Sông nước mùa hè

Bài này viết lâu rồi nhưng dài quá nên không đưa lên blog. Hôm nay viết về con chim cốc cụt cánh nên nhớ đến bài cũ.

SÔNG NƯỚC MÙA HÈ – Nguyễn Thị Hải Hà

Nếu bạn ở một nơi có mùa đông dài 5 tháng, và nhiệt độ ban ngày thấp hơn độ đóng băng của nước, bạn sẽ thích mùa hè.  Nhưng dù bạn có thích mùa hè đến mấy thì cũng có những ngày nóng ngộp thở.  Bạn làm gì để giải nhiệt?  Nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng đã mời gọi: “Mùa hè năm nay anh sẽ đưa em rời phố chợ đôi ngày.”  Thật là chí lý.  Mùa hè ở trong thành phố rất nóng.  Cái nóng hắt từ mặt đường tráng nhựa và từ xe cộ thải ra rất khó chịu.  Một trong những cách giải nhiệt giản dị nhất là xa rời phố thị, đi về quê.  Còn gì sung sướng hơn “Chín mươi ngày nhảy nhót ở đồng quê.  Ôi tất cả mùa xuân trong mùa hạ.”[1]  Người xưa từng nói về cái khoái lạc của mùa hè là tắm ao sen, hạ thưởng lục hà trì.  Chúng ta có thể thay thế ao sen bằng hồ, sông, hay biển.  Không cần ngụp lặn nếu bạn sợ dính bùn, hay nước mặn gắt, chỉ cần bạn đi dọc theo bờ sông, bờ hồ, hưởng làn gió từ mặt nước thổi lên là thấy người khoan khoái hẳn lên.

Trên đường trail Delaware and Raritan không có hoa sen nhưng hoa súng rất nhiều.  Không phải loại hoa súng water lily của Việt Nam.  Đây là loại hoa nhỏ như một quả banh golf màu vàng, gọi là pond-lily hay cow lily.  Loại hoa súng này tôi đã gặp trong một bức tranh của Hokusai. Có nghĩa là bên Nhật cũng có hoa này. Ở đây, mùa nào có hoa nấy.  Đầu tháng Sáu hoa hồng dại và honeysuckles nở trắng hai bên đường.  Hương hoa ngan ngát quyện vào mỗi bước chân. Tháng Bảy và tháng Tám, hoa mallow, một loại hoa dâm bụt nở màu hồng thắm mỗi hoa to như cái đĩa bàn.  Hoa có mùi thơm nhẹ, nhụy có mật ngọt nên thường quyến rủ kiến và ong.  Hoa của thistle, còn gọi là hoa kế, vừa có nhan sắc lại vừa có hương thơm nhưng hiểm hóc đầy gai nhọn.  Loại hoa hoang dại này lại được chọn tô điểm cho quốc huy của Tô Cách Lan.  Hoa dại, hình như, ít khi màu đỏ.  Chỉ thỉnh thoảng tôi mới gặp sát mé nước một loại hoa, cánh hoa nhỏ hơn hoa huệ (loại huệ trắng tuberose bên mình hay chưng trên bàn thờ chứ không phải loại hoa loa kèn lily), giống như hình con hạc màu đỏ thắm gọi là hoa cardinal có nghĩa là hoa hồng y. Cùng màu đỏ tươi thắm có trái dâu tây strawberry và trái redberry.  Chừng ấy màu đỏ đủ gợi nhớ câu thơ nổi tiếng trong bài Tình Sầu của Huyền Kiêu, “Hạ đỏ vẫn chàng đến hỏi. Em thơ, chị đẹp em đâu.”

Dọc dòng sông Millstone có rất nhiều ngỗng Canada và chim nước.  Chim nước hay water fowl, water bird là loại nửa chim nửa vịt, có thể bay và đồng thời có thể bơi.  Ở đây tôi thấy có merganser, Mallard duck, wood duck, và bufferhead.  Lần đầu tiên tôi nhìn thấy nó, con chim màu chocolate, nó đứng trên một tảng đá giữa khúc sông cạn, giang rộng đôi cánh như chờ gió lên cho đầy cánh để bay.  Mãi về sau tôi mới biết tên chim là cormorant.  Người Việt gọi là chim cốc. Rồi đột ngột nó cất cánh nhưng không bay cao, đuôi sà xuống chạm vào mặt nước, lệt phệt vài lần như thể bay không nổi để lại trên mặt sông mấy chỗ lõm gợn sóng. Về sau, tôi mới “ngộ” ra là nó đang rình để bắt cá chứ không phải tập bay.

Chim cốc không đẹp nếu dựa trên màu sắc.  Những con chim được khen là đẹp đều có màu rực rỡ.  Chim hồng y (cardinal) có màu đỏ tươi; blue jay màu xanh với nhiều sắc đậm nhạt có điểm trắng; hoàng yến, hoàng oanh (gold finch và oriole) có màu vàng tươi; két có đủ màu xanh đỏ; hoặc nếu không màu thì phải hoàn toàn trắng, trắng tươi, trắng xóa, như thiên nga.  Chim cốc có nhiều loại, đốm vàng ở cổ, hay đốm trắng ở ngực, tuy vậy đa số đều có bộ lông màu nâu sậm. Thiếu ánh sáng trông nó đen thui.  Mỏ nó dài, nhọn, và khoằm.  Đôi mắt xanh đục, và đằng sau gáy có chùm lông dựng đứng.  Người ta nói mình chỉ nhìn thấy cái mình biết.  Khi chưa biết nó là ai, tôi không hề có cái khái niệm gì về con chim cốc.  Nhưng khi biết có con chim cốc trên cuộc đời này thì tôi gặp nó ở nhiều nơi.  Đặc biệt, nó xuất hiện rất nhiều trong văn chương của châu Âu.

Thi sĩ John Milton đã so sánh chim cốc với quỷ Satan. Trong bộ trường thi Paradise Lost (Thiên Đường Đã Mất) quyển số 4, Milton kể hai mạch truyện.  Một mạch truyện nói về Adam và Eve.  Mạch truyện còn lại nói về Satan (còn gọi là Lucifer).  Satan vốn là thiên thần, sau khi quyết định nổi loạn chống lại Chúa, đã bay đến Eden (vườn địa đàng).  Gã quỷ sứ đã đáp xuống cái cây to và cao nhất ở giữa vườn địa đàng. Đó là Cây Cuộc Đời  (Tree of Life).  Hắn ngồi trên cây giống như một con chim cốc, suy nghĩ tìm cách mang cái chết đến cho loài người[2].  

Cốc nhỏ hơn vạc xám (great blue heron), thiên nga, hoặc ngỗng Canada, nhưng to hơn vịt Mallard đầu xanh. Lớp lông bên ngoài không thấm nước, nhưng lớp lông mềm bên trong có khi ngấm nước nên chim cốc thường giang cánh để hóng gió cho khô.  Có lần nhìn hai con chim cốc há mỏ ra đối đáp với nhau, tôi thấy chúng trông có vẻ như đang cãi vã rất dữ dằn, nhưng biết đâu chừng đó là cái cách chúng nói những lời yêu thương với nhau.

