Giới thiệu truyện ngắn

A Clock Ticks at Christmas của bà Patricia Highsmith. Truyện do Nguyễn thị Hải Hà dịch đăng ở Gió O.

Patricia Highsmith (1921 – 1995) sinh ra ở Fort Worth, Texas nhưng sống ở Pháp và Thụy Điển, phần lớn. Tác phẩm đầu tay của bà Stranger on the Train được đạo diễn Alfred Hitchcock làm thành phim năm 1950. Tuy thành công và nổi tiếng rất sớm ở Châu Âu, giới xuất bản và nhà văn ở Hoa Kỳ làm ngơ với bà. Truyện của bà có khuynh hướng đen tối, sát nhân, bạo lực (noir fiction). Nhân vật của bà, cả nam lẫn nữ, đều giỏi lên kế hoạch, âm mưu, thủ đoạn. Sở trường của bà là có thể biến một tình huống bình thường thành một môi trường chín mùi cho một cuộc sát nhân với biến chuyển tâm lý của nhân vật thật tinh tế. Với ngòi bút của bà, một con ngựa cũng có thể trả thù cho người chủ hiền lành và loại trừ một tên ma đầu đại gian ác. Bên cạnh Stranger on the Train, ở Hoa Kỳ, tác phẩm của bà được chuyển thành phim có Carol dựa vào tiểu thuyết The Price of Salt, và The Talented Mr. Ripley.

Hằng năm, vào dịp Giáng sinh tôi thường cố chọn vài truyện Giáng sinh tôi thích để giới thiệu với độc giả. Một việc làm xem có vẻ dễ dàng nhưng thật ra khá khó khăn. Điểm thứ nhất là có quá nhiều truyện. Thứ hai, truyện hay nhưng dài quá. Thời buổi điện tử và facebook, truyện dài kén độc giả. Truyện Giáng sinh thường xoay quanh một số chủ đề, tin hay không tin vào ông già Noel, còn gọi là Santa Claus, Kris Kringle, v. v… . Một chủ đề khác là kêu gọi lòng vị tha, thương người nghèo, san sẻ cái giàu có, tha thứ những hờn giận oán ghét trong quá khứ. Phải công nhận là chủ đề Giáng sinh đã được khai thác tận cùng. Một tác phẩm mới muốn được độc giả chú ý, phải có gì đó vượt qua cái giới hạn văn chương của những nhà văn lừng lẫy trong quá khứ đã tạo nên. Nói về lòng vị tha hay bần tiện của con người, chắc không ai có thể dám so sánh với Charles Dickens qua The Christmas Carol, hay Oliver Twist.

Tôi gặp truyện ngắn A Clock Ticks at Christmas từ nhiều năm trước nhưng không chọn dịch vì nó dài. Tôi thích truyện này vì cái tính nhị nguyên của nó và không đi theo truyền thống hiền lành vị tha ngọt ngào như thường thấy trong truyện Giáng sinh. Bà Patricia Highsmith đã tài tình diễn tả sự đối xứng của hai nhân vật giàu-nghèo, nam-nữ, hào phóng – keo kiệt. Sở trường của bà, phân tích tâm lý nhân vật thật tinh tế, cái lý do xô đẩy họ đi đến quyết định thi hành một điều tối tăm hay tàn ác, như trong The Stranger on the Train, hay The Talented Mr. Ripley, cũng xuất hiện trong truyện ngắn A Clock Ticks at Christmas.

Tôi có cảm tưởng tác giả bênh vực Michèle, nàng đã có lòng yêu thương trẻ em nghèo khó. Tuy nhiên nếu đặt mình ở cương vị của Charles tôi hiểu tại sao Charles tức giận. Phản ứng của chàng cũng không bất bình thường. Tôi không thể truyền đạt được ý nghĩa của chữ ticks trong tựa đề. Nó chỉ là tiếng tíc tắc của cái đồng hồ, nhưng tôi có cảm tưởng tôi nghe tiếng tíc tắc của một trái bom đặt nổ đúng giờ, để phá tan nát một cuộc hôn nhân lỗi nhịp.

Đóa hoa cúc cuối cùng

Quảng cáo trước mấy hôm rồi. Mời các bạn đọc nha. Ai muốn tặng ý kiến, chê cũng được miễn đừng nặng lời quá đáng, thì còm trên blog này.

http://www.gio-o.com/NguyenThiHaiHa/NguyenThiHaiHaDoaHoaCuc.htm

Trang Gió O bị hư hỏng nặng nên bài không còn đọc được nữa. Vì vậy xin đăng lại nguyên bài. Hôm nay ngày 8 tháng 12 năm 2018. Bài này cũng copy lại ở Tương Tri vì computer của tôi bị hư, mất hết bài.

20/02/2018 by TUONGTRI1

đóa hoa cúc cuối cùng (truyện phóng tác)

Xin cảm ơn quí vị tiền bối
Shofu Muramatsu, tác giả truyện,
Kenji Mizoguchi đạo diễn phim “The Story of the last Chrysanthemum,”
và Osamu Dazai, tác giả của “The Chrysanthemum Spirit.”

 

Đang ngồi trầm ngâm với chén rượu, Kiku nghe tiếng guốc chạy lộp cộp. Cái bóng đen nhảy vụt vào bụi rậm. Một thiếu nữ chừng mười sáu mười bảy tuổi chạy đến.  Cô gái mặc kimono màu xanh ô liu cũ, guốc thô, tóc bới đơn giản, không cài trâm cách ăn mặc của đầy tớ nhà chàng. Kimono hơi bó ở đầu gối khiến cô vướng víu, suýt té.

“Có chuyện gì thế, cô bé kia?”

“Dạ, con mèo, con mèo kia… , thưa công tử.” Cô gái thở gấp, tay chỉ vào bụi rậm.

Nhìn theo, Kiku thấy con mèo của chàng đang tha một cái gì đó. Thấy chủ nhìn mình, con mèo thả chiến lợi phẩm trước mặt chàng như dâng tặng. Kiku cầm món đồ đưa trả cho cô gái. Đó là một con búp bê trai, bằng vải, dài độ hai gang tay, mặc kimono lụa có thêu hoa cúc rất tinh xảo. Đây không phải là thứ đồ chơi của một cô gái nghèo. Kiku thắc mắc:

“Ở đâu mà cô có một con búp bê đẹp như thế?”

“Dạ, đây là quà người ta tặng, nhân dịp lễ đầy tháng cho em trai của công tử. Em tên là Otoku, bảo mẫu của tiểu công tử.”

“Cô hãy cất món quà của em tôi cho tử tế nhé. Kẻo mèo cắn rách hay bị mất là cô sẽ bị phạt đấy.”

Kiku Onoe không phải là con ruột của Goro Onoe. Ông nhà giàu chủ đoàn hát Kabuki hiếm muộn, tin rằng phải nhận con nuôi thì mới có thể có con nối dòng. Sau khi bà vợ qua đời, Goro cưới người vợ kế, sinh được một bé trai.  Nổi tiếng rất yêu nghề, Goro quan niệm là nghệ sĩ phải hết lòng với nghệ thuật dù phải hy sinh hạnh phúc cá nhân. Điều phân biệt giữa nghệ thuật và tay ngang là sự hoàn hảo của tác phẩm. Kiku được dạy nghề diễn để sau này nối nghiệp ông Goro. Yêu nghề và luôn muốn học hỏi, Kiku thường hay hỏi ý kiến các diễn viên trong đoàn về cách trình diễn của mình. Kế mẫu Kiku muốn bảo đảm quyền lợi của con trai nên tìm cách gạt Kiku ra khỏi gia đình. Các nghệ sĩ trong đoàn vì muốn bảo vệ địa vị của họ nên cũng hùa theo phía mẹ kế của chàng. Sau lưng chàng họ thường chê bai nhưng trước mặt ai cũng hết lời khen tặng tài nghệ của Kiku.

Một đêm từ quán rượu ra về, chàng tình cờ gặp lại Otoku. Kiku đi trước, cô gái lẽo đẽo theo sau:

“Em thường được bà chủ mang theo mỗi khi bà xem kịch Kabuki. Bà muốn mang tiểu công tử theo để tiểu công tử có cơ hội quấn quít với ông chủ, nhưng lại không muốn bị tiểu công tử quấy rầy khi bà xem kịch. Tuy nhiên tiểu công tử rất ngoan thường ngủ suốt buổi nên em rảnh rang có thể xem công tử diễn xuất.”

“Thế à? Cô thấy tôi diễn thế nào? Có hay không? Nói thật cho tôi biết.”

Cô gái suy nghĩ một hồi rồi nói.

“Xin cho phép em nói thật, Công tử đừng giận và trách mắng em nhé.”

“Xin cô cứ nói. Tôi thật lòng muốn dâng mình cho nghệ thuật. Người ta hay ca tụng tôi nhưng tôi không biết họ có thật lòng không.”

“Diễn viên chung đoàn với công tử, được đãi đằng rượu chè, ngoài mặt thì họ ngọt ngào tâng bốc ca tụng, nhưng sau lưng thì họ chê bai không ngớt.”

“Họ nói những gì?”

“Rằng công tử kiêu ngạo, luôn nghĩ là mình hơn người. Công tử nhậu nhẹt quá độ nên không nhớ tuồng chỉ có mấy câu đối thoại cũng không thuộc, không biết vẽ mặt, không biết hát, múa càng tệ hơn. Công tử chỉ đóng được vai trộm cướp, hay công tử con nhà giàu phá của ăn chơi, chứ không đóng được vai anh hùng, và càng không diễn được nỗi bi thương.”

“Có thể vì họ ganh tị với tôi, là con của ông chủ đoàn hát. Tôi được đóng vai chính.”

“Họ nói công tử chỉ là con nuôi.Vài năm sau tiểu công tử lớn lên, sẽ thay địa vị của công tử. Công tử sẽ bị thất sủng. Mẹ kế sẽ tìm cách đuổi đi.”

“Họ nói thế nhưng ý cô thì sao? Tôi có thật sự tệ như thế không?”

“Công tử diễn được, nhưng chưa xuất sắc. Công tử chưa được giao cho một vai khó đến độ đòi hỏi hoàn toàn tâm sức của công tử. Công tử thể hiện tạm được ở những vai đàn ông, anh hùng và kẻ cướp. Nhưng vai trò đòi hỏi sự diễn xuất thượng thặng trong đoàn hát Kabuki phải là vai phụ nữ. Vai đào thương trước dành cho nữ nghệ sĩ nhưng sau này các đoàn Kabuki bị cấm ngặt thuê phụ nữ, chỉ giao cho những diễn viên nam thật sự có tài và có thể nhập vai.”

Kiku lặng thinh đi trước. Otoku tưởng là vị chủ trẻ đang tức giận, nhưng chỉ một lúc sau Kiku quay lại cúi đầu tạ ơn Otoku.

“Cám ơn những lời thành thật của cô. Tôi mong cô trở thành bạn tốt của tôi. Nếu có thể được xin cô đến xem tôi diễn hằng đêm và chỉ giúp tôi những chỗ tôi cần phải luyện tập thêm.”

Otoku hiểu biết tinh tường về nghệ thuật Kabuki đến độ làm Kiku ngạc nhiên. Những khi không diễn xuất, chàng thường tìm gặp Otoku để nghe nàng nói chuyện nghệ thuật. Nàng chịu khó quan sát và khi góp ý cũng rất từ tốn nên Kiku nhận ra khuyết điểm mà không giận nàng. Hai người trở nên tâm đắc như bạn thân. Sự thân thiết giữa Kiku và Otoku khiến kế mẫu của chàng không vui. Không muốn tài năng của Kiku tiến bộ, và viện cớ không muốn có chuyện tư tình giữa chủ và đầy tớ, bà đuổi việc Otoku. Kiku hết lời đính chính, rằng quan hệ giữa hai người hoàn toàn đứng đắn. Để bảo toàn danh dự cho Otoku chàng xin phép được cưới nàng làm vợ. Bố chàng cự tuyệt chuyện kết hôn cô đầy tớ. Kiku bỏ đi, thề không nhận sự giúp đỡ của bố nuôi. Kiku lang thang theo đám hát rong, cương quyết không nhờ vào tên tuổi của bố nuôi, diễn xuất nay đầu đình mai góc chợ, ngày càng sa sút.

Vào một ngày Kiku đói rách tả tơi, hoàn toàn mất niềm tin vào tài nghệ của mình, Otoku đến tìm chàng.

“Chàng không thể trở thành nghệ sĩ Kabuki thượng thặng nếu đi hát dạo như thế này. Nếu chàng không chê em nghèo hèn, xin mời chàng về nhà em để tìm cách sinh nhai và phát huy tài năng của chàng.”

