Khi nhan sắc phai tàn

Bức tranh của Rozan Ekō (1865 – 1944)

“Once a beauty, now a skull”
“Ngày nào nhan sắc mỹ miều
Bây giờ chỉ một tiêu điều sọ khô” NTHH dịch

Rozan Ekō đã dùng cọ ướt màu xám vẽ cỏ pampas mọc cao để tương phản với nét cọ khô màu đen vẽ cái sọ người. Dường như nó đang lom lom nhìn chúng ta từ bức tranh.

Người sành văn hóa Nhật, nhìn bức tranh của Rozan Ekō thì biết ngay là ông ám chỉ nữ thi sĩ của hoàng tộc cũng là người đẹp lừng danh Ono no Komachi. Sau khi qua đời, cái sọ của bà được chôn cất ngoài đồng đã nói với Ariwara Narihira (825 – 880) bằng ba dòng của một bài thơ waka (vốn có năm dòng). Hai dòng thơ sau, nhà thơ Ariwara Narihira đã sáng tác tiếp theo.

Every time
the winds of autumn blow,
my eyes are painful, painful. . .
Don’t say it’s Ono –
the pampas grass is growing.

Mỗi lần
gió thu thổi
Mắt tôi đau đớn, đau đớn. . .
Đừng nói đó là Ono –
Cỏ pampas tiếp tục mọc

Cỏ pampas

Vẽ đẹp và cái hộp sọ là hai phần trong vỏn vẹn một sự thật. Khi sinh, không có gì được thêm vào. Khi chết, không có gì bị mất đi. Chỉ có hình tướng là thay đổi, mà hình tướng thì luôn luôn ở trong trạng thái biến đổi. Người có nghe được lời nói gió lùa qua những ngọn cỏ cao? Nếu không, hãy biết rằng người phải học cách nghe vượt ra khỏi ranh giới của âm thanh.

Ngày 25 tháng 11 năm 2020

Nguyễn thị Hải Hà dịch từ quyển “The Zen Art Book, The Art of Enlightenment” của Stephen Addis và John Daido Loori trang 86 – 87. Bức tranh của Rozan Ekō do người dịch chụp lại bằng phone, trang 87 của quyển sách.

Hình tròn, tam giác, và hình vuông

Ảnh của Wikipedia Bức tranh của họa sĩ kiêm thiền sư Sengai Gibon

Sengai Gibon (1750 – 1837) là thiền sư thuộc phái Rinzai. Trên đây là họa phẩm nổi tiếng nhất của thiền sư, tuy ông có ký tên cẩn thận và hoa mỹ nhưng không đặt tựa đề. Người đời thường gọi bức tranh này là “Hình tròn, hình tam giác, và hình vuông” và tựa đề tiếng Anh là “The Universe.” Vũ trụ.

Bạn cũng như tôi tha hồ tưởng tượng, phỏng đoán, và suy nghĩ. Phải chăng hình vuông là đồng bằng, hình tròn là trời, hình tam giác là núi? Cả ba hình đan kết với nhau, tuy ba mà là một, tuy một nhưng vẫn là ba? Đây là suy nghĩ đơn giản của tôi, người tập tành tìm hiểu về tranh thiền. Nói rõ ra kẻo bị trách là đặt câu nói của mình vào lời của thiền sư.

Thiền sư đã nói rằng “Trò chơi với cọ và mực của tôi không phải là bút pháp cũng chẳng phải là tranh họa; tuy vậy người không hiểu biết thường hiểu lầm rằng: đây là bút pháp, đây là bức tranh.” “My play with brush and ink is not calligraphy nor painting; yet unknowing people mistakenly think: this is calligraphy, this is painting.”— Sengai Gibon (Câu này trích từ Wikipedia). Sau khi đọc hàng chữ này thì tôi biết rằng tôi đã sai lầm khi gọi bức tranh này là bức tranh. Nhưng nếu không gọi là bức tranh thì chẳng biêt gọi là gì. Tranh chẳng phải tranh, chữ chẳng phải chữ. Thật là hay những nghịch lý không lời giải đáp của Thiền.

Buổi chiều rảnh rang tôi ngồi đọc “The Zen Art Book, The Art of Enlightenment” của Stephen Addis và John Daido Loori, thấy bức họa thiền này đơn giản và hay hay, nên lấy ý chính và biên khảo thêm từ Wikipedia. Trang 66 – 67.

Nguyễn thị Hải Hà viết xong ngày 25 tháng 11 năm 2020.

Âm thanh của mùa thu

Khi lá thu rụng hết rồi thì mùa thu còn lại gì? Âm thanh và mùi hương.

Từ Công Phụng, trong bài hát Vẫn Một Cõi Đời Hiu Quạnh đã nói “Nằm im hơi nghe mùa thu rất nhẹ. Gọi hồn tôi vào những nhung nhớ những mùa xưa tàn phai” đã ngầm bảo với người nghe rằng mùa thu có tiếng nói, có âm thanh.

Nói đến âm thanh, chắc là bạn nghĩ ngay đến “Tiếng Thu.” (Lưu Trọng Lư)

Em nghe chăng mùa thu
Lá thu rơi xào xạc
Con nai vàng ngơ ngác
Đạp trên lá vàng khô

Rồi đến

Em có nghe mùa thu mưa giăng lá đổ
Em có nghe nai vàng hát khúc yêu đương. (Mùa Thu Cho Em – Ngô Thụy Miên)

Hay là bạn nghĩ đến một thứ âm thanh khác, mơ hồ hơn, tiếng lá rơi dội lại, từ bài thơ của Bùi Giáng.

Em về mấy thế kỷ sau
Nhìn trăng có thấy nguyên màu ấy không?
Ta đi còn gửi đôi dòng
Lá rơi có dội ở trong sương mù

Với tôi, tiếng lá rơi hay tiếng bước chân của nai đã trở nên bình thường, nhắc mãi nó thành ra cliché. Âm thanh của mùa thu phong phú hơn nhiều.

Đầu tiên là tiếng gió. Gió đầu thu báo hiệu chuyển mùa thường rất nhẹ. Lao xao trên đầu ngọn cây, thứ gió làm những cây có lá hình trái tim, hay giống như đồng tiền treo lủng lẳng trên cành, lung lay. Không đủ để rung cành. Có lẽ đây là loại gió trong câu hát “gió mùa thu mẹ ru con ngủ. Năm canh chày thức đủ năm canh.” Gió cuối thu mạnh hơn, đủ để nghe tiếng vi vu và các cành cây hay thân cây cọ vào nhau tạo thành tiếng rít kẽo kẹt.

