lái nhỏ. Tôi phàn nàn tao không thích ở đây, chỗ ở gì mà kỳ cục không có cầu tiêu. Ngày mới về Má bắt lấy cái cuốc đào một lỗ nhỏ đi cầu xong lấp lại. Có lúc đi cầu cá thì nghe cá quậy mà hết hồn. Mà thôi mình nói chuyện khác đi, nói mấy chuyện này nghe mắc ói quá. Nó nói giọng người lớn, người mình lo chuyện ăn còn không xuể nên không muốn lo chuyện ỉa, rồi cười hì hì. Ngày ở ổ chuột trong thành phố dùng cầu tiêu công cộng, dòi bọ lúc nhúc, trống trước trống sau, nồng nặc hôi thúi nhưng có một chỗ để mình biết đó là cầu xí. Còn ở đây người trong xóm ra bậc tam cấp dẫn xuống sông để đi cầu dơ cả lối đi.

Nghĩ cho cùng chuyện bài tiết là chuyện tất nhiên nhưng không có một chỗ để bài tiết cho kín đáo cũng là một điều mà cả hai đứa bé như chúng tôi cùng hổ thẹn. Tôi kể nó nghe lúc sau này tôi không dám đến chùa không phải vì sợ ông Mười bán cơm tấm sau vụ đánh trống mà vì tôi sợ gặp thằng Quan.
“Nó làm gì mày mà sợ?”
“Tao không sợ nhưng tao mắc cở.”
“Mắc cở vụ gì?”
“Tao thấy nó có cặp mắt đẹp tao thích nhìn. Nó biết tao nhìn nên nhìn lại. Vậy thôi. Một hôm ở nhà trời nắng nóng tao muốn đi tắm. Cái lu nước đầy để tắm ở phía sau nhà. Tao cởi quần áo xong nhưng không có cái gáo múc nước vì tao bỏ cái gáo trong cái lu đằng trước nhà. Tao nghĩ giờ này không có ai ở ngoài đường, chung quanh ai cũng ngủ trưa nên tao đi ra phía trước nhà để lấy cái gáo nhưng tao làm biếng không mặc quần áo vào. Vừa đi tao vừa nghĩ nếu xui xẻo lúc này thằng Quan thấy thì chết.”
“Rồi sao nữa, kể lẹ lên, mày hay ngừng nửa chừng làm tao sốt ruột muốn chết.”
“Tao nghĩ nhưng cứ tiếp tục đi. Chỗ này không phải là chỗ thằng Quan đến. Nó không có bạn ở đây. Trường học thì ở ngoài bến đò. Tao mới nghĩ đến đó thì đã ra đến cửa. Tao chạy nhanh đến cái lu, vớt cái gáo quay lại.”
“Mày gặp thằng Quan?”
“Ờ! Không biết nó đi đâu mà đạp xe ngang, nó nhìn tao, cười, rồi quay mặt đi.”
“Nó thấy mày? Nguyên con?”
“Ờ, nguyên hình nguyên con.”
“Xấu hổ thiệt!”
Hai chúng tôi khúc khích cười. Hai đứa nằm dài ngược chiều nhau đỉnh đầu nó chạm vào đỉnh đầu tôi. Con đường ít người qua lại mưa trôi đất nên đá đỏ lổm chổm cấn lưng khá đau. Đêm không tối đen như người ta nghĩ. Dù không trăng nhưng ánh sáng từ sao từ mây vẫn đủ cho chúng tôi thấy nhau lờ mờ. Tôi thích nghe tiếng gió lướt nhẹ trên sông và xuyên qua cỏ lát. Với nó nói chuyện gì cũng vui cũng cười được. Tôi rủ nó mày về xin với ba má mày đến nhà tao ở luôn. Nó cười.
“Tao không ở nhà mày được!”
“Tại sao?”
“Nhà mày không dư cơm và má mày không cho!”
“Tao xin má tao! Má tao hiền lắm thế nào cũng chịu. Sao mày nghĩ là má tao sẽ không cho?”
“Tại vì tao là ma.”
Tôi cười khúc khích. “Vậy à, ma như mày chẳng ai sợ. Mày là ma thì tao là quỷ. Má tao kêu tao là con quỷ rồi nên ma hiền lắm thế nào Má cũng thương.” Tôi nói.
“Tại mày không sợ tao nên tao với mày mới gặp nhau. Chớ má mày mà biết mày chơi với tao là bà sẽ cấm ngay. Mày sướng mà không biết, mày có má cưng mày quá trời, thử tưởng tượng những đứa nhỏ không biết ba má nó là ai, không có một chỗ ở, suốt ngày chờ mà không có ai để chờ, có tên nhưng chẳng ai gọi nên lâu ngày như không có.”
“Ờ nói tới tên mới nhớ, mày tên gì?”
“Mày muốn kêu tao bằng cái gì cũng được, cần gì phải biết tên tao.”
“Mày sao điệu đà quá hỏi tên mà cũng không nói.”

