Sợ tốn thì đừng yêu

Nora

Đã bảo có mèo tốn kém lắm
Ai mà sợ tốn thì đừng yêu
Bác sĩ thú y thẳng tay chém
Bụng héo dạ teo vẫn cứ liều

Ngày thứ Tư mọi chuyện vẫn bình thường. Nora vẫn mon men đi lên đồi, rượt con mèo sọc vàng Ginger, lần dọc theo chiều dài của những khúc cây đổ mục, thám thính dọ dẫm. Buổi tối đi ngủ vẫn nhảy lên giường nằm cạnh tôi. Sáng thứ Năm Nora vẫn thức sớm, đòi ra ngoài, trời rất lạnh khoảng hơn ba mươi độ F một chút. Được năm mười phút lạnh đòi vào, chút xíu lại đòi ra. Trước giờ tôi đi làm lại đòi ra nhưng tôi không cho ra. Ông Tám bận công việc đi xa không có ai mở cửa cho vào. Chiều thứ Năm tôi đi làm về thấy lông mèo vương vãi đầy sàn nhà bếp. Mặt Nora bị cào xước chảy máu, nhất là ở bên trên mắt (chỗ người ta có chân mày). Nàng ói khắp nơi trong nhà. Thứ Sáu, thứ Bảy ói. Quằn quại đến thương, cuối cùng ói ra hai khúc cỏ chừng một tấc. Sau đó không ói nữa, nhưng cũng không ăn. Bỏ ăn luôn Chủ Nhật, Thứ Hai. Nằm một chỗ không ra ngoài lên xuống. Sáng thứ Ba đòi ra ngoài một chút vào nhưng cũng không ăn. Tôi xin nghỉ ngày thứ Ba đưa mèo đi Bác sĩ.

Hẹn mười giờ mười lăm, đến 11 giờ Nora mới được khám. Người ta mang chó đến rất nhiều, nhưng chỉ có hai người mang mèo. Khi tôi ra về thì người mang mèo thứ hai đến, con mèo 14 tuổi gầy, cân nặng chỉ cỡ phân nửa Nora. Bác sĩ bảo để mèo ở đó ba giờ rưỡi trở lại.

“Thử máu 150 đồng.”
“Ok.”

Bác sĩ khám qua loa, có gắn ống nghe. Nắm đuôi mèo nhấc lên nhét nhiệt độ kế vào hậu môn. Nora nằm im thin thít không dám thoát ra một tiếng meow than thở.

“Nora bị sốt, nhiệt độ 104.5 độ F. Tim nó bị murmur, khi nó ngủ nó có thở phì phò (wheeze) không?”
“Không, sức khỏe nó tốt lắm cho đến ngày thứ Tư vừa qua.”
“Chụp quang tuyến cho nó, giá 250 đồng.”
“Không. Mắc tiền quá, tôi không muốn.”

Tôi có cái tật hay nghi ngờ bác sĩ (trị người ta) vẽ chuyện. Thí dụ như cứ bắt người ta uống thuốc cho hạ cholesterol. Hạ cholesterol bằng thuốc chẳng khác gì lấy đồ che bịt ống dẫn khói khi xe thả ra nhiều khói carbonic. Bác sĩ thú y tôi càng nghi ngờ nhiều hơn. Thân nhiệt của mèo cao hơn của người nên 104 độ cũng không sao. Khi tôi  mang Nora về, tổng cộng số tiền tôi phải trả là 547 đồng không kể tiền lẻ. Trong số tiền 547 đồng có 30 đồng là tiền thuế. Phần còn lại là tiền thuốc trụ sinh (thuốc nhỏ giọt) để trị chỗ cào xước bị chảy máu đề phòng vết thương bị làm độc, tiền trị bọ chét, trị sán lãi, thử nước tiểu, đủ thứ, “the whole nine yards.”

“Không tìm thấy bịnh gì nguy nan cả, thận và gan tốt lành, nước tiểu không có máu. Bà nên cho chụp quang tuyến để thử tìm ra nguyên nhân.”

Hôm nay Nora đã ăn một chút, ra ngoài nhiều hơn, buổi tối lại leo lên giường ngủ với tôi. Mấy hôm trước bị bệnh nó tự động kiếm chỗ khác ngủ riêng. Tôi vốn không tin là mèo cần tắm, nhưng nghĩ là có thể nó bị vướng poison ivy, hay bị burr (cỏ hạt) vướng vào mặt làm ngứa ngáy khó chịu nên cào cấu và nó ăn cỏ nên phát ói. Tôi pha nước ấm vào bồn ẵm mèo đi tắm, luôn luôn nhẹ nhàng cẩn thận cho nó bớt sợ, nhớ mấy chục năm về trước tắm con cũng như thế.

