I want Only to Be a Worn-Down Stone

by Alain Mabanckou
Issue no. 229 (Summer 2019) The Paris Review

I want only to be a worn-down stone 
on the ruins of time,
a dolmen
raised above this forsaken graveyard’s 
terrain

—Translated from the French by Nancy Naomi Carlson

Đây là ảnh ngôi mộ đá dolmen, ảnh Wikipedia

Tôi chỉ muốn làm một hòn đá nhẵn mòn,
dấu tích của thời gian đổ nát,
bia mộ tôi, vài phiến đá sơ sài
trong nghĩa địa bỏ hoang

Chuyện xếp hàng ở Việt Nam

Tôi ít đi du lịch.  Lần về Việt Nam tháng Ba năm 2019 có nhiều chuyện hay, nhưng thú vị nhất vẫn là những người tôi đã gặp.  Có vài chuyện tốt và một chuyện không tốt mấy, tôi kể chuyện không tốt trước để dẹp nó sang một bên. Chuyện tốt có nhiều hơn xin hứa sẽ kể sau, kẻo bạn trách tôi không công bằng.

Chuyện người Việt Nam không thích xếp hàng ở Việt Nam thì xưa rồi, thay đổi nhiều rồi.  Ở phi trường Tân Sơn Nhất, Nội Bài, và phi trường Đà Nẵng, hầu như chín mươi chín phần trăm người ta xếp hàng đàng hoàng. Những người xếp hàng này có cả Việt Nam lẫn ngoại quốc, tôi nghe họ nói chuyện với nhau bằng tiếng Trung quốc, tiếng Pháp, hay tiếng Anh.  

Lúc xếp hàng ở phi trường Đà Nẵng để vào Sài Gòn tôi gặp một cô gái trẻ độ hơn hai mươi.  Tóc đen cắt ngắn uốn dợn sóng.  Cô khá cao độ 1 mét 65 hay hơn, lớn xương, màu da trắng ngà, khiến tôi tự hỏi không biết cô là người Nhật hay Hàn.  Cô đeo ba lô, mặc áo da màu đen, quần jean màu đen rách lỗ chỗ (rách một cách cố ý), mang giày ủng (boots) gót cao nhọn (stiletto) cũng màu đen.  Trông cách ăn mặc và trang điểm, cô giống như một ca sĩ nhạc rock hay một người ở nước ngoài về.  Mà trời ạ, tháng Ba ở Đà Nẵng chẳng khác gì Sài Gòn, trời nóng 35 hay 37 độ C. thế mà cô mặc tuyền đen lại có cả áo da kiểu blouson và cổ có quấn lơi cái khăn quàng như thể cô chuẩn bị đi New Zealand.  Cô đi từ phía sau tôi, vượt qua tôi, ngừng lại trò chuyện với người đứng trước tôi, bằng tiếng Việt.  Cô nói những chuyện giấy tờ, hỏi han cái gì đó về những chuyện nguyên tắc luật lệ hàng không.  Xong cô ngước mắt về phía các nhân viên điều hành có vẻ như cần phải hỏi cái gì đó quan trọng lắm.  Và cô cứ từ từ tiến tới về phía trước tôi, dừng lại hỏi một người nào đó dăm ba câu.  Chừng vài ba lần như thế chẳng bao lâu cô đã tiến đến chỗ người ta xét giấy tờ cho vào bên trong phi trường.

Tất cả mọi người chung quanh, cũng như tôi, đều nghi ngờ nhưng không cả quyết, rằng cô gái mánh mung để không phải xếp hàng.  Tự nhiên tôi cảm thấy tức giận.  Tức vì mình bị lừa bởi một cô gái khôn lỏi.  Tức vì cô làm thế là làm xấu hổ người Việt Nam, người ngoại quốc sẽ bảo rằng người Việt Nam thiếu văn hóa.  Nói cặn kẽ hơn là thiếu văn hóa xếp hàng.

Tôi nói vọng lên phía trước.  Này cô kia, cô mặc quần áo đen kia, cô làm như thế là không tốt.  Cô chẳng buồn nhìn đến tôi, nhưng khi nghe tiếng tôi quát tháo cô nhìn về hướng tôi và nhận ra là tôi đang nói đến cô.  Tôi không thường nói lớn tiếng vì hễ tôi nói lớn, cổ tôi bị đau.  Nhưng hôm ấy tôi lên giọng um sùm, chung quanh mọi người nhìn tôi với đôi mắt hiếu kỳ.  Không hiểu tại sao bà già này lên cơn.  Cô gái trả lời tôi.  “Nói tiếng ấy người ta chẳng hiểu gì đâu.”  Cô nói bằng tiếng Việt, giọng miền ngoài.  Còn tôi, trong lúc tức giận, đã dùng tiếng Anh theo phản xạ của một người sống ở Hoa Kỳ lâu năm, và làm việc chỉ toàn với người Mỹ.  Tôi cũng không nhận ra là tôi đang nói tiếng Anh.  Tôi nói bằng tiếng Việt, xuống giọng nhưng vẫn còn hậm hực.  “Cô vượt hàng đi lên trước như thế là không tốt.  Cô dùng cái khôn lỏi của cô để đánh lừa mọi người.  Không tốt. Không tốt chút nào cả!”  Cô nhún vai không trả lời.  Anh công an kiểm tra giấy tờ điềm nhiên đóng dấu vào giấy tờ của cô. Tôi nghĩ thầm lẽ ra anh ta phải bảo cô gái xuống phía dưới xếp hàng cho đàng hoàng chứ.   Về phần cô gái tôi muốn nói thêm, ăn mặc như Tây mà hành động chẳng Tây chút nào, nhưng kềm lại không nói.

Chung quanh tôi quang cảnh trở lại với những tiếng động bình thường.  Tiếng đẩy hành lý về phía trước.  Tiếng lê bước của giày dép.  Tiếng trò chuyện.  Cô gái đi nhanh hơn mọi người có lẽ 20 hay 30 phút.  Chẳng là bao so với những người có dư thì giờ, như tôi, vì về hưu rồi và đang đi chơi, có gì đâu mà gấp.  Chuyện cỏn con không có gì phải ầm ĩ.

Người Việt tránh xếp hàng, tìm cách vượt hàng để được lên phía trước đi cho nhanh chóng.  Người Tây phương họ rất thông minh nên họ học hỏi tật xấu rất nhanh.  Trong lúc đứng xếp hàng ở Đà Nẵng để lên máy bay vào Sài Gòn, có một nhóm người ngoại quốc cả đàn ông lẫn đàn bà ở phía sau tôi khá xa, nhưng vì những làn cho người đứng xếp hàng được căng dây theo hình “đường ruột” hay “chữ z” nên họ đứng hầu như song song nhưng quay mặt về phía sau tôi.  Họ nói chuyện với nhau bằng một ngôn ngữ tôi không nhận ra, có khi chêm tiếng Pháp hoặc tiếng Anh.  Như vậy có thể họ là người Đức, hay Hà Lan.  Một người phụ nữ to béo, tóc ngắn, người thấp, nói với bạn bằng tiếng Anh.  Nâng sợi dây ngăn lên, cả đám mình qua hàng bên này, cho nhanh.  Bà bạn ngần ngừ.  Bà phụ nữ to béo nói tiếp.  “Ai cũng làm như thế cả.  Không sao đâu.” 