Có một hôm nó móc trong túi một cục gì giống như kẹo màu đo đỏ nhai rồi thoa lên mu bàn tay phải của tôi, bảo là trả lại cho tôi cái gì của tôi và cũng để nhắc cho tôi nhớ nó. Lúc đó da tôi khô lại như bị thoa vôi chứ không thấy đau rát gì cả. Bẳng đi một thời gian không thấy nó tôi buồn muốn điên. Có một đêm đang ngủ, trăng sáng, mơ hồ tôi nghe có ai gọi, tôi thức giấc lén mở cửa lò dò ra bờ sông. Tôi thèm có người trò chuyện với tôi. Má ngủ tiếng ngáy khò khẹt không đều làm tôi sợ Má sẽ nín thở và chết. Ngồi ở bờ sông một hồi tôi đi về. Đang đi tôi nghe có tiếng xe đạp cán trên mặt đá đỏ lào xào phía sau. Giờ này khuya lắm rồi trăng đã lên đến đỉnh đầu. Tôi không muốn người đi xe đạp nhìn thấy tôi nên lủi vào bụi cỏ khom người chạy nhanh về nhà. Người đạp xe như có gì đó tò mò hoặc nghi ngờ, hắn chạy một đổi xa đến con đường ở phía sau nhà của tôi rồi quanh xe trở lại như để tìm tôi nhưng lúc ấy tôi đã vào nhà.

Chiều hôm sau khoảng bốn giờ có người dựng xe đạp ở giàn bông giấy và hỏi má tôi. “Thưa bác, ở đây có hai cô bé cao chừng này không?” Người thanh niên có vẻ trẻ hơn anh tôi, có lẽ chưa đến ba mươi, tay để chừng ngang ngực anh để ra dấu chiều cao các cô bé anh ta muốn hỏi. Chợt nhìn thấy tôi, anh nói cở cô bé này. Anh hỏi tôi, “đêm qua em có đi đâu ra khỏi nhà không?” Dĩ nhiên là tôi chối biến đi, vì sợ Má đánh đòn tội nửa đêm lén nhà ra sông. “Dạ không, tối em không đi đâu cả. Đi để làm gì?” Má muốn biết đầu đuôi câu chuyện nên anh kể là anh đang đạp xe về thì thấy có hai cô bé từ bờ sông đi lên. Anh đoán là hai cô bé xuống sông để đi cầu, nhưng thoáng một cái đã biến mất tiêu. Anh đoán chắc nịch một cô bé là tôi, vì tóc bom bê. Má nói xóm này chỉ có nó là con gái. Còn con nhỏ kia ra làm sao, anh nói cũng cao tương đương, nhưng có đội cái khăn.

