Đen trắng đứng bên nhau

Chim cốc và hạc trắng

Đàn hạc trắng tám hay chín con gặp bữa trước, mấy hôm nay không thấy bay thành đàn nhưng vẫn còn một hay hai con thỉnh thoảng gặp trên sông. Nói vậy, nhưng không biết hai con này có phải là hai con trong bầy hạc mấy hôm trước hay không.

Khi hai con hạc trắng bay sà xuống đậu bên cạnh hai con chim cốc thường xuyên đậu ở khúc sông cạn tôi thấy hai con hạc nhỏ bé quá so với chim cốc. Hay nó là cò? Ở đầm nuôi dưỡng chim cuối tiểu bang New Jersey tôi có gặp loại chim người Mỹ gọi là egret. Tò mò mở Wikipedia đọc thêm thì thấy egret cũng thuộc loại heron. Chim cốc mà so với great blue heron rất là nhỏ bé, mà heron trắng lại nhỏ hơn cả chim cốc.

Giá mà loài người cũng có thể sống hòa bình với nhau như hai loại chim này.

Hạc hạ cánh

Rất tiếc ảnh vừa nhỏ vừa mờ. Con hạc trắng ở bên kia sông nên rất nhỏ, ống kính chụp không tới, mà chim bay thì càng khó hơn. Hạc đẹp lúc đang bay, đang cất cánh, nhưng nếu chụp được cảnh lúc hạc đang hạ cánh càng đẹp hơn, vì lúc đó cánh nó giang rộng, xòe ra như cánh quạt, và nó cũng chậm hơn lúc đang bay.

Nhớ câu thơ Tản Đà trong bài Tống Biệt. “Cái hạc bay lên vút tận trời.”

Thời tiết

Mùa hè năm nay nóng và số ngày nóng nhiều hơn năm ngoái. Năm ngoái không hề phải mở máy lạnh. Tôi nhớ có nói là nếu mùa hè năm nào cũng như năm nay (tức là năm ngoái) thì tuyệt quá. Chỉ có một vài ngày lên đến 95 độ F. Năm nay số ngày vượt qua con số 100 cũng nhiều lần, ít nhất là liên tiếp hai ngày, rồi xuống ở mức 98, 99 độ F. cả hai ba tuần liên tiếp. Dự báo thời tiết là ngày mai, nhiệt độ sẽ xuống dưới 90 độ F.

Đi thư viện, những người làm việc trong thư viện quen mặt tôi thường nói chuyện dăm ba câu. Có người hỏi mùa hè của bà có đẹp lắm không. Tôi trả lời khá tốt. Ngoại trừ dăm ba ngày nóng không chịu nổi. Thế là cả hai người có nhiệm vụ cho mượn sách đều lên tiếng than phiền về cái nóng. Một cậu trẻ tuổi bảo rằng rất ghét cái nóng của mùa hè. Cậu thở không nổi. Tôi đồng ý, nhưng nói thêm rằng, có mùa hè thì chúng ta sẽ quý mùa thu và mùa đông hơn. Cậu và bà đồng nghiệp của cậu gật đầu công nhận.

Trong phim Reminiscence, tôi mới xem hôm qua, có nói về thời tiết ở Miami tuy nhiên có lẽ họ hơi nhấn mạnh, hay nói thêm, khiến có vẻ quá đáng. Vì nóng quá, nên người ta đa số chỉ hoạt động vào ban đêm, ban ngày, người ta rút vào trong nhà, mở máy lạnh, để trốn nóng. Thành phố trở nên vắng vẻ như thành phố chết. Khi tôi đến chơi thăm bà chị ở Texas, tôi thấy siêu thị mở cửa rất sớm. Chị ấy đi chợ lúc bảy giờ sáng chợ đã bắt đầu có người vào ra. Hôm kia tôi đi chợ vào giữa trưa, đứng ở bãi đậu xe hơi nóng hắt lên khiến tôi có cảm giác như muốn ngã nhưng chỉ thoáng qua rồi thôi. Lúc ấy chưa phải là lúc nóng nhất trong ngày, và nhiệt độ cao nhất người ta bảo rằng chỉ đến 99 độ F.. Lên xe về nhà, tôi nghĩ thầm, như vầy có lẽ mình cũng có thể chịu được cái nóng của Texas.

cái nấm mọc lên từ lớp đá sỏi

Con mèo đen, tôi thường gọi là Inkie hay ông Mun, đến ăn hình như năm 2018 hay có thể sớm hơn. Nhưng gần đây nó ở luôn ngay trên sân sau nhà tôi. Tôi dậy sớm đã thấy nó nằm ngay trên sàn gỗ. Trước khi đi ngủ cũng thấy nó nằm ở đó. Có vẻ như nó ngủ giữa trời chứ không ẩn núp vào bất cứ chỗ nào. Nó chỉ chạy vào bụi rậm để trốn một cái gì đó tạm thời, thí dụ như tôi bất chợt mở cửa bước ra ngoài. Nếu tôi mang thức ăn, mà không nhìn thấy nó thì nó lên tiếng cho tôi biết nó có mặt. Mỗi lần tôi mở cửa cho Nora ra ngoài thì nó mừng rỡ chạy đến đón Nora. Cả hai con mèo chào nhau, nhưng nếu Mun tỏ vẻ thân cận hơn mức có thể chịu được thì Nora xô ra, thậm chí đánh Mun. Và Mun thì bước xa ra vài bước rồi nằm lăn xuống sàn gỗ ưỡn bụng ra vẻ thân thiện và tin cậy.

