Câu chuyện để suy nghĩ

Hôm nay, tôi sẽ tóm tắt một câu chuyện trong Decameron, truyện thứ tư, được kể trong ngày thứ mười. Một câu chuyện làm tôi suy nghĩ.

Ở Bologna, có một người chàng trai trẻ tên Gentil thuộc dòng quí tộc Carisendi. Gentil ngầm hiểu là lịch sự, cao thượng, và rất nhân hậu. Chàng từ lâu thầm yêu một phụ nữ rất đẹp tên Madonna Catalina nhưng nàng đã có chồng. Chồng của nàng là Niccolucio Caccianimico, bạn thân của Gentil. Trong lúc Nicco (viết ngắn của chữ Niccolucio) vắng mặt, Madonna lâm trọng bệnh và tắt thở. Người nhà biết là Madonna có thai nhưng vì thai còn quá nhỏ nên cho là thai nhi không thể sống sót vì thế mang Madonna đem chôn.

Gentil vì vẫn còn yêu nên đến nhà mồ viếng xác nàng. Trong khi hôn Madonna, chàng khám phá là ngực nàng vẫn còn ấm và có nhịp đập của tim. Đưa nàng về nhà, mẹ của Gentil cứu sống Madonna bằng cách ngâm nàng vào bồn nước nóng, xoa bóp, và cho uống rượu (hay thuốc). Gentil không lợi dụng nàng, hay ép nàng làm vợ. Khi Madonna sinh con, Gentil nhận đứa bé làm con đỡ đầu, nuôi dưỡng cả hai mẹ con như người thân, hay em gái trong gia đình.

Sau đó, Gentil mở một buổi tiệc lớn, mời tất cả bạn bè và những người có danh vị thế lực trong vùng, trong đó có Nicco, một người Gentil rất nể phục về tài hùng biện và biết cách cư xử công bằng. Sau buổi tiệc, Gentil đặt một câu hỏi với cộng đồng, và vì không ai trả lời thỏa đáng, Gentil mời Nicco đứng ra làm người xử vấn đề. Câu hỏi là, giả tỉ như có một người có người hầu cận thân tín, đối xử không tử tế đem bỏ người hầu cận dù chưa chết. Có người tìm thấy người hầu cận này, cứu cho sống lại, và nuôi dưỡng tử tế, thì người chủ cũ có còn quyền làm chủ, có thể đòi lại người hầu cận đã bị bỏ cho chết hay không? Nicco xử lý và lời giải thích của chàng thật hùng hồn khiến cho tất cả mọi người đều đồng ý, người hầu cận là tài sản thuộc về người chủ mới, người chủ cũ không có quyền đòi lại kẻ hầu cận của anh ta.

Khi Nicco nhìn thấy Madonna, cả hai người đều nghẹn lời rơi nước mắt. Sau đó, Gentil mời Madonna đến trước mặt Nicco và nói. Bạn không thể đòi lại Madonna, như bạn đã xử lý vấn đề trước cộng đồng nhưng tôi xin tặng Madonna cho bạn như một món quà tôi yêu quí nhất trên đời.

Giovianni Boccacio đặt tên nhân vật là Gentil chỉ người cao thượng hào hiệp, và Madonna chỉ sự tiết hạnh của người phụ nữ là để đề cao tính hào hiệp cao thượng của nhà quý phái Gentil. Ông kết thúc câu chuyện này bằng một số câu hỏi, mà tôi mời bạn cùng suy nghĩ. Chúng ta có nên so sánh câu chuyện của Gentil với chuyện vua đem tặng hai báu vật tượng trưng cho quyền lực của vua là vương miện và vương trượng; một vị viện trưởng của tu viện tha thứ cho một kẻ có tội với đức Giáo hoàng mà không bị mất mát hay tổn thương gì đến chức vụ hay danh dự; hay một lão già đưa cổ lộ liễu trước lưỡi dao găm của một kẻ vốn không ưa mình cho lắm.

Và tôi, một phụ nữ thời hiện đại cũng tự hỏi là vì sao không ai hỏi ý kiến của Madonna. Trong câu truyện này, nàng là người trung thành, may mắn được kẻ hào hiệp cứu vớt giúp đỡ cả hai mẹ con, nhưng nàng nghĩ gì về gia đình chồng đã đưa nàng và đứa con ra nhà mồ khi nàng chưa chết. Nàng có cảm động trước sự hào hiệp của Gentil không? Nàng có quyền chọn lựa được ở lại hay không? Vì sao nàng bị đẩy ra khỏi nhà và sau đó đem tặng như một món đồ và so sánh với một kẻ hầu cận? Giá trị của nàng, như một con cừu, hay con ngựa đi lạc, đẻ ra con chiên hay một con ngựa con, được bàn bạc trao đổi hay đem trả lại không cần biết đến ý nghĩ và mong ước của nàng.

Ảnh không liên hệ gì đến bài.