Ông Tám nhìn cái bill bác sĩ, nói số tiền này có thể giúp một em sinh viên ở VN đi học cả năm. Còn tôi, cả đời chưa biết làm thơ, nhờ ẵm mèo đi bác sĩ thú y nên làm được bài thơ. Đừng có ai nói nó là thơ con cóc nhen. Thơ con cóc là thơ hay. Bài này còn thua thơ con cóc mấy bậc.

Noraa

Tiếp theo chuyện hamburger

một cửa hàng chuyên bán hamburger ở thành phố Newark

Thức ăn ngon nhất là thức ăn trong trí nhớ, có kỷ niệm đi kèm với món ăn. Thưởng thức bao nhiêu món ăn ngon nhưng cái món ratatouille ngon nhất của nhà phê bình ẩm thực Anton Ego (nhân vật trong phim Ratatouille) vẫn là món ăn trong ký ức do bà mẹ quê mùa của ông nấu. Hamburger tuy là fastfood nhưng người ta vẫn có thể ăn chậm. Không có gì tuyệt vời hơn cả đám bạn trẻ đi chơi với nhau, nửa đêm đói bụng, gom tiền lại đủ để cả nhóm ăn một món bình dân nhưng no bụng và đầy chất bổ dưỡng.

Hamburger cho lên một miếng American cheese được gọi là cheeseburger. Tương truyền ngày xưa có một anh bếp nào đó lỡ làm cháy khét miếng thịt đã chữa cháy bằng cách đặt lên mặt cháy miếng cheese để che giấu (haha, lần này thì nhớ lỗi chính tả rồi, cám ơn thầy) cái vụng về bất cẩn của mình. Cheeseburger trở nên thịnh hành và đi vào cả phim ảnh.

“American Graffiti” (1973) phim của George Lucas trước khi ông nổi tiếng với Star Wars. Nhân vật trong phim cũng toàn là các ngôi sao trước khi sáng chói trên nền trời điện ảnh. Harrison Ford, Ron Howard, Richard Dreyfuss.

“Look, creep. You want a knuckle sandwich?” – Vic
“Uh, no thanks. I’m waiting for a double Chucky Chuck.” – Terry

“Nè, cái thằng kia. Mi có muốn một cái bánh mì beefsteak?” – Vic
“Ơ, không, cám ơn. Tôi đang chờ một cái double cheeseburger.” – Terry

Tôi đành phải dịch mà cũng như là không dịch. Làm sao mà dịch cái ngôn ngữ này đây? Creep có nghĩa là cái gì đó mờ ám đáng sợ. Ở đây được dùng để mắng yêu, gọi đùa. Tôi không quen kiểu nói đùa này, ai gọi tôi là creep chắc là tôi sẽ giận. Knuckle sandwich tiếng lóng là cú đấm vào mặt. Nó cũng dùng để chỉ một cái bánh mì (có thể làm bằng bánh mì mềm sandwich hoặc là bánh mì thường) nhiều thịt nhiều nhân đến độ giống như cái mồm há ra. Bạn tìm google knuckle sandwich image sẽ thấy cái bánh này nó như thế nào. Thịt để xay ra làm hamburger thường là loại chuck steak, chỗ thịt gần phía cổ của con bò. Chucky gợi hình ảnh của những nhân vật hí họa, hoạt họa, phá phách có khi vô hại. Chuck là tiếng gọi tắt của chữ Charles. Chucky Chuck vì thế mang nhiều hình ảnh rất American khó dịch. Nó có khi chỉ là tiếng lặp lại trong cuộc nói chuyện cho vui tai, và bình dân, thí dụ như okie dokie.

Nếu bạn không ưa hamburger thì chắc bạn có một kỷ niệm không vui nào đó hay ấn tượng xấu vào một thời điểm nào đó. Blog trước có một bạn bảo rằng kiêng ăn thịt bò sau một lần cô ăn cái hamburger tanh mùi bò. Tôi có một kỷ niệm về hamburger, xin kể bạn nghe.

