Quay lại nhìn Mai Châu

Thích chụp ảnh có cái lợi là sau khi đi ngang một vùng đất nào đó, xem lại những tấm ảnh bạn chụp sẽ giống như quay lại ngắm chốn ấy thêm một lần nữa. Đây là căn hộ tôi ở lúc đến chơi ở Mai Châu (mãi hồi tháng Ba cơ). Cái thích được ở trong một ngôi nhà đẹp của tôi thật là trẻ con. Hai cô con gái của tôi lần đầu tiên được ở trong một khách sạn đẹp đã không chịu ra về. Bảo rằng ở đây đẹp quá, nhà mình không đẹp nên không muốn về. Lúc đi chơi Tam Cốc thấy mấy căn bungalow đẹp tôi đã thầm ước, ước gì mình ở đó một đêm.

Hai người mặc áo đỏ là hướng dẫn viên. Cậu trẻ người gầy hơn là phụ tá cho cậu kia. Điều đáng mừng là đội ngũ hướng dẫn viên đưa người ngoại quốc đi thăm các vùng quê ngoài Bắc đều có công lực nói tiếng Anh rất thâm hậu. Các cậu này nói tiếng Anh giỏi hơn cậu hướng dẫn viên đưa tôi và ông Tám đi Siam Reap và Pnom Penh. Cậu trẻ tuổi nói tiếng Anh giọng chuẩn như người sinh ra lớn lên ở Anh, Mỹ. Cậu hướng dẫn viên chính mua cái mũ kiểu của người H’Mong sau khi thấy ông Tám đội mà không mắc cỡ 🙂 Cô gái đội mũ xanh lá cây người Đức, đi vòng quanh thế giới một mình rất nhiều nơi và nhiều năm. Đi từ khi cô mới mười ba tuổi. Cô kể những chuyến du lịch một mình của cô thật là thú vị và cũng khá nhiều bất trắc. Cậu người Mỹ và cô gái Canada này quen nhau ở Nhật. Người Nhật khoảng hai thập niên gần đây thuê người dạy tiếng Anh cho dân Nhật rất nhiều. Những người nói tiếng Anh ở các nước, đặc biệt là người Á châu, thường được tuyển chọn vào chương trình dạy tiếng Anh ở Nhật. Cậu Mỹ và cô Canada gặp nhau ở Nhật và cùng rủ nhau đi du lịch ở VN. Cả hai đều thích du lịch thế giới, dùng Nhật làm điểm trung tâm, điểm gốc và từ đó đi các nước Á châu. Ngày đầu thấy cả hai còn ngại ngần, nhưng sang ngày thứ hai thì có vẻ như là đôi uyên ương.

Cậu mặc áo đỏ đội nón kiểu baseball là hướng dẫn viên người địa phương. Đây là vùng có đa số là người Thái trắng. Cậu chưa đầy ba mươi và đã có hai hay ba con.

Người ta thường đốt nhánh cây vụn trong rừng, một là dọn rác, hai là dùng tro để làm phân bón. Sáng sớm ở đây, khói bếp lẫn vào chung với sương sớm đi đâu cũng thấy bầu trời ngà ngà đục, mà nhớ câu hát khói lam chiều lên chơi vơi. Không phải khói chiều, nhưng cứ nhớ quàng xiên như thế. Người ta bảo rằng ngày còn chiến tranh người ta thường nấu cơm vào buổi sáng sớm hay chiều tối để không bị phát giác và đánh bom.

Leo tuốt lên núi cao rồi nhìn xuống thung lũng nơi có con sông lượn lờ quanh làng, “làng tôi có cây đa cao ngất từng xanh, có sông sâu lờ lững vờn quanh, êm xuôi về Nam.” Nhìn kỹ bạn sẽ thấy có người làm ruộng mặc cái áo màu hồng, nhỏ như cái chấm hồng giữa vạt màu xanh.

Ở đây sương khói mờ nhân ảnh.

Một thửa ruộng bậc thang.

Ruộng ai thì nấy đắp bờ.

Duyên ai nấy gặp đừng chờ uổng công

Dẫn nước về làng.

Đầu lâu và sừng trâu.

Gùi rau rừng.