Otoku đưa chàng về một hòn đảo nhỏ cách Edo chưa đến một ngày đường. Trên đảo chỉ có gia đình của Otoku. Ngoài khu gia trang, phần lớn diện tích đảo được dùng để trồng hoa cúc. Otoku sống với em trai. Ichi khoảng chừng 15 tuổi, mảnh khảnh trắng trẻo không có vẻ gì là một nhà nông nhưng lại là một người trồng cúc rất tài.

“Chị Otoku kể, anh là diễn viên Kabuki. Anh có ngỏ ý cưới chị làm vợ và vì thế mà chị bị đuổi việc còn anh thì bỏ nhà ra đi. Cả hai chị em tôi đều yêu thích môn kịch Kabuki nhưng không thể theo đuổi. Gặp nhau đây quả là duyên. Mời anh ở tạm với chúng tôi, dưỡng sức một thời gian, rèn luyện thêm tài nghệ và sau đó sẽ tìm cơ hội diễn xuất trở lại.”

Tuy mới gặp Ichi lần đầu, nhưng Kiku thấy chàng trai này có vẻ gì rất quen thuộc, như thể chàng đã gặp thiếu niên này nhưng không nhớ gặp ở đâu. Ichi vui vẻ lịch thiệp với Kiku như là bạn lâu ngày. Tuy là người trồng cúc nhưng Ichi ăn mặc rất lịch sự. Cái áo kimono của chàng bằng lụa bóng có thêu hoa cúc cả hai mặt. Loại lụa thêu của những người giàu có sang trọng thường đến xem đoàn hát Kabuki của bố Kiku.

“Cúc chỉ nở có mùa. Từ mùa xuân đến cuối mùa thu chúng tôi bận rộn với việc trồng cúc, nhưng vào mùa đông chúng tôi có nhiều thì giờ rảnh rang. Giai đoạn vất vả nhất đã gần xong. Anh có thể giúp chúng tôi tưới hoa vào sáng sớm. Thời gian còn lại trong ngày là của anh.”

Giữa mùa thu, rừng cúc trên đảo đã đến mùa khai nở. Đây không phải là loại cúc thường thấy ở chợ. Những cây cúc cao đến đầu người. Có những nụ hoa to bằng nắm tay, được trồng trong giỏ trúc. Mỗi chậu hoa chỉ có một cây cúc. Mỗi cây cúc chỉ nở một đóa hoa, dưới nụ hoa có một vòng trúc vót thật mảnh, uốn theo hình trôn ốc để đỡ cho đóa hoa không bị gãy.

“Chúng ta ở giữa đảo như thế này, ai sẽ đến đây mua cúc?” Kiku hỏi.

“Đây là loại hoa chỉ cung cấp cho các nhà vườn thượng uyển hay các bậc trưởng giả. Một số ít sẽ được dâng cúng ở các đền thờ Shinto hay chùa Phật nổi tiếng. Một vài lái buôn sẽ đi thuyền đến đây, mang theo người của họ để vận chuyển hoa. Người vận chuyển toàn là người chuyên nghiệp để hoa không bị gãy. Người mua hoa đều muốn giữ bí mật chỗ mua hoa để vườn hoa của họ thuộc loại độc nhất. Mỗi lái buôn chỉ được mua một loại cúc.”

Trên đảo có một giếng nước rất trong, dưới là cát sỏi, chung quanh miệng giếng được viền bằng những hòn đá nhẵn thín. Giếng rộng như một cái ao. Mỗi sáng Kiku nghiêng thùng gỗ gánh nước đến tưới những chậu hoa cúc. Trang trại có ba gian nhà, mỗi người ở một gian, họ lặng lẽ làm việc, Kiku ít khi gặp Ichi hay Otoku.

Một đêm trăng sáng, Kiku bỗng nghe như có tiếng hát, tiếng samisen, và tiếng phách gõ nhịp vọng lại từ cuối đảo. Men theo con đường mòn đi một đỗi chàng thấy có ánh đèn thấp thoáng. Theo ánh đèn chàng đến một ngôi nhà vọng nguyệt, đơn sơ nhưng trang nhã. Nơi đây, Ichi trang điểm lộng lẫy đang múa hát một mình. Ichi diễn vai Sumizome, một kỹ nữ chết đi và biến thành một cây anh đào để trả thù cho người tình là lãnh chúa bị kẻ thù giết chết, nàng dùng ma thuật đánh đuổi kẻ thù, lấy lại vương ấn giao cho người em trai của người yêu.

Mãi xem Ichi diễn kịch, Kiku không để ý đến người đang đàn và gõ nhịp cho Ichi chính là Otoku. Cả hai đứng dậy cúi chào Kiku. Otoku lên tiếng:

“Em biết sẽ gặp chàng ở đây. Xin cám ơn chàng đã săn sóc tưới cúc giúp hai chúng em. Chàng nghĩ gì về cách diễn của Ichi?”

“Tôi không ngờ Ichi tài hoa như thế này. Cậu thật là đáng bậc thầy của tôi. Xin thứ lỗi nếu tôi đã vô tình mạo muội hay hống hách với nhị vị mỗi khi bàn luận về nghệ thuật Kabuki.” Nhờ còn trẻ, dáng người mảnh khảnh, giọng nói chưa vỡ tiếng, nên Ichi đóng vai phụ nữ rất hợp. Cả ba người bàn chuyện nghệ thuật đến khuya khi trăng lên đến đỉnh đầu. Otoku và Ichi mời Kiku đi xem vài đóa hoa cúc nở đầu tiên.

Ở một góc rừng có một loại cúc đại đóa. Hoa bắt đầu nở vài cánh. Otoku nói:

“Dưới ánh trăng khó thấy màu thật, nhưng đây là loại cúc màu xanh và có vân như cẩm thạch.”

Ngày còn làm bảo mẫu nuôi em trai của Kiku, Otoku mặc trang phục của gia nhân, đơn sơ nhưng nhìn cũng xinh xắn. Nhưng bây giờ trong bộ kimono lụa bóng, lớp áo lót dưới kimono phủ dưới chân cũng bằng loại tơ mềm, hài thêu, tóc cài trâm, trông nàng khá uy nghi như thuộc hàng vương giả. Kiku ngay từ khi là con nuôi của ông chủ đoàn hát Kabuki đã biết thân phận của mình. Bây giờ chàng lại là người tá túc với chị em nàng, thật không còn dám nghĩ đến chuyện cưới nàng làm vợ.

Ichi kéo tay áo Kiku:

“Xin anh hãy đi với tôi, tôi sẽ chỉ anh xem mấy loại cúc tôi ưng ý nhất.”

Đây cũng là loại cúc hiếm, mỗi cánh hoa nhỏ như cọng len và dài, nở lưa thưa, trông như một con nhện khổng lồ. Loại cúc này có nhiều lớp, xen kẻ nhau một lớp màu đỏ, một lớp màu vàng. Ở một góc rừng khác có loại cúc giống như một con công màu xanh đậm. Sau đó là một loại cúc cánh mỏng như sợi tơ; mỗi đóa cúc giống một con ong khổng lồ màu vàng có râu đen mắt đen, to như một cái mâm. Mỗi khi gió thoảng qua, cúc công xanh dường như xòe đuôi múa dưới ánh trăng. Con ong vàng chập chờn như có thể bay lên bất cứ lúc nào. Còn loại cúc trắng cánh dày nhưng lại rất mịn. Mỗi đóa cúc trông giống như một cụm mây trắng. Đặc biệt loại cúc vàng có mùi thơm như rượu, đứng gần ngửi mùi hoa có thể say. Không cần trồng nhiều hoa, chỉ cần trồng loại hoa quí này là cả hai chị em có thể sống sung túc cả đời. Nhưng tại sao Otoku lại vào làm bảo mẫu của gia đình chàng. Kiku định có lúc nào thuận tiện sẽ hỏi Otoku.

Khi thấy Kiku tập lại những vở kịch cũ, Otoku đề nghị Kiku cùng tập với Ichi một vở kịch mới do nàng soạn lại từ một vở kịch cổ của mấy trăm năm trước. Otoku xem, hướng dẫn, và phê bình. Ichi và Kiku thay phiên nhau, khi thì đóng vai nam, khi thì vai nữ. Cả Otoku và Ichi đều bắt chàng phải hứa. Khi nào còn ở trên đảo tập kịch với hai chị em nàng, thì không được uống rượu, ngoại trừ khi hai chị em nàng mời bằng chính rượu của Otoku. Otoku có ủ rượu hoa cúc, loại đặc biệt trên đảo. Mỗi khi Kiku bực dọc vì không thể nhập vào vai phụ nữ, chén rượu cúc làm chàng thấy lâng lâng, người như nhẹ nhàng hơn, tay chân bớt phần nào lóng cóng hơn. Có khi rượu làm chàng có cảm tưởng như mình biến thành đàn bà. Suốt thời gian ở đảo, Kiku không một lần cảm thấy sự thôi thúc của tình dục.

Kiku không biết mình đã trải qua mấy mùa hoa cúc. Chàng yên tâm để hết thì giờ vào việc tập kịch. Otoku và Ichi cứ thỉnh thoảng lại đưa ra thêm một vở kịch mới và bảo chàng đọc thêm thơ của các thiền sư. Otoku đôi ba lần dùng quạt gõ vào vai chàng nhắc nhở:

“Chuyện bắt chước thái độ của người phụ nữ tuy quan trọng nhưng không phải là cốt yếu. Chàng phải đặt mình vào chỗ của nhân vật, hiểu tâm lý nhân vật, lý do nào làm họ đau đớn. Cảm được nỗi đau của nhân vật thì những cái múa, cái cúi đầu, cái vung tay, che mặt của chàng sẽ biểu lộ được tâm hồn phụ nữ. Mỗi bước đi dáng đứng của người đàn bà là một điệu múa. Bây giờ em dạy chàng điệu múa, nhưng về sau chàng hãy tự nghĩ ra điệu múa để biểu lộ tình cảm trong lòng chàng.”

Vào lúc đầu một mùa xuân, Otoku mời Kiku và Ichi đến gian nhà của nàng. “Tài nghệ của hai người đã chín muồi. Xin hãy gia nhập thế cuộc để thử xem tài năng của hai người hơn xưa đến mức độ nào.” Trong nhà nàng có căn phòng nhỏ chứa rất nhiều hòm rương cũ kỹ. Bên trong rương là  rất nhiều gấm vóc lụa là và rất nhiều vật dụng như son phấn và đồ trang sức dành cho nghệ sĩ Kabuki. Otoku đưa Ichi và Kiku qua sông, thuê lừa thuê ngựa, thuê thêm tùy tùng lập thành một đoàn kịch diễn rong. Ichi nghe từ người qua lại, kể lại với Kiku:

“Đoàn Kabuki của bố anh đang diễn ở một thành phố gần đây. Chúng ta hãy đến xem họ diễn như thế nào và tạo cơ hội để phô trương tài nghệ của chúng ta.”

“Ichi. Tôi đã thề không dựa vào danh tiếng của cha tôi, cũng như không nhờ ông giúp đỡ.”

“Ai bảo với anh chúng ta sẽ cầu cạnh bố anh? Anh không tin rằng chúng ta có đủ tài để tự tỏa hương thơm sao?”

Đoàn Kabuki lưu diễn này do chú của Kiku điều động. Họ lưu diễn với mục đích tuyển mộ thêm nghệ sĩ có tài nhưng chưa nổi tiếng đồng thời quảng bá danh tiếng của đoàn. Chẳng khó khăn gì, Ichi và Kiku tìm ra ngay nơi ăn nhậu đám nghệ sĩ Kabuki. Tự giới thiệu mình là người bán rượu cúc Ichi mang rượu ra mời, nhưng tuyệt nhiên không mời Kiku cũng như không uống giọt nào. Kiku vì đã hứa với Otoku và Ichi nên không cũng giữ ý không hề nếm một giọt rượu. Chỉ vài chén rượu đám diễn viên đều gật gù say nên cả hai kiếu từ ra về. Sau đó Ichi và Kiku đến tìm trưởng đoàn kịch xin được làm diễn viên. Để thử tài hai người ông chú cho phép hai người trình diễn bất cứ vở kịch nào họ thích. Ichi chọn vở kịch Sakura Sumizome. Kiku đóng vai Sumizome khi nàng còn là kỹ nữ. Và Ichi đóng vai Sumizome khi nàng dùng ma thuật đánh kẻ thù rồi sau đó biến thành cây anh đào. Lúc Ichi biến thành cây anh đào, Kiku tưởng như mình say rượu trông gà hóa cuốc vì Ichi hóa thành khói và cây anh đào không biết bằng cách nào hiện lừng lững trên sân khấu. Ông chủ đoàn kịch hết lời khen ngợi hai người.

