Chụp ảnh hạc

Không biết nó là cò hay hạc. Đứng một chân, còn chân kia rút lên gần trên ngực. Nó rỉa lông rỉa cánh rất lâu, trên đầu mỏ vẫn còn đốm lông trắng. Rất gần chỗ nó đứng có một con chim, nửa chim nửa vịt, đang nằm rút cổ vào trong cánh ngủ. Nó cứ nhìn con chim như dò hỏi, hay tò mò. Vậy mà không cắn mổ hay hò hét đuổi đi. Nắng lóa, chụp ảnh con cò hay hạc trắng này rất khó. Bao nhiêu lần tôi chỉ chụp được một quả banh trắng méo mó.

Tôi vẫn hay gọi nó là hạc xám. Tiếng Anh thì nó là great blue heron, để phân biệt với một loại heron khác cũng màu lam, xanh và xám hòa với nhau, nhỏ hơn. Tiếng Việt, nó là con diệc xanh. Tôi không rõ con vạc là do đọc trại của chữ hạc hay là một loại chim khác. Người ta nói hạc là con crane, hay còn gọi là sếu. Tuy nhiên có một dạo tò mò tôi tìm chữ vạc, trong như cánh vạc bay, trong tự điển thấy vạc là con heron. Thôi thì đừng bắt bẻ tôi chuyện vạc, hay hạc, hay diệc, hay sếu. Tôi cũng không chắc loại great blue heron có ở VN hay không.

Tôi gặp con hạc xám này khi nó đậu trên cao, bên kia dòng kênh. Mới nhìn thấy phần lông trước ngực dài lua tua đó tôi không biết là cái gì, tưởng dây leo hay rễ cây. Nó đậu một hồi, tôi rón rén đến gần thì nó vụt bay.

Con này đậu ở ao bèo rất rộng. Cách chỗ tôi bắt đầu đi bộ gần 13 dặm. Cách Kingston Lock chừng hai dặm. Tôi chụp ảnh nó lúc nó bay, nhưng dở quá nên ảnh bị trắng lóe và con hạc trong ảnh nhỏ xíu.

Con hạc này đậu ở ao bèo, cái ao nhỏ xíu, đầy kín bèo, không biết làm sao mà thấy được cá để bắt ăn. Tôi rình nó một hồi lâu mà nó không chịu bay. Tôi bỏ chỗ rình, trở về chỗ dựng xe đạp để đạp xe đi tiếp tục. Thấy máy sắp hết pin, tôi thay pin. Đang thay pin sắp xong, thì ông Tám vỗ tay làm nó nghe tiếng động, nó bay vụt đi. Tôi chụp ảnh hụt, vừa tiếc vừa tức. Mới thấy mấy người chụp ảnh chuyên nghiệp có khi phải rình lâu lắm mới được một tấm ảnh của một con vật hoang dã, phải nằm sương gối tuyết. Còn tôi chỉ rình sơ sơ muỗi cắn đã bỏ đi.

Con này thì là nhờ ông Tám mới chụp được. Ông để tôi nhắm máy, sẵn sàng, ông vỗ tay xua nó, khi nó vừa bay lên, thì tôi chụp được tấm này. Lúc trước tôi rình mà nó không bay thì tôi bỏ đi, bây giờ thì biết là nếu nó không bay thì mình có thể hù cho nó sợ nó bay.

Tội nghiệp mấy con hạc. Khổ vì không được yên ổn với bà Tám.

Forget-me-not

Bạn nhìn hoa này, thấy nó màu gì? Tôi thấy nó giống màu xanh da trời, hay là màu baby blue người ta thường hay mặc cho trẻ em trai. Có lẽ có bạn nhìn thấy nó màu tím nhạt. Hoa này nhỏ lắm. Mọc ven bờ hồ, bờ kênh, nhìn giống như cỏ, nếu mọc nhiều mới thấy màu xanh trời, còn mọc lơ thơ chẳng ai để ý. Tôi chụp được tấm ảnh này rõ nhất, ánh sáng tốt nhất, khoái lắm nên khoe với bạn. Tôi có chắc cũng cả trăm tấm, chụp cả chục lần, hư hại méo mó mờ mờ khá nhiều.

Tên khoa học là Myosotis palustris. Giai thoại phổ biến nhất về hoa này là: Có đôi tình nhân đi dạo bờ hồ, hay bờ sông. Chàng cố hái chùm hoa tặng nàng, nhưng lỡ trượt chân rơi xuống nước bị cuốn đi. Trong cơn tuyệt vọng, chàng cầm chùm hoa giơ lên cao nói vói với nàng: forget-me-not, hay là đừng quên tôi. Mấy người yêu nhau cũng lạ. Người thì trước khi chết còn kêu đừng quên tôi. Người thì còn sống nhăn nhưng đang đau khổ thì hát, “thôi, xin hãy quên tôi, xin hãy quên tôi, như quên một cuộc tình, quên một cuộc tình, trong giấc ngủ hay trong chiêm bao.” Câu này không phải của tôi nha. Tôi nhớ trong một bài hát nhưng lời thì có lẽ không chính xác. Trí nhớ của tôi đang phai tàn, dần mòn, chẳng biết còn lại mấy chục phần trăm.

Chuyện tình yêu, mấy người già già như tôi thì biết quá rồi. Khi người ta không thèm nhớ, có năn nỉ mấy cũng thừa. Biểu đừng quên tôi làm chi cho mất công.

Giai thoại té sông thì ai cũng biết rồi, có một giai thoại mà tôi mới biết. Đó là Thượng Đế đặt cho loài hoa này tên Forget-me-not là bởi vì nó không thể nhớ tên đặt cho nó từ thời mới khai thiên lập địa.

Chuyện xưa kể rằng, năm 1419, trong lúc trò chuyện người ta kháo nhau rằng những chàng trai trẻ tân tiến và sành điệu thì phải biết nói chuyện thời trang và hoa Đừng-quên-tôi. Chỉ trong một thời gian ngắn sau đó, hoa này xuất hiện trong bức tranh, dưới chân Đức Mẹ Đồng Trinh và các vị thánh khác.

Các nhà thực vật học người Hy-lạp là người đầu tiên đặt cho nó cái tên myosotis, có nghĩa là “tai chuột” vì hình dáng chiếc lá của nó. Họ cho là loại hoa này có vị thuốc trị đau mắt và loét bao tử. Truyền thuyết dân gian bảo rằng cái màu xanh nhạt của nó có thể giúp cho người ta đạt được tâm nguyện. Người nào sinh ra đời với ngôi sao tốt, có thể cột chùm hoa này vào một cây gậy rồi dùng nó để mở cánh cửa vô hình để bước vào kho tàng của thế giới.

Thế kỷ thứ 17, người ta tin rằng những người rụt rè, nhút nhát, thiếu tự tin có thể nhờ cậy quyền lực của loài hoa này. Quan sát hoa này là cơ hội cho người ta tưởng nhớ đến Thượng đế, đến bản thân, sự sống và cái chết. Ngay cả đóa hoa bé nhất cũng có một bài học vô giá cho những linh hồn đạo hạnh.

Hoa có nhụy hình vòng tròn màu vàng ở giữa, giống như con ngươi của mắt, vì thế rất nhiều nhà thơ đã ví von đôi mắt xanh của các nàng trinh nữ đẹp như hoa Đừng-quên-tôi. Cái tên Forget-me-not đã xuất hiện từ thế kỷ thứ 15, nhưng người ta không nhớ chắc, đóa hoa nào nguyên thủy được gán cho cái tên này.