Cốc lặn rất sâu và rất xa.  Đứng rình chụp ảnh, tôi thấy nhiều lần chim cốc lặn rồi biến mất luôn.  Có thể nó xuôi dòng đi rất xa và khi trồi lên lẩn vào gốc cây và rễ cây ở phía bên kia bờ sông tôi không tìm được.  Chim cốc là loài chim săn cá thượng hạng.  Cốc có thể nuốt con cá to gấp mấy lần vòng cổ của nó và có thể ăn cả chục con cá to trong chớp mắt.  Chính vì khả năng này mà chim cốc bị Geoffrey Chaucer, thi sĩ nổi tiếng vào thế kỷ 14 với tác phẩm The Canterburry Tales, gán cho tật xấu là tham ăn.  Năm trăm năm sau Bram Stoker, trong tác phẩm Dracula đã cho nhân vật của ông tự nhận là “ta có khả năng ăn nhiều như loài chim cốc.”

Từ biểu tượng của sự tham ăn, chim cốc dần dần biến thành biểu tượng của gian thương dùng mánh khóe của con buôn để bóc lột người mua, những người cho vay ăn lời cắt cổ, thậm chí là biểu tượng của những nhà sư hổ mang gian hùng và tham lam.

Cốc là loại chim mùa đông di cư.  Ở New Jersey khi trời trở lạnh là chúng biến mất.  Vào tháng Năm trời ấm lại thấy vài con lác đác bơi trên sông. Chừng tháng Bảy tháng Tám chúng đậu đầy ở những cái đập trên sông để bắt cá.  Chim cốc có mặt trên nước Mỹ, Anh, Tô Cách Lan và ở châu Á như Trung quốc và Nhật Bản.  Tôi đã nhìn thấy cốc bay thành đàn ở những cái cầu tàu chung quanh Fisherman Wharf, San Francisco.  Mấy chục con bay hàng dọc, là là sát mặt nước, bay một đỗi thật xa, theo hướng gió đánh vòng tròn quay trở lại, như là một đoàn quân diễn hành cho du khách thưởng lãm, trông rất ngoạn mục.  Tôi cũng gặp chim cốc ở Uji, ngoại thành của Kyoto, một trong 13 nơi của Nhật dùng chim cốc để săn bắt cá.  Ở gần chân cầu Kisen bắc ngang con kênh dẫn nước từ sông Uji, có trại nuôi chim cốc để đi săn.  

Trong quyển Jane Eyre[3] nhà văn Charlotte Brontë đã dùng chim cốc để báo điềm xấu trong tương lai.  Jane vẽ ba bức tranh và đưa cho Rochester xem.  Một trong ba bức tranh ấy vẽ cảnh đắm tàu Jane đã nhìn thấy cảnh này bằng dự cảm.

“Một luồng ánh sáng rọi lên cái cột buồm đã bị chìm trong nước.  Bên trên cột buồm có con chim cốc đang đậu, màu nâu sậm và to lớn, đôi cánh của nó dính đầy bọt biển; mỏ của nó đang ngậm một chiếc lắc đeo tay bằng vàng có đính nhiều viên đá quý. Tôi đã dùng loại màu sáng đẹp nhất mà tôi có thể pha, và vẽ hình ảnh một cách lung linh nhất mà nét cọ của tôi có thể diễn đạt.  Chìm bên dưới con chim cốc và cột buồm là xác của người chết đuối thấp thoáng ẩn hiện dưới làn nước biển xanh; đó là cánh tay có cái lắc vàng đã bị rơi ra.”

Con chim cốc là biểu tượng của một tương lai đen tối cho mối tình thầm lặng của Jane dành cho Rochester.

Theo huyền thoại, Vua Priam của thành Troy, có người con trai tên là Aesacus.  Vị hoàng từ trẻ tuổi đang hồi yêu say đắm thì người yêu chết.  Tuyệt vọng, Aesacus đứng trên ghềnh đá gieo mình tự tử.  Một trong những vị Titans thấy thương hại nên biến hoàng tử thành con chim cốc giữa lúc chàng đang lơ lửng trên không trung.

Năm 1900 ở Flannan Isles, một quần đảo Tô Cách Lan, đã xảy ra một vụ mất tích thật kỳ bí mà người ta không tìm ra nguyên nhân, cũng không thể giải thích được.  Trên đảo Eilean Mòr (đảo chính của Flannan Isles) có một ngọn hải đăng và một ngôi nhà nguyện đã bị hư nát.  Có ba nhân viên chăm sóc ngọn hải đăng này, James Ducat, Thomas Marshall, và Donald McArthur.  Họ được tuyển chọn, đào tạo, rất thiện nghệ và hoàn toàn được tin cậy.  Ngày 15 tháng 12 năm 1900, chiếc tàu Archtor từ Philadelphia đến Leith (Tô Cách Lan) thấy hải đăng không hoạt động, có lẽ vì thời tiết quá xấu.  Ngày 18 tháng 12 tin hải đăng không hoạt động được báo cáo với Northen Lighthouse Board.  Ngày 26 tháng 12, bão dịu xuống, mới có người đến được ngọn hải đăng và khám phá ra cả ba nhân viên chăm sóc ngọn hải đăng đều mất tích như tan biến vào thinh không.  Tất cả đồ dùng trên đảo và đồ dùng của ba người đều còn nguyên vẹn, ngoại trừ bãi cập bến ở bờ Tây bị hư hại nặng vì cơn bão. Người ta đưa ra nhiều giả thuyết, những giả thuyết này được viết thành tiểu thuyết, làm thành phim.  Một trong những giả thuyết này là ba nhân viên trông coi ngọn hải đăng đã biến thành ba con chim cốc bay ra khỏi đảo theo sự tưởng tượng của Wilfrid Wilson Gibson trong bài thơ Flannan Isles. 

Chúng tôi thấy ba con chim đen, kỳ lạ và xấu xí
Quá to, theo ý tôi
nếu so với loại chim guillemot hay là chim shag.
Chúng ngồi thẳng thớm như ba chàng thủy thủ
Trên ghềnh đá ngấp nghé mực nước biển.
Nhưng khi chúng tôi đến gần, bọn họ phóng xuống và biến mất
Không một tiếng động, và cũng không một vệt sóng.

Gần đây nhất, cuốn phim Vanishing (Biến Mất) phát hành năm 2018 với Gerad Butler là diễn viên chính, đạo diễn Kristoffer Nyholm đã đưa ra một giả thuyết để giải thích vì sao ba nhân viên hải đăng đồng loạt biến mất. (Ghi chú mới: Phim này hiện đang chiếu ở Netflix 12/12/2022)

Chim cốc xuất hiện trong văn học như một biểu tượng của ý nghĩ đen tối hay hành động xấu xa.  Ngay cả Shakespeare cũng chê chim cốc không tiếc lời.  Trong Richard II, act 2, scene 1, đại thi hào đã miêu tả chim cốc như sau:

Light vanity, insatiate cormorant,
Consuming means, soon preys upon itself.

Kiêu hãnh, chim cốc không bao giờ thỏa mãn
Phương tiện để tiêu thụ, sớm muộn gì cũng trở thành miếng mồi của chính nó.

