Bella Ciao

Đây là một bài hát tôi tình cờ nghe được trong một cuốn phim. Mặc dù tôi chỉ mới xem phim này rất gần đây, nhưng tôi không còn nhớ nó ở phim nào. Chỉ nhớ là phim không có gì xuất sắc, ngoại trừ bản nhạc này nghe nhiều lần trong phim, có khi là giọng nữ, có khi giọng nam, khi rất chậm, khi bình thường. Bên cạnh cái giai điệu ngọt ngào, giọng hát của ai đó hát theo cách opera thật là “haunting” (quyến rũ đến ám ảnh, ma quái) Tôi không hiểu hết bài hát, vì nghe không rõ, chỉ nhớ có mấy chữ Bella Ciao. Tiếng Ý, Bella là người đẹp. Ciao là lời chào giã biệt. Tôi tìm được bài hát này ở thư viện địa phương, trong đĩa nhạc Songs of Resistance 1942 – 2018 và thật bất ngờ vì lời của bài hát thật hay, đầy tình cảm, rất mơ mộng. Tôi nhìn thấy trong lời ca, hình ảnh một chàng trai lãng mạn, và một cô gái ở làng quê. Anh chàng đi theo quân kháng chiến đến từ giả cô nàng. Lời ca là cuộc đối thoại của hai người với nhau. Dù cô gái gọi anh chàng là phát xít nhưng tôi nghĩ đây là một người kháng chiến địa phương, thậm chí có thể chống lại phát xít. Có thể tôi sai, nhưng tôi là người nghe, muốn hiểu thế nào thì hiểu. Partigiano dịch sang tiếng Anh là partisan. Partisan có nghĩa là người kháng chiến.

Bella Ciao
Italian traditional; Arranged by Marc Ribot & Tom Waits; Translated by Marc Ribot

One fine morning / woke up early
Bella ciao, bella ciao, goodbye beautiful
One fine morning / woke up early
To find a fascist at my door

Một buổi sáng đẹp trời / thức dậy sớm
Bella ciao, bella ciao, giã từ người xinh đẹp
Một buổi sáng đẹp trời / thức dậy sớm
Thấy một tên phát xít ở ngoài cửa

Oh partigiano, please take me with you
Bella ciao, bella ciao, goodbye beautiful
Oh partigiano, please take me with you
I am not afraid now anymore

Ồ partigiano cho em đi với anh
Bella ciao, bella ciao, giã từ người xinh đẹp
Ồ partigiano cho em đi với anh
Giờ đây em không còn sợ hãi nữa

And if I die a partigiano
Bella ciao, bella ciao, goodbye beautiful
Please bury me up on that mountain
In the shadow of a flower

Và nếu anh có chết làm kẻ partigiano
Bella ciao, bella ciao, giã từ người xinh đẹp
Hãy chôn anh trên ngọn núi kia
Dưới bóng của một đóa hoa

So all the people, people passing
Bella ciao, bella ciao, goodbye beautiful
All the people, people passing
Can say: what a beautiful flower

Để cho tất cả mọi người, những người đi ngang qua
Bella ciao, bella ciao, giã từ người xinh đẹp
Tất cả mọi người, những người đi ngang qua
Có thể nói rằng: đóa hoa đẹp làm sao

This is the flower / of the partisan
Bella ciao, bella ciao, goodbye beautiful
This is the flower / of the partisan
Who died for freedom

Đây là đóa hoa / của người partisan
Bella ciao, bella ciao, giã từ người xinh đẹp
Đây là đóa hoa / của người partisan
Kẻ đã chết vì tự do

Mất mèo

Nó biến mất đã mười ngày. Ngày thứ Bảy tuần trước trời có tuyết lất phất. Nó đứng ở cửa sau kêu nghêu ngao um sùm. Tôi mở cửa ra vuốt ve nó một hồi, muốn ôm nó vào nhà nhưng nó chạy tuột đi. Dạo sau này tôi nắm chùm da ở cổ nó nhấc bổng nó lên để nó không thể dùng móng chân bấu xuống đất, trì lại. Rồi ôm nó vào lòng ủ cho nó ấm, chưa đầy một phút là nó kêu lên một tiếng rất áo não, khiến tôi động lòng phải thả nó ra. Tôi cho nó ăn thức ăn mềm, nhưng loại mới mua không có mùi cá hồi quen thuộc nên nó không muốn ăn. Buổi tối hôm đó, trời ngưng tuyết, thức ăn khô vẫn còn, nhưng nó vẫn đến đứng trước cửa kêu, như muốn đòi vào. Tôi mở cửa ra mời nó vào nhưng nó lại bỏ đi. Tôi vuốt đầu nó như thường lệ rồi quay vào đóng cửa.

