In Blackwater Woods – Trong Rừng Nước Độc

To live in this world

Để sống trong cuộc đời này

you must be able
to do three things:
to love what is mortal;
to hold it

Bạn phải có thể
Làm được ba điều:
Yêu sự tử vong
Ôm giữ nó.

against your bones knowing
your own life depends on it;
and, when the time comes to let it go,
to let it go.

Xiết nó vào tận xương, biết rằng
Mạng sống của bạn tùy thuộc vào nó;
Và, đến giờ phút bạn phải buông nó ra,
Hãy buông nó ra.

Mary Oliver (1935 – 2019)

Tôi biết nhà thơ Mary Oliver, cũng như nhạc sĩ Leonard Cohen, qua (đọc blog The Kitchen Window của) cô bạn HN. Một trong những người trẻ hơn tôi một thế hệ, nhưng tôi học được vài điều hay, thú vị. Tôi nhớ đã gặp một bài thơ của bà Mary Oliver khắc vào trong đá xây tường bên trong nhà ga Penn Station New York.

Tôi không biết dịch tựa đề của bài thơ như thế nào. Blackwater là nước thải, nước cống đen ngòm. Rừng thường ở nơi xa cách loài người nên ít bị ô nhiễm. Nước đen ở rừng thường là nước tù đọng, lá rơi rồi mục rữa khiến nước có màu đen và có mùi hôi.

“In Blackwater woods” tạm dịch là “Trong Rừng Nước Độc” trong bài thơ này có thể hiểu như rừng thiêng nước độc, làm người ta sợ hãi? Tin bà qua đời, và câu thơ cuối cùng của bài thơ trên đây, “hãy buông nó ra” khiến tôi cảm thấy sự nhẹ tênh của cái chết, và khiến tôi nghe trong đầu mình bài hát “Traveling Light” của ông Cohen, “It’s au revoir, my once so bright, my fallen star.” Có lẽ, bà Oliver cũng như ông Cohen, những người đã chuẩn bị tâm hồn để làm một chuyến viễn du, hành trang thật nhẹ, chỉ có mây, khói, và sương mù.

Nước đông

mặt nước đóng băng

Mấy hôm trước bão tuyết, ở Washington D. C. tuyết rơi nhiều đến độ các cơ quan, công sở cũng như thương mại, đóng cửa. D.C. thường thường ấm hơn New Jersey vài độ, ít khi tuyết rơi nhiều. Mấy năm sau này, thời tiết đảo lộn. New Jersey hôm ấy chỉ có một lớp tuyết mỏng, tan ngay vào lúc mặt trời lên. Sau đó thì trời rất lạnh.

Ven bờ suối, mặt nước đóng băng khá dày. Tấm ảnh trên tôi chụp mặt băng. Ông Tám ném rất mạnh một hòn đá xuống mặt băng để lại dấu rạn nứt (góc trái). Bên góc phải là dấu mũi nhọn của cây gậy đâm lên mặt băng để lại vài dấu trầy xướt.

Lúc nhìn xuống mặt băng, tôi ngạc nhiên thấy có con ếch đang bơi, nhưng không chụp ảnh kịp. Trời lạnh vậy mà ếch vẫn sống được.

ba chùm băng

Ở những nơi nước chảy mạnh, mặt nước không đóng băng. Vài nhánh cây mỏng manh thả xuống gần mặt nước hồ, đêm xuống lạnh hơn, đóng một chùm nước đá. Rất tiếc cái phone chụp không rõ vì khá xa.

Đi mười hai cây số đường rừng, tôi băng ngang qua mười hai (hay hơn, vì có những lúc tôi quên đếm) dòng nước chảy. Gọi là dòng nước chảy nhưng không thể chỉ gọi chung là suối, vì có nơi bề rộng của dòng nước chảy chỉ độ hai gang tay. Có nơi chảy tận dưới thung lũng sâu (gorge). Có con suối rộng phải có cầu bắt ngang. Người Mỹ có nhiều chữ mà tôi không thể tưởng tượng được những danh từ ấy chỉ dòng nước chảy bao lớn. Stream, creek, brook cái nào lớn hơn? Khi nào thì gọi là khê? Khi nào là tuyền? Chữ river thì tôi biết. Thỉnh thoảng gặp người đi. Thỉnh thoảng nghe tiếng chim ngỗng bay thành đàn đi về nơi nào đó ấm áp hơn. Bên cạnh lá vàng khô thỉnh thoảng tôi gặp những tảng đá có rêu xanh che phủ. Ngoài tiếng suối chảy, tiếng chim kêu, tiếng gió rì rào trên những ngọn thông cao vút, rừng mang đầy vẻ  hoang vu, và làm tôi cảm thấy chung quanh tôi là hình ảnh của thanh tịnh.