Người Trung Hoa và Nhật Bản đều dùng chim cốc để săn bắt cá.  Người Nhật Bản không nghĩ xấu về chim cốc.  Họ nuôi và huấn luyện chim cốc để phục vụ loài người.  Lợi dụng tài săn cá cũng như tật ăn tham của chim cốc, họ cột ngang cổ cốc một cái vòng, cột dây vào chân và thả cốc xuống nước đi săn.  Sau đó họ nặn cổ chim cốc bắt nhả ra những con cá đã săn được.  Chim cốc nhiều lần làm “người mẫu” cho nhà danh họa Hokusai.  Trên mạng thấy lưu truyền một bức tranh chim cốc của Hokusai khá to và dữ dằn.  Còn một bức khác tôi gặp trong quyển Hokusai Beyond the Great Views do Timothy Clark biên soạn. Bức tranh vẽ chim cốc đậu trên một cột gỗ dưới chân cột là hoa pond-lily màu vàng.

Các nhà thơ Nhật nổi tiếng như Issa, Onitsura, và Basho cũng viết rất nhiều bài haiku về chim cốc.

Omoshirôte yagate kanashiki ubune kana

How exciting, the cormorant fishing boat!
But after a time,
I felt saddened.[4]

Thật thú vị làm sao,
chiếc thuyền săn chim cốc!
Nhưng chỉ một lúc sau
Tôi cảm thấy nỗi sầu.

Blyth, nhà chuyên môn về Zen và thơ haiku đã suy nghĩ như thế này:

Basho không nói cho chúng ta biết điều gì đã làm ông buồn.  Vì ông thương hại cho loài cá?  Hay cho chim cốc bị bắt buộc phải nhả cá ra?  Hay cho những người dân chài đã lợi dụng sự tham ăn của loài chim cốc?  Hay cho lòng thèm khát vật chất của loài người không bao giờ nguôi ngoai?  Câu trả lời đơn giản nhất và đúng nhất đó là chính Basho cũng không biết.  Thật ra những câu thơ bên trên là phiên bản thứ nhì.  Trước đó thay vào chữ buồn là chữ khóc.  Những giọt nước mắt mà Basho đã từng kêu rằng.  “Nước mắt, những giọt lệ trầm ngâm, tôi thật tình không hiểu ý nghĩa của chúng.”

Thú thật, những lời chê bai của các nhà văn châu Âu về chim cốc không thể bôi xóa được hình ảnh đẹp mà chim cốc đã mang đến cho tôi.  Tôi xem một vài cuốn phim người ta dùng chim cốc đi săn trong đêm.  Ông câu chèo phía sau, chim cốc ngồi trên thuyền như một người bạn đồng hành, bên cạnh là thùng lửa đốt để soi sáng.  Hình ảnh lửa thuyền chài trên sông đã khiến tôi nhớ đến một câu trong bài thơ cổ.  “Giang phong ngư hỏa đối sầu miên.”  Thi sĩ Tản Đà đã dịch nguyên bài như sau:

Quạ kêu, trăng lặn, sương rơi
Lửa chài, cây bãi, đối người nằm co
Con thuyền đậu bến Cô Tô
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San[5]

Bài thơ có thể tả cảnh mùa hè, ban ngày trời nóng nhưng đêm có sương.  Trước kia đọc bài thơ tôi không thể tưởng tượng được hình ảnh giang phong ngư hỏa như thế nào.  Một ngày cuối hè đứng ở bến sông Uji, bên chân cầu Kisen, nhìn những con chim cốc được nuôi trong lồng, và lửa thuyền chài trên một tấm áp phích, tôi dường như nghe được tiếng chuông chùa, không phải của Hàn San Tự mà của Byodo-in cách đó chừng vài trăm mét.  Bài thơ cổ trở nên lộng lẫy hơn nhờ hình ảnh thuyền chài đi săn cá bằng con chim cốc.

Cái đẹp về mùa hạ trên sông nước còn nhiều, thí dụ như đi câu cá fly fishing, chèo thuyền kayak, ngắm cảnh “Sóng gợn trường giang buồn điệp điệp.  Con thuyền xuôi mái lướt song song.  Thuyền về nước ngược sầu trăm ngã.  Củi một cành khô lạc mấy giòng.”[6] Nhưng bài đã dài, xin hẹn bạn đọc lần sau vậy.

Nguyễn Thị Hải Hà

2 tháng Sáu năm 2022


[1] Xuân Tâm – Nghỉ Hè

[2] Thence up he flew, and on the tree of life,
The middle tree and highest there that grew,
Sat like a cormorant; yet not true life
Thereby regained, but sat devising death.

John Milton. Paradise Lost (Kindle Locations 951-952)

[3] Nhà văn Hoàng Hải Thủy đã phóng tác tựa đề này thành cái tên rất đẹp, Kiều Giang.  Nghe rằng Kiều Giang cũng là tên của ái nữ của ông.

[4] Bản dịch từ tiếng Nhật sang tiếng Anh của R. H. Blyth. Trích trong tập III Summer/Autumn

[5] Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên,
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên
Cô tô thành ngoại hàn san tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền
Phong Kiều Dạ Bạc – Trương Kế

[6] Thơ Huy Cận

Chim bỏ đường bay

Hôm kia, Dec. 10, 2022 đi đến trạm lọc nước tôi thấy nó. Con chim cốc (cormorant) chạy lên chạy xuống bờ tường xây kiểu hình tam giác, một cạnh chạy nghiêng từ trên cao xuống thấp. Hai cánh nó quạt liên tục, có vẻ như muốn vẫy cho sạch nước bám trên cánh. Mà cũng có vẻ như nó chuẩn bị để cất cánh bay lên. Nó chạy xuống rồi chạy lên nhìn rất vui mắt, nó làm tôi nghĩ đến con penguin thu nhỏ lại.

Tuy vậy nhìn kỹ thấy có gì đó không ổn. Có vẻ như một bên cánh bị ngắn hơn. Mãi khi nhìn nó qua ống kính chụp ảnh 300mm thì tôi mới biết chắc một bên cánh của nó bị cụt. Tội nghiệp, kể từ bây giờ nó là con chim phải lìa bỏ đường bay. Chim cốc là loài nửa vịt nửa chim. Trời thương nên nó vẫn còn có thể bơi được dưới nước. Cuộc sống của nó trở nên khó khăn hơn.

Chờ gió đưa lên trong tuyệt vọng

Khi đi hết chiều dài muốn đi của đường trail, quay trở lại tôi gặp lại chim cốc đậu dưới nước, trên tảng đá, ở một nơi chim cốc bè bạn của nó thường hay đậu để săn cá. Vẫn giang cánh như thuở còn đủ đôi cánh.

Phơi cánh

Một trong những lý do có thể làm chim cốc gãy cánh là bị vướng vào một cái gì đó, sợi dây câu, dây thả diều, rồi vùng vẫy để thoát thân, càng vùng vẫy thì càng bị vướng chặt hơn, cho đến lúc cố gắng bay và gãy cánh. Cũng phải thán phục trời thương loài vật cho chúng nó có khả năng tự chữa lành dù gãy cánh hay cụt chân. Tôi chỉ biết than thầm, tội nghiệp.

Trời lúc này thật lạnh. Sáng nay sàn gỗ đóng băng. Nhiệt độ ban đêm xuống đến 22 độ F. (khoảng – 5.5 độ C.) Chim cốc đã bỏ đi về miền ấm. Thỉnh thoảng chỉ gặp một con. Vạc xám vẫn còn nhiều, thường đứng trên bờ trên cây, ít thấy trầm ngâm dưới nước.