Sân nhà hàng xóm

Ghi chú: Amazon có cả chục phiên bản Decameron. Bản tôi dùng là của Penguin Classics do G. H. McWilliam, second edition. Quyển này được biên soạn rất công phu, lời dịch dễ hiểu. Có mục lục tóm tắt mỗi câu chuyện trong mỗi ngày. Có phụ chú những địa danh và những chi tiết mà độc giả có thể không biết. Và index của stories.

Big Eyes và Room

Trong 6 phim, tôi ít chú ý đến “Big Eyes” nhất, dù đạo diễn là Tim Burton, và nữ diễn viên chính là Amy Adams. Tôi chú ý đến Amy Adams từ phim Arrival dựa vào truyện ngắn “Story of your Life” của Ted Chiang.

Big Eyes nói về một người nữ họa sĩ tên Margaret Ulbrich, ly dị chồng và có một đứa con. Đến San Francisco, nàng mở một gian hàng vẽ chân dung ở lề đường để kiếm sống. Margaret quen với một người, bán tranh vẽ đường phố của Paris, bên cạnh gian hàng của nàng, tên là Walter Keane. Cô đơn, nghèo, bị chồng cũ kiện ra tòa đòi bắt đứa con với lý do nàng không có điều kiện để nuôi con, đang lúc túng ngặt nàng nhận lời kết hôn với Walter. Tự xưng là họa sĩ, nhưng Walter không biết vẽ. Tranh Walter bán là tranh của một họa sĩ khác tên S-cenic. Hắn đã mua toàn bộ tranh S-cenic về, và vẽ tên hắn chồng lên trên tên cũ. Margaret có tài vẽ, đặc điểm của nàng là tất cả những nhân vật trong tranh đều có đôi mắt rất to, to hơn khuôn khổ bình thường cân xứng với khuôn mặt. Walter xui giục vợ ký tên Keane là họ của hắn. Và từ đó hắn mạo danh Margaret, chiếm hữu tài sản trí tuệ của nàng. Tranh của Margaret không được giới hội họa khen ngợi, nhưng có nét độc đáo ở đôi mắt của nhân vật. Keane có tài kinh doanh, biết cách gây chú ý, nhờ truyền thông quảng cáo, nên bán được tranh và những tấm poster in hình tranh của Margaret. Hai người trở nên giàu có nhưng Margaret đau khổ vì thấy mình bị tước đoạt tên tuổi. Càng ngày Walter càng trở nên độc đoán, hung dữ, và dùng đủ mưu kế để dấu nhẹm tài năng của vợ. Khi Walter đe dọa sẽ thủ tiêu nàng nếu nàng công khai nhận nàng là tác giả của những bức tranh mang tên Keane, Margaret dẫn con bỏ trốn sang Hawai sống và bắt đầu vẽ tranh dùng chính tên của nàng. Sau đó nàng kiện Walter tội phỉ báng và mạo danh. Trước tòa Walter cứ nhất định là tranh của hắn vẽ, hắn còn trộm sách vẽ nháp của nàng để chứng minh là chính hắn vẽ. Để phân minh ai là tác giả của những họa phẩm, tòa bắt hai người vẽ tại chỗ.

Sức mạnh của Margaret, người xem dễ nhận ra là ở chỗ dám làm lại cuộc đời, mang con bỏ trốn hai lần, dùng chính tài năng của mình để kiếm sống và nuôi con. Sau đó nàng đòi lại quyền sở hữu tài năng của mình. Phim lấy bối cảnh xã hội thập niên 1950, đàn bà thường ở nhà nuôi con, vì vậy cuộc sống và tài chính đều phải tùy thuộc vào chồng.

“The Room” dựa vào quyển tiểu thuyết của Emma Donoghue, tôi nghe danh đã lâu nhưng không dám đọc. Cũng ngập ngừng rất lâu mới xem phim, và nó là phim cuối cùng tôi xem trong loạt 6 cuốn phim nói về sức mạnh người phụ nữ. Joy Newsom bị bắt cóc năm 17 tuổi. Nàng bị giam trong một cái nhà chứa đồ dùng (shed) đến bảy năm, bị kẻ bắt cóc nàng hiếp dâm, và có một đứa con trai với hắn. Đứa bé được 5 tuổi, tên Jack. Hai mẹ con gọi kẻ bắt cóc nàng là Old Nick, không gian nhỏ bé chật hẹp của hai mẹ con là The Room, căn phòng. Câu chuyện được kể qua giọng kể của Jack. Joy rất yêu con, luôn luôn tìm cách để hai mẹ con có thể trốn khỏi tay Old Nick. Joy giả vờ Jack bị ốm cần phải đi bệnh viện nhưng không kịp nên Jack chết. Nàng quấn Jack trong tấm thảm để Old Nick mang đi chôn. Trước đó nàng luyện tập Jack cách tự tháo mình ra khỏi tấm thảm, học câu nói kêu cứu, và khi xe vừa ngừng trước bảng stop sign thì nhảy xuống xe và kêu lên để cầu cứu. Trốn thoát không dễ dàng, nhưng nhờ Jack cả hai mẹ con được giải thoát. Sau đó là thời gian cả hai mẹ con phải học cách thích ứng với xã hội sau bảy năm bị giam cầm trong cái nhà kho nhỏ bé. Joy cảm thấy bất mãn là mình bị mất tự do và tuổi trẻ, trong khi bạn bè và người thân họ vẫn sống như Joy không từng có mặt trong cuộc đời. Thậm chí Joy còn trách mẹ của nàng đã dạy nàng, “phải tử tế” (be nice). Joy cho rằng vì lời dạy của mẹ, khiến nàng nghe lời Old Nick rằng con chó của hắn bị bệnh cần nàng giúp vì thế bị bắt cóc. Giữ cho tinh thần mình tỉnh táo, nuôi dạy con trong hoàn cảnh bị giam cầm, bị hiếp, và luôn hy vọng sẽ vượt thoát, dĩ nhiên Joy là người có sức mạnh tinh thần đáng khâm phục.