Có khi tôi chậm cho ăn, nó kêu. Tiếng kêu của nó không to, chỉ thều thào như bị tắt nghẹn, nhưng tôi vẫn sợ hàng xóm phiền. Có ngày nào đó họ sẽ than phiền với trung tâm kiểm soát thú hoang và lúc đó thì mèo hoang trong đó có Xám và hai con mèo sọc vàng đều bị bắt hết. Con mèo sọc vàng, hay bị đổ ghèn mắt, không sợ và bỏ chạy khi tôi mang thức ăn ra. Cho nó ăn, tôi lấy tay rờ đầu nó, nó để yên không chống lại. Có thể nó là một trong năm con mèo mà con mèo mẹ Củ Gừng sinh ra, sau đó bị trung tâm kiểm soát thú hoang bắt mang đi. Tuy nhiên, con này không bị cắt một bên tai, hễ đã qua tay nhóm kiểm soát thú hoang thì người ta sẽ cắt một góc ở bên lỗ tai để làm dấu. Lần ấy, cô nàng trong nhóm kiểm soát thú hoang đã kể lại có một bà cụ than phiền là cụ không thể nuôi nổi số mèo đã lên đến 27 con trong nhà của cụ nữa. Một trong những việc làm được xem là nhân đạo là người ta bắt mèo, chích thuốc ngừa bệnh dại, triệt sản, rồi thả ra ở một chỗ nào đó, nếu có thể thì gần nông trại để chúng bắt chuột. Tuy vậy vẫn có con mèo nào đó trốn thoát, và vì vậy số mèo hoang vẫn còn. Cũng có thể hai con mèo sọc vàng, giống nhau như hệt, của một nhà nào đó nuôi rồi chán nên đuổi ra ngoài, do đó chúng ít sợ người nhất là khi được cho ăn. Hai con mèo này ăn nhiều lắm, ăn lâu và ăn ngấu nghiến, như đói lâu ngày. Cả hai con đều gầy bụng thóp lại, nhưng thuộc giống mèo lớn con. Ông Mun thì nhỏ con, tuy đã ít nhất là năm tuổi (theo tuổi người), nhưng vóc dáng chỉ bằng phân nửa Nora. Bà lão Nora lúc này to béo và bệ vệ đến độ ít khi rượt đuổi mấy con mèo lạ, và nếu chạy thì cũng không chạy xa.

Hoa màu hồng hay tím?

Thistle còn gọi là cây kế

Dọc đường đi bộ có nhiều cây này. Hoa kế nở từ đầu xuân cho đến cuối hè. Hoa thơm, có mùi ngọt, ong kiến bướm đều thích, la cà khá nhiều. Theo lời kể của Tống Mai, tôi tìm xem “lại” phim Brave Heart. Dù dự tính chỉ xem đoạn phim hai người tặng nhau hoa kế, tôi cũng xem hết phim. Tôi tưởng là đã xem phim này, nhưng có nhiều đoạn tôi không nhớ gì cả, chắc là vừa xem vừa ngủ gục. Người già thường hay ngủ những giấc ngắn gọi là ngủ quên. Và xem phim, với tôi, là một cách ngủ rất dễ dàng, ngay cả với phim hay. Tôi vẫn thường phải xem lại những đoạn phim tôi bỏ sót.

Xem phim, chúng ta có lẽ nên bỏ qua những chi tiết, mà người làm phim không thể mang vào trong phim, không thể giải thích, vì sẽ làm phim dài vô tận. Tuy nhiên, vì rút ngắn, nên có những lúc đoạn phim có vẻ như vô lý hay đạo diễn thiếu hiểu biết về thiên nhiên.

Trong Brave Heart, William Wallace khi còn là cậu bé, chứng kiến cảnh nước mất nhà tan, cha và anh vừa chết, được một cô bé an ủi, William hái một đóa hoa kế tặng Murron. Về sau, khi William lớn lên, gặp lại Murron, cô gái đưa đóa hoa kế được ép và giữ lại trong cái khăn tay. Có nghĩa là hai bên đã cảm mến nhau từ khi sáu bảy tuổi.

Nhìn hoa kế, bạn sẽ thấy nó toàn là gai. Hái một đóa hoa toàn gai để tặng, chắc chắn cả người cho lẫn người nhận sẽ bị gai châm. Gai cây này châm đau lắm nhé. Và đóa hoa đầy gai này nếu giữ cho đến chín mười năm thì chắc nó không còn nguyên màu sắc nữa. Đó là những chi tiết mà phim Brave Heart không chú ý. Đạo diễn dùng hoa kế, vì đây là quốc hoa của Tô Cách Lan. Brave Heart có bối cảnh là sự giành lại độc lập tự do của người Tô Cách Lan từ nước Anh vào cuối thế kỷ 13. Hoa có một truyền thuyết ly kỳ đã giúp người Tô Cách Lan đánh thắng sự xâm lăng của Norse.

Tyrol Knapweed còn gọi là Tyrol thistle

Hoa này, dùng Google Lens để tìm tên. Tôi ngạc nhiên là nó cũng được gọi là thistle (có thêm chữ Tyrol). Không có gai, màu cũng giống như màu hoa thistle, ở lưng chừng giữa hai màu hồng và tím. Thấy Wikipedia có ảnh cây này khá cao, nhưng lúc tôi nhìn thấy nó nằm gần sát mặt đất.

Cả hai loại thistle đều bị xem là có hại, vô ích, mọc tràn lan, phá hoại đất đai, chiếm đất của các loại cây khác.