Mấy hôm sau tôi vẫn để thức ăn cho bọn chúng nó nhưng không để ý vì mải mê xem phim. Rồi tôi nhận ra đã ba bốn hôm tôi không nghe nó kêu ở ngoài cửa, cũng không thấy nó nhảy lên cái máy lạnh ngồi ngó vào cửa sổ. Con mèo này khôn và khá dạn dĩ, bỗng dưng không thấy nó đến, tôi để ý ngóng tìm. Trời khá ấm nên tôi đi rừng thường hơn. Buổi chiều về thấy con mèo xám và con mèo đen chờ được cho ăn. Buổi sáng sớm cũng thấy con mèo đen và con mèo xám, nhưng không thấy nó. Nó là con mèo vàng sọc nâu. Tôi đặt cho nó là con mèo Anh, nhưng lúc sau này ông Tám gọi nó là con mèo Con, để phân biệt với con mèo Mẹ, Củ Gừng hay Ginger.

Ginger, đầu mùa Xuân năm 2018, tha đến sân sau nhà tôi năm con mèo sọc vàng, mẹ và con giống nhau y hệt. Tuy vậy nhìn lâu tôi có thể phân biệt chúng nhờ vào sọc và những đốm đặc biệt. Ba con lớn nhất, mạnh nhất, thân thiện nhất, và đẹp nhất Trung Tâm Kiểm Soát thú hoang, mang về cơ quan để cho người ta nuôi. Hai con mèo nhỏ hơn, khờ hơn, ít đẹp hơn, sau khi chích thuốc ngừa và triệt sản người ta thả chúng trở lại cánh rừng sau nhà tôi. Hai con chơi với nhau rất vui, cắn vật, rượt đuổi, đi đâu cũng hai đứa với nhau. Khi mèo Em biến mất, mèo Anh buồn thấy rõ. Về sau nó kết thân với ông Mun Inky thấy cũng đỡ lẻ loi.

Mèo Anh và mèo Em. Mèo em có đốm nâu, mèo Anh có sọc nâu và cổ có đốm trắng.

Tháng Ba (2019) tôi đi xa một tháng, nhờ cậu bé bên cạnh nhà mỗi ngày cho mèo ăn. Khi về thấy mấy con mèo, mèo Mun, mèo Mẹ, mèo Anh vẫn khỏe mạnh, béo tốt. Tuy vậy con mèo Em biến mất. Vì không còn mèo Em, nên lẽ ra phải gọi là mèo Con nhưng tôi quen gọi nó là mèo Anh. Buổi sáng sau ngày tôi về, mở cửa sân sau thấy mèo Mun và mèo Anh đã chờ ăn. Mèo Anh chạy đến kêu rất to, vẻ vừa mừng rỡ lại vừa sợ hãi. Tôi không biết nó sợ gì, có con gì bắt mất mèo Em? Tôi vẫn nhủ thầm con mèo Em rất thân thiện, thường hay dựa sát vào người tôi mỗi lúc tôi cho chúng ăn. Có lẽ có người nào đó bắt nó đem về nuôi.