Và sau đó là tiếng chim. Đặc biệt là tiếng chim khi cả đàn làm một chuyến di trú về miền ấm áp. Có khi tiếng chim vỗ cánh nghe như tiếng gió bão bay sầm sập ngang qua bầu trời. Đôi khi nghe trong rừng rậm tiếng ríu rít của một đàn chim rất lớn hằng ngàn hay hằng chục ngàn con nhưng không nhìn thấy chim, họa hoằn lắm là một vài sợi chỉ đen bay vun vút từ bóng cành lá này sang bóng cành lá khác. Một âm thanh rất lạ tôi không diễn tả được. Nó như là âm thanh của một xã hội, trong đó có cả yêu thương giận hờn, bất đồng ý kiến chính trị, hay ngày mai sẽ đi đâu, ăn gì, uống nước ở đâu, còn bao lâu sẽ đến nơi, bao nhiêu chim sẽ chết dọc đường, bao nhiêu chim sẽ lạc đàn, hay tìm cách bỏ đàn, ở lại những nơi chúng chọn làm quê hương. Nghe quen, bạn sẽ phân biệt được tiếng ngỗng Canada. Tiếng hạc. Tiếng vịt mallard đầu xanh. Và còn nhiều loại chim khác khó phân biệt hơn vì không nghe thường xuyên. Tiếng chim có lẽ thường gây những nỗi niềm trong lòng người.

Bìm bịp kêu nước lớn anh ơi.
Buôn bán không lời, chèo chống mỏi mê.

Tôi không biết tiếng bìm bịp ra sao, gieo sầu vào lòng người đến mức nào, nhưng ngay cả tiếng kêu của mấy con hạc xám, “ark ark,” có lần làm tôi thất vọng vì so với tiếng hạc trong câu thơ của Nguyễn Du, rơi trên đoạn sông vắng nghe cũng gợi chút sầu tư khi tôi nghĩ đến tâm sự của dòng sông, hạc xám bay về Nam và khúc sông này sẽ trở nên trống vắng.

Khi cây rụng gần hết lá, tôi chợt nhận ra sau nhà mình có rất nhiều chim. Những con chim rất bé, nhỏ hơn cả chim sẻ, chỉ độ ngón tay cái của tôi. Chúng bay vụt lên vụt xuống như những ninja mai phục trên cây, lao mình xuống chộp bắt kẻ thù nào đó, con sâu, cái kiến, hay những loại trái rừng nho nhỏ chín đỏ trên cành đầy gai nhọn như bức ảnh phía trên. Ngay cả đứng trong nhà, sau lần cửa kính tôi vẫn nghe được tiếng ríu rít của đàn chim bé nhỏ này.

Đàn chim sà xuống uống nước trên một đoạn đường rừng

Trên một nhánh cây sồi rất cao, chẳng biết từ bao giờ, đã thấy có một cái tổ chim. Hồi mùa hè, ông Tám thuê người cắt bớt nhánh cây, chưa thấy tổ chim này. Từ dưới nhìn lên người ta dễ lầm tưởng đó là lá khô rơi vướng lại, nhưng rất khó để lá khô có thể vướng một cách tình cờ như thế. Có thể đó không phải là tổ của những con chim nhỏ bé bay vun vút kia, mà là tổ của robin, loại chim có ức màu nâu, và trứng màu xanh như trứng sáo, nhưng chúng đã bay lên thám thính ngó nghiêng, trò chuyện liên hồi. Rất có thể có kẻ nào đó sẽ mượn nhà người khác, sinh nở xong rồi mang nhau đi.

Tổ chim

Nhưng mà, tiếng thu rồi cũng sẽ không còn. Mùa đông về sẽ mang theo một hình ảnh khác, và âm thanh khác.

Robin
Thu tàn

Nhân đây xin mời bạn nghe bài hát Mùa Thu Cho Em – Nhạc sĩ Ngô Thụy Miên

Mùa Thu Cho Em – Xuân Sơn hát

Ngày cuối tuần thời đại dịch

Mèo yếm trắng

Gần đây có con mèo này đến ăn, khá thường xuyên. Nó to béo có vẻ như có người cho ăn đầy đủ. Sáng nay ông Mun đến ăn, cũng trò chuyện dăm ba chữ miao với tôi. Lúc này ông ít đến, có vẻ như lảng tránh con mèo xám. Mèo Xám lúc này khá to béo. Nó bị bệnh mấy hôm nay. Xám thường leo lên bàn, nằm cạnh cái nồi chứa nước để cho mèo uống, những hôm trời nắng ấm. Cách đây vài hôm tôi thấy một bên mắt của nó sưng húp, mí mắt híp lại. Không biết bụi rậm cào xước hay đánh nhau với con mèo nào đó. Cái nguy cơ bị cáo chụp vẫn còn đó vì con cáo thỉnh thoảng vẫn đến ăn lén thức ăn mèo. Con cáo to như con chó và rất xơ xác trông rất tội nghiệp. Hôm kia kìa gì đó, nước mũi Xám chảy lòng thòng, có vẻ như bị nhiễm trùng nặng. Tôi thầm nghĩ có lẽ nó cũng bị sốt hay đau đớn. Tối qua nó đến, nhưng không ăn thức ăn mềm tôi để sẵn cho nó. Dường như đến chỉ để tìm Nora.

Nora thì kỳ khôi lắm. Đòi ra ngoài nằng nặc, nhưng mỗi khi tôi hé cửa, nếu Nora thấy Xám thì gầm gừ khì khịt rồi lập tức quay ngoắt lại vào trong nhà. Hôm nào Xám không đến thì nàng ra ngoài sàn gỗ ngồi ngó mông lung vào trong bóng tối, như chờ đợi hay rình rập cái gì đó.