Ngoại trừ, Erica Bain, trong phim “The Brave One”, tất cả 5 người phụ nữ đều làm mẹ. Erica Bain, nếu có con sẽ không thể liều lĩnh trừ gian diệt ác như thế. Cả 5 người phụ nữ trong phim đều yêu con, đều muốn đời sống của con được tốt đẹp. “Changeling”, “Still Alice”, “Big Eyes” và “The Room” dựa vào chuyện có thật. Hình như Juno cũng thế. Đặc biệt ba người phụ nữ Christine Collins (bị mất và đi tìm con), Margaret Ulbrich (không muốn bị mất con), và Joy Newsom (nuôi con và yêu con trong hoàn cảnh bất hạnh, ngay cả khi đứa con là do kẻ đã hãm hiếp nàng) đều vì con mà tìm ra sức mạnh để tồn tại và vượt qua hoàn cảnh khắc nghiệt. Ở Juno (tìm người có thể thương yêu và bảo đảm cuộc sống tốt đẹp cho đứa con), tôi nhận ra sự can đảm của một cô bé dám chịu đựng lỗi lầm của cô. Thật không dễ dàng gì làm một cô bé mang thai, đi học, giữa sự soi mói dè bĩu của đám bạn bè cùng tuổi cũng như sự phán đoán đạo đức của các bậc người lớn bề trên.

Ở tuổi này, tôi xem “Still Alice” nhìn thấy sự hao mòn trí óc của Alice mà lo sợ cho chính bản thân tôi. Tôi vẫn tự hỏi mình, với những người có nhan sắc, thậm chí được xem là đẹp nhất trên màn ảnh, trên sân khấu, hoa hậu quốc gia hay thế giới, họ cảm thấy thế nào, đau khổ đến mức nào, khi bị mất nhan sắc? Một vận động viên đoạt huy chương vàng trên thế giới họ đau khổ như thế nào nếu có một ngày họ không thể cử động được? Alice, là một phụ nữ trí thức, có lẽ cũng xinh đẹp, nhưng bà tự hào với trí thức của bà. Mất trí nhớ là mất luôn trí thức, dần dần trở nên một người không hồn, một đau khổ vô cùng to lớn, có lẽ còn hơn mất nhan sắc. Trên đà xuống dốc, Alice than thở, chẳng thà bà bị bệnh cancer, tốt hơn bệnh Azheimer, vì người ta thương xót người bệnh cancer hơn, đeo nơ hồng để chúc lành cho người bệnh. Còn Azheimer nhiều khi gây tức bực khó chịu giống như bệnh giả vờ.

Các bạn nghĩ sao?

Sức mạnh của phụ nữ

Đem trả sách thư viện, chuẩn bị ra về, tôi thấy trên quầy chưng có một hộp phim. Trên hộp có đề “The strength of women” khiến tôi chú ý nên mượn về xem. Đây là một tập bao gồm 6 phim có chủ đề về sức mạnh của người phụ nữ. Hai phim tôi đã xem “Big Eyes” và “Juno.” Phim “Room” dựa vào quyển sách cùng tựa đề được giải thưởng nhưng tôi không dám đọc. Còn lại ba phim “The Brave One”, “Changeling”, và “Still Alice.”

Tôi xem “Changeling” đầu tiên. Vì thấy đạo diễn là Clint Eastwood. Phim của ông này đạo diễn thường là phim có chất lượng, quan điểm có thể gây tranh luận. Và cũng vì không biết changeling nghĩa là gì. Tra tự điển thấy changeling có nghĩa là một đứa bé bị thay thế bằng một đứa bé khác. Theo huyền thoại hay truyện thần tiên, một trẻ em thiên thần được dùng để thay thế một trẻ em trần thế bị thần tiên mang đi.