Không biết đám mèo hoang này sống ở đâu, ngủ ở đâu. Chúng chỉ đến ăn rồi sau đó biến đi đâu mất. Mùa đông, chúng vẫn sống sót sau những ngày tuyết rơi, và đêm thì xuống đến độ âm. Mèo Anh tôi bắt gặp nhiều lần nó nằm trên đống lá khô lim dim ngủ mặc cho tuyết rơi lả tả trên đầu. Nhiều lần tôi dụ nó vào nhà, nhưng nó chỉ vào đến bậc cửa, đứng nửa trong nửa ngoài và sau đó tháo lui, bỏ chạy. Mèo Anh là con mèo duy nhất Nora kết bạn thân thiện. Hễ biết mèo Anh bên ngoài là Nora đòi ra ngoài. Hai con mèo, một nàng già (mèo 11 tuổi tương đương người 60 tuổi) một chàng trẻ (mèo chừng hai tuổi, tương đương người 25 tuổi) đón chào nhau bằng cách cọ cổ, ngoắt đuôi, ngửi nhau. Cho đến khi mèo Anh hăng hái quá thì Nora dùng chân trước đánh nhẹ vào đầu hắn, hoặc đẩy nhẹ ra. Và dường như mèo Anh nhường nhịn (hay sợ hãi) tất cả mấy con mèo khác, như mèo Mẹ, mèo Mun, mèo Xám, và mèo Mập. Mỗi lần bị mèo Xám tranh ăn, mèo Anh ngồi tránh sang một bên, kêu than nhưng không dám đánh lại.

Mèo Xám, cứ mỗi lần nhìn con mèo này, vẻ bẽn lẽn duyên dáng của nó thường làm tôi nghĩ đến mấy nhân vật mèo trong vở nhạc kịch Cats.
Mèo Mun, bây giờ là con mèo hoang đến ăn lâu năm nhất. Từ lúc nó xuất hiện, con mèo Boyfriend biến mất. Tôi tưởng Boyfriend đã chết nhưng rất lâu về sau, mấy tháng hay một năm lại thấy nó đi ngang, đứng nhìn thoáng qua rồi tiếp tục đi lên đồi.
Mèo Mẹ Ginger đẻ hai lứa đều mang đến sân sau nhà tôi. Tất cả mấy con mèo hoang đều ngán sợ mèo Mẹ. Hễ mèo Mẹ đến là nàng được ăn trước, các con mèo kia đều phải ngồi chờ nó ăn xong rồi bỏ đi thì mới được ăn.
Mèo Mập có lẽ là bố của mèo Anh và mèo Em

Mèo Xám chỉ mới đến ăn hồi tháng 11 sau khi tôi đi xa nguyên tháng 10 vẫn nhờ chú bé láng giềng cho mèo ăn. Từ một hai tháng nay thỉnh thoảng có con mèo sọc vàng mặt có vân trắng, giống như một trong ba con mèo Trung Tâm Kiểm Soát Thú Hoang mang về cơ quan, và một con mèo trắng đen, có đốm đen ở mũi trông giống như anh hề Charlot, đến ngồi ngó ở phía xa.

Hôm kia, đang ngồi ở bàn viết, tôi nghe tiếng mèo kêu ở cửa sau, mở cửa ra thì thấy cái mình màu vàng sọc nâu vừa biến mất xuống cái deck. Vì nhìn phía sau tôi không dám chắc đó là mèo Anh hay Ginger. Ginger thì không bao giờ kêu thành tiếng, chỉ có mèo Anh là kêu to thôi. Mèo Anh thì không chạy trốn tôi như vậy. Nó luôn luôn đến đưa đầu cho tôi xoa để được ăn. Tôi vội vàng mang thức ăn mềm có mùi cá hồi ra để sân sau với hy vọng nếu đó là mèo Anh thì nó sẽ quay trở lại ăn. Chập sau tôi nhìn từ cửa sổ thì thấy đó là con mèo lạ, mặt có vằn trắng gần giống như con mèo này.

mèo này đã cho Trung Tâm Kiểm Soát thú hoang

Tôi lo sợ có gì không hay xảy đến với con mèo Anh. Dạo sau này có con cáo hay lẩn quẩn chung quanh, và báo đăng loại chó rừng coyotes thường về săn vào ban đêm. Mèo Anh khá to nên chồn cáo muốn bắt nó thì không dễ. Coyotes thì không thể leo cây như mèo. Mà mèo Anh thì leo cả lên mái nhà của cái shed giống như con mèo Xám leo lên hôm kia.