Dạo mới đi làm, tôi có quen với cô thư ký tên Ái Liên. Tên giả, tôi sửa cái tên Mỹ của cô thành tên Việt. Ái Liên lúc đó rất trẻ, chừng hai mươi hay hai mươi mốt, da trắng, tóc nâu thật dày, dợn sóng tự nhiên, bềnh bồng. Cô không cao lắm, nhưng đôi chân đẹp, và cô khá xinh. Có một hôm cô có vẻ “upset” (băn khoăn bức rứt) cô rủ tôi đi ăn trưa, vì cô muốn nói chuyện tâm sự. Chỗ tôi làm toàn là nam nhi, chỉ có cô, tôi và sếp của tôi là nữ nhi, mà cô và tôi đều không ưa sếp của tôi. Ái Liên dẫn tôi đến một cái bar. Ở đây người ta phục vụ món ăn trưa và có rượu. Dĩ nhiên chúng tôi không uống rượu vì còn phải trở lại sau giờ làm việc. Tôi bối rối không biết gọi món gì thì cô giới thiệu, món hamburger ở đây rất khá. Cái hamburger được mang ra thơm lừng, nóng hổi, to thật to đến độ tôi phải dùng dao cắt ra, chứ không thể nào ngoạm vào cái hamburger, tôi nghĩ nó phải to bằng cái mặt người ta 🙂

Ái Liên đòi gọi bia nhưng tôi cản. Cô này uống rượu dữ lắm, càng say càng uống. Đã có lần mất bằng lái xe vì say trong lúc lái xe. Chẳng những thế cô lủi vào trụ đèn gãy cả hàm răng trên. Cô có lần chỉ vào hàm răng của cô nói rằng toàn là răng giả đấy.

Hỏi cô vì sao có vẻ băn khoăn cô kể. Tối thứ Sáu, cô và cả nhóm kỹ sư đi vào bar. Vui chơi uống say, cô và Thomas Cromwell kéo nhau lên tầng trên của quán bar, làm tình với nhau. Thomas Cromwell là tên giả, tôi lấy chữ viết tắt tên của anh chàng và mượn tên một chính trị gia nổi tiếng của nước Anh thời xưa để gọi anh chàng. Thomas Cromwell sắp cưới vợ, vợ là một cô gái da đen rất thông minh học giỏi, giỏi và thành công hơn Thomas Cromwell. Ái Liên qua lại đùa cợt với anh này khá lâu, vẫn hy vọng kéo được anh chàng về với mình dù biết anh chàng đã đính hôn và sắp cưới nàng. Cuộc yêu đương diễn ra vội vàng. Tôi tưởng tượng ra một hình ảnh không mấy đẹp, say mê cháy rực nhưng sau đó là lạnh lùng buồn và nhạt. Kiểu yêu đương tóm gọn vào bốn chữ “tuột quần tốc váy.” Tôi hỏi:

“Nhưng mà tại sao lại kéo nhau lên lầu?”
“Tôi đã hơi say nên không suy nghĩ. Anh ta đến sờ mông tôi và tôi như bắt lửa.”
“Rồi sao lại upset?”
“Sau đó anh ta làm như chúng tôi chưa hề quen nhau, chưa hề có liên quan xác thịt với nhau!”

Tôi lặng yên nhìn cái hamburger, với ánh sáng ít ỏi trong bar, miếng thịt to màu mâu, lá cải xà lách màu xanh, miếng củ hành màu tím đẹp mắt, mùi khói thuốc, mùi bia, tiếng cười nói ồn ào. Miếng hamburger đầu tiên thật ngon, nhưng nghe xong câu chuyện của Ái Liên tôi thấy hết ngon.

Nỗi buồn của Ái Liên cũng qua nhanh như mùi khói thuốc vương vấn trên tóc trên áo tôi hôm ấy, chừng một buổi và mất đi sau khi tắm gội. Bây giờ nàng đã lập gia đình, đám cưới rất to, chồng làm ăn rất khá. Nàng vẫn còn làm cho công ty xe lửa nhưng ở một chỗ khác khá xa chỗ tôi làm nhưng gần nhà nàng. Chàng Thomas Cromwell chuyển qua công ty khác làm việc. Tôi giữ câu chuyện này đã mấy chục năm bây giờ mới kể, và chỉ kể với những người hoàn toàn không biết Ái Liên hay Cromwell.

 

Chung quanh cái hamburger

một cửa hàng chuyên bán hamburger ở thành phố Newark
Tiệm bán hamburger trong thành phố Newark, NJ

Nếu bạn ở một quốc gia nào đó không phải Việt Nam, thế nào cũng có lúc bạn gặp câu hỏi: “Người ở nước ấy (Mỹ, Úc, hay Canada) ăn món ăn gì hằng ngày? Chẳng lẽ ngày nào họ cũng ăn thức ăn làm sẵn cho nhanh và gọn? Câu hỏi này cũng dễ trả lời. Mình đâu có ở gần đến độ biết họ ăn những gì mỗi ngày. Nhà ở đây cách xa nhau chứ không gần như ở VN, có thể đoán được món ăn vì mùi thức ăn bay lan.