Một người phụ nữ đang làm ruộng có nụ cười tươi tắn. Nàng rất dạn dĩ hoạt bát. Thấy tôi chụp ảnh nàng nói ở đây chỉ toàn rừng và ruộng, xấu lắm có gì đâu mà chụp ảnh. Nói đùa với cánh đàn ông thôi thì ở lại đây giúp chúng tôi làm ruộng làm vườn. Hỏi tôi là gì của ông Tám tôi nói là chị, nàng tin ngay. Bảo rằng chị em giống nhau đấy.

Mấy cái ống điếu rất đẹp. Cậu Mỹ mua một cái túi xách to bằng vải thổ cẩm, và hai cái ống điếu này, một để chưng trong nhà, một để tặng. Bảo rằng để chưng trong nhà là dễ bắt chuyện với khách đến chơi, và cậu thỉnh thoảng cũng hút thuốc lào một điếu.

Bà cụ ăn trầu, răng đen nhánh. Nhà bà có cái gác ở trên. Bên dưới là chỗ dệt và bán hàng. Bên trên để ngủ và nấu ăn.

Bên trên gác, chỗ nấu ăn và phòng ngủ.

Quả dứa rừng

Hà Nội ba mươi sáu phố phường

Lòng chàng có để một tơ vương
Chàng qua chiều ấy qua chiều khác,
Góp lại đường đi, vạn dặm đường.
(Thơ Nguyễn Bính)

Chép lại đoạn thơ, ngay câu đầu tôi đã tự hỏi “lòng chàng đã để một tơ vương” hay “ để một tơ vương?” Xem lại ảnh cũ ngày cuối cùng ở Hà Nội tôi đi vòng quanh các phố, chợt nhớ lại đoạn thơ của Nguyễn Bính viết về 36 phố Hà Nội. Có lẽ, chỉ một phần cái 36 phố này còn sót lại ở khu vực Phố Cổ ngày nay. Ba mươi sáu phố, nghe thì nhiều, tưởng rất rộng, ừ thì cũng rộng thật đấy, nhưng nếu thật sự muốn đi bộ thì cáng đáng 36 phố không phải là chuyện không thể thực hiện được (chẳng nhằm nhò gì với 4 hay 5 tiếng đồng hồ hiking trong rừng 🙂 xin phép bạn cho tôi nói phách một tí). Phố ở trong Phố Cổ lại rất ngắn. Bạn chỉ cần đi đến cuối đường, bị cắt ngang bởi một con đường khác, là cái phố bạn đang đi sẽ đổi thành tên khác. Từ Bắc xuống Nam, Hàng Than cắt ngang ở Hàng Dầu biến thành Hàng Giấy, chạy ngang chợ Đồng Xuân biến thành Đồng Xuân, cắt ngang ở Hàng Mã và Hàng Chiếu biến thành Hàng Dương, cắt ngang Lãn Ông và Hàng Buồm biến thành Hàng Ngang, sau đó biến thành Hàng Đào và chấm dứt ở hồ Hoàn Kiếm. Nếu bạn nghe bài hát “Hà Nội Ngày Tháng Cũ” ắt nhớ câu này “nhớ Hàng Bạc, nhớ qua Hàng Đào, nhớ cơn mưa phùn chạy ngang thành phố.” Và cũng trong bài này có câu “ai ra đi mà không nhớ về Tràng Thi ngày ấy, ta bên nhau.” Nhân vật trong bài hát của Song Ngọc, cũng như nhân vật trong bài thơ của Nguyễn Bính, họ yêu những “Hàng” những “Phố” của Hà Nội chỉ vì ở trong 36 phố phường này không có “bao nhiêu chim lạ bao nhiêu bướm. Không có gì đâu,” nhưng mà, “có một người.” (Thơ Nguyễn Bính). Người họ yêu. Nhờ có người này mà anh chàng trong thơ Nguyễn Bính đã đi tới đi lui mãi cho đến khi “ghép (hay góp) lại đường đi vạn dặm đường.” Tràng Thi thì ở đâu? Bạn có thắc mắc? Ở phía nam của hồ Hoàn Kiếm. “Đường” hay “Phố” Nguyễn Thái Học, biến thành Tràng Thi, rồi Hàng Khay rồi thành Tràng Tiền. Ở đây có nhiều nhà hàng, quán kem, quán bia, và nếu bạn đi loanh quanh hồ Hoàn Kiếm, bạn sẽ gặp rất nhiều quán kem. Ngày xưa ai nhắc đến kem bờ hồ cũng bảo là ngon phải biết. Ai nhắc kem bờ hồ, phải ông Duyên Anh không? Cái đám Thằng Vũ, Con Thúy, Thằng Côn rủ nhau đi chơi ở cầu Bo Thái Bình có kéo nhau ra Hà Nội đi ăn kem bờ hồ không? Tôi hỏi cái hồ trí nhớ đã dần dần khô cạn của tôi.