Mèo xám leo lên nóc của cái shed, mèo Anh trước kia cũng làm như thế

Tôi thích cho mấy con mèo hoang ăn ngon. Giáng sinh, New Year, Tết, tôi đều cho bọn mèo hoang ăn một bữa ăn đặc biệt là thức ăn mềm. Thức ăn bằng hạt thì cho ăn nhiều mỗi ngày, no đến độ còn thừa cho opossums hay raccoons ăn. Tôi thích nhìn mấy con mèo ăn ngấu nghiến, vừa ăn vừa gầm gừ với đồng bọn vì sợ bị tranh ăn. Mỗi lần cho ăn ngon là tôi phải ngồi để canh cho Mèo Anh ăn gần hết mới vào nhà, vì nó không bao giờ biết chống trả mỗi khi mấy con mèo kia giành thức ăn của nó, sau khi ăn hết phần của bọn chúng.

Nếu tôi biết số phận của mèo Anh ngắn ngủi đến thế tôi đã bắt nó mang vào nhà mặc cho nó chống cự và kêu la suốt đêm. Thế là mấy ngày nay tôi cứ tự trách mình đã chẳng quả quyết hơn một chút để giữ mạng sống của nó lâu dài hơn. Nó chẳng là gì của mình, vậy mà sao tôi cứ nghe lòng mình thổn thức như vừa đánh mất một cái gì mà tôi yêu quí lắm.

Vườn đền Heian Jingu

Heian Jingu là đền thờ Thần Giáo (Shinto Shrine), được phong tặng danh hiệu “Tài sản Văn hóa Quan trọng” của Nhật Bản. Theo Wikipedia, kiến trúc đền Heian lập lại theo khuôn mẫu của Chodo-in, hoàng cung thời cổ xưa.

Heian torii là cổng đền mới nhất và lớn nhất Kyoto
Outen-mon, cổng ngoài của Heian Jingu. Đây là kiểu kiến trúc nijumon, cổng có hai tầng mái và có lan can ở tầng thứ hai
Gian giữa, cũng là tòa nhà chính của đền Heian, mô phỏng theo Kyoto Imperial Palace (hoàng cung Kyoto)

Heian Jingu được xây cất vào năm 1895 để kỷ niệm 1100 năm thành lập Kyoto, tưởng niệm hoàng đế Kammu, vị hoàng đế đầu tiên của Kyoto (năm 794) và hoàng đế Komei (1831-1867) phụ hoàng của Meiji Emperor (Minh Trị Thiên Hoàng). Dự định sẽ xây cất đền theo kích thước Chyodo-in nhưng vì sơ sót mua không đủ đất để xây cất nên đền Heian chỉ được 5/8 chiều dài kích thước ban đầu. Đây là kiến trúc chịu ảnh hưởng bởi quan niệm thẩm mỹ của Trung quốc, điển hình là mái ngói xanh, rường cột sơn màu đỏ, và tường trắng. Kiến trúc của Thần Giáo thời cổ xưa ảnh hưởng quan niệm thiền màu sắc giản dị hơn. Kiến trúc sư của Heian Jingu là Ito Chuta. Năm 1976, đền và các tòa nhà chung quanh đều bị cháy rụi. Chùa được xây cất lại bằng tiền thập phương cúng dường. Vào xem chùa thì miễn phí nhưng để xem vườn của đền Heian, du khách sẽ trả một lệ phí tượng trưng.

Vườn của đền Heian bao gồm bốn vườn nhỏ bao chung quanh đền ở các hướng Nam, Tây, chính giữa, và Đông. Vườn do Ogawa Jihei (1860-1933) thiết kế. Điểm nổi bật nhất của khu vườn này là hồ Byakko-ike có khoảng hai ngàn cả cây lẫn hoa, gồm hai trăm loại khác nhau.

Hồ Soryu-ike ở vườn chính giữa. Trong hồ có một con đường làm bằng những cây cột/trụ bằng đá lấy từ những trụ cột còn thừa của hai cây cầu nổi tiếng trong Kyoto, đó là cầu Sanjo Ohashi và Gojo Ohashi. Con đường trụ đá này có tên là Garyu-kyo có nghĩa là đuôi rồng.