Mùa đông trong thung lũng xa như một tiếng kinh cầu. Xin mời các bạn nghe “Chiếc Lá Mùa Đông” Gia Huy hát.

Mèo hoang và câu chuyện giết người lần thứ ba

mèo út
Mèo Út

Đây là chàng mèo út. Hồi mới sinh ra Út nhỏ nhất, chậm chạp nhất. Trong khi các anh ăn thức ăn mèo ào ào, chạy nhảy rượt đuổi thì Út nhút nhát trốn đâu đó, ra ăn sau cùng, và không ăn, chỉ đeo theo mẹ đòi bú. Bây giờ thì vẫn nhỏ hơn mèo anh một chút, nhưng đã to lớn hơn mèo mẹ, Củ Gừng. Bây giờ nhiều khi Củ Gừng và mèo anh đi đâu mất, bỏ Út ở lại một mình. Sáng nào khi tôi thức dậy, trời tối om và lạnh -4° C. cũng thấy Út chờ sẵn ở ngoài cửa. Chỉ cần nghe tiếng chân hoặc thấy mở đèn là Út ngó vào cửa kiếm tôi. Thấy tôi là Út nằm lăn ra trên đất, ưỡn bụng như tỏ ý đầu hàng, khuất phục. Út để tôi ôm vào lòng, ẵm trên tay. Chỉ thân thiện với tôi thôi. Thấy người khác là bỏ chạy thật xa, dừng lại thủ thế, để chạy tiếp.

Hôm qua, trời lạnh nhưng có nắng nguyên ngày. Buổi chiều cho Út và mèo anh ăn xong (không thấy Mr. Mun và mèo mẹ), hai anh em leo lên thân cây mục trong rừng, phía sau nhà, ngồi im lặng rất lâu, chẳng biết rình gì ngoài bầy nai năm sáu con (chiều nào sáng nào đàn nai cũng đi ngang sân sau nhà tôi).

Tôi luôn luôn cảm thấy lòng mình rung động (một chút trắc ẩn), mỗi khi nhìn đàn mèo hoang. Chúng chắc chắn là không hề đòi được sinh ra đời. Chúng cũng không thể kiểm soát hay tự chủ được sự sinh tồn trong môi trường chúng được sinh ra.

Tình cờ tôi mượn được cuốn phim Nhật, “The Third Murder” của đạo diễn Hirokazu Kore-eda. Một trong những bài học quan trọng tôi rút ra được trong quá trình sáng tác là không coi thường bất cứ khuynh hướng văn chương nào. Người Mỹ họ chia ra thành nhiều thể loại (genre), romance (tình cảm lãng mạn), thriller (trinh thám), suspense (kinh dị) , v. v. … . Mỗi thể loại có độc giả riêng của họ. Có nhiều quyển sách hay cuồn phim, khi được hay bị xếp vào một thể loại nào đó có thể làm người đọc có thành kiến về quyển sách trước khi đọc. Giới phê bình nghiêm túc thường hay gạt ra ngoài truyện tình cảm lãng mạn, hay trinh thám, cho rằng loại truyện này thiếu tính cách nghệ thuật văn chương. Mỗi loại có cái khó riêng của nó. Thể loại nào cũng đòi hỏi sự làm việc hết sức của người viết. Không thật sự viết văn, dễ xem thường tác phẩm của người viết, rằng nó thuộc loại này thuộc loại kia không phải là tác phẩm văn chương.

Tomoaki Shigemori là trưởng nhóm luật sư, điều tra một vụ giết người mà Misumi là thủ phạm. Misumi đã nhận hết tội một cách dễ dàng; tuy nhiên, khi phỏng vấn ông ta, Shigemori nhận ra nhiều chi tiết không ăn khớp và đâm ra nghi ngờ ông ta không phải là thủ phạm. Dường như ông ta nhận tội để che chở cho một người nào đó. Cái tựa đề “The Third Murder” làm người xem thoạt tiên nghĩ rằng có ba vụ giết người. Thật ra chỉ có một vụ án giết người, nhưng qua cuộc điều tra Shigemori nhìn ra ba góc cạnh và ba lần kết luận ai là kẻ giết người trong vụ án.

Cuốn phim hay đến độ tôi dán mắt, há hốc mồm, nín thở để xem. Lâu lâu nhận ra là mình đang há hốc và nín thở nên tự sửa lại. Tôi có khuynh hướng thích các loại thriller (chỉ không thích phim có cảnh giết người tàn bạo và đầy máu me). Có một thời say mê “Murder, She Wrote.” Vẫn còn rất mê phim Hitchcock và truyện của Patricia Highsmith.

