Bầu trời mùa xuân

Biết anh thích màu trời em đã bồi hồi chọn màu áo xanh. (Bảy Ngày Đợi Mong – Trần Thiện Thanh)

Màu áo xanh là màu tôi trót yêu (Thu Quyến Rũ – Đoàn Chuẩn Từ Linh)

Mùa này chim ngỗng Canada bay khắp nơi. Kêu inh ỏi một góc trời. Chỉ cần hai ba con cũng trở thành một cái chợ, a maddening crowd.

Quạ kêu nam đáo nữ phòng. Người dưng khác họ … (Ca dao)

Quạ là loài rất thông minh, có trí nhớ rất tốt. Cách đây chừng hai tuần tôi có xem một cuốn phim tài liệu (documentary) nói về chim quạ. Người ta nuôi một bầy chim quạ từ lúc mới ra đời, gắn sensory vào quạ rồi dùng máy theo dõi chim. Người ta làm một số thí nghiệm (test) để thử trí thông minh của quạ. Quạ có thể dùng một que ngắn để mở cửa lồng để thức ăn. Sau đó người ta làm khó hơn, khiến quạ phải dùng một que dài, khều cái que ngắn, rồi dùng que ngắn để mở cửa. Hơn nữa, người ta cột cái que dài ở một chỗ khác, quạ biết mở dây cột để lấy que dài, khều que ngắn, mở cửa lồng để thức ăn.

Quạ còn có thể nhớ mặt kẻ xấu nào đã làm hại loài quạ, như ném đá, hù dọa, giết quạ và các loại chim chóc khác. Người ta cho một người đeo mặt nạ đặc biệt, có màu sắc dễ nhận ra. Mỗi khi quạ thấy người này đều kêu lên để báo động với các bạn. Quạ có ít nhất là hai cách để trò chuyện đối đáp (communicate). Giữa loài quạ với nhau, lúc bình yên nó rù rì rủ rỉ, kêu tíu tít. Khi có nguy hiểm, chúng kêu quang quác, nghe như ác ác , cát cát. Hôm qua, ngồi nghỉ ăn trưa ở dọc bờ kênh tôi nghe hai con quạ đối đáp với nhau, không rù rì cũng không quang quác. Một con kêu như CO…À. Con kia đáp lại CO…Á. Một giọng trầm. Một giọng cao. Chẳng biết có phải một trống một mái, nam đáo nữ phòng hay không.

Thấy ngồ ngộ nên kể các bạn nghe, cho vui.

Nụ hoa mới chớm

Dường như xuân đang đến

Mấy hôm trước nói hết tuyết, biết là hơi sớm. Hôm nay nói dường như xuân đang đến, biết là cũng còn sớm lắm, nhưng thây kệ, cứ nói tướng lên như thế cho cảm thấy cuộc đời vui hơn. Thiệt là như vậy. Người ở xứ lạnh mong xuân, mong nắng. Niềm vui cuộc đời cũng chỉ giản dị đến thế thôi.

Tôi ngồi lẩn thẩn nhớ hai câu thơ, nghĩ là của cụ Bùi Giáng, nhưng bây giờ thì không chắc lắm, vì biết là mình hay nhớ sai. “Đêm nằm dưới lá trong cây. Bữa hôm nay mộng thấy ngày hôm qua.” Nhớ quàng nhớ xiên, từ chuyện nọ qua chuyện kia. Thật ra tôi muốn đặt tựa đề bài này là “bữa hôm nay kể chuyện ngày hôm qua.” Thay thế hai chữ mộng thấy bằng kể chuyện, nói vòng vo để đính chính mình mượn thơ Bùi Giáng, nếu không nói nguồn gốc cho rõ ràng thì mang tiếng đạo thơ. Mà nói ra rồi thì cũng e ngại bị chê là tầm chương trích cú, giả vờ như mình hay chữ, biết nhiều thơ.

Hôm nay nắng vàng rực rỡ, ngồi trong nhà mà nắng hắt từ ba cửa sổ, bên tay mặt là cửa sổ phòng khách, tay trái cửa sổ ngó ra sau rừng, sau lưng là cửa sổ ngó qua sân nhà bà Robyn. Trước mặt không có cửa sổ, ngó vào trong bếp thấy mấy cái muôi, spatula treo lòng thòng, nhà bếp tắt đèn chứ nếu ánh sáng mà từ trước mặt thì chói mắt khỏi viết luôn. Nắng rất to, nhưng trời rất lạnh. Sáng sớm cho thằng Xám ăn, trời lạnh cỡ 25 độ F. (-4 độ C.) gió vi vu thấy nó co ro ngồi chờ sẵn, thấy thương.

Mùa đông chắc chắn là khắc nghiệt với tất cả mọi loài, không chỉ với loài người. Hôm qua đi bộ con đường dọc bờ kênh Delaware và Raritan với ông Tám, tôi thấy hai bộ xương nai, vẫn còn màu đỏ tươi. Một bộ là của con nai con chết hồi tuần trước, bị tuyết lấp. Mấy hôm nay tuyết tan, xác con nai lộ ra. Có con thú nào đó đến rỉa gần hết, chỉ còn bộ xương sườn. Còn bộ xương kia thì ở xa hơn. Cũng là nai còn nhỏ, nhưng lớn hơn con nai con một chút. Đoán thế vì nhìn bộ xương sườn. Tội nghiệp cho hai con nai, nhưng cũng có loài thú nào đó, nhờ thế mà đỡ đói.