Ông Tám đang cưỡi đuôi rồng. Phông nền là quán trà. Chúng tôi ghé quán gọi bánh và trà xanh. Quen uống trà khô của Tàu nên trà xanh hơi lạ miệng. Nó không chát như trà Tàu nhưng sau khi nuốt cũng không có cái hậu ngọt.
Món này của tôi, bánh đậu đỏ khá ngon.
Không nhớ vị của món này, hình như là món mặn

Tôi đến nơi này hơi muộn. Trước đó vài ngày có lễ hội Jidai Matsuuri rất quan trọng. Đây là đền thờ rất được nhiều người đến xem. Các bậc cha mẹ đến đây để cầu những điều tốt đẹp cho con cháu vào lúc 3, 5, hay 7 tuổi. Đôi lứa hôn nhân đến đây để cầu được hạnh phúc.

Soryuro – Castle in the corner dùng cái tên đăng ở Wikipedia nhưng ảnh là của tôi chụp. Ảnh không được sắc nét, tại chụp dở.

Đi bộ trong rừng mùa đông

Con đường phủ tuyết có vẻ như chạy vào vô tận. Lũ chim rừng lầm tưởng mùa xuân nên hót ríu rít bên này bên kia.
Mới một giờ trưa mà nắng nghiêng nghiêng như bốn giờ chiều. Tôi thích nhìn con đường chạy hun hút, đưa mùa đông về tận phố quận bên kia.
Không phải chỉ có ông Tám và tôi đi rừng mùa đông. Bên kia đồi cũng có một người đang hưởng thụ không khí tĩnh mịch.
Giữa một rừng cây dầy đặc nhưng không cao lắm, cây này đứng sừng sững vượt hẳn các cây rừng chung quanh.

Nhìn thì có vẻ lạnh lẽo nhưng thật ra hôm qua, đêm Giao Thừa, trời khá ấm. Nhiệt độ trong ngày, lúc tôi lái xe vào nhà để xe, lên đến 50 độ F. tương đương với 10 độ C. quá lý tưởng cho một ngày giữa mùa đông miền Đông Bắc nước Mỹ, đáng lẽ phải gió vi vu và chừng 9 hay 10 độ F.

Bây giờ, gần giờ Ngọ của ngày mồng một Tết. Trời đang mưa, vẫn còn là cái ấm của mùa Đông. Mùa đông, cái quạnh quẽ của người này, là sự tĩnh mịch của người khác. Tùy theo bạn, mùa đông có cái trầm lắng của một bài kinh cầu, hay cái thổn thức của một tiếng than.

Chuyện chiếc cầu đã gãy

Hôm trước tôi kể câu chuyện giòng sông, gợi sự tò mò, và trêu ghẹo sự hiểu biết văn học thế giới của bạn đọc bằng cái tựa đề trước đây dùng cho quyển truyện của Herman Hesse. Hôm nay, cũng dùng tựa đề một bản nhạc Việt để nói về cây cầu Uji của Nhật Bản.

Cầu Uji

Cầu Uji nguyên thủy được xây vào năm 646 do nhà sư Doho của chùa Phật Giáo Gangouji Temple ở Nara.  Cây cầu hiện nay được hoàn tất vào tháng Ba năm 1996.  Tương truyền rằng Toyotomi Hideyoshi đã lấy nước sông này để nấu trà.  Toyotomi Hideyoshi (1537-1598) là một lãnh chúa địa phương, có công hàng thứ nhì trong việc thống nhất Nhật Bản.  Ông rất yêu thích trà đạo cũng như kịch Noh.  Đã từng học thuộc những đoạn kịch và tự biểu diễn cho vua xem.  Cầu Uji bị gãy nhiều lần, không phải tự nhiên gãy mà do bị phá hoại trong chiến tranh.