“Tôi sẽ dành cho hai cậu một đặc ân chưa bao giờ dành cho đoàn hát rong. Đêm nay các cậu sẽ diễn vở kịch này để đám diễn viên của tôi được nghỉ ngơi một bữa. Đoạn kịch này hơi ngắn, nên nếu hai cậu có thêm vở kịch nào nữa tôi sẽ cho diễn luôn. Nếu khán giả hài lòng, chúng tôi sẽ thu hai cậu vào làm diễn viên chính.” Ông không nói thật nhưng Kiku và Ichi đều biết là đám nghệ sĩ trong đoàn hát của ông đã say rượu, ngủ như chết cả ngày trời không ai đánh thức được. Đêm đó Kiku và Ichi diễn thêm một vở kịch mới soạn của Otoku. Vở kịch có tên là “Đóa Hoa Cúc Cuối Cùng.”

Vở kịch này nói về cô đầy tớ tên là Otoku, vì yêu công tử con của ông bầu gánh Kabuki nàng bị đuổi việc. Nàng về quê trồng cúc. Anh công tử đi diễn kịch rong trở nên nghèo đói muốn bỏ nghề. Nàng theo làm vợ, giúp đỡ và khuyến khích chồng tiếp tục theo nghề. Lúc nào nàng cũng thương yêu hầu hạ chồng ngay cả khi chồng nàng nhậu nhẹt say sưa, có lúc đánh đập nàng. Khi chồng thành công nàng vẫn không được nhà chồng chấp nhận. Để chồng được theo đuổi nghệ thuật đến nơi đến chốn nàng ở lại quê nhà. Những năm vất vả nghèo khổ khiến nàng lâm trọng bệnh. Chồng nàng vinh qui về làng, trống nhạc huyên náo ngay dưới cửa sổ nhà nàng, vừa lúc nàng trút hơi thở cuối cùng. Otoku đã khéo léo dùng một một ít chi tiết trong đời mình rồi biến nó thành một bi kịch. Khi diễn vai Otoku, Kiku nhận ra thân phận đàn bà đã bị ngược đãi trong xã hội của chàng. Phụ nữ đứng mũi chịu sào, gồng gánh buôn bán nuôi chồng và nuôi con nhưng không được biết đến công ơn. Sự hy sinh thầm lặng của Otoku khiến chàng cảm động vì thế Kiku diễn vai này thật xuất sắc, nhất là khi nhân vật Otoku trút hơi thở cuối cùng, chung quanh nàng thật vắng lặng, ngoài sân trời bắt đầu trở lạnh trong sân chỉ còn một đóa cúc ủ rủ sắp tàn. Chàng nguyện với lòng khi trở thành chủ đoàn kịch chàng sẽ thu nhận nữ nghệ sĩ vì chàng tin là họ có thể diễn vai này tốt hơn chàng. Đó là chuyện xa vời, nhưng trước mắt chàng hy vọng mình có thể cầu hôn với Otoku sau buổi diễn thành công này.

Ông chú của Kiku vui mừng vì tiếng đồn tài nghệ của Kiku và Ichi khiến người đến xem chật cả nhà hát. Ông càng vui mừng hơn khi Kiku thú thật chàng là con nuôi của Goro Onoe, chàng trang điểm khéo quá nên ông không nhận ra. Ngày xưa Kiku giận bố bỏ nhà ra đi thề chỉ trở lại sau khi thành nghệ sĩ Kabuki thật sự.

“Nghệ thuật diễn xuất của cháu đã trở nên vượt trội, không có người nào trong đám diễn viên của chú có thể sánh kịp với cháu. Có lẽ cuộc đời với những năm tháng nổi trôi vất vả của cháu khiến cho cháu nhạy cảm hơn nên diễn tả tình cảm sâu sắc hơn. Chú tin rằng bố cháu sẽ rất hài lòng.”

Vài ngày sau, khi đoàn lưu diễn sắp sửa dọn đi nơi khác, Ichi đến gặp chàng ở phòng trọ mang theo bình rượu hoa cúc.

“Đã đến lúc chúng ta chia tay nhau.”

“Cậu không cùng đi diễn với tôi à? Nghệ thuật Kabuki sẽ bị thiệt thòi nếu thiếu một diễn viên như cậu.”

“Công việc của tôi là trồng hoa cúc. Tôi chỉ vâng lời chị Otoku theo hỗ trợ anh thôi.”

“Tôi có một vài điều thắc mắc từ lâu, nếu không có gì quá đáng xin cậu giải thích dùm tôi. Xem chừng cậu không phải là dân trồng trọt bởi vì cậu phong lưu công tử thế kia. Otoku xem chừng cũng là dòng trâm anh thế phiệt, tài nghệ và hiểu biết hơn người. Tôi thật không xứng đáng để cầu hôn với nàng. Hai chị em cậu là ai, sao lại giúp tôi hết lòng hết sức, đến nơi đến chốn như thế?”

“Anh không nhận ra tôi sao?”

“Tôi dường như đã gặp cậu ở đâu đó, ngờ ngợ mãi nhưng không nhớ ra. Tôi ngỡ là gặp cậu đến xem diễn tuồng.”

“Anh còn nhớ ngày đầu tiên, chị Otoku rượt theo con mèo để lấy lại một con búp bê nam không?”

“Có chứ. Tôi vẫn tự hỏi vì sao một người giàu có, xinh đẹp hiểu biết tường tận về nghệ thuật Kabuki như Otoku lại làm bảo mẫu trong nhà tôi.”

Otoku lấy bình rượu cúc, rót cho mỗi người một chén.

“Trước khi ra về, tôi mời anh một chén rượu đặc biệt của dòng họ tôi nhưng xin đừng uống vội, hãy để tôi kể anh nghe câu chuyện về gia đình tôi. Bà tổ của chúng tôi là Izumo no Okuni. Bà sáng chế ra một điệu vũ mới và một nhạc cụ lạ. Lúc đầu bà chỉ trình diễn ở những dòng sông đã cạn nước, dùng đáy sông làm sân khấu. Dần dần nghệ thuật của bà ăn khách, bà tổ chức thành đoàn Kabuki và chỉ thu nhận phụ nữ. Để làm mất danh tiếng của bà, người ta cài vào đoàn nghệ thuật của bà những cô gái điếm, và dùng đó để làm lý do bắt giải tán đoàn kịch của bà. Từ đó phụ nữ bị cấm tiệt không cho tham dự vào các đoàn Kabuki. Bà tôi cương quyết khôi phục địa vị diễn viên cho phụ nữ nhưng bất cứ phụ nữ nào theo bà cũng bị bỏ tù hay giết đi. Bà truyền nghề cho con cháu. Mỗi chúng tôi trước khi trưởng thành có cuộc sống riêng đều phải học cho đến khi có thể trình diễn Kabuki. Phụ nữ phải học viết kịch và phê bình kịch bản. Otoku thông minh nhất dòng họ và cũng bướng bỉnh nhất. Chị cương quyết xuống trần gian, và thề không về nếu không thành công. Vâng, chúng tôi không phải là người trần gian. Chúng tôi ở một cõi khác, không phải là thiên đàng hay địa ngục mà là ở một thời gian khác và không gian khác. Để giúp chị, tôi trốn theo Otoku. Tôi tự tin có thể giúp chị vì tôi có tài nuôi trồng cây cỏ. Bất cứ loại cây cỏ nào tôi cũng có thể biến nó thành khổng lồ hay tí hon. Tôi có thể biến cây cỏ thành chất lỏng như nước hay rượu, cũng như thành hơi. Tôi cũng có thể biến chất lỏng và chất hơi của cây cỏ thành hiện thực. Mà thôi những chuyện này chẳng liên quan với anh. Otoku chọn gia đình anh vì đó là gia đình có đoàn kịch Kabuki. Chẳng may con mèo nhà anh ngoạm phải tôi, chị tôi sợ nó xé tôi tan xác nên rượt theo. Trả ơn anh cứu mạng nên chúng tôi quyết định giúp anh thành công trong nghệ thuật Kabuki. Tôi không ở lại làm diễn viên vì tôi có thể diễn lúc nào tôi muốn theo ý của tôi mà không cần phải vâng lời một ông chủ nào cả. Nơi tôi ở, chúng tôi không theo đuổi nghệ thuật như một cách sinh sống hay để nổi danh. Nghệ thuật nơi chúng tôi ở chỉ để làm phong phú tâm hồn, một trò chơi phong lưu tao nhã thôi.

“Tại sao không phải đào hay lan mà lại trồng hoa cúc?” Kiku hỏi.

“Bởi vì duyên anh đã cứu tôi, Và Kiku, tên anh nghĩa là hoa cúc.” Ichi trả lời.

“À quên, mỗi lần muốn cậu bé em trai anh ngủ say để chị có thể xem kịch, Otoku đã cho cậu bé một vài giọt rượu. Chúng tôi yêu cầu anh không được uống rượu, vì rượu có tác động rất mạnh lên chúng tôi. Tôi bị biến thành con búp bê bằng vải cũng chỉ vì uống phải rượu của trần gian. Sắp đến lúc chia tay, xin anh đừng lo, một tí rượu cúc của Otoku làm ra không có hại cho chúng ta đâu. Bình rượu cúc này có thể giúp chúng ta gặp lại nhau, và anh có thể gặp lại Otoku. Nhớ là với bình rượu cúc này anh phải làm thế này thế này. . .”

Ichi cầm chung rượu uống phân nửa. Sau đó cậu ta nằm lăn trên đất, ngủ say sưa. Theo đúng lời dặn, Kiku đổ nốt phần còn lại lên người Ichi. Ichi biến thành một đóa cúc trắng to như cụm mây và trong như thủy tinh. Đóa cúc từ từ bốc hơi rồi biến mất. Kiku không uống chén rượu Ichi rót cho chàng, rót rượu trở lại vào bình, mang đem cất.

Khi đạt đến đỉnh cao của danh vọng, Kiku vận động với Shogun, người yêu thích tài nghệ của chàng, đổi luật phụ nữ được trình diễn. Tuyên bố bỏ nghề, Kiku tìm đường trở lại hòn đảo ngày xưa để trồng cúc. Ba gian trại trước kia chỉ còn lại ba căn chòi mục nát. Cái giếng nước ngày xưa như cái ao giờ thu nhỏ lại như một tấm gương soi mặt trên bàn trang điểm của nghệ sĩ. Một đêm trăng sáng, trong giấc ngủ Kiku mơ hồ nghe tiếng hát, tiếng đàn samíen, và tiếng phách. Đi về hướng cuối đảo không thấy gì chàng lang thang ra giếng. Vầng trăng như soi gương. Nhìn theo vầng trăng trong giếng chàng nhìn thấy một cõi không gian và thời gian khác. Và Otoku nhìn chàng mỉm cười:

“Em quay về xin lỗi bố vì nhận ra em không thể thành công một mình nếu không có sự giúp đỡ của những người đàn ông trong gia đình em. Nhờ công của chàng, em thực hiện được nguyện vọng của bà tổ, nay phụ nữ đã được phép diễn trong đoàn Kabuki. Cảm động vì tấm lòng chàng yêu mến. Em xin tặng chàng mấy chậu cúc để gây giống. Chúng sẽ không được to và đẹp như cúc do Ichi trồng, nhưng có thể tự chống bệnh và không cần nhiều nước. Giếng nước càng dùng càng có nhiều nước. Chúng ta không thể là vợ chồng vì em ở cõi khác và thời gian nơi em ở cũng khác. Tính ra em hơn chàng vài trăm hay cả ngàn tuổi.”

Quay trở lại rừng cúc, chàng nhìn thấy cây hoa cúc ngọc thạch. Nhớ lời Ichi dặn, chàng lấy bình rượu cúc rót một chút rượu tưới lên cây cúc. Cây cúc héo rũ ra sau đó bốc hơi. Còn lại dưới đáy chậu cúc là một con búp bê mặc áo lụa đắt tiền. Cho phần rượu còn lại lên con búp bê, con búp bê đổi màu trong suốt rồi dần dần lớn lên hiện thành Otoku bằng xương bằng thịt.

Nguyễn Thị Hải Hà

 

https://tuongtri.com/2018/02/20/doa-hoa-cuc-cuoi-cung-truyen-phong-tac/

 

Cái kén đỏ

Tác giả: Kobo Abé. Người dịch: Nguyễn thị Hải Hà

Trích trong quyển “A Late Chrysanthemum – Twenty-one Stories from the Japanese” Lane Dunlop dịch từ tiếng Nhật sang tiếng Anh.

