Dọc đường

Chipmunk

Đang trên đường về chỗ đậu xe thì gặp con chipmunk rất xinh này. Chipmunk nhỏ như chuột nhắt vậy. Chỗ nhà tôi giờ ít khi gặp chipmunk vì mèo hoang nhiều quá.

Hạc xám bị chim đen cánh màu cam tấn công

Con hạc xám đang bước lò dò trên dòng kênh, bên bờ đối diện với đường trail. Con chim đen có cánh màu cam và đỏ đậu trên ngọn của mấy cây lau sậy. Bất thình lình chim đen lao xuống mổ tới tấp vào đuôi của hạc xám. Có lẽ hạc xám đến gần tổ của chim đen, và có thể con mái đang ấp trứng đâu đó khiến con chim đen trống cảm thấy cần phải tấn công hạc xám để bảo vệ lãnh thổ và gia đình.

Chim đen hét chí chóe, còn hạc xám thì ngơ ngác chẳng hiểu chuyện gì. Nó thản nhiên bước tới rình mò cá, chắc cái mổ và đá của chim chẳng hề hấn gì với nó.

Poison hemlock?
Cow parsnip?

Đang đi thấy hai cây này giống hệt nhau, chỉ khác một chỗ là cây trong tấm ảnh phía trên có lá giống như lá cây cà rốt. Còn cây trong ảnh bên dưới có lá to hơn. Có một người đàn ông đang chạy bộ trờ tới. Ông ta hỏi tôi chụp ảnh à, tên nó là gì. Không chờ tôi trả lời ông lấy điện thoại ra, bảo rằng ông có cái app có thể nhận dạng tên cây. Khi ông Tám nói không cần thiết ông ấy nhất định bảo rằng ông tò mò muốn biết. Đồng thời, ông bảo cái cây bên trên là poison hemlock. Sau khi xem cái app ông bảo tấm ảnh bên dưới là cow parsnip.

Tôi ngù ngờ, cứ nghĩ cả hai loại đều là Queen Anne’s Lace. Tuy nhiên về nhà, dùng Google Lens và cả Wikipedia thì dù không chắc chắn lắm, nhưng có lẽ ông chạy bộ nói đúng. Wikipedia nói poison hemlock mọc cao hơn wild carot (cũng là Queen Anne’s Lace) và không có chấm nâu chính giữa. Thật ra cả hai cây trong tấm ảnh đều cao hơn khỏi đầu của tôi. Queen Anne’s Lace đài hoa mọc cong như cái cốc (cup) trong khi poison hemlock đài hoa thẳng chứ không cong.

Để đây cho nhớ, về sau có thể kiểm chứng thêm. Chẳng làm gì cả, chỉ muốn biết cho vui vậy thôi.

Không an toàn

Great blue heron

Thấy Wikipedia tiếng Việt gọi Great blue heron là con diệc xanh lớn. Tôi quen gọi nó là con hạc xám. Loại này có vẻ như ở New Jersey suốt mùa đông. Mùa này thường gặp chúng ở phía bờ kênh. Hôm qua gặp hạc xám ở ba chặn đường khác nhau, nhưng thật ra khó biết là cùng một con hay là ba con khác nhau.

White campion

Lần đầu tiên tôi chú ý đến loại hoa này. Lúc đi tôi đã nhìn thấy nó, nhưng không tiện ngừng xe đạp để chụp ảnh. Lượt về tôi chụp vội vàng, ảnh hơi mờ, nhưng hôm khác nếu nó vẫn còn nở hoa tôi sẽ chụp lại. Loại này thuộc dòng họ cẩm chướng. Thường thường hễ gặp hoa dại lạ tôi biết là phải chụp ảnh ngay vì để lâu chúng sẽ biến mất, và có khi tôi không có dịp trở lại chỗ cũ. Hoa này hình như có cả hai bộ phận đực và cái trong hệ thống sinh sản của nó. Nghe lạ nhưng tôi lười đọc bài giải thích.

Multiple rose

Đây mới đúng là loại hoa người địa phương gọi là wild rose, hay hoa hồng dại. Hôm trước loại hoa trắng cánh hình bầu dục, nhụy đen là black berry. Hoa hồng dại có nhụy vàng cam và cánh có hình trái tim.

Pond lily đầu mùa

Tôi chụp nhiều ảnh pond lily nhưng chưa có tấm nào vừa ý nên cứ gặp là chụp ảnh. Hôm qua là lần chụp ảnh pond lily đầu tiên trong năm 2022. Loại này chừng độ một hay hai tuần nữa là bị ban quản lý công viên xịt thuốc trừ cỏ dại sẽ tàn héo hết.

Độ đầu mùa thu năm 2021, đi trên đường trail Delaware and Raritan, đoạn Kingston Lock chúng tôi thấy cảnh sát dán giấy cảnh báo có một vụ hiếp dâm. Đoạn này cách chỗ tôi đậu xe chừng 16 miles tôi đã vài lần đến bằng xe đạp. Tôi đã lẩm cẩm nghĩ dù mình có tình cờ gặp tên này chưa chắc đã dám báo cáo, rủi mình nhận dạng sai thì sao. Thấy tin cũng hơi rúng động nhưng cũng tự trấn an, chắc chẳng đến nỗi nào đâu. Đi đường trail này một năm mới nghe vụ này lần đầu. Thường thường tôi sợ người đi đông có thể lây bệnh. Đường này khá được nhiều người biết đến, đi bộ và đi xe đạp nhiều. Tôi nghĩ đường khá an toàn, vì thường xuyên thấy phụ nữ đi bộ hay đi xe đạp một mình.

Hôm qua, hai chặng khác nhau của đường trail, có gắn hai tờ thông báo khác nhau, một vụ ở Six Mile Run và một vụ khác ở Franklin. Cả hai vụ này đều dùng dao uy hiếp phụ nữ và sau đó chạy thoát bằng xe đạp. Cả hai vụ đều xảy ra là lúc chập choạng tối, 8:45 pm. Trời mùa hè, tám chín giờ vẫn còn ánh sáng. Mấy lúc gần đây tôi đã đôi ba lần thấy có xe đạp bỏ dọc theo đường trail khiến tôi cũng tự hỏi tại sao, và liệu đây có phải là xe đạp của kẻ côn đồ nào đó dùng để chạy trốn sau khi phạm tội?

Té ra đường trail này không an toàn như mình tưởng. Một vụ đã là nhiều, huống chi bây giờ đã thành ba vụ.

Mùa hè bắt đầu rồi sao?

Hôm qua 21 tháng Năm 2022, lần đầu tiên trong năm nay, nhiệt độ lên đến 97 độ F. Như vậy vẫn còn thấp hơn người ta dự đoán là 100 độ F. Hôm nay vẫn còn nóng, nhưng ít hơn ngày hôm qua, chỉ 92 độ F. thôi. Buổi sáng năm giờ trời đã hửng sáng. Buổi chiều, những hôm trời không mây, hơn tám giờ mà trời vẫn sáng trưng. Sáng nay, năm giờ trăng chưa lặn. Cái tuyệt vời của mùa hè là ngày rất dài.

Tuy trời nóng nhưng chúng tôi vẫn đi bộ vì cả tuần không đi. Dọc theo bờ kênh hoa diên vỹ vàng và tím mọc rất nhiều.

Buổi trưa ngồi nghỉ chân ở cây cầu bắt từ đường trail qua Dermott Lane tôi gặp một phụ nữ ôm trong tay một bó hoa dại rất to. Đó là loại hoa tím mọc hoang rất nhiều dọc theo bờ kênh. Nếu tôi chịu khó hái mỗi loại một vài cọng hay vài chùm tôi sẽ có một bó hoa thật đẹp và rất nhiều màu sắc. Thấy bà hướng đến gần chúng tôi, tôi bắt chuyện. Loại hoa tím bà ấy hái tôi dùng Google Lens tìm tên thì thấy tên nó là Dame’s Rocket. Tôi đã đăng ảnh hoa này mấy hôm trước. Bà ấy chừng bảy mươi tuổi. Trên bắp tay phải có hình xâm mấy đóa hoa hồng rất lớn. Bắp tay trái cũng có hình xâm nhưng tôi không nhớ hình gì. Hỏi bà xâm hình đã bao lâu, bà bảo lâu lắm, dễ cũng hơn ba mươi năm. Bà ấy bảo chỉ xâm những hình dễ xem, chứ không muốn xâm những hình ảnh ghê rợn. Ngay từ khi còn trẻ bà cũng nghĩ rằng nếu xâm những hình ảnh khác thường quá thì về già sẽ khó coi. Và người ta chỉ có thể khoe ảnh xâm vào mùa hè, chứ các mùa khác lạnh quá mặc quần áo che kín hết. Người phụ nữ có vẻ sống một mình đã lâu, thèm trò chuyện nên bà nói không dứt. Tôi hỏi bà mang hoa về để cắm vào bình à? Bà bảo rằng sẽ trồng trước nhà? Loại hoa tím này cần nhiều ánh nắng, và mọc rất cao. Dọc theo bờ kênh thì đẹp hoang dã, nhưng trồng trên sân trước nhà, sợ um tùm không đẹp lắm, tôi nghĩ thế nhưng không nói ra. Ông Tám ra hiệu cho tôi rút lui. Tôi bước đi đã chục bước, lên trên cầu rồi mà bà vẫn còn hăng hái nói chuyện. Bà có con chó 12 tuổi. Thường bà dẫn chó đi buổi chiều nhưng hôm nay nóng quá chó không chịu nổi. Bà là người hiking. Bà từng đi ở Watchung Reservation, nhưng ở đó đường đi gập ghềnh quá. Đường trail này, Delaware and Raritan dễ đi hơn, bằng phẳng và bây giờ lại được rải trên mặt một lớp đá nhuyển đi êm chân hơn.

Cũng ở khu vực cây cầu Dermott Lane này, chúng tôi thường gặp một người đàn ông độ sáu mươi hay hơn. Ông ấy lúi húi loay hoay trong mấy bụi cây. Sau nhiều lần quan sát chúng tôi nhận ra là ông cắt, cạy, gỡ những dây leo mọc trên các thân cây. Mấy cái dây leo này rất to, đường kính tương đương cổ tay người ta, rễ mọc từ dây leo chằng chịt. Có lẽ ông ấy nghĩ rằng những dây leo này sẽ hút nhựa từ thân cây là làm hại cây. Tuy vậy, có vẻ như những dây leo này chỉ nương tựa vào cây để mọc lên cao chứ không hút nhựa cây. Bởi vì nếu rễ của dây leo hút nhựa sống từ cây thì khi cắt gốc nó sẽ không chết. Sợi dây leo nào cũng tự nó là một cái cây, rất cứng.

Antennaria neglecta
Black locust

Black locust hoa rất thơm. Loại cây này mọc hoang, mọc rất nhanh. Cây của nó có nhiều gai nhọn rất dễ sợ. Vỏ cây của nó có khía rất dày và rất sâu. Nhánh cây ngoằn ngoèo trông giống như cây Halloween rất dễ sợ.

Common blackberry

Người trong vùng có khi gọi hoa cây blackberry là wild rose. Hoa này thơm ngào ngạt. Đi ngang là mùi hương dường như quyện lấy người.

Diên vỹ tím

Thấy diên vỹ là nghĩ đến Van Gogh.

Diên vỹ vàng
Forget-me-not (hoa lưu ly) mọc dài theo bờ kênh, trên bờ kè nhiều như cỏ.

Lưu ly thường mọc sát mé nước, vì vậy mới có truyền thuyết người ta hái hoa tặng người yêu rồi rơi xuống nước chết đuối. Trước khi chìm còn nói vói với người trên bờ là xin đừng quên tôi.