Thành phố Uji nằm về phía Nam Kyoto, từ nhà ga Kyoto đến Uji chừng hai mươi phút xe lửa. Nổi tiếng có trà xanh rất ngon, Uji còn là bối cảnh trong mười chương cuối cùng của quyển “The Tale of Genji” (Câu chuyện về Hoàng tử Genji). Đây là quyển truyện rất quan trọng trong nền văn học Nhật Bản, như truyện Kiều trong văn học Việt Nam. Tương truyền, “The Tale of Genji” là quyển tiểu thuyết đầu tiên và tác giả của nó, Lady Murasaki Shikibu là nhà văn đầu tiên cũng là nhà văn nữ đầu tiên của thế giới. Genji là một hoàng tử rất tuấn tú, đẹp đến độ như phát ra ánh sáng, khiến người ta gọi ông là the Shining Prince. Tác giả Murasaki Shikibu là một phụ nữ thuộc dòng quí tộc, không phải chỉ là tì nữ mà là Lady-in-Waiting, cận kề với hoàng hậu và còn được tham gia lễ nghi ở triều đình. Quyển truyện được hoàn thành vào khoảng 1019 giữa thời kỳ Heian (794-1185).

Tượng của Lady Murasaki Shikibu. Phía sau là cầu Uji. Ảnh chụp từ hướng bên Byodoin Temple (Nara) nhìn về hướng UJi shrine (Kyoto)

Vào thời kỳ Heian, giao thông còn giới hạn, ít đường và cầu. Cầu Uji giữ một vị trí chiến lược quan trọng nối liền Nara và Kyoto. Cầu bị phá hủy lần đầu tiên vào đầu thập niên 1180, mở đầu cho cuộc chiến tranh Genpei, trong trận đánh cầu Uji lần thứ nhất.

Hoàng tử Mochihito, dòng dõi Minamoto, có hy vọng được truyền ngôi hoàng đế, bị kẻ địch thuộc dòng họ Taira rượt đuổi ráo riết, túng thế ông chạy đến chùa Mii-dera ở ngoại ô Kyoto. Rủi ro cho ông, có một số ít sư đánh trận của chùa (warrior monks) này lại ủng hộ phái Taira. Lực lượng phái Minamoto bị số nhà sư theo Taira ngăn chận, nên không đến kịp để cứu viện. Hoàng tử, cùng với Minamoto no Yorimasa (samurai quân sư thân tín) và khoảng 1500 quân lính chạy về hướng Nara, qua khỏi cầu Uji, gần chùa Byodo-in, thì ra lệnh tháo gở tất cả gỗ lót cầu, với hy vọng chận đứng quân Taira.

Quân Taira tìm chỗ cạn vượt sông. Đứng đầu lực lượng Taira có một vị tướng trẻ, Ashikaga Tadatsuna, tuy thuộc dòng Minamoto nhưng lại chiến đấu rất trung thành với dòng họ Taira. Tương truyền Tadatsuna có sức mạnh bằng 100 người nhưng vị dũng tướng này cùng với cha bị một người cận vệ phản bội giết chết. Dưới sự lãnh đạo của vị tướng trẻ này, quân Taira tấn công ráo riết.

Yorimasa cố gắng cứu hoàng tử nhưng ông bị một mũi tên bắn trúng cùi chỏ. Trong khi hai con trai của ông chiến đấu trong tuyệt vọng để bảo vệ cha và hoàng tử, Yorimasa tự tử bằng seppuku (tự mổ bụng là cái chết can đảm để giữ thanh danh). Hoàng tử Mochihito bị quân Taira bắt và giết chết.

Lần thứ hai, vào năm 1184, cầu lại bị phá hủy. Minamoto no Yoshinaka, vì ghen tị chức lãnh đạo với Yoritomo và Yoshitsune, đã mang quân vào Kyoto đốt hoàng cung và bắt cóc hoàng đế Go-Shirakawa. Lần này không phải quân Taira mà chính dòng họ Minamoto rượt đuổi theo. Yoshinaka cho tháo gỗ lót cầu, Yoshitsune cỡi ngựa vượt sông và sau đó đánh bại Yoshinaka.

Năm 1221, trận đánh cầu Uji xảy ra lần thứ ba. Đây là trận chiến quyết định giữa một vị shogun Hojo Yoshitoki muốn lật đổ hoàng đế Go-Toba. Lực lượng bafuku của Shogun không chỉ tấn công cầu Uji mà dàn quân dọc theo sông Uji. Quân hoàng đế cầm cự khá lâu nhưng cuối cùng cũng bị thua.