Cuộc sống của tôi từ trước đến giờ vẫn ít khi gặp gỡ người ngoài, có vẻ như bình thường. Tuy vậy thời thế rất bất ổn vì tình hình bệnh dịch Covid lại bùng phát và phát triển rộng lớn. Cả nước Hoa Kỳ, ngày hôm qua số người mới nhiễm bệnh là 198,537 người (chỉ trong một ngày 11/20/2020 thôi nhé.) Newark, thành phố lớn nhất của tiểu bang New Jersey, (giáp ranh với thành phố New York, lớn nhất của tiểu bang New York) vừa bị đóng cửa ngày hôm qua. Thời gian đóng cửa sẽ là 3 tuần. Coi như Lễ Tạ Ơn, Giáng Sinh năm nay, và cả tết Dương Lịch tôi sẽ không có dịp gặp các con. Thế là đã hai mùa lễ.

Bầu cử coi như đã xong. Có 51 phần trăm số người bầu cử hài lòng thì có 49 phần trăm số còn lại thất vọng. Hồi xưa, khoảng mười hay mười lăm năm trước, ông sếp của tôi cho biết ông bầu cho đảng Dân Chủ. Ông này, khá giàu có. Tôi ngạc nhiên vì sự chọn lựa của ông khác với dự đoán của tôi về sự chọn lựa của ông. Ông giải thích, vì ông gần đến tuổi về hưu, mà về hưu trong sự cai trị của đảng Dân Chủ thì quyền lợi của ông được hưởng tốt hơn. Cũng năm ấy, có một cậu kỹ sư mới vào làm. Rất giỏi dù còn trẻ. Khi tôi hỏi cậu nghĩ thế nào về chọn lựa bầu cử. Cậu nói rằng “Dĩ nhiên là chọn đảng Cộng Hòa. Luôn luôn chọn đảng Cộng Hòa.” Tôi quên không đòi cậu giải thích.

Vẻ đẹp mùa thu trên nước Mỹ

Nguyễn thị Hải Hà

Hằng năm, mỗi khi mùa thu về tôi lại thầm ước viết được một bài thu gọn vẻ đẹp của mùa thu trên nước Mỹ vào trong vài trang giấy.  Điều này coi vậy mà khó thực hiện.  Nước Mỹ rộng lớn quá.  Ở đâu cũng có mùa thu, nhưng chỉ những tiểu bang có khí hậu lạnh như Alaska, các tiểu bang thuộc miền Bắc, miền Đông Bắc, chạy dài dọc theo bờ biển cho đến New Jersey, là có lá đổi màu. Càng về hướng Nam sự thay đổi của màu lá càng ít rõ rệt đi. Ở miền Tây Hoa Kỳ, tiểu bang Washington, Oregon và Bắc Cali lá có thay màu.  Texas thì màu lá xanh suốt bốn mùa.  Năm nay, với tình hình dịch Covid-19, cái tựa đề “Vẻ đẹp mùa thu trên nước Mỹ” có vẻ như khoác lác. Thậm chí tôi cũng không thể thu nhỏ vẻ đẹp mùa thu trên nước Mỹ vào vài tiểu bang có khí hậu tương tự như New Jersey như Vermont và Main chẳng hạn, vì tôi không thể đi đâu cả.  Vẻ đẹp mùa thu với tôi chỉ quanh quẩn một vài nơi ở New Jersey.

Năm nay, trời lạnh sớm.  Ban ngày có nắng ấm.  Trời ít mưa.  Coi như được mùa lá đẹp.  Người ta bảo rằng mùa thu là mùa của thi nhân và nhạc sĩ.  Mùa thu cũng là mùa của họa sĩ và nhiếp ảnh gia.  Tôi thích chụp ảnh, nhưng phải thú nhận là không đủ tài để nắm bắt nét đẹp của mùa thu vào trong một vài tấm ảnh.  Mà có gì đâu, chỉ ngần ấy cây và lá.  Mùa xuân và mùa hè cây lá xanh biêng biếc.  Xuyên qua nắng màu lá xanh đẹp hơn cả các loại đá quý như cẩm thạch hay emerald.  Đến mùa thu thì tôi không thể tả được.  Màu sắc chiếm ngợp mắt người, và lay động cả tâm hồn.

Những hình ảnh mùa thu đẹp nhất nằm ngoài tầm tay chụp ảnh của tôi. Đang đứng rửa bát, tôi nhìn ra rừng phía sau nhà.  Khung cảnh là “một màu xanh xanh, chấm thêm vàng vàng.”  Nhìn ra xa nữa, sâu vào trong rừng hơn nữa, tôi thấy, có một thân cây, vẫn còn đứng nhưng có lẽ đã chết từ lâu vì nó màu trắng, màu của cây bị tróc vỏ.  Chung quanh nó là một vầng lá màu vàng cam, rực rỡ, sáng lóa.  Nếu tôi bước ra khỏi chỗ rửa bát, mở cửa ra ngoài tôi sẽ không còn nhìn thấy thân cây trắng và lá cây vàng cam nữa bởi vì nó chìm mất dấu trong rừng cây lá xanh xanh chấm thêm vàng vàng.  Đang lái xe, nhìn qua bên kia đường Hwy 22, mấy cái tiệm Mc Donald, Burger King, và một số hàng quán không có vẻ gì đẹp lãng mạn cả, nhưng đằng sau chúng là một hàng cây đủ thứ màu, vàng, cam, đỏ.  Chẳng lẽ ngừng xe lại để chụp ảnh?  Mà đối với người địa phương thì mấy cái cây màu sắc đó cũng bình thường thôi, đâu có gì đặc biệt đến độ phải ngừng xe.  Lái xe trên đường đến thư viện, dọc theo con đường đèo, lúc đi lên màu sắc rực rỡ của lá thu, đỏ cam vàng lục trên cao ngay trước mắt.  Đường về, nhìn thấy thung lũng lốm đốm sắc màu như một bức tranh của phái ấn tượng.  Đang đi bộ, vượt qua cánh đồng cỏ thật lớn, là rừng cây đã rụng gần hết lá, chỉ còn một chút lá vàng, lưa thưa nhưng sáng rực, lấp ló sau mái một ngôi nhà màu trắng, đơn giản nhưng thật thu hút mắt nhìn.  Tiếc là tôi quên mang theo máy chụp ảnh.  Nhưng rất nhiều lần, có máy chụp ảnh tôi lại không thể nắm bắt được vẻ đẹp trước mắt tôi.

