Đi chùa Hương

Hôm trước bắt đầu kể về chuyến đi chùa Hương, ngang cây cầu bắc ngang sông Đáy, tôi cà kê chuyện “sông Đáy chậm nguồn qua Phủ Quốc” mà tôi nói sai thành Phú Quốc. Nhờ các bạn hiểu biết chỉ giúp tôi “ngộ” ra trường hợp của tôi cũng giống như chuyện ngày xưa “Hoàng Khuyển ngọa tri tâm” bị sửa cho sai thành ra ngọa tri âm (hay tọa tri âm? Xin bỏ qua cho cái trí nhớ mù mờ của tôi). Thật ra tôi đã từng gặp câu hát “Sông Đáy chậm nguồn ra Phủ Quốc” nhưng tôi cho rằng chữ Phủ Quốc là do lỗi gõ máy sai chứ tôi không biết đó là tên cắt ngắn của Phủ Quốc Oai. Nếu học Địa Lý thời tiểu học đàng hoàng thì không sai như thế. Nhưng chuyện qua rồi thôi hôm nay bạn cho tôi kể nốt chuyến đi chùa Hương của tôi.

Tôi làm một chuyến du lịch mấy tuần lễ ở miền Bắc mà không đọc cho hiểu biết thêm những nơi mình sẽ đến. Biết là thiếu sót nhưng tự an ủi là chẳng hề gì, những gì mình gặp trên đường đi sẽ mới mẻ không có hình ảnh nào trong trí nhớ để so sánh và vì thế càng thú vị hơn. Tôi không ngờ, tuy đi chùa Hương lần đầu nhưng hình ảnh về Chùa Hương đã in sâu trong óc tôi qua bài thơ Đi Chùa Hương của thi sĩ Nguyễn Nhược Pháp.

Xem chừng, cảnh chùa Hương vẫn còn giống như lời cô bé mười lăm tuổi đã tả trong bài thơ viết từ năm 1934. Chỉ khác một đôi điều mà thôi.

Thầy me ra đi đò,
Thuyền mấp mênh bên bờ.
Em nhìn sông nước chảy
Đưa cánh buồm lô nhô.

Bây giờ thì không thấy ai dùng thuyền buồm. Từ ngoài bến, theo dòng suối Yến để vào chùa Hương Tích khoảng 4 km, người ta chỉ chèo tay thôi.

Chàng ngồi bên me em,
Me hỏi chuyện làm quen:
“Thưa thầy đi chùa ạ?
Thuyền đông, giời ôi chen!”

Lúc vào cũng như lúc ra bao giờ cũng đông đúc gần như chen nhau

Chàng thưa: “Vâng, thuyền đông!”
Rồi ngắm giời mênh mông,
Xa xa mờ núi biếc,
Phơn phớt áng mây hồng.

Xa xa mờ núi biếc, dãy núi mang hình dáng 99 con voi quay đầu về chùa Hương Tích, chỉ trừ một con bất tuân

Dòng sông nước đục lờ.
Ngâm nga chàng đọc thơ.

Nước suối Yến từ xưa đến giờ vẫn đục màu phù sa

Réo rắt suối đưa quanh,
Ven bờ, ngọn núi xanh,
Nhịp cầu xa nho nhỏ:
Cảnh đẹp gần như tranh

Nhịp cầu xa nho nhỏ. Tôi nghĩ cầu ngày xưa, năm 1934 có lẽ là cầu gỗ giờ được thay thế bằng cầu sắt.
Cảnh đẹp gần như tranh

Sau núi Oản, Gà, Xôi,
Bao nhiêu là khỉ ngồi.
Tới núi con Voi phục,
Có đủ cả đầu đuôi.

Con voi phục. Truyện xưa kể rằng 99 con voi hướng đầu về chùa Hương Tích để chầu bà Chúa Ba, nhưng có một con voi bướng bỉnh quay đầu về hướng khác. Con voi vì thế bị phạt bằng cách bị chặt đứt khúc sau từ phần đuôi .
Núi Mâm Xôi
Núi Oản
Dãy núi Ngũ Nhạc (năm cái chuông) còn gọi là núi Rồng

Chùa lấp sau rừng cây.
(Thuyền ta đi một ngày)
Lên cửa chùa em thấy
Hơn một trăm ăn mày.