Có nghĩa là, trên con đường chúng tôi đi bộ, có những loài thú ăn thịt, chúng tôi chưa bao giờ gặp, và sẽ hiếm khi có dịp gặp. Những con thú ăn thịt chỉ xuất hiện vào ban đêm. Ngay cả trên cánh rừng sau nhà tôi, thỉnh thoảng tôi gặp cáo và có một vài con chưa bao giờ gặp, và không biết tên. Và có nghĩa là, ngoài kia, trong cuộc đời, trong thiên nhiên, cuộc tấn công đẫm máu, giành thức ăn, giành cuộc sống, luôn luôn tiếp diễn. Đời là một trường tranh đấu không ngừng. Nhiều lúc đang đi, nhìn xuống chân thấy lông chim vương vãi trên mặt đất, biết là có một con chim nào đó vừa mất mạng. Tội nghiệp. Những con chim bé bỏng hiền lành, thua cuộc, trở thành miếng ăn của những con chim to lớn, dữ dằn, nhưng cũng không kém phần đẹp đẽ như diều hâu, ó, và chim cắt (falcon).

Cuộc đời, luôn luôn là chỗ để (ít nhất là) hai khuynh hướng trái ngược nhau hiện diện. Kẻ đi săn đi giết. Người đi giúp đỡ, dưỡng nuôi. Hôm qua hôm kia gì đó, xem Netflix về những cuộc đi săn, có người đã nói rằng, họ đi săn vì họ yêu thiên nhiên, yêu đất đai và những con thú sống trên đất đai này. Tôi nghe nghịch lý nhưng sẽ không nói sâu về đề tài này, chỉ viết điểm này ở đây để suy nghĩ. Và cũng trong một buổi đi bộ ở Duke Farms tôi gặp cái này.

Tổ chim nhân tạo.

Cái này, là tổ chim nhân tạo. Mở cái cửa gỗ ra, bên trong là tổ chim. Có người nào đó, đã làm những cái tổ nhân tạo này để giúp các loài chim bị mất nơi làm tổ. Còn cái vòng kim loại quấn chung quanh cái trụ gỗ là để đề phòng các loại rắn, chuột có thể leo lên cây và chui vào cái lổ nhỏ bên trên mà tấn công chim hoặc ăn trứng chim. Sáng nay thấy nhà thơ Nguyễn thị Hải đăng một cái link có người đi đặt tổ cứu chim lam nên tôi nhớ ra cái tổ này tôi chụp mấy hôm trước. Ở vùng tôi ở, tổ chim này có lẽ là để giúp loại chim goldfinch, dịch là hoàng oanh hay hoàng yến gì đó, không chắc. Nếu không thì cũng là loại eastern bluebird, loại này to hơn goldfinch một chút, màu sắc không kém phần rực rỡ.

Chồi non

Sở dĩ tôi nghĩ xuân đang về, là bởi vì nhìn thấy từ trong tuyết, những mầm xanh đã xuất hiện. Hoa gì đây, sớm thế này chắc phải là crocus, hay daffodils. Mầm này to quá nên chắc không phải là snowdrops.

Những hôm nhiều tuyết, gió mạnh, tôi không gặp con hạc nào. Tuy vậy hôm qua nhiều lần hạc bay trước mặt nhưng không chụp ảnh kịp. Hôm đi bộ ở Duke Farms thì gặp ông già cô độc này.

Chim bay về núi tối rồi

Hết Tuyết

Ngủ một chân

Hồi còn nhỏ, ở Việt Nam, nhà tôi có nuôi gà vịt. Tôi thường thấy gà vịt ngủ chỉ đứng một chân. Bây giờ ở Hoa Kỳ, những lần đi bộ tôi gặp chim hạc (great blue heron và sandhill crane) và ngỗng cũng ngủ đứng một chân. Ảnh này chụp hôm 24 tháng 2 năm 2021, mặt đất đóng đầy tuyết, mỗi bước lún đến cả hai tấc. Liên tiếp hai ba hôm nay, trời ấm hơn độ đông nước đá, có nắng suốt ngày, nên tuyết tan. Hôm nay mưa, nhiệt độ ngoài trời chừng 2 độ C. và có thể lên đến 10 độ C. Tuyết ở sân trước nhà tôi tan gần hết, để lộ mặt đất. Bởi vậy tôi hy vọng là đã hết mùa tuyết năm 2021. Hy vọng này có thể nói là quá sớm, bởi vì chưa hết tháng Hai. Qua đến tháng Ba có thể có tuyết nhưng sẽ không đóng lâu trên mặt đất. Cứ hy vọng như thế cho đỡ buồn, cái buồn của người sống trên xứ tuyết.

Nhắc đến chữ xứ tuyết, tôi lại nhớ đến quyển truyện của ông Yasunari Kawabata. Tôi đọc một số truyện của ông trong đó có ba truyện ông viết có bối cảnh là tuyết. Truyện dài nhất là “Xứ Tuyết” (Snow Country) được dịch giả Edward Seidensticker, người dịch nhiều tác phẩm của Kawabata, khen là tác phẩm hay nhất. Truyện không dài lắm, có thể xem là novella. Còn hai truyện kia là truyện ngắn. “First Snow on Fuji” (Tuyết đầu mùa trên Phú Sĩ Sơn) in trong tuyển tập truyện ngắn cùng tựa đề do Michael Emmerich dịch và “Snow” (Tuyết) trong tuyển tập “Palm-of-the-Hand” (Lòng Bàn Tay) có hai dịch giả Lane Dunlop và J. Martin Holman. Riêng truyện ngắn “Snow” là do Lane Dunlop dịch.