Nhiều lần tôi tự hỏi.  Cái đẹp là gì?  Làm sao định nghĩa cái đẹp.  Để tự trả lời câu hỏi này cho có chất lượng, có chút triết lý và thông thái, tôi đọc cả quyển sách định nghĩa cái đẹp của Roger Scruton.  Cuối cùng, ông cũng chỉ đưa đến kết luận, “Beauty is in the eye of the beholder”, nôm na cứ mình thấy nó đẹp thì nó là cái đẹp.  Nó là một trải nghiệm, một cảm nhận, của từng cá nhân thay đổi theo hoàn cảnh, thời gian, và kinh nghiệm.

“The judgement of beauty orders the emotions and desires of those who make it.  It may express their pleasure and their taste: but it is pleasure in what they value and taste for their true ideals.”[1] 

(Phán đoán về vẻ đẹp đòi hỏi cảm xúc và ước muốn của người phán đoán.  Sự phán đoán này có lẽ chỉ biểu lộ sự thích thú và cảm nhận cá nhân của những người phán đoán: nhưng chính sự thích thú trong những điều họ quí trọng và cảm nhận đã biểu lộ lý tưởng về cái đẹp của họ – Nguyễn thị Hải Hà tạm dịch)[2]

Tại sao người ta thấy màu sắc rực rỡ của rừng thu là đẹp?  Bạn từng nghe câu thơ của Nguyễn Du “Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san.”  Nhưng muốn thấy hết vẻ đẹp của câu thơ, bạn phải biết màu lá phong.  Cây phong (maple) có nhiều loại, nhưng với người không chuyên về cây cối, người ta gom thành hai loại, lá đỏ và lá vàng.  Mùa thu lên núi ở cửa ải (cửa ải nào đây? Có lẽ theo truyện Thanh Tâm Tài Nhân ở bên Trung Quốc?) người ta sẽ thấy một rừng màu sắc, đỏ, vàng, của cây phong và dĩ nhiên có cả màu xanh lục cũng như màu nâu, nâu sậm, thậm chí tôi tin là có những thân cây màu trắng vì tróc vỏ của các loại cây khác.  Rừng, theo lẽ tự nhiên phải có nhiều loại cây, ngoại trừ những nơi rừng nhân tạo được trồng toàn một loại.

Có lẽ tôi hơi cực đoan khi nói rằng đi giữa mùa thu hay đi giữa đường thu, lại là lúc khó nhất để nắm bắt được cái đẹp của mùa thu.  Bạn phải đứng xa ra, đứng ngoài vẻ đẹp để có thể nhìn cái đẹp.  Bạn có thể nhìn thấy cái đẹp của mùa thu nếu bạn đứng ở triền núi này nhìn sang triền núi khác.  Hay, bạn đứng ở một góc hồ, cạnh bờ biển này, nhìn thật xa, đến một bờ đá dựng đứng cheo leo và ở đó có một vài cây màu đỏ rực như hoàng hôn đang bốc cháy.  Sau một cơn mưa nhẹ, nắng lên, một chùm lá màu đỏ hay cam hay vàng e ấp xuất hiện sau gốc cây già cỗi nâu sẫm, đó là một nét duyên dáng của mùa thu.  Bạn phải đứng đúng chỗ, nhìn đúng góc độ thì mới thấy được trọn vẹn màu sắc ấy, bởi vì vẻ đẹp của màu sắc tùy thuộc vào mức độ ánh sáng.  Nhiều lần, đứng ở cửa sổ, nhìn thấy chùm lá của cây dogwood đẹp quá, tôi xách máy ra ngoài nhưng không chụp được tấm ảnh đúng góc độ.  Cửa sổ phòng ngủ của tôi và chòm lá tôi nhìn thấy ngang tầm mắt của tôi và có ánh sáng từ xa rọi đến.  Ra ngoài, cái tôi thấy và muốn chụp ảnh, không còn nữa.  Đứng trước cây phong đỏ, hay dưới gốc của nó, những tấm ảnh tôi chụp được đều không đẹp. Đỏ quá!  Đường nét chằng chịt và loạn xạ, không ra hình ảnh gì cả.  Màu đỏ của lá chỉ đẹp khi nó ẩn hiện xa xa, ở một góc nhỏ để thu ánh mắt, và trở thành điểm nhấn của ống kính.  Màu đỏ chỉ đẹp khi nó đi chung với các màu sắc khác.

Khi tôi viết xong bài này, thì rừng thu của New Jersey đã rụng gần hết lá.  Cũng như mùa hoa anh đào, mùa lá thu chỉ rực rỡ được một hay hai tuần.  Màu sắc đang thắm, trời đổ vài cơn mưa, hay chỉ một cơn mưa kéo dài hai ba ngày, đúng kiểu “ngoài hiên giọt mưa thu thánh thót rơi,” lá cây rụng hết.  Và như thế, phải chăng mùa thu đã chết? 


[1] “Beauty” Roger Scruton, p. 197

[2] Dùng chữ tạm dịch để lỡ có sai, ai chỉnh thì sửa.

19 tháng 11 năm 2020

Ở cuối con đường

Ở cuối con đường

Thơ Cát-Nhu Hoàng

cuối con đường có mùi thơm của lá
có bầu trời và những gợn mây trôi
có một người ngơ ngẩn đến chơi vơi
tiếng nhạc rừng nghe bình an đến lạ

từng vạt nắng níu chân người vội vã
hàng cây nghiêng đổ nhớ xuống con đường
đi một bước ngoái nhìn xa một bước
như chúng mình một thuở chớm tơ vương

chia tay người ta về học chữ thương
từ lá chết ươm mầm xanh hy vọng
trong trái tim chẳng còn là khoảng trống
dẫu thế gian tất cả chỉ vô thường

qua bao mùa mái tóc đã pha sương
nhưng tình yêu thì nào đâu có tuổi
vẫn con đường ngày đi về hai buổi
người quay lưng nỗi nhớ bỗng ngậm ngùi

11.16.2020

Có gì?

Hạnh: “Ở Sài Gòn có thể có xe bán bánh mì.”

Hồng: “Có quán yaourt 3 cô tiên”

Katherine Trang: “một quán cà phê nho nhỏ đang chơi nhạc jazz nhẹ với tiếng hát ấm của Nat King Cole để người có thể ngồi hít thở không khí trong lành và thường thức tách cà phê thơm.”

Mydung Truong Thi: “Có một con suối nhỏ chảy róc rách róc rách.”