Chuyện trên trời dưới đất

Con ốc vỏ màu cam

Mặc dù tôi là người hay chụp ảnh, nhưng người nhìn thấy những cái hay ho để chụp lại là ông Tám. Tôi đi bộ, thường để ý tìm hoa, chim, trái, những thứ ngang tầm mắt của mình. Ông Tám bảo chỗ vừa đi qua có hai con ốc sên. Tôi ngạc nhiên, vậy à, rồi quay trở lại. Ông chỉ xuống đất. Có con ốc đang bò vỏ màu cam. Tôi nói, chắc nó chết rồi. Ông nói, không đâu, nó mới bò lúc nãy. Nghe tiếng bước chân nó nằm im giả chết. Tôi ngồi xuống chụp tấm ảnh. Ông chỉ qua bên kia chừng một bước. Thì thấy con ốc vỏ màu vàng nhạt. Con này đang bò, thò cả hai cái ăng ten của nó ra.

Ốc màu vàng

Cái ăng ten của ốc có tên gọi riêng không? Nếu có gọi là gì? Có bạn nào biết chỉ giúp. Chẳng biết hai con ốc này đi từ đâu và sẽ đến đâu. Cách đó vài mét là con kênh. Còn hướng ngược lại là cỏ cây bụi rậm. Con sông ở bên kia vùng bụi rậm, khá xa, cũng vài chục mét. Chậm chạp như ốc sên, không biết đi đến bến sông có còn sống nổi với mặt trời nóng bỏng hay không. Đó là chưa kể bị đạp chết dưới bàn chân của những người đi bộ ngó trên trời như tôi, và những người đi xe đạp trên đường trail. Ông Tám nhặt hai con ốc thả xuống bờ kênh. Hy vọng nó sống sót thêm một thời gian, không bị rơi vào mỏ của chim cốc hay ngỗng Canada trước khi sinh sản thêm nòi giống.

Hạc xám vừa cất cánh

Tôi nhác thấy con hạc xám bên kia bờ sông, lại thấy một đốm trắng gần đó, hỏi ông Tám nhìn có phải chim không, vì mắt ông có thể nhìn xa hơn. Ông ngần ngừ nói không phải, nhưng khi đến gần hơn một chút thì thấy đốm trắng động đậy. Nhìn hình dáng của đốm trắng thì tôi đoán là phần đầu của con ó bạc đầu. Ông Tám nói chắc không phải, vì ở bên kia bờ sông khá xa, nên cả hai đều không thấy rõ. Ó bạc đầu mà tại sao đứng trên bãi đá cù lao của sông. Mùa hè năm nay ít mưa nên nước sông cạn dần, để lộ những bãi đá khá lớn như một hòn đảo. Tôi chưa kịp đưa máy ảnh lên để nhìn xem có phải là ó bạc đầu hay không thì nó vụt bay. Ông Tám và tôi tiếp tục, vừa đi vừa nhìn xuyên qua những chỗ trống của cây cối bụi rậm để xem có thể tìm được con ó bạc đầu, chỗ này cách tổ của nó những một mile (1.6km). Tôi lại nhác thấy con hạc chuẩn bị ngắm bằng ống kính thì ông Tám lại thấy con ó đang đậu trên cây. Khoan để chụp ảnh con hạc đã. Con hạc thì dễ chụp rồi tại vì có nhiều. Con ó ít gặp hơn. Thật đúng như vậy. Ông Kim Mao Sư Vương, một người đi bộ có mái tóc bạc trắng chúng tôi thỉnh thoảng gặp trên đường trail, cũng nói từng nói như vậy khi ông hỏi chúng tôi có thấy con ó bạc đầu mà ông đang tìm để chụp ảnh hay không mà chúng tôi chỉ chỗ con hạc xám.

Con ó bạc đầu đang đậu trên nhánh cây. Xa quá nên thấy nó nhỏ xíu. Bất chợt có cái gì rơi tòm xuống nước, nước bắn tung tóe. Chắc là nó làm rơi con cá. Con ó ngơ ngẩn, tìm kiếm, cứ ngó mãi xuống nước, vẻ nuối tiếc. Ngay từ đầu, tôi cứ lầm thầm bảo con ó, bay đi, bay lên để tôi chụp ảnh ó bay. Rồi bất chợt nó bay.

Ó bay sau khi mất mồi

Về nhà mở ảnh xem bằng computer tôi mới biết là khi con ó đậu trên bãi đá, nó đã có con cá khá to dưới chân. Nó mang con cá lên cây để ăn, chỉ nhìn cái đuôi cá cũng biết là con cá khá lớn.

Chập sau thì tôi lại chụp được ảnh con hạc cất cánh. Chân nó chạm mặt nước còn để lại một vệt nước bắn tung tóe.

Hong cánh

Hong cánh

Trời nóng, tôi đi bộ sớm hơn. Mùa đông đi lúc 10 giờ sáng. Mùa hè đi 7 giờ sáng. Mặt trời đã lên cao, nắng tràn trề. Tôi thấy con hạc đứng bên kia bờ sông, cánh lật ngửa ra, nhưng xa quá nhìn không rõ, nghĩ là nó bị vướng vào cái gì đó, miếng rác bằng plastic chẳng hạn. Tôi để ý xem nó ở khúc sông nào, đánh dấu đoạn đường nào trên đường trail, ngó qua bên kia bờ kênh là con đường nhỏ, hai làn xe chạy, nhớ xem nó gần cái tòa nhà nào, có trụ điện giao thông không, đại khái những chi tiết nhỏ để nhớ chứ đường trail trong rừng, và bờ sông thì rất dễ quên.

Suốt buổi đi bộ tôi vẫn nghĩ đến con hạc, sợ nó bị vướng plastic. Tôi thầm cầu mong là lúc về đừng gặp nó; bởi vì không gặp có nghĩa là nó vẫn còn bay được và không phải bị mắc kẹt. Suốt đường về tôi để ý nhìn mãi phía bên kia bờ sông.

Vẫn còn hong cánh

Và nó còn đứng nhưng đã đổi chỗ đứng. Từ trên bụi cây khô đã đi xuống sát mé nước. Về nhà mở computer xem ảnh, tôi bàng hoàng nghĩ là cả bộ cánh của nó kẹt trong một cái bao plastic. Như thế có nghĩa là nó có thể chết vì không bay được. Thấy xót xa nhưng không biết làm sao mà cứu.