Thấy thì đơn giản, chứ người Mỹ có rất nhiều món ăn. Họ có nhiều loại súp (thí dụ như Manhattan clam chowder, Boston clam chowder, chicken noodle soup), bánh mì sandwich, mì (của Ý nhưng thành của Mỹ đủ thứ loại spaghetti, linguini, ziti), bánh mì với nhân nóng, bánh mì nguội, xsà lách (salad, ở một cái salad bar là bạn có thể tìm thấy cả mấy chục món để trộn lại thành xà lách) , v.v… Mỗi món lại có nhiều món phụ kèm theo để thay đổi, thí dụ như bánh mì nguội có salami, ham và cheese. Mở một cái thực đơn của nhà hàng bán thức ăn trưa là đủ choáng luôn. Thức ăn trưa thì ít món hơn, gọn nhẹ, và số lượng ít hơn. Thực đơn của nhà hàng phục vụ dinner (bữa ăn tối) thường làm tôi cảm thấy ngợp với quá nhiều thứ để lựa chọn. Mà để đây, bữa khác nói, đừng để tôi lan man quá mất thì giờ (của bạn chứ tôi thì khoái mất thì giờ để lan man).

Nếu Việt Nam mình nổi tiếng với chả giò, phở, và bánh mì, thì nói đến thức ăn của người Mỹ tôi nghĩ ngay đến cái hamburger. Vâng, tôi biết còn nhiều thứ nhưng khoan nói đến thức ăn khác, hôm nay chỉ nói về cái hamburger thôi. Chữ này, ai cũng biết tôi xin được dùng nguyên chữ, phiên âm ra tiếng Việt nghe hơi kỳ kỳ, hem-bơ-gơ. Nếu bắt tôi thêm dấu nhấn thì nó sẽ được gọi là “hem-bớ-gờ”. Tại sao viết là “ham” mà đọc là “hem”? Tại sao có chữ ham, mà lại là thịt bò chứ không phải thịt heo? Tại sao đọc là bớ gờ mà không đọc là bờ gớ? Câu trả lời của tôi là, ai mà biết. Tại tiếng Mỹ nó như thế.

Có lẽ bạn cũng như tôi, lần đầu tiên biết đến cái hamburger là biết nó từ tiệm McDonald hay Burger King và chỉ nghĩ nó là “fast food” loại thức ăn làm sẵn, lái xe đi ngang, xớt nó rồi ra khỏi tiệm thật nhanh chóng. Không có sách vở nào nói, tôi tự suy ra ngày xưa nó cũng là món ăn trong bữa tối hay vào lúc cuối tuần hoặc là ở nhà hàng được hầu bàn hẳn hoi. Đây là một món ăn nhiều công, phải xay thịt bò, vắt thành miếng, đem nướng hay chiên. Bánh mì mua ở chợ nhưng phải nhặt xà lách, thái cà, thái củ hành. Khoai tây chiên để ăn kèm với hamburger cũng cầu kỳ nhiều công. Gọt khoai, thái thành cọng vuông vuông dài dài cùng cỡ, nấu dầu cho sôi đem chiên. Chiên dở khoai không gidòn bị chê. Hamburger đòi hỏi nhiều công và mất thì giờ.

Có người thông minh, nghĩ ra cách làm giàu, mở tiệm bán hamburger, mọi thứ đều làm sẵn, nhanh và gọn. Mặn hay nhạt chỉ cần cho chút sốt cà chua ketchup. Rồi sau đó, mình chê đó là fast food, không phải thức ăn truyền thống chính qui. Tôi nghĩ ở bên mình sao chưa có ai mở tiệm bán chả giò như bán fast food, mọi thứ làm sẵn, đi ngang, ngồi trong xe, đặt hàng, lên cửa sổ lấy chả giò trả tiền. Còn các món bún thịt bò nướng, bún nem chả, bún riêu, bún bò, gì gì cũng có thể hệ thống hóa rồi trở thành fast food.

Hamburger đi vào các chương trình kịch nghệ nổi tiếng trên Tivi và phim ảnh, không ít. Có cả một trang wikipedia rất dài dành riêng cho lịch sử của cái bánh hamburger từ nguồn gốc đến quá trình biến chuyển đến công trình sáng tác của một vị chef nào đó. Thậm chí cái cheese burger cũng được giải thích là vì nướng thịt cháy đen nên để miếng cheese lên để che nó đi.

Trong một chương trình Tivi rất nổi tiếng và được người xem say mê “How I met your mother”; Một nhân vật từ nơi khác mới đến thành phố New York vẫn còn nhút nhát không dám ra đường vì sợ tai nạn và bị cướp. Một hôm, được bạn chung phòng khuyến khích anh đi ra ngoài, vào một nhà hàng nhỏ, ăn một cái hamburger. Cái hamburger đó quá ngon đến độ về sau anh không thể nào ăn hamburger mà không nhắc lại cái hamburger ngày trước. Tuy nhiên vì là người mới đến thành phố anh không nhớ số nhà và tên đường, anh chỉ nhớ cái nhà hàng có cửa màu xanh lá cây và đèn neon màu đỏ. Anh đòi các bạn phải lái xe đi tìm ở rất nhiều nơi để các bạn anh có thể thưởng thức cái hamburger ngon nhất trần đời kia.

