Đại hội thơ

Dodge Poetry Festival tổ chức ở New Jersey Performance Center (NJPAC) hằng năm vào tháng Mười. Ngày còn đi làm tôi đi ngang,  gặp đại hội thơ muốn vào nhưng ngại ngùng. Một phần vì tôi chẳng quen ai. Một phần vì tôi tự giới hạn mình không bước vào lãnh vực thơ, biết tính mình tò mò, lang thang qua nhiều lãnh vực quá rốt cuộc không hiểu biết rành về bất cứ điều gì. Năm nay, bạn HN, blog The Kitchen Window, hỏi có đi không, tôi vui mừng trả lời, đi. Ngay lập tức.

hội chợ thơ

Đi xong rồi, tôi thấy tiếc là những năm trước mình đã không đi. Bạn HN nói, thế thì từ rày về sau mỗi năm mình đều đi nhé. Tôi muốn lắm, nhưng ở tuổi này, tôi không dám hẹn trước những chuyện rất xa trong tương lai. Nhưng tôi tự hứa là sẽ đi, nếu không có bạn đi cùng thì tôi sẽ đi một mình.

Lần đầu tiên trong đời, tôi thấy thơ vẫn còn đang sống và phát triển trong văn hóa, xã hội Mỹ, và nhất là trong lòng những người trẻ tuổi. Thơ vẫn còn là điều cần thiết cho tâm hồn và tư tưởng của con người. Chúng tôi đi ngày thứ Sáu, xem chương trình thì thấy ngày thứ Sáu có nhiều tiết mục chúng tôi thích nhất. Ngày thứ Bảy, hôm qua, chương trình xui xẻo bị mất điện, đến tối vẫn chưa khôi phục. Coi như chúng tôi gặp may. Buổi hội thơ ngày thứ Sáu thành công tốt đẹp.

Mở đầu chương trình Sandra Cisneros với chủ đề “Poets on Poetry” (Thi sĩ bàn về thơ). Các bạn chắc biết tên bà Cisneros, vâng, tác giả của quyển “The House on Mango Street.” Bà đọc một truyện ngắn (hay bài thơ văn xuôi) về tuổi thơ của bà lúc bà 11 tuổi. Lời khuyên của bà, để làm thơ hay viết văn, bạn đừng viết những chuyện dễ viết, hãy viết về những điều bạn muốn quên. Bà tin rằng, “nghệ thuật có thể thay đổi xã hội.”

Sandra Cisneros
Sandra Cisneros

Đây là lần đầu tiên tôi được nhìn tận mặt những nhà văn nhà thơ tên tuổi. Elizabeth Alexander (người đọc thơ trong ngày lễ nhậm chức của Tổng Thống Obama), Sharon Olds, và những nhà thơ, mới nghe tên lần đầu nhưng gây ấn tượng tốt như Jericho Brown, và Gregory Orr. Vài nhà thơ tôi nghe tên nhưng chưa đọc tác phẩm như Marylin Chin (bạn nào đó giỏi tiếng Trung quốc đã phiên âm là Trần Mỹ Linh), Hieu Minh Nguyen và Paul Tran (hai nhà thơ gốc Việt).

Trong chủ đề Poetry and Democracy (Thi ca và Dân Chủ), Bà Alexander đọc bài thơ “Let America be America Again” (Để nước Mỹ Lại Là Nước Mỹ) của Langston Hughes, một trong những nhà thơ da đen tiên phong lên tiếng về sự bình đẳng chủng tộc và tự do sáng tạo.  Bài thơ “To A Stranger” của Whitman được đọc trong chủ đề này.

Elizabeth Alexander
Elizabeth Alexander ở bên trái ngoài cùng.

Một trong những điểm thú vị nhất của buổi hội thơ là có rất nhiều học sinh và sinh viên tham dự. Những người trẻ tuổi đã đặt những câu hỏi rất thông minh và đầy suy nghĩ để các nhà thơ chủ tọa buổi đọc thơ trả lời. Chế độ dân chủ có ảnh hưởng như thế nào về thi ca trong quá khứ và hiện tại? Làm thế nào để bảo đảm dân chủ trong lớp học?