Viết thêm: Sau khi đăng bài và dẫn link qua FB, bạn đọc dẫn một link khác cho thêm một giai thoại về hoa Đừng quên tôi.

Loại hoa Myosotis scorpioides (tuy khác tên nhưng theo Wikipidia thì) cùng loại với Myosotis palustris, hoa này còn có tên là Eyes of Mary hay Mắt của Mary. Chuyện kể rằng:

Jesus lúc còn nhỏ, một ngày kia, ở trước nhà, nhìn sâu vào đôi mắt của mẹ và nói: “Mẹ ơi, mắt của mẹ thật là đẹp, người ta nhìn sẽ chiêm ngưỡng trầm trồ. Thật tiếc cho những người sinh ra về sau sẽ không được nhìn thấy, bởi vì trong đôi mắt mẹ người ta thấy cả thiên đàng, bất cứ người nào nhìn cũng sẽ cảm thấy bị thu hút.” Nói xong người vuốt mí mắt của mẹ và đặt bàn tay lên mặt đất như gieo hạt. Ngay lập tức loại hoa Đừng-quên-tôi mọc lên, hằng trăm đóa hoa nhỏ xíu màu xanh với nhụy vàng, như một lời nhắc nhở cho thế hệ tương lai, đôi mắt trong trẻo của Đức Mẹ. Nguồn của giai thoại này: Đôi Mắt Mary.

Nguồn của phần lớn chi tiết trong bài tóm tắt từ: “The Language of Flowers – Symbols and Myths”. Tác giả: Marina Heilmeyer

Buổi đầu thu

The colored leaves
Have hidden the paths
On the autumn mountain.
How can I find my girl,
Wandering on ways I do not know

Aki yama no
Momiji wo shigemi
Mado inuru
Imo wo motomenu
Yama ji shirazu mo

Hitomaro

Trích trong quyển One Hundred Poems From The Japanese của Kenneth Rexroth.  
Lá thu đậm sắc màu
Che lối mòn quanh co
Trên ngọn núi vào thu
Làm sao tìm thấy nàng
Lang thang lạc lối nào 

Nguyễn thị Hải Hà dịch từ tiếng Anh sang tiếng Việt
Tống Mai chép cho bài thơ của T. T. Kiệt (Trần Tuấn Kiệt?).  Bài thơ này hao hao lời thơ của Hitomaro, giống như là bản dịch vậy.

Em hát trong rừng sao
Ta ngủ dưới cội đào
Chợt mùa đông tuyết phủ
Biết tìm em phương nao
(TT Kiệt)
Bài thơ của Hạnh

LAN MAN
Tôi muốn giữ lại ngày hôm qua
Bằng cách không xé lịch
Liệu có được không?
Đôi khi
Tôi thấy mình tí tởn
Như đứa trẻ vào rừng hái nấm
Không gặp nấm
Mà gặp cọp
Một con cọp bự đùng
Đủ làm khiếp vía
Mọi giấc mơ hoang
Một hôm nào đó
Tôi sẽ giong thuyền ra khơi
Để chẳng tìm gì cả
Vì thật ra
Tôi cũng chẳng biết tìm gì
Giữa bao la
Bài thơ của Sóc ghi lại có một đôi chỗ khác với bản của ông Kenneth Rexroth nên tôi đăng lên đây để bạn đọc tham khảo nhé.

Akiyama no
Momiji wo shigemi
Mato hinuru
Imo wo motomemu
Yamaji shirazumo

theo ghi chép ông ấy đang nói về người vợ yêu dấu mới khuất của mình. bản tiếng anh có ý thơ rất sát nghĩa ạ. mọi người làm thơ hay quá con (Sóc) cũng lanh chanh góp lời:

Rừng thu thay lá
Vàng từng bụi cây
Tôi tìm chẳng thấy
Em đang lạc bước
Chốn nào quanh đây.
THU BUỒN.
Sáng nay đi lạc vào rừng,
Lá vàng phủ kín trên từng lối đi,
Nên không biết nói năng chi,
Bốn câu xin góp vơi đi nỗi buồn.
DTQT.

Ngư ông về viễn phố

Bạn hỏi tôi “Chị có bao giờ đi câu?”  Ngày xưa, có một lần.

Lúc ấy má tôi mới dọn về Tân Qui Đông (có người nói là Tân Quí Đông nhưng trong trí nhớ của tôi cô bé 9 tuổi thì nó là chữ Qui).  Thuở ấy, TQĐ là một vùng ruộng hoang sơ, nhưng bây giờ gần với Phú Mỹ Hưng, nơi của người giàu có ở.  Chúng tôi là những người ở khu Vĩnh Hội bị cháy nhà nên trôi dạt về đây.  Gia đình nhà trước mặt là một gia đình cảnh sát, nhà nghèo, con đông.  Trong đám con ấy có thằng Đông (ở nhà nó gọi là thằng Cu) trạc tuổi tôi, dạy tôi câu cá. 

Ruộng lúa, người ta đào đất, xúc đất lên làm nền nhà, chỗ đất bị đào trũng xuống biến thành ao.  Nền nhà càng cao thì ao càng sâu.  Mưa xuống nước ngập ruộng, cá theo nước tràn vào trong ao.  Chúng tôi câu cá bằng con trùn, cứ đào đất lên là có trùn cả nắm.  Tôi chẳng hề dám mó tay vào đám trùn ngo ngoe gớm ghiếc.  Thằng Đông móc trùn vào lưỡi câu, có khi không có lưỡi câu nó dùng nhợ câu cột thắt ngang lưng con trùn.  Dặn tôi hễ thấy phao chìm là giật mạnh lên cho con cá văng lên bờ.  Có vài lần hụt cá rớt xuống nước trở lại.  Số cá bị giật lên bờ cũng khá khá.  Đây là loại cá chốt nhỏ bằng ngón tay, ngạnh rất bén nhọn, không cẩn thận bị ngạnh cá đâm vào ngón tay rất đau nhức.  Tôi chỉ được câu giúp, bởi vì cần câu và mồi câu là của thằng Đông, nên thành quả thu được thuộc về chủ nhân.  Đông mang về nhà cho má nó kho tiêu.  Tôi câu cho đến lúc tôi giật lên thì đầu sợi dây treo lủng lẳng một con rắn đen khoang trắng.  Tôi hét lên một tiếng thất thanh, ném cái cần câu xuống ao, rồi ù té chạy về nhà.  Từ đó chưa hề câu cá lại lần nào, có vẻ như chỉ một lần câu gặp rắn thôi là tởn tới già.

Bạn khác nói, câu cá là cách giết thời gian nhanh nhất.  Tôi lại nghĩ nếu câu cá mà có cá cắn câu thì không thấy lâu, chứ ngồi đó mà “tựa gối ôm cần lâu chẳng được, cá đâu đớp động dưới chân bèo” như cụ Nguyễn Khuyến tả thì thời gian dài chán chết.  Người đi câu thường thường phải là người có nhiều kiên nhẫn.  Những ngày đi dọc bờ kênh bờ hồ tôi thấy người đi câu đa số là đàn ông.  Cứ chục người đi câu là đàn ông mới có một hay hai phụ nữ.  Và đa số những người phụ nữ này đi chung với đàn ông.  Cách đây chừng một tuần tôi gặp một người phụ nữ cao lớn như đàn ông, đi câu một mình.  Bà đi xe đạp, để xe nằm trên bờ kênh rồi quăng câu.  Tôi dám chắc đây là người đi câu thiếu kiên nhẫn.  Chỉ độ năm mười phút, tôi đi chưa mấy xa đã thấy bà chạy xe đạp cùng chiều về hướng tôi đi.  Sau đó tôi lại gặp bà để xe đạp nằm kềnh trên bờ kênh thả câu.  Rồi lại lên xe đạp chạy đi chỗ khác để câu.  Vài ba lần như thế, và bà chẳng câu được con cá nào.  Ông Tám nói có lẽ bà đi câu để được có cái thú vị ném dây câu.