Phim có góc độ quay rất sáng tạo (với tôi). Khi Shigemori và Misumi đối đầu với nhau, kẻ cố khai thác để tìm ra thủ phạm, kẻ cố dấu loanh quanh để nhận mình là thủ phạm, Kore-eda cho mặt một người xuất hiện trên màn ảnh, còn mặt người kia là ảnh mờ xuất hiện trên cửa kính trong (hai người nói chuyện với nhau qua tấm kính dày ngăn giữa người tù và luật sư). Cách quay này cho người xem thấy được sự diễn xuất của hai diễn viên cùng một lúc, như thể mình nhìn thấy sự suy nghĩ của hai người với hai quan điểm ngược chiều với nhau.

Shigemori có một người phụ tá tôi quên tên. Trong một bữa ăn, Shigemori và người phụ tá nói chuyện đời và chuyện Misumi. Người phụ tá nhận xét. “Người ta không có ai đòi được sinh ra đời. Không chọn được gia đình hay nơi chốn mình sinh ra. Và từ đó, không phải ai cũng có khả năng vượt ra được cái môi trường họ đang sống.” Nhận xét này làm Shigemori giật mình. Vì Misumi cũng có ý nghĩ này và đã nói với Shigemori. Giật mình, vì Misumi từng nói riêng với Shigemori, nếu ông bắt tay Shigemori, ông sẽ biết được ý nghĩ của Shigemori.

Misumi có một cô bạn nhỏ, một chân có tật. Cô bé này là con của người mà Misumi (nhận tội là) đã giết. Misumi bảo rằng ông ta không xứng đáng làm con người. Ông chỉ làm khổ người chung quanh. Ông cũng như cô bạn nhỏ với một chân có tật, không đòi được sinh ra, không chọn được cha mẹ, không có cách để thoát khỏi môi trường họ đang sống.

Tôi nhìn mấy con mèo hoang lại nghĩ đến cuốn phim. Xem cuốn phim lại nghĩ đến mấy con mèo hoang, nghĩ đến tôi, và các con tôi. Tất cả đều được sinh ra mà không hề có được quyền lựa chọn.

Mối tình có thật

“Everyone thinks they can write a play; you just write down what happened to you. But the art of it is drawing from all the moments of your life.”  — Neil Simon

“Ai cũng nghĩ rằng họ có thể viết kịch; bạn chỉ cần viết xuống chuyện gì đã xảy ra với bạn. Nhưng nghệ thuật của kịch là nó bòn rút từ tất cả những giây phút, (cảm xúc và kinh nghiệm sống) trong suốt cuộc đời của bạn.” – Neil Simon

Mối Tình Có Thật – Nguyễn thị Hải Hà
Kịch ngắn. Một màn.

Quang cảnh: chợ trời Sài Gòn sau năm 1975. Khoảng bốn hay năm giờ chiều, mặt trời sắp lặn, bóng của các tòa nhà cao đổ dài trên mặt đường. Những người đang có mặt ở chợ bao gồm:

Sương, 24 tuổi, gái điếm, rất xinh đẹp.
Thơ, 20 tuổi, sinh viên, phụ mẹ bán hàng
Thầy Tu, 70 tuổi, mặc quần áo nâu, đầu trọc.
Công Chức, 54 tuổi, chuyên làm nghề viết thư, làm đơn thuê.
Xích Lô, 43 tuổi, ế khách ngồi chờ.

Sương mặc váy ngắn, trang điểm nhạt, có vẻ như một nhân viên văn phòng ngồi sát vào chân tường trong bóng mát, trên một cái ghế đẩu thấp chân duỗi dài. Thơ ngồi gần, lui cui xếp nồi hầm, bàn ủi điện, máy đánh trứng, vào thùng, chuẩn bị dọn hàng. Ông Công chức và ông Xích Lô đang chăm chú vào bàn cờ trước mặt hai người. Ông Đạo ngồi chồm hổm ngó ra bến xe đò chờ chuyến ra khỏi thành phố.

Sương (nói giọng như ngâm thơ, mắt mơ màng): Bữa đó khuya lắm rồi, mưa lâm râm, ảnh đến công viên như đã hẹn. Chị chờ ảnh dưới cái cổng hoa từ đầu hôm. Vừa lạnh vừa sợ. Ảnh còn run rẩy hơn chị. Mặt ảnh tái mét. Ảnh móc trong cái túi dết đeo bên hông ra đưa chị một cái gói, gói bằng giấy báo nhựt trình. Trong đó là cây súng lục. Không biết làm sao mà ảnh có súng lại còn mang đi ngoài đường. Rủi bị người ta xét cái túi ấy là bỏ mạng.