Hamburger cũng đi vào cả chương trình “Sex and the City.” Bốn cô nàng mặc toàn đồ hiệu, sang trọng vô cùng, nhưng có lúc thèm vẫn kéo nhau vào tiệm McDonald. Trong khi lục lọi trong thư viện về hamburger tôi gặp cuốn phim “Hamburger Hill.”  Các anh lính Mỹ đánh trận ở Việt Nam có lẽ nhìn ngọn đồi giống cái bánh hamburger nên đã đặt tên ngọn đồi bằng tên cái bánh, hương vị quê nhà của các anh.

Đồi Hamburger nói về một trận đánh tàn khốc của quân đội Mỹ cùng với quân đội miền Nam, chiến đấu với quân đội miền Bắc. Trận chiến xảy ra vào năm 1969, ngọn đồi 937, còn gọi là đồi Ap Bia, gần biên giới Lào. Trận chiến xảy ra trong mười ngày, tàn cuộc 70 phần trăm quân đội Mỹ bị tổn thất. Tôi có cuồn phim trong tay nhưng không dám xem, dù nhân vật chính là một diễn viên tôi rất thích, Dylan McDermott. Chọn anh chàng này đóng vai quân nhân tử chiến là một điều rất là chua xót, vì anh ta mảnh mai đẹp trai, cái vẻ thư sinh chuyên đóng vai luật sư rất hay mơ mộng.

Tại làm sao cái bánh hamburger lại xuất hiện ở cuốn phim chiến trường? Bởi vì chiến tranh Việt Nam là vết thương rất sâu trong lòng người Mỹ, mãi đến bây giờ nó vẫn chưa lành hẳn. Bạn đừng ngạc nhiên vì tôi gặp rất nhiều dấu vết chiến tranh Việt Nam, ngay cả trong những quyển sách viết về nghệ thuật tình yêu và tình dục.

Thế nào là một cái hamburger ngon vẫn là một câu hỏi chưa có ai trả lời vừa ý tất cả mọi người. Ngay cả hamburger cũng có cả bốn hay năm chục kiểu hamburger. Công cuộc tìm kiếm cái hamburger ngon tôi tìm thấy nhiều điều rất thú vị dẫn đến chỗ tôi tự nhủ có lẽ tôi nên từ bỏ chuyện ăn thịt bò, và tôi muốn lên tiếng bênh vực người Mễ mà ông Tổng Thống của chúng ta đã ghét bỏ và cấm đoán họ.

Để có cái hamburger ngon, điều kiện đầu tiên là chúng ta phải có thịt bò ngon. Thịt bò được xẻ ra ở những công ty làm thịt bò. Công nhân đa số là người Mễ không có giấy tờ chính thức. Môi trường làm việc của họ rất nguy hiểm, nóng bức, và bẩn thỉu. Họ dễ bị mất tay chân vì dao bén, máy móc chạy nhanh, chỗ làm việc trơn trợt vì máu bò và các chất thải. Không có những người Mễ này, ít có người Mỹ nào chịu làm việc trong môi trường như thế với đồng lương như thế. (Bạn có thể xem phim hay đọc sách có cùng tựa đề “Fast Food Nation của Eric Schlosser.”)

Viết đến đây tôi tự hỏi, khi các phi hành gia lên mặt trăng hay ra ngoài vũ trụ, thức ăn họ mang theo có món nào mang mùi vị hamburger hay không? Tìm trên internet thấy phi hành gia John Young lén mang một cái beefsteak sandwich lên phi thuyền trong khi vào không gian.

Mùa thu vẫn sống dài theo năm tháng

Thơ của Võ thị Như Mai. Mời bạn thưởng thức. Bài thơ này bạn viết để đọc kèm theo với mấy tấm ảnh chụp cây lá mùa thu của tôi chụp hôm trước có cùng tựa đề.