Ba loại hoa dại

Fleebane 1 còn gọi là Erigeron
Fleebane 2 thuộc dòng Aster, hoa cúc (nhỏ như cúc áo)

Erigeron còn gọi là fleebane, mọc rất nhiều dọc theo đường trail. Mỗi hoa chỉ to chừng cái cúc áo sơ mi. Thuộc họ aster. Có rất nhiều loại, từ cánh nhuyễn đến cánh dày, màu hồng, trắng, vàng. Tên của hoa này có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp cổ. Eri có nghĩa là buổi sáng sớm. Geron có nghĩa là ông cụ vì cánh hoa bao chung quanh có màu trắng giống như tóc bạc.

Tiếng Việt có nhiều tên. Có người gọi là cúc cánh mối. Có người gọi là cúc thạch thảo.

Garden Star-of-Bethlehem

Garden Star-of-Bethlehem thuộc dòng họ măng (asparagaceae). Từng được vinh hạnh ít nhất là hai lần xuất hiện trong tranh của Leonardo da Vinci. Hoa nở khi có ánh sáng rọi vào và khép lại vào buổi chiều hay tối. Hoa tượng trưng cho sự trong trắng, hy vọng, ăn năn, và hòa giải.

American bladdernut còn gọi là Staphylea trifolia

Hoa mọc tự nhiên ở vùng Bắc Mỹ, nở vào mùa xuân, trái giống như giọt lệ, bên trong có hai ba hạt giống như hạt bắp.

Con ó H17 bay đi được một ngày. Hôm sau mưa dầm dề, ó trở lại đậu trên cành cây gần đó, rồi lại bay đi nên hụt gặp mặt bố mẹ. Ó bố và ó mẹ đến tổ ba lần, lần nào cũng mang theo thức ăn và ngóng chờ. Mãi đến lần thứ ba mới gặp được thằng con yêu dấu. Ó con thấy bố mẹ là lủi đầu vào tuy có vẻ dỗi hờn nhưng vẫn được mớm cho ăn. Chắc nếm mùi đói lạnh nên hôm nay ó H17 chỉ bay đi một lúc vào sáng sớm rồi trở về tổ chờ. Từ sáng đến giờ, gần 4 giờ chiều NJ mà chàng ta vẫn chưa được ăn. Mưa nhiều hôm qua, trời xấu hôm nay, chắc là khó kiếm thức ăn. Có vẻ như chỗ này không được nhiều cá, nên ó bố và ó mẹ phải bắt thêm thú vật khác như chim sóc và lươn. Đôi khi ó cũng ăn chay bằng bắp khô.

Rời tổ

Sáng hôm qua 18 tháng Năm 2022, con ó con được đặt tên H17, đã rời khỏi tổ vào lúc 6 giờ 43 phút. Nó dợm bay cả tuần nay, trèo lên cành cây cụt cheo leo ở trên cao, bay xuống tổ, lại leo lên, và ngủ suốt đêm trên đó. Tôi đoán là nó sẽ bay vào cuối tháng, nhưng nó bay sớm hơn dự tính. Ngày hôm qua ó cha và ó mẹ mang thức ăn đến, chờ, không thấy nên ăn hết phần thức ăn. Mọi hôm ó cha hoặc ó mẹ chỉ cho thức ăn rồi bay đi, ít khi nán lại mớm thức ăn cho H17 như khi còn bé. Ngày hôm qua, cặp ó trở lại tổ ba lần. Thấy chúng nghe ngóng, hóng tìm, có vẻ như chờ đứa con về. Rồi H17 có về tổ nữa không? Tổ ó trống trơn, đúng như người Mỹ hay nói về tình trạng empty nest. Vậy là tôi mất đi một chương trình giải trí, phải chờ đến năm sau, may ra sẽ có thêm gia đình ó.

Ó H17 rời tổ.

Điểm thú vị nhất của loài ó, theo tôi, là ó trống tham gia tích cực vào việc nuôi con. Xây tổ là niềm hãnh diện của ó trống. Người ta bảo rằng ó trống làm cả chục cái tổ, để ó mái chọn cái nào vừa ý thì sẽ đẻ trứng. Hằng ngày chúng đều tha cỏ khô, nhánh cây, bắp khô, về bồi đắp thêm cho tổ êm hơn, vững chắc hơn. Ó trống thay phiên ấp trứng, để ó mái đi tìm thức ăn. Ó trống cũng mớm cho ó con ăn rất thiện nghệ. Một phần, có lẽ con ó trống này đã dày kinh nghiệm nuôi con. Theo Duke Farms, nó đã có 25 đứa con. Khi người ta thử máu chích ngừa đặt vòng đeo chân cho H17, ó mẹ đã hoảng sợ không đến tổ 5 ngày, nhưng ó trống vẫn mang thức ăn, ấp ủ, và mớm cho con ăn đều đặn, không sót bữa nào. Hằng ngày gia đình ó thường có bữa ăn chiều chung với nhau rất khắn khít.

Nhìn cặp ó xây tổ rất là thú vị. Có khi chúng cũng biểu lộ thái độ, trống đánh xuôi, kèn thổi ngược. Ó trống đặt cành cây chỗ này, ó mái đẩy cành cây theo chiều khác. Có khi chúng đẩy nhau như hai người đẩy cối xay. Có khi cành cây bất thình lình quật vào đầu con ó kia vì con ó này đẩy cành cây mà không báo trước. Chúng cũng cãi nhau ỏm tỏi luôn. Dù video tape của Duke Farms không có tiếng nhưng nhìn cái mỏ mở ra khép vào mà đoán được tiếng kêu quang quác của gia đình ó. Tổ ó có khi rộng 10 feet (3 mét), và nặng cả vài tấn.

Bốn loại hoa mọc hoang bên đường trail

Bồ Công Anh và những giọt sương
Buttercup
Tưởng goldenrod nhưng là Barbarae Vulgaris
Lily of the Valley

Trong bốn loại hoa này, theo kích thước của từng đóa hoa thì hoa Bồ Công Anh to nhất. Tên tiếng Anh của nó là dandelion nhưng chữ bồ công anh làm tăng vẻ trang trọng của hoa. Tôi trộm nghĩ thế.

Kế đến là buttercup. Tôi không chắc giữa lily of the valley và goldenrod hoa nào to hơn. Goldenrod vì là chùm to và thường mọc cao ở giữa chỗ trống có nắng nên dễ nhắm máy hơn. Loại hoa này mọc rất khỏe, có khi lan rộng thành cả một cánh đồng, hay làm sáng rực hai bên vệ đường với màu vàng của nó. Lily of the valley là hoa nhỏ, mọc nép trong cỏ lá, dưới gốc cây nên thiếu ánh sáng, khó chụp ảnh hơn. Lily of the valley có nhiều tên Việt, hoa chuông, linh lan và đổng thảo (hay đồng thảo), tôi không biết tên nào đúng hay thường được gọi. Tên nào nghe cũng hay. Hoa chuông nghe hay nhưng ở đây có nhiều hoa hình chuông, và những hình chuông này cũng khác nhau. Tôi sẽ gọi hoa này là linh lan, để nhớ một thứ ánh sáng đẹp đến độ có thể làm chết người, sáng linh lan hồn ta chết bao giờ, trong bài hát Thu Hát Cho Người.

Tôi thích chụp ảnh hoa, hoài vẫn không thấy chán. Ảnh dandelion chụp không biết bao nhiêu lần, mỗi lần vẫn hy vọng tấm ảnh khá hơn lần chụp kỳ trước.

Linh lan, trông xinh xắn, nhỏ bé, hiền lành như vậy nhưng lại là loại cây có chất độc. Từ lá hoa cọng cho đến trái đều có độc, gây ói mửa đau bụng và nếu nhiều thì có thể chết người. Chất dầu tinh túy của hoa được dùng làm chất nền cho loại thuốc “Aqua Aurea” nghe nói là có thể chữa được hậu chứng của những người bị bệnh stroke. Người ta đồn nhưng xin bạn đừng vội tin nhé.

Ngày xưa, ở Anh vào tháng Năm, người ta có những buổi hội và tiệc cho nam thanh nữ tú đi tìm hoa linh lan. Loại hoa này nở sau violet và trước hoa hồng. Có rất nhiều giai thoại và cổ tích bảo rằng chỉ sau khi linh lan nở thì loại chim nightingale mới bắt đầu cất tiếng hót. Huyền thoại Đức kể rằng hoa linh lan là tượng trưng của nữ thần chủ mùa xuân, Ostara. Để vinh danh nữ thần người ta tổ chức những buổi khiêu vũ, đốt lửa trại bonfire, và ném những chùm hoa linh lan vào lửa. Linh lan có mùi thơm, và khi linh lan nở người ta trở nên yêu đời hơn.

Vài tấm ảnh đánh dấu một ngày đã qua

Nhập đàn

Thường thường, ngỗng Canada đẻ năm hay sáu trứng do đó một đàn thường có 5 con, sáu con đã thấy là đông. Được vài hôm rơi rụng dần còn lại ba con. Thỉnh thoảng thấy một đàn chỉ có mỗi một con bé xíu. Để bảo vệ đàn con hữu hiệu hơn, ngỗng thường nhập đàn đi chung với nhau. Đôi khi mấy con ngỗng lớn khác cũng tham gia bảo vệ ngỗng con không phải con của chúng. Do đường trail bị sửa chữa nên ngỗng trôi giạt khá nhiều, mỗi đàn thường chỉ thấy ba con, bốn con. Số ngỗng mất tổ mất trứng cũng đông. Ở Five-Mile-Lock thấy đàn ngỗng con lên bờ nằm chùm nhum với nhau, cỡ hơn chục con. Có hai ngỗng lớn đứng sát bên. Xa hơn một chút bên bờ kênh có hai con ngỗng lớn cũng đứng canh. Có lẽ ít nhất là hai đàn ngỗng nhập chung với nhau.

Ó con đã leo cành cao

Đây là con ó con mới nở đâu hồi đầu tháng Ba ở Duke Farms. Bây giờ về cỡ kích thước (size) nó cũng lớn tương đương với cha mẹ của nó. Hai hôm nay đã leo lên thân cây cao chỗ cha mẹ nó thường đậu mỗi lúc trông chừng nó. Đã vẫy đập cánh nhiều lần trong ngày nhưng chưa bay được, chỉ mới nhốm khỏi mặt tổ chừng vài inches. Thức ăn có vẻ ngày càng ít đi. Cả ngày có khi ó con chỉ được ăn một con cá bé tí. Những ngày khác có khi được ăn rắn, lươn, sóc, và chim. Những hôm mưa nhiều, sông chảy mạnh nước đục, ó cha mẹ không thấy mang cá về, ó con bồn chồn kêu gọi mãi. Có khi thấy cha hay mẹ, nó mừng quá xấn tới, mạnh đến độ ó cha mẹ văng ra khỏi tổ. Ó con tham ăn lắm. Thấy con cá bé mẹ ó mang về nó dành ngay và xù cánh ra che con cá lại. Ó mẹ bay đi rồi ó con mới thong thả ăn.

Ảnh copy từ video của Duke Farms.

Ó đầu bạc ở Ten-Mile-Lock

Phải độ năm tuổi ó mới có cái đầu bạc như thế này. Con ó này khá to. Tổ của nó ở chỗ gọi là Ten-Mile-Lock. Nó thường đậu trên cây sycamore này, cạnh bờ sông để bắt cá, tuy nhiên, tổ của nó thật sự ở cách đó chừng vài trăm feet. Lúc này cây mọc lá che kín hết tổ của nó. Người ta thường tưởng lầm tổ của nó ở cây sycamore này. Hai con ó này ở hai chỗ cách xa nhau cỡ mười miles hay hơn.

Giọt mưa trên lá

Đây là lá cây mayapple. Hoa màu trắng nhụy vàng. Trái chín có thể ăn được. Trái non có chất độc.

Bốn loại hoa dại

Hesperis matronalis

Thấy Hesperis matronalis có nhiều tên, trong đó được nhiều người dùng nhất là dame’s rocket, hoặc là summer lilac.