Bây giờ chùa không còn ở trong rừng cây và tôi cũng không gặp người ăn mày nào cả.

Đường mây đá cheo veo,
Hoa đỏ, tím, vàng leo.

Thấy hoa gạo nở ở nhiều nơi và hoa ly chưng bày chung quanh chùa, không thấy các hoa leo nở tím vàng

Ô! Chùa trong đây rồi!
Động thẳm bóng xanh ngời.
Gấm thêu trần thạch nhũ,
Ngọc nhuốm hương trầm rơi

Chùa Thiên Trù (bếp nhà giời)
Trên vách đá có khắc hàng chữ tên chùa Hương Tích do chúa Trịnh Sâm ban cho “Nam Thiên Đệ Nhất Động”
Thạch nhũ có hình dáng của Đường Tăng và đệ tử đi thỉnh kinh
Đường đây kia lên giời

Vẫn giòng suối Yến nước đục, vẫn thuyền và người chen chúc nhau, nhưng điểm khác biệt rõ ràng nhất giữa chùa Hương ngày xưa và bây giờ là người ta không còn đi từng bậc thang làm bằng đá vừa đi vừa niệm “Nam vô A-Di-Đà” mà đi bằng cáp treo. Khách thập phương chỉ đi một đoạn đường dốc, độ trăm bước rồi thoải mái ngồi cáp treo mà “lên giời.”

Đến Cáp Treo Chùa Hương
Từ cáp treo nhìn xuống. Chỗ ngày xưa là đường mòn quanh đèo lên núi để đến chùa giờ người ta mở hàng quán buôn bán, che mái bít kín hết. Thỉnh thoảng có những nơi hở mái ra người đứng phía dưới nhìn lên thấy một khoảng trời và những sợi dây cáp.

Sau bữa ăn trưa tôi biết mình không đủ sức đi bộ lên chùa nên cùng với mọi người dùng cáp treo. Cái bao tử nặng trĩu đè lên đôi chân và chèn máu lên trái tim khiến tôi nhấc chân lên không nổi. Mà những bậc thang đá leo lên, bước xuống lại rất cao cho những bà già thấp bé như tôi. Mọi người dùng cáp treo để xuống nhưng tôi và ông Tám đi bộ xuống. Dọc đường ông mua hai cây gậy trúc để trợ giúp chúng tôi đi cho khỏi ngã. Khi xuống đến chân núi, chúng tôi dựng hai cây gậy trúc ven đường để có ai cần thì dùng. Dọc đường ông Tám bắt chuyện với vài bà cụ tuổi chừng tám mươi, đi bộ xuống (và có người đi lên). Các cụ ở Phú Thọ và các vùng lân cận. Đi chung đoàn, các cụ rủ nhau mặc đồ màu tím. Dọc đường tôi gặp nhiều người mặc đồ nâu sồng nhưng không thấy ai niệm “Nam vô A Di Đà” như trong bài thơ.

Bánh củ mài , ăn khá ngon. Khoai mài, giống như củ khoai từ được bào đánh nhuyễn thành bột cho thêm sữa. Khi cho vào máy xay nhuyễn người ta tăng độ nóng làm chín bột nên khi ra khỏi máy, bột biến thành bánh ăn liền lại chỗ còn nóng và giòn.
Cả đoàn, vắng bóng tôi vì tôi đang núp phía sau máy ảnh. Cậu hướng dẫn viên đội cái mũ rơm tua rua, nói tiếng Anh không có accent, như thể cậu là dân Mỹ, hay sinh ra ở Mỹ. Hỏi cậu học ở đâu, cậu bảo cậu tự học bằng cách đọc manga và xem phim nhiều.
Cái điếu khổng lồ, hút một viên bi thuốc lào trả ba ngàn đồng