Vào Mùa Đông

Chiếc lá phong cuối cùng
Cỏ khô bên kia bờ sông
Gai của cây honey locust
Lá beech khô

Giờ thì bất cứ cái gì, cây lá cỏ đều thấy khô, ngay cả khi mưa dầm suốt ngày hai ba hôm trước. Tôi rất yêu màu lá khô, nâu óng ả, của những chiếc lá còn vương lại trên cây. Có một số cây, đặc biệt là cây sồi và cây beech, lá khô còn trên cây mãi cho đến mùa xuân. Ngay cả một số cây phong cũng thế.

“Mỗi khi bàn chân em bắt đầu cảm thấy lạnh, hằng năm, em cứ nằm mơ trở về quê nhà. Em chỉ mong được về nhà.” Trích trong truyện ngắn Vào Mùa Đông của Yasunari Kawabata Nguyễn Thị Hải Hà dịch.

Mời đọc ở link dưới đây. Và nghe giọng đọc rất êm dịu của Phan Hoàng My. My, ngoài giọng đọc thiên phú còn viết văn rất hay. Bài cô viết về người cậu hay bác, là thương phế binh, nhưng đã vươn lên, vượt qua thương tật và thành công trong cuộc sống ở nước ngoài, đầy cảm xúc. Cô được giải thưởng của cuộc thi viết Muôn Nẻo Đường Đời. Ngay từ lúc đọc bài lần đầu tôi cũng thầm nghĩ, bài này phải được giải thưởng vì hay quá. Khi tôi dịch truyện ngắn của ông Yasunari Kawabata, tôi cứ nghĩ bài này nếu được nghe qua giọng đọc của My chắc là hay lắm. Nếu có bạn nào không vào được trang mạng này nhưng muốn đọc truyện, cho tôi biết, tôi sẽ đăng nguyên truyện ở blog. Truyện ngắn thôi, chỉ chừng 5, hay 6 trang, đọc rất mau hết. Bài đăng ở Sài Gòn Nhỏ thường được kèm thêm những tấm ảnh đẹp lộng lẫy.

Ảnh cũ

Thác Bản Giốc – Việt Nam
Byodo-in Temple – Nhật Bản
Sonoma Mission – California USA

Mấy hôm nay tôi xem ảnh cũ. Thấy tiếc là mình chụp ảnh thật dở. Tấm nào cũng lem nhem. Nhưng xem ảnh cũ làm tôi có cảm tưởng mình đi du lịch lần nữa cùng một chỗ. Thác Bản Giốc của VN đẹp lẫy lừng xứng đáng là kỳ quan trên thế giới. Tôi muốn được lần nữa đứng trước thác để nhớ lại cảm giác sững sờ mỗi khi chiêm ngưỡng một cái đẹp thật hùng vĩ.

Màu xanh

Trái cây sycamore khô trên nền trời

Fragmentary Blue

Why make so much of fragmentary blue
In here and there a bird, or butterfly,
Or flower, or wearing-stone, or open eye,
When heaven presents in sheets the solid hue?

Since earth is earth, perhaps, not heaven (as yet) –
Though some savants make earth include the sky;
And blue so far above us comes so high,
It only gives our wish for blue a whet

Robert Frost

Mảnh vụn màu xanh

Sao lại phải nhiều lời về những mảnh màu xanh
trên một con chim, bướm,
Trên đóa hoa, đá quý đính trên người, hoặc đôi mắt,
Khi bầu trời trải rộng một màu xanh biêng biếc?

Bởi vì đất là đất, có lẽ, không (hay chưa) là trời –
Dù các nhà thông thái gôm cả trời vào đất;
Màu xanh xa vời vợi trên đầu
Chỉ làm cho ta thêm phần ao ước

NTHH dịch

Mùa Đông đến chưa?

Tôi thường đánh dấu mùa đông đến bằng cơn tuyết đầu mùa. Năm nay đã qua lễ Tạ Ơn nhưng mùa thu vẫn còn nấn ná. Đường đi bộ vẫn còn một vài cây phong lá chưa kịp vàng, có lẽ vì bị mấy cây to che khuất nắng và gió. Như vậy là mùa đông chưa đến.

Ngày 23 tháng Mười Một 2022 vẫn còn nhìn thấy một con chim cốc (cormorant) đậu gần bờ trong bóng tối. Nhưng ngày 26 và ngày 28 tuyệt nhiên không còn thấy bóng con chim cốc nào. Trời khá lạnh, có hôm dù mặc nhiều lớp áo nhưng vẫn không đủ ấm vì gió mạnh, tôi định chỉ đi chừng 2 miles là quay lại. Tuy nhiên sau đó nắng lên, trời bớt gió, và nhờ đi một hồi người ấm dần tôi đi nốt quảng đường còn lại cũng gần 2 miles.

Ngỗng Canada vẫn còn thấy từng đàn khá đông, không biết là từ nơi khác đến hay là ngỗng thường trú. Rất nhiều con đã leo lên bờ, trên những bãi cỏ rộng, có lẽ để bớt lạnh? Mấy con vạc cả xám lẫn trắng đều đứng trên bờ chứ không trầm mình dưới nước như hồi mùa hè. Đứng khá xa trên bờ chứ không ven mé nước. Sợ ướt lông? Loài vạc có vẻ nhàn hạ, không có vẻ kiếm ăn ráo riết, ngụp lặn, tìm tòi như loài ngỗng Canada.

Wood ducks

Cây ven bờ trút hết lá, nên khi có nắng tôi có thể nhìn thấy mấy con wood ducks từ xa. Một phần cũng nhờ bầy ngỗng Canada đi chỗ khác chứ nếu có ngỗng chúng che khuất hết mấy con wood ducks. Loài này nhỏ bé, nhỏ hơn cả vịt mallard, lại rất nhút nhát thường ở tít bên kia bờ sông. Hình như mallard và wood duck chịu lạnh giỏi hơn cả ngỗng Canada nên thấy bọn này chơi đùa giỡn sóng rất vui. Và vẫn còn rất nhiều trên sông, có vẻ nhiều hơn hồi mùa hè. Loài rùa đa số đã trốn biệt, thỉnh thoảng có một hay hai con trồi lên những gốc cây lều bều trên kênh nằm sưởi nắng.

Đàn nai ở đường trail Delaware and Raritan Canal, đoạn đường đi từ Canal Park đến 5-mile-lock

Đàn nai khá đông 7 hay 8 con đứng lố nhố trong bóng tối. Có chút nắng hửng lên nhưng tôi để thiếu ánh sáng nên ảnh không rõ. Đi lên xa một chút nữa gặp con nai to, đầu có gạc khá lớn, chẳng hiểu vì sao mà nằm chết trên sông, bị vướng vào chỗ bãi đá nước cạn, trông rất tội nghiệp. Mùa đông, sự sống trở nên khắc nghiệt. Thú chết nhiều.

Ảnh chụp ở ruộng bắp trong khuôn viên nhà thờ Pillar
Cây khô

Ai là người yêu cây nhất
“Yêu cây nhất chính là ta.”
Mùa Đông nổi tiếng khắc nghiệt
“Ta cho cây nghỉ dưỡng già!”

Sương Thu

Mời nghe một bài hát hay. Bài này ở trang Nhạc Của Tui. Cảm ơn chủ web đã cho người nghe download free. Đây là một trong những bài hát tôi thích nghe qua giọng Lệ Thu nhất. Và Đan Áo Mùa Xuân.