“Tuyết đầu mùa trên Phú Sĩ Sơn” hầu như chẳng chú trọng gì đến tuyết. Truyện nói về hai người đã từng yêu nhau. Utako có thai với Jiro, nhưng đứa con bị cha mẹ Utako bắt phải đem cho và phải đoạn tuyệt với Jiro. Utako lập gia đình, có hai con, vừa mới ly dị thì tình cờ gặp lại Jiro ở trạm xe lửa. Hai người đi chung chuyến xe lửa đến Hakone, nơi có suối nước nóng. Jiro cho biết đứa con của hai người bị đem cho, về sau chết. Trên chuyến xe lửa Jiro chú ý đến tuyết vừa mới rơi đợt đầu tiên trên núi Phú Sĩ nhưng Utako không để ý vì mãi nghĩ đến chuyện xưa của hai người. Cho đến khi chia tay, nàng mới để ý là lớp tuyết cũng chẳng có gì đáng chú ý. Tôi định dùng chữ núi Fuji nhưng vì hồi xưa ở VN, người ta dùng chữ Phú Sĩ Sơn nghe cũng hay hay nên bây giờ lập lại từ này để… hoài cổ.

Tuyết trong truyện ngắn “Snow” chỉ là tuyết trong tưởng tượng. Hằng năm ông Noda Sankichi thuê một căn phòng trong một khách sạn cao nhiều tầng ở Tokyo. Ông gọi khách sạn này là Dream Hotel (Khách sạn Mơ). Và căn phòng ông thuê trong khách sạn ông đặt tên là Snow Room (Phòng Tuyết). Liên tiếp từ buổi chiều ngày đầu năm cho đến buổi sáng ngày thứ ba ông ở trong phòng tuyết để suy nghĩ và tưởng tượng về tuyết. Ông khép rèm, nhắm mắt, và khi ông “tịnh” đủ lâu thì tuyết sẽ xuất hiện trên tường, những đóa hoa tuyết to như hoa mẫu đơn, và bố ông sẽ xuất hiện, đặt ông lên vai vì ông sẽ biến trở lại thành một đứa bé bốn năm tuổi để ngắm tuyết. Rồi sau đó, tuyết sẽ xuất hiện trên những cánh chim, và ông nghe từ trên lưng chim tiếng vọng của những người tình trong quá khứ.

Xứ Tuyết là câu chuyện giữa Shimamura và nàng geisha Komako ở vùng suối nước nóng onsen Yuzawa. Shimamura là một người giàu có, do thừa hưởng gia tài. Tôi không biết chắc số tuổi nhưng đoán ông khoảng năm mươi. Komako còn trẻ, 19 tuổi, nhưng bị Shimamura cho là già trước tuổi. Với son phấn ông đoán Komako chừng 22 tuổi. Geisha, ai cũng bảo không làm điếm, không đi khách. Tuy vậy, geisha ở vùng núi cao, nhiều tuyết, có người cũng thỉnh thoảng vén rào. Không thể nói mối quan hệ giữa hai nhân vật là tình yêu. Shimamura thích Komako vì cô nàng trẻ, rất sạch sẽ, (viết đến đây thì tôi lại nhớ đến họa sĩ Andrew Wyeth, đã nghĩ về cô người mẫu khỏa thân Helga, rất sạch sẽ), hiểu biết về kịch kabuki, và vui chuyện. Komako thì đang cần một nhà giàu bảo trợ nàng nên quyết tâm chinh phục Shimamura. Có lẽ trong quá trình chinh phục này nàng đâm ra yêu ông nhà giàu, hay chỉ tưởng tượng là mình yêu.

Ở Shimamura, người đọc dễ nhận thấy ông không nhầm lẫn tình yêu. Với ông quan hệ với nàng nghệ nhân chỉ là giải trí và khoái lạc. Ông có vợ. Trên chuyến xe lửa đến vùng xứ tuyết ông gặp một phụ nữ trẻ có đôi mắt đẹp và giọng nói hay. Giọng nói hay, du dương đến độ ông cảm nhận được sự cô đơn trong giọng nói. Cô gái ấy tên là Yuko. Nàng đưa một người đàn ông, còn trẻ nhưng yếu đuối bệnh tật về xứ tuyết. Người đàn ông ấy là Yukio có mối quan hệ khá phức tạp với cả Yuko và Komako. Đôi mắt và giọng nói của Yuko đã ảnh hưởng rất nhiều đến quan hệ của Shimamura với Komako.

Yukio và Komako là bạn thời niên thiếu. Người ta đồn là hai người đã đính hôn nhưng Komako bảo là mẹ của Yukio có bàn đến chuyện đính hôn cho hai người nhưng không tiến hành. Mẹ của Yukio đã dạy nhạc cho Komako để nàng trở thành geisha, nên khi bà giáo dạy nhạc đau yếu, Komako về ở chung với cô giáo, làm việc để trả nợ cho anh con trai mắc nợ vì đau yếu. Yukio, quan hệ với Yuko không rõ ràng, có vẻ như là tình nhân với nhau, hay là vợ chồng không chính thức. Khi Yuko đưa Yukio về xứ tuyết Yuzawa (để chết) thì tình trạng khó xử xảy ra. Shimamura ngấm ngầm yêu thích Yuko càng làm tổn thương Komako.

Tuyết trong quyển này thì nhiều lắm, dày lắm. Chiều dày của tuyết có thể từ 7ft đến 15ft. Hoa tuyết thì to như hoa mẫu đơn. Người đọc dễ yêu thích truyện của Kawabata, vì ông khéo léo mang văn hóa mỹ thuật của Nhật vào tác phẩm. Trong Thousand Cranes (Ngàn Cánh Hạc) ông nói về trà đạo và gốm sứ. Trong Beauty and Sadness (Cái Đẹp và Nỗi Buồn) ông nói về vườn thiền. Trong Snow Country (Xứ Tuyết) ông nói về cuộc đời geisha ở vùng núi non tỉnh lẻ. Đặc biệt trong Xứ Tuyết ông nói về một loại vải người ta bện, dệt, phơi và nhuộm trong tuyết. Chijimi.