Thơ (lơ đãng, nói nhỏ không nhìn ai): Ghê thiệt. Bởi vậy người ta thường nói đừng có đẩy mấy anh sinh viên ngây thơ vào chân tường. Đến chừng tuyệt vọng mấy ảnh liều mạng hạng nhất.

Sương: Ảnh nói giọng nhỏ xíu, nhẹ nhàng nhưng rất quan trọng. Bé cưng ơi…

Xích Lô (nghe lóm, khịt mũi, lập lại, kéo dài giọng.)Bé cưng ơi…! Con nhỏ này xạo tổ cha. Làm như là gái nhà lành thứ thiệt.

Công chức: Nói nhỏ nhỏ thôi, cha nội, coi chừng cổ nghe cổ chửi cả chú lẫn tôi. Chú biết cổ rành lắm hả?

Xích Lô: Biết chớ. Biết quá là đằng khác. Nghề của tui mà ông. Tui chở cổ đi ngõ này sang ngõ khác mấy năm nay. Cổ là dân nhà quê, dốt đặc, lên Sài Gòn kiếm việc làm. Cổ chê ở đợ ít tiền còn bị khi dễ. Được cái tướng mình dây, tóc dài, cổ xin làm trong mấy cái bar, cũng nhảy dù nhảy diếc này nọ. Có tiền rủng rỉnh cũng nhờ mấy cô bán bar chỉ cách ăn mặc cho đúng thời trang. Ngồi đâu cũng cố đưa cặp giò dài ngoằng ra khoe. Gặp cậu sinh viên này cổ đeo riết. Gặp ai cổ cũng khoe “cẩu” yêu cổ thiệt tình. Cẩu thấy cổ mặc áo dài, trên tay ôm mấy quyển sách đi dọc trên bến Bạch Đằng cẩu làm quen với cổ, tưởng cổ là học sinh trường trung học gần đó. May là thằng nhỏ không viết thư tình, nếu không thì cổ phải thuê người ta đọc cho cổ nghe. Nghe nói ba của thằng nhỏ làm chức gì lớn lắm.

Công chức (đưa tay đẩy con cờ): Quan lớn thời nào thì ngon chứ bây giờ là sợ thấy tổ. Chẳng biết bị bắt lúc nào, bị đuổi đi lúc nào. Có gì đâu mà vinh hạnh khoe khoang nữa chứ. Ai nói cổ đẹp chứ tôi thấy cổ xấu ỉn à. Tuy là dáng người mảnh mai, nhưng trán trợt, mũi hỉnh, gò má cao, mặt có góc cạnh, trông dữ.

Sương (giọng tâm sự): Ảnh nói, cưng à. Ba má anh không cho phép anh gặp em nữa. Ba má hăm đuổi anh ra khỏi nhà, cắt tiền ăn và học của anh nếu anh cứ tiếp tục yêu em. Vì lẽ đó nên anh không còn muốn sống nữa. Sống làm gì nếu cuộc đời không có em. Ảnh vừa nói vừa quơ quơ cây súng trước mặt chị làm chị sợ hết hồn. Cây súng to lắm, trong ấy có cả mười viên đạn đó em. Chị nói với ảnh. Em sẽ không bao giờ quên được người tình lãng mạn như anh, Anh Tánh ơi.

Thơ (cười, giọng châm biếm): Súng gì mà đến mười viên đạn lận chị. Thường thường súng nhỏ cầm trên tay chỉ có sáu viên đạn thôi mà. Bởi vậy người ta mới gọi là súng lục. Mà chị có chắc đó là súng thật không? Coi chừng súng giả đó. Romeo thời xưa chỉ xài thuốc độc thôi. Romeo thời nay xài súng. Còn Juliet thời bây giờ tính sao nếu Romeo tự tử.

Sương (ngồi thẳng lên, giọng tò mò): Hả? Rô mê ô là gì?

Thơ (dịu giọng): Không phải là gì mà là ai. Tôi nói đùa. Chị đừng để ý.

Xích Lô (giọng trêu chọc): Cô Sương à, cô nói gì? Ăn bánh hả? Bánh ngon không?

Công Chức (bật cười): Chú này lỗ tai điếc. Cổ gọi tên người yêu của cổ là anh Tánh. Chú chắc đói bụng nên chỉ nghĩ đến bánh. Cô Sương à! Hôm trước cô nói người yêu của cô tên là Chánh mà! Chánh và Tánh là hai người khác nhau hay chỉ là một người? Sao người yêu của cô đổi tên liền liền vậy? Mà cô có chắc là cậu ấy thành thật với cô không?

Xích Lô (cười cợt, chế nhạo): Chắc cô đọc tiểu thuyết nhiều quá. Vậy mà người ta nói là cô không biết chữ.