Cũng có nhiều tên, thường được gọi là winter honeysuckle loại hồng
Nhiều người gọi nó là forget-me-not, lưu ly
Winter honeysuckle loại trắng

Mùa Xuân tắm rừng

Qua giọng đọc của Phan Hoàng My. Giọng đọc du dương, đầy tình cảm.

MÙA XUÂN TẮM RỪNG VỚI SHINRIN-YOKU

Nguyễn Thị Hải Hà

Người Việt hình như không mấy thiện cảm với rừng bởi vậy chúng ta thường nghe nói chốn “rừng thiêng nước độc” hay “sơn lam chướng khí.” Rừng là chỗ lưu đày, nơi trốn tránh của những người vì lý do gì đó phải xa lánh xã hội. Người lính trấn giữ tiền đồn giữa rừng sâu thường mang nỗi buồn nhớ thành phố như trong câu hát “Lá rừng che kín đường về phồn hoa” (Rừng Lá Thấp, Trần Thiện Thanh).  Nhạc Việt Nam đa số bài nào cũng buồn.  Nhắc đến rừng, chỗ chim kêu vượn hú biết nhà má đâu càng buồn hơn.  Vậy mà, lạ ghê, khi nghĩ tới rừng tôi lại nhớ đến bài hát Sáng Rừng của Phạm Đình Chương.  “Rừng xanh lên bao sức sống, ú u ú u. Ngàn cây xôn xao đón hương nồng của vầng thái dương hồng bừng lên trời đông.”  Phạm Đình Chương thật là một nhạc sĩ đa dạng.  Thật khó mà tưởng tượng một nhạc sĩ viết bản nhạc buồn chết người Nửa Hồn Thương Đau lại cũng là tác giả của Sáng Rừng, một bài hát toàn những lời reo vui hạnh phúc.  Trong bài hát của ông tôi nhìn thấy rừng của mùa xuân. Đầu xuân lá thưa, rừng nhiều ánh sáng.  Mùa hè lá mọc dầy che bớt ánh sáng rừng hơi âm u.  Đầu xuân, rừng có màu xanh của lá non.  Thiên đàng, nếu có, chắc phải mang hình ảnh của mùa xuân.  Cây lá tươi non, hoa nở muôn màu sắc, chim hót vang trời, không khí trong lành. Người ta bảo rằng xuân du phương thảo địa.  Để ngắm cảnh xuân tôi mời bạn đi tắm rừng

Tắm rừng là gì?

Tắm rừng dịch từ tiếng Nhật của cụm từ shinrin-yoku. Shinrin là rừng, yoku là tắm, ráp lại nghĩa là tắm rừng. Tôi tí toáy với cụm từ shinrin-yoku cố dịch nó ra tiếng Việt.  Muốn có vẻ thanh tao hơn, tôi nghĩ đến tắm gội hương rừng, rồi bóng bẩy hơn với thấm nhuộm hương rừng.  Nhưng cuối cùng tôi trở lại với hai chữ tắm rừng, đơn sơ và mộc mạc, nhưng sát nghĩa, hợp với tôi hơn. Chúng ta quen với khái niệm tắm thì phải dùng nước xối gội hay ít ra cũng phải được thấm đẫm bằng hơi nước.  Khái niệm tắm bằng cây rừng xem chừng xa lạ, ít được nói đến trong cộng đồng người Việt. Nhưng tại sao lại tắm rừng?  Tắm rừng mang lại lợi ích gì cho chúng ta?

Có thể bạn không hề để ý đến chuyện tắm rừng, nhưng thế nào bạn cũng từng nghe nói đến lợi ích của việc đi bộ và ảnh hưởng của cây cối đến sức khỏe con người. Dr. Qing Li, Chairman of the Japanese Society For Forest Medicine (Hội trưởng hội người Nhật nghiên cứu tính chất dược thảo của cây rừng), đưa ra một vài kết quả sau cuộc nghiên cứu bằng phương pháp khoa học theo dõi ảnh hưởng của cây rừng lên sức khỏe con người. Năm 2004, ông Li thành lập nhóm Forest Therapy Study Group (Nhóm nghiên cứu tính cách trị liệu bằng rừng cây) với sự cộng tác của cơ quan chính phủ và giới học thuật.  Ông Li đưa mọi người đến rừng Iiyama, nơi có những cây beech khổng lồ, và suối do tuyết tan chảy từ núi Chikumagawa. Nơi đây cũng là bối cảnh hữu tình trong bài dân ca Oborozukiyo (Đêm Trăng Sáng).  Ông Li cho đo mức độ Cortisol, loại kích thích tố xảy ra khi cơ thể trải qua tình trạng căng thẳng độc hại của ‘stress’,  trong máu của những người tham gia cuộc nghiên cứu, trước và sau khi được tắm rừng.  Kết quả cho thấy tắm rừng có thể làm giảm cortisol, giảm huyết áp, và làm tăng mức thay đổi nhịp tim đập. Những nghiên cứu tiếp theo cho thấy tắm rừng có thể giúp cho dễ ngủ và ngủ sâu hơn do đó có thể giảm bớt những chứng bệnh có liên hệ đến giấc ngủ như bệnh tim, thận, tiểu đường, và vỡ mạch máu. 

Làm gì để tắm rừng?

Bạn không cần phải nhọc nhằn gì cả. Chỉ cần bạn đến một nơi có nhiều cây, như công viên chẳng hạn, và thả cho tâm hồn hòa nhập với thiên nhiên với tất cả giác quan của bạn. Hãy đi một đoạn đường. Thong thả đi và nhìn ngắm chung quanh.  Trước nhất là ngắm nhìn vẻ đẹp của cây.

Cây cối luôn có một vị trí quan trọng trong đời sống hằng ngày nhưng nhiều khi chúng ta quên đi, hoặc không để ý.  Đức Phật khi giác ngộ ngài đã ngồi dưới cội Bồ Đề. Người Việt mình, khi trong nhà có người qua đời, cây cối chung quanh nhà cũng được cột cho một giải khăn tang. Mỗi cái cây có một câu chuyện của nó.  Bao nhiêu năm quan sát, có thể nó đã giữ một số kỷ niệm nào đó.  Một gia đình ăn picnic dưới gốc cây.  Gia đình chim làm tổ khuất đâu đó trong nhánh lá.

Không cần số liệu nghiên cứu khoa học gì bạn cũng biết là cây thở ra dưỡng khí cho chúng ta hít vào, và cây sẽ hít vào thán khí chúng ta thở ra.

Hít vào và nghĩ
Ta vững chắc
Thở ra và nghĩ
Ta tự do

Với mỗi bước đi mặt đất chữa lành chúng ta, và với mỗi bước đi chúng ta chữa lành mặt đất.[1]

Với tôi mùa xuân bắt đầu vào ngày đầu tiên của tháng Năm sau khi tôi tưởng niệm ngày 30 tháng Tư.  Thật ra, ngày bắt đầu mùa xuân tùy theo mỗi người.  Với Đỗ Phủ, mùa xuân bắt đầu từ tháng Ba. Ông viết trong bài Tuyệt Cú Mạn Hứng kỳ 4.

Nhị nguyệt dĩ phá, tam nguyệt lai,
Tiệm lão phùng xuân năng kỷ hồi.
Mạc tư thân ngoại vô cùng sự,
Thả tận sinh tiền hữu hạn bôi.

Trần Trọng San dịch như sau:

Tháng hai đã hết, tháng ba rồi,
Già gặp xuân còn được mấy hồi?
Cái việc ngoài thân đừng nghĩ nữa,
Chén đời có hạn, cạn đi thôi!

Phương thảo địa của tôi vẫn là con đường trail nằm giữa, một bên là kênh đào Delaware and Raritan, bên kia là dòng sông Millstone nối tiếp sông Raritan. William Blake nhìn thấy mùa xuân như thiên đàng trải rộng trong các loài hoa dại. Cuối tháng Hai hoa xuyên tuyết bẽn lẽn cúi đầu, từng cụm lá xanh hoa trắng dưới chân những bụi cây chưa ra lá.  Vài cụm hoa crocus nhụy vàng kín đáo chen trong đám cỏ xanh mới mọc lưa thưa. Tháng Ba anh đào trổ hoa thành những cánh rừng trắng xóa. Tháng Tư, thủy tiên mọc khắp nơi, những đóa hoa như những cái chung trà hai màu, vàng và trắng, vàng và cam. Đầu tháng Năm thấp thoáng bên kia bờ kênh là màu hồng của Eastern redbud và mộc lan trắng điểm hồng, forsythia còn sót lại làm thành một hàng rào vàng rực như mặt trời trốn vào trong ấy. Ở khuôn viên nhà thờ Pillar mấy cây đào cherry blossom cánh kép nở xum xuê làm trĩu cả cành. Băng qua cây cầu South Bound Brook men theo đường trail là mấy cây crab apple mặt dưới cánh hoa màu hồng, mặt trên cánh hoa màu trắng, hương hoa ngan ngát nương theo gió. Dưới đất mọc đầy các loại hoa hoang dại, màu tím thì có Blue Virginia Bell, và viola (hoa biểu tượng của tiểu bang New Jersey), màu vàng bên cạnh dandelion có golden rod và buttercup, màu xanh có lưu ly hay còn gọi là forget-me-not, màu trắng thì có vô số hoa của cỏ dại, có tên là Spring Beauty. Sau vài hôm mưa nhiều, nước sông dâng lên tràn vào vùng đất trũng, trước kia là cánh rừng khô, sau khi nước rút, cả một cánh đồng, dưới chân những cây cổ thụ, phủ kín một loại hoa vàng. Hoa bloodroots, sở dĩ có tên này vì rễ của nó là một loại củ màu cam đậm gần như là màu đỏ.

Hãy lắng nghe lời tự tình của mùa xuân qua tiếng gió lùa rì rào trong cây. Tiếng chim ríu rít, tíu tít, líu lo với những âm điệu khác nhau. Loài quạ với tiếng kêu quang quác thường làm người ta giật mình kinh sợ trong mùa đông, nhưng vào mùa xuân chúng rủ rỉ rù rì với nhau, con này kêu quà quà, con kia đáp dạ dạ nghe rất dịu dàng như những lời tự tình của hai kẻ yêu nhau. Nói về âm thanh của mùa xuân xin cho phép tôi kể bạn nghe một âm thanh đã làm tôi kinh ngạc, nếu tôi không được nghe bằng chính lỗ tai của tôi chắc là tôi không tin.  Cuối tháng Ba, đôi khi có một ngày ấm, nắng lên. Lá khô vẫn còn phủ đầy hai bên vệ đường, nơi trước kia là cỏ.  Đang đi tôi bỗng nghe thấy tiếng rì rào rất lạ, không phải tiếng nước chảy, mưa nhỏ giọt, hay lá reo. Âm thanh xuất phát ngay từ dưới chân của tôi.  Cúi người lắng nghe tôi nhận ra âm thanh ấy phát xuất từ bên dưới những chiếc lá khô.  Nó như là tiếng chuyển động của mầm lá chọc thủng đất vẫn còn đóng băng để trồi lên, hay của côn trùng vỡ da mọc cánh.  Rì rầm.  Lách tách. Cựa quậy, xôn xao.  Tôi chỉ nghe thôi, tránh không động đến những chiếc lá khô, tôi không muốn quấy phá sự chuyển mình của mùa xuân.