Tôi lục lọi tài liệu trên mạng, và báo National Geographic. Lục lọi cầu may thôi, nhưng cám ơn internet, có nhiều người hiểu biết về great blue heron, họ nói cho biết là trời nóng, loài hạc thường hong cánh như vầy. Tôi thở phào nhẹ nhõm. Suốt ngày hôm qua tôi cứ thầm trách những người câu cá, và xả rác, làm khổ mấy con hạc. Chuyện đời thật thú vị, tuổi gần đất xa trời vẫn có nhiều điều về thiên nhiên, động vật chung quanh, mà mình không biết, nên không hiểu, hoặc là hiểu sai. Cho dù hiểu thêm một chút, biết thêm một chút cũng chẳng có lợi gì, nhưng ít ra mình cũng đỡ có những phút áy náy bất an.

Nhật ký đọc số 10

Không nhớ lý do nào mà tôi mượn quyển sách “People From My Neighboorhood” của Hiromi Kawakami bản dịch của Ted Goossen. Tôi thong thả đọc và thật sự enjoy quyển sách mỏng này. Quyển sách có ít nhất hai điều tôi cho rằng đáng được học, và học được. Thứ nhất tất cả các truyện của tập truyện này đều khá ngắn, độ chừng 3, hay 4 trang. Dễ cho người đọc tập trung vào đọc và không kịp chán hay ngán. Thứ hai, đây là thể loại truyện fantasy, có thể liệt vào nhóm truyện ma, một thứ truyện ma tân thời, không kinh dị. Truyện có thể rất vô lý, nhưng tác giả bất cần phải có lý. Độc giả, như tôi, chấp nhận sự vô lý như một cách nhìn khác, cách viết khác với khuôn mẫu có sẵn. Rất ít khi tôi bình tâm đọc, và enjoy, trọn vẹn một quyển sách. Và muốn đọc lại. Tác giả trẻ hơn tôi vài tuổi, nhưng xứng đáng làm thầy dạy tôi viết văn.

Chỉ tính viết vài hàng về quyển sách, nhưng lại muốn viết thêm vài hàng về cuốn phim, coi như xem phim cũng là một cách đọc. “Coda” (2019) nói về một nhạc sĩ dương cầm nổi tiếng nhưng ông bị chứng bệnh sợ hãi, lo lắng quá độ, mỗi khi trình diễn trước khán giả dù đó là một đại thính đường với vài ngàn khán thính giả, hay ở một sảnh đường của cửa hiệu bán dương cầm. Ông có một người bạn gái trẻ hơn ông khá nhiều đã tìm cách giúp ông vượt qua nỗi sợ này. Helen Morrison là phóng viên cho New Yorker. Có hai đoạn trong phim tôi chú ý. Đoạn Henry Cole, dương cầm thủ, qua một vùng cao nguyên, tỉnh nhỏ của Thụy Sĩ để tịnh dưỡng, chữa bệnh. Ông vui với thiên nhiên, tập xếp đá thành chồng cao, và ngồi trên một băng ghế gỗ để suy nghĩ. Tôi thích cái băng ghế gỗ này, một trong những park bench moments, một loại setting của phim. Tôi thường chú ý đến park bench moment. Và đoạn thứ hai, là đoạn khiến tôi muốn ghi lại như một thứ nhật ký đọc, đó là lúc Henry hỏi Helen tại sao cô viết. Nếu bạn là người viết, chăm chỉ và nghiêm túc, hay bạn chỉ là một nhà văn tài tử, hoặc tập sự, câu hỏi tại sao bạn viết thế nào cũng có một lần bạn gặp, nếu không do người khác hỏi, thì cũng do chính mình đặt ra.

Helen trả lời, “tôi viết để tôi tìm hiểu mình.” Đó là một câu trả lời hầu như tất cả người viết đều đồng ý.

năm con hạc trắng và một con hạc xám

Ảnh không liên quan gì đến bài viết. Tôi đăng ảnh vì nhớ bữa trước mừng rơn vì chụp được ảnh một con hạc trắng. Tôi cho là hôm ấy gặp hên vì dọc theo con sông này thấy hạc xám thôi chứ ít khi thấy hạc trắng. Vậy mà hôm kia (07/30/22) lại thấy một bầy hạc trắng ít nhất là 8 hay 9 con đậu làm hai chỗ. Một chỗ có 3 con đậu, còn chỗ trên tấm ảnh thì có năm con trắng, và một con xám. Có một hai chỗ hạc trắng đứng một mình. Người đi xe đạp trên đường trail cũng ngừng lại để nhìn. Họ đi đường trail này nhiều lần, chỉ lần này mới thấy nhiều hạc trắng như vậy. Hạc xám khi săn cá ít khi rời chỗ, chỉ lò dò chậm chạp tìm. Có khi đứng ở một khúc sông, bờ ao vài tiếng đồng hồ là chuyện thường. Hạc trắng ít gặp nhưng đậu một chỗ cũng khá lâu.

Vui mắt

Hoa mallow màu trắng mọc ven bờ kênh
Nghiêng gió
Dâu tằm

Cây này cao lớn, lá răng cưa. Người Mỹ gọi nó là mulberry, wineberry, tùy theo bạn vô tình click vào cái website hay blog nào đó. Google lenz cũng chỉ đoán chừng, chưa chắc đúng. Chắc vì nó cao lớn nên ca dao VN có câu. Anh đi em ở lại nhà, vườn dâu em đốn mẹ già em trông.

Bé bỏng

Con rùa bé lắm, chỉ lớn hơn đồng 25 cents chút xíu.