Nhà thờ St. Joseph.

Ở đây tôi bắt gặp một buổi chụp ảnh đám cưới, chụp nháp, ở trước mặt nhà thờ St. Joseph. Nhà thờ này chỉ vài cách Tràng Thi vài con phố.

Buổi sáng thấy người ta đi câu cá ở Hồ Tây. Ở đây, “chiều hồ Tây lao xao vài con sóng.” Đâu rồi “thoảng hương tóc em ngày qua. Ôi người em hồ Tây về nương chiều tà.”

Câu cá là một thú vui tao nhã, nhưng thường bị cấm. Tôi thấy ở hồ Tây cũng như ở kênh Nhiêu Lộc đều cấm câu cá. Trên đường đến chùa Trấn Quốc ở hồ Tây, tôi đi ngang hồ Trúc Bạch nơi có đền Quan Thánh thấy người ta câu cá. Sau đó thấy có một anh công an mặc đồng phục màu xanh lá cây đến, trong lúc anh loay hoay khóa xe máy, người ta cất hết dây câu, có người cất không kịp ném luôn xuống hồ. Các anh câu khôn ngoan không dùng cần câu, họ chỉ có dây câu quấn vào một cái ống hay cái vòng, và thủ tiêu chứng cớ nhanh như chớp. Tôi đoán anh Công An cũng chẳng muốn bắt ai, chỉ muốn đe dọa cầm chừng để người ta đừng làm quá, có lẽ sợ ô nhiễm hồ, vì nếu bắt người câu thì anh phải làm biên bản mất công. Vừa cực thân vừa bị nhân dân ghét 🙂

Chỗ này có lẽ nhiều cá bé vì thế có nhiều chim bé đến ăn mồi. Thấy chú chim này tha cái gì trên mỏ đây này.
Một quán cà phê buổi tối ở góc Hàng Phèn và Bát Sứ.

Đường phố nơi này thật là đáng yêu. Bạn sẽ thấy Hàng Cá, Hàng Chả Cá và Hàng Mắm gần bên nhau, nhưng tôi quên không tấp vào để xem Hàng Cá có bán cá và Hàng Mắm có bán mắm hay không.

Không đợi đến tuổi đọc thơ tình và học thơ Tiền Chiến tôi mới biết đến “Hà Nội ba mươi sáu phố phường của Nguyễn Bính. Tôi biết Hà Nội băm sáu phố phường từ thưở mới tập tành với ca dao.

Hà Nội băm sáu phố phường.
Hàng Mứt, Hàng Đường, Hàng Muối trắng tinh.
Từ ngày ta phải lòng mình
Bác Mẹ đi rình đã mấy mươi phen
Làm quen chẳng được nên quen
Làm bạn mất bạn ta liền quên nhau

Cửa Bắc thành Thăng Long

Nếu bạn lớn lên cùng thời với tôi ắt biết bài thơ của Tạ Tỵ có câu “thương về năm cửa ô xưa. Cửa ô ơi cửa ô, nhớ thương biết mấy cho vừa.” Đi ngang cửa Bắc hoàng thành Thăng Long Hà Nội, nơi đây ngài Hoàng Diệu cố thủ khi Pháp tấn công hoàng thành lần thứ hai vào ngày 25 tháng 4 năm 1882. Cửa Bắc bị hai vết đạn đại bác giờ vẫn còn lưu dấu. Thấy cửa Bắc chợt nhớ cửa ô mà ông Tạ Tỵ đã nhắc. Cửa ô là gì? Giờ có còn không? Đâu rồi “năm cửa ô sầu hắt hiu trong ngục tù.” (Trích bản nhạc Mưa Sài Gòn Mưa Hà Nội) Đâu rồi?