Giáo Làng: “Một con đường mòn nhỏ hơn, khó đi hơn dẫn lên núi, vào… động thiên thai… 🙃

🙂

Khung cửa đá

Khung cửa đá mở vào quá khứ
Vàng thu phai mờ chuyện trăm năm…

– Thơ Ngân Tảo

Khung cửa đá trên đây thật ra là một bức tường, phần còn lại của Hay Barn nằm trong khuôn viên Duke Farms. Gọi là farms, nông trại, thật ra đây là một khu vực rộng lớn, bao gồm nhiều tòa lâu đài đồ sộ, nằm giữa một khu rừng, có một hệ thống bao gồm mấy dòng suối và dăm ba cái thác, với đồi cao và hồ sâu. Dĩ nhiên có cả nông trại trồng hoa, trồng rau, và cả một trại nuôi lan. Trại hoa lan này còn có nhiều loại lan hơn cả trại lan của vườn Bách Thảo New York. Wikipedia đưa ra nhiều con số đáng kể: 45 cái nhà và lâu đài, 9 cái hồ, 18 miles đường đi (rộng lớn và tráng nhựa đủ để xe hơn chạy), 810 acres rừng, 464 acres đồng cỏ dành chỗ cho chim, và 1.5 miles hàng rào làm bằng đá tảng xếp chồng lên nhau. Tôi thích đá, nên hầu như cái gì xây bằng đá cũng khiến tôi chú ý, đặc biệt là hàng rào đá và lâu đài đá. Chúng gợi óc tưởng tượng của tôi về những tòa lâu đài thời Trung cổ có vua hiệp sĩ và công chúa. Và những câu chuyện thần tiên.

Chủ nhân đầu tiên của Duke Farms, là James Buchanan Duke, một nhà đại phú chuyên kinh doanh về năng lượng (điện lực) và thuốc lá. Sau khi ông qua đời, Doris Duke, cô con gái duy nhất 12 tuổi, đã kiện bà mẹ để được nắm trọn quyền quản lý tài sản. Bà Doris đã cống hiến rất nhiều tiền của để phát triển văn hóa, các mặt kiến trúc, âm nhạc, mỹ thuật. Sau khi bà Doris qua đời, Duke Farms được ủy ban Doris Duke Foundation quản lý. Năm 2012, Duke Farms mở cửa tiếp nhận công chúng. Cho đến nay vẫn không thu tiền phí người đến xem.

Bạn có thể bỏ ra nửa ngày để đi chơi vòng quanh, ngắm cảnh thiên nhiên. Nhưng hãy nhớ là, tất cả suối hồ thậm chí cả đồi cao, đều là nhân tạo. Chủ nhân đã đào hồ lấy đất làm đồi. Bên trong Duke Farms trên đồi cao có cả một nghĩa địa dành cho chó mèo rất đẹp.

Vì tên của khuôn viên là Duke Farms (Nông trại của dòng họ Duke) nên có dăm ba chỗ trong khuôn viên được gọi là Barn. Chữ barn làm chúng ta hình dung ra một cái vựa hay nhà kho quê mùa thô sơ để chứa cỏ, chứa dụng cụ làm nông, nhưng barn của Duke Farms thì rất lớn và đẹp hơn những cái vựa rơm thóc bình thường. Trong Duke Farms có (ít nhất là) Coach Barn và Hay Barn. Coach Barn là một tòa nhà tường đá rất uy nghi đồ sộ, có cả cái đồng hồ trên tháp chuông, đến giờ là đổ một hồi chuông âm vang rất uy nghi cổ kính. Coach Barn hiện đang bị đóng cửa vì Covid-19 được dùng làm viện bảo tàng nho nhỏ bên trong trưng bày những cỗ xe hơi và xe ngựa của đại gia Duke sử dụng lúc bấy giờ. Hay Barn, thuở ban đầu dẫn đến nông trại chính. Năm 1915 tòa nhà này bị cháy, chỉ còn lại mấy bức tường. Bà Duke dùng chỗ này để trưng bày các tượng điêu khắc. Giờ vẫn còn một số tượng của các nữ thần dựa theo huyền thoại Hy Lạp nhưng khá điêu tàn, một số tường đã bị mất tay, sứt mẻ.

Giàu thì rất giàu. Nhưng cũng chính vì giàu mà gia đình này mất hạnh phúc. Giàu sang, nhan sắc, tài năng, danh vọng, rồi cũng phai tàn theo thời gian. Hay Barn, mỗi lần nhìn ngắm cái vẻ đẹp điêu tàn của nó, tôi nhớ đến thơ Bà Huyện Thanh Quan.

Tạo hóa gây chi cuộc hí trường
Đến nay thấm thoát mấy tinh sương
Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương

Mưa Thu

Đoạn đầu truyện ngắn Autumn Rain (Aki no ame) [1962]. Trích trong tuyển tập truyện ngắn Palm-of-the-Hand của Yasunari Kawabata.

Lane Dunlop và J. Martin Holma dịch từ tiếng Nhật sang tiếng Anh. Autumn Rain của JMH dịch.

Nguyễn thị Hải Hà dịch từ tiếng Anh sang tiếng Việt.

Từ sâu thẳm của tâm hồn, tôi hình dung ra cảnh hoa lửa rơi từ mấy dãy núi mọc đầy cây phong đỏ.

Thật ra, tôi đã nhìn thấy cảnh này ở trong một thung lũng khá sâu.  Hai dãy núi cao sừng sững dọc bên bờ con sông của thung lũng.  Tôi không thể nhìn thấy bầu trời, trừ khi tôi ngước mặt thẳng lên.  Bầu trời vẫn còn màu xanh, nhưng đã nhuốm màu hoàng hôn.

Cũng cái màu hoàng hôn ấy đã bao trùm mấy tảng đá trắng trong thung lũng.  Phải chăng sự thinh lặng của màu thu chung quanh, ngập tràn thân thể tôi, làm cho tôi cảm thấy hoàng hôn đến sớm hơn?  Con sông trong thung lũng nước chảy màu xanh đậm ngã sang tím; khi tôi ngạc nhiên vì không thấy màu sắc rực rỡ của lá thu phản chiếu từ mặt sông tím sậm, thì tôi chợt nhìn thấy vô số hoa lửa đang rơi vào trong nước.