Nóng

Chuyện! Có gì lạ đâu mà kêu. Mùa hè thì phải nóng chứ. Không có cái nóng của mùa hè sẽ không thấy yêu mến mùa thu và mùa đông. Nhưng mà, kêu nóng vì nóng quá. Năm ngoái mùa hè không hề phải mở máy lạnh. Suốt cả tuần nay nhiệt độ ngày nào cũng mấp mé 101 độ F. lên xuống chừng một hay hai độ mà thôi. Tôi không nhớ lúc nào năm nào mùa hè lên đến hơn 100 độ F. mà đó là chưa kể heat index (khi độ ẩm cao, người ta sẽ cảm thấy nóng hơn nhiệt độ đo được). Nếu có chút gió thì không đến nỗi nào. Để tránh nóng, chúng tôi đi bộ sớm hơn. Mùa đông đi lúc 10 giờ sáng. Mấy hôm nay chúng tôi đi lúc 7 giờ, về nhà chưa đến 11 giờ mà nhiệt độ đã lên đến 90 F. Hễ trên 85 độ F. là thấy khó chịu nhưng vẫn còn ráng được.

Tối qua ve kêu trên ngọn cây suốt đêm. Nora ra ngoài sân chơi đến gần 12 giờ vẫn chưa muốn vào. Và Mun thì suốt buổi tối cứ quanh quẩn gần Nora. Mỗi lần ra ngoài gặp Mun, Nora đến gần và đưa chân rờ đầu Mun, cả hai cọ má với nhau xong rồi mỗi đứa ra nằm một góc. Không đánh nhau mà cũng chẳng thân thiện hơn. Sáng nay Xám cũng đến ăn. Nó ngồi thu lu một góc, mặt lừ lừ. Nora đến gần nó cũng chẳng phản ứng. Tôi đến gần, mang thức ăn, nó nép qua một bên chứ không bỏ chạy. Mun thì chạy biến khi thấy Xám ngồi bên tô thức ăn. Mun từ một kẻ đàn anh của Xám, giờ trở nên sợ hãi, có lẽ một trận thư hùng nào đó, Mun kém thế hơn?

Hai con mèo sọc vàng vẫn đến ăn. Một con già hơn, dạn dĩ hơn. Thỉnh thoảng trong đêm vẫn nghe tiếng mèo đánh nhau làm tôi ái ngại. Chỉ sợ hàng xóm bực mình kêu toán kiểm soát thú hoang bắt đi giết thì tội nghiệp. Mun lúc này nói nhiều lắm, cứ nói chuyện với Nora mãi nhưng Nora chẳng để vào tai. Nora tuy vẫn còn khỏe mạnh nhưng thật ra đã có tuổi lắm rồi. Nora 14 tuổi (theo tuổi người) tương đương 74 tuổi mèo. Béo ù, bệ vệ. Nhảy lên bàn cứ té lên té xuống mấy lần. Cả Nora và Mun đều đã triệt sản, nhưng tôi cứ e ngại khi thấy Mun đến gần Nora. Tự hỏi không biết theo thời gian bộ phận triệt sản của chúng có trở lại như trước khi triệt sản không?

À, mấy tuần nay không thấy con ó con. Hôm qua thấy con ó đầu bạc, có lẽ là ó bố đậu trên cây. Có lẽ ó con đã biết tự kiếm ăn và bay đi chỗ khác.

Rõ lẩm cẩm. Ngồi đây mà phân vân chuyện mèo với ó.

Chim cốc cất cánh
Chim cốc đậu trên ngọn cây cao

Từ trước đến nay chỉ thấy chim cốc bơi lặn trên sông. Giờ thấy nó đậu tuốt trên ngọn cây cao tôi ngạc nhiên. Nhưng nó là loại chim nước, đậu trên ngọn cây thì đâu có gì lạ.

Merganser
Vịt mái Mallard

Không mưa đã lâu nên nước sông cạn thấy đáy.

Silk tree

Silk tree, còn được gọi là silk plant. Tên khoa học là Albizia. Có cây thuộc dòng họ này được gọi là mimosa.

Cây cao lớn, chứ không giống như loại mimosa, hoa trinh nữ hay hoa mắc cỡ, có gai nhọn, mọc sát đất ở Việt Nam. Lá giống từa tựa lá cây hoa trinh nữ, và cũng giống lá cây me, cây điệp, cây phượng, và cây ô môi. Với con mắt người không thuộc nhóm nghiên cứu gia hay sinh vật học, thiên nhiên học, tôi nhìn thấy lá của mấy cây vừa nhắc đến giống từa tựa với nhau. Phải là mắt nhà nghề mới có thể phân tích sự khác biệt của những loại lá của các cây nói trên. Tôi chỉ tò mò muốn biết tên các loại cây trong vùng mình ở chứ không nghiên cứu về cây cỏ.

Mùa hè, đi bộ dọc theo bờ kênh, tháng Bảy là cây hoa này nở rộ. Có chừng ba hay bốn cây trên khoảng đường 9 miles (hơn 14 km.) Cứ mỗi lần đi ngang là tôi ngừng lại chụp vài tấm ảnh, hy vọng có tấm ảnh vừa ý. Tuy nhiên, như nhiều người đã bảo, nếu mình không thay đổi cách làm việc, trong trường hợp này là cách chụp ảnh, thì đừng ngạc nhiên tại sao kết quả không tốt hơn. Chụp đại thì hên xui, tùy theo ánh sáng, có khi tấm ảnh xem được, phần lớn là không.