Nắng đầu tháng Năm vàng tươi, xuyên qua những chiếc lá non, nắng biến thành màu xanh như ngọc, được diễn tả đơn giản bằng một chữ của Nhật, komorebi.  Hãy thong thả mà đi, mà ngắm, mà hít thở không khí của rừng.  Hãy cảm nhận mùi của đất của rừng sau cơn mưa nhỏ hôm qua. Người Việt mình thường gọi là cây thông dùng chung cho loại cây vạn niên thanh có hình tháp có chóp nhọn (conifers). Thông, hay tùng, vì vậy gồm chung nhiều loại, pine, cedar, pruce, và fir.  Dọc đường tôi đi có khá nhiều loại tùng, suốt năm màu xanh nhưng mùa xuân mọc thêm nhánh thêm lá.  Mùi của những cây này rất thơm, một mùi thơm nhẹ nhàng khiến chúng ta nghĩ đến những mùi thanh sạch của một dòng suối trong do tuyết tan từ trên núi chảy xuống.  Có thể bạn không thể nhận ra một mùi nào cả nhưng chắc chắn bạn sẽ nhận thấy sự tinh khiết của không khí trong rừng. Mùi của cây, là một trong những yếu tố làm người ta cảm thấy yên tĩnh thư thái hơn.

Khái niệm tắm rừng, shinrin-yoku, cũng nhấn mạnh đến khía cạnh vị giác và xúc giác nhưng tôi cố tình làm ngơ, bởi vì đi rừng tôi tránh không đụng đến cây lá lạ, vì sợ cây lá độc như poison ivy và sumac có thể gây ngứa ngáy. Tháng Năm những cây dương xỉ bắt đầu mọc lá non cuốn lại như hình trôn ốc.  Những đọt cây dương xỉ này là món ăn hiếm quí (delicacy) của nhiều người sành ăn các món khai vị.  Tháng Năm cũng là lúc những cây tỏi hoang (ramp) mọc đầy đường trail ở Watchung Reservation. Lá tỏi hoang non chiên với trứng (scramble egg) cũng là một món ăn độc đáo.  Lá tỏi hoang được các nhà hàng mua với giá khá cao, nghe nói hai chục đồng một pound, còn cao hơn cả nấm đông cô. Nói chuyện nghe chơi chứ tôi chưa hề thử những món ăn này. Tôi cũng không khuyến khích các bạn ăn trái cây rừng hay hái nấm rừng. Có rất nhiều loại cây lá người ta bảo rằng có thể chữa được bệnh nhưng tôi chưa bao giờ tìm hiểu xa hơn. 

Đi dạo rừng ban đầu vì hiếu kỳ, dần dần dẫn đến sự kinh ngạc, và niềm kính trọng thiên nhiên trong tôi. Thiên nhiên thật diệu kỳ.  Mùa xuân, sự sống vươn dậy trong cây cỏ và thú vật. Dọc hai bên bờ kênh và bờ sông, từ cuối tháng Ba đầu tháng Tư ngỗng Canada đã bắt đầu ấp trứng.  Ngỗng mái nằm ổ, ngỗng trống đứng canh. Có khi ngỗng làm tổ trên cây cao, ấp trứng nở được đàn con, ngỗng mẹ bay ra khỏi tổ, đứng bên dưới gọi con táo tác. Đàn ngỗng con lần theo tiếng mẹ kêu, lần lượt nhảy ra khỏi tổ bằng một niềm tin tuyệt đối gần như là mù quáng.  Chưa con nào biết cuộc đời là gì, chỗ mình nhảy bao xa, bao cao.  Tôi nhìn thấy sự kỳ diệu của thiên nhiên, của đấng Tạo Hóa trong cách ngỗng mẹ ấp ủ đàn con, ngỗng bố bằng hết sức mình bảo vệ che chở gia đình, và niềm tin tuyệt đối vào cha mẹ của đàn ngỗng con.  Sao thú vật mà cũng khôn ngoan tử tế như loài người, không, có khi còn hơn cả loài người nữa chứ.  Thật là kỳ diệu! Bên cạnh ngỗng còn vô số rùa. Bọn rùa chỉ chờ có chút nắng là tranh nhau leo lên một khúc cây nhô ra khỏi mặt nước duỗi “tay” duỗi chân để phơi mình tìm hơi ấm làm tăng năng lượng trong cơ thể.

Đi tắm rừng, cũng là một cách để bạn nhận ra tính cách hai mặt của cuộc đời. Có nhiều nét của mùa xuân cũng giống như mùa thu. Mấy cây phong đỏ, red maple, vào mùa xuân lá non và hoa của nó cũng có màu đỏ như lá mùa thu.  Bên cạnh nhựa sống tràn trề trong cây, là những cây đã chết, đã mục, và dọc theo thân cây là những cái nấm thật to, thật trắng.  Nấm rồi cũng sẽ cứng như cây. Những sợi dây leo quấn quít theo cây sau một thời gian cũng trở thành những cái cây tuy uốn éo mềm mại nhưng vẫn cứng cáp không kém những cây đứng thẳng chung quanh.

Tôi quên dặn, đi tắm rừng, bạn nhớ hãy để bên ngoài rừng những mối bận tâm tranh chấp hằng ngày, nhất là cuộc chiến tranh giữa Ukraine với Nga.  Người ta còn khuyên là đừng mang theo điện thoại và máy chụp ảnh (nhưng tôi không nghe bởi vì tôi không tin vào bất cứ khái niệm nào một cách tuyệt đối cả).  Hãy xem tắm rừng là một buổi đi dạo trong rừng hay trong công viên, một cách vận động nhẹ, và có thể giúp bạn thư giãn, hưởng thụ mùa xuân mà chẳng tốn kém gì.

Trong cuộc sống xô bồ, trong cố gắng để đạt đến thành công về tài chánh, nhiều người Nhật bị căng thẳng đến độ lăn ra chết, bất đắc kỳ tử.  Khái niệm shinrin-yoku giúp họ tìm lại phần nào sự cân bằng cuộc sống bằng cách hưởng thụ thiên nhiên. Người Navajo, dân bản địa Hoa Kỳ, tự bao đời cũng đã dùng thiên nhiên tưới gội lên người. Họ thấm nhuộm hương rừng qua một bài kinh tụng như sau:

Núi non, tôi trở thành một phần của nó
Cỏ thơm, thông xanh, tôi trở thành một phần của nó
Sương sớm, mây mù, nước suối và sông,
Tôi trở thành một phần của nó
Thiên nhiên hoang dã, mưa mềm, phấn hoa…
Tôi trở thành một phần của nó.

Ở bên trên Đỗ Phủ đã viết và Trần Trọng San đã dịch.  Chén đời có hạn, cạn đi thôi.  Nào, xin mời các bạn cạn chén mùa xuân, cho phép tâm hồn mình về với thiên nhiên bằng cách thấm nhuộm hương rừng.

Nguyễn Thị Hải Hà

Rêu 1
Rêu 2
Đọt cây dương xỉ

[1] Hannah Fries, Forest Bathing Retreat, trang 39, tác giả ghi chú câu nói trên của Thích Nhất Hạnh.  NTHH dịch từ bản tiếng Anh.

Mưa xuân

Mưa từ đêm qua, đến sáng nay. Bầu trời sũng nước, tương đối ấm. Không biết trời ấm tại vì mưa hay mưa vì trời ấm. Người Mỹ để tả những cơn mưa nhỏ giọt mưa rơi nhẹ dùng chữ soft hay gentle. Mưa mềm, và mưa hiền hòa. Nghe thật là nên thơ. Sau nhà tôi mấy bụi cây đã mọc đầy lá non. Mấy cây eastern redbud màu tím đã bắt đầu phai nhạt, một phần bị màu xanh lá cây non che khuất không còn thấy rõ nữa.

Vỏ trứng có lẽ của chim robin

Đi rừng gặp giữa đường phân nửa vỏ quả trứng. Không hiểu chim nở rồi vỏ rơi xuống đường hay vì lý do nào khác.

Híp mắt nghiêng đầu

Nhìn thật là trẻ con, sao mà ngây thơ.

Đến thật gần, chụp ảnh, lấy cây xua vẫn không nhúc nhích

Tôi tưởng có người ném một cái con chuột để dùng computer xuống nước. Về nhà mở ra mới biết chắc đây là giống bác mẹ sinh ra mặc áo sồi.

Hoa trên vỏ cây

Những cái nấm mốc, lichen, mọc trên vỏ cây trông giống như một đóa hoa.

Thú vật dường như biết đoán thời tiết. Trước khi trời mưa loài vật thường kiếm ăn, ăn trước để phòng khi những lúc thời tiết trắc trở không tìm được thức ăn có thể bị đói. Chiều qua, ó cha mang về một con cá nhỏ và mớm cho con ăn. Sáng qua ó bố mang về một con lươn, thảy cho con tự ăn. Thằng nhỏ ó rỉa mãi không ăn được bao nhiêu. Có lẽ da lươn dày khá dai và ít thịt nên ó không mấy khoái khẩu, ăn khi nào không có gì khác.

Những hôm mưa to gió lớn, ó mẹ thường ở trong tổ dựa vào con như để giữ ấm cho con. Xem video gia đình ó, dần dần trở thành môn giải trí của tôi. Mấy hôm nay ó con đã tự tập bay. Sáng nay dù thiếu niên ó ướt loi ngoi cũng đã đứng cheo leo trên thân cây sycamore, cách xa vành tổ chừng ba tấc, thế đứng khá vững vàng. Thỉnh thoảng thiếu niên quạt cánh phần phật nhảy tưng tưng trên ổ, nhưng chưa bay được. Ráng lên nhỏ ơi. Sắp lớn rồi. Sáng nay ó mẹ mang về con cá nhỏ xíu xìu xiu. Chắc cũng đỡ đói.

Có con chim nào hót đâu đây

Hồi mới dọn về nhà nầy, người chủ cũ có đặt nhiều tổ chim nhân tạo và lồng để thức ăn chim, treo lên cây chung quanh nhà. Dần dần do cây bị cắt tỉa bớt để tránh cây gãy đổ lên nóc nhà, các lồng chim cũng bị tháo gỡ, một số bị hư. Cái tổ chim cũ giờ không còn, giống như căn nhà màu đỏ, tôi thường thấy có mấy con chim rất bé chui ra chui vào. Thiếu mấy cái tổ chim có lẽ cũng vắng đi một số chim nhưng tôi không chú ý, bởi vì chung quanh vẫn còn rất nhiều chim, nhất là mấy con blue jay cứ bay xà xuống vụt lên ăn thức ăn mèo.

Gần đây ông Tám treo mấy cái lồng để thức ăn nuôi chim. Bọn blue jay đã thấy đeo tòn teng trên mấy cái lồng thức ăn. Cặp cardinal quanh quẩn nhiều hơn.

Liên tiếp mấy ngày tôi nghe có tiếng chim hót. Không phải tiếng kêu ríu rít bình thường của các loại chim quanh nhà, mà là tiếng hót dài như một câu hát. Tôi cố bắt chước câu hát của chim bằng một câu văn như thế này, “líu lo đời còn dài còn dài.” Nếu bạn đọc câu văn với giọng trầm bổng kéo dài hai chữ líu lo và đọc nhanh ba chữ đời còn dài rồi đọc thật chậm ê a hai chữ cuối thì sẽ tưởng tượng được giọng hát của chim. Tôi mở cửa ra ngoài sân cố tìm xem con chim nào đang hót, nhưng cây lúc này đã ra lá xanh khá nhiều, nhìn hoài không thấy đâu. Bữa trước nghe tiếng hót ở sân sau. Sáng nay nghe ở sân trước.

Lời của chim chìm vào tiếng gió.

Không có ảnh chim, chỉ có tấm ảnh hoa buttercup hôm qua đi bộ trời mưa lấm tấm, chụp đại tấm ảnh này.