Dường như cơn mưa lửa hay đám bụi lửa không rơi; những đóa hoa lửa này chỉ hơi sáng lấp lánh trên mặt nước.  Nhưng chắc chắn là chúng đang rơi; những đóa hoa lửa li ti này rơi vào mặt nước tím sậm và biến mất.  Tôi không thể nhìn thấy hoa lửa khi chúng đang rơi trước dãy núi bởi vì rừng lá đỏ mọc trên cây trên núi.  Do đó tôi ngước lên bầu trời, cho tầm nhìn vượt qua khỏi ngọn núi và nhìn thấy những đốm hoa lửa nhỏ rơi khá nhanh, đến độ làm tôi ngạc nhiên.  Có lẽ bởi vì những đóa hoa lửa nhỏ này chuyển động, một dải hẹp của bầu trời trông giống như một dòng sông chảy ở giữa, bờ của nó là hai dãy núi.

Màn đêm buông xuống, tôi đã tưởng tượng đến hình ảnh này khi tôi ngủ gật gù trong toa của chuyến xe lửa tốc hành đến Kyoto.

November 12, 2020

Tôi là màu đỏ

Orhan Pamuk, trước khi là nhà văn ông là họa sĩ, vì thế chẳng lạ gì khi đa số tác phẩm của ông đều có tựa đề liên quan đến màu sắc. Trắng như Tuyết (Snow) và Lâu Đài Trắng (The White Castle). Đen như Quyển Sách Đen (The Black Book). Đỏ như Tên Tôi Là Màu Đỏ (My Name Is Red). Tập tiểu luận của ông có tựa đề là Những Màu Sắc Khác (The Other Colors). Được giải Nobel văn chương năm 2006. Tác phẩm được biết đến nhiều nhất của Pamuk là “My Name Is Red.” Toàn quyển sách này ông chỉ có một chương nói về màu đỏ và tiêu đề của chương này được dùng làm tựa đề của quyển sách. Tương tự như Yasunari Kawabata chuyên lồng vào tác phẩm văn hóa Nhật Bản, Pamuk viết về lịch sử và văn hóa của Turkey. Cả hai đều được giải Nobel.

Erdağ M. Göknar dịch từ tiếng Turkey sang tiếng Anh.

Trái mọc hoang không biết tên

Tôi Là Màu Đỏ – Orhan Pamuk

Nguyễn thị Hải Hà dịch từ tiếng Anh sang tiếng Việt.

Tôi xuất hiện trong Ghazni[1] khi nhà thơ Firdusi[2] tác giả của Book of Kings[3] viết dòng cuối cùng của một bài tứ tuyệt có vần điệu đẹp nhất, hơn hẳn nhà thơ của hoàng gia Shah Mahmud, người đã chế nhạo Firdusi chẳng ra cái thớ gì mà chỉ là anh nông dân quèn.  Tôi cũng có mặt ở trên cái túi da chứa quyển Book of Kings của Rüstem khi ông lặn lội khắp nơi để tìm con ngựa đi lạc của ông; tôi biến thành máu phun ra khi ông chém con quái vật đứt đôi bằng cây kiếm thần; và tôi cũng có mặt bên trong nếp gấp của tấm chăn phủ giường, trên tấm chăn này ông đã yêu đương say đắm với nàng công chúa xinh đẹp, con của vị vương, người đã đón nhận ông như thượng khách.  Thật sự và sự thật.  Tôi đã từng và vẫn đang xuất hiện khắp mọi nơi.  Tôi xuất hiện lúc Tur phản bội và chém đầu người anh tên Iraj; lúc đoàn quân lừng danh, xuất hiện bất ngờ và kỳ bí như trong giấc mơ, chiến đấu trên những thửa ruộng bậc thang, và trong dòng máu tươi thắm của Alexander chảy ra từ lỗ mũi vì bị say nắng. Vâng, Shah Behram Gür, suốt cả tuần, mỗi đêm ngủ với một người đàn bà, người nào cũng nhan sắc tuyệt trần, dưới căn lều có mái vòm mang nhiều màu sắc của một vùng đất xa xôi, lắng nghe câu chuyện các người đẹp này kể lại, và tôi cũng có mặt trên bộ y phục của nàng trinh nữ đẹp tuyệt trần, người vị vương này đến gặp vào ngày thứ Ba, và đã đem lòng say mê ngay lần đầu tiên khi nhìn thấy tấm ảnh của nàng, tôi đã xuất hiện từ trên vương miện cho đến cái áo bào của Hürev người đã phải lòng khi nhìn tấm ảnh của Shirin.  Người ta cũng từng nhìn thấy tôi trên lá cờ hiệu của các đoàn quân đang vây hãm thành trì, trên tấm khăn trải bàn được dùng trong những buổi đại yến, trên áo dài thùng thình của các vị đại sứ lom khom hôn lên đôi bàn chân của các vị sultans, trên bất cứ chỗ nào của thanh gươm đã được miêu tả trong những câu chuyện cổ tích mà trẻ con yêu mến.  Vâng, những chàng họa viên đẹp trai, có đôi mắt hình hạt hạnh nhân, đã dùng các cây cọ mỏng manh, phết tôi lên trên những trang giấy dày sản xuất ở Hindustan và Bukhara; Tôi trang hoàng những tấm thảm Ushak, điểm tô những bức tường, mấy cái mào gà chọi, quả lựu, các loại trái cây của những vùng đất thần tiên, bên trong mồm của Satan, những nét viền quanh khung của bức tranh, trên mũi thêu ẻo lả vòng quanh tấm vải dựng lều, những đóa hoa nhỏ li ti mắt thường không thể nhìn thấy, tất cả chỉ để thỏa mãn đôi mắt tinh tế của các họa sĩ, trên áo của các phụ nữ nhan sắc tuyệt trần với những cái cổ thiên nga thò đầu qua các khung cửa sổ ngắm nhìn đường phố, trên những đôi mắt làm bằng trái anh đào chua của mấy con chim tượng tạc bằng đường, những đôi vớ (tất) của các người chăn súc vật, những buổi hừng đông của truyện cổ tích và trên thi thể hay vết thương của hằng vạn, không, hằng mười vạn tình nhân, chiến sĩ, và vua chúa.  Tôi thích tham gia những trận giao tranh nơi mà máu túa ra như những đóa hoa anh túc đang hồi đua nở; xuất hiện trên những chiếc áo khoác của các nhà thơ danh tiếng đang thưởng thức âm nhạc ở các vùng quê ngoại thành, du ngoạn cùng với những chàng trai xinh đẹp và các thi sĩ đang thưởng thức rượu bồ đào.  Tôi thích minh họa những đôi cánh của thiên thần, đôi môi của các nàng trinh nữ, vết thương của các tử thi, và các thủ cấp vẫn còn vương lấm tấm máu đào.

