Vườn hồng có lối vào*

khu vực trồng hoa hồng
Vườn hồng mang tên Peggy Rockefeller. Beatrix Farrand thiết kế năm 1916. Sửa chữa và hoàn tất năm 1988 
góc vườn
Cô gái ngồi nghỉ chân ở một góc vườn hồng 

Truyện xưa kể rằng, trong tổ uyên ương, Cleopatra đã dồn gối bằng cánh hoa hồng khô. Người La Mã kết hoa hồng thành vòng hoa để trang trí trong các lễ đại yến đại tiệc. Hồng với hương thơm và nhan sắc được quí trọng đến độ Nero, hoàng đế La Mã (cai trị từ năm 54 đến năm 68) đã cho rải cánh hoa hồng như mưa trên các vị khách quí của ông.

Hồng vàng
May gặp một đóa hồng vàng còn phong độ

Hoa hồng được dùng làm biểu tượng của tình yêu. Tuy nhiên, đã có thời hoa hồng cũng là biểu tượng của cái chết. Theo truyền thuyết của người Do Thái, hoa hồng màu đỏ bởi vì đó màu của những giọt máu đầu tiên rơi trên địa cầu. Người của bộ lạc Teutons xem hoa hồng là biểu tượng của chiến tranh và chết chóc. Họ đặt tên những bãi chiến trường là vườn hoa hồng, nơi họ chiến đấu và cũng là nơi họ ngàn thu yên nghỉ.

hồng hai màu cam và vàng
Hồng màu cam và vàng 

Không phải lúc nào hoa hồng cũng tượng trưng cho sự cao quí. Vào thế kỷ mười chín, ở Nîmes, một thành phố miền Nam nước Pháp, người ta gọi các cô gái điếm là “hoa hồng.” Chữ sub rosa hay bên dưới rặng hoa hồng được dùng để ám chỉ những điều bí mật, thí dụ như những bức thư tình lén lút trao, hay những âm mưu chính trị nhằm khuynh đảo thời thế. Khi người Hy Lạp âm mưu chống Xerxes, vua xứ Ba Tư, họ họp kín dưới một cái cổng hình vòng cung hoa hồng giăng đầy, từ đó hình thành chữ sub rosa.

hồng tím bị héo
Hồng tím bị héo

Hoa hồng là biểu tượng của vương quốc Anh. Tương truyền hoa hồng hiện diện từ cổ xưa ở Ấn Độ. Ông Khổng Tử từng nhắc đến loài hoa hồng ở Bắc Kinh.

hồng có vân màu trắng và hồng nhạt
Hồng có vân màu hồng đậm và trắng

Có phải hoa hồng là nụ cười của Amor (còn gọi là Cupid) vị thần tượng trưng cho tình yêu, chú bé với cái cung?

hồng hai màu cam và vàng
Hồng hai màu cam và vàng 

Hay đó là những đóa hoa rơi ra từ mái tóc của Aurora vị nữ thần tượng trưng cho bình minh?

Hồng hồng
Hồng hồng 

Hay hoa hồng là vũ khí của nữ thần Cybele, bà sáng tạo ra một loại hoa, để trả thù Venus, thần Vệ Nữ tượng trưng cho Tình Yêu. Cái đẹp lộng lẫy của Venus phải chào thua nhan sắc của hoa hồng

lẻ loi hồng trắng trong đám hồng vàng
Hồng trắng lẻ loi trong nhóm hồng vàng

Thật ra tất cả các loại hoa hồng này đều có tên riêng nhưng tôi quên không ghi lại. có chụp ảnh hồng trắng nhưng bị mờ. Còn rất loại hồng tường vi người ta trồng sát theo hàng rào, thơm ngát và đủ màu.