Trong chủ đề Poetry and Identity tôi gặp lại bà Sharon Olds. Bà đọc một bài thơ nói về sự chấp nhận và yêu thương bản thân trong quá trình trở thành người trưởng thành và nhà thơ. Tôi không nhớ tựa đề, chỉ nhớ đại ý là mẹ của bà Sharon Olds là một người rất đẹp, và do đó có khi bà Sharon so sánh thể chất của mình với mẹ mình. Khi trưởng thành, bà Sharon nhìn lại mình, thấy những ưu và khuyết điểm của mình. Bà lập lại nhiều lần ở cuối vài đoạn thơ (stanza) câu thơ “Beaten by my mother” có ý nói dù bà đã chấp nhận và yêu thương chính mình, bà vẫn thấy mình thua (vẻ đẹp) của mẹ. Giọng đọc của bà ôn hòa, không có ý trách móc hay chua chát, tuy nhiên tôi vẫn nhìn thấy, trong ý nghĩ riêng của mình, (người trước là con gái của mẹ tôi và sau đó là mẹ của hai cô con gái) sự không tán thành và không chấp nhận của bà mẹ (ở một giai đoạn nào đó trong quá khứ) về thái độ và sự chọn lựa của các con.

Trong chủ đề Poetry and Identity, một cô bé đã đặt câu hỏi rất hay. Với nhà thơ queer, và những người LGTB, khi, coming out, tuyên bố với mọi người về giống phái và sở thích tình dục của cá nhân, những người này tìm kiếm điều gì? Họ tự chấp nhận bản thân hay mong muốn được xã hội chấp nhận? Điều làm tôi (bà Tám) nể phục họ, là họ thẳng thắn tuyên bố những điều thầm kín về giống phái. Nhà thơ Jericho Brown, một người da đen cao lớn đẹp trai, ăn nói lưu loát, cũng thố lộ ông đã từng bị hiếp dâm, bị nhiễm HIV.

Ông này được bà Krista Tippett phỏng vấn trực tiếp cho chương trình radio “On Being.” Ông càng charismatic chừng nào thì càng đẩy bà Tippett vào thế bị động chừng ấy. Tôi hơi thất vọng khi thấy bà không chủ động được cuộc phỏng vấn có vẻ như bà không chuẩn bị kỹ và cứ cười rúc rích như những cô gái trẻ gặp thần tượng trên sân khấu.

Trong một ngày hội thơ tôi học được rất nhiều điều ở các nhà thơ lớn tuổi hơn tôi (kinh nghiệm làm thơ, hiểu biết về thơ và đời sống), ở người bạn HN trẻ hơn tôi gần chục tuổi (có nhiều ý nghĩ rất thơ làm thơ hay nhưng vẫn còn đem giấu), và ở các nhà thơ trẻ vẫn còn đang đi học (qua những câu hỏi thông minh và rất yêu thơ).

Tôi thấy rằng, cuộc sống không thể thiếu thơ nhưng rất tiếc là (phần lớn) chúng ta không thể kiếm sống bằng cách làm thơ. Bà Sharon Olds tự hào bà là một trong những người rất ít (chỉ 1%) có thể sống nhờ làm thơ. Bà khuyên các nhà thơ trẻ, hãy có một nghề để có thể tự kiếm sống và không lệ thuộc vào ai về mặt tài chánh, để có thể là nhà thơ. Nghe đến đây tôi càng thêm cảm phục, những người suốt đời làm thơ, chỉ để làm thơ, để hưởng hạnh phúc của sự sáng tạo. Còn tôi suốt cuộc đời chỉ lo cơm áo gạo tiền, chưa hề dám sống dám hy sinh chỉ để làm thơ hay viết văn.