Sương (đang ngồi đứng phắt lên): Mấy người câm họng đi. Tại sao mấy người dám nghĩ là anh ấy không thành thật. Mấy người biết gì về chuyện tình yêu của tôi chứ. Bộ tôi hèn kém quá không xứng đáng được yêu thương à? Mấy người tưởng mấy người cao cả lắm à? Thật ra thời buổi này, mấy người cũng chẳng là cái thớ gì cả. Bất quá cũng chỉ là một lũ chó dại mèo hoang tận cùng dưới đáy của xã hội. Mấy người làm gì hiểu được tình yêu – và nhất là một mối tình chân thật chứ. Còn tôi, dù tôi chẳng là gì, nhưng tôi biết thương yêu. Tôi có tình yêu, một mối tình chân thật. (Quay về hướng ông Công Chức) Tôi thương hại cho ông! Dù ông có học thức, nhưng ông cư xử như một kẻ thất phu. Mới hôm qua hôm kia ông van nài đòi mua một vài giờ hưởng thụ thân xác của tôi. Ông quên rồi sao?

Thầy Tu (nãy giờ ngồi yên lặng ngó ra bến xe đò, nghe chuyện bắt đầu sôi nổi, lên tiếng): Thôi, đừng lớn tiếng với nhau, cho tôi can, tất cả mọi người. Để yên cho cô ấy tâm sự. Đừng để ý đến các ông ấy, cháu gái, cháu cứ nói tiếp đi.

Công chức (phân bua và cãi chối): Đừng nói điêu. Tôi đòi ngủ với cô lúc nào. Tôi làm nghề viết đơn mướn, cả ngày trời nhiều khi không đủ bữa ăn cho mấy đứa con. Làm gì dám trèo leo với “nữ sinh” (gằn giọng) như cô. Mà cô nói đi, tại sao một người thanh niên có học con nhà chức phận lại dan díu với cô chứ.

Xích Lô: Tình yêu chân thật! Tô điểm vẽ vời cho lắm vào. Tôi cũng chạy ăn từng bữa cho đám con nheo nhóc ở nhà. Thời buổi này làm gì có tình yêu mà chân thật với không chân thật.

Thơ (nói nhỏ riêng với Sương): Chị đừng để ý đến họ. Có lẽ họ ganh tị vì chị có cuộc sống thoải mái hơn họ.

Sương (ngồi xuống lại): Chị hết muốn kể rồi. Kể làm gì bởi vì họ không tin chị, rồi còn cười chị nữa. (Sương đột ngột ngưng nói, vài giây sau lại mắt nhắm lim dim, nói to, tay đánh nhịp nhàng theo lời nói như thể nghe tiếng nhạc vang vọng từ nơi xa xăm nào đó.) Thế rồi chị nói với anh ấy. Hoàng tử của lòng em ơi. Em cũng thấy giống như anh vậy. Thật khó mà sống trong xã hội này. Em thật sự yêu anh và vì thế em sẽ tiếp tục yêu anh ngày nào trái tim em còn đập nhịp nhàng trong lồng ngực. Nhưng, em xin anh, đừng hủy hoại cuộc đời tươi trẻ của anh. Cha mẹ anh cần có anh bởi vì anh là niềm vui của cha mẹ. Còn em! Anh hãy quên em đi. Cứ để em đau đớn dằn vặt với mối tình vô vọng và vì thương nhớ anh. Em chẳng có người thân thuộc. Cái loại người như em không bao giờ có người thân yêu. Cứ mặc em, để cuộc đời em bị hủy hoại. Em chẳng là gì cả, chẳng đáng giá gì. Em không thích hợp với bất cứ người nào và bất cứ cái gì. (Nàng ôm mặt, đôi vai run run.)

Thơ (quay mặt sang hướng khác, thì thầm): Chị đừng khóc. Tôi mừng cho chị nếu chị có tình yêu, và người yêu chân thật. Không phải ai cũng có những thứ mà chị có, nhan sắc và người yêu.

Thầy Tu, thấy Sương ôm mặt khóc, mỉm cười nhân hậu, vỗ nhẹ lên đầu Sương.

Xích lô (cười khẽ): Quả là con khùng. Vậy mà cũng khóc

Công Chức (cười to hơn): Ông ngoại nè, ông thấy chuyện này có thể tin được không? Cô ấy chỉ kể lại câu chuyện cô đọc từ quyển tiểu thuyết cô đang đọc kia kìa. Tình Tuyệt Vọng. Toàn là chuyện xạo không à. Đừng tin cô ta.

Thơ (giọng hơi gắt gỏng): Mấy chú làm sao thế? Mấy chú phải nhẹ lời chứ. Dẫu sao chị ấy cũng là con gái. Mấy chú nói như thể không có chút tình người còn sót lại trong lòng của mấy chú. Chỉ có những người cao cả phẩm giá mới được đặc ân có tình yêu và được yêu thương à?