Tiêu đề bài này lấy ý từ mấy câu ca dao:
Bây giờ mận mới hỏi đào,
Vườn hồng đã có lối vào hay chưa?
Mận hỏi thì đào xin thưa,
Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào

Thơ Nguyễn thị Hải – Một dòng tiểu sử của bạn tôi

Xin trân trọng giới thiệu với các bạn quyển thơ mới in của Nguyễn thị Hải. Tôi thích đọc thơ, và đặc biệt thơ Nguyễn thị Hải, có cái gì đó rất hợp ý với tôi. Cách dùng chữ dung dị, những câu thơ ngắn về cuộc sống hằng ngày nhưng hình ảnh rất thơ. Nàng luôn có những nhận xét lúc thì lém lỉnh, nhiều khi sâu sắc, thỉnh thoảng lại đưa ra một kết luận rất bất ngờ. Nguyễn thị Hải khiến tôi trân quí đời sống thường nhật hơn. Thơ của Hải thường làm tôi mỉm cười nhẹ nhàng, nếu biết nhìn ở đâu cũng xuất hiện những hình ảnh đẹp, những ý nghĩ đẹp, tạo thành những câu thơ đẹp.

Một dòng tiểu sử

Cái tựa đề của bài thơ được dùng làm tựa đề của quyển sách.

Một dòng tiểu sử của bạn tôi

Có bà nội bị điếc
Hàng mấy chục năm
Thỉnh thoảng lại nói ra một câu
Không ai hiểu
Bà chỉ thích trò chuyện với nước
Mỗi khi ngồi lầm lũi cọ rửa
Có lẽ thế giới bên trong bà
Cũng ngập tràn là nước

Rừng cao tăm tắp rừng cao

rừng

buổi chiều ở rừng cao su

rừng cao tăm tắp rừng cao
rừng xanh pha lục tuôn vào khói mây

Thơ Nguyễn Đức Nhân 

Trích Thơ Tình Miền Nam – Thư Ấn Quán 2008

Chụp tấm ảnh ở bìa rừng chợt nhớ bài thơ của Nguyễn Đức Nhân dù bài thơ của ông mượn cảnh rừng cao su (được trồng) chứ không phải rừng mọc tự nhiên bao gồm một hỗn hợp của cây sồi, thông, bạch dương và một loạt cây cao lẫn bụi rậm mà tôi không biết tên tiếng Việt như sycamore, elm, ash và còn nhiều cây khác tôi không biết cả tiếng Anh.

Trong cái điện thoại có một nút bấm được dùng để chụp ảnh phong cảnh rộng (panorama). Người dùng bấm cái nút xong hướng cái điện thoại theo chiều ngang của phong cảnh mình muốn chụp. Muốn rộng đến đâu thì hướng đến đấy. Khi tôi đang quay cái điện thoại thì có một cậu bé đi ngược hướng với chiều quay. Tôi muốn biết cái điện thoại sẽ ghi hình, ghép hình, theo chiều rộng như thế nào nên tiếp tục. Kết quả là cậu bé dính vào một chút xíu cái lưng, giống như bộ quần áo máng trên cái móc, hay giống như một người bước gần hết vào trong một thế giới nào đó (quá khứ hay tương lai).

Một điểm đặc biệt của cái nút bấm chụp phong cảnh rộng là khi ra ảnh nó có hình vòng cung. Có cái đường truyền (link) dẫn đến ba bài thơ của Nguyễn Đức Nhân, nếu bạn muốn đọc thêm.

 

Một mẹ năm con

giấc ngủ trưa
Giấc ngủ trưa 
Mèo con 1
Em leo lên ghế ngồi nhìn hai đứa khác đang đánh nhau dưới ghế 
mèo con 2
Em lén chui lên từ giữa hai thùng trồng rau húng và tía tô
mèo con 3
Em ngó em nghênh
mèo con 4
Em uống nước trong cái nồi sứt cán

Thường thường chỉ thấy bốn con mèo con. Có một con trốn đâu đó, xuất hiện sau cùng khi ăn. Mấy chú nhóc tì này nghịch lắm. Leo lên kéo mấy bạt che mưa xuống, không biết đó là mái nhà của chúng. Nắm đuôi nhau, cắn tai mẹ, vật lộn nhau, chạy vờn tấn công mấy cọng cỏ. Vô tư không hề lo nghĩ đến cuộc sống, hôm nay ăn gì? Không có gì ăn thì đi tìm mẹ rúc vào lòng tìm sữa. Sáng nay khi cho mèo ăn, tôi không bỏ vào nhà mà ngồi lì ở đó. Chập sau cả đàn mèo xúm vào ăn như không biết sợ là gì. Tôi có thể vói tay chụp một con dễ dàng. Nhìn mèo con chơi giỡn thật là vui mắt.