Chuyển mùa

Hai hôm nay nhiệt độ giảm nhiều. Lá bắt đầu đổi màu nhưng chưa đậm màu sắc vàng cam đỏ tím. Năm ngoái cuối tháng Mười tôi đi Canada, lá vẫn còn xanh. Xem chừng cuối tháng Mười năm nay lá sẽ bắt đầu rơi rụng. Muốn xem lá mùa thu, mà không cần phải đi xa, thậm chí ra khỏi nhà, bạn có thể xem phim “Autumn in New York” (hay Mùa Thu ở New York). Đây không phải là một phim đặc sắc dù có diễn viên rất đẹp như Richard Gere và Winona Ryder. Xem phim này bạn sẽ không khỏi so sánh với phim “Love Story” (Chuyện Tình).

Dù thích hay không, bạn vẫn sẽ nhìn thấy thành phố New York. Central Park, nơi hai diễn viên chính đi dạo. Trong lúc trò chuyện Charlotte (Winona Ryder) chêm vào mấy câu thơ, bên cạnh hàng cây lá chín vàng. Vườn Bách Thảo New York nơi người ta giăng đèn bắt đầu buổi hát nhạc Giáng sinh, Rockefeller Center nơi Charlotte ngã quỵ trên sân trượt băng, những con phố ướt mưa lướt thướt vào ban đêm ở Lower Manhattan, viện bảo tàng người bản địa Indian, . . . . Nếu bạn chưa lần nào đến New York, xin đừng vội ghét nó, vì thành kiến không phải cứ Mỹ quốc thì là xứ thiên đường.

Thu NY 5
Công viên Central Park trong phim Autumn in New York lúc giữa mùa thu

Nếu không xem “Autumn in New York,” bạn có thể xem mùa thu trong “When Harry Met Sally.” Tôi thích nhất cái đoạn ở công viên Central Park, phông nền là một cái cây to lá vàng, bên cạnh đó là băng ghế dài của công viên. Meg Ryan và Billy Crystal vừa đi vừa kể chuyện nằm mơ. Họ đi từ xa, đến gần, và bước vào khung ảnh.

Sally Harry 1
Meg Ryan trong vai Sally đang bước vào khung ảnh

Central Park vào mùa thu là nơi lý tưởng để hai người mới quen nhau, còn đang tìm hiểu nhau, đi dạo bên nhau trong những ngày có nắng ấm, thảm lá vàng dưới chân, và ánh sáng vàng chanh xuyên qua kẽ lá. Người nào thất tình đừng đến thành phố New York vào mùa thu, với những ngày xám xịt, gió từ sông Hudson luồn qua những tòa nhà chọc trời tạo thành luồng hơi lạnh cắt vào trong da, làm người đã sẵn buồn tình lại thêm phần khốn khổ.

thu 2017
New Jersey, thu 2017

Cứ mỗi lần chớm thu, nhìn lá đổi màu, tôi không thể nào không nghĩ đến bài thơ “October Prayer” (Lời Nguyện Cầu Tháng Mười) của Esther Popel.

Change me, oh God,
Into a tree in autumn
And let me dying
Be a blaze of glory!

Thượng đế, hãy biến con
Thành cái cây trong mùa thu
Để con lịm chết
Rồi hóa thành màu của lửa cháy sáng ngời

 

Hitchcock nghĩ về phô trương thân thể

Tôi đang đọc một quyển sách bao gồm các bài phỏng vấn của những đạo diễn tên tuổi hàng đầu trên thế giới. Hitchcock là một. Sáng nay đọc một đoạn phỏng vấn, do George Stevens, Jr. thực hiện ngày 3 tháng Hai, năm 1970, câu trả lời của Hitchcock, lúc ấy 71 tuổi, cho ta thấy quan điểm của ông khá bảo thủ. Tôi xin dịch câu trả lời của câu hỏi “What is your idea about what a heroine should be?” (Ông nghĩ một nhân vật nữ thì nên (hành động, cư xử, ứng xử) như thế nào?