Sương Thu – Tác giả Văn Phụng – Giọng hát của Lệ Thu

Mùa thu tàn rồi. Tuần vừa qua ngày nào cũng lạnh, đêm xuống dưới độ đông của nước đá. Tuần này, bắt đầu từ hôm nay và có lẽ cho đến cuối tuần, trời ấm hơn. Bây giờ, gần 10 giờ rưỡi sáng, nhiệt độ bên ngoài đã hơn 50 độ F. Coi như ngày lễ Tạ Ơn người đi dự lễ hay thăm thân nhân sẽ không đến nỗi co ro cóm róm khi đi ra trời lạnh.

Có mấy tấm ảnh chụp cảnh tàn thu. Không còn màu đỏ vàng cam, chỉ có màu nâu đậm và nhạt. Tuy vậy có một số cây lá, và cỏ, vẫn còn xanh.

Tàn Thu

Còn sót lại

Thu muộn
Chim gõ kiến còn trẻ, chưa có đốm đỏ trên đầu
Chẳng biết trái gì, chỉ thích cái màu đỏ của nó
Vạc xám chắc ở luôn ở New Jersey không đi về miền nắng ấm. Hễ sông còn cá, chưa bị đóng băng trên mặt thì chúng vẫn có thể bắt cá.

Những ngày cuối thu

Tuần trước có những ngày nắng ấm, nhiệt độ trong ngày lên đến 74 độ F. Ngày hôm qua và hôm kia lạnh, tôi có cảm giác mùa đông đến rồi. Hôm kia đi bộ, trời khá lạnh, gió mạnh, buổi sáng chỉ có 27 độ F. dưới nhiệt độ đóng băng rồi còn gì, trong ngày lên đến 47 độ F. (cỡ 8 độ C.) Đi bộ tôi đội mũ, đeo găng, mặc áo khoác mùa đông. Đi một hồi thì thấy ấm người nhưng vẫn không cởi bớt mấy lớp áo mỏng bên trong lần áo khoác. Vẫn còn vạc, chim cốc, merganser, ngỗng Canada, rùa.

Hôm qua tôi thấy một đàn chim Eastern Blue bird. Loại này thiên di hằng năm, giờ là lúc đi, khoảng tháng Năm sẽ trở lại New Jersey. Gọi là đàn nhưng chỉ chừng chục hay vài chục chứ không hằng ngàn như sterling. Loại chim này khi bay, cái lưng nó xanh biếc, ngực màu cam giống như chim robin.

Eastern Blue bird

Sáng nay mưa rả rích nhưng đỡ lạnh hơn hôm qua. Tội nghiệp mấy con mèo hoang. Con Mun, lúc trước không biết nó ở đâu, nhưng khoảng mấy tháng nay nó chỉ ở sân sau nhà tôi. Chơi thơ thẩn một mình, ngủ lăn trên sàn gỗ, có khi leo lên trên bàn, phía dưới bàn ông Tám để cái hộp lót vài miếng giẻ thỉnh thoảng nó vào nằm trong hộp tránh mưa. Ông Tám cũng để thêm một cái bóng đèn nhỏ dấu bên trong cái hộp để che ánh sáng nhưng hy vọng cũng có chút hơi ấm ở cái hộp kế bên nhưng con mèo chưa thấy nằm trong hộp này. Nếu mưa nhỏ, Mun ngồi sát vào cửa sau, bên trên có cái mái che, nếu mưa to sẽ bị ướt. Cứ mỗi mùa đông là tôi lại thấy áy náy, muốn mua một cái hộp có cách nhiệt, để cho nó ngủ trong mùa đông. Hộp kín đáo, không bị mưa ướt hay tuyết, hơi ấm của nó sẽ được giữ trong hộp nhờ có cách nhiệt. Tuy vậy, loài mèo khó dạy lắm. Có hộp chưa chắc nó đã vào, chỉ sợ mấy con thú khác như opossum hay skunk vào làm tổ.

Có khi thấy chúng khôn ngoan, có khi tôi cũng tự hỏi sao mà tụi nó ngu quá. Hai con mèo vàng giống hệt nhau, nhìn mãi tôi và ông Tám cũng phân biệt được con nào già, con nào trẻ. Sáng nay con Già đến ăn trễ hơn Mun. Hai con thường đến chờ sẵn trên sàn gỗ, sáng sớm kêu um sùm tôi sợ kinh động hàng xóm vốn không ưa thú hoang. Thức ăn tôi để dưới bàn tránh mưa, nhưng mà con Già có lẽ không biết, không đánh hơi được, thấy tôi hé cửa sau ra nhìn nó sấn sổ chạy tới, người ướt nhem. Mèo có lông tơ nên dễ ướt, lông nó quện lại trông xơ xác. Tội nghiệp.

Thu đã tàn chưa?

Tự hỏi mình thu đã tàn chưa để hát bài Buồn Tàn Thu.

Sterling bay trên cánh đồng bắp

Cây trong rừng rụng đã gần hết lá. Dọc đường trail vẫn còn vài cây cao to đang đổi từ màu xanh qua màu vàng sáng rực. Mấy cây này đổi màu trễ, nhờ các cây kia đã rụng hết lá nên có ánh mặt trời để sáng lên và đổi màu. Lá khô trên đường dậy mùi hương. Như thế có nghĩa là mùa thu đang qua đi từng ngày.

Các loại chim đã bay về miền ấm. Lác đác dọc theo sông vẫn còn vạc trắng, vạc xám, vịt Mallard, ngỗng Canada, và rùa. Loại rùa vẫn trồi lên, nằm trên những thân cây để sưởi nắng. Một trong những đặc điểm của mùa thu là chim di cư. Trong các loại chim di cư có loại sterling di cư thành đàn rất lớn, hàng ngàn con. Sterling nhỏ cỡ chim én, màu đen tuyền, lóng lánh ngũ sắc dưới nắng, nhỏ hơn chim quạ rất nhiều. Khi hằng ngàn con sterling bay cùng một lúc tạo ra hình ảnh rất ngoạn mục. Chúng lượn lên lượn xuống, bay ngược chiều nhau thành luồng, vậy mà không đụng chạm nhau. Tiếng kêu của nguyên đàn sterling nghe như tiếng giông bão, líu ríu nhưng inh ỏi. Chúng đậu đầy kín trên ngọn cây, đầy kín dưới mặt đất, rồi vụt cất cánh bay như gió bão.

Ở khuôn viên nhà thờ Pillar, có một cánh đồng bắp. Tôi thích nhìn những cánh đồng rộng (meadow) vào mùa thu. Đồng gì cũng được, đồng cỏ lau hay đồng bắp. Mùa thu, cánh đồng màu nâu rất đẹp. Đôi khi đằng sau những cánh đồng, được viền bằng một hàng cây khô, là những ngôi nhà màu trắng. Cảnh thu này giống như một bức tranh. Mà có lẽ, chúng chính là những bức tranh được vẽ lại bởi một họa sĩ nào đó. Hôm qua nhìn thấy một đàn sterling bay sà trên đồng bắp. Chúng đậu khuất dưới chân những cây bắp, không vụt bay lên mà chỉ di chuyển nhẹ nhàng bên trên đầu cây bắp. Không thể thu được đàn chim vào một tấm ảnh, vì chỉ thấy những đốm đen li ti trên màu vàng. Hôm qua tôi lại không mang máy thường dùng, chỉ dùng cái camera bỏ túi. Không hiểu tại sao cứ để máy tốt ở nhà là gặp những cảnh muốn ghi vào ảnh và vì thế ảnh chụp được lại gây thất vọng.