Biết là không phải cứ đi câu là câu được cá.  Trong lúc ngồi chờ cá cắn câu, người đi câu nghĩ gì?  Suy nghĩ thì có lẽ nhiều thứ để suy nghĩ.  Chuyện công danh.  Chuyện tình duyên.  Ý tôi muốn hỏi là những ý nghĩ lớn, như triết lý, cuộc đời sự sống và cái chết, hạnh phúc, tự do, và nhiều thứ khác.  Mình chẳng quen ai là người đi câu để hỏi, thôi thì tôi thử lục tìm trong sách vở xem có nhà văn nào viết về chuyện câu cá hay không?

Thử tìm sách vở về câu cá, tôi vô cùng ngạc nhiên. Năm 1653 đã có sách viết về câu cá.  Quyển “The Complete Angler” do Izaak Walton biên soạn.  Và trước cả quyển này bốn chục năm, 1613, có quyển “The Secret of Angling” của John Denny.  Nghĩ cũng phải thôi, đâu có gì mà ngạc nhiên.  Tổ tiên loài người có lẽ đã săn cá, ăn cá (sống) trước khi có lửa nữa.

Đi câu, như Hemingway nói, là dịp để gặp bạn bè.  Đi câu, nhất là đi cả gia đình, là dịp để kết nối tình thân.  Mấy chục năm về sau, người ta vẫn có thể kể lại những kỷ niệm cả nhà đi câu với nhau.  Đi câu cũng là dịp để các ông câu ngồi suy nghĩ, nhớ lại những lần đi câu trước.

Norman Maclean, tác giả của quyển sách được làm thành phim “A River Runs Through It”, kể lại những chuyến đi câu của ông với người bố và người em trai tên Paul.  Ông bố là mục sư. Norman Maclean là nhà văn và là giáo sư dạy môn văn chương.  Paul, Brad Pitt đóng vai này trong phim, là người có cá tính rất mạnh.  Cả ba người đều là những người câu cá có bản lĩnh và giải thưởng, họ có thể hiểu được cách suy nghĩ của loài cá vì thế hễ khi họ đi câu là được rất nhiều cá.  Tôi không có cơ hội để hỏi những người câu cá, khi họ “tựa gối ôm cần lâu chẳng được”, thì họ suy nghĩ những gì, vì chẳng có quen ai là người đi câu cá, nhưng Norman Mclean đã cho tôi nhìn thấy một khoảnh khắc của ông trong một buổi đi câu với bố và em của ông.  

“Trong khi tôi đứng trong vùng nước yên lặng và có bóng mát, tôi nhìn thấy một điều nhưng không chú ý lắm, đó là không có trứng của con bọ đá nào đang nở cả, đáng lẽ tôi nên suy nghĩ về điều này cặn kẽ hơn, nhưng tôi lại đâm ra suy nghĩ về cá tính.  Có vẻ đây là chuyện bình thường, nếu chúng ta nghĩ về cá tính khi chúng ta đang thắng thế, đặc biệt là về cá tính của người thua kém mình.  Tôi đã suy nghĩ về em trai tôi, khi gặp khó khăn, em tôi thường tự tìm trong chính bản thân của em để tìm đường thoát.  Em đã chẳng bao giờ mượn những cái mồi câu của tôi.  Tôi nghĩ về điều này một cách sâu rộng hơn trước khi tôi trở về với thực tại và mấy con bọ đá màu vàng.  Tôi bắt đầu với ý nghĩ, mặc dù em là em tôi, nhưng đôi khi em thuộc loại bướng bỉnh như đầu em có sạn vậy.  Tôi nối tiếp ý nghĩ này xa hơn nữa, đến chỗ những người Hy lạp thời cổ đại đã tin rằng, hoàn toàn không muốn nhận sự giúp đỡ của người khác, có thể đưa đến chỗ bị giết.  Bỗng nhiên tôi nhận ra rằng em tôi hầu như luôn luôn là kẻ thắng cuộc và rất thường xuyên (em thắng) bởi vì em không mượn mồi câu của tôi.  Từ đó tôi cho rằng, bất cứ lời nào chúng ta thốt ra về cá tính của người câu cá, vào bất cứ một ngày nào đó, thì lời ấy tùy thuộc vào sự phản ứng của loài cá của chính ngày hôm ấy.  Vì suy nghĩ đến phản ứng của loài cá, tôi quay trở về với thực tại và tự bảo mình, “tôi còn một hố cá chưa câu.”[1]

Trước đó Norman Maclean câu được nhiều cá, nhưng Paul không câu được con cá nào.  Norman ngỏ ý cho Paul mượn mồi câu của ông, nhưng Paul từ chối.  Paul trở lại những cái hố cá mà trước đó Paul đã câu, mà không dính con cá nào, vì Paul quan sát cách những con bọ đá đẻ trứng và cách trứng nở, và buổi đi câu hôm ấy Paul câu được 20 con cá, và con cá cuối cùng là con cá to nhất trong buổi đi câu.  Trong ba cha con, Paul là người hiểu biết nhiều nhất, có thẩm quyền nhất trong gia đình để bàn về chuyện câu cá. Paul cũng là người giữ mục câu cá cho tờ báo anh làm việc. Paul vóc người cao lớn, tự tin đến kiêu ngạo, bản tính ương ngạnh hay chứng tỏ là mình hơn người do đó tạo ra nhiều kẻ thù.  Về sau, thích uống rượu và đánh bạc, thiếu nợ đánh bạc đìa ra, có lẽ đó là một trong những nguyên nhân Paul bị người ta đánh đến chết.  Khi chết, bàn tay của Paul bị đập đến nát vụn. Ông bố hỏi: “Tay nào?” Norman trả lời: “Tay phải!” Tay để câu cá, để viết, và để đánh bạc. Có lẽ người ta cũng ghen tài với Paul khi giết anh. Brad Pitt đóng vai này rất đạt dù anh chàng vẫn còn mặt búng ra sữa. Cũng như vai trong phim “The Legend of The Falls” Brad Pitt vào nhân vật người hùng, alpha male, đáng yêu đến độ đáng ghét.

Phép lịch sự của người đi câu là không câu gần chỗ người đến trước, chọn được chỗ như ý để đóng chốt.  Nhà văn Somerset Maugham kể lại trong truyện ngắn “The Hole” một án mạng xảy ra chỉ vì người ta giành nhau chỗ để câu. 

Trên một dòng suối, có chỗ cạn chỗ sâu.  Đứng nhìn dòng suối người ta có thể biết những chỗ sâu này nhờ màu nước có thể xanh đậm hơn, và nước có vẻ như chảy chậm hơn.  Ở những chỗ sâu này thường có nhiều cá trú ẩn.  “The Hole” có nghĩa là hố cá.  Hố cá có khi to như một cái ao, tùy theo dòng suối rộng cỡ nào. 