Hitchcock nghĩ về sự phô trương thân thể của phụ nữ

“Trước nhất, phải nói là tôi chẳng bao giờ thích phụ nữ phô trương nét khêu gợi bốc lửa như đeo đồ trang sức rẻ tiền trên cổ. Tôi nghĩ để cho nó được khám phá thì hay hơn. Khám phá những đường nét gợi cảm của người phụ nữ thì thú vị hơn là bị buộc phải nhìn, như cái kiểu Marylin Monroe và những người tương tự. Theo tôi, điều ấy có vẻ tục tằn và lộ liễu thái quá. Tôi nghĩ sẽ thú vị hơn, khi chúng ta đang kể một câu chuyện rồi khám phá đường nét gợi cảm của phụ nữ, cho dù nàng có vẻ (kín đáo) giống như một cô giáo. Chuyện gì cũng có thể xảy ra với một người phụ nữ như thế ngay cả khi ở trên chiếc tắc xi.” Hết đoạn dịch.

Ý kiến riêng của tôi, bà Tám: Bạn biết ông Hitchcock rồi chứ. Ông là một nhà làm phim tài ba, danh tiếng lẫy lừng, nhưng nói thật ông không mấy đẹp dáng. Xem chừng ông cũng không mấy lịch lãm với phụ nữ. Nghe kể lại rằng những người diễn viên nữ đóng trong phim của ông rất sợ ông. Chỉ trong một đoạn văn ngắn, ông đã nhục mạ hai giới phụ nữ, những người bốc lửa, như Monroe và những người đứng đắn, như cô giáo.

 

Tình già, p. 2

Tôi học bốn buổi cách trồng và săn sóc hoa lan. Thứ Bảy vừa qua là buổi học cuối cùng. Trong lớp có một cặp vợ chồng đến từ Pennsylvania. Nghe thì xa, nhưng thật ra Penn. là tiểu bang giáp ranh với New Jersey. Tiếng là kế một bên, nhưng ông chồng nói lái xe đi gần hai tiếng đồng hồ. Lớp học bắt đầu lúc 9 giờ sáng. Có mặt trước 20 phút để được thầy dạy lái xe đưa đến nhà kính trồng lan. Đi bộ đến nhà kính chừng 15 phút nhưng lái xe đi đường vòng lâu hơn. Có nhiều người Mỹ không muốn hoặc không thể đi bộ lâu.

Cả hai vợ chồng đều trạc tuổi hơn sáu mươi, khỏe mạnh. Họ ôn hòa, điềm tĩnh, và không ăn mặc diêm dúa hay tỏ vẻ giàu có. Ông chồng nói đi vì bà vợ muốn đi học trồng lan. Còn ông, không ghét trồng lan cũng không hẳn là thích, đi vì không muốn vợ lái xe đường xa một mình. Vào lớp ông cũng tỏ vẻ hứng thú, chăm chú vào lời thầy, thỉnh thoảng thắc mắc hợp lý chứ không làm ra vẻ hiểu biết ta đây, không cằn nhằn hay lơ đãng, hay tệ hơn nữa là ngủ gục.

Vợ chồng già, họ không có cái vẻ gắn bó (mùi) muồi mẫn, nhưng nội cái việc ông lái xe hai giờ đồng hồ chở vợ đi học trồng lan và ngồi trong lớp hơn hai giờ đồng hồ thì thấy ông quan tâm chăm sóc vợ. Họ dọn nhà hai lần trong vòng mấy tháng mấy cây lan vì thế không khỏe khoắn cho lắm. Chẳng nhớ thầy và các học trò bàn tán gì nhưng ông chồng trêu bà vợ: “Giá mà lúc ấy anh biết thì sẽ mang giò lan ra bỏ ngoài lạnh cho nó héo.” Nhưng ngay lập tức ông cười bảo rằng: “Không. Anh không bao giờ làm như vậy. Anh chỉ đùa thôi.” Bà vợ cười hiền lành: “Em cũng biết anh không làm thế bao giờ.” Nhìn cách ông chồng trêu vợ, mình biết họ yêu thương nhau. Tôi biết có vài ông chồng Việt trêu vợ bằng cách bêu xấu bà vợ. Chỉ nhìn cách trêu (một hình thức nặng lời trá hình), mình biết vợ chồng không hòa thuận với nhau. Có những mối ác cảm họ giữ trong lòng, chờ dịp xì ra.