Đậu chi chít trên những cành cây
Gặp con chim gõ kiến đang nhô đầu ra khỏi tổ, ngược nắng

Nhìn những con chim sterling trên đồng bắp cũng làm tôi liên tưởng đến những con quạ trên cánh đồng lúa mì trong tranh của van Gogh. Trong tranh hình như có bảy con chim (hay chín, hay mười một, tôi không nhớ rõ) nhưng khi làm phim người ta chắc phải thả ra nhiều hơn.

Chút vui

Bên kia sông

Đi trên đường trail, tôi để ý thấy đa số ngỗng Canada biến mất, chỉ còn lại dăm ba con. Vạc xám, cormorant, và vịt Mallard vẫn còn. Loại này ở đoạn sông này không nhiều nên số lượng ở hay bay về miền ấm áp không gây ấn tượng mạnh. Nhờ số lượng ngỗng Canada giảm khiến tôi thấy số lượng vịt Mallard nhiều hơn lúc mùa hè. Đang đi tôi để ý con vịt Mallard này nhờ cái chân màu cam của nó. Có thể nó đứng trên một mảng lá màu cam vướng trên thân cây. Tôi mang ống kính 55-200mm, nên chỉ chụp đại, một phần vì phía trên có một mảng lá vàng sáng lóa trông bắt mắt. Khi về nhà mở computer xem ảnh thì có chút vui khi nhìn thấy mấy con wood duck núp dưới mớ rễ cây. Loại wood duck màu sắc nhiều hơn mallard, và rất nhát, ít khi bơi trên kênh hay những chỗ có người qua lại. Chắc bị loài người săn bắt nhiều nên đâm ra phòng thủ kỹ hơn.

Wood duck

Phóng lớn ảnh ra thì thấy có ít nhất là hai con wood duck trống. Có thể là ba con. con thứ ba núp sau con bên tay phải. Có lẽ có con wood duck mái núp đâu đó, nhưng vì nó màu nâu nên khó nhìn thấy hơn. Loại này vừa nhỏ vừa nhát nên ở xa mãi bên kia sông ít khi chụp được ảnh rõ.

Lá phong
Có cái gì đó rơi xuống, hay một bọt nước do cá thả ra, tạo thành một vòng khoắn.
Lá cây redbud nắng rọi vào
Cô sóc đang nghịch ngợm trên cây sycamore

Màu thu

Từ Washington Rock nhìn xuống phố

Nhân đi trả sách cho thư viện tôi lại ghé Washington Rock. Nắng một giờ trưa chói chang. Từ trên cao nhìn xuống thấy màu thu rực rỡ. Lá thu rụng đã nhiều. Hai buổi chiều ông Tám thổi lá, gom lá lại thành đống cao nghệu dọc theo con đường trước mặt. Mỗi lần bước ra sân là ngửi thấy mùi lá sồi khô rất thơm. Hương mùa thu. Khi tôi đang ngắm nghía chụp ảnh, một người đàn ông to béo, trạc bốn mươi hay hơn, trên tay bế một đứa bé, nói: “mỗi buổi sáng có nhiều người đến nơi này để chụp ảnh mặt trời lên.” Tôi nghĩ mình thuộc loại lười biếng. Cứ bảo mình đi chụp ảnh mặt trời lên và trăng lên nhưng đã bao nhiêu năm vẫn chưa thực hiện.

Con nai vàng ngơ ngác. Đạp trên lá vàng khô

Sáng hôm qua, mặt trời đang lên, màu sắc rực rỡ trong cánh rừng sau nhà. Lá lúc này rụng đã khá nhiều nên nhìn thấy một đàn nai khá đông. Mấy con nai con tung tăng chạy nhảy và biến mất mau chóng. Mấy con nai lớn dạn dĩ hơn nên nấn ná đủ lâu cho tôi bấm vài tấm. Bạn đã thấy lá vàng khô giờ thấy thêm con nai vàng ngơ ngác.

Anh nai

Ít khi gặp được nai đực, đầu có gạc. Hôm nọ đi bộ trên đường trail, gặp một anh chạy bộ, người dong dỏng, đầu cạo trọc, tôi đặt tên là anh thầy tu. Anh này chạy thường xuyên nên ông Tám và tôi quen mặt. Anh hỏi chúng tôi có thấy con nai thật to đầu đầy đủ sừng gạc không. Trước đó chúng tôi nghe tiếng động lớn nhìn ngoái lại nhưng không thấy nai. Anh chạy sau chỉ mấy chục bước mà được nhìn thấy con nai đứng giữa đường gần như sát cạnh anh. Tiếc là không có duyên gặp nai nhưng cũng đỡ sợ, bởi vì nai to có thể vì sợ chạy tán loạn húc vào người mình có thể gây thương tích.

Mùa thu hoa cúc

Aster – cúc trắng

Đứng trên đồi trong Watchung Reservation nhìn xuống chân tôi thấy một nhánh cúc mọc hoang. Hoa nhỏ li ti, cả hoa lẫn nhụy gồm lại chỉ cỡ cái cúc áo. Có người gọi là cúc mối, có người gọi là cúc thạch thảo. Hoa này thuộc loại aster.

Chrysanthemum – cúc vàng

Hoa này gọi là cúc đại đóa. Hôm đi chùa Giác Lâm ở Philadelphia chụp được ảnh hoa cúc trong sân chùa. Nhớ câu hát “hoa cúc vàng trong sân anh, xinh như áo mới em ngày nào.” Hồi còn đi học buổi chiều đi bộ dọc theo con đường trước trường Nhà Bè với cô bạn Hoàng Anh, thấy trong sân nhà ai đó có cây cúc đại đóa màu vàng. Mới đó mà đã năm mươi năm.

White chrysanthemums,
Yellow chrysanthemums,
Would there were no other names!
Ransetsu

Cúc trắng
Cúc vàng
Sẽ chẳng có tên nào khác!

At Nara
The smell of chrysanthemums
The ancient images of Buddha

Ở Nara
Hương hoa cúc
Hình ảnh cổ xưa của Phật

Có lẽ nhà thơ Ransetsu muốn nói rằng chỉ cần gọi là cúc trắng nếu hoa màu trắng, cúc vàng nếu hoa màu vàng. Tự vẻ đẹp của đóa hoa, của màu sắc đã làm thành tên, không cần phải đặt tên gì nữa.

Cây hồng mọc hoang

Cách Canal Park, chỗ tôi đậu xe để vào đường trail Delaware and Raritan Canal, chừng 2 miles hướng về phía Ten-Mile Lock, có một trạm lọc nước. Đây cũng là chỗ nhánh sông Raritan nhập vào sông Millstone. Ở đây có một cây hồng persimmon mọc hoang. Trái của nó rất bé, cỡ chừng trái crabapple. Có một bữa sáng đi ngang thấy cây hồng đã rụng hết lá. Trên cây chi chít những trái hồng.