Hầu hết trong các tác phẩm của Kawabata mà tôi đã đọc qua, nhân vật nam không hề yêu say mê. Họ nếu có yêu thì chỉ yêu một cách hờ hững, tỉnh táo. Các nhân vật nữ chính của ông đều quằn quại với tình yêu của họ, thậm chí đi đến chỗ tự tử. Trong Xứ Tuyết cũng vậy, tôi thương hại cho nàng Komako dù rất có thể cô nàng cũng chẳng yêu thương gì ông Shimamura. Chỉ là một sự chinh phục, một cuộc gây dựng business không thành công.

Hồ Băng

Lang thang

Em nai này vẫn còn thơ dại lắm. Đi theo bố mẹ kiếm ăn, ngang qua cánh rừng sau nhà tôi.

Deer walk upon our mountains, and the quail
Whistle about us their spontaneous cries;
Sweet berries ripen in the wilderness;
And, in the isolation of the sky,
At evening, casual flocks of pigeons make
Abiguous undulations as they sink,
Downward to darkness, on extended wings.

Trích đoạn chót trong bài Sunday Morning của Wallach Stevens

Tuyết rơi nữa

Sáng nay (22 tháng 2, 2021) ngồi đọc báo, tôi nghe chim hót sau rừng. Trời chưa sáng hẳn nhưng tiếng chim làm tôi có cảm tưởng là mùa xuân đang về. Không để ý đến thời tiết, chừng 10 giờ ông Tám mới vừa đi chợ là tuyết rơi. Như đã nói không cơn tuyết nào giống cơn tuyết nào. Hôm nay gió mạnh, tuyết bay vùn vụt xoay như cơn lốc. Tuyết rơi càng lúc càng mạnh, bông tuyết càng lúc càng to, mặt đất tuyết dày hẳn lên. Điệu này ông Tám về không leo dốc lên được đến sân nhà, chắc là phải đậu xe ở dưới đường, sân nhà bà chị, đợi người ta dọn tuyết thì đem xe lên. Và chúng tôi cũng phải dọn tuyết đường xe chạy vào nhà chứa xe thì mới mang thức ăn vào nhà được. Tuyết ướt, trời ấm hơn mấy bữa trước, tuyết bám trên cành rất đẹp. Bụi trúc trước nhà bị tuyết nặng ngã nằm rạp xuống mặt tuyết trắng.

Mời các bạn xem hai đoạn phim ngắn, tuyết rơi sau nhà và trước nhà. Đứng ngay cửa quay phim. Trong đoạn phim trước nhà lẫn trong tiếng ồn của xe chạy ngoài đường highway có tiếng chim hót. Còn đoạn phim ở sau nhà nghe được tiếng còi xe lửa, đường rây cách nhà tôi chừng mười phút lái xe.

Trước nhà
Sau nhà

Lại thêm tuyết

Tôi rất thương cảm với người ở Texas trong những ngày qua. Cái nỗi khổ bị mất điện trong mùa đông tôi đã từng trải qua nên hiểu lắm. Thật ra chỉ hiểu, và thông cảm được một phần nào thôi, chứ với người ở xứ nóng, mà nhiệt độ xuống dưới không độ F., không có sưởi, không có nước, đó là một thiên tai, một thảm họa tôi không thể so sánh được với trải nghiệm cá nhân. Năm 2012 tôi bị mất điện ba tuần. Không có điện nghĩa là không có nước, không nấu ăn, không có sưởi, thậm chí không thể dùng nhà vệ sinh. Lúc đó là vào Thanksgiving cho đến Christmas, nhiệt độ ban đêm chừng mười mấy độ F. Chỉ cần dưới 50 độ F. là có thể chết người rồi (nếu phải chịu lạnh lâu) không cần đến độ âm. Cũng may là chúng tôi ở gần người thân có thể chạy sang tạm trú. Khi nghịch cảnh xảy ra, nhiều khi mình bơ vơ cô đơn lắm. Không phải lúc nào mình cũng được cứu vớt giúp đỡ.

Vói băng

Một số dây leo trên cây thòng xuống mặt kênh đóng băng và sau đó tuyết phủ lên trên mặt băng một lớp. Mùa hè, loại dây leo này mọc lá dày như một bức rèm, mùa thu đổi màu khá đẹp. Mùa đông chúng vẫn đẹp với cái vẻ khẳng khiu trơ trọi. Riêng nhánh dây leo này, nó khiến tôi liên tưởng đến một tác phẩm điêu khắc của Xu Bing (Từ Băng). Tác phẩm có tên Đàn Vượn Vói Trăng. Ở đây, những cành khô này trông giống như bàn tay khẳng khiu đang cố vói lấy mặt băng.

Mắt băng

Có một nhiếp ảnh gia, một trong mấy ông hay bà thầy của tôi bảo rằng trong thiên nhiên rất ít có hình tròn. Do đó nếu bạn gặp hình tròn thì hãy chụp ảnh nó. Đi trong Duke Farms, ngang một cái hồ nước đã đóng băng, chừa lại một vòng tròn. Trông giống như con mắt của hồ hay con mắt của băng. Bên cạnh là vết chân của con thú nào đó. Trên mặt băng, ở nhiều nơi, dọc theo bờ kênh D&R, hồ Watchung, hồ Surprise, tôi luôn ngạc nhiên nhìn thấy nhiều dấu chân của nhiều loại thú. Phải chăng ban đêm chúng kéo nhau lên mặt băng, đùa giỡn, nhảy múa, hay chỉ tìm thức ăn.

Sắc màu của mùa đông

Ở trên mái của một cái nhà bát giác, gọi là nhà vọng nguyệt cũng được, tuyết phủ đầy. Đây là loại mái lợp bằng gỗ. Ngày xưa người ta dùng gỗ red cedar (tùng đỏ), rất cứng và bền, có mùi thơm, có thể trừ mùi ẩm mốc, để làm tủ, và mái nhà. Ở gần mép của mái nhà bát giác nói trên, tuyết tan, để lộ nấm mọc trên gỗ (có nghĩa là gỗ đã bị mục) có màu xanh đỏ rất đẹp.