Tôi thích chụp ảnh cây này, vì nó gợi tôi nhớ đến cây phượng, dù hai cây chẳng giống nhau bao nhiêu, ngoại trừ lá của chúng. Hoa cây phượng đỏ thắm hơn, cành nhánh thưa thớt hơn. Nó cũng gợi tôi nhớ đến cây ô môi, trước trường trung học tôi học thời xưa có trồng một cây, gần cột cờ. Lúc ấy, tôi cũng nghĩ hoa cây ô môi không đẹp bằng hoa cây phượng, vì màu của nó nhạt hơn. Giờ già, nghĩ rằng mỗi loại hoa có vẻ đẹp khác nhau. Mình quen với cái màu đỏ tươi, đập mạnh vào mắt, của cây phượng nên nghĩ rằng màu hoa không đỏ bằng thì không đẹp bằng. Giờ thì nghĩ, mỗi cái đẹp mỗi khác.

Cây có thể là biểu tượng của quê nhà. Với nhạc sĩ Chung Quân, có lẽ cây đa đầu làng là hình ảnh quê nhà của ông qua câu hát, “làng tôi có cây đa cao ngất tầng xanh.” Với nhạc sĩ Trịnh Công Sơn có lẽ “đường phượng bay mù không lối vào” là hình ảnh thành phố của ông. Tôi vẫn nhớ mãi cái cây màu trắng toát khi Gandall cưỡi ngựa chở Pipping về Gondor, hình ảnh của một quê hương thuở xưa thanh bình thịnh vượng.

Còn bạn, cây nào là hình ảnh của quê nhà?

Ở Illinois hai đêm một ngày rưỡi

Từ Louisville đến Urbana-Champaign chỉ độ ba giờ lái xe do đó chúng tôi có nhiều thì giờ hơn. Buổi chiều hôm đó cô út đưa chúng tôi đi xem Arboretum của đại học Illinois. Công viên khá rộng lớn bên trong có cả Japanese House và Garden, nhà kiểu cổ của người Nhật, có hàng rào, vườn hoa, đèn lồng, rất đẹp, rất đúng kiểu so với các botanical garden tôi đã xem ở Nhật.

Hôm sau cô đưa chúng tôi đến một công viên khác, lớn hơn, và cũng đẹp chẳng kém. Chỗ này ở Mahomet tên là Lake of the Woods Forest Preserve.

Một góc của Arboretum của đại học Illinois ở Urbana Champaign
Japanese House and Garden của Arboretum
Cầu treo trong Lake of the Woods Forest Preserve Mahomet Illinois
Một góc của Mabery Gelvin Botanical Garden thuộc Lake of the Woods
Tower Bell Carillon bên trong Lake of the Woods

Đây là một công viên thuộc cấp tiểu bang, rất rộng lớn tuy vậy ít người đến xem, không được tận dụng công trình xây dựng thật là uổng phí. Bên trong có viện bảo tàng có nhiều đồ trưng bày liên hệ đến Tổng Thống Linlcon.

Mabery Gelvin botanical garden có một thác nước ngay bên cạnh cái cầu đỏ, nếu mà tôi để ý hơn một chút, có thể đặt một phần thác vào chung tấm ảnh với cây cầu đỏ thì bức ảnh sẽ cho thấy được nhiều hơn.

Cái tháp có vẻ khá cao nên tôi ngại không muốn leo, giao hẹn chỉ lên cầu thang cho đến khi nào không lên được nữa thì thôi. Khi tôi ngừng thì cô út bảo chỉ còn một tầng nữa là đến chỗ cao nhất nên tôi ráng thêm một chút. Chỗ cao nhất có một cái trần nhà chắn ngang. Trên đó có lẽ có một cái thang kéo, đủ cho một người leo lên cao nữa để đến chỗ có cái chuông.

Trời nóng nên tôi vừa mệt vừa lười biếng. Công viên này rất rộng lớn có thể đi cả ngày vẫn chưa hết. Cái cầu có mái che ảnh đăng mấy bữa trước cũng nằm trong công viên này. Cô út cầm bản đồ dẫn chúng tôi đi thoăn thoắt, không lạc đường lần nào. Có vẻ như cô rành đường của công viên lắm, bởi vì tôi dù có cầm bản đồ trong tay nhưng vẫn mù mờ đi lạc thường xuyên như thể óc tôi thiếu cái gì đó có thể xác định vị trí vậy.

Nhiều khi cha mẹ không nên đi thăm con cái, vì có thể làm các con khó nghĩ, khó xử. Dù các con tôi rất chu đáo, và chúng tôi không ở lâu, tôi vẫn nhìn thấy sự lúng túng của các con, tụi nó cũng lo lắng là thiếu chu đáo, ăn món gì, đi chơi ở đâu. Cô lớn nhà tôi bỏ ra cả ngày để chiên bánh xèo. Chiên thì không lâu, nhưng chuẩn bị bột và nhân bánh xèo, làm nước chấm, rửa rau thì mất cả ngày. Cô cả đưa đi ăn Korean BBQ. Cô út đưa đi ăn pizza loại đặc biệt fancy ở nhà hàng Ý, nhà hàng Thái. Ăn trưa thì cô mang bánh bao, của cô chị gửi bố mẹ mang theo.

Khi từ biệt, tôi dường như nghe được tiếng thở ra nhè nhẹ của các con.

Cây cầu ngỗng

Cầu ngỗng

Ở Urbana-Champaign tiểu bang Illinois gần công viên Crystal Lake Park có cây cầu được dành tặng cho một con ngỗng, loại ngỗng lông trắng mà người ta gọi là ngỗng Tàu, khác với ngỗng Canada, lông màu nâu sậm mặt có sọc trắng. Cầu này ở trên đường Broadway, trước kia gọi là Broadway Bridge.