Cứ nhìn ảnh nơi đặt cái điếu cày khổng lồ, bạn có thể hình dung đây là hình ảnh chung suốt con đường lên xuống chùa Hương. Người ta chiếm chỗ để làm gian hàng buôn bán quà cáp cho người đi lễ. Che chắn khắp nơi, vì lợi nhuận cá nhân mà vô tình che lấp cảnh quan tầm mắt của người đến xem chùa Hương vì yêu thích cảnh thiên nhiên của chùa. Đằng sau những tấm bạt là rừng cây xanh ngút mắt, non xanh núi biếc chập chùng, hoa gạo tháng Ba nở đỏ thắm khắp nơi. Thế mà người xem chẳng thấy gì ngoài những tấm bạt và các đồ hàng quà sản xuất hằng loạt có lẽ nhập từ Trung quốc.

Cua rạm, ốc, và rùa. Có một loại côn trùng được gọi là ngọc đá, người ta bảo có thể nuôi chơi , cho ăn bã chè (xác trà). Nhìn kỹ đó là những con cuốn chiếu khổng lồ, không biết chúng sống bao nhiêu năm để có thể trở nên to lớn như thế.
Động Hương Tích, có vài người trong đoàn mặc quần áo tím
Đường vào chùa
Đường xuống động Hương Tích
Chị lái đò đang giơ điện thoại chụp ảnh

Bài thơ Đi Chùa Hương của Nguyễn Nhược Pháp kể chuyện một cô bé mười lăm tuổi, xinh đẹp, cùng bố mẹ đi lễ chùa. Xem chừng, những điều người ta nguyện cầu khi đi lễ chùa 85 năm trước so với bây giờ cũng chẳng khác bao nhiêu. Cô bé mười lăm, đẹp như trăng rằm, nhìn thấy văn nhân, đã biết “em tìm hơi thở chàng.” Ngày nay, mười lăm tuổi mơ ước lấy chồng thì quá sớm. Tôi tự nhủ mình không nên khắt khe vì thời ấy người ta đã tính chuyện cưới xin từ lúc “nữ thập tam, nam thập lục.” Thế nhưng dù mười lăm hay hai mươi lăm, thì cái mơ ước của các thiếu nữ lên chùa Hương vẫn không thay đổi. “Em cầu mong trời phật. Sao cho em lấy chàng.”

Đi suốt dòng suối Yến, bạn sẽ gặp vô số những chiếc thuyền bán hàng như thế này. Thuyền lớn có mui che, thuyền nhỏ thì chỉ bán mía ghim lạc rang. Những nơi nhiều du khách tham quan thì buôn bán đắt hàng, giúp đỡ người địa phương nâng cao mức thu nhập. Cái tốt luôn luôn đi kèm những tật xấu mà nếu không có biện pháp xử lý tốt sẽ tổn hại đến cảnh quan chùa Hương rất nhiều. Một trong những tật xấu đó là tật xả rác của du khách. Tôi tận mắt nhìn thấy một cô gái trẻ ăn mặc ăn mặc diêm dúa, nhìn tôi không đoán được là người Việt, Hàn, hay Trung quốc. Cô mua mía ghim ăn và nhả xác mía vào ngay trong nước. Tôi tự hỏi dưới lòng suối Yến này có bao nhiêu vỏ chai và lon nhôm. Xử lý rác thải vào trong suối là nhiệm vụ của ai? Nhắc nhở du khách giữ sạch sẽ cho môi trường là nhiệm vụ của ai? Trong dịp đến Đế Thiên Đế Thích, một người du khách ngoại quốc sờ lên tường đá trong đền. Anh chàng hướng dẫn viên của tôi ngay lập tức nhắc nhở người du khách. Có lẽ người Cambodia được giáo dục, bảo vệ kho tàng văn hóa là nhiệm vu chung của tất cả mọi người Cambodia. Có lẽ người VN nên học hỏi điều này để bảo vệ thiên nhiên và văn hóa Việt Nam.