Ở New Jersey ít nhất là hai tuần nay cứ một hay hai ngày là có tuyết rơi. Lần đầu khoảng năm tấc. Các lần sau thì hai hay ba tấc. Rồi tuyết nhẹ hơn, mỏng hơn, không cơn tuyết nào giống cơn tuyết nào. Hôm qua tuyết rơi suốt ngày, bông tuyết nhỏ và nhẹ như lông tơ của chim, rơi đều đặn. Buổi chiều trời ấm hơn, tuyết tan bớt.

Hôm qua, phụ dọn tuyết với ông Tám được chừng nửa tiếng. Tuyết chung quanh nhiều khiến tôi nghĩ mình đang ở trên xứ tuyết. Sự liên tưởng này khiến tôi trùm mền đọc lại quyển Xứ Tuyết của Yasunari Kawabata mà tôi đọc đã lâu rồi quên, và ngạc nhiên thấy mình gạch dưới hoặc tô màu vàng lên một số câu văn. Quyển sách không dày, bạn có thể đọc một mạch chỉ một buổi chiều là hết. Edward G. Seidensticker, học giả và dịch giả, dịch quyển này sang tiếng Anh, trong phần giới thiệu ông ví tác phẩm này như bài haiku và cho rằng đây là tác phẩm hay nhất của Kawabata.

Tôi định viết thêm về quyển Xứ Tuyết nhưng thôi, để lúc khác.

Đi bộ đầu năm

Vừa là khai bút vừa là khai bước. Hôm qua chúng tôi làm chuyến đi bộ đầu năm. Đoạn đường khởi đầu, nhiều dấu chân người đi trước, tuyết đã bị nén xuống khá cứng nên dễ đi. Chừng một dặm (mile) đã thấy khó đi, dấu chân người thưa hẳn. Đi chưa đến 2 miles chúng tôi quay về.

Mặt kênh đã đóng băng khá cứng. Mấy con nai chạy trên mặt kênh, đuôi dựng lên trắng xóa như những ngọn cỏ lau. Loại nai đuôi trắng này nghe nói ở Texas có rất nhiều. Ở đây, mùa đông nai bị đói, bọn chúng ăn cả những dây leo đã trụi lá nhưng có lẽ còn non mềm. Buổi sáng sớm và chiều tối bọn nai tụ về sân nhà của Patti chúi đầu vào cái thùng thức ăn, có lẽ có rau bok choy và củ cải trắng, ăn say sưa ngon lành lắm.

Nai ăn sau nhà Patti.
Nai chạy trên mặt kênh đóng băng. Tiếng chân nai gõ xuống nền băng nghe như tiếng vó ngựa.
Nai ở sau bờ tường ngay trong sân nhà tôi.

Song song với con kênh là con sông. Đoạn này sông tên là Millstone. Ngỗng Canada đậu dọc theo con sông này rất nhiều. Nhiều vô số không đếm được. Hằng ngàn. Sông có những đoạn khá cạn. Nai có thể băng ngang sông dễ dàng.

Ngỗng tên là ngỗng Canada, nhưng chúng ở New Jersey không biết đã bao năm. Đi đâu cũng gặp. Mùa xuân bao nhiêu là ngỗng con mới nở đi theo bố mẹ ngỗng lang thang trên đường, trên bãi cỏ công viên, trên bãi đậu xe, hay dọc theo bờ kênh bờ sông. Những hôm trời lạnh, nhưng có mặt trời lên, nắng ấm, bọn chúng nằm phơi nắng trên bãi cỏ khuôn viên nhà thờ dọc bên bờ kênh, đầy sân cỏ. Thỉnh thoảng nghe tiếng kêu oang oác ngó lên trời là thấy chúng bay theo hình chữ V. Có khi chia làm hai ba đội liên tiếp nhau, mỗi đội cũng chừng cả trăm con. Thiếu loài ngỗng này bầu trời chắc lặng lẽ lắm. Ngỗng bay nhiều, gần phi trường là một nỗi lo sợ cho ngành hàng không. Rủi ro chúng húc vào hay bị hút vào các bộ máy của máy bay là tai họa lớn.

Một chùm trái hoang

Tết trong tuyết

Hôm qua, tôi thức giấc nhìn thấy ánh sáng giữa mấy tấm rèm cửa sổ. Nghĩ thầm đêm ba mươi giao thừa làm gì có trăng. Chắc là tuyết thôi. Quả đúng như vậy. Tuyết đổ chừng một tấc. Sau đó nắng lên. Tôi viết một bài nhưng bỏ nửa chừng đi dọn tuyết sáng nay đọc lại không muốn viết tiếp nên bỏ luôn. Viết cái khác.

Dự báo thời tiết hôm nay lạnh nhất sẽ là -9 độ C. Ấm nhất sẽ là -2 độ C. Chỉ hôm nay là có nắng ấm. Sẽ có tuyết liên tiếp bốn ngày cho đến thứ Tư tuần sau mới có nắng. Năm ngoái và năm kia trời đẹp, sang nhà cô em chồng ăn Tết đúng nghĩa với chữ ăn, tôm chua thịt luộc, giò thủ bánh chưng, v. v… . Ăn Tất niên rồi ăn Tân niên. Hôm sau Tết, sau khi đi viếng tro các cụ và người cháu, chúng tôi lại về nhà cô Trang ăn tiếp. Những năm mới sang Mỹ, Tết nào cũng bị bão tuyết. Có năm bị mất sưởi, vì chủ nhà hà tiện không đổ dầu vào lò nấu nước nóng. Tuyết nhiều không đi chợ được, trong nhà thiếu thức ăn. Tết đồng nghĩa với tuyết. Trong chữ tuyết có chữ tết.