Ông Leopold Renard, thợ đóng nệm ghế, dẫn bà vợ đi câu.  Vì ông đến trễ nên cái hố cá chỗ ông câu đã ba năm, quen thuộc đến độ ông nghĩ là chỗ của riêng ông, bị người khác chiếm mất.  Cái hố cá này rất tốt, sâu chừng ba mét, gần bờ, có bóng mát, nhiều cá, có thể nói là thiên đàng của người đi câu.  Người chiếm cái hố cá là vợ chồng ông Flameche.  Vợ của ông Renard là một người đàn bà nhỏ thó và xấu xí, ông Maugham miêu tả giống như là con khỉ con.  Vợ của ông Flameche là người đàn bà cao lớn và to béo.  Bị mất chỗ câu ngon lành nên ông Renard tức giận.  Ông chọn chỗ câu gần đó với hy vọng là đến trưa vợ chồng ông Flameche sẽ bỏ chỗ đi về mệt vì trời nóng.  Vì chỗ câu gần nên vợ chồng ông Flameche tức giận.  Khi ông Renard nén giận, không để ý đến lời xỉa xói nhiếc móc của bà vợ là ông để cho kẻ kia cướp cá của ông, thì bà Renard và bà Flameche đâm ra cãi nhau.  Bà to béo đánh bà vợ của ông nên ông vội vàng chạy đến cứu vợ.  Ông Flameche cũng định ra bênh vợ, ông này thì lại nhỏ thó ốm yếu hơn bà vợ của ông, chặn đường ông Renard.  Đang lúc nóng vội, ông Renard vừa đấm vừa thoi ông Flameche vài ba cái khiến ông ta ngã nhào xuống nước.  Giữa sự chọn lựa cứu kẻ cướp hố cá của mình và cứu vợ của mình đang bị đánh, ông Renard chọn cứu vợ.  Lòng ông còn rủa thầm, mặc xác mi, cho đáng đời.  Sau khi ông kéo được hai bà đang túm đầu cố xé xác nhau ra, quay trở lại chỗ hố cá thì những người câu chung quanh đã vớt ông Renard lên.  Tuy vậy, xui xẻo làm sao, ông ta đã chết. Ra tòa, người ta bắt đền tội, ông Renard phân bua kể lại câu chuyện và có những người chung quanh làm chứng, trong đó có bà vợ của ông Flameche, xác nhận ông kể đúng sự thật.  Nhờ thế mà ông thoát tội giết người.

Có lẽ với người đi câu, buồn nhất là câu không được cá.  Tuy nhiên, buồn hơn cả câu không được cá, là câu được nhiều cá mà bị mất hết số cá mình câu được.  Có một cậu bé chừng mười hay mười hai tuổi, đi câu với bố.  Gần cuối ngày ông bố tin tưởng giao cho cậu bé khoảng chục con cá. Chính cậu cũng câu được hai ba con cá khá to.  Cậu gồm chung cá của bố và của cậu, xỏ thành xâu đeo vào thắt lưng. Tiếp tục câu cá, cậu câu dính một con cá rất to, nhưng nó kéo dây câu mạnh quá, rồi trong lúc giật dây, chẳng hiểu làm sao tuột dây đứt móc, cậu đánh mất cả xâu cá.  Cậu bé ấy tên là Jimmy Carter.  Vâng, chính là vị Cựu Tổng Thống của nước Hoa Kỳ và chính ông đã viết kể lại câu chuyện này trong truyện ngắn “Fishing With My Daddy.”

Đến đây thì hết muốn kể truyện nhưng chẳng biết kết thúc làm sao. Chợt nghĩ đến câu thơ của bà huyện Thanh Quan, “gác mái ngư ông về viễn phố.” Câu thơ này khiến tôi nghĩ đến người thành phố thời nay muốn nghỉ ngơi thì đi câu cá. Còn ngư ông muốn nghỉ ngơi thì cất cần câu đi về nhà. Tôi mượn vai trò ngư ông, chấm dứt chuyện câu cá, đi về viễn phố đây.


[1] Norman Maclean, “A River Runs Through It”.  Trích trong tuyển tập truyện ngắn “The Best Fishing Stories Ever Told” do Nick Lyons biên soạn.  Skyhorse. 2010. New York.  p. 365

Đầu mùa thu nói tiếp chuyện đi câu

Hôm qua nói, đi câu cá là một trong những phương tiện giải trí trong mùa hè, khá an toàn trong thời dịch bệnh Covid-19. Mùa hè khép lại nhưng người ta vẫn có thể đi câu tiếp tục trong mùa thu. Cụ Nguyễn Khuyến đã chẳng kể chuyện câu cá trong bài Thu Điếu đó sao. Vậy là tôi viết tiếp chuyện câu cá hôm qua tại vì hôm nay đã bắt đầu mùa thu.

“Khi đi câu, bạn sẽ gặp bạn câu suốt chiều dài dòng sông — mấy người bán vé sổ xố mà bạn mua vé đã bao nhiêu năm, mấy ông cảnh sát bạn đã tặng cá để đáp lễ vì họ là những người từng giúp đỡ bạn, mấy ông thợ câu tính tình ba trợn lười biếng đứng chen vai với bạn ở chỗ đánh cược, phía trước mấy bức tường ném banh jai-alai, và nhiều người bạn khác chạy xe ngang hải cảng cùng với con đại lộ chạy dọc theo bờ biển, họ vẫy tay chào bạn rồi bạn cũng vẫy tay đáp lễ, nhìn từ xa bạn chẳng biết họ là ai, chứ họ thì có thể nhận dạng chiếc tàu Pilar và bạn đang đứng trên boong tàu rõ rệt – cái cần câu với cái mồi câu cá có gắn lông chim, lúc nào cũng đang câu cá.”[1]

Jai-alai là một loại banh (bóng), nếu bạn gõ từ này vào Wikipedia sẽ thấy, người ta chụp và ném banh vào bức tường (fronton) cho banh dội ra rồi hứng banh, tương tự như racquet ball vậy. Thay vì dùng racket (cái vợt lưới, cần vợt ngắn) trên tay họ có gắn một cái vợt gần giống như một cái rổ cong như cái lưỡi liềm.  Jai-alai được chơi ở Philippine và nhiều nơi ở Hoa Kỳ nhưng không phổ biến như baseball hay football.  Có lẽ loại banh này phổ biến ở Cuba, nơi Hemingway sống nhiều năm.  Khi người ta hỏi Hemingway tại sao lại sang Cuba để sống, ông viết một bài rất dài về The Great Blue River, về chiếc tàu câu cá Pilar, tóm gọn lại là về đam mê câu cá (bên cạnh mối đam mê đấu bò rừng) của ông. 

Đây là cái vợt chơi banh Jai-alai. Ảnh của Wikipedia.

The Great Blue River, trường giang xanh biếc, Hemingway miêu tả như sau: “[…] Con sông rộng lớn và sâu thẳm này có màu xanh biếc, sâu từ ba phần tư cho đến một dặm, rộng từ 60 cho đến 80 dặm. Từ cửa nông trại của bạn đến con sông này bạn chỉ mất chừng 30 phút, cắt ngang những thôn làng rất xinh đẹp, khi dòng sông này biết điều thì đây là nơi câu cá ngon lành nhất mà tôi (Hemingway) biết.  Khi dòng Gulf Stream chảy mạnh mẽ, con sông này có màu xanh đậm và nhiều chỗ nước xoáy dọc hai bên bờ […]” p. 682 (Hemingway, 1974)

Một dặm (mile) bằng 1.609 km.  Ba phần tư của một dặm là 1.2km. Sáu mươi dặm tương đương 96km. Tám mươi dặm tương đương với 128km.