Sông Uji là con sông rất đẹp, chi nhánh này bắt nguồn từ hồ Biwa. Cũng như sông Kamo ở giữa Kyoto, sông Uji có nhiều chỗ khá cạn, nước rất trong và dọc theo bờ sông có rất nhiều chim cò. Đứng từ cầu Uji nhìn về hướng Tây thấy cầu dành riêng cho xe lửa tuyến đường Kyoto-Nara.

Nhìn về hướng Đông bạn sẽ thấy Tachibana, một hòn đảo nhỏ xinh xắn. Ở trên hòn đảo này có một công viên nhỏ. Ở một đầu của đảo, hướng gần cầu Uji, là cầu Tachibana nối liền địa phận chùa Byodo-in với đảo.

Qua khỏi cầu Tachibana, quẹo sang tay phải là cầu Asagiri màu đỏ nối liền đảo với địa phận dẫn đến Uji shrine, Ujikami Shrine và viện bảo tàng “The Tale of Genji.” Số tôi xui nên đến vào lúc viện bảo tàng này đóng cửa nguyên một tháng.

Cầu Asagiri. Ở gần chân cầu là tháp stupa bằng đá có 13 tầng.

Đi đến gần cuối đảo du khách sẽ gặp thêm một cái cầu nữa cũng màu đỏ tên là cầu Kisen. Cầu này nối liền đảo với con phố có quán trà và nhà hàng dọc theo bờ sông. Nơi đây cũng là bến thuyền câu cá ban đêm bằng loài chim săn cá cormorant. Cách săn cá này rất phổ biến ở Trung quốc và một vài quốc gia khác như Hy-lạp, North Macedonia, và cả Anh Pháp. Người ta đốt lửa trên thuyền để soi sáng. Chim cormorant bị bắt đeo khoen cổ, vẫn đủ rộng rãi để chim thở được nhưng không thể nuốt cá được do đó phải nhả cá ra cho ông chài. Cuối buổi săn thì cormorant sẽ được thưởng cá. Đốm lửa đốt trên thuyền chài đã làm tôi nghĩ đến câu thơ, “giang phong ngư hỏa đối sầu miên” dù vẫn biết có thể ngư hỏa đây mang nghĩa khác. Tức cái là không biết đọc chữ Hán để có thể hiểu nhiều hơn. Tưởng chuyện săn cá bằng chim chỉ là cổ tích hay bịa đặt trong phim ảnh để thu hút người xem, té ra có thật.

Cầu Kisen
Bến thuyền dưới chân cầu Kisen. Đây là những chiếc thuyền chở du khách thưởng ngoạn phong cảnh. Thuyền dung để đi săn cá bằng chim cormorant cũng giống như thuyền này nhưng không có mui. Trên bờ bên trái là quán trà và nhà hàng.

Từ chỗ này nhìn xuống bến thuyền, trên bờ có liễu rũ, tưởng tượng mùa xuân ắt đẹp lắm với hoa đào mọc rải rác khắp nơi. Tôi đến lúc mới chớm đổi màu lá thu nên không lộng lẫy lắm, nhưng cảnh thuyền trên sông vẫn đủ làm tôi nghĩ đến một bài thơ Đường trong đó có câu “dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.” Và trước đó đã thầm nghĩ sao thơ mộng giống “Cô Tô thành ngoại Hàn San Tự” trong óc tưởng tượng của mình quá vậy. Thì đó cách chùa Phật giáo Byodo-in có vài quảng đường chứ mấy. Chùa có cái đại hồng chung nhưng không được dùng mà bị cất vào viện bảo tàng. Núi Mt. Buttoku cũng gần đó ở bên kia bờ sông. Đi bắt cá dùng chim cormorant tôi tưởng chỉ có trong tiểu thuyết hay phim ảnh giả bộ cho đẹp thôi ai dè có thiệt. Tôi thấy cái chuồng nhốt mấy chục con chim ở ngay gần cầu Kisen.