Buttercup

Biến chuyển hằng ngày

Gia đình năm con
Gia đình sáu con

Hôm qua đi bộ, tôi có chút thất vọng vì cái tổ ngỗng ở dưới chân cầu Bound Brook tuy khá kín đáo cũng đã biến mất. Hai con ngỗng nằm cạnh tổ ngỗng nhưng không còn quả trứng nào để ấp. Cả cái tổ ngỗng ở cái rẻo đất nhô ra bên kia dòng kênh cũng không còn. Lần lượt, những tổ ngỗng năm ngoái ấp trứng thành công, năm nay bị mất. Ngỗng ấp trứng cả tháng nhưng năm nay chỉ độ một hay hai tuần là ngỗng đang ấp bị mất trứng. Chẳng hiểu vì sao, và tay ai. Năm nay thấy có người homeless lang thang.

Đặc biệt, con đường trail đang được sửa chữa, nhiều người đi tới đi lui thêm vào số người đi bộ hằng ngày, xe vận tải, xe hủ lô, xe xúc chạy gây ồn ào náo loạn góp thêm phần làm ngỗng sợ bỏ đi và người ta hay thú vật lấy trứng. Thú vật không dễ gì lấy trứng vì ngỗng canh gác khá chặt chẽ. Chỉ cần kẻ lạ đến gần là cả ngỗng trống lẫn ngỗng mái tấn công ngay.

Tuy vậy những chỗ khác đã thấy vài đàn ngỗng ấp thành công. Ít nhất là hai đàn ngỗng tôi gặp hôm qua, một đàn sáu con và đàn kia năm con. Con ngỗng ấp dưới chân cầu quay, cây cầu dẫn sang khu apartment, năm nay đẻ ba trứng. Ấp được mấy ngày bị náo loạn (có người đổ dầu nhớt xuống cống, người ta phải dọn rửa ô nhiễm dòng kênh) bỏ ba quả trứng chơ vơ. Vài hôm sau mấy quả trứng cũng biến mất.

Con ó con, hôm nay ó cha mang đến con cá dài cả thước, màu đen, dẹp như cá trê, ném xuống tổ rồi bay đi mất. Coi như con ạ, mày đã đủ lớn rồi, phải tự ăn chứ bố mẹ không mớm cho ăn nữa. Chàng ta mấy hôm nay cố gắng tự tập bay.

Con mèo xám, bữa trước chẳng biết đánh nhau làm sao mà cả cái chân bị xước tróc da chảy máu đỏ lòm, đi khập khễnh, ăn ít. Bữa nay đã lành, thấy con mèo vàng, mèo hoang mới đến ăn sau này, rượt đuổi không cho ăn. Thú vật cùng loại có đánh nhau cũng chỉ gây thương tích, nhiều lắm là thương tật. Chỉ có loài người, khi đánh nhau là có khả năng giết nhau.

Mùa xuân hoa lá giăng đầy ngõ

Gia đình sóc

Ngay sau nhà tôi có cây sồi trắng. Trên cây có một cái lỗ tròn nhỏ bé. Trong đó là cái ổ sóc. Chạy ra chạy vào có ít nhất là ba con sóc. Hai con lớn và một con có vẻ bé hơn một chút. Có vẻ như hai con lớn dỗ con bé ra khỏi ổ nhưng nó cứ thập thò, ló cái mõm ra ngoài rồi thấy lạnh quá hay ở trên cao quá sợ ngã nên rút vào bên trong. Con sóc ở bên ngoài cũng chạy vào bên trong, chập sau chạy trở ra. Hai con sóc lớn cứ đuổi nhau chạy lên chạy xuống, chạy ra chạy vào, con nấp sau thân cây, con đứng trước. Một lúc sau tôi không còn nhớ là mấy con. Cũng chẳng biết có mấy con trong tổ, con nào ra con nào vào nhưng có thể biết chắc ít nhất là ba con sóc, giống nhau như hệt.

Yellow-rumped warbler

Thấy trên mạng nói tên nó là như vậy. Không biết nó có tên tiếng Việt hay không nhưng để dễ gọi, tôi tạm dịch là chim sẻ đốm vàng. Mùa này đi trong rừng nghe tiếng chim, líu lo, tíu tít, ríu rít, đủ thứ giọng bổng trầm. Lắng nghe có ít nhất là cả chục loại khi xa khi gần.

Hoa đào cánh kép

Hình như loại này có tên riêng, tôi có đọc mà không nhớ. Đứng dưới cội đào tôi thường có cảm giác khó tả. Hoa nở xum xuê, chi chít, lúc lỉu, trên cành có vẻ như bao nhiêu sinh lực để dành suốt mùa đông trổ ra hết một lần. Chỉ tuần sau là nó rụng đầy mặt đất, mặt kênh tạo thành một lớp phấn màu hồng nhạt.

Magnolia có người gọi là mộc lan

Ở ngay cái trạm kiểm soát lưu lượng dòng kênh, chỗ này có tên là 10-mile-lock, có một ngôi nhà cổ. Cạnh ngôi nhà có cây hoa mộc lan này. Cây khá thấp, đã trổ nhiều hoa, mỗi hoa to như cái bát. Loại mộc lan trong ảnh này màu đậm, cánh dài và nhọn. Còn một loại nữa màu tím nhạt hơn, cánh dày hơn, và đầu cánh hoa tròn hơn. Loại này to hơn. Hoa mộc lan rất thơm.

Con ó con ở Duke Farms lúc này đã lớn bằng ó cha và ó mẹ, nhưng lông cánh vẫn chưa đủ để bay. Tội nghiệp nó cũng bữa đói bữa no, ngày nào nó cũng trông ngóng cha mẹ. Lúc này nó đã mon men đứng lên trên vành tổ sát với thân cây. Buổi sáng nó dậy rất sớm, trước khi mặt trời lên. Thỉnh thoảng nó vỗ cánh bay lên khỏi mặt tổ chừng một vài inches rồi đậu xuống. Suốt ngày nó thơ thẩn, có vẻ như buồn chán vì không có việc gì để làm. Mỗi ngày may mắn thì được cho ăn một lần. Những hôm gió động, hay mưa nhiều nước sông đục, ít thấy cha mẹ ó mang cá về. Có khi thức ăn là con chuột hay con sóc nhỏ xíu chẳng thấm vào đâu. Cuộc sống của loài chim, dù có vẻ tự do nhưng thật ra cũng chẳng dễ dàng gì.

Dọc đường đi bộ

Một cái tổ chim đã bị bỏ hoang.

Cái tổ chim rất nhỏ, cái khoảng trống giữa tổ chỉ cỡ chừng cái chung trà. Như thế có nghĩa là loài chim nào làm cái tổ này cũng rất nhỏ, chừng hai đốt của ngón tay thôi. Ông Tám đọc báo Washington Post thấy có bài nói rằng khoảng 70 phần trăm tổ chim được cấu tạo lộ thiên, chỉ có 30 phần trăm làm tổ kín có lỗ chui ra chui vào. Tổ kín đòi hỏi chuyên môn khéo léo hơn, che mưa nắng, nhưng khi gặp nguy, chim mẹ khó trốn.

Chim gì đây?

Phải chăng đây là chim sáo? Thấy trên mạng nói nó là chim red-wing black bird.

Băng ghế nghỉ chân ở gần Black Wells Mill Road

Băng ghế này do gia đình của một người đã qua đời tặng cho đường trail. Tôi nhớ mang máng tên của người được tưởng niệm là Joan. Mùa thu đi ngang thấy có trồng hai chậu hoa cúc. Mùa xuân năm nay đi ngang thấy có tulip mới nở. Chỗ này chúng tôi thường ngồi ăn trưa. Gần đó là ngôi nhà cổ Black Wells Mill Road. Ngôi nhà nhỏ nhưng được chăm sóc chu đáo, có cho người vào xem tùy theo lịch trình, chung quanh nhà và khoảng sân đối diện bên kia đường có trồng rất nhiều hoa. Trước kia người ta có để bàn và băng ghế dành cho người picnic nhưng bỗng dưng họ đem dẹp mất tiêu, có lẽ không muốn người dùng trail sử dụng.

Con rùa to, nằm im lìm tưởng như đã chết.
Gấu mèo bơi trên dòng kênh

Năm trước thấy gấu mèo (raccoon) leo trên cây tôi đã ngạc nhiên. Cách đây hai ba ngày thấy con gấu mèo này bơi vượt dòng kênh tôi càng ngạc nhiên hơn. Thiên nhiên, càng quan sát, càng nhìn thấy những điều kỳ diệu.

Gia đình ngỗng

Cha mẹ ở hai đầu, đàn ba con đi giữa
Đàn ngỗng này chỉ có hai con

Được một ngày ấm, hai ba ngày lạnh. Hoa đào nhiều nơi vẫn chưa nở. Chỉ có cây magnolia của nhà ở khúc quanh nở sớm gặp trời lạnh héo hết. Cây magnolia màu tím sậm gần như màu đen của nhà bên cạnh nhà ở khúc quanh bị đốn. Uổng ghê. Nhà này mới dọn về vài năm, trước nhà họ trồng forsythia ra hoa vàng rực rỡ.

Năm nay có vẻ như trứng ngỗng nở sớm. Không biết có phải tại vì người ta phá tổ ngỗng không mà con ngỗng đẻ trứng dưới gầm cầu quay bỏ ba cái trứng trống trơn. Tôi ngạc nhiên thấy đã có đàn ngỗng ba đứa con, và một đàn ngỗng khác có hai con.

Bữa trước thấy con ngỗng nằm ổ, tựa vào gốc cây, tôi đi tránh xa ra, một phần không muốn làm kinh động ngỗng, một phần không muốn bị ngỗng tấn công. Hôm sau đi ngang thì thấy tổ trống trơn, chỉ còn lông ngỗng. Cả hai con ngỗng trống mái cũng chẳng biết đi đàng nào.

Ngỗng rất khôn ngoan và dữ tợn. Ngay cả khi người tránh xa, nhưng nếu chúng cảm thấy bị đe dọa tổ trứng nó sẽ tấn công. Ông Tám bị ngỗng đá một lần. Hai vợ chồng ông bà Huey và Carol gặp trên đường đi bộ cũng nói là bị ngỗng tấn công dù đã tránh xa. Bà nói mấy con ngỗng này nhiều khi cũng nasty. Là người đi thường xuyên ở khu này, bà nói con ngỗng đẻ dưới gầm cầu đã làm tổ nơi nầy nhiều năm vì thế khi tôi hào hứng hỏi bà có thấy con ngỗng không, bà chẳng lấy làm lạ. Thậm chí bà cũng không chú ý năm nay nó có làm tổ ở đó không.

Tôi thì mỗi lần đi bộ đều để ý những tổ ngỗng. Tổ số một ở dưới gầm cầu Bound Brook. Tổ số hai ở dưới gầm cầu bắc ngang khu chung cư. Tổ thứ ba ở trên một mũi đất cũng gần chung cư nhưng cách một khoảng nước kênh và có hàng rào sau chung cư. Tổ thứ tư, thứ năm, dọc theo bờ kênh phía bên kia có vẻ an toàn. Mấy tổ ngỗng đẻ ngay trên đường trail thì không kể, vì chúng biến mất nhanh chóng. Nhất là con đường trail đang được sửa chữa, nhiều người và xe cộ thuộc loại nặng chạy thường xuyên.

Chính vì sự dữ dằn của ngỗng, người xưa dùng ngỗng để canh chừng nhà ngăn trộm. Kẻ trộm có thể đánh thuốc mê chó nhưng thường hay quên hoặc không biết loài ngỗng rất sẻ thức, tiếng kêu to không kém gì chó sủa, và khi cần cũng tấn công. Không nguy hiểm bằng chó nhưng cũng có thể làm loài người bầm mình.

Trung quốc để làm hàng rào ngăn ngừa Covid từ những người xâm nhập biên giới đã cho thả 500 con ngỗng chung với 400 con chó dọc theo đường biên giới Trung quốc và Việt Nam thể theo báo New York Times ngày 22 tháng Tư 2022. Ngỗng đã được loài người thuần hóa từ nhiều đời, ít nhất đã 5 ngàn năm, có thể cả 16 năm trước. Ngỗng là loại thú vật được thuần hóa sớm hàng thứ hai, chỉ thua chó mà thôi. Dùng ngỗng để canh biên giới khá hữu hiệu. Vào khoảng tháng 12 năm 2021, ngỗng đã kêu quang quác đánh thức những người lính biên giới kịp thời ngăn chận hai người toan xâm nhập biên giới Trung quốc bất hợp pháp.