Pilar là tên chiếc tàu của Hemingway.  Chiếc tàu này khá lớn.  Chiều dài khoảng 12 mét.  Trang bị máy móc đầy đủ.  Có thể chứa 1200 lít xăng dầu, 600 lít nước, và khi tàu đầy cá có thể chứa 5,200 kg nước đá.

Nhưng mà tôi lại nói chuyện sang đàng.  Đi câu cá dọc theo bờ kênh, bờ hồ như tôi viết và đăng vài tấm ảnh hôm qua là câu cá cỡ nhỏ.  Câu cá cỡ Hemingway là cỡ đi câu ngoài biển.  Hemingway viết truyện “Ngư Ông và Biển Cả” (The Old Man and The Sea) lấy bối cảnh là Cuba và Gulf Stream cũng chính là Dòng Trường Giang Xanh Biếc (The Great Blue River) này đây.

Những người đi câu chuyên nghiệp hơn thì họ dùng phương pháp fly fishing.  Fly fishing là câu cá bằng loại mồi đặc biệt.  Người ta có thể câu cá bằng giun trùn, thịt heo, ruột cá, v.v…  (Trong chuyến vượt biên của tôi, những ngày lênh đênh trên biển, người đi chung tàu đã dùng ruột cá để nhử những con cá bơi theo chiếc tàu vỡ máy và chụp cá bằng tay)  Những người đi câu dày kinh nghiệm họ biết loại cá nào, ở vùng nước nào, thích ăn loại mồi gì.  Mồi cá ở những con suối sâu có khi là côn trùng sinh sản trong nước hay trên mặt nước.  Ở những vùng biển như Gulf Stream mồi của Hemingway là những con mực.  Để hấp dẫn những loại cá được yêu chuộng như trout, salmon, bass, và malin (loại cá Hemingway câu) và để đáp ứng nhu cầu của ngư phủ, ngư ông, người ta chế tạo ra các loại mồi nhân tạo, màu sắc rực rỡ, giống như mồi thật.  Có lần tôi thấy một con vịt con nằm như chết bên đường, sát vào mép cỏ trông đáng thương quá.  Trong khi tôi xót xa, nhìn kỹ lại thì đó là một con vịt con giả, màu lông, và màu da chân vịt giống y như thật.  Trên con vịt có lưỡi câu nhọn hoắc và mấu chốt, kèm theo còn có túm lông vũ lua tua có lẽ để nổi trên mặt nước như cái phao.  Đây là một cái fly, mồi câu nhân tạo nhưng tôi không dám chắc cùng loại mồi câu của những người fly fishing. 

Đây là một trong mấy cái mồi câu nhân tạo, hôm nọ ngồi ăn trưa ở bờ kênh nơi bến thả thuyền ca nô của công viên Colonia Park, thấy cái mồi bị dính trên cây còn cả sợi dây câu. Rất tiếc là tôi đã không chụp ảnh cái mồi câu hình con vịt con, tại vì nó giống thật quá làm tôi thấy xao xuyến, khó chịu.

Fly fishing là một phương pháp câu cá đòi hỏi người câu phải tập luyện cách ném lưỡi câu dây câu, cách kéo cá về, v.v… .  Người fly fishing dùng một loại dây câu đặc biệt nặng hơn dây câu bằng nhựa bình thường để người câu có thể ném sợi dây câu ra đến giữa dòng, nơi có cá lớn.  Nhưng phương pháp câu này phức tạp lắm, tôi sẽ không dấn thân vào chuyện này đâu nhé. Chẳng qua, tôi thấy người ta đi câu, có người câu rồi thả cá trở lại, tôi bỗng đâm ra tò mò và có vài câu tự hỏi.  Người đi câu để được gì nếu không cần bắt cá?  Ngày xưa ông Lã Vọng đi câu mà không gắn lưỡi câu.  Ngày ngày ông ra bờ sông chờ thời, cho đến khi gặp vua mời ông ra làm cố vấn.  Ở Hoa Kỳ người ta có một số luật lệ, nguyên tắc dành cho người đi câu.  Thí dụ như người đi câu phải đóng tiền mua giấy phép.  Chỉ được câu ở những chỗ nhất định.  Có những tháng cá sinh con, người đi câu không được khuấy động chỗ sinh nở của cá, nên không được phép câu.  Chỉ được câu những con cá đúng kích thước, nếu cá còn nhỏ quá thì phải thả lại nước để nó có thể sống và sinh trưởng thêm.  Và người đi câu chỉ được mang về đúng số lượng người ta cho phép.  Ngoài ra người đi câu cũng phải cẩn thận, tránh những chỗ người ta có pha thuốc sát trùng để trừ muỗi mòng và các loại cây cỏ tăng trưởng quá nhanh quá mạnh có thể làm ô nhiễm nước hay che kín mặt nước làm thiếu dưỡng khí cho cá.


[1] “The Great Blue River”.  Truyện ngắn trích trong The Enduring Hemingway – An Anthology of a Lifetime in Literature”.  p. 683 Charles Scribners, Jr. biên soạn, New York, 1974.

Khép lại mùa hè

Hôm nay là ngày cuối của mùa hè vì theo lịch báo ngày mai là ngày bắt đầu mùa thu. Liên tiếp hai hôm nay trời lạnh. Thật ra trời không mấy lạnh, giữa ngày thấy cô em út mặc áo sát cánh mang chè bắp qua cho đi ngoài đường tỉnh bơ, mà tôi ở trong nhà đã phải mặc hai ba lớp áo. Chẳng qua tôi là bà già không chịu lạnh dù đã ở Mỹ ngót nghét bốn mươi năm.

Vậy đó, đã hết mùa hè. Đừng có kêu lên ai chở mùa hè của tôi đi đâu. Mùa hè của tôi trải dài mấy tháng dọc theo bờ kênh D&R, tôi đi bộ hoặc đi xe đạp một tuần đôi ba lần. Dọc đường thấy người ta câu cá rất nhiều. Mùa hè thời dịch bệnh Covid-19, báo đăng, số bán xe đạp, ca nô, kayak, cần câu cá tăng lên vùn vụt. Câu cá xem chừng là một thú vui giải trí khá an toàn, nhất là câu cá trên kayak. Ở giữa dòng nước chỉ có mình, hoặc thêm một người đồng hành quen thuộc và tin cậy.

Gia đình đi câu

Lúc đi ngang hồ Carnegie gần Princeton thấy có một gia đình người châu Á đang câu cá. Hồ này rất rộng nhưng nước cạn vì thấy các bé ngồi tuy gần bờ nhưng dưới nước.

Dòng kênh phía trước mặt người đi câu này bị bụi rặm che khuất nên có vẻ như anh ta câu trong bụi rặm.

Ảnh này chụp người đi câu trên hồ Surprise ở Watchung Reservation.

Người này câu cá trên dòng kênh Delaware and Raritan Canal.

Ông này câu cá kiểu nhà giàu. Thuyền máy. Ông câu ở hồ Carnegie, thuộc dòng kênh D&R, gần khu vực Princeton. Hồ này đẹp lắm.

Hai cô cậu này câu ở bờ hồ Surprise, Watchung Reservation.