Mặt trời bắt đầu lặn. Đây là lúc người ta vội vã về nhà, về tổ ấm, nhưng tôi không có một tổ ấm để về. Tôi bước chầm chậm trên con đường hẹp giữa hai dãy nhà. Mặc dù có rất nhiều nhà dọc hai bên đường, tại sao không có căn nào là của tôi? Tôi suy nghĩ, lập lại câu hỏi này hằng trăm lần.

Khi tôi đi tiểu vào cái cột điện thoại, có một đoạn dây rơi thòng xuống, tôi muốn dùng nó mà tự tử cho rồi. Sợi dây, liếc nhìn cái cổ tôi, nói rằng: “Chúng ta hãy cùng nhau nghỉ ngơi, anh ạ.” Tôi cũng muốn thế, nhưng tôi lại không thể nghỉ ngơi. Tôi không phải là anh của sợi dây, thêm vào đó, tôi vẫn không thể hiểu được tại sao tôi không có nhà.

Ngày lại ngày, đêm cứ về. Khi đêm về, bạn phải ngủ. Nhà là nơi để người ta ngủ. Nếu quả vậy, đó không phải vì tôi không có lấy một căn nhà. Đúng không?

Bỗng nhiên, tôi có ý nghĩ. Có lẽ tôi đã sai lầm. Tôi đã phạm một lỗi rất quan trọng trong cách suy nghĩ của tôi. Có lẽ không phải vì tôi không có nhà, mà tại vì tôi đã quên căn nhà của tôi. Đúng rồi. Có thể là như vậy. Thí dụ như, tôi dừng lại trước căn nhà này, nơi tôi ngẫu nhiên đi ngang qua. Rất có thể đây không phải là căn nhà của tôi? Dĩ nhiên rồi, so nó với mấy căn nhà kia, nó chẳng có nét gì đặc biệt cả, điều này đã được “thở ra” rồi, nhưng ai cũng có thể nói điều này về bất cứ căn nhà nào. Không thể dùng điều này làm bằng chứng để loại trừ một sự thật, đây có lẽ là căn nhà của tôi. Tôi thấy can đảm hơn. Ok, mình gõ cửa đi.

Tôi thật là gặp may. Gương mặt tươi cười của người đàn bà ló ra sau cánh cửa sổ mở hé. Nàng có vẻ tử tế. Ngọn gió hy vọng thổi xuyên qua vùng lân cận của trái tim tôi. Trái tim tôi như một lá cờ trải rộng ra và bay phất phơ trong ngọn gió này. Tôi cũng mỉm cười tươi. Như là một gã đàn ông lịch thiệp, tôi nói:

“Xin lỗi cô, đây là nhà của tôi, phải không?”

Gương mặt nàng bỗng đanh lại. “Hả? Ông là ai?”

Đang dợm giải thích, bất thình lình tôi mất khả năng. Tôi không biết tôi phải giải thích cái gì. Làm sao tôi có thể khiến nàng hiểu rằng đây không phải là lúc đặt câu hỏi tôi là ai? Bắt đầu cảm thấy hơi tuyệt vọng, tôi nói:

“Thôi được, nếu như cô không đồng ý căn nhà này là của tôi, xin cô vui lòng chứng minh, được không?”

“Trời ơi. . . ” Khuôn mặt nàng đầy vẻ sợ hãi. Điều này làm tôi tức giận.

“Nếu cô không có bằng chứng, thì tôi có quyền nghĩ rằng căn nhà là của tôi.”

“Nhưng đây là nhà của tôi.”

“Nghĩa lý gì chứ? Cô bảo đây là nhà của cô không có nghĩa đây không phải là nhà tôi. Đúng là như thế đấy.”

Thay vì trả lời tôi, nàng quay mặt vào tường và đóng cửa sổ lại. Đó là bản chất thật của người đàn bà có khuôn mặt tươi cười. Sự biến chuyển này luôn luôn dẫn đến một lý luận rất khó hiểu, đó là, một món đồ của một người nào đó, thì nó không là của tôi.

Nhưng, tại sao. . . tại sao tất cả mọi thứ đều là của người khác và không là của tôi? Ngay cả nếu như có một thứ gì đó không là của tôi, thì nó có thể không là của bất cứ người nào không?

Đôi khi, tôi mang ảo tưởng. Rằng những cái ống cống xi măng ở các công trường xây dựng hay ở trong sân chứa đồ dùng hư cũ, là nhà của tôi. Nhưng chúng đang sắp sửa thuộc về người khác. Bởi vì chúng trở thành đồ dùng của người khác, chúng biến mất, không ẩn chứa dấu vết gì về những ao ước của tôi hay những ý thích của chúng. Hay chúng trở thành cái gì đó rõ ràng là chẳng phải nhà của tôi.

Thế thì, còn những cái băng ghế trong công viên? Chúng chẳng sao cả, tất nhiên rồi. Nếu thật sự chúng là nhà của tôi, và nếu như hắn đừng đến và rượt đuổi tôi bằng cây gậy của hắn…  Chắc chắn chúng là của dành cho tất cả mọi người chứ không riêng của ai. Nhưng hắn nói:

“Ê, anh kia, đi chỗ khác. Cái băng ghế này là của chung. Nó không thuộc về một cá nhân nào cả, ít nhất nó không là của anh. Nào đứng dậy, bắt đầu, đi. Nếu anh không thích vâng lời, anh có thể bị giam vào tù suốt đêm ở dưới hầm trong đồn cảnh sát. Nếu anh ngừng lại ở bất cứ nơi nào khác, không cần biết ở đâu, anh sẽ vi phạm luật lệ.”

Một gã Do Thái lang thang – đó có phải là tôi không?

Mặt trời bắt đầu lặn. Tôi tiếp tục bước.

Một căn nhà . . .  những ngôi nhà không biến mất, mà biến thành một thứ khác, đứng trên mặt đất và không di chuyển. Ở giữa chúng, con đường hẹp cứ tiếp tục thay đổi. Không có bất cứ khuôn mặt nào quen thuộc. . .  trong con đường. Ngày mưa, con đường giống như cây cọ nhúng màu. Ngày tuyết, nó biến thành chiều ngang của những vệt bánh xe. Ngày gió, nó tuôn chảy như một cái băng cuốn chở hàng hóa. Tôi cứ tiếp tục đi. Tôi không thể hiểu tại sao tôi không có nhà, và vì thế ngay cả tự treo cổ tôi cũng không làm được.

Ê, người nào đang nắm chặt cổ chân tôi thế? Nếu đó là sợi dây dùng để treo cổ, thì đừng nên khích động, và đừng quá vội vàng. Nhưng đó không phải là sợi dây treo cổ. Nó chỉ là một sợi chỉ tơ nhơm nhớp trên ngón tay. Khi tôi nắm kéo nó, phần cuối sợi tơ bị tách rời ra làm hai, một phần ở trên chiếc giày và phần kia ở dưới đế giày của tôi. Nó cứ tiếp tục dài ra, dài ra, giống như là bị trơn tuột vậy. Thật là lạ lùng quá. Cơn tò mò khiến tôi cứ tiếp tục kéo mãi. Rồi một chuyện càng lạ lùng hơn đã xảy ra. Tôi chầm chậm xoay nghiêng người. Tôi không thể đứng thẳng góc với mặt đất. Phải chăng cái trục xoay của địa cầu đã nghiêng hay là trọng lực đã thay đổi hướng?

Uỵch! Chiếc giày của tôi rơi ra, chạm mặt đất. Tôi thấy chuyện đang xảy ra. Trục địa cầu không nghiêng, mà một chân của tôi trở nên ngắn hơn. Lúc tôi kéo sợi tơ, thì chân tôi nhanh chóng bị ngắn dần. Giống như cái khuỷu tay áo khoác bị mòn và bung chỉ. Cái chân tôi cứ bị tháo chỉ ra. Sợi chỉ tơ, giống như xơ của trái bầu dài hình con rắn, chính là cái chân của tôi bị tháo tung.

Tôi không thể bước thêm bước nào nữa cả. Tôi chẳng biết phải làm gì, cứ ì ra đấy. Rồi tay tôi cũng chẳng biết phải làm gì, chân tôi, cái chân đã biến thành chỉ tơ bắt đầu tự di chuyển. Nó bò ra nhẹ nhàng. Phần ngoài cùng của chân, không cần sự giúp đỡ của bàn tay tôi, bắt đầu tự tháo tung và như là một con rắn bắt đầu bao quanh người tôi. Khi cái chân trái của tôi tự tháo tung ra hết rồi, sợi tơ tự thay đổi, rất tự nhiên, quay sang chân phải của tôi. Chẳng mấy chốc, sợi tơ đã quấn đầy người tôi như gói trọn vào trong một cái bọc. Ngay cả lúc ấy nó vẫn không ngừng tháo tung tôi từ dưới mông lên đến ngực, từ ngực lên đến vai, và cùng lúc nó đang tháo chỉ, nó làm tăng độ bền chắc của cái bọc từ bên trong. Cuối cùng, tôi biến mất.

Sau đó, tất cả chỉ còn lại một cái kén rỗng.

A ha, rồi thì tôi cũng được nghỉ ngơi. Nắng hoàng hôn nhuộm cái kén thành màu đỏ. Đây, cuối cùng, là căn nhà của tôi, chắc chắn không ai có thể đuổi tôi ra. Điều đáng phiền bây giờ là tôi đã có căn nhà, nhưng tôi không còn “cái tôi” để trở về nhà nữa.

Bên trong cái kén, thời gian ngừng lại. Bên ngoài, trời tối đen, nhưng bên trong cái kén, luôn luôn là buổi chiều. Tỏa sáng từ bên trong, nó ánh ngời màu đỏ như màu của hoàng hôn. Cái điểm kỳ dị tuyệt diệu này rồi sẽ bắt được ánh mắt tinh tường của gã cảnh sát. Hắn nhìn thấy tôi, cái kén, nằm giữa hàng rào của con đường. Ban đầu hắn nổi giận, nhưng ngay sau đó hắn đổi ý về món đồ lạ này. Hắn cho tôi vào trong túi. Sau một hồi tí toáy cái kén, hắn chuyển tôi sang hộp chứa đồ chơi của thằng con trai.

Màu Mắt Chưa Quên

Mời bạn nghe truyện ngắn Màu Mắt Chưa Quên qua giọng đọc của Ngọc Phụng. Cám ơn chị Ngọc Phụng và Gió O.  Nhắn nhỏ: Truyện hoàn toàn là tưởng tượng.

Tác giả: Nguyễn thị Hải Hà

Tháng Chín, tôi trở lại trường cũ ghi tên học một lớp. Buổi chiều tôi đáp xe điện ngầm đến trường. Mùa thu, năm giờ chiều trời đã nhá nhem. Bước vội về hướng lớp học tôi nghe gió lao xao trên ngọn cây, thứ gió đặc biệt của mùa thu làm lá rung mà cành không lay. Thoảng trong gió hình như có ai gọi tên tôi theo đúng kiểu Việt Nam. Tôi nhìn chung quanh chẳng thấy ai và tự nhủ mình chỉ giỏi tưởng tượng. Đã gần hai mươi năm tôi mới trở lại trường, ngay từ lúc còn đi học chẳng ai có thể gọi tên tôi bằng tiếng Việt. Chỉ có một người làm việc chung có thể gọi tên tôi như thế. Tôi đang cắm cúi bước đi chợt nhận ra có người đứng chắn ngang đường; ngẩng mặt lên tôi nhìn thấy Scott.

Anh cười tươi. Bao nhiêu năm rồi sao nụ cười và ánh mắt ấy vẫn còn rất trẻ. Trong nắng chiều chập choạng, tóc anh đã nhiều sợi bạc. “Tôi thấy em từ lúc em đi ngang Colton Hall, gọi em khản cả giọng mà em không nghe.” Tôi ngạc nhiên. “Thì ra đó chính là anh? Tôi nghe tiếng gọi nhưng chẳng thấy người. Và cũng không nghĩ là ở đây có người biết tên mình.” Chỉ có Scott là người có thể gọi tên tôi phát âm đúng cách. Có lẽ vì anh đã thực tập biết bao nhiêu lần. Lòng tôi chùng xuống.