Có sưởi và quần áo ấm người ta không thấy khổ vì tuyết, chứ tuyết nhiều cũng là một thiên tai. Nhà thơ Basho trong những câu haiku thật giản dị của ông người đọc cũng nhìn thấy cái khổ. Trong ngôi nhà có đứa con mới chết ông nhìn thấy đất trời đảo lộn từ những đoạn tre cong oằn dưới tuyết. Ngọn gió đông rát buốt khiến mặt của người ta sưng húp lên. Lạnh quá không ngủ được Basho thức giấc lắng nghe tiếng nứt rạn của những cái hũ đựng nước.

bending low – the joints,
the world, all upside down
bamboo under the snow

Oằn người, ở đoạn lóng
đảo lộn đất trời
tre nằm trong tuyết

a wintry gust
cheeks painfully swollen,
the face of a man

Gió đông
Má sưng phù đau đớn
Mặt người

the sound of a water jar
cracking on this icy night
as I lie awake

Tiếng hũ nước
rạn vỡ trong đêm giá băng
ta nằm thao thức

trích trong Basho and His Interpreters, Makoto Ueda biên soạn.

Tuyết xuống, nắng lên, tuyết tan thành nước, ban đêm nhiệt độ xuống thấp nước đóng thành băng, theo máng xối chảy xuống đọng đầy mặt đất rất nguy hiểm. Ngã trên băng có thể gãy xương, và chết người. Một cách để trị băng là rải muối hóa học và rải cát. Đường cũng có thể làm tan băng nhưng đắt tiền hơn và dĩ nhiên rít chịt nếu bị dính vào giày và người. Mùa tuyết, trời lạnh, ít vận động, di chuyển, người ta dễ trở nên trầm cảm. Chừng như chẳng có gì là thơ mộng về tuyết cả, ngoại trừ các cảnh trong phim.

Thật ra, có những khoảnh khắc, nếu bắt được, người ta có thể viết thành câu thơ. Tuyết bám trên cành cây rất dày. Một cánh chim bay ngang qua bầu trời, để rơi lại tiếng kêu. Âm thanh như rúng động bầu trời khiến tuyết rơi lả tả. Tiếng chim kêu, tiếng tuyết rơi, âm thanh của sự yên tĩnh và thinh lặng (the sound of silence) có là lời thơ, hay nốt nhạc? Tiếng chim kêu hay tiếng tuyết rơi vừa mới thành hình đã tan biến. Biển âm thanh thinh lặng vừa mở ra bởi sự khuấy động của chim đã nhanh chóng khép lại. Âm thanh chìm xuống hay bay vào hư vô?

Hôm qua, tôi rủ ông Tám vào Duke Farms chụp ảnh. Tôi muốn nhìn thấy cây cầu đỏ trên nền tuyết trắng. Thời tiết dự báo là không nắng vì nhiều mây, nhưng nắng thật là tràn trề. Chín mươi phần trăm ảnh tôi chụp bị nhiều ánh sáng quá. Ngang qua Coach Barn, nơi có cái đồng hồ và tháp chuông, chuông gióng mười hồi. Tiếng chuông trơn tuột trên cánh đồng tuyết trắng. Đuổi đi năm cũ, rước về năm mới. Đuổi đi bệnh tật, rước về bình an. Đuổi đi giả dối. Rước về chân thật. Đuổi chiến tranh đi. Rước hòa bình về cho cả thế giới. Hồi chuông gióng giả những âm thanh hạnh phúc.

Chiều về tiếp tục dọn tuyết, tôi xách máy ra chụp bụi trúc, trời hết nắng, chín mươi phần trăm ảnh buổi chiều bị thiếu ánh sáng nên đen thui. Cây trúc tượng trưng cho người quân tử, chẳng hiểu tại sao. Có phải vì nó rỗng ruột không che dấu mờ ám mưu mô? Hay vì nó thẳng, suông đuột, không khúc mắc như các loại cây khác. Bụi trúc nhà tôi, đa số toàn là cây thẳng, nhưng cũng có rất nhiều cây chẳng hiểu tại sao lại mọc theo hình chữ Z, zig zag như thể chúng ngúc ngoắc khi từ dưới đất trồi lên.

Tết nằm trong tuyết. Trời thiếu ánh sáng. Đêm rất dài, ngủ mãi không thấy trời sáng, nhưng hễ thấy trời sáng thì là trời tuyết. Tết chẳng biết chúc gì. Chúc mọi người, mọi nhà được an khương thịnh vượng. Ai cũng có tình yêu và được yêu thương. Những đêm dài tăm tối, tình thương cũng như ngọn đèn soi sáng, hay ngọn lửa nhỏ nhoi giúp chúng ta gần gũi với những người chúng ta yêu thương. Những người thân yêu, khi đi xa họ mang theo một phần trái tim của chúng ta trong trái tim của họ.