Mấy hôm nay trời lạnh, buổi tối chừng bốn mươi lăm độ F. (khoảng 7 hay 8 độ C.), lá khô và hạt sồi bắt đầu rụng. Tôi quét sân, quét driveway, mỗi lần quét chừng nửa tiếng hay một giờ đồng hồ (ít ra là tôi thấy lâu như vậy). Có một ngày đang quét lá bà Robin, hàng xóm lái xe đi ngang, hẹn tôi đi ăn trưa. Đang cần có bạn tôi vui vẻ nhận lời. Hẹn nhau đi ngày thứ Sáu.

IMG_1638

IMG_1627

Robin chở tôi đến nhà hàng gần đó, cách chừng năm phút lái xe. Chồng bà, Steve, qua đời hồi tháng 12 năm ngoái. Bà nói: “Mới đó mà đã một năm.” Tôi nói: “Chắc bà nhớ ông lắm.” Bà nói: “Tôi nhớ ông ghê lắm.” Nhà hàng bà đưa tôi đến là nơi hai vợ chồng bà thường đến ăn, cứ vài ba tuần một lần. Steve là lính cảnh sát. Robin làm việc trong nhà hàng và khách sạn. Bà lãnh lương khá cao nên không thể nhận tiền hưu của Steve khi ông qua đời. Mỗi lần nhắc đến Steve, mắt bà long lanh, ngấn nước. Bà nói: “Tôi yêu ông ấy lắm. Ngày ông còn sống tôi không thế nào chịu được nếu mất ông. Nếu ông ấy mà hẹn hò đi chơi với người đàn bà nào khác thì tôi sẽ giết ông ấy. Tôi không chịu được. Tôi yêu ông, nhưng tôi sẽ giết ông.” Bà nói giết, một cách nói thôi, chứ người bà tôi không nghĩ sẽ giết người. Steve và Robin, rất đẹp đôi. Tính đến ngày Steve qua đời họ lấy nhau đã hơn bốn mươi năm.

Cái trêu nhẹ nhàng của ông học chung lớp trồng lan, và lời than nhớ chồng của bà Robin, làm tôi nhớ lại một chi tiết trong phim “Bridges of Madison County.” Khi biết chắc là không thể tiếp tục mối tình của hai người, Francesca tặng Robert Kincaid cái mặt dây chuyền hình thánh giá, món quà hộ mệnh của người cô hay dì tặng cho nàng lúc còn bé và nàng đeo suốt đời. Nàng mong món quà sẽ hộ mệnh cho chàng như đã hộ mệnh cho nàng. Robert cầm cái thánh giá có khắc tên Francesca đưa lên môi hôn. Một cử chỉ nhỏ nhặt nhưng tôi nhìn thấy sự trìu mến, quí trọng món quà nhỏ của Robert dành cho Francesca. Gần đất xa trời, tôi chưa có dịp nào nhìn thấy sự trìu mến, yêu dấu, trong những cử chỉ nhỏ nhặt của các đấng lang quân trong vòng bạn bè và người thân.

Người già, tình già, dù không còn bồng bột sôi nổi, nhưng nếu người ta thật sự còn yêu quí nhau, người ta có cách để bày tỏ bằng những cử chỉ nhỏ nhặt hay bằng những săn sóc tinh tế trong cuộc sống hằng ngày.

Lan cattleya và nhà văn Proust

Luigi Berliocchi, tác giả quyển “The Orchid in Lore and Legend” (Hoa lan trong truyền thuyết và huyền thoại), viết: “Nếu loài hoa lan không hiện diện trên cõi đời này, có lẽ, nhà văn Marcel Proust phải sáng tạo hay sáng chế ra loài hoa này.”

Marcel Proust, (1854 – 1900), nhà văn Pháp, nổi tiếng với “In Search for Lost Time” (Đi tìm thời gian đã mất). Ông thích nhất là loại hoa lan Cattleya labiata. Người ta bảo rằng vẻ đẹp gợi cảm nhưng mau tàn, quyến rủ nhưng e thẹn, rạng rỡ nhưng mong manh, là biểu tượng cho nhân vật của ông. Cattleya là biểu tượng cho Odette de Crécy trong “Un Amour de Swann.”