Chuyến đi tình nguyện phần cuối cùng

14 ngày với 14 người Mỹ đi làm việc tình nguyện cho Habitat for Humanity

Bài đăng ở Gió O. http://www.gio-o.com/NguyenThiHaiHa/NguyenThiHaiHa14Ngay4.htm

Phần 1, Phần 2, Phần 3

Một đôi khi bực bội

Chúng tôi có 14 ngày làm việc rất may mắn, vì khi xong việc tất cả mọi người đều an toàn.  Hoàn toàn không có mâu thuẩn nội bộ hay bất hòa với người địa phương.  Cả đoàn Habitat, những người thợ chính, và thợ phụ đã làm việc với nhau trong tinh thần hợp tác hòa đồng.  Chúng tôi rất vui vẻ thân mật với nhau.  Sau vài ngày làm việc, trở ngại ngôn ngữ không còn rõ rệt, chỉ vài động từ “tu quơ” là hai bên đều hiểu ý nhau.

Tai nạn có xảy ra nhưng không có thiệt hại.  Tôi ngã một lần.  Ông Ken ngã một lần.  Eric đứng trên giàn xây dựng, bước lên một miếng gỗ bị gãy nên ngã từ giàn cao xuống.  Cũng may anh còn trẻ, nhanh nhẹn lộn mèo rồi đáp xuống bằng chân nên không bị thương tích. 

Có một buổi chiều sau khi làm việc xong, Ken và Brandon muốn gửi bưu thiếp từ Việt Nam về Mỹ.  Bưu thiếp đã mua xong, đề địa chỉ, chỉ cần tài xế ngừng ở bưu điện chính để Ken và Brandon gửi đi.  Brandon muốn gửi độ một chục bưu thiếp.  Ken gửi ba chục cái.  Ken đã hỏi bưu điện chi nhánh giá của một bưu thiếp, chừng 23 ngàn đồng (tôi không nhớ chính xác giá tem). Ông có tem đủ dán cho mười cái bưu thiếp, bây giờ ông cần tem cho hai mươi bưu thiếp còn lại chưa viết địa chỉ xong cất ở khách sạn.

Một cô nhân viên ở bưu điện chính nói (sai) giá tem gửi đi ngoại quốc là 14 ngàn đồng (không nhớ chính xác).  Brandon mua tem dán vào và đưa xấp bưu thiếp cho cô nhân viên.  Bưu điện buổi chiều khá đông, người ra vào tấp nập, có chừng ba bốn cô nhân viên và một chị có vẻ như trưởng phòng.  Brandon ra xe ngồi chờ còn tôi ở lại giúp ông Ken.  Ông gửi mười bưu thiếp đã dán sẵn tem, nhiều hơn 14 ngàn, dư tiền tem thì không sao.  Xếp hàng chờ mua tem hơi lâu nên tôi nói ông ra xe trước, tôi cầm tiền đứng chờ.  Sau khi ông ra khỏi bưu điện lên xe, một cô nhân viên khác bảo rằng:

“Tiền tem gửi đi Mỹ giá cũ là 14 ngàn đồng, nhưng đã lên giá cách đây không lâu (một tuần hay một tháng gì đó tôi không nhớ chính xác).  Hiện nay là 23 ngàn đồng.”

“Vậy thì bán cho tôi tem 20 con tem 9 ngàn đồng.”  Tôi hỏi mua tem cho ông Ken vì ông đã mua tem giá 14 ngàn.

Cô nhân viên cho biết không có tem chín ngàn, chỉ có tem bốn ngàn và tem bốn ngàn rưỡi.  Như thế thì gửi một bưu thiếp đi cô sẽ du di bớt cho năm trăm đồng chỉ vì cô không có đủ tem. Cô đếm đủ số tem cho hai loại, tính tiền, và tôi trả tiền.  Nhưng mấy cái bưu thiếp của Brandon đã đưa cho cô nhân viên bưu điện còn thiếu tem.  Tôi không muốn những cái bưu thiếp của anh không thể rời Việt Nam hoặc không đến tay người nhận ở Hoa Kỳ vì thiếu tem.  Thế thì bán cho tôi hai loại tem 4 ngàn đồng và 4 ngàn năm trăm đồng, mỗi loại mười con.  Bưu thiếp nhỏ không có chỗ để dán tất cả tem, các cô nhân viên phải cho bưu thiếp vào một cái bao nhựa trong, dán tem bên ngoài bao nhựa, mở bao ra cho bưu thiếp vào, thấm nước lên tem, dán lên mười cái bao nhựa mất khá nhiều thì giờ và cạn nguồn kiên nhẫn của các cô nhân viên, của tôi và của đoàn tình nguyện ngồi ngoài chờ ngoài xe.