Sương (vẻ hằn học): Những người ác độc.

Thầy Tu (kéo nhẹ chéo áo của Sương): Thôi cháu. Đừng để ý họ. Hãy bình tĩnh lại. Ông biết – Ông tin lời cháu. Ông tin câu chuyện cháu kể là chuyện có thật. Tình yêu có thật hay không có thật là tùy thuộc trong tâm của cháu. Nếu cháu yêu cậu ấy thành thật và tin rằng cậu ấy cũng thành thật yêu cháu, thì đó là tình yêu có thật, ít nhất là ở trong tâm hồn của cháu. Ngay cả khi tình yêu không thành thì nó cũng là tình yêu thật sự. Ông tin như thế. Đừng giận ông Công Chức và ông Xích Lô. Có lẽ các ông ấy chế nhạo cháu chỉ vì tính ghen tị. Không phải ai cũng tìm được một tình yêu chân thật trong đời. Có lẽ ông ấy chưa hề có tình yêu. Thôi đi cháu. Ông sẽ đưa cháu về quê, nơi chùa của ông tu. Ở đó cháu có thể sống yên ổn.

Sương (bàn tay áp lên lồng ngực): Ông ngoại à, ông hãy tin cháu. Cháu nói thật mà. Ảnh là một sinh viên, ở nước ngoài về – Ảnh ấy tên Chánh. Anh ấy có mái tóc bồng, ăn mặc sang trọng. Cháu thích ảnh mang đôi giày da đen mũi nhọn bóng loáng. Cháu bị tiếng sét ái tình chớp nhoáng! Anh ấy yêu cháu nhiều lắm. Ảnh sẽ đưa cháu đi nước ngoài. Ảnh hẹn sẽ đến đây gặp cháu chiều nay.

Thầy Tu (giọng an ủi): Ông biết, ông biết. Ông tin cháu mà. Cậu ấy mang giày da bóng loáng. Và cháu cũng yêu cậu ấy phải không?

 

Hai người tiến dần ra bến xe. Nắng chiều rơi dần.

Công chức: Cô điếm ấy đúng là khùng.

Xích lô: Sao có nhiều người thích nói láo quá nhỉ?

Thơ: Lời nói dối nhiều khi làm người ta sung sướng hơn lời nói thật. Cháu nhiều khi cũng…

Công chức: Cũng sao? Nói đi cháu.

Thơ: Cháu thích tưởng tượng. Tưởng tượng ra nhiều thứ, rồi chờ đợi.

Ông Công chức: Cháu chờ gì?

Thơ (mỉm cười vẻ thẹn thùng): Ôi cháu cũng không biết nữa. Tưởng tượng ngày mai, có người đến, một người hoàn toàn khác lạ. Rồi có một điều gì đó sẽ xảy ra, một điều khác lạ chưa hề xảy ra bao giờ. Rồi cháu chờ, chờ mãi. Ồ, mà cháu cũng chẳng biết cháu đang chờ cái gì sẽ đến nữa.

Cả ba người nhìn ra bến xe. Một chàng trai trẻ đến gần Thầy Tu và nói chuyện với Sương. Sương đưa tay ra nắm bàn tay chàng, đầu nhẹ ngã vào vai chàng. Ông Công Chức nheo mắt ra nhìn. Rồi lên giọng.

Công Chức: Ồ! Thằng Khánh! Con trai tôi. Sao nó biết tôi ở đây mà ra tìm. Có lẽ nó đón để chở tôi về. À mà không. Nó không đón tôi. Nó đến gặp cô gái ấy. Lẽ nào… lẽ nào!

Màn hạ.

Xem của công như của mình

Người Mỹ, xem chừng khá thành công trong việc phổ cập hóa quan niệm xem của công như của mình (nhưng không phải như bạn nghĩ đâu nhé). Họ biết rằng, khi người dân yêu mến tài sản công cộng như của chính họ, họ sẽ quan tâm và bảo vệ tài sản này.

Hồi còn trẻ, tôi làm dưới quyền một ông sếp hắc ám, coi nhân viên như lính trong quân đội, còn ổng thì như Đại Tướng. Ổng luôn luôn bảo chúng tôi, hãy xem cái đồ án của công ty, sửa cái cầu cho xe lửa chạy ngang, như sửa căn nhà của mình. Cẩn thận để đừng lãng phí, kéo dài mất thì giờ, xáo trộn cuộc sống. Và dĩ nhiên nếu mấy cái công ty làm thuê mà không làm đúng thì phải bắt họ chịu trách nhiệm.