Rùa thì xuất hiện nhiều. Có khi mấy chục con nằm phơi nắng dọc theo thân cây. Hôm kia gặp hai con rùa rất to. Đã có nhiều con bắt đầu bò ngang đường trail, thế nào cũng có lúc bị người đạp hay xe cán.

Pileated woodpecker

Pileated woodpecker

Tôi nhớ người mình gọi loại này là chim gõ kiến, hay gõ mõ. Tuy nhiên tôi bị bắt bẻ khi gọi nó là gõ kiến, bảo rằng đáng lẽ phải gọi là gõ gỗ hay gõ cây.

Vùng này, có nhiều loại gõ kiến. Tôi thường gặp loại nhỏ hơn, mình lốm đốm trắng đen, đầu có túm lông đỏ. Pileated woodpecker được xem là hiếm. Tôi nhớ có xem một cuốn phim ở một vùng nào đó của miền nam nước Mỹ, có một nhóm người đã tổ chức đi rình chim để quay phim, khi có người bảo rằng thấy pileated woodpecker về ở địa phương. Cuộc quay phim rất gian khổ, người ta lội trong những khu rừng ngập nước, chèo xuồng, giữ im lặng để lắng nghe tiếng chim. Tôi không xem hết phim, bỏ dang dở lúc ba phần tư cuốn phim rồi mà người ta vẫn chưa tìm thấy loại pileated woodpecker này.

Còn một cuốn phim khác, phim tình cảm lãng mạn, trong đó có một ông nhà giàu yêu thích thiên nhiên muốn kén rể. Anh chàng rể tương lai làm việc dưới quyền ông bố, chuyên về thương mại. Anh này yêu cô con gái nên chìu ý bố vợ tương lai đi vào rừng với ông bố để tìm cho ra con pileated woodpecker. Anh ta muốn tỏ ra mình cũng yêu thích thiên nhiên giống như ông bố vợ.

Pileated woodpecker lớn nhất trong các loại woodpecker, màu đen, có sọc trắng trên cổ, đầu có một cái mào to màu đỏ tươi. Hiếm vậy mà ở ngay sau nhà tôi chiều chiều thường thấy nó chuyền qua chuyền lại trên cành hay dưới gốc cây. Ông Tám để ý thấy nhiều lần rồi bữa qua bữa kia gì đó ông lại chỉ cho tôi, và lần này thì có được tấm ảnh.

Người La Mã gọi chim gõ kiến là picus. Họ rất quí loại chim này, quí đến độ gần như tôn thờ, ra lệnh cấm không ai được phép ăn thịt chim gõ kiến. Sử gia Plutarch đưa ra lý do như thế này. Picus là con của thần Saturn. Vợ của Saturn đã cho con trai của bà uống thần dược biến Picus thành con chim gõ kiến. Và Picus trong hình dáng của loài chim đã đưa ra những lời tiên đoán cho bất cứ người nào muốn cầu xin được biết về vận mạng trong tương lai.

Một huyền thoại khác Romulus và Remus, hai đứa trẻ song sinh, là những nhà lập quốc La Mã bị bỏ rơi khi còn bú, họ được một con sói thần (she-wolf) cứu bằng cách cho bú, và một con chim gõ kiến đã mang thức ăn nuôi hai anh em này.

Một huyền thoại nữa, chim gõ kiến được dùng để tiến dâng cho thần Mars vì nó dũng cảm và hùng mạnh. Nó mạnh đến độ có thể mổ đến đứt cả cây sồi, loại gỗ thuộc hàng cứng nhất.

Ukraine qua ba cuốn phim

Nguyễn Thị Hải Hà

Maidan

Phát hành năm 2014 by Cinema Guild, Maidan là một phim tài liệu do đạo diễn Sergei Loznitsa thực hiện, có phụ đề Anh ngữ.  Maidan là từ mượn của Ba Tư, có nghĩa là quảng trường.  Người xem sẽ được chứng kiến cuộc biểu tình đòi độc lập tự do của người Ukraine trên Maidan Nezalezhnosti (Quảng Trường Độc Lập) ở Kyiv, thủ đô của Ukraine.  Cuộc biểu tình rộng lớn này còn được gọi là cuộc Cách Mạng Euromaidan, bắt đầu từ ngày 21 tháng 11 năm 2013 kéo dài cho đến 21 tháng Hai năm 2014.  Ngay hôm sau (22/02/2014) là sự truất phế Tổng Thống Ukraine Viktor Yanukovych.  Diễn tiến kinh tế và chính trị sau đó đưa đến cuộc chiến tranh Nga và Ukraine ngày hôm nay.

Cuộc biểu tình được tổ chức rất qui mô.  Người đi biểu tình chiếm đóng các tòa nhà rộng lớn từ đêm trước, mang mền rất dày để ngủ qua đêm mùa đông.  Thức ăn nóng được cung cấp, có lều cứu thương, và các nhóm tự vệ. Mở đầu chương trình là bài quốc ca Ukraine, ca ngợi dòng giống Cossack, hùng hồn nhưng không kém phần thơ mộng.  “Kẻ thù của chúng ta sẽ tan biến như sương trong ánh mặt trời.”  Những ngày đầu của cuộc biểu tình khán giả nhìn thấy những buổi thuyết trình, trình diễn âm nhạc, đọc thơ, và hô khẩu hiệu.  Ở giữa quảng trường Độc Lập là một máy truyền hình rộng lớn.  Người biểu tình đứng chật kín quảng trường, không khí nhộn nhịp khiến người xem phim không khỏi liên tưởng đến sự chào đón đêm giao thừa của New York tổ chức hằng năm ở Times Square.  Nhiều lần, khán giả sẽ được nghe bài hát Bella Ciao với ca từ Ukraine trên màn ảnh và cả nhạc sống.  Bella Ciao là bài hát về những người kháng chiến, chết nơi sa trường máu xương biến thành hoa.

Cảnh sát của chính quyền Viktor Yanukovych được vũ trang đến tận răng, đứng sau những tấm khiên sắt vừa to vừa dày.  Khi bạo loạn bắt đầu, phụ nữ được yêu cầu di tản khỏi “mặt trận.”  Cả hai bên, cảnh sát và người biểu tình đều dùng hơi cay.  Nghe nói cảnh sát chuyên bắn tẻ cũng có mặt.  Đứng phía sau mặt trận, với tầm nhìn của đoàn quay phim, khán giả thấy người biểu tình đa số dùng gạch đá.  Thỉnh thoảng thấy bom xăng được ném đi không biết từ phe nào. Phim không có lời bình luận.  Có thể nói, phim Maidan là cái nhìn trực tiếp, từ xa, của người quan sát. Cuộc biểu tình đưa đến hơn một trăm người chết, hơn một trăm người bị mất tích, và mấy trăm người bị thương.  Số người chết vì bị bắn cũng nhiều.  Họ bị bắn vào đầu và sau lưng. 

I am FEMEN

Phim tài liệu phát hành năm 2014, phụ đề Anh ngữ, đạo diễn là Alain Margot.  Phim nói về một nhóm phụ nữ Ukraine tranh đấu cho nữ quyền. Oxana Shachko, Anna Hutsol, Inna Shevchenko, và Alexandra Shevchenko là những người trong nhóm lãnh đạo. 

Anna Hutsol được cho là người thành lập FEMEN ngày 10 tháng Tư năm 2008 Tuy nhiên, có nguồn tin khác cho là người thành lập là Viktor Sviatsky. Những năm do tình trạng kinh tế bất ổn định, một số phụ nữ Ukraine đã làm nghề bán dâm.  Rồi có tổ chức đưa người vào Ukraine theo chương trình du lịch mua dâm.  Femen biểu tình chống đối việc người ta xem tất cả phụ nữ Ukraine là những người bán dâm. 

Femen nổi tiếng nhờ cách tranh đấu ngược với phong tục. Họ cởi trần và vẽ những thông điệp biểu tình trên ngực và bụng của họ.  Đầu đội vòng hoa có giải thắt lua tua, một thứ vương miện của phụ nữ Ukraine, rất đẹp.  Rất nhiều lần, họ bị công chúng, nhất là những bà cụ già chửi rủa thậm tệ cách biểu tình của họ, gọi họ là đồ đĩ.

Đầu tiên, họ tranh đấu cho một cô gái 18 tuổi bị hiếp dâm nhưng những kẻ mang tội hiếp dâm không được xử tội thích đáng.  Những cuộc cởi trần biểu tình này mang danh tiếng cho nhóm chủ trương và được nhiều người ủng hộ.  Oxana Shachko thành viên Femen cho biết tuy là cách tranh đấu này có vẻ kỳ khôi nhưng tổ chức Femen không làm gì trái với pháp luật.  Thường thường họ xuất hiện, cởi trần chớp nhoáng, hô khẩu hiệu, và chạy trốn trước khi cảnh sát bắt được họ. 

Dần dần, những cuộc cởi trần tranh đấu này xuất hiện ở những nơi nhạy cảm hơn.  Năm 2010 họ cởi trần phản đối cuộc bầu cử của Victor Yanukovych.  Tháng 12 năm 2011 ba thành viên của Femen đến Minsk, thủ đô Belarus, phản đối cuộc họp có sự tham dự của Tổng Thống Nga Putin.  Sau đó họ bị bắt giam và thả ra ở biên giới Belarus.  Họ bị một nhóm người đánh đập và hăm dọa sẽ giết họ.  Anna Hutsol mặt mũi sưng vù.  Ngày 8 tháng Tư năm 2013, họ phục kích, cởi-trần-để-tấn-công, ông Putin và bà Angela Merkel ở Hội Nghị Thương Mại ở Hanover.  Vì sự đe dọa tính mạng của các thành viên, Femen dời tổ chức của họ sang Paris năm 2013.  Ở Paris họ giúp các cô gái Pháp thành lập Femen.

Oxana Shachko là một họa sĩ chuyên vẽ các hình ảnh để tôn thờ của các vị thánh và Jesus.  Vì có sự bất hòa trong nhóm nên cô tách ra khỏi nhóm sống và làm việc một mình.  Ngày 24 tháng Bảy năm 2018 cô được tìm thấy trong tư thế treo cổ trong nhà của cô.  Cái chết của cô được cho là tự tử.

Hutsulka Ksenya

Phim âm nhạc của Ukraine phát hành năm 2018, Olena Demyanenko đạo diễn. Phim dựa trên vở nhạc kịch của Yaroslav Barnych lấy bối cảnh Ukraine vào năm 1939. 

Phim nói tiếng Ukraine, họa hoằn chêm vào vài câu tiếng Anh đơn giản, tuyệt đối không có phụ đề Anh ngữ.  Để hiểu phim này, tôi đọc chú thích đăng trên hộp đựng DVD, và đọc thêm ở Wikipedia.  Sau khi xem cuốn phim tôi đoán thêm vài chi tiết.