Tháp đá Eison

Đây là tháp bằng đá mười ba tầng cao nhất Nhật Bản do Eison, nhà sư chùa Saidaiji Temple, xây từ năm 1286.  Tuân hành pháp giới không sát sinh, Eison đem chôn tất cả dụng cụ đánh cá và từ chỗ chôn này ông xây tháp để cầu nguyện cho sinh linh bị sát hại trong đó có loài cá và cũng để cầu nguyện cho người qua lại cây cầu được an toàn.

Vậy đó, một chiếc cầu đã gãy cho thấy những điều bí ẩn trong lịch sử Nhật Bản. Một quốc gia chưa từng bị nước ngoài đô hộ, nhưng lịch sử họ triền miên những cuộc nội chiến. Một giòng sông nước trong tinh khiết cũng là con sông đẫm máu qua nhiều triều đại. Cuộc chiến giữa dòng họ Taira và Minamoto được ghi lại qua nhiều vở kịch kabuki và Noh. Bạn nào thích xem phim Nhật có lẽ đã biết Kwaidan, nói về sự tích nhà sư mù Hoichi bị mất một lỗ tai. Bởi vì hồn ma của hai dòng họ tử chiến trên sông Uji thích nghe tiếng đàn của Hoichi đến độ họ muốn bắt Hoichi về cõi âm. Hòa thượng thầy của Hoichi viết kinh Bát Nhã che lấp hết thân thể Hoichi nhưng còn sót lại cái lỗ tai chưa được che bằng kinh Bát Nhã. Các hồn ma nắm tai lôi kéo Hoichi đi đến độ bứt đứt lỗ tai. Trong trận chiến đó, một vị phu nhân đã bế hoàng tử chừng 2 hay 3 tuổi nhảy xuống sông tự tử. Không phải sông Uji này đâu, mà là Shimonoseki Strait ở gần mũi phía Nam của đảo Honshu.

Thời gian bôi xóa hết những dấu vết đẫm máu của một chiếc cầu đã gãy. Ba lần.

Đan áo mùa xuân


Mời bạn nghe một bài hát tôi thích. Tác giả: Phạm Thế Mỹ. Ca sĩ: Lệ Thu.

Ϲứ mỗi lần hoa mai νàng trước ngõ
Là thôi em mong nhớ xuân nàу chàng có νề
Hỏi hoa hoa chẳng nói, hỏi mâу mâу lặng đứng
Hỏi gió gió ngập ngừng, hỏi nắng nắng ngại ngùng.

Ϲhim mách rằng anh đang ngoài chiến tuуến
Người уêu thaу taу súng, gối mộng là lá rừng
Vì quê hương còn khổ, tình уêu xin để đó
Cho xác chết ngậm cười, cho nước mắt thôi rơi.

Nhớ xuân sang năm nào,
Bên bếρ lửa νui, ngồi đan áo cho anh
Đôi mắt anh dịu buồn, nói anh sẽ νề
Khi máu xương thôi ngừng rơi.

Để giờ mình em νà manh áo xám trên môi
Dù rằng ngoài kia νang tiếng pháo đón giao thừa
Bánh chưng rất xanh, νới hoa rất νàng
Mà ngỡ là giấc mơ thanh bình.

Anh sẽ νề khi mai νàng trước ngõ
Và lang thang chim én mang sầu νề cuối trời
Quà cho em là bướm νà hoɑ thơm cỏ biếc
Với gió mát lưng đồi, νới tiếng sáo tuуệt νời.

Anh sẽ νề khi không còn tiếng súng
Trời xanh cao tiếng hát, chim trổi nhạc đón mừng
Để hoa xuân lại thắm để môi em lại ấm
Cho áo mới уêu đời cho tiếng sáo thêm νui

Đúng là một bài hát trong thời chiến tranh ca ngợi thanh bình với tất cả những gì tươi đẹp của mùa xuân. “Bánh chưng rất xanh, với hoa rất vàng, quà cho em là bướm, là hoa thơm cỏ biếc, . . . , với gió mát lưng đồi, với tiếng sáo tuyệt vời.”

Nỗi buồn riêng lẩn khuất trong niềm vui chung.