Những người năm cũ bây giờ ở đâu

Sáng nay trời âm u gió mạnh, không biết có đi rừng không. Phải chờ ông Tám thức dậy mới biết. Tôi thức từ lúc năm giờ sáng, ngần ngừ không muốn viết gì cả. Lúc này sao đâm ra lười biếng viết. Nhờ vậy nên đọc nhiều (toàn những cái vớ vẩn), xem nhiều phim (hầu hết những phim được nhắc nhở hay được giải thưởng), suy nghĩ nhiều (toàn những suy nghĩ ấm ớ, bâng quơ kể hoài không hết).

Tôi nghĩ về những người đi xe lửa.

Người đàn bà cao lớn, mặc váy dài, tóc cắt ngắn, có mấy cái áo khoác loại quilt, tôi chiêm ngưỡng một thời gian. Bà làm việc cho Prudential. Thường đọc sách trên xe lửa. Tôi có kể về bà một lần hồi mấy năm về trước. Sau đó tôi ít gặp bà hơn, đoán có lẽ bà làm chỉ vài buổi một tuần vì bà có nói sắp về hưu. Bây giờ tôi hoàn toàn không còn gặp bà, không biết có phải vì tôi đổi giờ làm, đi làm sớm hơn và về sớm hơn. Hay bà đã về hưu?

Một người đàn bà người Á châu, sang Mỹ lâu năm, có lẽ lâu hơn tôi một vài năm. Chúng tôi nói chuyện với nhau nhưng không hề hỏi tên nhau. Bà biết tôi làm việc cho hãng xe lửa. Bà có nói bà cũng làm việc cho nhà nước ở New York nhưng không nói rõ hơn. Bà hay trang điểm trên xe lửa. Bà rất gầy, da trắng nên mặt mũi sáng sủa nhưng tóc rối kẹp lủng lẳng, ăn mặc tùy hứng khi thì khá xốc xếch, lúc lại hào nhoáng sặc sỡ. Lúc nào cũng có vẻ vội vã và ngủ không đủ. Chúng tôi thường nói chuyện lúc gặp nhau trong lúc chờ thang máy. Bà nói “sẽ về hưu vào tháng Tư năm 2018.” Bây giờ là tháng Sáu. Tôi thường để ý nhìn, tìm bà trong đám đông. Có lẽ bà đã về hưu.

Một người đàn bà khác tôi chưa hề chuyện trò. Bà này béo phì. Tóc lúc nào cũng rối. Dáng đi lệt bệt. Tôi đoán bà còn trẻ, chừng hơn bốn mươi chưa đến năm mươi. Vẻ mặt lúc nào cũng mệt mỏi. Bà xách nhiều túi xách. Bà mặc y phục gì cũng có vẻ luộm thuộm chẳng hiểu tại sao. Tôi có cảm tưởng mỗi buổi sáng thức giậy bà quơ mấy cái túi xách vội vàng ra bến xe lửa, mang theo cả những thứ không cần thiết vì không có thời gian sắp xếp hay lấy ra thêm vào. Bà không ngủ gục trên xe lửa, dùng thì giờ để trang điểm. Có lần tôi ngồi sau bà hai hàng ghế. Đó là hàng ghế cho ba người. Bà ngồi chính giữa. Bà lên xe lửa ở Westfield, nơi đa số là dân nhà giàu, có thế lực ở. Trạm này đã gần cuối đường xe lửa nên trên xe đã đông người. Hàng ghế ba người thường trống chỗ ở chính giữa. Người lên trước không muốn chia chỗ trống cho người đến sau, để dành chút không gian để thở. Người lên sau không thể chọn lựa nên phải ngồi chỗ chính giữa, càng khó chịu hơn nếu hai người ngồi trước to lớn và có nhiều đồ đạc. Với bà hành khách này thì sự chật chội gò bó càng tăng lên gấp bội.

Toa xe lửa tôi ngồi là toa số một, hành khách được yêu cầu giữ im lặng. Bà ngồi vào chỗ được dăm ba phút tôi nghe có tiếng phàn nàn.

“Tại sao bà không làm công việc ấy ở nhà? Ở chốn công cộng mà bà làm thế này thật là không lịch sự, không kín đáo chút nào.”