Tuyết

Đường tuyết

Đây không phải là tấm ảnh cũ mà bạn đã nhìn thấy trên blog này, hay trên FB. Đoạn đường cũ vẫn nằm đó tôi đi cả năm nay nhưng lớp tuyết thì rất mới. Ảnh chụp ngày 6 tháng Hai, năm 2021. Ngày hôm trước, hay trước nữa, tuyết rơi chừng 18 hay 20 inches (20 in. tương đương với 5 tấc). Hôm 6 tây, tôi với ông Tám đi bộ trên con đường tuyết này. Dự định đi và về 7.2 miles nhưng chỉ đi được gần 2 miles tôi đổi ý muốn về (cộng đường về là gần 4 miles), bởi vì tuyết dày quá, lún ngập chân khó đi. Tôi bước lên những bước chân người ta đã đi trước đó. Có người mang snow shoes đi để lại những vết vừa dài vừa rộng, tuyết nén xuống khá cứng, có lẽ người ấy phải cao lớn và to béo, tôi bước lên những vết chân ấy nên dễ đi hơn. Thầm nhớ vài câu trong một bài hát có lẽ cũng xưa lắm. “Đặt chân lên dấu chân người đã khuất. Trồng cây hoa lên dấu chân của người.” Dĩ nhiên đã khuất ở đây không hiểu theo nghĩa đã qua đời, mà chỉ là đã đi qua. Và chẳng ai có thể trồng hoa lên những dấu chân trên tuyết.

Đi độ gần 2 miles (tương đương 3 km) thì hết dấu của snow shoes. Có lẽ người ấy đi đến đó thì chán nên quay về. Và tôi thấy hết dấu chân để mình có thể nương theo thì đâm ra chán. Thật ra dù đã dẫm lên dấu chân cũ, đường rất khó đi. Tôi loạng choạng, xiêu vẹo, dò dẫm từng bước, rất chậm và mau mỏi. Cứ mỗi lần bước chân bị lún là chân bị vặn lại, chênh vênh. Tôi không ngã, nhưng có một người đàn ông da trắng cao lớn đang chạy (jogging) ngang, ngay trước mặt tôi ông ta ngã đánh uỵch có vẻ khá nặng. Nhờ trẻ và khỏe, ông đứng lên chạy tiếp, có vẻ hơi ngượng ngùng nhưng tôi đã kịp quay mặt đi giả vờ không để ý. Chuẩn bị quay về, tôi chụp tấm ảnh vẫn có dấu chân người nhưng không thấy rõ có lẽ tuyết rơi lấp bớt đi. Tôi định đặt tựa đề cho tấm ảnh. “Đường Trắng” nhưng chợt nhớ ra nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng có bài hát với câu “Ngày xưa Huế có con đường trắng, ơi, những con đường trắng”, con đường trắng ấy trước là đường học sinh đi học, năm 68 biến thành con đường khăn tang. Để tránh từ ngữ của nhạc sĩ TTT, tôi đặt tựa đề cho tấm ảnh tôi chụp là “Đường Tuyết.” Cũng trên đoạn đường này, có một con nai con nằm chết, chẳng hiểu vì lạnh hay vì đói, hay cả hai. Thấy thương tâm.

Hôm qua tuyết lại rơi chừng 6 hay 7 inches (độ tấc rưỡi). Không có cơn tuyết nào giống cơn tuyết nào. Tuyết hôm 6 tây, khô và xốp, rơi như bụi bay. Sau cơn tuyết có gió mạnh nên tuyết không đóng trên cành. Tuyết hôm 8 tây dày và nặng, mỗi cánh tuyết to như miếng bông gòn nhưng nặng hơn. Trời không gió nên tuyết đóng đầy trên cây. Sau đó trời lạnh dưới độ đông nước đá nên tuyết vẫn còn bám trên cây khá nhiều trông giống như những đóa hoa. Tuyết rơi, đường ít xe chạy, mọi tiếng động đều bị tuyết làm giảm bớt, vạn vật trở nên im lìm. Người ta dễ cảm thấy yên tĩnh hòa hợp với thiên nhiên. Cái tiếng động thân thiết nhất trong nhà là tiếng lò nấu nước nóng để sưởi.

Nắng sớm

Tôi chụp cả trăm tấm ảnh tuyết, chẳng có tấm nào đẹp, nhưng dù không đẹp thì cũng là công của mình chụp. Ảnh chẳng có gì, một cành cây bị tuyết bám, sau cơn tuyết rơi nắng lên. Tuyết, màu trắng tinh khôi, sáng lóa mắt. Ngay cả khi không có nắng vẫn lóa mắt, có nắng lại càng chói chang nhức mắt hơn. Ngay cả khi ở trong nhà, tôi có lúc phải đeo kính đen, nhất là lúc rửa chén đứng quay mặt ra cửa sổ hướng về cánh rừng sau nhà.

Tuyết thì trắng, dĩ nhiên rồi, nhưng thỉnh thoảng tôi cũng gặp từ ngữ tuyết đen hay black snow. Tìm tòi trên mạng không thấy gì, vài quyển sách có tựa đề black snow, truyện tranh, tiểu thuyết đen, loại án mạng, hình sự, tội ác, nhưng không giải thích nhiều. Chắp nối chỗ này một chút chỗ kia một chút, thì tuyết đen có thể dùng để chỉ tro (ash). Có nhiều loại cây hay lá khô sau khi cháy, tàn tro có màu trắng lẫn với màu đen. Tuyết đen cũng có thể ám chỉ một loại ma túy nào đó, bạch phiến chẳng hạn. Trong quyển Xứ Tuyết (Snow Country) của Yasunari Kawabata, ở đoạn mở đầu có nói thoáng qua về tuyết màu đen. Ở vùng núi, phía Bắc nước Nhật có khi tuyết rơi dày đến 15 feet (tương đương với 3 mét). Ngày xưa (vào thập niên bốn hay năm mươi của thế kỷ 20) nơi người ta dùng củi để đốt lò sưởi. Khói bay ra, xuyên qua mái tranh đóng tuyết dày, ám lại biến thành tuyết màu đen. Và với riêng tôi, tuyết rơi, nhất là ở thành phố, đất bẩn bám vào tuyết biến tuyết thành màu đen.