Tôi đi trong lòng 36 phố phường Hà Nội ngày nay vẫn lưu ý tìm dấu vết của một Hà Nội trong thơ cũ, nhạc cũ. Bạn sẽ tìm thấy rất nhiều hình ảnh của Hà Nội ngày xưa, ngày nay vẫn còn. Thí dụ như “Hà Nội ơi, phố phường dãi ánh trăng mơ, liễu mềm nhủ gió ngây thơ, thấu chăng lòng khách bơ vơ.” Và dưới đây bạn sẽ nhìn thấy hồ Gươm (Hoàn Kiếm) về đêm. Có lúc bạn sẽ nhìn thấy “có bóng trăng thơ in trên mặt hồ,” hay là “Hồ Gươm mù bóng gương xưa.” Tôi thì đã nhìn thấy “Hà Nội ơi, nước hồ là ánh gương soi.” Ơ, nhưng mà trong trí nhớ của tôi, tôi đã từng ngâm nga, mắt hồ là ánh gương soi. Mắt chứ không phải là nước. Nhưng mà, như đã nói, trí nhớ của tôi không còn đáng tin cậy cho lắm.

Có những thứ tôi đi tìm mà không thấy, hay chưa thấy. Lần đầu năm 2005 tôi hỏi cậu hướng dẫn viên, có bao giờ nhìn thấy trái cơm nguội chưa. Cậu bảo chưa, nhưng mà ở Hà Nội thì không có đâu, phải về quê cơ.

Hà Nội ơi, nước hồ là ánh gương soi.

Tôi biết có nhiều người, con, hay cháu, của (người) Hà Nội, nhưng chưa bao giờ có dịp nhìn thấy Hà Nội, có nhiều câu hỏi giống như tôi. Đâu rồi cây cơm nguội vàng. Đâu mùi Hoàng Lan, đâu rồi mùi hoa sữa. “Phố xưa nhà cổ, mái ngói thâm nâu.” thì thấy đây. Cây bàng lá đỏ thì không hiếm nhưng còn cây bàng mồ côi mùa đông thì ở đâu vậy hỡi người Hà Nội? Nếu bạn muốn tìm giậu bìm bìm cũ, hay hoa vông hoa gạo rơi tả tơi thì phải ra khỏi Hà Nội xa xa một chút, cỡ Tam Cốc Hoa Lư, hay gần nhất cũng phải Đường Lâm.

Cửa hàng mỹ nghệ ở phố Cổ Hà Nội, cô nhân viên (hay chủ tiệm) đang quét dọn.
Cửa hàng mỹ nghệ ở Lý Quốc Sư.
Một con đường trong phố Cổ nơi có nhiều phòng trưng bày tranh.
Đường ray (xe lửa) giữa lòng phố Cổ đông đúc chen chúc hàng quán và dân cư.
Một góc của phòng tranh, nơi hình ảnh của những sợi dây điện chằng chịt cũng được họa sĩ ghi lại bằng sơn.

Ở Phố Cổ, tôi nghĩ đáng lo lắng nhất là hỏa hoạn, có ít nhất là hai lần trong hai buổi tối khác nhau, tôi tận mắt nhìn thấy lửa xẹt ra ở những trụ điện nơi dây điện chằng chịt quấn vào nhau, chằng chịt hơn những sợ dây leo mọc trên cây trong rừng. Có ít nhất là một lần lửa cháy sinh ra mất điện, hàng quán tối thui. Một lần khác lửa bốc cháy mấy sợi dây điện có lớp nhựa bọc bên ngoài. Người ta đứng gần nhìn lo lắng. Dưới cột điện là ngõ sâu hun hút. Tôi lo sợ nếu lửa bốc ở đầu cái ngõ này, người trong ngõ chạy đi đâu?

Buổi tối tôi đến đây ăn lẩu. Có một bà trạc tuổi tôi, hay lớn hơn vài ba tuổi nói tiếng Anh và tiếng Pháp chào đón thực khách để giúp mấy đứa con đứa cháu
Phố Hỏa Lò và phố Hai Bà Trưng. Đi ngang đây nhớ ông McCain.
Bức tranh người thiếu nữ dân tộc
Thức ăn ở hè phố
Phố Thuốc Bắc và phố Hàng Vải. Phố Thuốc Bắc ở gần phố Lãn Ông. Một sự gần gũi đáng yêu.
Trái phật thủ
Tiệm bán khăn lụa. Chợt nhớ một câu thơ của một tác giả không mấy quen thuộc với tôi. “Trao nhau khăn lụa nhớ ngày sầu đưa.”

Tuy là chưa đủ ba mươi sáu phố nhưng tôi mỏi tay và chắc bạn cũng chán rồi. Thôi tạm dừng ở đây, mai mốt thèm thì viết tiếp.