Người đàn bà có vẻ chưng hửng, ngạc nhiên vì bị phê bình thẳng thừng, công khai. Bà không nói được lời nào, lặng lẽ tiếp tục trang điểm.

Người đàn ông càu nhàu tiếp giọng bực bội đầy khinh bỉ. Trên xe lửa hoàn toàn không tiếng nói. Chỉ có tiếng quạt máy chạy rì rào và xe lửa chạy lắc lư. “Đàn bà gì mà … . Thôi để tôi đi ra. Tôi không thể tiếp tục chịu đựng hành động của bà.” Anh ta đứng dậy. Người đàn ông ngồi ghế ngoài cùng dọc hành lang đứng dậy, đi ra. Người đàn bà trang điểm, đứng dậy đi ra. Người ngồi ghế cạnh cửa sổ, cũng là người cằn nhằn, đi ra. Đó là một anh chàng trẻ tuổi, da đen, lỗ tai đeo một viên kim cương sáng chói. Tôi nhận ra anh là người soát vé của hãng xe lửa, tôi thường gặp ở tuyến đường này. Anh ăn mặc đỏm dáng, theo đúng thời trang, mỗi khi anh không phải mặc đồng phục của hãng xe lửa. Có lần tôi thấy anh quàng cái khăn cổ sọc vàng và đen rất vui mắt.

Một người đàn ông trẻ da đen phê bình người đàn bà da trắng làm công việc điểm trang trên xe lửa làm tôi chú ý. Bạn có lần hỏi tôi người Mỹ có kỳ thị người da màu hay không? Tôi nghĩ là có. Tôi nhớ vào thập niên ba mươi, trong quyển “Gone With The Wind” một người nô lệ bị người thân của cô nàng Scarlett đi tìm giết vì tội xúc phạm đàn bà da trắng. Sau mấy mươi năm, cuộc đời thay đổi nhiều. Giờ đây chúng ta đã có một vị Tổng Thống người da đen. Tôi tự hỏi anh chàng soát vé trẻ tuổi kia có “kỳ thị ngược” người đàn bà trang điểm hay không? Nếu đó là một cô gái da đen trẻ tuổi anh có lên giọng phê bình mắng nhiếc như thế không? Tại sao trên xe lửa có bao nhiêu người đàn ông da trắng, thậm chí ngồi cạnh người đàn bà đang điểm trang, họ không thấy khó chịu đến độ phải lên tiếng phê bình? Nếu người phê bình là người da trắng thì người đàn bà sẽ có thái độ như thế nào? Tôi nghĩ, người đàn bà không đáp trả anh chàng trẻ tuổi vì anh ta là người da đen. Nếu đó là một người đàn ông cùng màu da, bà ấy sẽ nói là chẳng mắc mớ gì đến ông. Nếu đó là một bà nửa chừng xuân người cùng màu da với anh chàng soát vé, bà cũng sẽ nói chẳng việc gì đến chú mày. Mind your own business.

Tôi không gặp người đàn bà điểm trang lúc sau này. Bà có còn đi xe lửa không? Nếu còn thì có còn điểm trang không?

Thắp cho đầy một hàng nến trong tôi
Thắp cho đầy một hàng nến trong tôi (Nhạc Nam Lộc?)

 

 

Sáng trời mưa hồi tưởng Montréal

Rừng nhỏ
Rừng sau nhà

Sáng nay mưa. Rừng sau nhà tối âm u, lướt thướt. Tấm ảnh trên đây chụp hồi tuần trước cũng vào một ngày mưa. Rừng hôm nay đã rậm rạp lắm rồi. Màu xanh của lá già nhiều hơn màu xanh của lá non.

Tuần trước đi Montreal, vẫn còn là xuân. Lá cây xanh nõn. Vài cây hoa đào nở muộn vẫn còn. Trước cửa nhà trọ, cây Eastern Redbud vẫn còn hoa nở chi chít trên cành. Lần này tôi ở một B&B, trong khu lao động. Gần con đường Côte des Neiges. Trên đường này có nhà hàng Việt và một nhà thờ có lễ Mass bằng tiếng Việt. Giá thuê apartment hai phòng cho chuyến đi rất rẻ. Chủ nhà rộng rãi, có đủ thứ đồ dùng mà chúng tôi không dùng đến. Apartment khá cũ sơn tróc loang lỗ, nhưng tương đối sạch sẽ và yên tĩnh. Nếu có trở lại Montreal, tôi có thể sẽ trở lại nơi đây. Từ chỗ trọ này đến những nơi tôi muốn xem không đến ba mươi phút lái xe (nếu không bị Google Map dẫn đi loanh quanh và kẹt xe).