Tuyết không chỉ có màu trắng, nó còn có màu xanh nhạt, màu xanh giữa xanh lơ (pale blue) và xanh lục (pale green). Tôi tưởng chỉ tuyết ở vùng Bắc cực hay Nam cực nơi có khối băng khổng lồ và những lục địa dài hằng dặm, dặm này tiếp nối dặm kia, toàn tuyết thì tuyết mới có màu xanh. Thật ra khi dọn tuyết, và lúc đi bộ trên đường tuyết, tùy theo hướng ánh sáng, ở những vạt tuyết được xúc đổ thành đống cao như vách tường, hay trong những bước chân đã lún sâu của người đi trước, tôi thấy tuyết có màu xanh.

Dọn tuyết cũng như đi bộ tôi học được một bài học từ những điều nhỏ bé, nhưng vẫn làm tôi ngạc nhiên khi nhận ra cái quan trọng của những điều nhỏ bé và những việc làm nhỏ bé. Tôi nhận ra nếu tôi chỉ đi từng bước, bước chân này đặt trước bước chân kia, tôi có thể đi rất nhiều dặm đường. Mỗi lần đi bộ có thể đi đến 10 miles tương tương với 16 km. Mỗi lần xúc tuyết (nhìn ông Tám xúc tuyết bằng tay) cứ mỗi nhát xắn xuống tuyết như dùng nĩa xắn vào miếng bánh, vài giờ đồng hồ sau, cũng dọn sạch con đường phủ tuyết dày để lái xe đi chợ. Cứ thủng thẳng mà đi, thủng thẳng mà làm, kiến tha lâu đầy tổ.

Cũng ngạc nhiên là những vị thần chủ mạng của tuyết đa số là phụ nữ. Cổ tích Andersen có Snow Queen (Nữ hoàng tuyết). Truyền thuyết Nhật Bản có Yuki-onna (Bà Chúa Tuyết). Hy lạp cổ có Demeter. Còn nhiều nhưng tôi chỉ nhắc vài tên quen thuộc. Demeter tôi đã viết trước đây, vị thần của mùa màng thu hoạch, và chuyện cổ tích về trái lựu. Vì con gái của Demeter bị Diêm Vương bắt làm vợ, phải ở diêm cung 6 tháng, về trần 6 tháng, nỗi buồn mất con của Demeter khiến thế gian phải chịu 6 tháng từ mùa thu đến hết mùa đông. Mời bạn đọc thêm bài Trái Cấm.

Snow Queen thì hầu như ai cũng biết qua. Nữ hoàng Tuyết là một phụ nữ rất đẹp mặc toàn trắng đi cỗ xe băng. Nữ hoàng Tuyết đến với Kai ban đầu là một mảnh tuyết nhỏ (snow flake) đọng bên cạnh chậu hoa bên cửa sổ. Các tinh thể tuyết được bà của Kai gọi là snow bees (bầy ong tuyết). Bầy ong tuyết đã nuôi dưỡng nữ hoàng tuyết. Cậu bé Kai bị mảnh gương băng rơi vào trong mắt rồi chạy luồn vào trong tim khiến cậu trở nên độc ác. Kai bị nữ hoàng tuyết bắt đi đem giam vào lâu đài băng, hôn cậu bé hai lần. Lần đầu để cậu bé không còn biết lạnh. Lần thứ nhì để cậu bé quên đường về, quên cả cô bạn bé thơ Gerda. Nếu được nữ hoàng Tuyết hôn lần thứ ba là cậu sẽ vĩnh viễn thuộc về thế giới giá băng. Gerda đi tìm Kai dù mọi người đều nói rằng Kai đã chết. Lòng yêu thương đầy thơ ngây, và những giọt nước mắt của Gerda làm tan chảy hết mọi giá băng của lòng người cuối cùng mang Kai về với cõi người.

Yuki-onna, bà Chúa Tuyết, của Nhật Bản xuất hiện khá nhiều, nếu bạn thường xem phim hay đọc truyện của Nhật. Hình như ở một phim nào đó, có lẽ là Kwaidan, hay trong truyện của Hearns, hình ảnh về bà chúa Tuyết khá ghê rợn. Hai người tiều phu, một già một trẻ lỡ đường gặp cơn bão tuyết cùng trú ngụ ở một túp lều hoang. Nửa đêm có một phụ nữ mở cửa vào lều, đến chỗ ông tiều phu già, hớp hồn ông ta. Sang đến anh tiều phu trẻ, người phụ nữ, da trắng bệch đến gần như xanh, nói rằng vì ngươi còn trẻ khá đẹp trai nên ta tha cho. Nhưng nhà ngươi không được tiết lộ với bất cứ ai về tông tích của ta, nếu không ta sẽ giết nhà ngươi. Nói xong nàng biến đi. Anh tiều phu trẻ đến xem người tiều phu già, thì thấy ông đã chết.

Nhiều năm sau, chàng tiều phu ở với mẹ già, người trong làng xui chàng lập gia đình nhưng chàng nghèo quá không ai lấy. Ngày kia có cô gái trẻ lỡ đường, mệt, chàng đưa về nhà cho uống nước. Cô gái dễ thương, cảm mến tình cảm của chàng tiều phu và bà mẹ, nàng tình nguyện ở lại làm vợ chàng. Cuộc hôn nhân đầm ấm tốt đẹp hai người có một con trai. Ngày kia nhìn vợ đang kết giày, chàng bảo trông nàng giống bà chúa tuyết, chàng đã gặp một đêm khuya ở lều hoang trong rừng. Người vợ lập tức biến thành bà chúa tuyết và bảo rằng, “ta đã dặn ngươi không được nói đến tông tích của ta. Nay người phạm lỗi, nhưng vì có con với nhau nên ta tha chết.” Xong rồi nàng biến thành cơn gió bay ra cửa trong bão tuyết. Để chàng tiều phu một mình nuôi con.

Viết đến đây thì tôi có việc phải đi. Như thường lệ, bài tôi viết không có kết cục.