Angelina Jolie đóng vai bà mẹ bất hạnh Christine Collins, một mình nuôi con. Một ngày trong khi Christine đi làm, đứa con trai tên Walter 11 tuổi ở nhà một mình, bỗng nhiên biến mất. Christine tìm kiếm, kêu gọi cảnh sát điều tra, vài tháng sau người ta giao cho Christine một cậu bé khác bảo là con của nàng. Christine bảo là không phải và đưa ra nhiều bằng chứng, thí dụ như cậu bé này bị cắt da qui đầu và thấp hơn Walter khoảng 7cm. Ngay cả cô giáo và nha sĩ cũng chứng mình là không phải. Christine cương quyết kêu gọi cảnh sát tìm kiếm con mình thì bị cho là điên khùng. Cảnh sát đưa nàng vào bệnh viện tâm thần. Truyện xảy ra vào cuối thập niên 1920, cảnh sát lúc bấy giờ đang lũng đoạn, suy thoái đạo đức, ức chế người dân, bè lũ vây cánh rất mạnh. Christine chịu đựng mọi gian khổ để tìm con, và trong quá trình tìm con, nhiều người thương xót nàng nên giúp đỡ. Sự kiên trì và tình yêu con của người mẹ đã khiến xã hội nhìn thấy sự thoái hóa của cảnh sát và tạo nên sự thay đổi xã hội. Sức mạnh của Christine Collins là lòng yêu con và sự kiên trì.

Phim thứ hai tôi xem là “The Brave One” do Jodie Foster đóng vai Erica Bain. Erica trong một buổi đi bộ với vị hôn phu thì bị một bọn băng đảng tấn công. Bọn chúng đâm chết vị hôn phu và Erica bị trọng thương. Không hài lòng với cách điều tra của cảnh sát, Erica mua súng và đi tìm bọn băng đảng để trả thù. Tôi nghĩ sẽ không mấy người hài lòng với cách trả thù này. Erica với cây súng đã bắn chết hai tên côn đồ đe dọa người già và trẻ em đi xe điện ngầm. Khi chúng dùng dao uy hiếp nàng, Erica bắn chết cả hai. Nàng cứu một cô điếm trẻ bị một tên mua hoa vùi dập, khi tên này muốn giết cả hai người đàn bà, Erica bắn hắn chết. Sau đó, nàng gặp một tên buôn lậu ma túy, rửa tiền, làm nhiều điều phi pháp, giàu có và hung ác, cảnh sát đã nhiều phen theo dõi tên này nhưng không bắt được vì không đủ bằng chứng. Lần này Erica không dùng súng, yếu thế trước sức mạnh của tên buôn lậu này nàng bị đánh đến suýt chết nhưng tên ma đầu này thì chết vì ngã từ trên sân thượng xuống đất. Rồi Erica tìm được kẻ đã giết vị hôn phu, tìm lại được con chó của nàng đã bị bọn côn đồ bắt từ lúc đầu. Tôi thích phim này ở chỗ, Erica là người dẫn chương trình radio nói về thành phố New York có lời văn rất hay và giọng nói rất truyền cảm. Sau khi bị tấn công, Erica suýt bị mất công việc, và quan điểm của nàng về thành phố New York cũng thay đổi. Quan điểm của một người trở nên sợ hãi chính cái thành phố mình yêu mến. Cái nhìn của Erica sâu sắc hơn, đen tối hơn, và nàng càng nổi tiếng hơn, được nhiều thính giả yêu mến hơn, trong đó có một người thám tử da đen đã càng lúc càng thấy rõ ra kẻ giết người hằng loạt là người đàn bà nhỏ nhắn, xinh đẹp. Sức mạnh của Erica là sự can đảm.

Phim thứ ba tôi xem là “Still Alice”. Tôi chọn phim này vì thấy diễn viên Julianne Moore trong vai chính Alice Howland. Trong phim này, Alice mới vừa năm mươi tuổi, là một giáo sư ngôn ngữ học nổi tiếng, bị bệnh Alzheimer. Cơn bệnh cướp đi lần hồi trí óc của một nhà trí thức. Alice sống với cơn bệnh. Nàng góp tiếng nói giúp các nhà nghiên cứu hiểu thêm, một mặt khuyến khích những người đồng bệnh tìm cách sống chung với bệnh. Alice dàn xếp để khi trước khi chứng bệnh cướp hoàn toàn trí nhớ thì nàng có cách để tự tử nhưng không thành công. Sức mạnh của Alice là dám sống khi biết hoàn cảnh càng lúc càng trở nên tuyệt vọng.

“Juno” thì nhiều người biết rồi. Một cô bé Juno 16 tuổi, có thai với người bạn học. Cô tự dàn xếp để đứa bé sau khi ra đời được một cặp vợ chồng nuôi dưỡng. Không có cảnh cha mẹ chửi bới đánh đập. Bố và bà mẹ kế đều thông cảm, hiểu biết, để cô toàn quyền quyết định cách xử lý lỗi lầm của cô. Không có thưa kiện đòi ông bố trẻ trợ cấp hài nhi. Cô bé không giết chết hài nhi rồi quăng vào thùng rác như báo chí thường đưa tin về các trường hợp các cô bé dại đột chưa đầy mười tám tuổi. Juno biết là mình không thể nuôi con và cái quyết định đúng đắn nhất, can đảm nhất là chọn người xứng đáng để mang con đến cho. Trong lúc mang thai cô vẫn đi học, tương lai sẽ vào đại học. Cô có lỗi lầm, có thể nói là ngu và vô trách nhiệm. Có thể xem là cô can đảm không? Mạnh mẽ không? Có và không? Chúng ta sẽ có những câu trả lời rất khác nhau. Đủ để cho người lớn và các cô gái trẻ suy nghĩ.