Té ra đó là anh hàng xóm mới dọn về đây ở. Anh ta về rồi Má biết tỏng tôi nên hỏi to hỏi nhỏ vặn vẹo mãi nên cuối cùng tôi kể Má nghe về con nhỏ đó. Má dẫn tôi đến bờ sông chỗ tôi và nó thường ngồi trò chuyện với nhau nhưng chẳng tìm thấy gì. Chung quanh chỉ toàn cỏ mọc và sát mé nước cỏ che lấp hết có một cái miếu rất nhỏ chỉ bằng cái lồng chim. Trong miếu có một tấm bài vị đã phai bạc hết màu không còn nhìn thấy chữ nghĩa gì nữa. Trong chùa ở hậu liêu có một bài vị của một cô bé mười một tuổi, chết đuối. Người nào đó biết chuyện bảo rằng con nhỏ đi tìm con vịt lỡ chân té xuống sông chết chìm. Mẹ nó gửi bài vị vào chùa từ lúc chùa mới xây rồi bỏ đi mất luôn không ai biết tông tích nữa. Phía sau bài vị có ghi tên con nhỏ, ngày sanh tháng đẻ. Một sự trùng hợp lạ thường, nó cùng tên, cùng ngày tháng và năm sinh với tôi. Người ta không ghi giờ nhưng chắc là nó phải sinh vào ban đêm lúc tối tăm nhất. Má cấm từ nay không được đến góc sông này. Cấm không được chơi với con nhỏ đó. Má nghĩ là nó âm mưu bắt tôi theo. Điều đáng buồn là về sau không ai bắt mà tôi vẫn bỏ má tôi. Càng lớn lên tôi càng đi xa, càng tách rời, càng nổi loạn rồi bỏ Má đi đến tận bên kia bờ đại dương. Con nhỏ khăn đỏ có lần nói thường thì người ta sợ mất con hơn là sợ mất mẹ. Thường thì con bỏ mẹ nhiều hơn mẹ bỏ con. Chỉ những người bị bỏ mới cảm thấy cái bất hạnh này.

Lúc chuyến tàu tôi đi bị chết máy, cả tuần lênh đênh trên biển, tôi nghĩ đến lời con nhỏ bảo rằng số tôi không chết dưới nước. Thử tưởng tượng, không biết chết vì no, no vì nước tràn vào miệng đầy bao tử, tràn vào mũi ngập phổi hay chết dần mòn vì đói và khát cái nào đáng sợ hơn. Nhớ cái mặt của nó nằm dưới nước cười. Tôi tự hỏi không biết có thật nó là ma hay không hay chỉ là một sản phẩm trong óc tưởng tượng của tôi, vì thiếu bạn mà tự chế ra một đứa bạn để trò chuyện cho đỡ buồn. Tóm lại chỉ có mình tôi thấy nó, biết nó, và nói chuyện với nó. Trên mu bàn tay phải của tôi nơi con nhỏ trét vào tay tôi một chất gì như vôi vẫn còn cái bớt màu đỏ tươi. Đây có thể là một bệnh ngoài da. Nhưng tôi không giải thích được làm sao anh hàng xóm thấy trong cái đêm trăng sáng đó cùng chạy bên cạnh tôi có một con bé đội khăn. Tôi hỏi nó sao mày lúc nào cũng đội khăn. Nó nói tại cái đầu tao vừa bị méo vừa bị sẹo ghẻ xấu lắm. Má nói khi chôn người chết người ta cho đắp lên mặt cái khăn màu đỏ. Tôi và con nhỏ là hai linh hồn ở hai thế giới khác nhau, do một tình cờ của định mệnh, chỉ có thể gặp nhau trong một khoảng thời gian ngắn ngủi, trò chuyện đôi lần rồi đường ai nấy đi, đời ai nấy sống (và chết). Tôi không biết cơ duyên nào đưa chúng tôi đến với nhau nhưng từ lúc đó tôi tôi luôn luôn thèm có một người bạn như thế để chia sẻ mọi vui buồn với tôi.

Người ta nhớ về một quê hương có hoa thiên lý, lũy tre còm tả tơi, con sông đào xinh xắn, cánh diều biếc bay trên đồng. Tôi cũng nhớ quê mình, bên cạnh tất cả những cái đẹp tha thiết dịu dàng của quá khứ, còn là vùng đất nghèo nàn thiếu cả cái cầu tiêu. Gần đây đọc quyển Anh Em của Yu Hua thấy nói lu bù chuyện cầu tiêu công cộng, nhân vật trong truyện dám lội xuống hố phân mà cứu người. Rồi đọc quyển Kế thừa sự thua thiệt mất mát nhân vật trong quyển này nhớ lại lúc rời quê hương đi nước ngoài nhìn thấy dân làng của ông ta ngồi dọc theo đường rầy xe lửa mà đi cầu, tôi không khỏi liên tưởng đến câu chuyện ngày xưa tôi và con nhỏ ma than thở và hổ thẹn vì không có chỗ đi cầu kín đáo. Tôi muốn nói với nó, Nhỏ ma à, không phải chỉ có dân xứ mình chỉ quan tâm đến chuyện ăn mà không màng đến chuyện bài tiết. Dân của hai cái xứ lớn hơn xứ mình là Trung Hoa và Ấn Độ cũng cùng cảnh ngộ đó thôi. Thỉnh thoảng cái bớt đỏ trên tay tôi ran rát như nhắc nhở tôi rằng con nhỏ vẫn ở quanh đây, vẫn nghe tôi nói như ngày xưa chúng tôi đã nói chuyện với nhau bên con đường đầy cỏ cạnh khúc kênh đào vắng vẻ. Tôi không khỏi tự hỏi liệu có lúc nào chúng tôi sẽ gặp lại nhau. Và chúng tôi sẽ cùng đồng ý là bao nhiêu năm qua, vật đổi sao dời, vậy mà quê hương chúng tôi vẫn lo mỗi chuyện ăn và vẫn không quan tâm đến chỗ bài tiết.