Một đêm ở phố cổ

Cầu Thê Húc

Thời gian tôi ở Hà Nội không lâu và cũng không liên tục. Buổi sáng thức sớm đi tìm mua thức ăn sáng. Lên xe đi theo tour đến một nơi nào đó. Trở về lúc chiều tối, ra phố tìm thức ăn, về ngủ mai lại lên đường. Có một ngày ông Tám dắt tôi đi loanh quanh Hà Nội, vòng quanh Hồ Hoàn Kiếm. Cầu Thê Húc, chữ Thê bỗng làm tôi nhớ đến chữ thệ. Chữ Thệ lại khiến tôi nhớ đến hai câu thơ trong Chinh Phụ Ngâm.
Cầu thệ thủy ngồi trơ cổ độ
Bến thu phong đứng rũ tà hu
y

Gốc cây gạo

Tôi tưởng, trong tôi không có một trí nhớ nào về Hà Nội, vì thế tôi e rằng mình không thể so sánh một Hà Nội tôi gặp lần này với Hà Nội của Thạch Lam, hay của Dũng với Loan trong Đoạn Tuyệt của Nhất Linh, hay Hà Nội của Mai Thảo và Thanh Tâm Tuyền. Tôi chỉ biết một Hà Nội trong vài bài hát. Hà Nội ơi, dáng huyền tha thướt đê mê, tóc thề thả gió lê thê. Hay Hà Nội mùa này vắng những cơn mưa. Nhưng không hẳn thế. Thật ra tôi đến Hà Nội lần này là lần thứ hai, vào một ngày tháng Ba. Sau hai tuần nắng lửa ở Quảng Nam ngày nào cũng 35 hay 37 độ C, Hà Nội chỉ 21 hay 22 độ C thật mát mẻ dễ chịu. Buổi sáng thường có cơn mưa nhỏ đủ để ướt mặt đất, rồi tạnh. Tôi nhớ Hà Nội nhiều nhất qua câu thơ. Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm.

Tôi đến Hà Nội lần thứ nhất vào năm 2005. Bây giờ Hà Nội khác ngày xưa khá nhiều. Tân tiến sang trọng hơn. Nơi trình diễn múa rối nước là một ngôi nhà xây mấy tầng cao nghệu. Ngày ấy tôi ngồi xe cyclo đi vòng quanh phố cổ trong cơn mưa rào. Đi ngang Hồ Tây lần này, tôi nhớ lần trước anh hướng dẫn viên trẻ tuổi tên Trường dẫn chúng tôi đi bộ trên con đường bảo rằng: Đường Cổ Ngư xưa chầm chậm bước ta về.

Vừa chập choạng tối người ta trải chiếu dọc theo hai bên vỉa hè. Các cô cậu trẻ tuổi đang nhậu mực nướng.

Tôi rất ngạc nhiên khi thấy người ta trải chiếu dọc theo hai bên vỉa hè. Lúc mới đi ra phố ăn tối thấy chiếu trải trống trơn. Ăn tối xong về thấy các cô cậu ngồi đầy trên chiếu. Rồi tôi cũng tìm hiểu được. À thì ra ở đây có chỗ nướng mực khô bằng than. Xong rồi người ta lấy búa đập cho miếng mực thật mềm, tơi ra. Ở Sài Gòn vào đầu thập niên 70, dọc theo bến sông Bạch Đằng có những xe bán mực nướng, lạc rang, mía hấp. Thường thường, các ông (thường là người Tàu) bán mực nướng này có cái máy cán mực khô cho mềm ra. Ở những hẻm nhỏ nghèo hơn thì người ta mới dùng búa đập mực khô cho mềm.

Dạo phố cổ ban đêm.
Một hàng thủ công mỹ nghệ ở cạnh hồ Hoàn Kiếm
Ai nhậu mực nướng đê.
Sắc màu Hà Nội
Màu tường vàng đặc sắc.
Đang nhắm cửa hàng mặt nạ thì cậu này chạy xe ngang. May thật. Chỗ này tôi đi mắt nhắm mắt mở thế nào mà vấp ngã đập ngực xuống đường, đau đi không nổi. Ông Tám hăng hái đi phía trước không biết.
“Nhớ hàng Bạc, nhớ qua hàng Đào, nhớ cơn mưa phùn đội mưa mà đi….”
Phòng triển lãm tranh, tranh cổ động tuyên truyền thời xưa cũ.
Cà cherries? Hỏi ông Tám quả gì thế ông bảo không biết có lẽ là quả cà. Té ra không phải, có bạn mách giúp đây là quả nhót chua lắm lắm. Có ai ngờ màu đỏ tươi như thế mà lại chua.
Cà phê đêm. Hà Nội lúc nào cũng có xe chạy vào bức ảnh của tôi.
Tháp Rùa ở hồ Gươm