“Big Eyes” và “Room” thì xin để đây. Hẹn lúc khác.

Mặt nước đóng băng, chưa hoàn toàn. Tuyết rơi một lớp mỏng trên mặt nước, chỗ chưa đóng băng cho thấy một vòng tròn.

Nhạc sĩ Lam Phương

Để tưởng nhớ nhạc sĩ Lam Phương (1937 – 2020) xin mời các bạn nghe hai đoản khúc chương trình 70 Năm Tình Ca qua giọng giới thiệu trầm ấm của Hoài Nam về nhạc sĩ Lam Phương trước và sau năm 1975.

70 Năm Tình Ca – Lam Phương – Trước 1975
70 Năm Tình Ca – Lam Phương – Sau 1975

Ngày thứ 3, truyện thứ 9

Hôm trước tôi nhắc đến quyển Decameron, với 100 truyện khó mà chọn truyện nào thú vị nhất để giới thiệu với các bạn. Vì đã nhắc đến tên vở kịch “All’s well that ends well” nên hôm nay viết tiếp. “All’s well that ends well” theo nghĩa đen nghĩa là tất cả những gì tốt đẹp thì nó sẽ kết thúc tốt đẹp. Tự điển thành ngữ trên mạng giải thích là, có nhiều vấn đề khi khởi sự thật là khó khăn tưởng chừng không thể thành công, nhưng lúc kết thúc lại thành công rực rỡ đến độ người ta chấp nhận những cách thức hay mưu mẹo đã được dùng để vượt qua trở ngại.

Người ta cho rằng để viết vở kịch “All’s well that ends well” Shakespeare đã dựa vào truyện thứ 9, ngày thứ 3, trong tuyển tập Decameron của Giovanni Baccaccio. Tuyển tập này do một nhóm mười người, ba nam và bảy nữ, kể truyện để giúp vui lẫn nhau trong những ngày lìa bỏ thành phố về thôn quê trốn dịch bệnh. Shakespeare đổi tên nhân vật nữ từ Gilette of Narbonne và Bertrand (nhân vật của Boccacio) thành Helena và Bertram. Ông thêm thắt vài nhân vật. Ở đây tôi chỉ tóm tắt truyện của Boccacio.

Ở vương quốc Pháp, có ông Bá tước của vùng Roussillon tên là Isnard. Bá tước Isnard có duy nhất một con trai tên Bertrand rất đẹp trai. Bá tước vì đau yếu bệnh tật nên phải có bác sĩ túc trực trong nhà. Ông bác sĩ có danh hiệu là Master Gerard of Narbonne. Ông có một con gái đặt tên là Gilette. Narbonne là địa danh, một quận hạt ở gần Roussillon. Vì sống gần Bertrand từ lúc còn nhỏ nên Gilette thầm yêu cậu công tử con chủ, nhưng vì là con của người giúp việc (dù là công việc của bác sĩ) và mẹ lại thuộc hàng bình dân nên không được Bertrand đoái hoài dù nàng rất xinh đẹp.

Bá tước Isnard qua đời, vua triệu tập Bertrand về kinh đô (có lẽ con quan khi cha chết thì được vua nuôi dưỡng). Một thời gian sau, bác sĩ Gerard cũng qua đời. Vua Pháp bị bệnh fistula, một loại nội thương, nhiễm trùng ăn ruồng từ chỗ này sang chỗ khác như một cái ống, bao nhiêu bác sĩ đến chữa mà không khỏi. Khi nghe tin này, vốn được cha truyền nghề, Gilette biết có thể chữa bệnh cho vua nên nàng vào kinh đô xin trị bệnh cho vua. Không được vua tin, Gilette bảo rằng, nếu không chữa khỏi bệnh cho vua, thì sẽ dâng tính mệnh. Vua hứa nếu chữa được bệnh, nàng có thể chọn bất cứ vương tôn công tử nào trong triều đình để làm chồng. Tình yêu của Gilette dành cho Bertrand không hề suy giảm, trái lại ngày càng say mê, nhất là khi vào triều đình nhìn thoáng thấy Bertrand lúc này càng xinh đẹp hơn xưa rất nhiều. Chữa bệnh cho vua xong, Gilette xin được chọn Bertrand làm chồng. Vua ra lệnh Bertrand phải cưới Gilette làm vợ.