Lần này thì tôi chẳng buồn lên tiếng.  Họ là người ngoại quốc đến chơi.  Mình sửa sai họ thì cũng có vẻ… không hiếu khách.  Mà họ nói cũng có phần đúng.  Ai cũng làm như thế cả.  Không phải tất cả mọi người đều làm thế.  Chín mươi chín phần trăm người Việt và người ngoại quốc đứng xếp hàng theo đúng thủ tục ngoài kia.  Chỉ có một phần trăm người Việt giở thói khôn lỏi và người Tây bắt chước.

À!  Tôi cũng nhận thấy có một số người đặc biệt, quan chức hay những nhà đại gia quan trọng, được miễn xếp hàng, cứ đi vào một lối riêng.  Không ai phiền trách gì cả.

Phải công nhận một điều, so với năm 1991 và 2005, người Việt mình xếp hàng một cách có ý thức hơn nhiều.

Một góc phi trường Đài Loan vào lúc năm giờ sáng
Bên trong bưu điện thành phố Sài Gòn

The Cannery Row

Hôm nay tôi xin mời bạn cùng tôi đến thăm The Cannery Row, một con phố rất nhỏ ở vùng ven biển Monterey thuộc tiểu bang California. Trước kia nó là con đường mang tên Ocean View, sau đổi thành tên Cannery Row để vinh danh John Steinbeck, người đã viết quyển sách The Cannery Row.


Đây là một công ty địa ốc nổi tiếng ở Monterey. Giá tiền đất ở vùng này khoảng chừng $400/square foot tương đương với $4000/mét vuông

John Steinbeck sinh ngày 27 tháng Hai năm 1902 mất ngày 20 tháng Chạp năm 1968. Ông là đại văn hào của Hoa Kỳ, được giải Nobel Văn chương năm 1962. Những tác phẩm của ông mà tôi đã đọc là The Red Pony, East of Eden, Of Mice and Men, The Grapes of Wrath. Những tác phẩm này được làm thành phim và tôi cũng đã xem. Một số truyện ngắn của ông tôi đã đọc nhưng bây giờ chỉ còn nhớ một vài truyện thí dụ như The Chrysanthemumthe Pearl. Tôi thấy tác phẩm quan trọng nhất của ông Steinbeck là quyển The Grapes of Wrath.

Một góc nhìn ven biển Monterey

Monterey là vùng biển đẹp. Hằng năm có khoảng bốn, năm triệu người đến chơi, xem. Càng nổi tiếng hơn vì đây là quê hương của Steinbeck. Nhà văn này sinh ra ở Salinas, cách Monterey chừng một giờ lái xe. Cách đây vài năm, hình như 2016, tôi có đến National Steinbeck Center, nằm trong Salinas, để xem triển lãm toàn bộ tác phẩm của ông Steinbeck. Năm nay ông Tám thuê nhà trọ cũng ở Salinas cách National Steinbeck Center chỉ độ ba miles, và lái xe đưa tôi đến Monterey. Cùng là Salinas, nhưng chỗ tôi ở trọ có lẽ ở giáp ranh giữa ngoại ô và thành phố nên chỉ cần lái xe một chút xíu là đã có vẻ nông thôn với những cánh đồng artichoke xanh mướt mắt.

Một góc phố Monterey nơi có phòng chưng tranh của Thomas Kinkade. Bạn nào yêu thích tranh chắc biết tên họa sĩ Thomas Kinkade. Tranh của ông đặc biệt với màu sắc và ánh sáng tỏa ra từ bên trong, nhất là tranh vẽ những ngôi nhà cottage trong mùa lễ Giáng sinh.

Tôi đến vào một ngày gần cuối hè, nắng giữa trưa rất chói chang. Thành phố Monterey có hơi hướm châu Âu, với những bức tường màu vàng nhạt và màu hoa đỏ thắm. Đây đó một góc vườn mà chỗ tôi đứng nhìn có vẻ như tôi đang đứng trong một bức tranh của Monet.

Góc vườn giống từa tựa bức tranh Sainte Adresse của Claude Monet

The Cannery Row xuất bản năm 1945 nói về cuộc sống của những người sống ở Monterey vào lúc Đại Khủng Hoảng Kinh Tế. Trong Monterey có một phố toàn là những nhà máy đóng hộp cá mòi (sardine), vì vậy có tên là Cannery Row. Lúc đến nơi này tôi đọc chưa xong quyển The Cannery Row, ngồi trên máy bay tôi đọc một cách chắp vá nên không nhớ rành mạch, tên của những nhân vật được thể hiện qua bức tượng điêu khắc này. Ngồi trên cao nhất là tác giả John Steinbeck. Bốn người bên dưới là bốn nhân vật đã được đổi tên, nhưng dựa vào bốn người có thật đã góp phần xây dựng thành phố này vào những buổi đầu tiên nghèo khó.

Ngồi phía dưới gần sát bệ là nhà hải dương sinh vật học (marine biologist). Trong truyện the Cannery Row được gọi tắt là “Doc” dựa trên nhân vật có thật là Ed Ricketts.

Ed Ricketts là bạn thân lâu năm của văn hào Steinbeck. Hai ông thường đi chung với nhau vài ngày, những lúc Ed Ricketts đi săn lùng những con thú biển và cả ếch nhái để làm thí nghiệm (và bán cho những người hiếu kỳ muốn tìm hiểu hay nuôi những con vật sống trong biển cả), và John Steinbeck muốn tạm dừng bút để nghỉ ngơi. Ed Ricketts có ảnh hưởng sâu đậm đến sự nghiệp văn chương của John Steinbeck. Sau cái chết của Ricketts, Steinbeck mất đi sự sung mãn trong văn chương.

Bó hoa cắm trong tay bức tượng của Ed Ricketts
John Steinbeck
Biển Monterey với những con chim, hay vịt biển bơi và đậu trên hòn đá.
Một góc biển gần Cannery Row. Nơi đây vào thập niên đầu những năm 1900 cá mòi (sardines) theo sóng vào trắng bạc cả bờ biển. Theo chiến tranh thứ Hai, số hộp cá mòi được sản xuất tăng đến một triệu bốn trăm ngàn một năm. Sau năm 1945, nhu cầu tiêu thụ cá hộp giảm dần và số lượng cá mòi tấp vào bờ bỗng nhiên biến mất.

Đứng ở góc biển này, tôi ngửi thấy mùi cá mòi. Nói thật đấy nhé, tôi biết chắc chắn là tôi ngửi thấy mùi cá mòi chứ không phải tôi tưởng tượng đâu. Đang đứng phía trên chỗ gần mấy bức tượng, ông Tám cao hứng muốn xuống để được nhúng tay vào nước biển. Nói thế nhưng khi đến tận nơi ông nói rằng đó chỉ là một cách nói tượng trưng. Tảo đỏ trôi dạt lên bờ, khô biến thành màu nâu.

Một ngôi nhà cổ ở phố Cannery Row
Ở góc này, tôi có thể nhận ra hai nhân vật trong quyển Cannery Row. Ông già người Tàu làm chủ tiệm chạp phô Lee Chong, và cô gái ngồi bên trên (tôi đoán) là nhân vật Dora. Tôi không nhớ ra người phụ nữ có xách đôi giày là ai trong truyện Cannery Row

Lee Chong là chủ tiệm chạp phô. Tiệm của ông tuy nhỏ nhưng có đủ thứ cần dùng cho người dân trong vùng. Người dân ở đây thường là những người làm việc cho xưởng đóng cá hộp. Họ thường khi mua chịu, mua trước chờ lãnh lương trả sau, nghe sao giống người mình hồi trước năm 75 quá. Có người nợ nhiều không trả nổi, hoặc không muốn trả, ông Lee Chong chẳng nói gì chỉ ngừng không bán chịu. Ông biết trước sau gì những người trong vùng cũng phải trả nợ cho ông bằng cách này hay cách khác vì họ không thể mua hang ở nơi nào khác.