Sáng Chủ Nhật tĩnh tâm bằng thơ

Trong cuộc hành trình đi tìm điểm trú ngụ của tâm hồn mình, thỉnh thoảng tôi có cảm tưởng như mình tìm thấy, rồi ngay sau đó tôi đánh mất. Long rong mãi, lâu lâu, tôi dừng lại, tĩnh tâm bằng cách đọc thơ. Và chép thơ, chấm bút vào mực, chép từng câu. Sáng nay đi quanh tìm hoài, tôi dạo tới dạo lui mấy bài hát của ông Cohen, thơ của Rumi, và thơ của Tô Thùy Yên. Xin chia sẻ cùng bạn.

Đá Mộng – Tô Thùy Yên

Nhìn đá, ta định chừng đá ngủ.
Phải chăng đá giú mộng trong lòng?
Tại đây đá sống đời lâu nhất,
Đá rõ điều ta muốn rõ không?

Trích thơ Jalalu’ddin Rumi – bản dịch tiếng Anh của Philip Dunn và Manuela Dunn Mácetti

The senses and thoughts are like weeds on the clear water’s surface.
The hand of the heart sweeps the weeds aside: then the water is revealed to the heart.
Unless Allah loose the hand of the heart, the weeds on our water are increased by worldly desires.
When piety has chained the hands of desire, Allah looses the hands of the heart.

Cảm giác và tư tưởng giống như cỏ rong trên mặt nước trong.
Bàn tay của trái tim vẹt cỏ rong sang một bên: nước trong hiện ra trước trái tim.
Trừ khi Allah buông lơi bàn tay của trái tim, cỏ rong trong nước sẽ mọc tràn lan bởi những thèm khát của thế tục.
Khi đức tin tôn giáo giam cầm bàn tay của thèm khát, Allah buông lơi bàn tay của trái tim.

Bird On A Wire – Leonard Cohen

Like a bird,
On a wire
Like a drunk
In a midnight choir
I have tried
In my way
To be free

Như con chim,
Trên sợi dây
Như gã say
Trong ca đoàn lúc nửa đêm
Tôi cố gắng
Bằng cách của tôi
Để được tự do

Bài hát “Chim Đậu Trên Sợi Dây” qua giọng hát của ông Leonard Cohen.
Một loại hoa dại nhỏ li ti mọc chung quanh bụi rậm, có bóng mát.

Tình Yêu Không Chỉ Là Viên Kẹo

Tình Yêu Không Chỉ Là Viên Kẹo. Sáng tác của Ngô Huy Khánh Trân. Ca sĩ Tuyết Mai .
CD Những Khúc Tình Thu của Ngô Huy Khánh Trân
CD Hoài Niệm của Ngô Huy Khánh Trân

Ở đây đang giữa mùa hạ. Từ hôm 8 tháng Sáu tôi đã thấy đom đóm lập lòe khắp nơi, từ khóm trúc trước nhà đến khu rừng tối om ở sân sau. Mưa to liên tiếp mấy ngày, có những hôm sương mù vây kín từ trên đồi Warren xuống thung lũng Green Brook. Buổi sáng chim hót vang trời, tiếng chim chìm vào tiếng mưa rơi. Trưa nay mưa tạnh, nắng ráo, trời cao. Trong cái không khí nhẹ nhàng, nhà vắng lặng, tôi nằm nghe nhạc. Hai cái CD Ngô Huy Khánh Trân gửi tặng tuần trước nữa, nhưng tôi để dành mãi đến hôm nay. Chỉ nghe nhạc thôi không làm bất cứ việc gì trong lúc nghe, và nghe bằng máy nghe CD chứ không nghe bằng computer. Tiếng nhạc vì thế trong trẻo hơn, du dương hơn. CD Hoài Niệm và CD Những Khúc Tình Thu

Nhạc của Ngô Huy Khánh Trân ngọt ngào, du dương, lãng mạn, rất nữ tính, rất nghệ sĩ, rất đẹp, rất thơ. CD trình bày rất đẹp. Mỗi CD có kèm theo một tập ca từ. Ca từ của mỗi bản nhạc là một bài thơ in trên giấy láng, phông nền là bức ảnh thật đẹp.