Năm 1939, phía Tây Ukraine bị Bolshevik chiếm đóng.  Một chàng Mỹ gốc Ukraine tên Yaro đến miền núi Carpathian để tìm hiểu nguồn gốc của mình.  Anh chỉ được hưởng gia tài kếch sù của cha nếu anh cưới vợ người Ukraine.  Yaro cư ngụ ở một khách sạn được điều hành bởi một nhóm phụ nữ cấp tiến.  Cùng ở khách sạn này có một vị giáo sư (khùng) đi tìm một loại bướm đặc biệt chỉ đẻ trứng lên đuôi của con cừu.  Một năm sau khi cha chết mà Yaro không cưới được vợ Ukraine thì gia tài sẽ về tay người em họ tên là Mary.  Vì muốn chiếm gia tài cho con gái, Helene, mẹ của Mary dẫn con đến vùng núi Carpathian làm mọi cách để ngăn cản Yaro cưới vợ thí dụ nhưlập mưu kế để cô chủ khách sạn dụ dỗ Yaro, gọi tất cả những cô gái trong vùng đến cho Yaro tuyển chọn.  Ngay từ buổi đầu tiên đến khách sạn Yaro đã gặp một cô gái người Hutsul tên là Ksenya và anh đem lòng yêu mến.  Mary cũng đem lòng yêu một anh chàng Cossack đẹp trai.  Helene nhận ra ông giáo sư săn bướm lạ là người yêu cũ trước khi bà có Mary.  Bolshevik cho người đến bắt Yaro nhưng những người Cossack trong vùng lên tiếng can thiệp.

Khán giả sẽ được xem phim rất đẹp.  Người ta nói rằng người Ukraine rất yêu hoa.  Xem phim này khán giả sẽ đồng ý với nhận xét trên. Những cô gái Ukraine với trang phục cổ truyền, đầu đội vòng kết hoa có những giải lụa bay phất phơ, cổ áo, tay áo, và viền quanh váy cũng thêu đầy hoa.  Những buổi khiêu vũ của các chàng và nàng Cossack rất ngoạn mục.  Họ mặc áo vải trắng có viền hoa đỏ, dọc theo chiều dài tay áo cũng có thêu hoa. Khán giả sẽ được nghe âm nhạc cổ truyền trình diễn bằng những nhạc cụ cổ truyền.  Có một loại đàn dây được cắn giữa hai hàm răng, (drymba) người ta khảy vào dây đàn phát ra tiếng đàn để đệm theo tiếng hát.  Loại đàn này chỉ còn tìm thấy ở Carpathian, dành riêng cho phái nữ.  Có một loại kèn thật dài, trembita, giống như một cái tù và dài ba mét.  Những buổi trình diễn âm nhạc đương đại do ban nhạc The Dakh Daughters Freak Cabaret đàn và hát nhiều loại nhạc.  Nhạc Ukraine nghe rất êm dịu và du dương với tiếng phong cầm, dương cầm, và vĩ cầm với những điệu Tango và Valse rất lả lướt.  Những hình ảnh đậm đà bản sắc Ukraine của cuối thập niên ba mươi vào thế kỷ hai mươi thật là quyến rũ.  Có thể nói, phim thuộc loại hiện thực huyền ảo.  Ukraine Carpathian là một vùng núi giàu có với rất nhiều câu chuyện dân gian đầy ma quái kinh dị.  Ksenya là một cô gái Ukraine hội đủ tất cả những điều kiện ông bố mong ước có ở người vợ tương lai của con trai.  Xem chừng Yaro không cần gia tài của ông bố cho lắm vì anh quyết định ở lại vùng núi này với Ksenya.

Ngày 1 tháng Bảy năm 2019, phim được giải Grand Prix trong liên hoan phim “Mt. Fuji — Atami International Film & VR Festival” ở Nhật Bản.

Lời người viết.  Những năm đầu tiên đến Mỹ, tôi ngạc nhiên là rất ít người Mỹ biết về phong tục tập quán Việt Nam dù chiến tranh Việt Nam xuất hiện hằng ngày trên truyền hình Mỹ.  Đến năm 2010 tôi vẫn gặp người Mỹ không biết Việt Nam ở chỗ nào trên bản đồ dù gần 60 ngàn quân nhân Mỹ chết ở Việt Nam.  Nay, tôi muốn giới thiệu với độc giả người Mỹ gốc Việt, một vài nét đơn sơ về lịch sử, chính trị, âm nhạc, và phong tục Ukraine, một quốc gia mà người Mỹ đang tốn kém rất nhiều tiền bạc và công sức để giúp đỡ họ chống lại sự xâm lăng của Nga.

Nguyễn Thị Hải Hà

Trên cành dưới nước

Ó đầu bạc

Có lần đi ngang chỗ này thấy con ó đầu bạc đậu trên cây này nhưng tôi không mang máy ảnh. Lần đó chụp ảnh bằng điện thoại. Đâu như hồi tuần trước, lại đi ngang, với máy ảnh chụp được ảnh con ó này. Không chắc cùng là một con vì ó trống và ó mái giống như nhau. Gần chỗ ó đậu là cái tổ ó. Chỗ này cách nhà thờ Pillar độ một mile. Tôi vẫn ngày ngày quan sát gia đình ó. Ó mẹ thường xuyên đến với ó con sau lần sợ hãi bỏ đi năm ngày. Những hôm mưa gió, ó mẹ ở với ó con suốt đêm. Hôm qua hôm kia gì đó, ó trống mang một con cá giống như cá trê, vừa dài vừa to. Con cá chắc già lắm nên da của nó rất dai, thấy ó trống xé hoài mà không đứt. Ó con bây giờ xòe đôi cánh thật rộng. Nó to suýt soát với ó cha và ó mẹ, độ một chín một mười. Thỉnh thoảng nó chồm chồm, ra sát vành tổ, quạt cánh liên tục có vẻ như muốn bay. Tuy vậy chắc cũng phải hai tháng nữa nó mới có thể bay được.

Chuẩn bị cất cánh

Loài chim này rất bé, lại đậu trên cành rất cao.

Yellow-rumped warbler

Chị này chắc sắp sửa nằm ổ, cái bụng chị thật to trông chị rất nặng nề.

Chim cốc

Chim cốc đã rủ nhau. Trở lại khúc sông Millstone này. Chắc đủ ăn đủ sống.

Đúng như tôi dự đoán, tổ trứng ngỗng bao gồm 6 cái trứng tôi nhìn thấy ngày 15 tháng Tư năm 2022, đã biến mất. Trước đó độ một tuần mưa gió vắng người, ngỗng đẻ ngay trên đường trail. Tôi biết là tổ trứng không thọ, nếu không lọt vào tay người thì cũng bị các loài thú khác xâm phạm. Ngày 20 tháng Tư đi ngang, không còn thấy ngỗng cha và ngỗng mẹ canh gác tổ nữa. Cái tổ trứng cũng không còn chút dấu vết nào, không còn lông tơ, có lẽ gió thổi bay mất. Không biết ngỗng mái sẽ làm sao, kiếm chỗ nào đó nằm vài ba tuần giả vờ như ấp trứng cho tới khi vỡ lẽ là mình bị mất con rồi? Trên đường trail vẫn còn một hai cặp ngỗng có vẻ như muốn đẻ trên đường trail. Năm ngoái tôi cũng gặp một cái tổ ba trứng, cũng bị biến mất. Trứng ngỗng Canada to gấp đôi trứng gà loại lớn. Chắc là ngon.

Mấy con mèo vẫn đến ăn. Mèo Xám yên lặng quá nên có khi tôi tưởng nó bỏ đi mất rồi nhưng nó vẫn còn đây. Mèo Mun vẫn nói chuyện với tôi mỗi khi thấy tôi mang thức ăn. Gần đây có hai con mèo sọc vàng giống hệt nhau như sinh đôi. Và con mèo mướp vẫn còn đến nhưng ít gặp.

Trứng Phục sinh Pysanky

Nguyễn Thị Hải Hà

Vào đầu thập niên 1970, một tạp chí ở miền Nam Việt Nam, hình như là Thời Nay, có một bài về trứng Phục Sinh kèm theo ảnh của những quả trứng có họa tiết, hoa văn linh động, màu sắc rực rỡ.  Những quả trứng này là pysanka (số ít) hay pysanky (số nhiều) có nguồn gốc từ Ukraine.  Thật ra có rất nhiều quốc gia Đông Âu, như Ba Lan, Cộng Hòa Czech, và Belarus cũng có nghệ thuật vẽ trứng, nhưng Ukraine được xem là nguồn gốc nghệ thuật pysanky.  Ukraine trong hơn trăm năm bị sát nhập vào Nga, không được sử dụng ngôn ngữ Ukraine, bị cấm đàn bandura, bị tàn sát diệt chủng, ngay cả pysanky cũng bị ngăn cấm đến suýt nữa nghệ thuật này cũng biến mất. 

Tại sao chào đón lễ Phục sinh bằng trứng màu?

Phục sinh là một trong những lễ rất quan trọng của Thiên Chúa Giáo, bên cạnh lễ Giáng sinh.  Ngày lễ Phục sinh nhiều cửa hàng siêu thị đóng cửa, hoặc cho nhân viên về sớm để mừng lễ. Nhiều gia đình có thói quen tổ chức tiệc họp mặt đại gia đình.  Trẻ em và người lớn mặc quần áo mới đẹp.  Trứng nhuộm màu pastel được treo trên cây để trang trí. Kẹo chocolate giả thành hình quả trứng được đem giấu như kho tàng cho trẻ em săn lùng.  Nhưng tại sao trứng có liên quan đến lễ Phục sinh?

Người Ukraine thời cổ xưa thờ thần mặt trời Dazhboh.  Mặt trời là nguồn ánh sáng sưởi ấm quả đất, và do đó, là nguồn sống.  Chim được xem là sự sáng tạo của thần mặt trời vì chỉ có chim mới có thể đến gần thần mặt trời.  Người Ukraine cổ xưa tin rằng có bàn tay của đấng tối cao trong sự sáng tạo ra nguồn sống trong quả trứng. Loài người không đến được gần thần, cũng không đến gần chim được, nhưng có sự liên kết với thần nhờ nhặt được trứng chim.  Trứng mang mầm sống của chim và do đó tượng trưng cho mầm sống của cuộc đời.  Khi vừa qua khỏi mùa đông, vạn vật như bừng sống trở lại, cũng là lúc trứng chim nở ra con; do đó, trứng là biểu tượng của sự duy trì nguồn sống và của sự tái sinh. 

Pysanky đã có rất lâu đời, trước khi Thiên Chúa Giáo vào Ukraine vào khoảng năm 988.[1]  Với sự phát triển của Thiên Chúa Giáo, niềm tin vào Dazhboh và các vị thần linh dần dần được thay thế bằng Jesus.  Pysanky trở thành biểu tượng của lễ Phục Sinh.

Nhiều năm bị cấm đoán vì xung đột chính trị và tôn giáo với Nga, pysanky gần như bị tận diệt. Người Ukraine di dân mang pysanky đến Bắc Mỹ và Nam Mỹ, và nghệ thuật này được lưu truyền. Những viện bảo tàng lưu trữ pysanky cũng bị phá hủy bởi chiến tranh và nhà cầm quyền Liên Xô.  Mãi đến năm 1991, khi Ukraine trở nên độc lập, nghệ thuật này mới được khôi phục.  Ở New York có viện bảo tàng Ukraine.  Và ở Ukraine có viện bảo tàng pysanky, sẽ được đề cập sau.

Phân biệt vài loại pysanky:

Pysanky bắt nguồn từ chữ pysaty có nghĩa là viết.

Pysanky đơn giản là trứng trang hoàng nghệ thuật nhưng chữ pysanky khiến người ta nghĩ ngay đến loại trứng được vẽ nhiều họa tiết có màu sắc rực rỡ được làm bằng phương pháp batik – nhuộm bằng sáp màu và cạo lớp sáp để bộc lộ màu sắc của quả trứng.  Có nhiều loại pysanky, chỉ một vài loại được nêu ra ở đây. 

Krashanky: trứng chín và nhuộm chỉ một màu.  Loại màu này tươi sáng được làm bằng thảo mộc, hay vỏ củ hành.  Trứng được chúc phép và ăn vào lễ Phục sinh.

Pysanky: trứng sống được vẽ lên bằng sáp màu theo phương pháp batik với dụng cụ đặc biệt gọi là stylus hay kistka.  Trứng làm bằng gỗ và trứng bọc cườm cũng được gọi là pysanky.