Dora là một người làm chủ tiệm bán rượu và bán niềm vui. Nàng có một số đông các cô gái làm việc dưới quyền. Khi được yêu cầu các cô này cũng góp sức làm việc xã hội.

Căn nhà tôi ở trọ ở Salinas
Mấy cái hoa trong vườn chủ nhà trọ ở Salinas
Ruộng rau cải ở Salinas, ở xa không biết người ta trồng gì, đa số là cải kale, artichoke (ạc-ti-sô) , hoặc là cải xà lách (lettuce). Thường là trên những cánh đồng xanh ngát này, ít khi nhìn thấy người, nhưng ở Salinas tôi thấy người thu hoạch rất nhiều. Họ làm việc có hệ thống, nhiều máy móc, xe cộ vào đến tận nơi để chở những thùng rau cải đi phân phối.

Nóng quá, mùa hạ ơi.

Chỗ tôi ở trọ có nuôi hai con mèo. Con mèo trắng nhỏ hơn Nora một chút. Con mèo đốm giống như màu đồi mồi to như Nora. Em đồi mồi chỉ có ba chân thôi nên em đi khập khiễng trông rất đáng thương.

Vợ chồng người chủ nhà trọ dặn tôi cẩn thận khi ra vào nhớ đừng để hai em mèo cưng ra ngoài cửa trước. Tối qua, không hiểu bằng cách nào em mèo lẻn vào phòng tôi núp dưới giường mà tôi không biết. Nửa đêm gần sáng, tôi nghe có tiếng nhảy nhẹ nhàng lên giường tôi. Tôi tự cho là mình nằm mơ hay nghĩ lầm, có thể là cái chăn trải giường bị tuột xuống đất. Chập sau tôi cảm thấy có bước chân nhẹ nhàng lên người tôi. Cái cảm giác quen thuộc mỗi lần Nora muốn đánh thức tôi. Ngồi dậy tôi thấy em mèo trắng nhảy xuống khỏi giường và ra cửa ngồi chờ. Tôi mở cửa, em lẻn ra khỏi phòng. Sau đó tôi thấy em đồi mồi nằm thườn người trên nền sàn gỗ trước cửa phòng tắm, có vẻ như mệt mỏi vì nóng bức. Tôi vuốt ve em và khi tôi đụng đến chỗ chân cụt, em ngồi dậy có vẻ như không bằng lòng. Tôi ngừng lại và trở vào phòng.

Từ cửa sổ phòng tôi nhìn thấy đường xuyên bang I80, chạy ngang Vallejo, xe vận tải hạng nặng chạy hầu như suốt đêm. Phòng trọ không có máy lạnh, thời tiết nóng hơn tôi dự đoán, mà tôi còn phải ở đây thêm bốn đêm nữa. Nghe dự đoán thời tiết bảo rằng ngày mai sẽ xuống dưới 90 độ F. Liên tiếp mấy hôm nay, ngày nào cũng hơn 100 độ F. Hai em mèo nằm không buồn nhúc nhích.

Hôm nay, sau khi đi xem viện bảo tàng nhà văn Jack London, còn dư vài tiếng đồng hồ tôi vào thư viện thành phố Sonoma trốn nóng. Post bài này xong sẽ đọc vài truyện ngắn của nhà văn Jack London.

Mèo hoang biết khống chế người

Chuẩn bị đi chơi xa tôi tìm người giúp cho mấy con mèo hoang ăn. Nora thì sẽ mang sang nhà cô em của ông Tám gửi nhờ mấy người cháu chăm sóc. Nora với các cháu đã quen nhau và mến nhau. Trước kia chú em rể mỗi ngày sang cho mèo ăn. Lần này chú ấy bị đau đầu gối không thể đi lại nhiều nhất là vào nhà tôi driveway (đường chạy vào nhà cất xe) con dốc rất cao. Lần đi Việt Nam ông Tám đặt cái máy cứ đến giờ là thả thức ăn ra, mỗi ngày máy thả thức ăn hai lần. Cách này chỉ dùng được một thời gian ngắn sau đó tụi racoon phá máy bứt tung hết dây điện. Ông Tám đã tìm nhiều cách bảo vệ cho máy đừng bị phá hư để đám thú hoang (kể cả racoon, ground hog) có thức ăn. Không thành công.

Tôi sang nhà hàng xóm, bên trái nếu đứng bên trong nhìn ra cửa, tìm P. Chúng tôi ở cạnh nhau đã bao nhiêu năm đây là lần thứ hai tôi vào nhà P. Lần đầu tôi thay mặt Ách Cơ, lúc ấy nhận giữ cậu bé J. một buổi cho vợ chồng P. đi đâu đó. Ách Cơ bận gì đó ở trường nên tôi trông chừng cho J. ăn trưa độ một giờ đồng hồ sau đó trả công việc lại cho Ách Cơ.

Nghe tiếng P. ở trong nhà nhưng mãi rất lâu nàng mới mở cửa. P. giải thích vì nàng đang bận học cho kỳ thi lấy bằng hành nghề. P. làm gì đó trong lĩnh vực Đông Y/ Thuốc Bắc/Thuốc Nam gì đó nàng giải thích tôi chỉ hiểu mù mờ. Tôi xin phép P. cho cậu con út của nàng giúp cho mấy con mèo hoang ăn, một thứ việc làm mùa hè cho những cậu bé chưa đến tuổi lái xe và chưa được phép làm việc nặng nhọc. Cậu bé J. ngày nào phải có người trông chừng cho ăn, giờ đã cao hơn tôi một cái đầu (và thêm một cái cổ nữa chứ). Tôi và J. bắt tay nhau. Hợp đồng làm việc là mỗi ngày cho mèo ăn một lần, thức ăn tôi đưa, tiền công là 50 đồng một tuần. Ông Tám bình luận, khơi khơi vậy thôi không có ý trách móc gì, tiền công và tiền thức ăn nuôi mấy con mèo hoang độ 60 đồng một tuần. So ra đó là một số tiền khá lớn ở VN. Một sự phí phạm chăng? Tôi không đành lòng để mấy con mèo hoang bị đói, và có thể chết. Biết làm sao đây? Mình đang ở Mỹ mà, phải chịu tốn kém của cuộc sống ở Mỹ thôi, đâu có thể so sánh với VN. Bảo vệ hay duy trì sự sống của thú vật hoang có là một lãng phí hay không? Tôi nghĩ là không, trong cái sức nhỏ bé của tôi, duy trì được sự sống của những con thú nhỏ bé là điều tôi muốn làm và có khả năng làm. Có thể đây là một việc làm vô ích, tốn kém mà không sinh lợi, nhưng tôi có cảm tình với lũ mèo hoang. Chúng luôn luôn dấy động trong tôi một thứ tình gì đó khó tả, nửa như thương hại, nửa như thương mến, một chút gì đó “hình như là tình yêu” (haha, nói cho có vẻ lâm ly một chút, sến súa một chút, bạn đừng cười, hình như biểu lộ tình cảm nào cũng có vẻ lâm ly sến súa, với loài mèo hoang thì càng tệ hơn).