Hai CD, mỗi CD có 11 bản nhạc. Cả hơn hai mươi bản nhạc, bài nào cũng hay. Nhạc của Ngô Huy Khánh Trân, đằm thắm, ấm áp, dịu dàng, đượm một nỗi buồn nhẹ nhàng, như mùa Thu. Có những bản nghe một lần là chú ý mãi không quên, như bản “Sakura, Nhớ Một Mùa Hoa.” Tôi mời bạn nghe bài hát “Tình Yêu Không Chỉ Là Viên Kẹo” qua giọng hát của Tuyết Mai. Bài hát có những câu làm tôi chú ý.

Tình Yêu chẳng là viên kẹo luôn ngọt thơm.
Đóa hồng trong tay gai cào tìm nhỏ máu…

Xin mời bạn nghe.

Những người tôi gặp ở Hạ Long

Buổi sáng ở vịnh Hạ Long, cảnh trí của hằng ngàn hòn đảo giống như những nét chấm phá trên bức tranh vẽ bằng mực đen

Cũng như chuyến đi chùa Hương, ngoài phong cảnh hùng vĩ, điểm thú vị của chuyến đi là những người tôi gặp. Ngày đầu tiên trên chuyến taxi đưa người từ thuyền lớn sang đảo, tôi gặp một nhóm người trẻ tuổi, chừng mười hai mười ba cho đến mười tám mười chín. Người Á châu nhưng nói tiếng Anh rất giỏi, và cũng choai choai nghịch ngợm ồn ào như những người Mỹ trẻ tuổi. Đám bạn trẻ này đi chung với người mẹ độ hơn bốn mươi, và đôi vợ chồng lớn tuổi hơn, tôi đoán là ông bà (ngoại). Bà trạc tuổi bảy mươi, luôn luôn quấn khăn có lẽ theo Hồi giáo, có giọng nói từ tốn ôn hòa. Trước khi lấy chồng, bà làm cô giáo, bà kể nhưng tôi không nhớ rõ, có lẽ chuyên dạy môn mỹ thuật. Sau khi lấy chồng bà ở nhà nuôi con và làm việc giúp chồng. Với cái tuổi hơn bảy mươi, thuộc thế hệ trước, mà bà nói chuyện toàn bằng tiếng Anh, thứ tiếng Anh chuẩn mực học từ trường lớp, làm tôi kính nể. Bà cho biết gia đình bà là người Mã Lai. Cha mẹ bà bắt bà học chương trình Anh từ nhỏ.

Bà vợ ông cựu Đại sứ Mã Lai

Khi biết bà là người Mã Lai, tôi nói với bà tôi là người Việt từng là thuyền nhân tị nạn trên đảo Bidong của Mã Lai. Bà thố lộ trong cuộc trò chuyện, ông chồng bà, là cựu Đại sứ cho Mã Lai ở Việt Nam vào những năm 1990’s. Bà có nói năm nào, nhưng bây giờ thì tôi không còn nhớ. Tôi phải tập ghi chép những chi tiết nho nhỏ trong các chuyến đi sắp đến của mình. Tôi nhấn mạnh, “bà thố lộ trong cuộc trò chuyện” vì tôi muốn bạn không nghi oan là bà hay tôi ngầm ý khoe khoang hoặc phóng đại. Bà có thái độ lịch thiệp và từ tốn rất đáng mến. Tôi thích cái “poise” của bà, không phải ai cũng có được cái poise này. Dĩ nhiên tôi cũng chỉ lập lại lời bà trò chuyện với tôi và tôi tin là bà nói thật.

Ông cựu Đại sứ Mã Lai, thể theo lời của người phụ nữ duyên dáng đi chung chuyến tàu du lịch Hạ Long với tôi.

Ông xác nhận ông có làm việc ở Việt Nam, nhưng không nói rõ ông làm công việc gì, chức vụ gì, và chúng tôi cũng không hỏi. Tôi muốn trò chuyện với ông nhưng suốt ngày đi tham quan nơi này nơi nọ tôi không có cơ hội. Buổi tối ngủ lại trên du thuyền, sáng sớm tôi lên boong tàu để tập tài chí và may sao gặp ông. Chỉ có ba người chúng tôi là dậy sớm để tập tài chí.