Tôi nghe câu hỏi trên môi bạn:  Cảm nghĩ của tôi như thế nào khi tôi là một loại màu?

Màu là cái vuốt ve của mắt nhìn, âm nhạc của người điếc, một từ ngữ xuất hiện từ bóng tối.  Bởi vì tôi lắng nghe từ tiếng thầm thì của những linh hồn – như những tiếng rì rào của gió – từ quyển sách này đến quyển sách khác, từ đồ vật này đến đồ vật khác, xin cho phép tôi được nói rằng cái vuốt ve của tôi cũng giống như cái vuốt ve của thiên thần.  Một phần của tôi, cái phần nghiêm chỉnh, kêu gọi ánh nhìn của bạn, trong khi phần còn lại, cái phần thích vui đùa trêu chọc, bay bổng lên không trung qua cái liếc nhìn của bạn.

Tôi thật là may mắn được làm màu đỏ!  Tôi dữ dội.  Tôi mạnh mẽ.  Tôi biết loài người chú ý đến tôi và tôi không thể kháng cự sự chú ý này.

Tôi không tự trốn tránh: đối với tôi, những vấn đề tế nhị sẽ không được thành công bằng bản chất yếu đuối hay ngấm ngầm, mà trái lại, bằng sự quyết đoán và ý chí.  Vì thế tôi luôn luôn tìm cách lôi kéo sự chú ý đến bản thân tôi.  Tôi không sợ hãi các màu sắc khác, bóng tối, đám đông hay sự cô đơn.  Thật là sung sướng vô cùng khi được bao trùm một diện tích, một chiều rộng đang đợi chờ tôi và bản chất chiến thắng của tôi!  Bất cứ chỗ nào tôi lan tỏa ra, tôi nhìn thấy những đôi mắt sáng ngời, đam mê tăng trưởng, những đôi chân mày nhướng lên và nhịp tim đập nhanh hơn.  Thấy chưa, sung sướng biết bao nhiêu được hưởng thụ cuộc sống.  Thấy chưa, sung sướng biết bao nhiêu được nhìn thấy vạn vật.  Thấy chưa:  Sống có nghĩa là nhìn thấy.  Tôi có mặt ở khắp nơi.  Cuộc sống bắt đầu từ nơi tôi và quay trở về với tôi.  Hãy tin vào những điều tôi kể cho bạn biết.

Hãy yên lặng và lắng nghe cái cách mà tôi trở thành cái màu đỏ tuyệt diệu này.  Một họa sĩ bậc thầy chuyên minh họa tranh ảnh nhỏ, một chuyên viên về sơn màu, đã dùng cối và chày, cố hết sức giã cho nhuyễn nhừ mớ xác khô của loài bọ hung màu đỏ sống trong vùng nóng nhất của Hindustan.  Ông ấy muốn thu thập 5 drachmas[4] bột màu đỏ, 1 drachma soapwort[5], và ½ drachma của lotor[6].  Ông ấy nấu soapwort chung với ba kí lô nước lã cho sôi lên.  Sau đó ông cho lotor vào ấm nước ấy và nấu tiếp, trong khoản thời gian người ta nhâm nhi thưởng thức một cốc cà phê hảo hạng.  Trong lúc ông ấy thưởng thức ly cà phê, tôi trở nên mất kiên nhẫn như một đứa trẻ đòi ra đời.  Ly cà phê làm trí óc của ông trở nên sáng suốt và mắt của ông cũng tinh tường như mắt của jinn[7].  Ông rải chất bột màu đỏ vào trong ấm nước và cẩn thận khuấy dung dịch này bằng một chiếc que rất mỏng và rất sạch được dùng riêng cho công việc này.  Tôi đã sẵn sàng để trở nên màu đỏ, nhưng vấn đề là độ đậm đặc của tôi rất quan trọng.  Không nên để chất lỏng này sôi mãi cho đến cạn.  Ông ấy nhúng đầu của chiếc que vào trong dung dịch và đặt nó lên trên đầu móng của ngón tay cái (tất cả móng của các ngón tay khác đều không được chấp nhận).  Ôi, thật là vạn hạnh được là màu đỏ!  Tôi khéo léo sơn móng tay cái không để nó chảy lan xuống mép ngón tay mà phí phạm.  Tóm lại, độ đậm đặc của tôi đã vừa đủ, nhưng tôi vẫn còn chứa nhiều bụi cặn thừa.  Ông nhấc cái ấm ra khỏi bếp lò rồi lọc tôi bằng tấm vải người ta dùng để lọc phó mát, khiến tôi trở nên trong sạch hơn.  Sau đó ông lại nấu tôi cho sôi đến sủi bọt hai lần nữa.  Sau khi ông cho thêm vào một nhúm bột alum[8] ông để cho tôi nguội dần.

Vài ngày trôi qua, và tôi nằm yên lặng trong chảo.  Dự đoán là mình sẽ được dùng vào các tranh vẽ, được dàn trải khắp nơi và trên đủ mọi thứ, lại phải ngồi im một chỗ như vầy làm tâm hồn tôi tan nát.  Chính trong thời gian yên lặng này tôi đã suy nghĩ về ý nghĩa của sự mang danh màu đỏ.

Có lần, ở một thành phố của Ba Tư, tôi được phết lên cọ của một người học nghề, để vẽ lên bức tranh thêu của tấm thảm che phủ yên ngựa, do một vị thầy chuyên minh họa tranh nhỏ đã bị mù, thực hiện bức tranh bằng trí nhớ của ông ấy, và tôi nghe lóm từ cuộc tranh luận của hai vị thầy hội họa bị mù này:

“Chúng ta dâng hiến cả cuộc đời, đam mê và trung thành làm họa sĩ, rồi vì phải dùng mắt quá độ, dần dần trở nên mù lòa, chúng ta biết được màu đỏ ra làm sao và nhớ được màu sắc cũng như cảm giác của mỗi màu sắc gây nên,” họa sĩ chuyên vẽ ngựa bằng trí nhớ nói, “nhưng nếu chúng ta bị mù từ khi mới sinh ra thì làm sao chúng ta có thể hiểu được cái màu đỏ mà anh chàng họa viên đẹp trai kia đang dùng?”