Nora năm nay là 10 tuổi có thể 11 vì tôi không nhớ chắc nàng sinh năm 2008 hay 2009. Tính theo tuổi người thì nàng được 60 hay 64 tuổi. Bệ vệ, lười biếng và tính nàng khá lạnh nhạt. Lúc sau này nàng hay cắn tôi. Thỉnh thoảng lại cắn vào chân và tay tôi, cạp nhẹ nhẹ rồi thả ra, không hiểu là một cách bày tỏ cảm tình hay giận tôi chậm cho ăn. Nàng kén ăn thậm tệ, chỉ ăn thức ăn mềm có mùi cá hồi. Thỉnh thoảng đòi ăn một chút thức ăn của người, thịt gà hay thịt sườn ram, không ăn nhiều nhưng muốn thử.

Mèo Anh thì hơn một tuổi. Chàng sinh ra đâu từ tháng 4 năm 2018 lúc tôi vắng nhà, đi chơi ở Canada về lúc tháng Năm thì mẹ chàng đã tha từ nơi nào đó về sân nhà tôi. Năm đầu tiên của mèo được tính là 15 tuổi của người. Mèo Anh vẫn còn cái nét thiếu niên, mỗi lần tôi mở cửa sau là chàng lơn tơn chạy đến, người dong dỏng, nét mặt ngây thơ. Mỗi lần gặp Nora là nhanh nhẹn chạy đến cọ cái cổ của chàng vào cổ Nora. Một hai lần Nora để yên. Tôi yên lặng ngắm xem bọn mèo phản ứng ra sao. Nếu mèo Anh cứ tiếp tục xấn xổ thì Nora dùng tay (chân trước) tát nhẹ một cái, kiểu quơ tay đẩy ra hay vuốt đầu, chứ không tát và giương móng vuốt. Mèo Anh đối với ông Mun cũng như thế, thân thiện và kính nể. Bao giờ cũng bị ông Mun tranh ăn đuổi đi. Nếu mèo Anh “necking” (cọ cổ) ông Mun thì ông cũng lấy tay tát nhẹ, đẩy đi như Nora đã làm vậy.

Mèo Anh biết là sẽ được cho ăn riêng, thức ăn của Nora, nên cứ nấn ná, chờ ông Mun đi khỏi (và ông Tám không để ý 🙂 ) thì sẽ được ăn thêm. Buổi tối trước khi đi ngủ, hay sáng sớm mới thức dậy, mèo Anh cà rà gần cửa sổ nơi tôi ngồi đọc hay viết, kêu nghêu ngao gợi sự chú ý của tôi, dĩ nhiên chỉ đòi thức ăn ngon thôi.

Ông Mun nhận ra rằng thằng bé này được chiêu đãi đặc biệt, nên sáng sớm hoặc chiều tối, ông canh me gần đó, lẩn trong bóng tối tôi không nhìn thấy. Hễ thấy mèo Anh được cho ăn riêng và tôi đã vào nhà là ông đến đuổi mèo Anh đi. Rồi ông cũng kêu gào ầm ĩ nếu tôi không cho thức ăn ngon.

Ai bảo loài mèo không khôn ngoan. Chúng biết khống chế hay điều khiển một bà già đó chứ. Mấy con mèo, lúc ngồi xếp hàng trước cửa, mặt ngẩng lên nhìn vào ô cửa kính có vẻ như đang xin xỏ chờ đợi loài người cho ăn, luôn luôn làm tôi nhớ đến số phận của tôi cũng một thời chờ đợi xin xỏ sự cứu giúp của tha nhân. Năm 1963 nhà tôi ở Hãng Phân Vĩnh Hội bị cháy, má tôi và tôi từng xếp hàng chờ nhu yếu phẩm, chờ được phát thức ăn, quần áo cứu trợ. Năm 1980 tôi xếp hàng chờ lãnh nhu yếu phẩm thức ăn nước uống từ Ban Cao Ủy Tị Nạn ở Bidong Mã Lai. Có lẽ tôi thương bọn mèo hoang này cũng là tự thương mình một thời khốn khó, ngẫm ra thì mình có một thời chẳng hơn gì đám mèo hoang.

Giữa ngựa và người

Ảnh của nhà nhiếp ảnh Hoàng Huy Mạnh đăng trên trang mạng Gió O

Bài đã đăng ở Gió O
http://www.gio-o.com/Tet/2014NguyenThiHaiHaGiuaNguaVa.htm

tản mạn

Ngựa có mặt trên thế giới chừng bốn mươi ngàn năm trước Công nguyên, được thuần hóa vào khoảng bốn ngàn năm trước Công nguyên. Ngựa xuất hiện thường xuyên trong văn học và nghệ thuật. Ngựa là biểu tượng của chia lìa, vì trong chiến tranh người đàn ông phải ra trận. Chúng ta có thể không biết nét mặt của người đàn bà ở phía sau rặng liễu, nhìn dáng chồng từ từ khuất nẻo nhưng ai cũng biết màu y phục của người chồng và màu con ngựa chàng cưỡi qua hai câu thơ trong Chinh Phụ Ngâm Khúc “Áo chàng đỏ tựa ráng pha, ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in.”  Và có lúc đã tiếc mình không theo kịp người đi “Đưa chàng lòng dặc dặc buồn. Bộ khôn bằng ngựa, thủy không bằng thuyền.”  Ngựa là biểu tượng của sức mạnh, nhanh nhẹn, dẻo dai, tình bạn, lòng trung thành, trí khôn ngoan trong vô số tác phẩm. Ngựa hoang được dùng để ám chỉ một người có ước muốn tự do không chịu khuất phục trước những trói buộc của uy quyền như “Ngựa hoang nào dẫm nát tơi bời. Đồng cỏ nào xanh ngắt chân trời. Ngựa phi như điên cuồng, giữa cánh đồng dưới cơn dông.”[i]  Chỉ vài câu mà chúng ta nhìn thấy một bức tranh ngựa phi tuyệt đẹp và những ngón đòn thù giữa “ngựa” và người. Mối liên hệ giữa ngựa và người, ân tình và oán thù được thăng hoa trong nhiều tác phẩm. Một con ngựa đã giết người để trả thù được Patti Highsmith ghi lại trong truyện ngắn Engine Horse.   Alice Munro, Nobel 2013, đã nhiều lần nhắc đến ngựa, tiêu biểu là hai truyện ngắn Boys and Girls và Under the Apple Tree. Rất may trong văn học chúng ta được chứng kiến ân tình giữa ngựa và người nhiều hơn thù oán. Trong phạm vi bài tản mạn này, xin mời độc giả thưởng thức một ít ân tình giữa ngựa và người trong bốn tác phẩm văn học bất hủ của Tây phương.