Những người câu cá ở Princeton Lock

Dọc theo dòng kênh D&R có nhiều nơi người ta có cổng để dẫn nước vào hay ngăn nước lại. Những chỗ này gọi là lock. Kingston, New Jersey, là một thành phố nhỏ, có di tích cổ. Thấy New Jersey có Princeton, rồi lại có Kingston, Princeton có nghĩa là lãnh thổ của hoàng tử. Kingston là lãnh thổ của vua. Vậy mà Princeton lại to lớn hơn, nổi tiếng hơn, giàu có trù phú hơn. Nơi đây có đại học nổi tiếng mà ngày xưa thiền sư Nhất Hạnh là sinh viên. Kingston Lock nơi dòng kênh D&R nối với hồ Carnegie có cái đập rất rộng. Từ nơi này nhìn thấy ngôi nhà cổ trước kia là nhà máy thủy điện dùng sức chảy của nước để xay bột. Nơi này luôn luôn có rất nhiều chim. Cormorant (chim cốc), blue heron (hạc xám), Canada geese (ngỗng Canada) và nhiều loại chim khác đậu sẵn ngang bờ đập giữa dòng nước chảy để săn cá. Và hôm nào đó đi ngang tôi thấy rất nhiều ca nô đến tranh cá với các loại chim này.

Đi bộ với ông Tám ở gần Canal Park, về hướng 5 mile lock tôi gặp hai ông cháu câu được con cá này. Không biết cá gì trông khá lớn, cỡ một kí. Nhìn con cá thấy nhỏ có lẽ vì bụng của người ông khá to. Hai ông cháu, câu, cân cá bằng cái cân tay, chụp ảnh, rồi thả cá trở lại nước chứ không mang về. Điều này khiến tôi suy nghĩ, tại sao người ta đi câu cá, nếu không chỉ vì muốn bắt cá, có cá ăn.

Phải nhìn nhận là người Mỹ họ sung sướng thật. Họ biết ăn chơi và có khả năng để ăn chơi. Có một chiếc thuyền nhỏ, giương buồm trên hồ, gần sát nhà, rong chơi, câu cá. Trong nắng, trong gió. Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo có vẻ như nằm gọn trong túi tiền của họ.

Thuyền buồm

Người Mỹ dùng từ “gone fishing” hay đi câu để ám chỉ việc ngưng công việc đang làm để đi làm một công việc gì đó có tính chất hưởng thụ, hay nghỉ ngơi. 

Người ta đi câu để làm gì? Dĩ nhiên là để bắt cá.  Nếu chỉ để có cá thì vào chợ mua có phải dễ dàng đỡ mất thì giờ không?  Tôi nghĩ, người ta đi câu, không phải chỉ vì cá, mà vì nhiều thứ khác.  Thí dụ như?

Phải chăng người ta đi câu cá để tránh công việc nhà?  Ra khỏi nhà, thoát được sự điều động công việc, cắt đặt sai bảo của mẹ, hay của bà vợ thích cằn nhằn. Đến chỗ, ngồi đó thả câu, được cá hay không, không cần thiết.  Ít nhất ông câu cũng được một thời gian yên tĩnh, không phải làm việc nhà và bị rầy.

Đi câu, là cơ hội để gặp bạn bè, nếu không phải là bạn thì ít ra cũng là những người có chung sở thích. 

Với Hemingway “as you go out, seeing friends along the water front – lottery-ticket sellers you have known for years, policemen you have given fish to and who have done favors in their turn, bumboatmen who lose their earnings standing shoulder to shouder with you in the betting pit at the jai-alai fronton, and friends passing in motorcars along the harbor and ocean boulevard who wave and you wave to but cannot recognize at that distance, although they can see the Pilar and you on her flying bridge quite clearly – your feather jig is fishing all the time.” (Hemingway, 1974) p. 683

Để đây, bữa khác sẽ dịch và viết tiếp.

Hạc bay ngang bầu trời

Sau nhiều lần chụp ảnh hư và chụp ảnh hụt, lần này tôi có tấm ảnh hạc xám đang bay tương đối đầy đủ. Không là ảnh rõ nhất, nhưng lại là tấm tôi vừa ý nhất.

Hạc bay trên dòng kênh giữa rặng cây

Lại nhớ câu thơ mở đầu bài kệ Thiền hôm qua

Nhạn quá trường không. Thay chữ nhạn bằng chữ hạc. Con hạc bay ngang bầu trời. Tiếng kêu rơi vào hư không. Không nhìn thấy trong ảnh nhưng trong dòng kênh có bóng nhạn chìm dưới nước

Sắc đỏ rũa màu xanh

Một loại cây hoang trong rừng mọc thành bụi, chưa tìm ra tên. Cây có gai rất nhiều, dài và nhọn. Có hoa nhỏ li ti giống như hoa hồng đăng màu trắng ngà hay vàng nhạt. Trái rất nhỏ, nhỏ hơn một trái nho khô. Trái chín vào mùa thu và còn dính trên cây đến suốt mùa đông. Khi tuyết rơi nhiều, trái màu đỏ in trên nền tuyết trắng rất đẹp.

Mấy hôm trước tôi đăng tấm ảnh này trên Face Book. Vì màu đỏ đi kèm với màu xanh lá cây thật bắt mắt, khiến tôi nhớ đến câu thơ của Xuân Diệu. Nhớ mang máng không chắc giữa từ sắc đỏ với màu xanh là chữ gì. Tôi mở quyển thơ Xuân Diệu thấy câu thơ “Trong vườn sắc đỏ rũa màu xanh.” Không hiểu chữ rũa, xem thử trên mạng thấy có người dùng chữ giũa.

Sau đó có một vài người để lại bình luận. Vì những bình luận này khá dài, nhiều công, sưu tầm, đọc, suy luận, nên tôi lưu lại nơi này, để đọc lại. Và để bạn đọc có dịp bàn thảo.

Đây là bình luận của FB Long Đp.

Xin phép chị Haiha Nguyen được dài dòng một chút:

“ĐI TÌM LỜI GIẢI THÍCH CHO CHỮ “RŨA” TRONG THƠ XUÂN DIỆU.

1. Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn Ngữ Học,G.s Hoàng Phê chủ biên, nhà xuất bản Từ Điển Bách Khoa 2012 không ghi nhận từ “rũa”.

2. Trích đoạn “Phân tích khổ bốn trong Đây mùa thu tới của Xuân Diệu”, chương trình học văn bậc phổ thông trung học Việt Nam: “Một chữ “rũa” thần tình, độc đáo tả chiếc lá thu. Trên cái nền xanh của lá, mỗi ngày đêm thu qua lại xuất hiện những chấm nhỏ màu đỏ, màu hồng, cứ loang dần, lấn dần, tiệm tiến, cho đến buổi thu phân, thu mạt, cả vườn thu đã vàng rực, đỏ rực. Và ta mới hay “Thu đến cây nào chẳng lạ lùng…” (Nguyễn Trãi). Hình ảnh “sắc đỏ rũa màu xanh” gợi tả một nét thu, một sắc thu, cho thấy cách nhìn, cách tả, cách cảm xúc của Xuân Diệu rất nhạy cảm và tinh tế. Mới hôm nào đó, sắc thu chỉ mới như “áo mơ phai dệt lá vàng”, mà nay đã thay đổi ‘Trong vườn sắc đỏ rũa màu xanh”. Chữ “rũa” nhuần nhuỵ và biểu cảm hơn chữ “rủa” mà có một,số người hay nói đến”.