Khi mới biết nhau, cái tên của tôi đơn giản hai chữ như vậy; mà anh, cũng như bao nhiêu người Mỹ khác, đều vất vả khó khăn trong việc phát âm. Tôi dễ dãi bảo mọi người gọi tôi bằng gì cũng được. “Cứ cười ‘Ha Ha’ thì tôi biết ngay đó chính là tôi!” Tuy thế, dần dần anh phát âm tên tôi thật chính xác và không ngần ngại sửa sai những người làm việc chung với một chút bỡn cợt. Scott hỏi: “Em đã ăn tối chưa? Tôi đang đói, em có thể dành cho tôi vài phút không? Sáu giờ lớp học mới bắt đầu. Em làm gì ở đây?” Tôi nói, “trời nhá nhem thế này mà anh cũng nhận ra tôi, hay thật!” Scott nhìn tôi: “Em chẳng khác ngày xưa bao nhiêu, vẫn mái tóc dài, vẫn dáng đi cúi đầu.” Anh trêu: “Và vẫn không cao thêm chút nào.”

Tôi ngoan ngoãn theo Scott đi ra phía sau khuôn viên của trường nơi có những quán ăn cho sinh viên. Và trong chừng ba mươi phút ngắn ngủi giữa pizza và trà Lipton, chúng tôi cố gắng ghi nhận phần đời của nhau trong mười năm không gặp, tưởng như tình đã cũ. Gió thu như nhẹ nhàng thổi bay đi lớp tro tàn, ngọn lửa của than hồng vẫn còn âm ỉ cháy.

Chúng tôi làm việc chung với nhau. Tôi có nhiệm vụ đặt thang và bậc thềm cho công nhân phụ trách công việc chăm sóc cầu quay có thể lên xuống dễ dàng. Scott có nhiệm vụ cung cấp ngân quỹ, và vượt qua những luật lệ lỗi thời áp dụng lên những chiếc cầu cổ lỗ sĩ của công ty xe lửa. Công việc không khó nhưng người ta cấm đoán và đòi hỏi đủ thứ giấy tờ phức tạp; lý do là vì đây là một trong những cây cầu đã hơn trăm tuổi. Giới bảo tồn văn hóa không muốn làm mất vẻ cổ kính của cây cầu. Nhóm kỹ sư muốn công việc dễ dàng nhanh chóng và ít tổn phí. Nếu ai đã từng làm việc cho cơ quan nhà nước của Mỹ sẽ biết là đôi khi vì bè nhóm phe phái, ai cũng muốn làm vua một cõi, người ta tha hồ gây khó khăn làm cản trở công việc của nhau. Scott gọi điện thoại yêu cầu tôi đưa anh đến chỗ cây cầu ở gần cửa biển. Tôi hẹn giờ, chỉ đường và chúng tôi gặp nhau ở bên đầu của cây cầu.

Trời đã bắt đầu xuân. Hôm ấy nắng ấm dù mới mấy ngày trước một cơn bão tuyết đã để lại cả mét tuyết. Tuyết đã được gom thành từng đống cao nghệu rải rác khắp nơi. Scott nhìn tôi trong áo thun dài tay, quần jean, nón bảo hộ, anh cười tự giới thiệu, rồi bảo thêm, “trông cô như vẫn còn là học sinh Trung học.” Tôi cười, “Tôi đã có gần mười năm kinh nghiệm lận lưng rồi đấy nhé.”

Scott cao lớn vạm vỡ như một ông thần hộ pháp. Tóc anh vàng tơ, mắt xanh như màu biển, màu trời, và màu của cây cầu ngày hôm ấy. Scott có cái vẻ đỏm dáng của dân làm việc văn phòng sống trong thành phố, đi ra cầu mà anh mặc áo trắng quần ka ki như thể đây là bộ đồ cũ nhất và xấu nhất của anh. Cái áo khoác mỏng không cài cúc dù chỉ mới mười giờ sáng. Gió biển lồng lộng làm tôi thấy lạnh. Cơn bão tuyết đã qua nhưng trời vẫn lộng gió và lạnh. Anh khen trời đẹp và mát.

Tôi dẫn Scott băng ngang cầu, nhắc chừng anh ngoái đầu trông chừng xe lửa. Tôi chỉ cho anh những chỗ trú an toàn nếu xe lửa đến giữa lúc chúng tôi đi trên cầu. Tôi nói, để chứng tỏ tôi biết rõ môi trường và công việc của tôi. “Cầu dài chừng sáu trăm mét. Thời khóa biểu cho biết là sẽ có xe lửa chạy ngang trong vòng hai mươi phút nữa nhưng chúng ta không thể ỷ y.” Đến giữa cầu chúng tôi leo xuống chân cầu. Từ chân cầu chúng tôi phải vào hầm, chỗ đặt cái trục quay bằng thép của cầu. Tôi chỉ Scott những chỗ có mỡ bò được dùng để làm trơn máy. Dặn anh đừng dựa lưng bất cứ nơi nào nếu anh không muốn ném cái áo trắng của anh vào sọt rác.

Từ trên thành cầu, Scott nhảy xuống gọn gàng và đưa tay đỡ tôi xuống hầm. Tôi đã trồng vào người bộ đồ bảo hộ lao động màu nâu mà các người làm việc chung thường bảo làm tôi giống cái bánh ginger bread. Lúc mới xuống từ ngoài sáng vào chúng tôi không nhìn thấy gì, một lúc sau định thần nhìn kỹ Scott nói: “Tôi sẽ chẳng ngạc nhiên nếu thấy ở đây có một bộ xương khô và chuột bò lúc nhúc.” Tôi cười, “nơi đây tuy tối tăm bẩn thỉu nhưng không đến nỗi mất an toàn. Người canh giữ cầu ở trên cái tháp kia.” Tôi mở túi xách lấy ra cái đèn bấm, bản vẽ, giải thích công việc của tôi. Những người thợ chăm nom và sửa chữa máy quay cầu cần có thang để công việc của họ an toàn và hữu hiệu hơn. Scott cười, “nếu có thang những người nhỏ bé như cô không cần phải có người giúp.” Tôi nói, “bình thường dưới hầm không tối như thế này, tuy nhiên trận bão tuyết mấy ngày trước đã lấp đi nhiều chỗ cho ánh sáng rọi vào. Và nếu tuyết không lấp lối, tôi có thể tự leo lên xuống dễ dàng.” Scott đưa mắt nhìn chung quanh nào là nùi giẻ rách dính dầu, tàn thuốc lá, chai đựng sô đa bằng nhựa, những cái ly đựng cà phê bằng mốp xốp: “Công việc này không khó tuy nhiên chỗ này chật hẹp khó xoay trở.” Gió thổi qua những kẽ hở của cầu nghe như tiếng hú. Tôi rùng mình vì lạnh. Qua Mỹ bao nhiêu năm tôi vẫn giữ bản chất của cô gái miền nhiệt đới, dưới hai mươi độ C là tôi thấy khó chịu.

Chúng tôi đo đạc, ghi chép, chụp ảnh xong trời đã trưa. Mây lại tụ về làm chúng tôi sợ bị mắc mưa nên thu xếp ra về. Lúc xuống dễ dàng nhưng bây giờ leo lên là chuyện khó. Scott nhảy lên bám lấy thành cầu rồi đu nhẹ nhàng lên như một lực sĩ. Còn tôi, tôi không thể tự leo lên. Tôi bám lấy một thanh ngang đưa cái túi xách có chứa bản vẽ, máy chụp hình, thước đo, của mình cho Scott mang lên trước, nhưng hai cánh tay của tôi quá yếu nên tôi không thể tự đu lên như Scott. Scott muốn kéo tôi lên nhưng thành cầu ở gần mé nước nếu sơ xuất cả hai sẽ rơi xuống nước. Cửa biển, nước chảy xiết, và ở buổi đầu xuân như thế này có lẽ nước lạnh cỡ chừng tám độ. Nếu rơi xuống chắc là khó sống. Loay hoay một hồi, thấy không có cách nào hiệu quả, Scott nhảy xuống trở lại. Scott bảo tôi, “thế này nhé, cô đứng lên đầu gối của tôi, bám tay vào vách thép của cầu, leo lên hai cánh tay của tôi và leo lên mặt ngang của thành cầu. Cẩn thận đừng để rơi xuống biển nhé.”

Tôi cởi đôi ủng, cởi cả bộ quần áo bảo hộ lao động dày cui ngăn cản tôi không thể xoay trở dễ dàng, nhưng hai cánh tay của Scott vẫn còn chông chênh quá. Cái nón bảo hộ của tôi cứ va vào hết nơi này đến nơi kia kêu côm cốp. Cuối cùng, tôi phải ngồi lên vai Scott, anh đứng lên rồi tôi đứng lên vai anh, tay anh đẩy tôi lên rồi cho đến khi tôi có thể nằm lên mặt thép của thành cầu thấp nhất. Trong lúc vất vả như thế cái nón của tôi rơi xuống trúng đầu Scott và tóc của tôi xõa đầy mặt anh. Vốn không quen việc người lạ chạm vào người tôi nghe người mình nóng hổi, tim đập thình thình, mùi kem dùng để cạo râu, hơi thở đàn ông hăng hăng của Scott làm tôi ngây ngất. Chỉ một cái quay đầu là môi sẽ chạm và thân thể sẽ bốc cháy khi những sợi thần kinh đã căng thẳng cực độ vì sợ và hoạt động mạnh. Khi lên khỏi cầu cả hai chúng tôi đều bẩn thỉu, cái áo trắng và cái quần ka ki của anh dính cả dấu giày ủng của tôi.

Trở về chỗ đậu xe, anh nói đùa về trọng lượng của tôi còn tôi chê đôi cánh tay của anh không đủ khỏe. Rồi tôi trêu trọng lượng của anh và anh trả đủa bằng cách chế nhạo đôi cánh tay yếu đuối của tôi. Scott rút khăn tay lau vài chỗ bẩn trên mặt tôi và nói “Cái nón của cô rơi làm u đầu tôi, nhưng vì tóc của cô rất thơm nên tôi tha thứ cho cô.” Tôi đỏ mặt, nhìn Scott rồi ngó ra biển và chợt nhận ra màu mắt anh thay đổi theo màu trời và màu nước biển. Tôi nói lảng. “Anh có biết là cầu dành riêng cho xe lửa, nếu băng ngang mặt nước thì phải sơn màu xanh biển còn băng ngang đất thì sơn màu xanh lá cây không?” Có những nơi tuyết đã tan tạo thành những vũng nước nhỏ Scott nắm tay giúp tôi nhảy qua những vũng tuyết này. Cái ngăn cách ban đầu giữa hai người làm việc khác phái cũng bắt đầu tan. Anh có cái ân cần săn sóc phụ nữ rất tự nhiên của đàn ông Âu Mỹ. Anh giúp tôi mở cửa xe và khi tôi ngồi vào xong anh đóng cửa lại. Tôi nhìn anh lái xe đi, sân nhà ai có những đóa hoa crocus nở tim tím vươn lên trên mặt đất còn đọng tuyết. Gió mang theo mùi hoa hyacinth làm tôi nhớ hai câu thơ “Trông theo ai đến cuối đường. Gió bay làm dậy mùi hương ngây lòng.” Dấu giày của tôi in trên quần của Scott và mùi kem cạo râu cùng với hơi thở của Scott dính đầy trên tóc tôi.

Tôi hỏi anh lập gia đình chưa, có con không, có hạnh phúc không? Anh cho tôi xem ảnh vợ và hai con trai. Vợ anh là người Phi Luật Tân, tóc dài, da màu mật, dáng nhỏ nhắn. Tôi ngạc nhiên. “Thế còn cô tóc vàng?” “Cô tóc vàng nào?” Tôi tả hình dáng cô gái tóc ngắn, dáng cao và thanh, đã thân mật quàng vai anh trong buổi tiệc tiễn đưa anh. Tôi có hứa đến dự nhưng không về kịp vì bận đi họp ở một cái cầu quay rất xa ở tận cái mõm bùn cuối tiểu bang. Anh bảo không nhớ ra, không biết tôi nói đến ai, có thể đó là một khách hàng, cũng có thể đó là cô em gái của anh đến gặp anh. Tôi hỏi: “Anh đến đây để làm gì?” “Tôi hiện đang làm chủ tịch hội đồng cựu sinh viên kiến trúc của trường. Tôi đến họp. Còn em?” “Lấy một lớp học cho vui.”