1. Con ngựa trong A Country Doctor (Bác Sĩ Làng) của Franz Kafka

Trong truyện ngắn “A Country Doctor” của Franz Kafka, có ông bác sĩ già cần phải đi chữa bệnh cho một người ở cách đó mười dặm nhưng con ngựa duy nhất của ông đã chết đêm qua vì kiệt sức. Cô gái giúp việc, Rose, đi khắp nơi đến nhà láng giềng để mượn ngựa cho chủ nhưng không ai cho mượn. Trong cơn tức bực, bác sĩ đá mạnh mở toang cánh cửa chuồng lợn, thì bỗng nhiên, có anh nài ngựa dẫn hai con ngựa lóp ngóp từ trong chuồng lợn bò ra.  “Thật là người ta nhiều khi không biết trong nhà người ta có chứa những gì.”  Kafka tả, hai con ngựa cao lớn khỏe mạnh, nhưng ông không nói rõ ngựa màu gì. Koji Yamamura, đạo diễn Nhật, trong đoạn phim họa hình đã vẽ đôi ngựa màu đen.[ii]  Anh nài ngựa bỗng dưng ôm chầm lấy Rose thô bạo cắn vào má cô nàng đến rướm máu. Bác sĩ muốn đánh tên nài ngựa để cứu Rose nhưng lại sợ hắn không cho mượn ngựa và có lẽ cũng vì hắn cường tráng mà ông thì già yếu hom hem. Bác sĩ lên đường một mình vì tên nài ngựa tuyên bố ở lại để chiếm đoạt Rose. Đôi ngựa tự động mang bác sĩ đi đến một nơi quang đãng, xa mười dặm mà đi trong chớp mắt. Bệnh nhân là một cậu bé mười một tuổi, gầy gò xanh xao nhưng không bị sốt. Bác sĩ cho là bệnh của cậu không nguy hiểm và đôi ngựa thò đầu vào cửa sổ khiến Bác sĩ nghĩ đến Rose đang cần được ông cứu. Sau tiếng ngựa hí Bác sĩ tìm thấy bên hông của cậu bé có một vết lở to như cái hoa hồng, bên trong đóa hoa hồng này là những con dòi to bằng ngón tay út, đầu trắng và có nhiều chân. Dân làng tụ họp trước nhà bệnh nhân xông vào cởi quần áo của Bác sĩ và đặt ông lên giường của bệnh nhân vì ông không chữa được bệnh và phải bị giết, y như lời hát của một bài đồng dao. Bác sĩ ném quần áo ra cỗ xe ngựa ngoài cửa sổ và trốn về. Trên đường về Bác sĩ già trần truồng và hai con ngựa lê bước chậm chạp trong cơn bão tuyết.

Truyện ngắn Bác Sĩ Làng của Franz Kafka, thường được giới phê bình văn học cho rằng vì truyện giống như một giấc mơ nên khó phân tích một cách khoa học. Hai học giả Louis H. Leiter[iii] và Richard H. Lawson[iv] dùng phân tích tâm lý học của Freud và Jung để “giải mã” tác phẩm Bác sĩ Làng của Franz Kafka.

Con ngựa, biểu tượng tính dục của người đàn ông, đã chết trong đêm trước, tượng trưng sự cạn kiệt tình dục của Bác sĩ làng. Rose, cô hầu gái tượng trưng tính dục của người phụ nữ, đã cố giúp hồi sinh tính dục của ông chủ bằng cách đi mượn ngựa của láng giềng. Hai con ngựa xuất hiện từ chuồng heo là ước muốn khả năng làm tình được hồi sinh. Hai con ngựa nhìn vào phòng bệnh nhân từ cửa sổ tượng trưng cho hành động xâm nhập tình dục. Cậu bé bệnh nhân là một hình ảnh tương phản sự bất lực của Bác sĩ làng (già nhưng không đau yếu; và trẻ nhưng đau yếu trầm trọng). Sự kiện mất quần áo của Bác sĩ trong khi chạy trốn được xem như biểu tượng cho sự bị thiến bộ phận sinh dục (castration) và sự mệt mỏi của hai con ngựa khi trở về là nhận thức về sự bất lực của Bác sĩ làng.

Người viết vốn không tin là mọi tác phẩm đều có thể phân tích dựa trên căn bản tình dục như lý thuyết của Freud và Jung. Tuy nhiên, xin tóm tắt ý kiến của hai học giả để giúp vui độc giả.

Một độc giả bất kỳ nào đó (như tôi chẳng hạn) có thể phân tích tác phẩm như sau:

Kafka, ai cũng biết, bất hòa với người bố vì bị bố cấm viết văn. Viết văn, sự sáng tạo của Kafka, nguy hiểm cho tính mạng của tác giả trong chế độ độc tài. Văn chương như một đóa hoa đẹp, nhưng cũng nguy hiểm như vết thương lở lói đầy dòi lúc nhúc trên thân thể của cậu bé, và cậu bé là hiện thân của Kafka. Truyện ngắn “Bác sĩ làng” được Kafka viết với quan điểm của Bác sĩ làng, tượng trưng cho người bố của Kafka. Ước muốn và sự tự tin sẽ cứu được bệnh nhân, (tượng trưng cho ước muốn của người bố muốn cứu Kafka bằng cách khuyên bảo ông ngừng viết), biến thành hai con ngựa khỏe mạnh và đưa Bác sĩ đến gặp cậu bé trong chớp mắt. Con ngựa của Bác sĩ làng bị chết từ đêm trước ám chỉ người Bố không có phương tiện, hay không được phép đi thăm Kafka. Ông bố phải lén lút đi thăm Kafka do đó Bác sĩ làng phải đi trong đêm bão tuyết mịt mù. Khi đến nơi, biết là đứa con của mình mang cái nghiệp viết văn có thể nguy hiểm đến tính mạng, sự bất lực và tan nát tâm hồn của người bố được Kafka biểu hiện bằng cái trần truồng trong trời giá lạnh của Bác sĩ làng, và hai con ngựa trở nên mệt mỏi biểu hiện nỗi buồn của người bố phải cao bay xa chạy để tự cứu mình mà không cứu được con.

2. Con ngựa Frou-Frou[v] trong Anna Karenina của Leon Tolstoi

Mặc dù Vronsky và Anna đã yêu nhau và nhiều lần lén lút gặp gỡ nhau, chuyện tình của hai người chỉ bị khám phá sau cuộc đua ngựa của Vronsky. Giàu, đẹp trai, lịch thiệp, và là một kỵ mã tài hoa, Vronsky tham dự cuộc đua ngựa vượt qua các chướng ngại như rào cản và hào mương. Rất tự tin ở sức khỏe, lòng can đảm, cũng như tài cỡi ngựa của mình, nhưng Vronsky có chút ngần ngại vì chưa mấy quen với Frou-Frou, con ngựa sắp cùng chàng tham dự cuộc đua. Frou-Frou là con ngựa cái tơ màu nâu sậm, vẫn còn bị xem là “chưa hoàn hảo lắm.” Tuy nhiên “nàng” thuộc nòi giống có tiếng tăm và như thế là đủ để được bỏ qua mọi khuyết điểm khác. Trong khi đua ngựa này, do Vronsky không khéo điều khiển nên sẩy bước, lỗi nhịp khiến Frou-Frou ngã và gãy xương sống. Trông thấy Vronsky ngã ngựa Anna khóc và biểu lộ sự bấn loạn khác thường khiến Karenine đoán biết vợ mình ngoại tình với Vronsky.  

Theo hai học giả Martin Stevens[vi] và Hugh McLean[vii], Tolstoy đã dùng cái chết của Frou-Frou làm điềm báo trước vận mệnh u tối của Anna và mối đam mê của nàng dành cho Vronsky.