Krapanky: trứng tươi, trang hoàng bằng những dấu chấm bằng nhỏ bằng sáp ong.  Đây là loại pysanky đơn giản nhất.

Dryapanky: trứng được nhuộm bằng sáp màu và cạo bỏ lớp sáp để lộ một phần vỏ trắng bên dưới lớp sáp.

Malyovanky: trứng được vẽ tay bằng sơn màu hay màu nước.

Pysanky tìm thấy trong khảo cổ học

Nghệ thuật pysanky và krashanky bắt nguồn từ Ukraine từ thời cổ xưa.  Loại pysanky làm bằng vỏ trứng tươi không tồn tại vì dễ vỡ. Một số trứng làm bằng gốm được tìm thấy gần làng Luka Vrublivets’ka trong vùng đất khảo cổ Trypillian (thuộc vào thời kỳ thứ năm cho đến thứ ba trước Thiên Chúa).  Những quả trứng này là đồ trang hoàng, giống như cái lục lạc, bên trong quả trứng bằng gốm có hòn đá nhỏ, khi lúc lắc sẽ nghe tiếng leng keng.  Được dùng để đuổi tà ma.

Phần lớn pysanky tìm thấy ở Ukraine gồm có trứng bằng gốm, vẽ những nét màu xanh và vàng trên nền sậm.  Nhiều pysanky được tìm thấy trong mộ của người lớn lẫn trẻ em. Trứng gốm tìm thấy ở Kyivan Rus’ có kích thước nhỏ hơn, được làm bằng đất sét đỏ, có nhuộm màu nâu, xanh lá cây, hay vàng, sọc vàng và xanh.

Quả trứng pysanka lâu đời nhất được tìm thấy ở Lviv năm 2013, trong một hệ thống chứa nước từ thế kỷ 15 hay 16.  Nó là trứng ngỗng có vẽ hình những đợt sóng, vẫn còn nguyên vẹn khi tìm thấy.  Quả trứng lâu đời thứ nhì được tìm thấy ở Baturyn năm 2008, có tuổi đời vào thế kỷ thứ 17.  Baturyn là thủ đô của người Cossack Mazepa, bị tàn phá năm 1708 bởi đạo quân của Nga Hoàng Peter. Toàn thể quả trứng được tìm thấy, nhưng tiếc thay, đã bị vỡ.  Đây là vỏ trứng gà, được vẽ lên những mẫu hình học trên nền có màu xanh và xám.

Huyền Thoại về pysanky

Huyền thoại Ukraine kể rằng trong vũ trụ có một quả trứng khổng lồ xuất hiện.  Quả trứng được xiềng vào núi đá. Người ta tin rằng trứng này có thể dùng để chữa lành bệnh và vết thương, bảo vệ, mang đến sự may mắn và giàu có. Hễ trứng còn thì người còn.  Niềm tin này là lý do nghệ thuật pysanky được bảo vệ và tồn tại cho đến ngày hôm nay.

Hutsuls – người dân tộc sống trên núi Carpathian phía Tây Ukraine, cho rằng vận mệnh thế giới tùy thuộc vào pysanky.  Khi nào nghệ thuật viết vẽ lên vỏ quả trứng còn tồn tại thì thế giới còn tồn tại.  Nếu vì lý do gì đó phong tục này bị chấm dứt, quỉ sứ dưới hình dáng một con rắn khổng lồ bị giam giữ ở một triền núi sẽ xổng ra và phá hoại cả thế giới.  Mỗi năm con rắn quỉ thả ra rất nhiều rắn con để xem bao nhiêu pysanky được làm ra. Nếu số pysanky tăng, thế giới sẽ ổn định và con quỉ dữ tiếp tục bị giam cầm.

Truyện xưa kể rằng có người bán hàng rong tên Simon đã giúp Jesus vác cây thánh giá suốt chặng đường đến Calvary.  Simon để hàng hóa của ông bên lề đường và khi ông quay trở lại, tất cả những quả trứng đều biến thành những quả trứng được vẽ đầy những họa tiết có màu sắc linh động và rực rỡ. Pysanky!

Cách sử dụng pysanky

Pysanky, vì đòi hỏi nhiều công sức và thì giờ, chỉ làm quà tặng cho người thân trong gia đình và làm lễ vật tặng những người mình kính trọng.  Pysanka là món quà tượng trưng cho đời sống, do đó phải là quả trứng còn nguyên vẹn.  Màu sắc và họa tiết trên quả trứng cũng rất quan trọng vì bên cạnh là biểu tượng của đời sống còn là lời cầu chúc người nhận được bảo vệ, nhiều may mắn, và luôn được yêu thương.  Ở trong nhà, pysanky phải được chưng bày ở nơi trang trọng nhất, được nhiều người chiêm ngưỡng nhất.

Họa tiết pysanky

Những họa tiết trên pysanky đều là những hình mẫu tìm thấy trong nghệ thuật dân gian của các bộ môn thêu may, họa văn trên đồ gốm, dệt vải và thảm, tranh vẽ trên tường hay treo tường.  Những bức họa hay điêu khắc bằng gỗ, ngay cả những mẫu hoa văn trên kim loại nhìn thấy trên pysanky vẫn còn được dùng cho đến ngày hôm nay. 

Xuất phát từ nhân gian, một họa viên có thể thiết kế một họa tiết đặt cho nó cái tên cùng với một ý nghĩa.  Lưu truyền từ đời này sang đời khác, làng này sang làng khác, mỗi họa tiết có thể được thay đổi vài nét.  Do đó một biểu tượng có thể có nhiều dị bản, khác tên và mang những ý nghĩa khác nhau, thậm chí có thể đối nghịch nhau.  Thời cổ xưa, những biểu tượng này mang tính chất tôn giáo và huyền thoại, vì thế bị người đời sau xem như mê tín dị đoan. Niềm tin vào huyền thoại dần dần phai mờ được kể lại như một câu chuyện đời xưa. Một số họa tiết có những thiết kế căn bản như:

Thiết kế hình học- geometry bao gồm hình vuông, hình tam giác, hình tròn, hình trái tim.  Thiết kế hình dụng cụ bao gồm hình dáng dụng cụ nông nghiệp như cái cào, lược, cửa sổ, chìa khóa. Thiết kế hình hoa cỏ thiên nhiên, thú vật, biểu tượng tôn giáo, v.v…[2]

Những mẫu họa tiết thay đổi tùy theo vùng miền.  Ở vùng núi Carpathian các họa tiết này thường theo mẫu hình học.  Vùng núi bậc thang ở phía đông Ukraine các họa tiết pysanky thường là thú vật, cây cỏ, thiên nhiên, mặt trời, và trăng sao.

Từ trái qua phải họa tiết theo mẫu hình học – geometry, mẫu nữ thần – berehynia, giáo đường – church, và meander – lọn sóng, nơ hoa, hay những đường vô tận.[3] 

Trứng Phục Sinh trên tay Sóc

Vài nét phác họa về cách làm pysanky

Phương pháp vẽ pysanky rất phức tạp.  Kỹ thuật dùng để vẽ pysanky được gọi là batik.  Trứng được nhúng vào nhiều loại màu nhuộm bằng sáp, từ màu nhạt đến màu đậm, mỗi lần nhuộm màu đều được bao phủ bằng sáp.  Những lớp sáp này được cạo dần bằng một dụng cụ gọi là kitska hay stylus, để lộ ra những nét vẽ tinh vi đẹp mắt. Trứng được nhuộm bằng nhiều loại màu lấy từ cây cỏ trong thiên nhiên như hạt hướng dương, trái walnut, vỏ của lúa mạch, rong, lá cây bạch dương, v.v… .  Vỏ sồi, cây ash, cành táo dại, hoa nghệ, lá liễu đều được dùng để làm ra màu nhuộm trứng.  Kitska ngày xưa là một dụng cụ để dùng sáp perehynia bằng tay, do đó cần phải được liên tục hâm nóng.  Ngày nay, stylus dùng bằng điện và màu nhân tạo nên công việc dễ dàng hơn xưa.    

Để giải thích bàn tay của đấng sáng tạo người cổ xưa đã viết huyền thoại trong đó quả trứng được xem như nguồn gốc của đời sống, mặt trời, và thế giới.  Đối với người Ukraine pysanky có quyền lực rất lớn, không chỉ ở quả trứng vì trong quả trứng có mầm sống, nhưng còn ở những họa tiết đầy màu sắc được tô vẽ lên quả trứng.

Màu sắc dùng để nhuộm trứng cũng có ý nghĩa của nó.  Màu đỏ tượng trưng mặt trời, màu vàng dùng để chỉ sự giàu sang và sức sinh sản; màu xanh lục là dấu hiệu của mùa xuân và cây cỏ. Ở Đông Âu, trứng được nhuộm màu đỏ để tượng trưng cho máu của Chúa.  Người Ukraine đã mất nhiều thời gian để pysanky trở thành một nghệ thuật tuyệt hảo.  Ngày nay người ta không còn xem pysanky là một thứ bùa may mắn nữa mà chỉ là một tác phẩm nghệ thuật dân gian đặc sắc.

Mùa xuân chính thức bắt đầu từ ngày Vernal Equinox (Xuân Phân) cho người ở Bắc Bán Cầu. Trứng được dùng để chào đón, ăn mừng lễ hội mùa xuân. Người ta đồn rằng trong ngày Xuân Phân quả trứng có thể đứng thăng bằng trên cái đầu nhỏ của nó.  Bạn có bao giờ thử thực hiện điều này chưa? 

Thời xưa, pysansky chỉ được “trang điểm” qua bàn tay phụ nữ và các cô gái nhỏ.  Trứng được chọn lựa rất cẩn thận, chỉ có những quả trứng “có trống” mới được dùng, của đàn gà mới đẻ trứng lần đầu tiên.  Buổi vẽ trứng được tổ chức một cách bí mật.  Bên cạnh việc giữ kín bí quyết nghệ thuật, người lạ bị cấm đến gần vì người làm pysanky sợ bị yểm bùa lên trứng gây tai họa cho người nhận.  Trong thời kỳ người ta theo đạo pagan, pysanky được trang trí vào mùa Xuân.  Khi Thiên Chúa Giáo hoạt động ở Ukraine, những buổi làm pysanky được tổ chức trước lễ Phục Sinh.[6]

Pysanka Museum

Viện bảo tàng Pysanka được thành lập năm 2000 ở Kolomya, Ivano-Frankivska Oblast, thuộc phía tây Ukraine.  Đây là viện bảo tàng duy nhất trưng bày nghệ thuật pysanky.  Phần giữa của viện bảo tàng có hình dáng như quả trứng pysanka.  Bên trong viện bảo tàng cũng trang trí giống như pysanky

Viện bảo tàng chứa khoảng 10 ngàn trứng pysanky của nhiều nghệ sĩ, nhiều thời đại, và của một số nước Đông Âu lân cận như Belarus, Ba Lan, Cộng Hòa Czech và một vài quốc gia khác xa hơn.

Nguồn ảnh: Pysanka_Museum (wikimedia.org)

Lễ Phục Sinh năm 2022, trong những ngày Ukraine bị Nga xâm lấn, hy vọng pysanky sẽ mang lại may mắn và nền độc lập rất còn non trẻ này sẽ sống lâu dài.

[1] Khai quật những ngôi mộ cổ ở Ukraine người ta thấy pysanky làm bằng gốm vào khoảng thế kỷ thứ năm cho đến thứ ba trước Thiên Chúa, trong khi Thiên Chúa Giáo đến Ukraine vào khoảng năm 988.

[2] https://www.pysanky.info/Symbols_NEW/Symbols.html

[3] Phỏng dịch và tóm tắt từ Wikipedia

[6] PYSANKY – Ukrainian Easter Eggs – Ukrainian Museum (NYC) Exhibits/Lectures