Võ Thị Như Mai

via Mùa thu vẫn sống dài theo năm tháng

Tặng bạn

Ven một cánh rừng mùa thu
Màu lá đỏ in nền trời xanh thắm
Mà không, bầu trời nhạt hay đậm
Tôi cũng quên, chỉ tiếng lá rất dòn

Có thể nàng khe khẽ bước chân thon
Sợ đôi nai quên tròn xoe đôi mắt
Có thể nàng băng băng qua căn nhà im bặt
Kẻo lỡ chuyến xe ra phố mỗi ngày

Nếu chẳng vội gì nàng sẽ dừng lại để ngắm hàng cây
Bên bờ đập con suối trong veo rì rào – nhỏ nhẻ
Thung lũng xa xa chịt chằng bụi cây – vắng vẻ
Mùa thu yêu thương đong đưa mắt nàng sầu

Để đêm về tôi nghĩ ngợi đâu đâu
Nơi nào đó trên địa cầu có người con gái hát
Bằng bức tranh mùa thu không hề nhợt nhạt
Bằng trái tim yêu…

View original post 48 more words

Có thiên đường hay không?

lá rơi

Khi vụ thảm sát ở Las Vegas xảy ra, một người bạn hoang mang hỏi. “Ở nước Mỹ có an toàn hay không? Sao mà cứ có những vụ thảm sát như thế xảy ra. Vậy mà ai cũng bảo nước Mỹ là thiên đường.” Tôi cũng tự hỏi mình xứ Mỹ có (là) thiên đường hay không.

Chưa hết. Ngay sau đó, lại có vụ khủng bố ở ngay thành phố New York. Tên khủng bố lái xe truck loại nhỏ đụng những người đi xe đạp (trên đường dành riêng cho người đi xe đạp). Đa số những người này là người ngoại quốc, đến xem thành phố New York, để kỷ niệm ba mươi năm ngày tốt nghiệp Trung học của họ. Trong số người chết chỉ có một người ở New Jersey, và một người ở New York.

Hôm qua, lại có vụ bắn chết mấy chục người ở một nhà thờ vùng quê nhỏ bé thuộc tiểu bang Texas. Câu hỏi cũ về xứ Mỹ thiên đường lại trở về với tôi.

Tùy theo mình định nghĩa thế nào là thiên đường. Với những người vượt biên giới Mexico, tìm việc làm, kiếm tiền để nuôi sống người thân ở những vùng quê khô cằn sỏi đá, nghèo khó, ở Mỹ với đồng lương rẻ mạt, chưa được đến mức tối thiểu theo luật qui định, thì cuộc sống ở Mỹ với những siêu thị ngút ngút thức ăn, đường cao tốc mười mấy làn thì có lẽ họ xem cuộc sống ở Mỹ gần giống với thiên đường, một kiểu thiên đường giản dị và hạn hẹp.

Nói chuyện súng ống ở chốn xa vời làm chi; thôi, nói chuyện gần của hàng xóm đi. Mấy tháng trước, đầu con đường chỗ tôi ở, có nhà bị trộm. Trộm lấy xà beng cạy cửa. Nhà ấy sống theo kiểu người Mỹ chẳng giữ tiền mặt hay nữ trang trong nhà nên chẳng mất gì cả; chỉ tốn tiền thay cánh cửa. Mới tuần trước, nhà người em của người ở đầu đường, cũng bị trộm vào nhà. Chủ nhà mất vài trăm, tiền quà sinh nhật của mấy đứa con. Kẻ trộm lại cũng dùng xà beng cạy cửa. Đấy, ở Mỹ, người ta có súng ống (chuyện lớn), có trộm cắp (chuyện lặt vặt). Chuyện giết người, tiểu bang nào, thành phố nào cũng có, báo chí Mỹ đăng hằng ngày.

Làm việc ở thành phố mấy mươi năm, tôi nhìn thấy sự giàu có (một trong những đặc tính được dùng để định nghĩa thiên đường) và sự nghèo đói (một trong những đặc tính được dùng để định nghĩa địa ngục) chỉ cách nhau một con đường. Gần chỗ tôi làm việc là đại hí viện của thành phố, người đi xem nhạc, kịch, khiêu vũ, ăn mặc sang trọng. Bên kia đường đối diện với đại hí viện là một nhà thờ cổ; nơi đây người ta phát chẩn, cơm trưa từ thiện một tuần năm ngày, người đến ăn rất đông. Thế là, “thiên đường địa ngục hai bên.”

Ai đang ở trong địa ngục (hay tưởng mình đang ở trong địa ngục) nhìn ra ngoài thấy đâu cũng là thiên đường. Có người đặt câu hỏi trên facebook, bán hết tài sản được ba trăm ngàn USD, có nên sang Mỹ để sống với số tiền đó hay không? Câu trả lời của tôi là tùy theo bạn muốn tìm cái gì ở Mỹ. Có người ở Mỹ làm việc suốt đời, hy vọng về già có dư tiền đi chơi. Có người ở VN và nhiều quốc gia trên thế giới, họ đi chơi từ hồi còn trẻ, chỉ đủ tiền đi chơi thôi chứ không dư để nghĩ đến tương lai xa vời. Bạn có biết là ở Mỹ có người không có cả ba ngàn USD trong ngân hàng không? Tôi nghĩ nếu họ có số tiền đó trong ngân hàng chắc họ chẳng đi ăn trộm mấy nhà trung bình để làm gì. Rủi bị bắt là tiêu đời.