3. Trong bài bình thơ khác ở trang www.gioivan.net, có người giải thích: Điều muốn nói và đáng nói hơn chính là chữ “rũa”. Có người đã hiểu đây là chữ “rữa”. Không phải! Xuân Diệu đâu có diễn tả sự phân huỷ của xác lá. Điều thi nhân muốn diễn tả tinh vi và thanh nhã hơn nhiều: sự phôi pha trên màu lá. Cũng nói về sự chuyển mùa bằng việc chuyển màu trên thảo mộc cỏ cây, Nguyễn Du từng có câu: “Người lên ngựa kẻ chia bào Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san”. Cùng thời với Xuân Diệu, Nguyễn Bính cũng viết: “Ngày qua ngày lại qua ngày Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng”. Sau này, Tố Hữu cũng có những câu tinh tế: “Ve kêu rừng phách đổ vàng Nhớ cô em gái hái măng một mình”.

4. Nguồn: Chu Văn Sơn, Ba đỉnh cao Thơ Mới: Xuân Diệu – Nguyễn Bính – Hàn Mặc Tử, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2003: “Về văn bản, cho đến nay, sách giáo khoa Văn 11 (năm 2002) còn in là “rủa”, điều này cho thấy soạn giả chưa cập nhật về thông tin. Ở đây, chúng tôi theo bản in trong tập Thơ thơ, NXB Đời nay, 1938 và bản in trong Tuyển tập Xuân Diệu (tập 1), NXB Văn học, 1983. Đây là những văn bản sinh thời tự tay Xuân Diệu chăm sóc sửa chữa. Về “lai lịch” của chữ, nhiều người vẫn coi lúc đầu Xuân Diệu viết là “rủa” bởi muốn học theo cách dùng chữ trong thơ Pháp, diễn tả sự xung đột gay gắt của sắc màu. Nhưng về sau, tự nhận thấy chữ “rủa” như thế vừa quá Tây, vừa không được nhã lắm theo mỹ cảm truyền thống, nên thi sĩ đã sửa lại thành “rũa”. Nó vẫn diễn tả được xung đột, vận động, mà lại giàu thi vị hơn. Nếu quả như thế, thì có thể xem từ “rủa” đến “rũa” là một minh chứng rất thuyết phục cho quá trình Việt hoá trong nghệ thuật tu từ của nhà thi sĩ vẫn được xem là “rất Tây” này. Tuy nhiên, gần đây, nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh lại cho biết trong một lần trò chuyện với Xuân Diệu, thi sĩ đã “rất tức” mà nói rằng: chưa bao giờ ông viết là “rủa” cả!”.(Hết trích) Như vậy có nhiều người bình thơ Xuân Diệu, kể cả trong sách giáo khoa cũng đều “mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây” lãng đãng mà không đưa ra lời giải thích rõ ràng cho nghi vấn chữ “rũa”, ngoại trừ ông Chu Văn Sơn (đoạn trích 4.) có thể chấp nhận được, tôi nghĩ vậy.

Đã có một lần trước đây trao đổi suy nghĩ với chị về “Có chuyện độc quyền chữ nghĩa hay không” trong sự kiện nhà văn nữ Đỗ Xuân [sic] Diệu kiện nhà sản xuất New Arena vì dùng từ “Bóng đè” đặt tên cho phim trùng với tên một tác phẩm văn học của mình; hoặc chuyện 2 ông thi sỹ kiện nhau ra tòa vì tranh chấp bản quyền phát kiến hai chữ “phồn sinh”! Như vậy, trong trường hợp này có thể nói “rũa” là “chữ độc quyền” của Xuân Diệu được không? Vì trên mạng tìm kiếm không tìm đâu ra ở đâu, người thứ 2 nào dùng chữ này!”*

Đây là bình luận của ông Tám, FB Lại Gia Định.

“Chữ rũa có định nghĩa trong ít nhất quyển (1) trang 1363 và quyển (2) trang 1540. Chữ rũa thông thường được dùng dạng kép, như rũa nát, mục rũa. Tùy cách phát âm, chữ rũa cũng có thể viết rữa. Câu thơ “trong vườn sắc đỏ rũa màu xanh” của nhà thơ Xuân Diệu có thể hiểu vào mùa thu sắc đỏ của lá làm nhạt nhòa các lá còn màu xanh. Xuân Diệu chỉ cần dùng một chữ, gọn ghẽ và cường điệu.

(1) Từ Điển Tiếng Viết, Ban Biên Soạn Chuyên Từ Điển: New Era, nxb Từ Điển Bách Khoa, 2013.

(2) Từ Điển Từ và Ngữ Việt-Nam, Nguyễn Lân, nxb TP HCM, 2000.”

*Ghi chú của Bà Tám. Có một chữ có lẽ Long Đp viết nhầm. Nếu liên quan đến tác phẩm Bóng Đè thì phải là Đỗ Hoàng Diệu chữ không phải là Đỗ Xuân Diệu.

Đây là bình luận trao đổi giữa FB Đặng Phú Phong và Tàng Thu Các

Dang Phu Phong

Câu thơ này, chữ rũa hay giũa , theo thiển ý chẳng có chi là “tài tình” cả. Chữ rũa chỉ là một từ có vẻ như rất địa phương, âm nó không tròn, thanh của nó vỡ không mềm và không hề thanh lịch. Nghĩa của nó thì có lẽ chỉ ông Xuân Diệu hiểu. (Tôi dân Bình Định nhưng khác quận với ông) Tôi có phone hỏi một vài người cùng thôn Gò Bồi – quê của Xuân Diệu, nhưng họ cũng không hiểu nghiã chữ “rũa” dù họ cũng đã trên 70 tuổi. Xuất xứ chữ “rũa” mơ hồ như vậy chúng ta không hiểu , đoán và gán nghĩa cho nó. Hơn nữa với nhiệm vụ là động từ trong câu, diễn tả sự tranh chấp chỗ hiển lộng giữa màu xanh và đỏ thì nó cũng không phải là chữ đắc địa. Thi sĩ Xuân diệu là một nhà thơ lớn, thơ của ông nhiều bài xứng danh tuyệt tác nhưng không phải tất cả thơ ông đều đáng xưng tụng như thế.

Tang Thu Cac
Dang Phu Phong 
dạ theo thiển ý, chữ “rũa” được dùng trong câu “Trong rừng [sic] sắc đỏ rũa màu xanh” vừa lạ vừa ngộ ngộ. Nếu không nói đến âm sắc của nó khi đọc lên nghe “không hề thanh lịch” thì chữ “rũa” trong câu thơ trên làm cho ta liên tưởng đến câu thơ “Sen tàn nghe rốn tiếng mưa thu” trong Hồng Lâu Mộng. Cả hai chữ “rũa” và “rốn” nếu đứng riêng ra thì quá tầm thường, có khi thô kệch nữa, nhưng rõ ràng được sử dụng vào câu thơ thì đầy đủ tượng thanh và tượng hình một cách thanh bai đáng nể.
Dạ chỉ có ý kiến như vậy, không dám qua mặt nhà thơ 😊