Về sau tôi mới biết trong đoàn chúng tôi có người bị đau bụng đi tiêu chảy, và có người nhịn đi tiểu đã mấy giờ đồng hồ trước đó. 

Họ đã thay đổi tôi như thế nào

Chuyến đi làm việc tình nguyện cho Habitat thay đổi sự suy nghĩ của tôi rất nhiều.  Nó giúp tôi nhận ra những thành kiến lỗi thời trong tôi.

Connie thay đổi cái định nghĩa người lãnh đạo (leader) trong tôi.  Trong một lần trò chuyện Connie cho biết đã từng giải phẫu tim (open heart surgery), thay xương chậu (hip replacement), gãy xương chân vì bị ngã vào mùa đông người ta phải gắn thép hỗ trợ ống xương chân.  Ai bảo một phụ nữ ngoài bảy mươi, thương tích đầy người từ tim đến xương chậu, đến ống xương chân, không thể làm lãnh đạo của một đoàn tình nguyện?

Nelly, Jen, và Mary, đặc biệt là Mary, làm thay đổi cái định nghĩa sức mạnh (strength) của phái nữ trong tôi.  Cả ba cô gái này làm việc nặng nhọc không thua gì các đấng nam nhi trong đoàn.

Mary thay đổi định nghĩa cái đẹp của người con gái Á châu trong tôi.  Jen và Nelly có dáng dấp mảnh mai.  Jen có mái tóc dài tuyệt đẹp, và một thân hình cân đối không thua gì các nữ diễn viên điện ảnh hay các pho tượng nữ thần Hy Lạp.  Nelly dịu dàng, hòa nhã, nhỏ nhẹ.  Ở cô toát ra một vẻ ngọt ngào thường thấy ở phụ nữ Á châu.  Mary khác hẳn Jen và Nelly.  Khuôn mặt cô có nét Á Đông của người Hạ Uy Di, nụ cười rất tươi tắn.  Mary không dữ dằn hay thô thiển, nhưng cái vẻ mạnh bạo bộc trực rất nam tính của Mary làm tôi hơi e dè.  Tôi có cảm tưởng Mary sẽ không nhường nhịn bất cứ một lời nói nào xúc phạm đến cô và những người cô yêu mến (ngay cả khi vô tình).  Chỉ một thời gian ngắn tôi nhận ra cô là người rất nhân hậu, luôn luôn muốn săn sóc sức khỏe người chung quanh (bản tính của một bác sĩ). Cô nhận lãnh và thực hiện công việc giao phó cho cô với thái độ của một quân nhân.  Làm tròn và làm nhiều hơn nếu cần.

Tôi khâm phục Mary và Jen, hai cô gái trẻ thành công trong lãnh vực các cô tự chọn.  Họ công nhận mình là người đồng tính luyến ái và chính thức kết hôn với nhau.  Họ muốn thế giới nhìn thấy, người đồng tính có quyền được sống và yêu thương nhau không phải hổ thẹn với ai cả.