Qua cách dùng chữ của Tolstoy, độc giả dễ nhận ra, tác giả dùng Frou-Frou để ám chỉ Anna. Khi Vronsky gặp Frou-Frou trong chuồng ngựa, chàng nhận thấy đôi mắt của nàng “nổi bật, sáng rực và hào hứng,” còn thân hình của nàng “căng đầy nhựa sống nhưng lại rất mềm mại.” Mối quan hệ của Vronsky với Frou-Frou cũng rất gợi cảm. “Chàng càng đến gần, nàng càng trở nên rạo rực. Khi chàng đứng bên cạnh đầu của nàng, bỗng nhiên nàng trở nên đằm thắm hơn, cùng lúc ấy những sớ thịt của nàng run rẩy bên dưới lớp lông mềm mại như tơ.”

Vronsky quả là một người có sự nhạy cảm và con mắt quan sát của nhà văn. Với con ngựa chàng đã tinh tế như thế thì với Anna chàng càng tinh tế hơn. Vronsky bị Phu nhân Karenine thu hút ngay trong lần gặp gỡ đầu tiên khi nàng ngồi chung cỗ xe với mẹ chàng. Chàng nhận ra trên nét mặt nàng có một “vẻ mơn trớn mềm mại đặc biệt” và “đôi mắt của nàng sáng rực” và một “vẻ rạo rực được kềm chế.” Nét tương đồng của Frou-Frou và Anna cũng được Tolstoi miêu tả qua cách Kitty quan sát Anna, tình địch của nàng. Kitty nhìn thấy “ánh sáng lấp lánh run rẩy trong đôi mắt của Anna, nụ cười đầy hạnh phúc sự rạo rực một cách vô thức đang nở trên môi nàng, vẻ duyên dáng thật chín, và cử chỉ uyển chuyển nhẹ nhàng của Anna.”

Sự tương đồng của Frou-Frou và Anna Karenine qua cách miêu tả của Tolstoy không chỉ ngừng ở ánh sáng của đôi mắt, đường cong nét mềm của thân thể, hay một sự rạo rực ngấm ngầm trong đôi môi, sớ thịt. Trong một lần Anna bị ngã, Tolstoy đã miêu tả nét mặt của Vronsky như sau: “Nét mặt nhợt nhạt và hàm dưới run run chàng cúi xuống nhìn nàng” Và lúc Frou-Frou chết, Vronsky được miêu tả như sau: “Khuôn mặt bị biến dạng vì xúc cảm cực độ, nhợt nhạt và hàm dưới run run.” Frou-Frou cũng là tên thân mật của Gilberte, nhân vật trong vở kịch thịnh hành của Meilhac và Halévey ra mắt khán giả năm 1870. Những chi tiết của vở kịch này theo Stevens và McLean đã ảnh hưởng sâu đậm trong việc xây dựng nhân vật Anna Karenine của Tolstoy.

3. Con ngựa Rocinante của Don Quixote

Don Quixote sẽ không được xem là tác phẩm khôi hài bất hủ nếu chàng hiệp sĩ tấn công nhà máy xay lúa chạy bằng gió không có con ngựa gầy Rocinante. Trái ngược với vận mạng của Frou-Frou, con ngựa đua được chăm sóc cẩn thận nhưng lại chết dưới trôn của chủ, Rocinante của hiệp sĩ Don Quixote bị bỏ đói, bị đánh đập nhưng sống lâu hơn chủ.  Nói rõ hơn, tuy Don Quixote không yêu Rocinante kiểu Vronsky yêu Frou-Frou nhưng không phải ông hiệp sĩ khùng này ngược đãi súc vật. Rocinante bị bỏ đói vì chủ của nó cũng bị đói. Rocinante không bị chủ đánh đập mà bị những người vị hiệp sĩ tấn công.  

Khi mới vừa tự phong chức hiệp sĩ, Quixote gặp một đoàn thương gia Toledo đi bán lụa đang nghỉ chân. Quixote bắt họ phải tán dương sắc đẹp của Dulcinea. Khi một người trong bọn bảo rằng chưa từng gặp mặt làm sao biết thần tượng của Quixote đẹp đến mức độ nào thì Quixote nổi giận bảo rằng họ không kính trọng nàng do đó ông giục Rocinante tiến lên với một khí thế hùng hổ ngọn giáo chĩa lăm lăm. Nếu Rocinante gầy còm không ngã quị thì chắc lũ lái buôn phải có vài ba người bị toi mạng. Vì Rocinante ngã quị nên bọn lái buôn xúm vào đánh cả người lẫn ngựa một trận nhừ tử. Don Quixote không kém tài và chắc chắn là không hèn nhát, ông bị đánh chỉ tại vì Rocinante lóng ngóng vụng về.

Rocinante bị đánh và bị ngã nhiều lần nhưng không chết. Nếu trận đòn ấy là do Don Quixote khiêu chiến thì cũng có nhiều lần lỗi lầm đưa đến chỗ cả chủ lẫn tớ bị đánh đập hoàn toàn là tại Rocinante. Don Quixote cố gắng giữ tiết hạnh để biểu lộ lòng kính trọng với Dulcinea del Toboso, một phụ nữ nhà quê được ông đưa lên ngôi thần tượng. Học giả John Cull[viii] dựa vào học thuyết của Freud phân tích rằng sự tiết chế tình dục này được dùng để ám chỉ Don Quixote là người bị bất lực về mặt sinh dục. Don Quixote có cây giáo mòn lụt, và nhiều lần bị đối thủ bẻ gãy cũng là cách ví von sự bất lực của Quixote vì cây giáo là tượng trưng cho phallus hay “con cờ” của nam giới. Rocinante, con ngựa đực, được  xem là biểu tượng tình dục của đàn ông. Suy nghĩ theo chiều hướng trên, Rocinante là hình ảnh đối kháng của Don Quixote. Don Quixote ăn chay tình dục nhưng Rocinante lại rất khát tình. Và chính vì cái khát tình của Rocinante mà cả Don Quixote với Sancho, người hầu cận, bị một trận đòn tơi tả.

Sau khi đi mấy ngày đường đói và khát, Don Quixote và Sancho gặp một cánh đồng cỏ non mượt có con suối chảy ngang nước trong veo mát rượi. Sancho thả Rocinante trên đồng cỏ non, nghĩ rằng thường ngày Rocinante rất nhút nhát chắc chẳng quấy rầy ai. Trên đồng cỏ có một nhóm người yangueses đã đến trước và đang cho ngựa nghỉ ngơi. Rocinante lên cơn khát tình, nên thay vì gặm cỏ non và uống nước suối lại rượt đoàn ngựa tơ ponies của đám yangueses đòi cưỡi ngựa. Đám lái buôn đánh đuổi Rocinante đến độ chàng ngựa vừa gầy vừa già rớt hết “quần áo” yên cương chỉ còn lại thân hình trụi lũi. Nóng lòng vì Rocinante của mình bị đánh đập tàn nhẫn, hiệp sĩ Don Quixote ra lệnh Sancho phải cùng hiệp sĩ trả thù cho Rocinante. Sancho nhắc nhở cho chủ biết là “bọn chúng hơn hai mươi đứa, còn chúng ta chỉ có hai người, đánh làm sao lại họ mà đánh.” Tuy nhiên bản tính hiệp sĩ của Quixote đã chẳng chịu lùi bước trước sức mạnh nào nên Don Quixote xông lên và dĩ nhiên bị đánh cho một trận bò lết bò càng. May cho hiệp sĩ nhà ta là đã ngã bổ nhào nằm bên cạnh Rocinante. Vì hiệp sĩ nhỏ bé hơn Rocinante nên roi vọt đánh trúng Rocinante nhiều hơn đánh trúng hiệp sĩ. Tội nghiệp Sancho đã không được may mắn như thế. Vẫn biết Rocinante phạm tội “dê,” nhưng theo cái kiểu con hư là tại cha mẹ, vì thế Don Quixote phải bị vạ lây. Nếu không có Rocinante độc giả sẽ không có cơ hội mà mỉm cười.