Bertrand không dám cãi lệnh vua, nhưng cũng không đồng ý lấy Gilette làm vợ, một là bị ép buộc, hai là chê Gilette thuộc giai cấp thấp, và ba là nghi ngờ vì là con nhà hầu cận có thể đã bị ông bố Bá tước đã hưởng thụ rồi. Sau khi cưới, giả vờ về quê chàng xung phong đi đánh trận ở Florence, lúc ấy Florence đang có chiến tranh với Sienese. Gilette rời kinh đô nước Pháp về quê chồng, giúp dân Roussillon trở nên thịnh vượng, ai cũng kính trọng gọi nàng là nữ Bá tước. Gilette nhắn tin gọi chồng về cai quản đất đai của gia đình, nhưng Bertrand trả lời là bao giờ Gilette lấy được chiếc nhẫn yêu quí trên ngón tay của chàng, và có được hai đứa con cho chàng, thì chàng sẽ trở về nhận nàng làm vợ. Chiếc nhẫn đó là nhẫn mang danh vị Bá tước, của gia đình, không bao giờ Bertrand cởi ra. Và nếu chàng không về nhà, không gần gũi với Gilette thì làm sao có thể có con, chẳng những một đứa mà đòi hai đứa, lại phải là con trai nữa.

Gilette từ khi yêu chàng Bá tước đẹp trai thầm khóc không biết bao nhiêu nước mắt. Bây giờ lại gạt nước mắt tìm cách thực hiện những điều kiện của ông chồng (tuy cưới rồi nhưng chưa hề động phòng) đặt ra. Nàng giả trang làm người hành hương, đến Florence, nghe ngóng biết là Bertrand đang yêu một cô gái nhà danh giá nhưng thất cơ lỡ vận trở nên rất nghèo. Mẹ cô rất muốn gả con cho người xứng đáng nhưng nghèo quá nên chưa biết phải làm gì. Gilette đến gặp bà mẹ, giải thích tình trạng của mình, muốn chinh phục chồng trở lại với nàng, xin bà giúp đỡ. Bà mẹ thương tình, giúp Gilette thực kiện mưu kế chinh phục chồng. Bà đánh tiếng, nếu Bertrand muốn cưới con gái của bà thì phải dâng lễ cưới bằng chiếc nhẫn quí giá trên tay chàng. Bertrand đồng ý. Chỉ sau đêm động phòng Gilette có thai. Gilette thưởng công bà mẹ và cô con gái đã giúp đỡ nàng rất hậu. Bà mẹ chỉ xin 100 pounds nàng tặng luôn 500 pounds cùng với vòng vàng trang sức cũng đáng giá thêm 500 pounds nữa. Bà mẹ đưa cô con gái về quê xa. Sau đó Gilette sinh đôi hai bé trai. Bertrand nghe tin người vợ vua bắt mình cưới đã bỏ đi nên trở về quê.

Gilette mang con trở về quê chồng gặp lúc Bertrand đang đãi tiệc với giới vương tôn công tử. Nàng đưa chiếc nhẫn, và cho hai đứa con trai giống chồng như đúc được gặp mặt bố. Nàng bảo đã thực hiện thành công hai điều kiện chồng đặt ra, giờ đây xin bá tước phải giữ tròn lời hứa và xem nàng là vợ. Sau khi nghe Gilette kể ra những điều nàng đã sắp đặt với sự giúp đỡ của bà mẹ và cô con gái ở Florence, Bertrand thật sự cảm động vì tình yêu của Gilette dành cho chàng nên nhận nàng làm vợ, yêu quí và kính trọng nàng cho đến cuối đời.

Tôi chọn tóm tắt truyện này nhưng không phải đây là truyện mà tôi thích nhất. Tôi chọn vì thấy Shakespeare đã chọn để viết thành vở kịch. Đây cũng không phải là vở kịch nổi tiếng của Shakespeare. Vở kịch này có nhiều chi tiết quá vô lý nhưng dễ được khán giả chấp nhận hơn khi nó thuộc loại kịch bản lãng mạn và hài hước (romance and comedy). Có lẽ với sở thích của người thời xưa, người ta có thể yêu chuộng được truyện này, nhưng với quan điểm của người đọc, phụ nữ thời bây giờ, tôi không vừa ý một vài điểm. Thứ nhất, tại sao Gilette có thể yêu một người đẹp trai nhưng xem rẻ nàng đến mức như vậy. Thứ hai, Gilettle là một người phụ nữ đẹp, có tài chữa bệnh, thông minh, giàu mưu kế, giỏi thuyết phục, biết quản lý tài sản nhà chồng nên ngày càng giàu có hơn, sao lại chịu nguy hiểm, lãng phí cuộc đời nàng như thế? Và thật là vô lý khi Bertrand ngủ với người đàn bà mà không nhận ra nàng không phải là cô gái chàng yêu. Chỉ gần gũi một đôi lần mà lại được hai con trai sinh đôi, thượng đế quả là ưu đãi Gilette. Còn bà mẹ, sao lại giúp một người đàn bà không quen lừa dối người muốn cưới con gái của bà làm cho con bà bị lỡ duyên?

Hỏi thì hỏi vậy, nhưng truyện mà, nếu hợp lý quá chắc không thành truyện.