Vâng, thì xứ Mỹ có giết chóc bằng súng ống và cả trộm cắp nữa. Nhưng chuyện bắn giết thì chỉ một vài nơi, lẻ tẻ. Phần lớn trên nước Mỹ vẫn an toàn, tuy nhiên sau khi hai tòa nhà ở New York bị đánh sập, tôi nhìn thấy một sự nghi kỵ đặc biệt dành cho người ngoại quốc mà tôi không nhìn thấy ở Canada. Ở thành phố tôi làm việc, giơ máy chụp ảnh lên là thấy an ninh bảo vệ đi đến gần mình ngay lập tức.

Thế thì có nên dẹp hết, cấm hết chuyện có súng hay không? Nếu không có súng, rủi trộm vào nhà thì sao? Có súng rồi nhưng kẻ bên kia có súng máy thì sao?

Còn tôi thì đang tự nói lảm nhảm điều gì đây nhỉ? Đến giờ đi làm, ngừng free writing ở đây.

Viết tiếp sáng 11/8/2017

Chiều qua đọc báo New York Times thấy một bài phóng sự dài, tác giả nghiên cứu và cố gắng giải thích về hiện tượng thảm sát tập thể ở Mỹ. Bài báo cho biết Hoa Kỳ là quốc gia có số lượng giết người tập thể nhiều lần nhất, nhiều người chết nhất trên thế giới. Sau đó là Yemen. Hoa Kỳ là quốc gia mà người dân có số lượng súng cao nhất thế giới. Tổng số dân số Hoa Kỳ chỉ có 4.4 phần trăm so với tổng số dân trên thế giới, nhưng lại có súng đến 42 phần trăm của tổng số súng trên thế giới.

 

 

 

 

Tủ sách bỏ túi

Nhân có một bạn mới quen hỏi tủ sách bỏ túi là gì, tôi xin viết về tủ sách này.

tủ sách cho không

Năm 2014, buổi trưa đi bộ từ công ty tôi đánh một vòng khá xa, đến tận nơi có thư viện chính của thành phố Newark, tiểu bang New Jersey, nơi tôi đang làm việc. Thỉnh thoảng tôi có mượn sách ở thư viện này. Thư viện ở Hoa Kỳ đa số là thư viện công cộng. Địa phương nào cũng có thư viện. Dân ở địa phương nào mượn sách ở thư viện công cộng của địa phương ấy. Người làm việc ở địa phương cũng có thể làm thẻ thư viện và được quyền mượn sách của thư viện địa phương. Các thư viện (vùng, khu phố, tiểu quận) này được kết hợp với nhau thành một khối thư viện lớn hơn (quận, trung ương) và số sách của (nhiều) thư viện (kết hợp lại) càng to lớn hơn. Người ở chung quận có thể mượn được sách của các khu tiểu quận khác. Sách của các khu vực khác được chuyển đến khu vực người yêu cầu, khi đọc xong có thể trả sách ở khu vực nào tiện cho người mượn nhất.

Xéo xéo góc, đối diện với thư viện Newark, có một ngày người ta đặt một cái bệ, rồi sau đó người ta đặt lên một cái tủ có mái trông giống như một căn nhà be bé có hai chân. Cái tủ này cao đến vai tôi. Tủ có ba ngăn. Vài ngày sau nữa người ta chất đầy sách vào trong cái tủ này. Bên trên mái của thùng có một bảng ghi chú. Free Library. Sách có thể trao đổi, ai đọc thì lấy về đọc, ai có sách muốn đem tặng cho người khác, có thể cho vào tủ sách này. Tôi kèm theo link để các bạn xem ảnh.

https://chuyenbangquo.com/2014/10/14/sach-3/

Tủ sách này sau khi bị phá hoại nhiều lần, được dời qua một nơi khác của thành phố. Chỗ ở mới này êm đẹp hơn. Tủ sách nhỏ xíu này, tôi không biết gọi là gì, nên gọi là tủ sách bỏ túi. Thư viện là của công, người dùng thư viện có thể mượn sách, phim ảnh, âm nhạc không tốn tiền, nhưng không được lấy luôn (vậy chớ người lấy luôn thì cũng có và khá nhiều, nhất là những bộ phim hay nổi tiếng). Sách của tủ sách, Free Library, này bạn có thể lấy luôn, muốn lấy nhiều ít gì cũng được.