Bài này đăng lâu rồi ở Da Màu, khi nhà văn Đặng Thơ Thơ và nhà văn quá cố Phùng Nguyễn phụ trách văn của trang mạng. Cũng đăng trên Thư Quán Bản Thảo không nhớ số. Sáng nay, April 09, 2016 tôi nhận được comment của một cô bé tên Uyên về truyện này. Vui nên mang vào blog đây. Thường tôi ít khi đăng lại bài cũ của mình ở trang khác vì nghĩ đăng một chỗ cũng đủ rồi. Nhưng từ từ tôi sẽ gom tất cả bài tôi viết hay dịch lại một chỗ. Để dành 🙂

http://damau.org/archives/12812#comments

Mười truyện trong thư của Flaubert

Trong lúc dịch Madame Bovary, bà Lydia Davis (giải Bookerman International 2013) đọc những lá thư nhà văn Gustave Flaubert (người Pháp) viết cho Louise Colet, người yêu của Flaubert. Những mẩu chuyện ngắn trong những lá thư này được bà Davis viết lại thành truyện rất ngắn. Trích trong “Object Lessons” The Paris Review, có mười truyện nhưng tôi chỉ chọn dịch bốn truyện thôi.

Đi nha sĩ

Tuần trước tôi đi nha sĩ, thầm nghĩ rằng ông ta sẽ nhổ răng tôi. Ông ấy nói tốt hơn là chờ ít lâu để xem có bớt đau không.

Ối chà, cơn đau chẳng giảm – Tôi đau đớn vô cùng, đau đến độ lên cơn sốt. Thế là hôm qua tôi đi nhổ nó ra. Trên đường đến gặp ông nha sĩ, tôi băng ngang một cái chợ cũ, trước kia người ta dùng nơi này để hành quyết tội nhân, cũng chẳng xa xưa gì cho lắm. Lúc ấy tôi chừng sáu hay bảy tuổi. Một hôm tôi đi về nhà sau buổi học, ngang qua quảng trường này sau khi người ta vừa chấm dứt một cuộc hành quyết. Cái máy chém vẫn còn đó. Tôi thấy vết máu tươi đọng trên lề đường. Người ta đang mang cái chậu huyết đi.

Đêm qua tôi nghĩ đến tôi sẽ phải đi ngang quảng trường này để đến gặp nha sĩ, cảm thấy lo lắng chuyện của tôi, liên tưởng đến cái cảm giác bất an, của những người bị xử án hành quyết, đã từng băng ngang quảng trường này lo sợ chuyện sẽ xảy đến với họ, dù rằng chuyện của họ thì trầm trọng hơn.

Khi chìm vào giấc ngủ, tôi nằm mơ thấy cái máy chém; chuyện kỳ lạ là cô cháu bé bỏng của tôi, ngủ ở tầng dưới, cũng nằm mơ thấy cái máy chém, mặc dù tôi đã chẳng hé lộ chút nào về chuyện của tôi. Tôi tự hỏi phải chăng ý nghĩ là một chất lỏng, chảy xuống phía dưới, từ người này sang người khác, sống trong cùng một nhà.