Giáng sinh năm nay

Mọi năm, tôi thường cố gắng chọn một truyện ngắn về ngày Giáng sinh để dịch. Năm nay tôi chuẩn bị từ tháng 11, đọc tuyển tập truyện ngắn, xem phim, chọn được một truyện không dài lắm chỉ 6 trang, đọc khá hay, “Bốn Ngày Giáng Sinh” (Four Days of Christmas của Tim Maugham trong The Best Science Fiction and Fantasy of The Year, volume 9 do Jonathan Strahan biên soạn) nhưng tôi chán dịch, và lười nên thôi.

Các bạn có thích nghe nhạc Giáng sinh không? Các bạn thích bài nào nhất? Còn tôi thì thú thật xin các bạn tha lỗi cho tôi hết chịu nổi nhạc Giáng sinh. Năm nay ở nhà không phải nghe nhạc, chứ lúc còn đi làm, ở đâu cũng nghe nhạc Giáng sinh, ở trạm xe lửa, ở thang máy, ở mấy cái hành lang nối liền các tòa nhà với nhau, trong siêu thị… . Tôi cũng có chừng vài chục bài hát Giáng sinh, lúc mới nghe thì thấy hay, bây giờ không muốn nghe nữa. Bài hát mà tôi sợ nghe nhất là “Twelve Days of Christmas.”

Có một bài tôi còn nghe được, không hẳn là nhạc Giáng sinh, nhưng thấy có người vẫn nghe. Hallelujah của Leonard Cohen. Tác giả là người theo đạo Jewish nhưng ông cũng nghiên cứu và tu tập cả Công giáo và Phật giáo. Nhân tiện tôi đăng cả bài hát Lullaby các bạn nghe chơi cho vui. Bài Hallelujah là nhạc thu trong lúc ông đang trình diễn trước công chúng nên bạn sẽ nghe thấy tiếng ồn ào. Leonard Cohen là nhà thơ trước khi viết nhạc và trình diễn, ông cũng như một số nhạc sĩ khác (Bob Dylan và Trịnh Công Sơn chẳng hạn) được người ta gán cho danh hiệu hát thơ. Người ta bảo rằng ông viết chừng 80 phiên bản ca từ (lyric) cho bản nhạc (melody) Hallelujah, nhất là trong lúc hát trình diễn, ông thường ứng khẩu ca từ khác.

Hallelujah – Leonard Cohen hát

Lullaby – Leonard Cohen hát

Decameron

Gần đây người ta nhắc nhiều đến The Decameron, tên một tác phẩm gắn liền với văn chương thời dịch bệnh. Người đọc thời bây giờ nghe nhiều đến Dịch Hạch (La Peste hay The Plague) của Albert Camus, Love in the Time of Cholera của Gabríel Garcia Márquez, The Painted Veil của W. Somerset Maugham, và The Seven Seal phim do Ingmar Bergman đạo diễn. Decameron có lẽ ít được người bây giờ đọc hơn vì nó khá xưa nhưng nó đã từng nổi tiếng đủ để người ta mượn cốt truyện để tạo ra những tác phẩm khác, trong đó có Shakespeare với “All’s Well That Ends Well.”

Decameron, thấy trên mạng có người dùng phương pháp chiết tự từ tiếng Ý để giải thích, có nghĩa là mười ngày. Đây là một tập truyện ngắn của nhà văn Giovanni Boccacio (16 June 1313 – 21 December 1375). Boccacio cùng với Dante Alighieri và Francesco Petrach được mệnh danh là ba vương miện của văn chương Ý.

Đúng nghĩa với chữ Mười Ngày, Decameron bao gồm 100 truyện ngắn, được kể lại trong vòng mười ngày, mỗi ngày mười truyện. Có lẽ truyện được viết trong thời kỳ đại dịch The Plague hay The Black Death bùng phát ở châu Âu, cao điểm nhất trong những năm 1347 đến 1351, giết chết khoảng 75 cho đến 300 triệu người. Tập truyện có lẽ được bắt đầu vào 1348 hoàn tất vào năm 1353.

Theo Decameron vào thời ấy, người Ý bị lây nhiễm tràn lan, người bệnh chết nhiều quá. Thậm chí khi đem người chết đi chôn, một cái áo của người chết rơi trên đường, lũ heo bị đói quá đến xé cái áo ra ăn, cũng lăn quay ra chết. Người săn sóc bệnh nhân bị xa lánh. Người chết bị bỏ rơi. Xã hội hỗn loạn, đói khát, giặc cướp khắp nơi. Mười người, trong đó có bảy nữ, ba nam đang tạm trốn trong một nhà thờ, rủ nhau trốn về miền quê lúc ấy bệnh dịch chưa lan đến. Tôi không nhớ chắc, mới đọc đó mà đã quên, là cả ba người nam hay chỉ có hai người là người yêu của các cô trong nhóm. Vì sự sống còn của cả nhóm họ đồng ý với nhau sẽ không có những hành vi yêu đương lãng mạn với nhau. Tất cả sẽ đối xử với nhau như người thân trong nhà. Mười người này ở tuổi không còn quá trẻ, người trẻ nhất trong nhóm khoảng 25 hay 27, có lẽ tác giả muốn nói rằng họ ở cái tuổi có thể kềm giữ dục tính. Bạn nên nhớ là thời ấy người ta kết hôn rất trẻ, và tuổi thọ ngắn hơn bây giờ.