Chuyến đi này cũng làm tôi suy nghĩ nhiều đến ý nghĩa của chữ cho và nhận.  Tôi tránh không dùng chữ “từ thiện” hay chữ “cho” khi tôi làm việc tình nguyện cho Habitat.  Tôi không muốn độc giả hiểu lầm, chủ nhân của ngôi nhà, may mắn được Habitat giúp “cho” căn nhà.  Tôi không phủ nhận người tình nguyện làm việc cho Habitat đã đóng góp rất nhiều công sức và tiền của vào công việc xây nhà này, nhưng chủ yếu vẫn là của và công của chủ nhân.  Điều làm tôi quý trọng phái đoàn Habitat là họ không hề có thái độ thi ơn hay ban phát của cải vật chất.  Mười lăm người (kể cả tôi) đã góp hết sức mình, phục vụ một mục đích, là xây nhà giúp gia đình anh Thoại và chị Nở.  Chúng tôi đã phục vụ trong tinh thần đoàn kết không mưu cầu hạnh phúc hay vinh quang cho cá nhân mình.

Riêng cá nhân tôi, khi đi làm việc tình nguyện, có vẻ như một người đem “cho” của cải và công sức, nhưng trái lại tôi là kẻ được “nhận” những món quà quí báu về mặt tinh thần.  Cái nhận của tôi đã vượt quá mức sự đóng góp vật chất của tôi.  Khi biết đoàn chúng tôi đi tình nguyện làm việc cho Habitat, mọi người đều tỏ vẻ ân cần và đặc biệt rất là quí mến chúng tôi.

Những câu hỏi tôi không thể trả lời

Tôi vui mừng nhận ra Cookie cũng thích viết.  Bà có ý định xuất bản một quyển sách viết về những người phụ nữ bà gặp trong cuộc đời của bà.  Thỉnh thoảng Cookie hỏi tôi, và ghi chép cẩn thận những điều bà nhận thấy trong chuyến đi.  Có những câu hỏi tôi có thể trả lời được.  Thí dụ như cái biểu ngữ gắn phía trên cửa ra vào của căn nhà bên cạnh căn nhà chúng tôi đang xây cất là gì.  “Không có gì quí hơn độc lập tự do.” Tôi dịch câu này ra cho bà.

Có những câu tôi không thể trả lời, nói cho đúng hơn là không thể trả lời hoàn toàn thẳng thắn.  Thí dụ như “Người miền Nam Việt Nam có kỳ thị người da màu không?  Họ đối xử như thế nào với quân nhân Mỹ da màu?” “Vì sao nhà cầm quyền không cho phép đoàn Habitat tặng sách vở bút mực cho các em học sinh nhưng lại cho phép tặng các em cô nhi?  Có phải vì đa số các em trong làng cô nhi là những trẻ em thiểu năng?”

Tôi kể bà nghe tôi có một “người bạn” da màu.  Ông ấy tên William Fox, đóng quân ngay phía sau căn nhà tôi ở, Tân Qui Đông năm 1968 hay 69.  Ông thường hay cho tôi kẹo.  Qua những lời ông nói, cộng thêm cách diễn tả bằng tay chân, và một chút tiếng Anh của chị Tiền nhà bên cạnh, tôi biết năm ấy ông 21 tuổi và thích mấy cô điếm ở gần cầu Hàng, Tân Thuận Đông, khu vực đèn đỏ từ thập niên sáu mươi đến giữa thập niên bảy mươi.  Ngay lúc ấy nếu tôi có kỳ thị màu da của ông ấy có lẽ tôi không biết, bởi vì tôi nằm gọn trong hội chứng thành kiến của xã hội, không thể có cái nhìn của người nằm “outside the box”.  Tôi thích kẹo William Fox cho.  Và chuyện ông thích mấy cô điếm tôi nghĩ là không tốt.  Bây giờ, tôi biết ông có thể bị kỳ thị ở bất cứ nơi đâu, ngay cả trong quốc gia (của ông), trong quân ngũ (của ông), và dĩ nhiên trong xã hội người Việt ở chung quanh.  Ngay cả con của những người da màu ở VN còn bị kỳ thị thì nói gì những người cha da màu đã bỏ lại những đứa con rơi.