Con ngỗng chẳng có công trạng gì với thành phố. Chỉ vì nó sống lâu ngày ở dưới cây cầu này, được người trong vùng yêu mến. Săn sóc ngỗng lâu ngày khiến người săn sóc đâm ra có cảm tình gắn bó với ngỗng. Trong khi các loại chim khác bay về miền Nam để tránh lạnh, con ngỗng gọi là Chungking này ở lại. Những ngày mặt nước đông lạnh, nó uống nước dưới cầu, dòng nước chảy ra từ nhà máy lọc nước uống. Nước được lọc ấm hơn vì có chất muối, và vì nước chảy nên không đóng thành băng. Ngỗng sống ở chỗ này 18 năm. Có lần người ta bắt nó đưa vào bệnh viện chữa thú vật để trị vết thương ở chân bị làm độc vì vướng phải lưỡi câu.

Công viên này có rất nhiều ngỗng Canada và vịt Mallard. Tôi thấy đàn vịt Mallard hơn chục vịt con đi theo mẹ, ngủ ngay giữa dòng nước cạn để lộ đá cao hơn mặt nước.

Cái bảng bên trên cho biết ngỗng này là ngỗng trống. Người ta nói nó có vợ là con ngỗng Canada. Chẳng biết vì sao lạc đến nơi này, tuy nhiên, những người có máu làm báo cho biết là có người mang con ngỗng đến thả vào park có lẽ vì không muốn nuôi giữ nữa. Họ ném cả cái lồng nhốt ngỗng ở gần đó. Ngỗng chết vì tuổi già ai cũng mừng cho ông ngỗng.

Một ngày hai đêm ở Louisville

Ông Tám lái xe 12 giờ đồng hồ chở tôi đi thăm cô con gái lớn. Kể từ khi có dịch Covid chúng tôi không có dịp gặp nhau. Trên đường đi nhiều lần tôi gặp một loại hoa màu cam rực rỡ. Khi ngừng ở trạm nghỉ ở Ohio tôi thấy bảng thông tin các loại hoa dại mới biết đó là hoa Butterfly milkweed. Bướm thích loại milkweed, ở NJ milkweed có hoa từng chùm, mọc ở nách của mỗi nhánh, khi chưa nở hơi tím, khi nở hoa màu trắng, mọc cao đến ngực. Ở Ohio và Louisville (Kentucky) hoa cao chỉ đến đầu gối.

Butterfly milkweed, ảnh này chụp trong Bernheim Park. Có một meadow rất lớn cô lớn bảo mùa xuân nở đầy hoa.
Trạm nghỉ ngơi Ohio
Một bức tượng ở Ohmsted Ponds

Rất tiếc tôi đã không đến gần để đọc tên điêu khắc gia và tên bức tượng. Trời nóng và đi với nhiều người nên tôi ngại không muốn rề rà lâu quá sợ người đi cùng phật ý. Hồ Omsted được anh em gia đình Omsted thiết kế. Được thành lập từ năm 1939. Họ Omsted thiết kế cho nhiều công viên nổi tiếng như The White House, New York Central Park, Great Smoky Mountains National Park, và nhiều công viên khác ở Louiseville.

Tượng Forest Giant trong Bernheim Park

Tôi không chắc lắm, nhưng có lẽ đây là tượng Little Nis. Ngoài tượng này còn có Mama Loumari đang mang thai em bé Giant và Little Elena. Các công trình điêu khắc này của tác giả Thomas Dambo được thành hình từ năm 2020, trong khuôn viên Bernheim Arboretum and Research Forest.

Chúng tôi đến công viên vào ngày thứ Hai có nghĩa là ngày người ta phải đi làm, tuy vậy công viên cũng khá đông người. Chúng tôi đi bộ chỉ chừng hai miles vậy mà cũng thấy mệt vì trời nóng. Cô lớn nhà tôi chuẩn bị rất chu đáo. Cô mang bánh mì thịt kiểu Việt Nam để ăn trưa, làm tôi khá ngạc nhiên. Thấy con mình đã trưởng thành, biết tiết kiệm. Tôi mệt vì trời nóng nên khi về nhà trọ tôi ngủ mãi đến chiều. Cô đến nhà trọ chiên bánh xèo đãi bố mẹ mà tôi không biết, mãi khi cô chiên xong vào phòng đánh thức tôi.

Đêm đầu tiên, cô đưa chúng tôi đi ăn Korean Barbecue. Tôi đòi đi bộ, mà trời giáng xuống một trận mưa tầm tã, đường phố Louiseville ngập tràn nước mưa, chảy cuồn cuộn lênh láng. Cô phải gọi uber đưa chúng tôi về.

Cô đưa chúng tôi đi xem nhà máy làm rượu bourbon, nhưng tôi để máy ảnh và điện thoại trong xe nên không chụp được tấm ảnh nào. Coi như hẹn lần sau vậy.

Đường xa xôi quá, tuy cô hứa là cuối năm sẽ về nhưng thật tình tôi cũng không biết khi nào chúng tôi lại gặp nhau vì tình hình dịch bệnh vẫn còn và cô phải đi làm.

Hoa bị chê là dại

Elderberry

Wikipedia tiếng Việt xếp cây này vào họ Cơm Cháy. Wikipedia tiếng Anh nói cây có chất anthocyanidin màu tím sậm có thể dùng làm màu của thức ăn. Tuy vậy người ta khuyên là không nên ăn sống và ăn nhiều, thí dụ như xay để lấy nước uống trái elderberry có thể gây ngộ độc.

Hosta

Cây hoa này tuy mọc hoang, nhưng có bán trong các trại bán hoa. Dễ trồng dễ mọc, có thể lớn trong bóng râm vì vậy rất được yêu chuộng. Bắt nguồn từ Trung quốc và Nhật Bản nên được gọi là japonica.