Nhiều đoàn Hướng Đạo Sinh đã đứng ra nhận “nuôi” (adopt) một đoạn đường cao tốc rất dài, hay một khu phố rộng lớn. Giữ cho đoạn đường hay khu phố ấy sạch sẽ như nuôi một đứa con. Có nhiều tiểu ban trong công ty tôi làm việc nhận chăm sóc nhà ga xe lửa, trồng hoa, nhổ cỏ, như làm đẹp cho căn nhà của họ.

Đường rừng tôi đi là một vòng tròn khá lớn. Tổng cộng chiều dài đường đi chừng 20 km (13 miles). Tôi đi hằng tuần khoảng 2 lần, mỗi lần chỉ chừng 12.6 km (8 miles). Thỉnh thoảng tôi gặp đôi ba người tình nguyện đi cưa cây đổ chắn ngang đường. Có cây khá to, người thấp bé như tôi leo qua thân cây đổ cũng khó khăn. Nói chuyện, họ cho biết, họ chia nhau, mỗi người nhận chăm sóc một đoạn đường rừng. Nếu mưa nhiều đọng nước tạo thành những bãi bùn lầy lội thì họ đi khai mương. Có lần tôi kể là có người đi cắt và bôi thuốc triệt loại cây Japanes azaleas, để loại cây mọc dại này không đàn áp và giết chết loại cây bản xứ. Họ là những người xem của công như của mình.

Không phải xem của công như của mình lúc nào cũng đúng, và cũng tốt. Nhiều khi họ yêu của công nhiều quá rồi đâm ra xử sự cực đoan.

Có lần, tôi và ông Tám đang đi giữa rừng hoang vu, nghe có tiếng chân chạy phía sau lưng. Chúng tôi dạt ra một bên tránh đường. Người chạy là một người đàn ông da trắng, cao, mảnh khảnh, mặt mũi sáng láng. Anh ta chạy qua mặt xong quay lại hỏi chuyện và rút trong áo khoác ra một tờ truyền đơn, nội dung cấm người ta dùng xe (bất cứ loại xe nào, xe đạp, xe gắn máy, hay xe bánh to để đi trong rừng núi). Ngay ở cửa vào rừng, tôi cũng đã thấy bảng đề cấm xe, và cấm chó không đeo xích. Anh ta khuyến khích chúng tôi lên trên mạng để giúp nhóm của anh chống lại những người đi xe vào rừng.

Một lần khác, tôi gặp một ông khoảng sáu mươi, cao lớn, khá đẫy đà, đang dẫn chó đi dạo. Thấy chúng tôi, ông níu lấy để trò chuyện như thể ông ít khi gặp người để chuyện trò. Qua câu chuyện, ông cho biết chỗ tôi đang đi là khúc đường do ông trông nom, bảo vệ. Ông dùng mấy khúc cây to để chắn ngang những đoạn đường rừng nhỏ hẹp mà những người đạp xe leo núi thích đi. Ông bảo những đoạn đường ấy, dẫn đến nơi trú ẩn của các loại thú hoang, nếu người ta đi xe đạp đến đó sẽ làm thú hoang hoảng sợ. Những người đi xe đạp leo núi cứ dẹp bỏ những chướng ngại vật của ông dàn ra. Không phải một lần mà nhiều lần.

Một đôi khi tôi gặp người đi xe đạp trên đường mòn trong rừng. Họ cũng cẩn thận để không đụng phải người đi bộ. Những người đi xe đạp cũng cố gắng xin phép được dành riêng ra những con đường nhỏ ít người đi trong rừng để họ có thể dùng xe đạp leo núi, nhưng không thành công.

Tôi nghĩ rừng mênh mông, dù quí trọng của công nhưng không thể quá mức, xử sự như đó hoàn toàn là của riêng. Tại sao người này có thể dùng để đi bộ mà người kia không thể dùng để đi xe đạp. Người có công chăm sóc thì đáng khen, nhưng sao lại tự cho mình cái quyền ngăn cản người khác không được quyền sử dụng theo ý họ.

Chắc bạn đọc ở Hoa Kỳ chưa quên, vụ một anh dân tuần ở Florida, vì nghi ngờ một cậu bé da đen vào phố anh ta đang canh gác để ăn trộm đã bắn chết cậu bé da đen. Người ta có cảnh báo trước là anh dân tuần chỉ nên quan sát và báo cáo, tuyệt đối không nên tiếp xúc hoặc va chạm. Anh dân tuần vì yêu nhiệm vụ bảo vệ con phố anh đang nuôi mà theo dõi và tấn công cậu bé da đen bằng súng.

Dĩ nhiên tôi không so sánh chuyện này với chuyện lấy của công như gỗ rừng về xây nhà riêng, và lấy đất của dân để xây nhà hát.