Do công việc chúng tôi gặp gỡ nhau thường xuyên. Tôi cung cấp tài liệu bản vẽ, ước tính tổn phí và những chuyện linh tinh. Scott cung cấp ngân quỹ và thuyết trình về dự án. Anh thuyết phục mọi người công việc này rất cần thiết. Chuyện hai chúng tôi bị kẹt dưới chân cầu là bằng chứng hiển nhiên. Nhân viên có thể bị tai nạn chết người nếu không có thang giúp thi hành công việc dễ dàng hơn. Chúng tôi sẽ cố gắng duy trì vẻ cổ kính của cây cầu. Tôi thán phục nhìn Scott làm chủ buổi thuyết trình dễ dàng bơi lội trong ao nhà. Ao nhà với anh nhưng lại là biển lạ với tôi. Nơi đây, phụ nữ và đặc biệt phụ nữ ngoại quốc, luôn luôn là người ngoại cuộc. Những lý luận Scott dùng trong buổi thuyết trình là của tôi nhưng anh nói người ta nghe còn tôi nói thì như viên đá nhỏ rơi xuống hồ không đủ khoắn thành vòng. Scott bảo nếu tôi đảm nhiệm công việc thuyết trình tôi sẽ được chú ý nhiều hơn nhưng tôi từ chối viện cớ là mình nói có giọng ngoại quốc người ta nghe không hiểu. “Em không biết, giọng nói người ngoại quốc có cái duyên của nó.” Anh nói, đôi mắt xanh cười lóng lánh.

Tôi nghe lòng mình nhiều mơ ước. Anh luôn tràn đầy trong tư tưởng tôi ngay cả khi anh không có mặt ở bên tôi. Tôi tìm đủ mọi cách để bôi xóa ý nghĩ của mình. Không khéo mình tự biến mình thành một cô Phà Ca thời đại và chế diễu mình khi tự so sánh với Tiểu Siêu. Chúng tôi ăn trưa chung với nhau một vài lần khi công việc cho phép nhưng không tiến xa hơn. Tôi vốn không thích bị lệ thuộc vào ai cả. Nương vào Scott tôi có thể vượt biên giới da màu, trở thành người nhập cuộc và nhờ đó sẽ tiến xa hơn trong lãnh vực nghề nghiệp nhưng như thế là tôi sẽ lệ thuộc vào cái bóng lớn của anh. Scott làm tôi thấy nhỏ bé và thèm được anh bảo bọc. Tôi mơ ước được che chở nâng niu và cố gắng từ bỏ niềm ao ước ấy. Đôi khi tôi nghĩ đến việc mang Scott vào cuộc đời tôi, dạy cho anh phong tục của tôi. Anh bảo rằng từ khi biết tôi anh thích ăn chả giò và phở. Tôi cười, anh cần phải biết ăn bánh cuốn và nước mắm, rồi còn mắm kho với cá bông lau rau kèn và bông súng chẻ. Và Việt Nam không chỉ có bao nhiêu đó thôi. Có lần tôi thử hát một câu tiếng Việt cho anh nghe, ngâm một câu Kiều, đọc một câu ca dao, rồi tôi bỗng nghe giọng của mình lạ lẫm, nhạt thếch. Tôi có thể bơi lội ngụp lặn trong phong tục xứ anh nhưng không thể nào giải thích cho anh hiểu sự rung cảm một câu thơ xưa trong lòng tôi “Quê hương khuất bóng hoàng hôn. Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai.” “quê nhà xa lắc xa lơ đó, ngoảnh lại tha hồ mây trắng bay.” Làm sao khi tôi gác chân ngang bụng anh, tôi có thể mang anh vào một không gian nơi đó có bóng trăng xuyên lá dừa, bát ngát hương lài, hương dạ lý ở một miền quê ngoài thành phố Sài Gòn có con kênh đào và đồng cỏ u ru. Nói thì tôi cứ nói nhưng chắc anh không bao giờ hiểu được hay thấy được những gì tôi đã thấy và vẫn còn đang thấy. Nếu giữa tôi và anh sẽ có những phút giây mê đắm của hai thể xác quyện thành một, thì những dị biệt mù mờ lẩn khuất trong ngõ ngách của tâm hồn sẽ không thể nào với tới dù ở cạnh bên nhau.

Scott không săn đuổi quá đáng dù là tôi biết lòng anh mở cửa chờ đón tôi. Tôi không tiến tới dù chưa có người đàn ông nào làm tôi cơ thể thèm muốn đến thế. Tôi nhớ cái mùi đàn ông của anh đến ngây ngất. Tim tôi vẫn đập rộn ràng khi nghĩ đến buổi sáng dưới chân cầu. Scott thích mái tóc dài, dáng dấp nhỏ nhắn, nước da màu mật của tôi. Anh không ngần ngại nói với tôi điều này và ngạc nhiên khi tôi nói thật là tôi vẫn thường mang mặc cảm xấu xí. Màu da của anh và màu da của tôi thường làm tôi liên tưởng đến cà phê sữa và kem vanilla hay con ong bầu đậu trên hoa lan trắng. Anh thường bảo, “mỗi sáng em phải soi gương và tự bảo mình là Scott thấy em rất là xinh xắn.” Tôi nói xa xôi, “quan hệ làm việc không nên để lẫn tình cảm cá nhân. Những người làm việc chung dễ ghét nhau vì tranh tài giành chức giành quyền, tình cảm riêng tư thường bị tổn thương và chết sớm.” Anh hay nói đùa là tôi là hiện thân của sắt (thành cầu) và đá (chân cầu). Anh nói nếu vợ anh làm lương cao hơn, anh tình nguyện ở nhà nấu cơm và viết văn. “Nếu em trở thành xếp của tôi, tôi sẵn sàng nâng xếp lên khỏi đầu bằng hai cánh tay tôi.” Tôi dùng một ẩn dụ của dân kỹ thuật trả lời, “thép này đã từng đổ biết bao nhiêu mồ hôi đấy nhé!” Điều mà tôi muốn nói nhưng giữ lại lời là, tôi là một phiến đá biết sầu tư!

Rồi Scott xin thuyên chuyển qua một công ty khác. Buổi tiệc đưa tiễn anh tôi bận không về kịp chỉ thấy nhìn anh từ nơi xa khi tiệc đã tàn. Anh đứng nói chuyện có vẻ thân mật với một cô tóc vàng. May là chúng ta chưa có gì trước khi có cô gái xinh đẹp này. Tôi không tranh giành nên không thể nói tôi là người thua cuộc. Anh gọi điện thoại vài lần dặn tôi gọi lại cho anh nhưng tôi không trả lời. Thỉnh thoảng tôi có dịp trở lại cây cầu cũ, bây giờ đã có những bậc thang màu vàng gắn theo thành cầu người ta dễ dàng lên xuống. Tôi đứng tần ngần chỗ ngày xưa Scott đỡ tôi lên.

“Đặt chân lên dấu chân người đã khuất.
Trồng cây hoa lên dấu chân của người.
Suối ngừng xối. Rừng thôi thay lá.
Để giấc mơ người cũ lại về.”

Tôi tự nhắc nhở vì sao tôi không tiến tới. Tôi chọn nhìn thấy những dị biệt mà làm ngơ những tương đồng. Tôi chọn cái quá khứ quen thuộc của một quê nhà xa lắc xa lơ để từ chối một hiện tại còn quá xa lạ. Tôi được quyền chọn lựa, biết điều mình muốn và cả những điều mình không muốn. Tôi yên tâm với sự chọn lựa của mình. Scott không phải của tôi, chưa bao giờ là của tôi, mà sao tôi thấy trong sự chọn lựa này có nhiều mất mát đến độ làm tôi đau đớn.

Hôm nay gặp lại người năm xưa. Dòng đời mang chúng tôi đến gần nhau rồi cuốn chúng tôi xa nhau rồi đưa chúng tôi gặp lại nhau. Lần đầu tiên gặp anh trời vào xuân, gió lạnh và hoa bắt đầu nở. Lần này gặp lại anh trời chuyển sang thu, gió vẫn lạnh và lá bắt đầu rơi. Chúng tôi trao đổi số điện thoại. Anh nhắc lại ngày chúng mình bị vướng dưới chân cầu chưa có cell phone. Anh đưa tôi đến lớp học. Tôi nhìn bóng anh khuất dần ở hành lang hun hút. Lại thêm một lần nữa tôi mang cảm giác phải ở lại. Làm người ở lại có bao giờ vui.

Đêm đó tôi lái xe về. Nhà ai đó đã treo đèn Halloween sáng rực, những con ma dễ thương màu trắng, những bà phù thủy áo tím mặt xanh, và những trái bí màu cam vàng rực. Trong tôi vọng nhẹ một câu thơ Trong hồn tôi có một chút gì cô quạnh và vườn tôi xưa vẫn một vuông rất nhỏ. Ở những con đường tối, mặt trăng sáng lấp lánh lẽo đẽo theo tôi. Trong tâm tư tôi lãng đãng màu mắt của Scott. Ánh trăng trong veo lạnh lẽo, cái lạnh như thấm cùng bóng tối trong tim tôi thành những hạt sương lăn dài vòng quanh buồng tim âm thầm nhói buốt.

Một nhân vật trong Alexis Zorba bỗng hiện về. “Rồi bạn sẽ không còn nhớ đôi mắt của chàng màu xanh hay màu đen!”

Tôi ước gì tôi có thể đồng tình với nhân vật ấy.

 

Kesa và Morito

Tác giả: Ryunosuke Akutagawa

Người dịch: Nguyễn thị Hải Hà
Lời người dịch: Càng ngày tôi càng nhận ra tôi có khuynh hướng thích đọc truyện cổ điển. Truyện này, làm tôi nghĩ đến nhân vật A Châu trong truyện Kim Dung nửa đêm cải trang đi chết thay cho người nàng yêu. Truyện nào thì không còn nhớ. Không nhớ A Châu chết thay cho ai. Phải Lệnh Hồ Xung không? Hay là Kiều Phong (Tiêu Phong)?

Part I

Nhìn trăng một cách tư lự, Morito đi lại trên thảm lá bên ngoài hàng rào nhà của mình.

Lời Độc Thoại của Morito

Bây giờ trăng đang lên.  Tôi thường không mấy kiên nhẫn khi chờ trăng lên.  Nhưng đêm nay, trăng lên sáng rực làm rúng động tôi đến khủng khiếp.  Tôi rùng mình nghĩ rằng đêm nay sẽ phá hủy cái tôi hiện tại và biến tôi thành một tên sát nhân khốn nạn.  Hãy tưởng tượng khi đôi bàn tay này trở nên đỏ vì máu!  Tôi trở nên một hiện diện đáng bị nguyền rủa với chính tôi.  Lòng tôi sẽ không đến nỗi bị dày vò đau đớn nếu tôi chuẩn bị giết một kẻ thù mà tôi căm ghét, nhưng tối nay tôi phải giết một người đàn ông mà tôi không chút hận thù.

Tôi biết ông ấy từ lâu.  Mặc dù tôi mới chỉ biết tên ông ấy gần đây, Wataru Saemonno-jo, khuôn mặt đẹp trai của ông rất quen thuộc với tôi từ khi tôi bắt đầu có trí nhớ.  Khi tôi biết rằng ông là chồng của Kesa, nói thật, tôi ghen như cháy cả người một thời gian.  Nhưng bây giờ thì lòng ghen của tôi đã phôi pha, không còn dấu vết nào trong tôi, tim hay óc.  Do đó cho dù tranh chấp trong tình yêu, tôi không thù ghét cũng chẳng khinh bỉ.  Thật ra tôi luôn nghĩ đến ông một cách trân trọng.  Khi cô tôi, Koromogawa, bảo tôi ông ấy không sá gì đau đớn hay khổ ải để chiếm được lòng yêu của Kesa, tôi thấy thông cảm với ông.  Tôi còn biết là với tất cả tấm lòng mong ước cháy bỏng được lấy nàng làm vợ, ông ấy cố gắng hết sức mình ngay cả việc học làm thơ.  Tôi không thể nào tưởng tượng nỗi người đàn ông đơn giản và lù đù như ông ấy có thể làm thơ ca tụng tình yêu, và môi tôi nở nụ cười chế giễu chính mình.  Đây không phải là một cái cười khinh bỉ; tôi thấy cảm động bởi lòng yêu thương dịu dàng của một người đàn ông đã làm đủ mọi cách thậm chí quá độ để được lòng một người đàn bà.  Rất có thể lòng yêu cháy bỏng của ông đến nỗi ông tôn thờ Kesa yêu quí của tôi làm cho tôi khá thỏa mãn.

Nhưng tôi có thật sự yêu Kesa không?  Cuộc tình vụng trộm của chúng tôi có thể được chia thành hai thời kỳ, quá khứ và hiện tại.  Nhưng ngay lúc này nhìn thẳng vào tim mình, tôi thấy có nhiều động cơ.  Tôi muốn những gì ở nàng?  Nàng là một người đàn bà mà tôi luôn thèm muốn kể cả những ngày mà tôi phải chay tịnh.  Nếu tôi được phép lộng ngôn, tình yêu của tôi dành cho nàng chẳng khác gì một thúc đẩy hào nhoáng đã đưa Adam đến với Eve.  Dù rằng tôi vẫn nghĩ đến nàng cả ba năm kể từ khi chúng tôi không còn thuộc về nhau, tôi không dám cả quyết rằng tôi yêu nàng.  Về sau khi tôi trở nên quyến luyến với nàng, niềm nuối tiếc lớn nhất của tôi là tôi đã không tìm hiểu nàng một cách thật sâu đậm.  Tự tra tấn mình với sự bất mãn, tôi lao vào mối quan hệ hiện nay và điều này làm tôi hãi sợ cho dù tôi biết rằng đó là chuyện phải đến.  Bây giờ tôi lại hỏi chính tôi một câu hỏi mới tinh khôi “Tôi có thật sự yêu nàng không?”