Vợ ông Pouchet

Ngày mai tôi đi dự đám tang ở Rouen. Bà Pouchet, vợ ông bác sĩ, chết hôm qua trên đường phố. Bà ấy đang cùng cỡi ngựa với chồng; bị đột quỵ và ngã xuống. Tôi thường bị cho rằng ít cảm xúc, nhưng chuyện này làm tôi rất buồn. Pouchet là một người đàn ông tốt, nhưng ông ta bị điếc đặc và tính tình cũng không mấy vui vẻ. Ông ấy không trực tiếp khám bệnh nhân, chỉ làm việc trong ngành động vật học. Vợ của ông là một người phụ nữ Anh tính tình vui vẻ, đã giúp ông rất nhiều trong công việc của ông. Bà vẽ hình ảnh cho ông, đọc và sửa chữa bản thảo của ông: họ đi đây đi đó chung với nhau; bà ấy thật sự là người đồng hành. Ông yêu bà ấy lắm và sẽ rất là khổ sở với sự mất mát này. Louis ở nhà đối diện với họ. Anh ta tình cờ nhìn thấy cỗ xe đưa bà ấy về, và đứa con trai của bà mang xác bà ra khỏi xe; mặt bà được che lại bằng cái khăn tay. Lúc bà được khiêng vào nhà, hai chân vào trước, một thằng bé chuyên chạy vặt đến gần. Cậu bé giao một bó hoa thật to bà đã đặt mua buổi sáng hôm ấy. Ôi Shakespeare!

Một Cuộc Hành Quyết

Thêm một truyện nữa về lòng thương người của chúng ta. Ở một ngôi làng không xa lắm, có một anh chàng đã giết một người chủ ngân hàng và vợ của ông ta, sau đó hiếp cô đầy tớ và uống hết cả hầm rượu vang. Hắn bị đem ra tòa, xử tội, và bản án là cái chết. Người ta rất thích thú với câu chuyện của gã thanh niên đặc biệt bị xử án chém đầu này nên từ  khắp nơi đổ xô về đêm trước khi hành quyết – hơn mười ngàn người. Đông đến nỗi tiệm bánh mì bán hết sạch. Và các khách sạn đầy chật người đến độ người ta phải ngủ ở bên ngoài: để xem gã thanh niên bị hành quyết, người ta ngủ ngoài trời trên mặt tuyết.

Và chúng ta lắc đầu ngao ngán vì trò giết nhau của những người giác đấu La Mã. Chán chường thay, những kẻ bất tài chuyên lừa bịp.

Người Bạn Học Của Tôi

Chủ Nhật vừa qua tôi đi viếng vườn Bách Thảo. Đó là công viên Trianon, nơi một người Anh, tính tình cổ quái, đã sống. Ông trồng hoa hồng và bán sang nước Anh. Ông có trồng một vườn hoa thược dược bao gồm những loại hiếm có. Ông cũng có một đứa con gái thường tình tự với một thằng bạn học của tôi, nó tên là Barbelet. Tại vì cô gái này thằng bạn tôi tự tử chết. Nó chỉ mới mười bảy tuổi. Nó tự bắn  bằng khẩu súng lục. Tôi băng ngang sân cát rộng trong cơn gió lộng, và nhìn thấy căn nhà của Calvert, cô con gái đã từng sống nơi này. Bây giờ cô ta ở đâu? Người ta xây gần đó một cái nhà kính trồng cây, có cả cây cọ, và một giảng đường nơi các nhà làm vườn học cách gieo mầm, ghép cây, tỉa cây, và dạy lại cho người khác – tất cả những điều cần biết để nuôi dưỡng một cái cây ăn trái! Có ai nghĩ đến Barbelet nữa đâu – người đã yêu tha thiết cô gái Anh ngày ấy. Ai còn nhớ đến người bạn đam mê mãnh liệt của tôi ngày xưa?

Nghe đọc Tình Bidong

Hôm qua tôi lang thang lục youtube kiếm nhạc thì thấy tựa đề Tình Bidong. Ngạc nhiên, nên mở ra nghe. Té ra là truyện tôi viết, đăng ở Gió O. Tôi không quen không biết với các bạn này, nhưng được các bạn chọn truyện và đọc truyện của tôi thật là làm tôi cảm động. Cảm ơn các bạn. Giọng đọc của các bạn thật là hay, ấm áp và dịu dàng. Giọng đọc nữ, Kim Oanh, thật là dễ thương, diễn tả rất hay, nhất là khi cô giả giọng cô gái tên Biển.