Lần đi này không vui. Tôi không chụp được tấm ảnh nào ưng ý. (Thật ra mà nói, tôi chưa bao giờ ưng ý với những tấm ảnh tôi chụp). Đi ngày thứ Tư, trời mưa nhưng khi đến Canada thì tạnh. Cửa khẩu hoang vắng, mấy anh lính gác trạm cửa khẩu ngồi ngáp dài. Vào Canada dễ dàng. Ngày thứ Bảy về thì đông hơn một chút, trước xe tôi chỉ độ ba hay bốn xe, vào Mỹ cũng nhanh chóng. Nhanh hơn cửa Toronto và Ottawa.

Ngày thứ Năm tôi đi chơi phố cổ Montreal (Vieux Montréal). Ngày thứ Sáu đi xem Vườn Bách Thảo (Jardin Botanique). Chuyến đi không vui vì hình như chỉ có tôi muốn đi, còn ông Tám và cô út thì đầy miễn cưỡng. Thứ Sáu ông Tám bỏ quên chìa khóa trong xe, khóa cửa, phải kêu người ta đến giúp mở cửa lấy chìa khóa ra. Được cái bù lại là ngày thứ Sáu tất cả những nơi tôi đi chơi, xem đều được miễn phí. Đi chơi Canada thích nhất là chụp ảnh thoải mái, không bị cấm đoán, hạch hỏi như ở Mỹ. Ra vào cửa City Hall, Tòa Án đều không phải sắp hàng chờ qua máy xét vũ khí, không bị mở bóp hay túi xách cho người ta khám.

Người Mỹ càng về sau càng gắt gao hơn. Dù đã hơn 17 năm sau vụ hai tòa nhà bị đánh sập, nỗi nghi ngờ hình như cháy bỏng hơn.

Mỗi khi đi đến chỗ lạ, không kịp chuẩn bị kỹ càng, tôi thường dùng Frommer’s EasyGuide. Điểm đặc biệt của quyển này là đề nghị với du khách một vùng thưởng ngoạn mà du khách có thể đi bộ trong vòng hai hay ba giờ đồng hồ. Frommer đề nghị hai ba chỗ ở phố cổ Montreal. Tôi chấm Mont-Royal nhưng đổi ý không đi. Cũng không viếng các viện bảo tàng vì đi ít ngày. Ông Tám và cô út thì không có vẻ hứng thú nên tôi chọn nơi tôi thích nhất là phố cổ, hải cảng cũ, và vườn bách thảo.

Giữa phố cổ là quảng trường Place d’Armes, nhà thờ Đức Bà (xin quí vị theo Thiên Chúa Giáo làm ơn chỉ giúp khi nào mình dùng chữ thánh đường, Vương Cung thánh đường, có khác với nhà thờ Đức Bà không?). Phía sau nhà thờ Đức Bà là nhà nguyện Thánh Tâm (Chapelle Sacré-Coeur). Gần đấy là quảng trường Jacques-Cartier và khu chợ Bonsecours.

nhà thờ Đức Bà
Nhà thờ Đức Bà

Rất tiếc, ảnh không được sắc nét. Tôi lười sợ vác nặng nên không mang gạc ba chân.

Nhà nguyện Thánh
Nhà nguyện Thánh Tâm

Nhà nguyện Thánh Tâm không cho phép chụp ảnh, nên tôi đứng ngoài cửa. Nhà nguyện này đã bị phá hủy và được xây cất lại vào năm 1982. Bệ thờ là 32 tấm ảnh bằng đồng miêu tả quá trình sinh, sống, và chết. Tác phẩm của điêu khắc gia Charles Daudelin. Đây là nơi Luciano Pavarotti trình diễn năm 1978, và Celine Dion làm lễ cưới năm 1994.