Odette là một phụ nữ tuyệt đẹp, nhưng nàng ngu dại, vô cảm, và đặc biệt là nàng có trái tim trắc nết. Trước khi lấy chồng nàng là kỹ nữ. Charles Swann là người giàu có, trí thức, và nhân hậu. Sau khi lấy chồng Odette vẫn tiếp tục qua lại với đàn ông. Sự lang chạ của Odette khiến bạn bè của Charles Swann dần dần xa lánh chàng.

Odette cài hoa lan trên tóc, trên ngực, vò xé hoa lan và phủ cánh hoa lên khắp người nàng. Ngày Charles Swann tỏ tình và chinh phục trái tim Odette, hương lan bay tỏa, phủ vây hai người. Mùi hương lan trở thành kỷ niệm và là dấu hiệu tình yêu nồng nàn của hai người.

Trong một truyện khác, “Sodom et Gomorrhe” Proust dùng hoa lan để diễn tả ánh nhìn, cử chỉ, và bày tỏ tình cảm giữa hai nhân vật Baron the Charlus và Jupien. Proust bày tỏ mối tình say đắm giữa hai người đồng tính luyến ái bằng đôi mắt của nhà thiên nhiên học và nhờ thế thoát khỏi sự phán xét đạo đức của người đọc lúc bấy giờ.

Tôi không có ảnh của Cattleya labiata, tìm trên mạng không khó, nhưng mất công dẫn nguồn. Tôi dùng một tấm ảnh cùng loại cattleya nhưng khác họ.

lan cattleya màu cam và hồng
Pink Cattleya

Rất tiếc tôi quên chụp ảnh cái tên riêng của hoa này. Người không sành về lan vẫn có thể nhận diện cattleya bằng cái lưỡi hoa có viền như đăng ten và hai cánh hoa bên cạnh (tạo thành hình tam giác) cũng có hình dáng gần giống với lưỡi hoa.

Không có nhạc Việt về hoa lan nên mời bạn nghe bản nhạc “Orchid in the moonlight” do ban nhạc The Platters trình bày. Nếu kèm lời nhạc và bản dịch thì hơi dài, sợ bạn đọc chán, nên tôi sẽ làm thành hai bài. Tôi thích bài hát này vì nó rất là thơ mộng. Và đặc biệt nó lại là một bài Tango. Xin mời bạn thưởng thức.

Về hưu rồi làm gì?

Thật là sung sướng, vì về hưu rồi không phải làm gì cả. Hôm nào không mưa tôi đi bộ vòng quanh hồ Watchung gần nhà, đi năm vòng khoảng hai giờ đồng hồ, vừa đi vừa nghe đọc sách. Hổm rày nghe được ba bốn quyển sách rồi, trong đó có quyển “When Breath Becomes Air.” Không biết dịch giả nào dịch ra cái tựa rất êm tai, nghe như thơ vậy. “Khi Hơi Thở Hóa Thinh Không.” Quyển này rất hay. Bạn nào vớ được thì nên đọc nha. Tôi nghe rồi lại muốn mượn quyển sách về đọc và ghi lại những bài thơ nổi tiếng về sự sống chết mà tác giả đã nhắc đến trong quyển sách.

ông già cô độc đứng cô độc
Ông già cô độc đứng cô độc
cất cánh
Thấy có người đến gần ông già cô độc cất cánh
blue heron
Blue Heron đứng gần bờ của hồ Watchung
lũ chúng ta lạc loài năm bảy đứa
Lũ chúng ta lạc loài dăm bảy đứa
chuyện ba người
Chuyện ba người
trang điểm
Trang điểm
không biết tên
Không tên vì không biết tên
cũng chỉ là chàng không tên
Vẫn là chàng không tên

Trong tất cả 13 con mèo bị Trung Tâm Nuôi Giữ Thú Hoang đến bắt đi, có bốn con bị trả về sau khi chích ngừa và triệt sản. Mr. Mun, Mèo mẹ Củ Gừng, và hai Củ gừng con bây giờ to hơn mèo mẹ. Cả bốn con vẫn còn sợ hãi, nhưng đã đến ăn đều đặn. Kết thúc xem chừng có hậu.