Tôi không biết các bạn có dư 45 phút, thì giờ quí báu của các bạn, bỏ ra để nghe truyện không. Nếu có xin mời các bạn nghe dùm.

Cảm ơn món quà tết đầy ý nghĩa này.

Mùa Giáng sinh trong ký ức

Nguyên tác A Christmas Memory của Truman Capote.

Người dịch: Nguyễn thị Hải Hà

Bài này đã đăng ở Văn Chương Mới (newvietart.com) năm 2009.

TRUMAN CAPOTE  (1924 – 1984 )

Sơ lược về tác giả: Truman Capote sinh ra tại New Orleans, Louisiana ngày 30 tháng Chín năm 1924 và mất ngày 25 tháng Tám năm 1984. Có khoảng 20 tác phẩm của Truman Capote đã được chuyển thành phim và kịch bản. Tác phẩm được biết đến nhiều nhất là Breakfast at Tiffany, và Cold Blood. Ông là bạn thân của Harper Lee, tác giả quyển How to Kill a Mockingbird và bà đã dùng ông làm người mẫu cho nhân vật Dill trong tác phẩm của bà. Ông bắt đầu viết rất sớm. Vào năm mười một tuổi ông đã chuyên chú viết ba giờ đồng hồ một ngày. Khi ông được bốn tuổi, bố mẹ ông ly dị và mẹ ông gửi ông về Monroeville, Alabama với một người trong họ, bà u già Rumbley Faulk, Truman thường gọi bà là Sook. Ngày 25 tháng Tám, trước khi chết, những lời cuối cùng của ông là “Em đây mà, em là Buddy,” và “Em lạnh quá.” Buddy là tên của bà u già đặt cho Truman. Continue reading Mùa Giáng sinh trong ký ức

Món Quà Vô Giá

Tác giả: Stephanie Ray Brown

Người dịch Nguyễn thị Hải Hà

Bài này đăng ở Văn Chương Việt năm 2011

Những ai thích ca hát luôn luôn tìm thấy bài hát. Tục ngữ.

Sau khi các em học trò lớp hai của tôi chào cờ xong, các em ngồi xuống ghế. Nhưng Duane vẫn đứng. Duane là cậu học trò rất thông minh và tính tình rất dễ thương, nhưng hoàn cảnh gia đình của em không mấy tốt đẹp.

Mẹ của em không chồng một mình nuôi con và gặp phải rất nhiều vấn đề khó khăn phức tạp trong cuộc sống. Duane và ba đứa em gái thường được Ban Xã hội mang đi gửi chỗ khác mỗi khi mẹ em không thể đương đầu với cuộc sống. Cho là đêm qua lại có chuyện không hay xảy đến với em, tôi đến gần em để hỏi xem có việc gì. Lúc ấy em ngước lên nhìn tôi với đôi mắt đen láy, tôi có thể nhìn thấy trong đôi mắt đầy nỗi buồn và thất vọng. Continue reading Món Quà Vô Giá

Hai Người Chưa Gặp Mặt

Tác giả: John McNulty

Người dịch: Nguyễn Thị Hải Hà dịch

Bài đăng ở Văn Chương Việt năm 2011.

Eddie Casavan và Harry Marnix đang đi trên Đại lộ thứ Năm, đoạn đường cắt ngang đường thứ Năm Mươi, bất chợt nhận ra bầu không khí Giáng sinh đang bao trùm lấy họ. Có vẻ như tinh thần Giáng sinh kẹp ông Casavan chặt chẽ hơn là với người kia, nhưng cả hai người đều cảm nhận được lễ Giáng sinh đang bấu lấy họ. Cửa sổ các cửa tiệm, không khí lạnh giá, đèn được thắp sáng lên từ lúc xế chiều, và có lẽ, vài ly rượu mạnh họ uống khi đi dạo đã tạo nên cảm giác này.

Họ rẽ qua một con đường khác qua khỏi Đại lộ thứ Năm thì Eddie nói, “Dường như tôi không còn muốn có quà Giáng sinh nữa.” Continue reading Hai Người Chưa Gặp Mặt