Bên cạnh cây giáo, cánh tay của Don Quixote cũng được xem là biểu tượng của phallus.  Quixote thường khoe sức mạnh của cánh tay, nhưng khi hữu sự cánh tay của hiệp sĩ thường trở nên bất lực. Maritornes và con gái của vị chủ quán đã đùa cợt với Quixote khi ông đến trú ngụ. Hiệp sĩ e ngại hai vị nữ lưu sẽ lợi dụng xâm phạm tình dục ông. Tuy nhiên vốn bản tính hiệp sĩ hay chìu ý phụ nữ, Quixote nghe lời dụ dỗ của hai nàng nên thò cánh tay vào một cái lỗ trong nhà chứa rơm. Hai nàng tinh nghịch cột cổ tay của ông và để ông tay bị treo lủng lẳng. Quixote mỏi quá phải dựa vào Rocinante tuy nhiên con ngựa đã chạy theo cơn khát tình mà bỏ ông chủ lại. Đây cũng là một ẩn dụ tình dục John Cull đã nhìn theo phương pháp Freud và sự có mặt của Rocinante làm tăng thêm phần khôi hài của tác phẩm.

4. Con ngựa Boxer trong Animal Farm (Trại Súc Vật) của George Orwell

Nếu nhắc đến con ngựa trong văn học, mà không nói đến bầy ngựa trong Trại Súc Vật của Orwell thì là một thiếu sót lớn lao, bởi vì bầy ngựa này, đặc biệt là Boxer, tượng trưng cho người dân sống trong chế độ độc tài. Trong Trại Súc Vật, có đôi vợ chồng Boxer và Clover thuộc loại ngựa kéo (kéo xe hay kéo cày), Mollie là loại ngựa kiểng (nuôi để đi thi ở các cuộc thi giữa các nông trại), và Benjamin (nửa ngựa nửa lừa). Boxer màu đen, to lớn, cao hơn một mét tám, có sức khỏe bằng hai con ngựa bình thường. Mặc dù dáng dấp đồ sộ, Boxer bị xem là ngu ngốc bởi vì Boxer có một vệt lông trắng chạy dài trước đầu. Clover như một phụ nữ to béo sau khi sinh bốn đứa con. Mollie là một cô nàng ngựa trẻ, màu trắng, đỏm dáng với cái nơ buộc trên bờm. Thường bị xem là phù phiếm, nhẹ dạ, lười biếng, ích kỷ, ngu ngốc vì chỉ biết có một mẫu tự. Thật ra cả bầy ngựa không ai biết nhiều chữ, chỉ Benjamin loài người thường mắng là ngu như lừa lại biết chữ, có thể đọc nguyên câu văn.  Về sau khi Napoleon và lũ heo chó thay đổi luật lệ để có thể thao túng quyền hành và giết hại “dân chúng” trong trại, Benjamin chính là “người” đọc luật cho Clover nghe.

Boxer, như một người nông dân anh hùng, đã chung vai sát cánh với lãnh đạo để chống chọi với “kẻ thù” loài người. Chính Boxer là kẻ đã hạ gục một kẻ thù bằng cách đứng lên bằng hai chân sau, dùng hai chân trước, có bọc móng sắt bổ xuống đầu Foxwood khiến hắn ngã lăn quay ra chết giấc. Boxer hạ kẻ thù một cách quang minh chính đại, bất cứ ngón đòn nào, dù đá đạp đấm đánh đều ra chân trước mặt chứ không đánh từ bóng tối như loài người. Trong khi Boxer và các loại thú anh dũng chiến đấu kẻ thù thì Mollie trốn trong chuồng của nàng, vùi đầu vào máng rơm. Nàng chạy trốn ngay lập tức khi nghe tiếng súng của kẻ thù.

Độc giả dễ có ác cảm với Mollie. Khi lãnh đạo bàn chuyện làm cách mạng, Mollie hỏi ngay là khi cách mạng xong rồi cô ta có còn được ăn đường và được đeo nơ không. Khi mọi người phải từ chối mọi xa hoa phù phiếm để ủng hộ cách mạng thì Mollie mang tất cả lạc thú của cô ta đem dấu dưới đống rơm. Và khi toàn trại súc vật được ra chỉ thị phải căm ghét, và không làm nô lệ cho kẻ thù, thì Mollie có cử chỉ thân thiện với loài người. Mollie chối rằng không theo loài người để phản bội loài vật, nhưng “người ta” nhìn thấy Mollie đứng giữa hai gọng của xe kéo, nhăm nhi đường, bờm có gắn nơ, và được người ve vuốt.

Ann Patchett, trong bài tiểu luận giới thiệu Trại Súc Vật, đã bênh vực hành động của Mollie. Patchett cho rằng dù Mollie làm nô lệ cho loài người thì đó là hành động chọn lựa. Do sự chọn lựa đó Mollie tránh được nỗi đau lòng khi bị đồng bọn phản bội. Người ta có thể cho rằng lựa chọn hạnh phúc của Mollie là một hành động hèn mạt, vì nàng không chịu sống theo gương mẫu của người khác đặt ra, nhưng Patchett cho rằng, vào thời buổi của Trại Súc Vật, đạt được hạnh phúc mà không lợi dụng công lao của đồng loại nên được xem là một sự vẻ vang.

Boxer là điển hình cho một mẩu công dân, hiền lành, chân thật, yêu thương đồng loại, tôn trọng luật pháp. Boxer cũng như nhiều người dân khác đã quá tin vào giai cấp lãnh đạo, để tư tưởng của họ bị kềm chế và bị đưa đến con đường hủy diệt. Bất cứ vấn đề gì xảy ra, Boxer chỉ biết nai lưng lao động, không ngờ sự hy sinh của mình chỉ phục vụ giai cấp thống trị và tiếp tay họ làm cho tình trạng xã hội trở nên tệ hại hơn.

Ngựa chiếm một vị trí rất lớn trong huyền thoại, văn học và phim ảnh Tây phương. Từ con ngựa trắng Pegasus trong huyền thoại Hy lạp đến con ngựa đen trong Black Beauty hay Black Stallion. Ngựa không những để kéo cày mà con dùng để kéo những cỗ đạn pháo nặng nề, hơn một triệu con ngựa khỏe được dùng để phục vụ Thế chiến thứ Hai. Sức khỏe, lòng trung thành và sự khôn ngoan của Joey được trân trọng trong phim War Horse của Speilberg. Tình bạn giữa người và ngựa dù chết cũng không chia xa như White Mane. Ngựa được Trịnh Công Sơn dùng để miêu tả một người nghệ sĩ rong chơi như “Đời vẽ tôi tên mục đồng, rồi vẽ thêm con ngựa hồng, từ đó lên đường phiêu dong.”  Ngựa đủ thông minh để được huấn luyện nhảy múa theo điệu nhạc phục vụ khán giả. Mấy mươi năm qua, những con ngựa trong Trại Súc Vật của George Orwell, trong Anna Karenina của Leon Tolstoy, trong Don Quixote của Miguel de Cervantes, trong the Country Doctor vẫn còn đáng cho chúng ta chiêm ngưỡng và suy ngẫm.