Dang Phu Phong
Đã “rũa” lại” rốn”. Lưu đắc khô hà thính vũ thanh. là câu cuối của bài thơ tứ tuyệt tựa là: Túc Lạc thị đình ký hoài Thôi Ung, Thôi Cổn (Ở đình họ Lạc nhớ Thôi Ung Thôi Cổn) tác giả Lý Thương Ẩn. Hồng Lâu Mộng dịch :” sen tàn nghe rốn tiếng mưa thu” Tôi không biết tiếng Hán nên không biết Tào Tuyết Cần viết như thế nào về câu thơ của ông Lý. Còn câu dịch trong bản tiếng Việt thì lại có chữ ” rốn” và tôi cũng không hiểu chữ rốn trong câu thơ này để diễn tả, ám chỉ, gợi liên tưởng điều chi ( và, cứ theo cách diễn đạt của Tang Thu Cac fhif tôi nghĩ rằng cô cũng không hiểu). Nếu hiểu chữ ”rốn” theo nghĩa đen là cái rốn hay chỗ quan trọng nhất thì nó không có nghĩa gì cho/ trong câu thơ cả. Trong thơ mà không hiểu hết nghĩa của chữ, câu mà cứ nhắm mắt khen hay là điều không hay chút nào. Nó khác với nhạc. Kiểu như nhạc TCS, đã mấy ai hiểu hết ca từ của ông ta nhiều khi nó như những câu thần chú nhưng chúng ta có thể khen hay vì ta chỉ nghe diễn tấu của âm thanh, nhạc tính; kể cả việc ta có thể tạo ra ý tưởng , triết lý không có trong lời nhạc. Cũng được. Nhưng, thơ không thể như vậy! Tôi e rằng cứ khen hay một câu thơ , một bài thơ thì sẽ tạo ra cảnh bầy đàn, văn chương sẽ càng ngày càng xuống dốc chăng? Những ý kiến của tôi nếu nghe không thuận tai thì xin TTC bỏ qua nhé.


Đoạn này là của tôi, Bà Tám, xin tạm thời chấm dứt phần bàn luận chung quanh chữ “rũa” của Xuân Diệu. Trong trường hợp chữ “rũa” này, tôi xin được làm người dựa cột đứng nghe. Cám ơn quí vị đã cất công và thời gian để góp ý. Tôi được học hỏi thêm một chữ thú vị. Lập lại ý của một nhà văn nổi tiếng, nhưng bây giờ tôi không nhớ chắc chắn tên, là khi nhà thơ viết ra một câu thơ, thì lúc ấy chỉ có nhà thơ và trời hiểu. Sau khi viết ra rồi, thì có lẽ chỉ có trời hiểu thôi. Tôi đoán vì nhà thơ cũng quên mất là ông có ý gì.

Đăng thêm, ngày 18 tháng Chín năm 2020

FB Dũng Nobita:

Chữ “rũa” của Xuân Diệu còn tốn giấy mực nhiều. Nhưng hiểu “rũa” là “rữa” (trong rữa nát) e không đúng. Vì trong một bài thơ khác XD đã [biết] dùng chữ “rữa” đúng với cách hiểu của đại chúng:” Cho em hút những chút hồn đã rữa/ Cho em chuyền hơi độc rất tê ngon.”

FB Phạm Ngọc Hiệp

Chữ “rũa” trong câu “Trong vườn sắc đỏ rũa màu xanh” nếu viết đúng như thế kể ra khá bí hiểm. Tôi thử tra nhanh thấy ít nhất trong 4 quyển từ điển có chữ “rũa”. Hai quyển Từ điển tiếng Việt của Văn Tân chủ biên (1967), và Hoàng Phê chủ biên (1994), và quyển Tự điển Việt Nam của Lê Văn Đức (Sài Gòn 1970), đều ghi “rũa” có nghĩa là “rữa”. Xem ra nghĩa này không liên quan tới câu thơ trên. Riêng có Từ điển Việt Nam phổ thông của Đào Văn Tập (Sài Gòn 1951), thì “rũa” ngoài nghĩa là “rữa ra”, còn có nghĩa là “tách rời ra”, xem ra nghĩa này có thể dùng được, phải chăng ý nhà thơ muốn nói trong vườn hai màu đỏ và xanh tách rời nhau ra, sắc đỏ ở đây có thể là sắc của hoa hay trái chín, màu xanh ở đây là màu của lá?

Như tấm hình cô Tám đưa lên.

Tôi ghi lại cả hai câu thơ trong bài Đây mùa thu tới sẽ dễ hiểu hơn:
Hơn một loài hoa đã rụng cành
Trong vườn sắc đỏ rũa màu xanh
Như vậy ta có thể thấy nhà thơ Xuân Diệu đã tả lại cảnh trong vườn khi mùa thu đến, có loài hoa đã lìa cành, sắc đỏ của hoa đã tách rời khỏi màu xanh của cành lá.

FB LanThu:

Lan Thu

Em người Bình Định, không có nhiều kiến thức văn học để dẫn chứng, phân tích cụ thể như các anh chị. Nhưng em hình dung được cảnh mùa thu qua chữ “rũa” trong thơ XD, và em đã nghĩ nó rất tài tình. Rũa là khẩu ngữ và cũng có thể là phương ngữ của quê em, nhưng có lẽ rất ít được dùng đến nên không nhiều người hiểu. Riêng em được nghe một lần từ ngoại, khi bà còn sống. Đó là lần em vô ý ngâm chung chiếc áo bị phai màu ra các quần áo khác. Bà nói ” Màu rũa ra hết rồi!”. Rũa của ngoại chỉ sự lem màu từ vật này sang vật khác. Vậy nên, em hiểu XD đang diễn tả sắc đỏ của mùa thu đang loang dần trên những chiếc lá xanh. Rất tuyệt!

Ảnh trầm hàn thủy

Nhân có bạn đọc Tú Nghi đi ngang, chỉ cho biết bài thơ. Bài thơ hay quá, nên xin lưu lại nơi đây. Sẵn có tấm ảnh mới chụp bóng con hạc bay ngang mặt hồ nên dùng làm minh họa.

Bóng hạc xám in đáy nước
 Nhạn quá trường không,        
    鴈 過 長 空
    Ảnh trầm hàn thủy                     
    影 沉 寒 水
   Nhạn vô di tích chi ý                  
   鴈 無 遺 跡 之 意
   Thủy vô lưu ảnh chi tâm            
   水 無 留 影 之 心

    Thượng Tọa Thanh Từ dịch nghĩa:
    Nhạn bay trên không
    Bóng chìm đáy nước
    Nhạn không có ý để dấu
    Nước không có tâm lưu bóng.

Tác giả: “bài kệ của Thiền Sư Nghĩa Hoài Thiên Y. Cũng có ý kiến cho rằng bài  thơ này là của Thiền Sư Hương Hải.” Trích dẫn từ bài tiểu luận của Nguyên Giác Phan Tấn Hải. Link.

Sông dài cánh nhạn bay qua
Vô tình để bóng nhạn sa xuống dòng 
Dòng sâu, sông lạnh nào mong
Nhạn in dấu vết vào lòng nước xanh 

 Sư Ông Viên Minh dịch.  FB Nam Vu gửi 
Nhạn vút qua không
Bóng chìm nước lạnh
Để dấu: nhạn không có ý
Giữ bóng: nước cũng vô tâm
Võ Đình dịch.  Trích từ Blog Suiseke.  FB Võ Tấn Phát gửi link.
“Nhạn bay trên không,
Ảnh chìm nước lạnh;
Nhạn không để ý bóng,
Nước chẳng lưu tâm hình.”
Chinhan100 gửi comment.

Bản mặt trời

Mặt trời lúc 8 giờ sáng giảm ánh sáng (cho đỡ chói mắt) bằng photoshop
Hug me, mother of noise. 
Find me a hiding place. 
I am afraid of my voice. 
I do not like my face.

Ôm chặt tôi, mẹ của tiếng ồn ào
Tìm cho tôi một chỗ ẩn núp
Tôi sợ cả giọng nói của tôi
Bản mặt của tôi cũng đáng ghét

Television - Anne Stevenson