Ông có thái độ của một người chuyên làm công việc ngoại giao. Ông thích trò chuyện với người trên thuyền. Ông nói chuyện rất lâu với nhóm 6 người Úc đến và ở sẵn trên tàu trước chúng tôi một ngày. Phải yêu thích công việc ngoại giao người ta mới có thể thích thú giao thiệp trò chuyện với người chỉ mới gặp lần đầu như thế. Mỗi lần đi đâu, bà cứ phải giục giã ông vì ông lúc nào cũng đang ở giữa một cuộc chuyện trò sôi nổi thú vị. Dù ông là Đại sứ Mã Lai ở Việt Nam vào thời gian sau đợt thuyền nhân cuối thập niên bảy mươi đầu tám mươi rất lâu, chúng tôi vẫn cám ơn ông bà. Dẫu cho ông bà chỉ là thường dân thì chúng tôi cũng mang ơn dân Mã Lai đã chứa chấp chúng tôi, những người tị nạn đi cầu xin lòng thương hại của các nước trên thế giới, và Mã Lai đã cho chúng tôi tạm trú sau những ngày trôi dạt trên biển.

Chiếc du thuyền chúng tôi đi hai ngày một đêm trong vịnh Hạ Long
Trang trí thức ăn bằng ớt ngọt, cà rốt, cà chua, củ cải

Chợt nghĩ, dân tị nạn một thời khốn khổ nhận lãnh cứu trợ ở Mã Lai như mình, bây giờ lại đi du lịch chung chiếc du thuyền với vợ chồng ông cựu Đại Sứ Mã Lai, quả số mạng của mình thật là may mắn.

Sáng Chủ Nhật rảnh quá cho nên…

Thử cái máy ảnh, ông Tám tặng lâu rồi nhưng chưa dùng, bây giờ lấy ra thử vài tấm Canon Rebel T7i, hơi nặng. Ở đây đang mùa hoa Kim Ngân (honeysuckles) và hoa dại màu trắng có nhụy vàng hay nhụy chấm đen, thơm ngát. Đi rừng, tôi đi trong hương hoa ngào ngạt, mỗi bước đi làm dấy động hương rừng.
Máy cũ, đi bộ thấy có con rùa bé xíu, chưa đầy ba ngón tay.
Và một đóa hoa diên vỹ tím nhìn hoa mà nhớ ông van Gogh.

Mấy hôm nay tôi đọc quyển thơ của ông Tô Thùy Yên nên muốn viết vài giòng cảm tạ. Cảm ơn nhà thơ Tô Thùy Yên đã viết nhiều bài thơ hay. Cảm ơn nhà thơ Trần Hoài Thư, đã mang về quyển thơ. Cám ơn gia đình và thân hữu của nhà thơ Tô Thùy Yên đã hào phóng tặng tập thơ có thủ bút của nhà thơ TTY. Cầu chúc nhà thơ Tô Thùy Yên vui chơi nơi cõi vĩnh hằng. Tôi hỏi xin tập thơ nhiều nơi, không ngờ lại nhận được từ tay của nhà thơ láng giềng Trần Hoài Thư. Tôi thật là may mắn.

Cuối tháng Năm, nhận ra đầu óc tôi phân tán, khó tập trung lâu vào đề tài gì, đọc cũng khó khăn. Tôi muốn tập cho mình đọc chậm lại, chú ý vào câu chữ hơn, bằng cách chép thơ. Tôi ra A. C. Moore mua cây bút và lọ mực loại dùng để viết chữ thảo đẹp (calligraphy). Mấy hôm rày tôi chép một số bài thơ hay, dĩ nhiên cũng chép lại nhiều bài thơ trong tập thơ TTY.

Sáng nay đọc bài Nỗi Đợi của ông Tô Thùy Yên. Bài thơ dài, rất hay nhưng tôi thích nhất hai đoạn.

[…]

Trời đất thì buồn như xác rỗng.
Ta thì như gió, tuyệt bơ vơ,
Trăm năm cửa khép hờ mưa nắng…
Mãi chẳng ai về qua gọi cho.


[…]
Hỏi ai, ai có là tri kỷ?
Ai có buồn chớp bể mưa nguồn?
Ta khóc, chẳng qua là khóc lại.
Lệ nào, ôi chẳng của tiền nhân
.

Đoạn thơ sau, khiến tôi nhớ mấy câu ca dao.

Đêm qua chớp bể, mưa nguồn
Hỏi người tri kỷ, có buồn hay chăng
.