Lá thư từ Provence

bậc thang
Một trong những bậc thang ở Grasse

Provence, ngày… tháng… năm…

Anna, cô bạn nhỏ thân mến,

Trước nhất tôi xin lỗi Anna. Tôi gọi Anna là bạn nhỏ, mà Nora cũng là bạn nhỏ. Tôi sợ Anna phiền bảo rằng đặt Anna ngang hàng với loài vật. Cùng là bạn nhỏ nhưng tôi quí mến Anna kiểu khác, còn Nora kiểu khác. Mỗi “người” một vị trí khác nhau.

Và tôi xin lỗi đã chậm viết thư. Tôi nấn ná ở nơi đây hy vọng tìm lại được hành lý, nhưng không được như ý. Tôi điều đình với ông bà chủ quán trọ xin được lưu lại  một thời gian. Ông bà vui vẻ đồng ý với giá phải chăng, như thuê nhà trọ hằng tháng chứ không trả với giá B&B. Với ông bà, tiền thu nhập quán trọ không phải là điều chủ yếu. Ông bà mở quán cho đỡ buồn lúc tuổi già và có lẽ để duyên may đưa đẩy gặp một người dễ thương (mà chẳng ai thương) như tôi. Có tôi thuê phòng trọ như có thêm người bạn, chuyện ăn uống thì coi như thêm đũa thêm bát. Tôi ở đến khi nào muốn đi thì đi. Không biết chừng tôi sẽ như những người thời Homer, đến vùng đất lạ, gặp loại hoa sen hay củ sen, ăn vào rồi quên đường về cố hương. Hay sẽ như những người trong ca dao mà ông bà mình đã hát rủ rê:

Tới đây thì ở lại đây.
Bao giờ bén rễ xanh cây mới về.

Tôi ở VN hơn hai mươi năm nhưng gốc rễ đã bị nhổ. Ở New Jersey hơn ba mươi năm, rễ không bén, cây không xanh. Cố hương của tôi là nơi đâu? Người ta nói quê hương là nơi có người mình yêu thương ở. Thế thì New Jersey phải là quê hương của tôi vì nơi ấy có Nora.

Tôi nói như một anh chàng dẻo mồm. Nếu tôi thật sự yêu mến Nora tôi đã chẳng để người bạn già của tôi ở lại với cô mà đi chơi nước ngoài. Nora đến tháng Năm này là mười tuổi, tương đương với một người ở tuổi sáu mươi. Câu hỏi Anna đặt về tình trạng của Nora khiến tôi khó trả lời. Tôi hy vọng khi thư này đến tay Anna thì Nora đã khỏi bệnh hay bớt hẳn đi. Loài vật, trời cho khả năng tự chữa hay mau lành bệnh, bởi vậy mới tồn tại đến ngày nay dù sống một cách hoang dã. Đôi khi tôi nghĩ bác sĩ thú y cũng chỉ đoán mò chữa mò. Cứ gợi xem chủ nhân của thú vật có khả năng hay chịu bỏ tiền ra để mua lấy sự an tâm của chủ nhân. Tôi e rằng những thứ thuốc trụ sinh tống vào con vật có thể gây tổn hại nhiều hơn. Nếu cần phải mang Nora đi bác sĩ, năm ba trăm đồng tôi xin được hoàn lại Anna. Còn nếu như Nora bị bệnh nan y như ung thư chẳng hạn, thì sao? Tôi thật không thể trả lời ngay lúc này. Có người thân bị bệnh thì phải chữa cho dù biết là chữa không khỏi. Nora có một thân tình đặc biệt với tôi nhưng nàng không phải là người yêu, hay vợ. Tôi cũng không muốn phải bán nhà để chữa bệnh cho Nora vì như thế thì tôi sẽ bị mất chỗ ở, còn Anna và bé May thì… . Thôi để lúc ấy hãy tính. Cám ơn Anna đã thay tôi chăm sóc Nora.

Tôi thật không thể phân biệt rõ ràng sự khác nhau của Grasse và Provence. Grasse có nhiều con dốc cao và dài. Để ngắm cảnh thành phố ở Grasse đi bộ có lẽ dễ hơn lái xe, nếu người ta đủ sức khỏe để bước hằng trăm bậc thang. Những viện bảo tàng nổi tiếng trên thế giới lưu trữ tài liệu dụng cụ chế biến nước hoa tôi vẫn chưa đến xem. Provence thì có nhiều vườn nho bát ngát. Mùa này lá nho đã bắt đầu lên xanh. Màu xanh làm tôi nhớ đến New Jersey lúc này cũng đã xanh biếc. Và tôi nhớ đến những cơn mưa tháng Năm ở New Jersey. Mưa giữa mùa tháng Năm. Tay đan sầu kỷ niệm. Có lẽ so sánh Provence với New Jersey thì dễ hơn.