Cây hồng mọc hoang

Khổ một nỗi là trái trên cành thấp nhất, nhìn từ xa tưởng như là đà sát mặt đất, đến gần thì biết là nó vẫn nằm ngoài tầm với của tôi. Trái của nó chín mọng, mùi thơm thoang thoảng. Đã đôi ba lần cố hái trái, đem về ăn, với sự giúp sức của ông Tám dùng cây khoèo cái nhánh xuống rồi hái nhặt lia lịa, tôi biết là trái của nó tuy ngọt nhưng rất chát. Ngâm trong nước rất lâu mà vị chát vẫn còn rất đậm. Ăn không nổi. Mà hễ ai cố gắng ăn là coi chừng, sẽ bị táo bón kinh hồn. Vậy mà những lần đi ngang tôi đều nhìn cây hồng thật tiếc rẻ. Có lần ăn trái chín thật chín thấy chịu được vị chát nên vẫn mong tìm được trái chín như vậy. Nghĩ mình khùng, ra chợ mua quách về ăn cho dễ dàng. Hồng ở chợ vừa dòn vừa ngọt. Lần đi Nhật, thấy họ bán hồng quả to gấp hai ba lần quả hồng mua ở chợ Á châu. Quả hồng còn khá cứng nhưng rất ngọt. Nhà thơ Nhật Shiki có bài thơ

Write me down
As one who loved poetry,
And persimmons

Ghi tên tôi
Là người thích thơ
Và trái hồng

Shiki thích ăn trái hồng đến độ

Ill,
From overeating
Persimmons

Ốm
Vì ăn nhiều quá
Trái hồng

Bản tiếng Anh trích trong tập thơ Haiku của R. H. Blyth. Nguyễn thị Hải Hà dịch ra tiếng Việt.

Lá phong
Lá beech
Canal Park, cửa vào đường trail Delaware and Raritan

Hồng ở trên cây, đẹp
Ở dưới đất chín muồi, rất thơm
Ngọt chát như cuộc đời
NTHH


Cảnh đẹp ảnh không đẹp

Tôi thấy bức rức khó chịu khi nhìn những bức ảnh tôi chụp. Cảnh thu rất đẹp nhưng những tấm ảnh tôi chụp đường nét loạn xạ, sáng quá, tối quá, màu đậm quá, nhạt quá, mờ quá. Biết vậy. Nhưng mà.

Ảnh 1

Tấm ảnh 1, tôi đứng ở một trạm dừng chân của tiểu bang Delaware, được mang tên vị nguyên thủ quốc gia Hoa Kỳ đương nhiệm, Biden Welcome Center, nhìn ra đường cao tốc.

Ông Tám lái xe đưa cô con lớn của tôi đi đến phía nam của Washington DC. Suốt 220 miles (350km), viền hai bên đường cao tốc là chuỗi màu sắc rực rỡ như thế này. Như hai bức tường màu đỏ cam vàng và xanh nối tiếp nhau trùng trùng điệp điệp.

Ảnh 2

Ảnh 2 chụp ở New Jersey, bên trong Watchung Reservation, trên đường trail nhìn ra đường 527 thấy một chỗ đang khai thác đá. Bên trên là rừng, bên dưới là mỏ đá.

Gần Nature Center trong Watchung Reservation
Ở bìa rừng trong Felt Village thuộc Watchung Reservation
Một đoạn đường Delaware and Raritan trail

Hôm qua nhìn mùa thu

Buổi chiều hôm qua (10/27/22) tôi đi thư viện để trả sách và mượn thêm sách. Sẵn thuận đường tôi ghé Washington Rock Park chụp vài tấm ảnh mùa thu. Không đem máy ảnh nên dùng phone để chụp ảnh. Sáng nay ngồi tiếc đã không mang máy ảnh theo.

Mưa liên tiếp mấy ngày, hôm qua nắng rực rỡ. New Jersey chỗ tôi ở đang hồi cao điểm chuyển màu lá mùa thu. Washington Rock Park ít có cây lá đỏ, đa số là lá vàng. Sau nhà tôi màu sắc cũng rực rỡ nhưng cây rừng chằng chịt lắm, vào ảnh chỉ thấy màu sắc loạn xạ, không đẹp. Có những lúc tôi nhìn thấy cảnh thu, nghĩ là nếu gom vào tấm ảnh chắc vừa mắt. Thí dụ như lái xe lên đoạn đường đèo Warrenville nhìn thấy màu sắc và ánh sáng với những cung đường ôm vòng với khoảng trời xanh biếc. Hoặc lúc lái xe xuống dốc nhìn thấy sau hàng thông xanh là một vạt màu đỏ như một tà áo cùng chiều dài với hàng thông nhưng phần lớn bị che khuất. Phía sau vạt màu đỏ là vạt màu vàng nắng chiếu lóng lánh. Ba vạt màu này lại bị một hàng cột điện và dây điện chắn phía trước, nếu lấy vào trong ảnh sẽ bị bớt đẹp. Nghĩ thế nhưng tôi đang lái xe không muốn dừng lại để chụp ảnh. Bởi vì đổi vị trí, khác ánh sáng tấm ảnh không còn như trong sự tưởng tượng của mình nữa.

Mùa thu thật kỳ diệu. Mới tháng trước, tuần trước, vẫn ngần ấy cây lá, thế mà vài ngày trở lạnh, cây lá trở màu, nắng lên, vạn vật bừng sáng, đời là một khung trời nắng đẹp (câu hát nào đó tôi quên tên tác giả). Thảo nào có nhà văn nhận xét. Mùa thu là mùa xuân thứ nhì trong năm, màu lá là màu hoa.

Một góc Washington Rock Park nhìn xuống Green Brook và xa hơn nữa.
Đứng ở sân trước thư viện Warren Township nhìn băng qua đường có cái đồng hồ kiểu cổ

Dây điện chằng chịt, nhưng hàng cây màu vàng sáng rực phía xa là cảnh mùa thu ở vùng này. Hầu như khắp nơi, nhìn lên đồi thấy hằng lớp cây với màu lá vàng, thỉnh thoảng chen vài cây màu đỏ. Vậy đó, tuần tới chắc là sẽ không còn rực rỡ nữa. Thu đến rồi thu đi. Chưa đi, sẽ đi, nhưng lòng người thì đã tiếc.

Điện thoại của ông Harrigan

Phim này đang chiếu trên Netflix. Truyện của Stephen King. Không uổng danh tiếng nhà văn chuyên về truyện kinh dị đầy tính sáng tạo, ông King đưa cell phone vào tác phẩm của ông. Cell phone trở thành phương tiện giao tiếp giữa người sống và kẻ chết. Câu chuyện về tình bạn của tỉ phú Harrigan với cậu bé Craig, người được Harrigan thuê đọc truyện cho ông ấy nghe. Trong lúc xem phim tôi gặp nhiều câu trích dẫn khiến tôi tò mò hơn về những cuốn sách mà Craig đọc. Dombey and Son của Charles Dickens. Mới vào phim đã có một câu của Oscar Wilde, một tác giả có nhiều truyện tôi đọc và rất thích, tuy nhiên quyển sách này Craig không đọc cho Harrigan nghe. Tôi ghi lại những câu trích dẫn này, để dành đọc lại. Rất tiếc tôi chưa dịch.

“When the Gods wish to punish us, they answer our prayers.”  – Oscar Wilde

Một trong những truyện nổi tiếng của Wilde là truyện bức chân dung của Gray được làm thành phim.