Tủ sách không lớn lắm. Chiều sâu của mỗi ngăn tủ chỉ có thể chứa một lớp sách để có thể lấy sách ra dễ dàng. Tuy nhiên có khi nhiều sách quá, người ta nhồi nhét cả hai lớp, lấy sách ra rất khó. Rồi có một hôm đi bộ ngang, tôi thấy một bà người da nâu sẫm, cao lớn đẫy đà, mặc áo rộng phùng phình, đầu vấn khăn theo kiểu người châu Phi, la lối múa may. Bà hốt hết tất cả sách trong tủ, cho vào ba bốn cái túi xách to lớn. Tủ sách trống hốc  một hai ngày. Sau đó lại có sách mới. Sách ở đây có nhiều thể loại: tiểu thuyết, biên khảo, chính trị, tài chánh, lý luận, phê bình văn học… . Ngày nào tôi cũng ra chỗ này, đọc sơ sơ, ngắm nghía, suy nghĩ có nên lấy về nhà không, bỏ xuống (đem về không có thì giờ đọc lại chật nhà). Đa số sách ở đây là loại có chất lượng, kén người đọc.

Trong công ty tôi làm việc cũng có mấy kệ sách được dùng để trao đổi. Ai muốn tặng hay nhận sách thì mang đến đây. Các ngăn kệ này cũng đã đầy tràn. Sách trên các ngăn kệ này đa số là tiểu thuyết (fiction) loại hấp dẫn, ăn khách, đọc để giải trí quên thời gian trên xe lửa.

kệ sách trao đổi trong công ty

Viết xong, đăng rồi mới thấy mình dùng chữ loạn xà ngầu. Thôi thì bạn hiểu dùm, thư viện bỏ túi hay tủ sách bỏ túi cũng chỉ là một.

Ngày của tôi

buổi sáng ngồi trên xe lửa mặt trời đang lên

Một ngày của tôi đơn giản chỉ có vậy. Sáng thức dậy, đi làm. Trong công ty, mong cho mau hết giờ. Đi về.

Nhìn thấy bên ngoài cửa sổ, buổi sáng ngồi trên xe lửa, mặt trời đang lên. Xe đang vào nhà ga, chậm lại chờ đèn hiệu. Thành phố có vẻ vẫn còn ngái ngủ.

Giờ ăn trưa tôi thường đi bộ ra chỗ thư viện bỏ túi. Có khi người ta nhồi nhét nhiều sách vào tủ sách, chật cứng đến độ rút một quyển sách ra để nhìn ngắm tìm hiểu nội dung cũng khó khăn. Tôi chọn một quyển non fiction, còn đang đọc bìa trước bìa sau thì có một ông cụ đến gần. Ông người tầm thước, không béo phì, ăn mặc thẳng thóm, đội mũ felt, đeo mắt kính, chống gậy, da trắng. Ông săm soi tủ sách (có ba ngăn) như lấn vào tôi. Biết là tôi choán chỗ nên tôi bước qua một bên nhường chỗ cho cụ. Cụ bắt chuyện với tôi. Tôi ước gì cụ đừng mở lời, tôi sẽ giữ thiện cảm với cụ lâu hơn.

“Hêy, có quyển nào hay không?” Cụ nói, giọng rổn rảng.

Tôi nhìn cụ không trả lời, tay chỉ vào tủ sách. Ý tôi muốn nói, hãy nhìn và tự trả lời.

Cụ lôi ra một quyển non-fiction. Tôi không nhớ tựa đề, cái gì đó về economic, tài chánh, cách làm giàu của fascist.

“Bà hãy đọc quyển này. Nó chỉ cách làm giàu. Mà này, bà có biết fascist là ai không?”

Tôi làm thinh bước xa ra. Cụ bước xấn theo. Cố nhìn xem quyển sách của tôi là quyển gì. Tôi đưa tay chỉ vào tủ sách.

“Còn cả đống trong tủ sách kìa, ông hãy chọn trong đó.”

Ông bước theo quyển sách tôi đang cầm. Tôi dấu giấu quyển sách ra sau lưng. Bước lùi ra xa hơn nữa.

“Ông thật là khiếm nhã!”

Tôi bỏ đi, ông nói vói theo cái gì đó, vui vẻ trêu chọc tôi. Bình thường tôi có thiện cảm với người lớn tuổi, nhưng lần này tôi quay đi mà không khỏi nghĩ thầm. Một ông cụ kỳ cục.

Sửa lúc 4:16PM giờ New Jersey. Sửa chữ dấu thành chữ giấu. Khổ quá, bạn chỉ một lần rồi, mà vẫn sai chính tả. Người ta nói khó mà dạy một con chó già trò biểu diễn mới là như vậy. Chuyện bốn chục năm trước nhớ vanh vách. Chuyện mới hôm qua hay tháng trước nghe rồi quên ngay.