Tặng quà không đúng dịp

Tôi gặp ông cụ khá thường xuyên. Có vẻ như ông đi rừng hằng tuần, rất có thể vài ba lần trong một tuần. Tôi gặp ông cả những ngày tuyết đóng rất dày trên mặt đất. Đi cùng với ông là một con chó khá to lớn, khá béo, khá già. Không biết giữa ông và con chó, ai già hơn ai. Con chó luôn đi trước. Nhiều lần tôi nhìn thấy con chó, tự hỏi tại sao có con chó đi lạc giữa rừng, chập sau nữa mới nhìn thấy ông, chậm chạp theo sau.

Ông cụ nhỏ bé, càng nhỏ bé hơn vì cái lưng còng, và cái chân khập khiễng. Không phải ông bị bướu trên lưng, mà ông bị bệnh lưng còng. Cái lưng gập xuống gần như 60 độ (hay hơn) khiến ông có vẻ như chỉ nhìn xuống mặt đất. Tôi không biết cái chân hay cái lưng khiến ông di chuyển chậm chạp, đầy vẻ khó khăn.

Đoạn đường rừng ông đi tạo thành một vòng khá lớn, tôi hình dung ra cái vòng rừng bằng cách nối lại những dấu chấm sau khi tôi gặp ông ở nhiều nơi. Không biết ông cần phải dẫn chó đi để thỏa mãn nhu cầu của con chó, hay con chó đi theo ông để làm bạn với ông. Ông đi rừng như một thú tiêu khiển, có lẽ, chứ không để giảm béo như tôi, bởi vì ông rất nhỏ bé, có thể nói là gầy gò.

Có lần, tôi và ông Tám thấy ông dùng một nhánh cây nhặt trong rừng để làm gậy. Đường tuyết khá trơn, chúng tôi đang đi lưng chừng ở một con dốc dài. Cây gậy của ông cụ khá yếu ớt, dường như run rẩy theo nhịp chân, hay run vì hơi lạnh của tuyết. Như thường lệ chúng tôi ngừng lại chào hỏi dăm ba câu. Ông Tám ái ngại sợ ông ngã dọc đường nên tặng ông cây gậy. loại hiking pole thường bán ở siêu thị. Ông cụ từ chối. Ông Tám cố gắng thuyết phục. Ông chồng tôi có cái tính khá kiên quyết, và kiên nhẫn. Với tôi, ông Tám luôn thành công mỗi lần ông cố thuyết phục tôi, cứ một trăm lần là ông thắng 99 lần. Ông cụ cũng bị thuyết phục như thế. Cả ông cụ và tôi đều thấy lạnh vì đứng yên một chỗ giữa trời lạnh và trên nền tuyết. Cả con chó cũng mất kiên nhẫn.

Cuối cùng ông cụ đành ném cây gậy mỏng manh của ông, và cầm cái hiking pole của ông Tám. Ông Tám có vẻ vui, thoải mái đi về với tôi. Vui vì ông có cảm giác vừa làm một việc thiện.

Không mấy lâu sau, gặp lại ông cụ ở trong rừng, vẫn con chó lon ton chạy trước, ông cụ khập khiễng theo sau một đỗi xa, tôi nhận ra con chó quen thuộc. Một lần, rồi nhiều lần. Thường thường là ông đi không có cầm gậy. Và có khi ông cần cầm gậy thì lại không phải là cây hiking pole của ông Tám. Có vẻ như ông cụ đã ném nó đi.

Có lẽ ông không thích dùng gậy. Không thích cái vướng bận mang gậy đi xách gậy về. Cần dùng gậy để vượt qua một đoạn đường lầy lội, trơn trợt, hay lởm chởm đá, ông chỉ cần nhặt một cành cây gãy trong rừng.

Bài học riêng cho tôi. Đừng nài ép tặng người ta một món quà, nếu người ta không muốn nhận.  Cái mình thấy cần thiết cho mình, không nhất thiết cần thiết cho người. Thắng cuộc nhưng có thể không đạt được mục đích.

Hò lơ

Mấy hôm nay thèm nghe những lời tình tự của quê hương. Hỏi bạn Tống Mai tìm bài hát Hò Lơ của Phạm Duy thì bạn gửi cho ngay. Tôi thích mấy câu trong bài.

“Miền Nam nước Việt mến yêu 
Có một miền quê rất nhiều đất sống.”

Tưởng tượng ông Phạm Duy, ngày từ Bắc vào Nam đã sững sờ rồi buột miệng khen.

“Miền Nam đất giầu nước sang 
Có một miền quê xóm làng thơm ngát.”

Thôi nói làm chi dông dài. Mời bạn nghe với tôi.