“…For passion alone is awake to it.  And when passion is dead or absent, then the magnificient throb of beauty is incomprehensible and even a little despicable.  Warm, live beauty of contact, so much deeper than the beauty of wisdom.” – Lady Chatterly’s Lover

“What is money, after all?  I mean, Papa, what can it do?  Mr. Dombey drew his chairback to its former place and patted him on the head.  ‘You’ll know better by and by, my man,’ he said.  Money, Paul, can do anything.”  – Dombey and Son

Tôi chưa đọc Dombey and Son nhưng đọc sơ lược quyển truyện này ở Wiki. Dombey rất giàu, muốn có con trai để truyền sự nghiệp. Khi vợ ông sinh đứa con trai thì bà qua đời. Dombey thuê người nuôi cậu bé. Ông có con gái tên Florence nhưng vì con gái không thể nối truyền sự nghiệp của ông nên ông không để ý đến. Về sau ông và Florence có quan hệ cha con tốt đẹp hơn.

“Did he live his life again in every detail of desire, temptation, and surrender during that supreme moment of complete knowledge?  He cried in a whisper at some image, at some vision.  He cried out twice.  A cry that was no more than a breath.  The horror.  The horror.”  Heart of Darkness Conrad

Quyển Heart of Darkness tôi cố đọc vài lần nhưng không thấy muốn đọc tiếp.

“The true value of money is not measured in worth.  The true value of money is measured in power.” Câu trích dẫn này và câu kế tiếp “Money can be cruel if use properly.” phát xuất từ nhân vật Harrigan trong phim. Tôi có mượn quyển sách về để tìm xem những câu trích dẫn từ những quyển sách nhưng không thấy trong những trang đầu tiên khiến tôi mất kiên nhẫn. Giá trị của tiền không phải là tiền mà là quyền lực. Khó mà tách rời sự liên hệ giữa tiền và quyền. Thường thường, có quyền là có thể kiếm ra tiền, và có tiền là có thể có quyền. Tuy vậy, sự liên hệ này có khi không bổ túc cho nhau mà đâm ra có hại cho một bên. Có tiền mà không có quyền rất dễ bị bắt bỏ tù để chiếm đoạt tài sản. Có quyền mà không có tiền thì lệnh ban ra nhưng không được tuân theo. Ở Nhật thời xưa, những người kiếm sĩ samurai không tiền phải chịu lép vế giới thương gia. Thời nào cũng vậy, chuyện có quyền nhưng chưa có tiền cũng dễ chữa, cứ bắt dân nộp thuế hay đi chiếm đất.

“All right, kids, Rocky said into the microphone.  A little sprint before the rest of the period.  “Give,” he said to the orchestra, clapping his hands together and stamping on the platform, keeping time to the music.  In a moment, the customers were clapping their hands together and stamping too.  We were all milling around in the middle of the floor, all of us watching the minute hand of the clock, when suddenly, Kid Kamm, of couple number 18, began slapping his partner on the cheek.  He was holding her up with his left hand, slapping her backeards and forwards with his right hand.  But she did not respond.  She was dead to the world. She gurgled a couple of times… the slid to the floor.  The floor judge blew his whistle, and all the customers jumped to their feet, excited. Customers at a marathon dance do not have to be prepared…”  – They Shoot Horses, Don’t They?

Quyển sách này, nói về những con ngựa khi bị tổn thương quá nặng, người ta sẽ giết ngựa đi, coi như đây là hành động nhân đạo. Nhưng đối với loài người, khi cuộc sống đã trở nên đau đớn cực độ, tàn tật, quằn quại không còn sống an lành được mà không được phép nhận món quà nhân đạo là cái chết.

Lá phong

Ảnh không liên hệ gì đến bài tại có sẵn nên đưa lên.

Tháng Mười sắp hết

Cánh đồng

Đứng ở thềm nhà bỏ hoang trong Duke Farms nhìn ra cánh đồng trống, được Duke Farms gọi là the great meadow. Hàng cây ginko (bạch quả) vẫn còn xanh. Màu cỏ hồng khiến tôi nhớ đến bài hát Cỏ Hồng của Phạm Duy, cả một bài dài mà chỉ có chữ cỏ hồng ở cuối bài. Tôi cũng nhớ đến bài Cỏ Úa của Lam Phương. Tôi thích bài Cỏ Úa dù lời ca buồn thê thiết. “Một chiều trên đồi em làm thơ. Cỏ biếc tương tư vàng úa.” Sau đó lại kêu lên “Cứ cúi mặt đi để nghe đời lầm lỡ. Đừng níu thời gian cho thêm sầu vương mang.”

Tháng Mười qua nhanh. Buổi chiều chừng 5 giờ đã tối. Sáng bảy giờ mặt trời vẫn còn khuất dưới chân trời. Mưa hai ba hôm nay khiến trời càng lâu sáng và mau tối. Sương mù dày đặc. Trời ấm hơn tuần trước. Buổi sáng sớm mà đến 60 độ F. Mưa làm lá rụng đầy. Lá đã bắt đầu rụng nhiều từ tuần trước. Hôm leo núi xem hồ Sunfish đã thấy những đợt lá rụng, không thể nói là mưa lá bởi vì trời nắng rực rỡ. Trông những đợt lá rụng giống như một đàn bướm vàng từ trên cao nhẹ nhàng đáp xuống.

Lá khô rất thơm. Hôm đi Watchung Reservation tôi cứ hít hà khen mùi thơm của lá. Thật ra không biết lá nào thơm. Trước nhà tôi có một hàng bốn cây sồi rất cao, lá to. Mùa thu lá rụng đầy, có mùi lá khô thơm đặc biệt. Tôi cứ bảo đó là mùi lá sồi. Cây sồi có mùi riêng của nó. Người uống wine, whisky, có thể cảm nhận được mùi sồi. Nhưng người uống phải biết mùi sồi trước khi uống các loại rượu này. Chúng ta không thể nào nhận ra cái mùi mà chúng ta chưa hề biết. Chúng ta có thể đoán, nhưng không biết chắc, cho đến khi có thể kiểm chứng những điều chúng ta đoán. Lần đi Kentucky con gái tôi dẫn đi nếm rượu bourbon tôi cảm nhận được mùi sồi trong vị rượu. Sở dĩ rượu có mùi sồi là vì người ta dùng các thùng gỗ sồi để chứa rượu. Riêng loại rượu bourbon, người ta đốt bên trong các thùng gỗ sồi cho cháy xém, một (có lẽ) là để diệt khuẩn hay nấm, hai là để tạo màu và mùi. Rượu bourbon sóng sánh màu vàng nâu rất đẹp.

Cái mùi trên đoạn đường trail dẫn từ Nature Science Center ngang qua Watchung Stable có mùi thơm khác. Đoạn đường này thường có nhiều ngựa đi ngang nên rất nhiều phân ngựa. Loại mùi phân ngựa ra, chắc chắn là phải thế rồi, có một loại lá khô nào đó có mùi thơm rất ngọt, rất dịu; ngọt dịu hơn và nữ tính hơn mùi lá sồi. Đoạn đường này có nhiều loại cây. Cây sassafras có mùi thơm ngay cả lúc tươi. Thật ra, lá và trái cây, khi khô đều có mùi thơm riêng, riêng lá, khi còn tươi có thể người ta không nhận ra mùi thơm.

Con suối ở Ten-Mile lock, D&R trail