Ba năm sau khi tôi gặp lại nàng trong dịp lễ hoàn tất cây cầu Watanabe, tôi đã dùng đủ mọi cách để được gặp riêng nàng.  Cuối cùng tôi thành công.  Không những tôi chỉ gặp nàng mà tôi còn chiếm đọat được thân thể của nàng, điều mà tôi ao ước từ lâu.  Lúc ấy, cái tiếc rẻ không được biết rõ thân xác nàng không mạnh mẽ lắm.  Nhưng khi tôi ngồi cạnh nàng trong căn phòng có trải nệm ở nhà của Koromogawa, tôi để ý là sự tiếc rẻ ấy đã tàn lụi.  Rất có thể cơn thèm muốn của tôi cũng yếu dần vì tôi không phải nhịn thèm.  Nhưng lí do chính là nàng không phải là người mà tôi vẫn nuôi dưỡng trong trí tưởng của tôi.  Khi tôi ngồi đối diện với nàng, tôi chợt nhận ra nàng không còn đẹp, cái đẹp của một pho tuợng nho nhỏ, mà tôi hằng tưởng tượng trong ba năm vừa qua.  Nàng thua xa cái thần tượng mà tôi hằng lí tưởng hóa trong tim tôi.  Mặt nàng, trát dày những phấn có pha chì, đã mất đi cái vẻ tươi tắn rạng rỡ cũng không còn mịn màng duyên dáng.  Dưới mắt nàng quầng thâm tụ lại.  Điều không hề thay đổi là đôi mắt nàng, vẫn trong trẻo và lóng lánh đen.  Nhìn thấy nàng lần này tôi sững sờ kinh ngạc, nhưng dù thế tôi vẫn không thể nhìn đi hướng khác.

Thế thì tại sao tôi lại có thể giao hợp với người đàn bà mà tôi không mấy quyến luyến?  Trước nhất là tôi có một mong ước kỳ cục là chinh phục được quả tim nàng.  Ngồi bên nàng, mặt đối mặt, nàng kể tôi nghe tình yêu nàng dành cho chồng, một cách cố tình phóng đại.  Câu chuyện không để lại gì ngoại trừ tiếng rung trong cái lỗ tai trống rỗng của tôi.  “Nàng thổi phồng cái lí tưởng hão huyền về người chồng,” tôi nghĩ thế.  Tôi cũng ngờ là nàng không muốn thổi cháy cái thèm muốn của tôi.  Cùng lúc ấy, cái thèm muốn được vạch trần sự dối trá của nàng trở nên càng lúc càng mạnh hơn.  Vì sao tôi nghĩ rằng nàng giả dối?  Nếu quí vị nói, bạn đọc thân mến, rằng sự giả dối của chính tôi làm cho tôi nghi ngờ lời nàng nói không phải là sự thật, thì tôi không chối cãi.  Tuy vậy, lúc đó tôi tin như vậy và bây giờ tôi vẫn còn tin lời của nàng chỉ là một lời nói dối.

Nhưng không phải chỉ có lòng thèm muốn chinh phục nàng ám ảnh tôi lúc ấy.  Tôi thật xấu hổ mà thú nhận điều này –  Tôi bị tràn ngập bởi lòng thèm muốn xác thịt.  Điều này không phải chỉ là sự tiếc nuối là tôi chưa lần nào được biết thân thể của nàng.  Nó là một cơn thèm muốn xác thịt thật hạ cấp, thèm muốn xác thịt chỉ vì thèm muốn xác thịt mà đối tượng của sự thèm khát không nhất thiết phải là một người đàn bà cố định.  Có lẽ, không một người đàn ông nào đi chơi điếm có thể hạ cấp hơn tôi lúc ấy.

Nói cho cùng, viện dẫn những lí do này khác, cũng chỉ là vì tôi có liên hệ với Kesa.  Nói đúng hơn là tôi làm nhục nàng.  Trở về với câu hỏi đầu tiên mà tôi đã đặt ra từ trước, tôi không cần hỏi tôi ngay lúc đó tôi có yêu nàng hay không.  Khi mọi chuyện đã xong, tôi nâng xốc nàng lên trong tay tôi – người đàn bà này đã nằm lăn xuống đất khóc ngất.  Lúc đó nàng có vẽ nhục nhã hơn tôi.  Tóc rối tung và mồ hôi nhễ nhại, tất cả những điều biểu lộ cái xấu xí của nàng, tâm hồn và thể xác.  Có thể nói mà không sai với sự thật là trong tôi hình thành một nỗi chán ghét thật mới mẻ, dành cho nàng ngay từ ngày hôm ấy.  Và đêm nay, tôi sẽ giết một người đàn ông mà tôi không ghét chỉ vì một người đàn bà mà tôi không hề yêu.

“Mình cùng nhau giết Wataru đi,” tôi thì thầm vào tai nàng.  Tôi chắc là phải rồ dại ghê lắm mới dám đề nghị một cách táo tợn đến thế với nàng.  Lơ đãng tôi thở vào tai nàng trước đây tôi từng mong ước được thách đấu với Wataru để chiếm lòng yêu của nàng.  Bất cứ giá nào, “mình cùng giết Wataru,” tôi thì thào và chắc chắn, tôi nghiến răng thì thào cùng nàng và cùng lúc ấy tôi muốn đả thương tôi.  Hồi tưởng lại, tôi không biết cái gì đã xui khiến tôi làm một chuyện thiếu suy nghĩ như vậy.  Tất cả những lý lẽ mà tôi nghĩ ra là tôi chỉ muốn đền bù cho cái chuyện ngoại tình lúc này, và khi tôi càng khinh bỉ và ghét bỏ nàng thì tôi càng trở nên kiên nhẫn chờ để bêu xấu nàng.  Không có gì để thỏa mãn mục đích này thích hợp hơn là giết người chồng mà nàng thú nhận là rất yêu với sự chấp thuận của nàng, một ý chí yếu mềm, dễ bị lung lạc.  Vì thế như một người trong ác mộng, tôi phải thành công trong việc dụ dỗ nàng cùng nhau phạm cái tội sát nhân mà tôi không mơ ước.  Nếu điều này không đủ để giải thích cái lý do mà tôi đề nghị giết Wataru, không có lời nào có thể thử giải thích được, ngoại trừ một quyền lực không hề biết đến đạo đức là gì (có thể là yêu tinh hay quỷ sứ) đã dẩn dắt tôi trên con đường tội lỗi.  Kiên trì tôi lập đi lập lại điều này vào tai nàng.

Cuối cùng nàng ngẩng mặt lên nói rằng, “Được rồi, nếu anh thật sự muốn giết Wataru.”  Không những sự đồng ý ngay lập tức của nàng làm tôi thật ngạc nhiên, mà tôi còn thấy một ánh nhìn thật bí mật trong mắt nàng mà tôi chưa hề để ý.  Một người đàn bà ngoại tình – nàng cho tôi cái ấn tượng ấy lúc đó.  Ngay tức thì thất vọng và khủng hoảng – và vâng, cả khinh bỉ nữa – nhoáng lên trong bộ óc đang lên cơn sốt của tôi.  Tôi có thể hủy bỏ những toan tính của tôi ngay lập tức nếu tôi thấy có thể làm được.  Xong rồi tôi có thể gán cho nàng cái tên đàn bà ngoại tình, và lương tâm của tôi có thể tìm được chổ trú ẩn trong đạo dức hợp lẽ phải.  Nhưng tôi không thể làm được chuyện ấy.  Tôi thú nhận là tôi đã nhìn thấy cái tuyệt đối bất lực của mình ngay cái phút giây mà tôi bắt gặp bất thình lình cái nhìn đắm đuối của nàng.  Thái độ của nàng thay đổi hẳn như là nàng đã nhìn thấu rõ quả tim tôi.  Tôi lỡ há miệng nên mắc quai trong việc chuẩn bị giết chồng nàng bởi vì tôi sợ nàng sẽ trả thù nếu tôi không thực hiện phần của tôi.  Bây giờ thì nỗi sợ hãi như đã có móng vấu bám chặt lấy tôi.  Cứ cười tôi là một tên hèn nhát nếu bạn muốn.  Đây là hành động của một người không biết người tình vụng trộm của hắn thấp hèn đến mức nào.  “Nếu tôi không giết chồng nàng, nàng sẽ giết tôi không bằng cách này thì cũng bằng cách khác.”  Tôi suy nghĩ một cách tuyệt vọng, nhìn vào đôi mắt như khóc mặc dù không có giọt nước mắt nào.  Sau khi tôi tuyên bố lời thề của mình, không biết tôi không có nhìn thấy nụ cười trên môi nàng, và đồng tiền trên má nàng hay không?  Ồ, bởi vì lời hứa đáng bị nguyền rủa này, tôi sẽ cộng thêm cái tội sát nhân độc ác vào trái tim đen tối nhất không ngoài sức tưởng tượng.  Nếu như mà tôi không giữ đúng lời hứa để thực hiện cái việc ấy tối nay . . . Không, lời hứa của tôi phải được tôn trọng.  Điều này quá sức chịu đựng của tôi.  Thêm vào đó, tôi rất sợ bị nàng trả thù.  Điều này khá đúng đấy.  Ngoài ra còn có một việc khác đã xui khiến tôi hành động.  Cái gì thế?  Cái gì có quyền lực thật mạnh mẽ đã thúc đẩy một tên hèn nhát như tôi đến chổ giết người?  Tôi không thể thố lộ.  Tôi không thể thố lộ.  Nhưng rất có thể . . .  Không, không thể như thế được.  Tôi khinh bỉ nàng.  Tôi sợ nàng.  Tôi ghét nàng.  Và có thể, và có thể, có thể vì tôi yêu nàng.

Morito, tiếp tục đi đi lại lại, không nói thêm gì nữa.  Lời hát của một bài hát trữ tình được viết ra từ trong đêm ấy.

Trí óc của con người trong bóng tối
Không có ánh sáng soi lên
Nó cháy một ngọn lửa mà nhân loại quan tâm
Nhưng tàn rụi chỉ trong khoảnh khắc

Part II

Ban đêm dưới ánh đèn, Kesa đắm chìm trong suy nghĩ, nàng cắn tay áo của mình, và đứng quay lưng về ánh sáng.

Lời độc thoại của Kesa.

Hắn có đến hay không hay là hắn không đến.  Tôi tự hỏi.  Chuyện hắn không đến rất khó có thể xảy ra.  Trăng đã bắt đầu lặn, nhưng không nghe tiếng bước chân, biết đâu chừng hắn đổi ý.  Nếu như mà hắn không đến? . . .  Ta sẽ sống trong nhục nhã ngày này sang ngày khác như một con điếm.  Tại sao ta có thể đánh mất chính mình trong nhục nhã và tội lỗi đến thế?  Ta chẳng khác gì một xác chết bị ném bên lề đường.  Ta sẽ bị sỉ nhục và chà đạp khi mối nhục của ta bị phơi bày ra ánh sáng.  Tuy thế ta sẽ giữ im lặng như là một con ngu.  Trong trường hợp này ta sẽ mang nỗi tiếc nuối này xuống mộ.  Ta tin là hắn sẽ đến.

Ngay từ lúc ta nhìn vào mắt hắn, khi ta chia tay hắn ngày nọ, ta đã thuyết phục hắn đồng ý làm chuyện đó.  Hắn sợ ta.  Thật thế, nếu như ta chỉ dựa vào bản thân ta, ta không tin chắc ở hắn cho lắm.  Nhưng ta phải nhờ cậy hắn.  Ta nhờ vào lòng ích kỷ của hắn.  Ta nhờ vào cái sợ hãi đốn mạt đã mọc lên từ bản chất ích kỷ của hắn.