“Một câu hỏi quá hay,” người kia nói.  “Nhưng ông đừng quên là chúng ta không thể dùng trí óc để hiểu về màu sắc mà chỉ có thể dùng cảm giác để cảm nhận thôi.”

“Ông thầy thân mến ơi, làm sao giải thích về màu đỏ cho một người chưa hề biết màu đỏ là gì?”

“Nếu chúng ta lấy đầu ngón tay chạm vào nó, nó cho ta cảm giác như sờ một chất gì đó nửa giống sắt và nửa giống đồng.  Nếu đặt nó lên lòng bàn tay, ta sẽ có cảm giác cháy bỏng.  Nếu nếm nó, ta sẽ có cảm giác đầy đặn no đủ, như ăn thịt muối.  Nếu đặt nó lên môi, nó sẽ cho cảm giác đầy mồm.  Nếu chúng ta ngửi, nó sẽ có mùi của loài ngựa.  Nếu như nó là đóa hoa, thì nó sẽ có mùi của hoa cúc trắng chứ không phải mùi hoa hồng.”

Một trăm mười năm về trước, nghệ thuật Venice (Venetian artistry)[9] chưa phải là mối đe dọa khiến những nhà lãnh đạo phải quan tâm, và những bậc thầy nghệ thuật lừng danh tin tưởng vào tài nghệ của họ cũng cuồng nhiệt như tin tưởng vào đấng thiêng liêng Allah; vì vậy, họ xem phương pháp sử dụng nghệ thuật Venice, dùng đủ loại sắc đậm nhạt của màu đỏ để vẽ từng vết thương gây ra bởi đao kiếm là một sự bất kính và tục tằn không đáng để ném cho một tiếng cười chế nhạo báng.  Chỉ những nhà minh họa kém tài và không cả quyết mới dùng nhiều sắc đậm nhạt của màu đỏ để miêu tả một cái áo thụng màu đỏ, họ bảo thế – bóng tối không phải là điều để biện bãi.  Thêm vào đó, chúng ta chỉ tin tưởng vào màu đỏ.

“Thế thì màu đỏ có ý nghĩa gì?”  Vị họa sĩ mù chuyên vẽ ngựa qua trí nhớ hỏi lần nữa.

“Ý nghĩa của một màu đó là nó đã xuất hiện trước chúng ta và chúng ta nhìn thấy nó,”  người kia trả lời.  “Không thể giải thích màu đỏ là gì cho những người không thể nhìn thấy.”

“Để phủ nhận sự hiện diện của Chúa, nạn nhân của Satan lập luận rằng Chúa vô hình đối với chúng ta,” họa sĩ bị mù đã vẽ ngựa nói.

“Tuy thế, Ngài hiện ra cho những người có thể nhìn thấy,” vị thầy mù kia nói.  “Chính vì lý do này kinh Koran nói rằng, người mù và người sáng mắt không bình đẳng với nhau.”

Chàng họa viên đẹp trai mạnh dạn phết tôi lên tấm thảm trải yên ngựa.  Tôi có cảm giác đầy đủ, mạnh mẽ, và sinh động, nổi bật lên cùng với các màu đen trắng của một bức tranh vẽ thật toàn mỹ: khi mà cây cọ lông mèo phết tôi lên trang giấy trống đang mời gọi, tôi cảm thấy nhột nhạt một cách sung sướng.  Rồi khi tôi mang màu sắc lên trang giấy, tôi có cảm giác như tôi đang ra lệnh cho cả thế giới rằng “Hãy xuất hiện!”  Vâng, đối với những người không có khả năng nhìn thấy họ sẽ chối bỏ điều này, nhưng sự thật là tôi hiện diện ở khắp mọi nơi.

Dịch lâu rồi nhưng hôm nay mới cho lên mạng

Người dịch Nguyễn thị Hải Hà.

November 9, 2020

Ghi chú:


[1] Tôi không biết tác giả đang nói về điển tích nào.  Tôi đoán, có lẽ tác giả viện dẫn đến một tác phẩm lịch sử có liên quan đến Mahmud of Ghazni, lãnh tụ độc lập của Turkey, cai trị vào những năm 999-1030.

[2] Một cách viết, hay phiên âm khác, tên của Ferdowsi, nhà thơ Persian, tác giả của “Shanameh hay Book of Kings”, một trong những nhà thơ có tác phẩm là bài thơ dài nhất thế giới.  Ông là nhà thơ nổi tiếng trong lịch sử văn chương của Persian, và trên thế giới.

[3] Shanameh hay Book of Kings là quyển trường sử thi của Ferdowsi, viết về những vị vua và anh hùng lập quốc của Persian.  Ferdowsi bắt đầu sáng tác Shanameh từ năm 977 và hoàn tất năm 1010.  Ngoài việc ca tụng anh hùng và chép lại lịch sử, quyển thơ này bao gồm cả niềm tin tôn giáo, giáo dục đạo đức, tình yêu nhân loại, tổ quốc và gia đình.

[4] Đơn vị tiền bạc của người Hy-lạp được sử dụng từ thời cổ cho đến năm 2001 thì thay thế bằng đồng Euro. 

[5] Tên một loại hoa nhỏ, năm cánh, màu hồng nhạt, còn có tên là saponaria

[6] Người dịch không biết chắc là gì.  Có thể đây là một loại thú có liên quan đến con raccoon.  Trong bài này, người dịch đoán có thể là hạt trong phân của con lotor như hạt cà phê trong phân của chồn hương.

[7] Jinn là một vị thần như genie vậy.

[8] Một loại khoáng chất (muối nhôm và potassium) không mùi vị được dùng để làm thuốc hoặc dùng trong chất thuốc nhuộm.

[9] Venetian artistry nói về hội họa ở Venice vào thế kỷ 15 và 16 có màu chủ đạo ấm và không gian có chiều sâu.  Đây là môn nghệ thuật được giới giàu có và quyền quí ưa chuộng.