Bác sĩ nhãn khoa Philipp von Siebold là người đầu tiên gửi loại hoa này từ Nhật về Leyden Botanical Garden. Người Nhật thời xưa chỉ cho phép người Dutch làm việc cho công ty East India Trading Company ở trên đảo Deshima Island mà không được đi chỗ nào khác. Siebold là người Đức, ông giả vờ là người Dutch ở trên núi miền xa của Holland nhưng vẫn không được tin cậy. Tuy nhiên vì là bác sĩ giỏi, ông được phép rời Deshima để đi mổ mắt cho bệnh nhân ở đất liền Nhật Bản. Ông đòi tiền công bằng các loại cây cỏ của Nhật, sau đó ông lén chuyển ra nước ngoài. Ông cưới vợ Nhật, có một người con gái. Năm 1829, ông bị bắt vì lén chuyển bản đồ nước Nhật ra nước ngoài, sau đó ông bị trục xuất khỏi nước Nhật. Ông yêu nước Nhật mặc quần áo Nhật cho đến khi tuổi già.

Hoa của cây Silk tree còn gọi là mimosa tree.
Thistle tiếng Việt gọi là cây kế

Biểu tượng của Scotland. Người xưa bảo rằng có thể dùng để chữa bệnh trầm cảm. Loại hoa này không mọc ở vườn địa đàng Eden. Sau khi Adam và Eve phạm tội, chúa bảo với Adam là từ rày về sau, Adam phải tự trồng và gặt hái thức ăn trên mặt đất có đầy gai nhọn và thistle. Bị xem là món quà của quỷ Satan, tượng trưng cho những công việc khó khăn cần phải lao động cực nhọc để đạt kết quả tốt. Hoa rất thơm, bướm và ong rất thích loại hoa này.

Cầu có mái che

Cầu có mái che

Từ lâu tôi có ý muốn đi xem cầu có mái che. Ở tiểu bang Pennsylvania, bên cạnh New Jersey có vài cây cầu loại này nhưng ở đồng quê, khá xa, và cũng khó tìm, nhất là người đến từ nơi xa. Hình như New Jersey cũng còn loại cầu này nhưng cái chuyện lái xe đi xa chỉ để chụp ảnh cây cầu có vẻ ngông cuồng quá nên thôi. Lần này tôi đi thăm con gái út ở Urbana-Champaign, cô đưa đến công viên Lake of the Woods Forest Preserves ở Mahomet, cách nhà cô chừng mười lăm hay hai chục phút lái xe. Ở đây tôi rất vui vì có cái cầu mái che, không hẹn mà gặp.

Cầu này chỉ dùng kiểu cũ, mới xây năm 1965, bản sao của Pepperel Bridge ở gần Boston, do kỹ sư German Gurfinkle giáo sư đại học Illinois thiết kế. Cầu cổ mới xây này là nơi rất được du khách chú ý.

Chuồn chuồn

Chuồn chuồn

Chuồn chuồn mắc phải nhện vương,
Đã trót quấn quít thì thương nhau cùng!

Trích từ Ca dao trữ tình Việt Nam – Nhà xuất bản Văn Học

Chuồn chuồn đậu ngọn mía mưng,
Em đà có chốn, anh đừng vãng lai.

Trích từ Ca dao Nam Trung Bộ – Nhà xuất bản Khoa học Xã hội.

Những câu ca dao về chuồn chuồn ghi lại từ trí nhớ

Chuồn chuồn bay thấp thì mưa,
Bay cao thì nắng, bay vừa thì râm

Chuồn chuồn có cánh thì bay,
Có hai thằng nhỏ thò tay bắt mày

Tình yêu mỏng dánh, như cánh chuồn chuồn
Khi vui nó đậu, khi buồn nó bay

Bài haiku dưới đây trích từ Haiku III: Summer/Autumn do R. H. Blyth biên soạn

In the evening sunlight,
The faint shadow of the wings
Of the dragonfly

Karo

Nắng chiều chập choạng
Cánh chuồn mỏng manh
Mờ mờ hắt bóng.

NTHH dịch

Con chuồn yên ả bay đi
Tôi thì yên ả những khi là mình
Muốn thanh bình nghĩ thanh bình
Muốn xinh thì dưỡng tâm mình tươi non.

Tác giả: Phạm Thùy Dung.

Foxglove

Foxglove

Dự báo thời tiết hôm nay sẽ nóng đến 94 độ F (34 độ C.) nhưng hiện giờ trời vẫn rất mát chỉ có 62 độ F (17 độ C.) thôi. Tôi mở quạt trần cho có gió phe phẩy. Mở cửa sổ cho tiếng chim tràn vào. Một trong những điều nho nhỏ làm tôi cảm thấy vui là chung quanh nhà tôi lúc nào cũng có tiếng chim, và mùa hè không khí thường mát hơn ở phố chợ vài ba độ, nhờ bóng râm.

Foxglove, Wikipidia Việt gọi là dương địa hoàng, mao địa hoàng, hay hoa lồng đèn. Người Mỹ cũng có nhiều chữ để gọi nó, bên cạnh foxglove (găng tay cáo), nó còn có tên fairy-bells (chuông của tiên), và ladies’-thimble. Thimble là cái chuông bằng kim loại được dùng để chụp lên ngón tay của những người may vá bằng tay, tránh bị kim đâm vào ngón tay.

Foxglove phát xuất từ tiếng Anh cổ foxes glofa, và hoa cũng có phần nào giống như những ngón của cái găng tay. George Eliot đã cho nhân vật của bà, Silas Marner, uống trà làm bằng foxglove để chữa bệnh sau khi bác sĩ không giúp ích gì. Kết quả là bệnh nhân lành bệnh. Người xưa tin là foxglove có thể chữa được bệnh phù thủng. Xưa là từ thời 1875, còn bây giờ thì chắc không ai dùng nữa.