Họ tìm được một ngôi nhà to, đẹp, có đầy đủ thức ăn nước uống. Họ để dành riêng một ngày để làm công việc nhà và cầu nguyện. Họ phân chia công việc. Thời gian còn lại họ kể chuyện cho nhau nghe. Đây là những câu chuyện bất kỳ, có khi là chuyện của chính người kể, có khi là chuyện của người khác họ nghe và nhớ lại. Tôi thấy những câu chuyện của các cô gái đọc dễ chịu hơn. Tùy theo tính tình người kể, có nhiều khi câu chuyện giống như chuyện tiếu lâm rất tục tĩu. Có những câu chuyện tình dang dở, có chuyện tình kết thúc đẹp, chuyện dâm dật của các nhà tu, chuyện ngoại tình của các bà vợ, các ông chồng, ngay cả vua và vương tôn công tử. Có một vài chuyện tôi chú ý nhưng bây giờ thì tôi ngừng ở đây để đi chợ. Mai mốt kể tiếp về cuốn sách.

Ảnh chẳng liên hệ gì đến bài viết. Đăng cho bạn cảm thấy lạnh, cho vui.

Ảnh sáu con sandhill cranes trên cánh đồng bắp đã gặt.

Famous Blue Raincoat

Xin mời nghe lại một bài hát cũ. Bài hát The Famous Blue Raincoat của nhạc sĩ Leonard Cohen. Bài hát có nhắc đến cuối tháng 12, Clinton Street thành phố New York, là nơi nhạc sĩ Cohen đã từng cư ngụ. Cohen từng bảo rằng cái áo đi mưa màu xanh trong bài hát là áo của ông. Cái áo hiệu Blueberry ông mua ở London năm 1959. Tay áo bị sờn ông cho khâu vá lại bằng da. Về sau, khoảng đầu thập niên 70, cái áo bị ăn trộm trong căn hộ của Marianne, tên một người ông từng nhắc đến trong một vài bài hát.

Ngày đầu đông

Một loại chim lạ

Hôm nay 21 tháng Mười Hai mới chính thức là ngày đầu mùa đông.

Hôm qua, ông Tám rủ đi rừng mặc dù trời rất lạnh chừng hai mươi mấy độ F. Dẫu sau vẫn còn ấm hơn ngày hôm kia. Đêm 19 tháng 12, 2020, nhiệt độ xuống đến 7 độ F. tương đương với gần -14 độ C. Buổi sáng sớm đã thấy mèo Xám đến ăn. Tôi rất mừng nó còn sống sau một đêm lạnh giá. Dường như mấy con mèo Mun và Xám bị mất chỗ ngủ nên chúng lang thang trông rất tội nghiệp. Mèo Xám ngồi giữa nền tuyết co ro, dáng của nó luôn luôn có vẻ ủ rũ âu sầu càng tội nghiệp hơn, nhất là tôi biết nó trải qua một cơn bệnh nặng và vẫn chưa khỏi hẳn.

Tuyết khá dày, khó đi. Đi một lúc thì có tuyết rơi nhẹ nên chúng tôi vẫn đi. Mưa thì sợ ướt chứ tuyết nhẹ trời lạnh và khô nên không tan. Chúng tôi đi được hai tiếng đồng hồ, và sau hai lần ngã khá đau vì tuyết đóng thành băng rất trơn, tôi tuyên bố vậy là đủ rồi, đi về (đi và về gần 4 tiếng đồng hồ). Thường thường tôi đi đoạn đường 11. 6 miles (hơn 18 km), lần này chỉ 7.2 miles (11.5km).

Tôi có một tấm ảnh không mấy đẹp nhưng thú vị. Đến gần cánh đồng bắp thì gặp đàn chim giống như chim hạc hay cò, nhưng không phải là loại great blue heron như tôi đã chụp ảnh lúc mùa hè. Tôi không biết tên loại chim này, một đàn sáu con, má của chim chỗ gần mắt có lông màu đỏ. Cổ cao chân dài người mảnh mai màu xám nhạt. Có lẽ chúng di cư trong mùa đông. Ảnh tôi chụp lúc tuyết đang rơi.

Mà sao chúng chỉ đứng có một chân thôi, dù không ngủ. Có lẽ giữ cho một chân ấm áp nghỉ ngơi, chừng nào mỏi thì thay thế cho chân đang đứng. Ba con chim đứng trên bờ đê bao quanh ruộng bắp của nhà thờ còn ba con nữa đứng dưới ruộng bắp. Người ta đã gặt bắp nên có lẽ hạt bắp rơi sót khá nhiều mấy con chim ăn mê tơi luôn.

Thử tìm trên mạng, thì có loại Sandhill Crane khá giống chim này.