Một điểm tương đồng của Provence và New Jersey là cả hai thành phố đều có rất nhiều cây plane trồng dọc theo hai bên đường chụm đầu vào nhau thành một con đường đầy bóng râm. Cây plane ở New Jersey còn gọi là cây sycamore. Thấy rõ nhất là những vườn cây olive ở Provence mà tôi không thấy ở New Jersey. Thỉnh thoảng trên đường lái xe đi làm về tôi có nhìn thấy một vài cây người ta trồng trước nhà nhưng ở xa không biết chắc đó có phải là cây ô liu hay không. Cảnh đẹp của Provence thì dễ thấy, chỉ cần lên mạng gõ vài chữ là tìm thấy ngay. Tôi chỉ xin kể Anna nghe những gì tôi nhìn thấy ở Provence mà không nhìn thấy ở New Jersey. Màu đất đá ở đây xam xám, hơi giống như màu vách tường stucco, nhưng nhìn là biết đất đá địa phương, đặc biệt không lẫn vào đâu được. Cũng có những ngôi nhà đất đá màu đỏ hồng, nhưng rất khác loại brownstone màu hồng hồng ở New York. Và màu nắng thì tuyệt vời. Nắng ở đây, chiếu theo đường xiên xiên, những buổi chiều tà tôi so sánh thường với nắng ở New Jersey. Nắng ở đây dường như vàng hơn, dịu hơn mát mẻ hơn.

Ngõ vào nhà trọ khá hẹp. Hai bên là tường đá xám cao khỏi đầu người. Chen giữa tường đá xám là tường vôi màu vàng của vài ngôi nhà trông rất Tây. Tôi tưởng tượng đến những ngôi nhà Pháp đã xây ở Việt Nam trước năm 75. Và có lẽ Anna cũng hình dung được màu vàng của tòa nhà của Toàn quyền Đông Dương ở Hà Nội. Trước nhà có một cái bơm nước giếng cổ rất “hách”. Trong sân ông chủ nhà trọ làm hồ sen nuôi chục con cá koi to bằng bắp tay. Phía sau vườn ông trồng cây chuối, cây chanh rau mùi rau húng. Cây chuối ở đây thật là quí. Ông lại có nuôi một con chó càng làm tôi nhớ con mèo của tôi. Thỉnh thoảng ông đánh trần bắc thang tỉa ngọn ô liu trông vẫn còn rất là quắc thước. Trông ông còn có vẻ trẻ và khỏe hơn tôi dù ông lớn hơn tôi gần hai con giáp.

Trong lá thư mới nhất Anna có nhắc đến một điều quan trọng: sự thông cảm nỗi uất ức, bực dọc của những người không có khả năng nói. Tôi cũng đã từng trải qua một thời gian dài không thể nghe và nói vì trở ngại ngôn ngữ của người di dân. Tôi nhớ lần đầu tiên đặt chân lên phi trường Los Angeles, vào phòng vệ sinh, nhìn thấy người ta rửa tay và hong tay dưới cái máy sấy làm cho khô. Tôi bấm cái nút, máy sây bật chạy, khi tay khô tôi không biết làm sao cho máy tắt, tôi bấm lại cái nút nhưng máy không ngừng. Cuối cùng tôi bỏ đi khi máy vẫn còn đang chạy. Không biết hỏi ai vì không thể nói. Nếu có người giải thích tôi cũng chẳng biết nghe. Tôi nhớ cảm giác sợ hãi và và bất lực của người không thể nghe và nói. Những ngày đầu tiên đến Pháp, mất hành lý, tôi sống lại cái cảm giác ấy. Tôi hiểu sự khó khăn của Anna.

Tôi không biết tôi sẽ ở đây bao nhiêu lâu. Tôi mong nhận thư nghe Anna kể chuyện New Jersey. Tôi thèm có người trò chuyện mà chẳng ai buồn trò chuyện với tôi.

Mong lắm. Thân mến.

 

An