[i] Vết Thù Trên Lưng Ngựa Hoang của Ngọc Chánh và Phạm Duy.

[ii] https://www.youtube.com/watch?v=ZDjmW-gIsKs

[iii] Leiter, Louis, “A Problem in Analysis: Franz Kafka’s A Country Doctor.” The Journal of Aesthetics and Art Criticism, Vol. 16, No. 3 (Mả., 1958), pp. 337-347.

[iv] Lawson, Richard, “Kafka’s Der Landarzt.” Monatshefte, Vol. 49, No. 5 (Oct., 1957), pp. 265-271.

[v] Wikipedia dùng chữ Fru-Fru.

[vi] Stevens, Martin, “A Source for Frou-Frou in Anna Karenina,” Comparative Literature, Vol. 24, No. 1 (Winter, 1972), pp. 63-71.

[vii] McLean, Hugh, “Correspondence: On Horses, Adulteresses, and Tolstoy.” Comparative Literature, Vol. 24, No. 3 (Summer, 1972), pp. 285-286.

[viii] Cull, John, “The ‘Knight of the Broken Lance’ and his ‘Trusty Steed’: On Don Quixote and Rocinate,” Cervantes: Bulletin of the Cervantes Society of America 10.2 (1990): 37-53

Nguyễn thị Hải Hà

Lời tình tự của hồ Surprise

Tôi chẳng còn nhớ mình đã có mặt nơi đây từ bao giờ, chỉ biết là mình đủ già nua để thấy chung quanh mình vạn vật đều trẻ hơn. Mới nghĩ thế đã nghe rừng cây rì rào. Giữa bà và chúng tôi chưa chắc ai đã già hơn. Người ta đặt cho tôi cái tên Hồ Ngạc Nhiên bởi vì tôi bỗng xuất hiện thình lình trong mắt của những người đi rừng. Tôi bị rừng cây che lấp, lối đi quanh co khúc khuỷu, chỉ khi người đi rừng đứng cạnh bên tôi mới ngạc nhiên nhận ra có một cái hồ, do đó tôi có cái tên, Hồ Ngạc Nhiên.

Tôi đã chứng kiến bao nhiêu thay đổi của mùa màng trời đất. Trời xanh và rừng cây thay màu sắc từng mùa soi bóng trong mắt tôi.

Tôi nuôi dưỡng dung chứa trong lòng bao nhiêu là loài vật, cá ốc, ếch nhái, côn trùng. Đàn chim đến theo mùa, bơi lội ca hát. Ông già cô độc, blue heron, đến rồi đi rồi lại đến. Nhà tôi luôn mở cửa đón ông.

Tôi chứng kiến bao nhiêu cuộc tình. Họ ngồi gần bên hồ, thủ thỉ tâm tình. Họ hôn nhau. Họ chia tay nhau. Họ là những đôi tình nhân, có tuổi và không có tuổi. Có những người mới yêu nhau lần đầu. Và cũng có những người yêu vụng trộm. Loài người vô tình vô tâm, không hề ngờ rằng khi họ nhúng tay nhúng chân vào nước là tôi rút ra từ họ, hay họ chảy vào trong tôi những tình tự thương yêu cũng như buồn thương chất ngất. Thậm chí, họ chỉ cần soi bóng, hay ở gần đủ để tai tôi nghe tiếng của họ, là tâm tình của họ tuôn chảy vào trong tôi. Và tôi ấp ủ nỗi niềm của họ như chính nỗi niềm của riêng tôi.

Đôi lứa yêu nhau không phải chỉ có người với người, thú vật với thú vật, mà nhiều khi tôi chứng kiến tình yêu giữa người và thú vật. Bao nhiêu người dẫn chó đến đùa nghịch với nước trong hồ. Chỉ cần nhìn mấy con chó lao vào trong nước ngoạm cho được trái banh hay cành cây chủ ném, sung sướng mang quà về cho chủ cũng đủ cho tôi thấy lòng vui lây. Tôi hạnh phúc với cái hạnh phúc của người. Tôi cũng hạnh phúc với cái hạnh phúc của những con chó nô đùa với nhau trong nước của hồ tôi.

Có vui nhưng cũng có buồn. Có một lần tôi buồn mãi khôn nguôi. Có một con mèo chẳng hiểu vì sao lại sống hoang trong cánh rừng kề sát bên hồ. Nó đói đến không còn đi nổi, không còn săn nổi. Nó đi chậm chạp đến gần hồ, uống nước nhưng không thể bắt chim hay ếch nhái. Cá ốc trong hồ rất nhiều nhưng loài mèo bạn biết mà, không hề dám xuống nước. Sau đó nó bỏ đi, có lẽ tìm một cái hốc nào đó, rừng mà, hốc đá thiếu gì, và sẽ ngủ giấc nghìn thu.

Niềm vui nỗi buồn chảy vào trong tôi, biến thành rong, thành bèo. Sống trên mặt nước hồ tôi có một loài thủy thảo, lá to, có hoa như quả banh golf màu vàng. Người ta bảo rằng nó cùng họ với hoa súng lily, gọi nó là pond lily hay cow lily. Tôi chẳng hiểu vì sao lại gọi nó là cow lily, có lẽ giống cái chuông đeo ở cổ bò, chứ đã là lily thì phải ở trong nước của hồ pond hay lake thì cũng thế nên gọi là pond lily nghe cũng không thuận tai cho lắm.

Các nàng pond lily màu vàng như narcissus và cũng đỏm dáng tự kiêu chẳng kém gì vị thần đẹp trai hay soi dáng tự chiêm ngưỡng mình qua mắt hồ. Cả tháng nay tôi buồn bã xót xa vì các nàng pond lily trở nên héo rũ tàn tạ. Các nàng khóc tỉ tê với nhau giữa tiếng ve mùa hạ râm ran. “Chúng mình sống ở đây, kết bè kết bạn ở đây, làm chỗ trú ngụ cho cá những khi nắng hè gay gắt. Rắn rùa cũng có thể nương thân trong bóng mát của bọn mình. Và chuồn chuồn thì vô số đuổi nhau thành đàn, bay bay lượn lượn, chốc chốc lại sà mình chấm đôi chân vào mặt nước làm duyên. Mình chẳng làm hại gì đến họ mà họ lại rải thuốc tiêu hủy mình. Mỗi ngày một chút mình nhìn tay chân tóc của mình khô héo quắn lại và chìm xuống nước.” Các cô khóc với nhau, Tôi xót xa biết là những cô nàng xinh đẹp kia sắp chết ngay trong lòng tôi.

Cùng với cái chết của các nàng pond lily là những cái chết thầm lặng hơn. Những loài cá, rắn, rùa, ếch nhái, có con chết, có con bỏ đi. Loài mallard vịt cổ xanh, loài vịt nâu, loài ngỗng hoang sẽ đi không trở lại. Loài vật hoang dã rất khôn ngoan có thể ngửi được mùi chết chóc của chất độc loài người rải vào trong nước hồ tôi.

Tôi hằng tự hào mình mang sự sống cho muông thú. Tôi bây giờ nặng trĩu nỗi buồn với cái chết của cây lá và thủy vật nương nhờ trong tôi. Cái chết của chúng làm tôi chết theo dần dà từng ngày và từng giây phút.

Pond lily, như mái tóc xanh và hoa vàng làm duyên của tôi, đã bị phai tàn. Loài người nhân danh bảo vệ cái gì đó có tên môi trường đã hủy hoại tôi và bạn bè tôi.