Nhưng từ khi ta không còn chỉ tự dựa vào chính bản thân nữa thì ta khốn khổ làm sao.  Từ xưa cho đến ba năm trước đây, ta tự tin vào chính bản thân, và trên hết, vào nhan sắc của mình.  Nói chính xác là “cho đến ngày hôm ấy” hơn là nói “ ba năm trước đây.”  Hôm ấy ta gặp hắn trong phòng ở nhà người cô, chỉ cần thoáng liếc vào trong mắt hắn ta đã thấy phản chiếu sự xấu xa đê tiện trong đầu hắn.  Hắn nói những lời yêu thương êm dịu với ta như thể mọi chuyện trên đời này đều không đáng để quan tâm.  Nhưng làm sao trái tim của một người đàn bà có thể được xoa dịu một khi đã nhìn thấy sự xấu xa bỉ ổi trong chính tâm hồn nàng?  Ta sợ hãi, khủng hoảng, và hối tiếc.  Cái ánh sáng nhợt nhạt bất an của một lần nguyệt thực mà ngày còn bé ta đã xem lúc còn được bế trên tay người vú nuôi có lẽ vẫn sáng hơn, tốt đẹp hơn so với sự tuyệt vọng quái đản đã làm đen tối trí óc ta lúc ấy.  Tất cả những mơ ước viễn ảnh tốt đẹp cho tương lai trong tim ta bỗng hoàn toàn biến mất.  Cái cảm giác đơn độc của một cơn mưa vào buổi sáng bỗng lặng lẽ bao trùm ta.  Rùng mình trong đơn độc, cuối cùng ta phó mặc thân thể ta, như một xác chết, trong vòng tay của một người đàn ông ta không yêu, vào vòng tay của người đàn ông dâm đãng một kẻ vừa ghét vừa khinh ta.  Có phải tôi không chịu nổi sự cô đơn của mình bởi vì cái xấu xí của tôi bị vạch trần sống sượng đập vào mặt tôi?  Có phải tôi cố che giấu mọi thứ trong cái giây phút chất ngất ấy bằng cách dấu mặt mình vào ngực hắn?  Hoặc là tôi bị chinh phục chỉ bởi cái khao khát rất nhục nhã cũng giống như hắn mà thôi?  Chỉ cần nghĩ đến chuyện ấy tôi đã thấy tràn ngập lòng mình một nỗi nhục nhã!  Nhục nhã thật.  Nhục nhã thật!  Đặc biêt lúc tôi nhấc mình ra khỏi vòng tay của hắn, tôi xấu hổ làm sao.

Nhàm chán và đơn lẻ làm tôi rơi nước mắt triền miên cho dù tôi cố gắng không khóc hết sức.  Tôi không những chỉ hối tiếc là mình bị mất danh dự, tôi còn bị tra tấn đau đớn hơn bởi vì tôi bị rẻ rúng hơn cả con chó bị cùi hủi mà người ta ghét và đánh đập.  Tôi đã làm gì từ lúc ấy?  Tôi chỉ có một kí ức mù mờ về về việc ấy như đó là một chuyện xa xôi trong trí nhớ.  Tôi chỉ nhớ giọng nói hắn thì thào, “mình giết Wataru đi,” và bộ ria mép của hắn cọ vào tai tôi lúc tôi khóc nấc.  Ngay lập tức lúc tôi nghe những lời này, tôi bỗng dưng nghe sống động một cách kỳ lạ.  Vâng, tôi nghe mình sinh động và rạng rỡ như ánh trăng xanh, nếu ánh sáng của mặt trăng có thể được xem là rạng rỡ.  Nói cho cùng, tôi có được an ủi bởi những lời này?  Ồ! Không đâu!  Có phải đàn bà là một hiện thể chỉ sung sướng khi được đàn ông yêu cho dù nàng phải giết chồng mình?

Tôi tiếp tục khóc một hồi lâu với sự cô đơn và cảm giác sống động như ánh trăng.  Tôi đã hứa giúp một tay vào việc giết chồng mình từ lúc nào?

Ngay đến lúc ấy hình ảnh chồng tôi cũng chưa đi vào trong óc tôi.  Tôi thành thật nói rằng không, ngay cả lúc ấy.  Cho đến khi ấy, toàn bộ trí óc tôi choáng ngập bởi chính tôi và cái mất danh dự của mình.  Rồi thì tôi tưởng tượng đến bộ mặt tuơi cười của chồng tôi, cái âm mưu lóa lên trong óc tôi.  Ngay lúc ấy, tôi quyết định tìm cái chết, và tôi rất mừng mình đã quyết định như thế.  Nhưng khi tôi ngừng khóc, ngẩng mặt lên và nhìn vào mặt hắn để nhìn thấy sự xấu xí của mình phản chiếu trong đó tôi cảm thấy dường như tất cả những vui sướng trong đời tôi mờ dần đi.  Nó làm tôi nghĩ đến cái bóng tối trên mặt trăng đang bị khuyết dần trong nguyệt thực mà tôi đã xem với người nhủ mẫu.  Đó, như tự lúc nào, tự bao giờ, giải phóng tôi ra khỏi mọi tư tưởng ác độc ẩn náu dưới vẻ ngoài vui sướng của tôi.  Đó, có phải vì tôi yêu chồng mà tôi muốn chết thế cho chàng?  Không, đó chỉ vì điều này hợp lí hợp tình, chỉ vì tôi muốn chuộc tội là tôi đã ngủ với người khác.  Không có đủ can đảm tự tử, tôi có cái khao khát ác độc là muốn giữ cái bề ngoài tốt đẹp với mọi người chung quanh.  Cái lòng ác độc này của tôi có thể được tha thứ.  Dưới cái ý tưởng mình chết thế cho chồng, phải chăng chính tôi đang âm mưu trừng phạt tình nhân của tôi với cái tội là hắn đã ghét bỏ tôi, khinh bỉ tôi, và cái lòng dâm dục khả ố của hắn dành cho tôi.  Điều này được chứng minh bằng một sự thật là cái nhìn thoáng qua mặt hắn đã dập tắt mọi những ánh lửa bí ẩn và mầu nhiệm của cuộc đời như là chút ánh sáng nhợt nhạt của mặt trăng và làm tê điếng cả lòng tôi với niềm hối tiếc.  Tôi sẽ chết, không phải chết cho chồng tôi mà cho chính tôi.  Tôi sẽ chết một cái chết để trừng phạt tình nhân của tôi đã làm tổn thương trái tim tôi và để trả đũa hắn đã xâm phạm thân thể tôi.  Ồ! Không những tôi không xứng đáng trong cuộc sống của tôi, tôi không xứng đáng ngay cả trong cái chết cho mình.

Nhưng bây giờ, chết một cái chết không xứng đáng vẫn xứng đáng hơn là sống.  Cười một cái cười gượng gạo, tôi lập đi lập lại lời hứa giúp hắn giết chồng tôi.  Bởi vì hắn rất khôn ngoan nhạy bén, hắn chắc là đoán ra từ lời nói của tôi cái hậu quả hắn phải chịu nếu hắn không giữ lời hứa.  Vì thế, dường như không thể xảy ra được sau khi hứa hẹn đủ điều hắn lại phản bội lời hứa.  Đó có phải tiếng gió?   Khi tôi nghĩ rằng tất cả khốn khổ của tôi bắt đầu từ ngày hôm ấy sẽ kết thúc đêm nay, tôi cảm thấy dễ chịu.  Ngày mai sẽ không thất bại trong việc chiếu ánh sáng lạnh lẽo trên cái xác không đầu của tôi.  Nếu chồng tôi nhìn thấy cái xác, anh ấy sẽ . . . không, tôi không muốn nghĩ đến anh ấy.  Chồng tôi yêu tôi nhưng tôi không còn đủ sức đáp lại tình yêu của anh ấy.  Tôi chỉ có thể yêu một người.  Và người đàn ông ấy sắp đến giết tôi đêm nay.  Ngay cả cái ánh sáng của ngọn nến này cũng trở nên sáng quá độ đối với tôi, bị tra tấn bởi tình nhân của mình, như chính tôi.

Kesa thổi tắt ngọn nến.  Không bao lâu, tiếng động khẽ khàng như tiếng mở cửa vang lên, và ánh trăng nhợt nhạt tràn vào.

 

Nguyễn Thị Hải Hà chuyển ngữ

Đôi Chim Bạch Yến

Tác giả: Yasunari Kawabata

Người dịch: Nguyễn thị Hải Hà

 

Thưa Bà:

Tôi xin lỗi đã thất hứa và viết thư cho Bà, chỉ một lần này thôi.

Tôi không thể tiếp tục nuôi giữ mấy con chim bạch yến tôi nhận của bà từ năm ngoái. Vợ tôi là người săn sóc mấy con chim này. Tôi chỉ ngắm chúng – và nghĩ đến Bà khi thấy mấy con chim này.

Có phải Bà là người đã nói, “Anh có vợ, và em cũng có chồng. Thôi ta đừng yêu nhau nữa. Phải chi anh đừng có vợ. Em tặng anh mấy con chim bạch yến này là để anh nhớ đến em. Anh nhìn chúng đi. Đôi bạch yến này trông như là vợ với chồng, nhưng thật ra chủ tiệm chỉ bắt bừa một con trống và một con mái rồi nhốt chúng vào chung một lồng. Tự chúng chẳng hề quen biết nhau. Thôi thì cứ nhìn chúng mà nhớ đến em. Nghĩ ra cũng kỳ quái khi đem tặng thú vật sống làm quà, nhưng kỷ niệm của chúng ta cũng đang sống đấy thôi. Rồi một ngày nào đó, đôi bạch yến này sẽ chết. Và, khi ấy kỷ niệm của chúng ta cũng phải chết theo, xin hãy để nó chết đi.”

Giờ đây, đôi bạch yến nhìn có vẻ như sắp chết. Người săn sóc chúng đã mất rồi. Một họa sĩ, bất cẩn và nghèo túng như tôi, không thể nuôi những con chim yếu ớt này. Nói thẳng ra, vợ tôi là người chăm sóc chúng, từ khi nàng qua đời, tôi không biết đôi chim này có chết theo nàng hay không. Và nếu đôi chim này chết, thưa Bà, có phải vợ tôi là người mang đến những kỷ niệm về bà hay không?

Tôi nghĩ đến thả đôi chim này, nhưng, từ khi vợ tôi mất, đôi cánh của cặp chim dường như trở nên yếu ớt. Thêm vào đó, đôi chim này rất xa lạ với bầu trời. Chúng không có người thân hay bạn bè, trong thành phố này hay trong khu rừng lân cận, để chúng có thể nhập đàn. Và nếu một con chim tách ra bay riêng, cả hai cũng sẽ chết một cách lẻ loi. Nhưng mà, chính Bà đã nói rằng, người chủ tiệm bán chim chỉ bắt bừa hai con chim một trống một mái rồi nhốt vào chung một chuồng.

Tôi không muốn đem bán chúng cho tiệm bán chim, vì Bà đã cho tôi mấy con chim này. Tôi cũng không muốn trả lại cho Bà, bởi vì vợ tôi là người đã nuôi mấy con chim. Thêm vào đó, mấy con chim này – có lẽ Bà đã quên bẵng chúng rồi – sẽ gây trở ngại cho Bà rất nhiều.

Tôi sẽ lập lại. Nhờ có vợ tôi mà đôi chim này còn sống đến bây giờ – làm kỷ vật gợi tôi nhớ đến Bà. Vì thế, thưa Bà, tôi muốn đôi chim này đi theo vợ tôi về cõi chết. Giữ cho kỷ niệm của Bà còn sống trong tôi không phải chỉ là một việc vợ tôi đã làm. Làm thế nào mà tôi có thể yêu một người đàn bà như Bà chứ? Không phải bởi vì vợ tôi đã ở với tôi sao? Vợ tôi đã giúp tôi quên hết những nỗi đau đớn trong đời. Nàng đã từ chối không nhìn thấy phân nửa phần đời của tôi. Nếu nàng không làm như thế, tôi chắc chắn là sẽ quay nhìn hướng khác, hoặc nhìn xuống chân, trước một người phụ nữ như Bà.

Thưa Bà, chắc là không sao chứ, nếu tôi giết đôi chim bạch yến này và chôn chúng vào cùng huyệt mộ với vợ tôi, phải không?

Trích trong tập truyện ngắn The Palm-of-Hands của Yasunari Kawabata.

Nhưng chỉ là giấc mơ thôi

Bài của người quen gửi đăng.

Tác giả: Nam Huân

Ba mươi tuổi tôi vẫn còn trinh. Không. Tôi không xấu xí cũng không có quan niệm bảo thủ phải giữ gìn trinh tiết cho đến khi lấy chồng. Quan niệm này chỉ thịnh hành ở Việt Nam vào thế kỷ trước.  Tôi không còn ở Việt Nam và không muốn lãng phí thì giờ lo nghĩ về những phong tục tập quán đã lỗi thời. Continue reading Nhưng chỉ là giấc mơ thôi