Tôi không biết, thật sự, nhà cầm quyền địa phương có cấm đoán việc tặng sách vở bút mực cho học sinh không.  Anh thông dịch viên là người rất dễ mến, nhưng tôi không thể loại trừ trường hợp, anh ấy không muốn mang thêm trách nhiệm vào mình, nhất là phải đương đầu với cơ sở chính trị và tôn giáo địa phương.  Có thể để tránh tai họa cho bản thân anh đã không chuyển lời yêu cầu tặng sách vở cho học sinh, hay hội ý với nhà cầm quyền địa phương.  Làm sao biết được sách vở ấy in gì, nói gì, tuyên truyền gì, theo tôn giáo nào bài bác tôn giáo nào.  Bà Connie nói đùa, có lẽ người ta sợ các em học sinh có thể nhận ra là người Mỹ chúng ta rất đáng mến. 

Một câu hỏi khác tôi không thể trả lời, đó là tại sao người ta đổ rác lên những ngôi mộ.

Rác là một vấn đề trầm trọng, không chỉ ở VN mà ở cả thế giới, kể cả những quốc gia giàu mạnh như Trung quốc và Hoa Kỳ.  Đầu ngõ vào căn nhà đoàn Habitat đang giúp xây cất, có vài căn mộ cũ, có vẻ như bỏ hoang, bị người ta đổ rác chung quanh và ngay trên mộ.  Một người đi chung đoàn hỏi tôi, đây là nơi cần được kính trọng, tại sao người ta đổ rác lên mộ.  Tôi không có câu trả lời.  Tôi không nỡ nói là người dân tôi không có ý thức.  Không kính trọng mồ mả, nơi cư trú của người đã chết, tức là không tự kính trọng mình.

Figure 27 – Al Belais đứng ngắm ngôi mộ.  Ngôi mộ bên cạnh bị đổ rác, tôi không đành lòng chụp ảnh ngôi mộ bị thiếu kính trọng.

Những lúc vui chơi

Làm việc chăm chỉ nhưng chúng tôi có những buổi nghỉ ngơi như đi tắm biển Mỹ Khê, đi chơi núi Ngũ Hành Sơn và đi xem Hội An.  Ở Hội An chúng tôi đi xem vài ngôi chùa và đi thuyền ra cửa Đại.  Chúng tôi ăn tối trên thuyền, và đốt đèn cầy cắm lên hoa sen giấy thả trôi trên sông. 

Anh hướng dẫn viên đưa chúng tôi đi thuyền trên sông là một thanh niên gầy, nhỏ nhắn.  Anh nói tiếng Anh ngập ngừng nhưng anh cố gắng hết sức và rất tích cực trong việc săn sóc chúng tôi cho có bữa ăn ngon và giải trí vui vẻ.  Chúng tôi ngồi xe jeep (của Mỹ hay quân đội cũ trước năm 75) được chở vòng quanh Hội An, và ngoại ô của Hội An rất thú vị.  Đêm cuối cùng ở Đà Nẵng, Ryan đã làm thủng túi tiền của Connie bằng cách tổ chức bữa ăn tối từ giã ở một nhà hàng đắt tiền.  Như một đứa cháu bướng bỉnh cố tình trêu chọc bà, anh và chúng tôi đã gọi những món ăn đắt hơn giá bà Connie ấn định trước, khiến bà phải một phen tính toán và lo nghĩ.  Rob Engh, một người bạn tốt và cũng là một gentleman chính hiệu đã đề nghị giúp Connie trả phần tiền vượt mức ấn định.  Tuy nhiên tôi nghĩ với kinh nghiệm sẵn có, bà Connie đã ấn định giá hơi thấp hơn cái giá mà bà muốn để trừ hao. 

Figure 28 – Nhóm nam nhi ở trước quán rượu Dude Bar ở Đà Nẵng

Figure 29 – Chụp chung bức ảnh trước ngày chia tay

Figure 30 – Xuống núi Ngũ Hành Sơn

Figure 31 – Trên tàu từ Hội An đi ra cửa Đại

Figure 32 – Chờ nhau trước một cửa hàng ở Hội An.

Figure 33 – Từ trái qua phải hướng dẫn viên nói tiếng Anh, Eric và những bức họa tattoes, và Rob D. Engh.

Trên lưng của Eric, bức họa phía trên có hình thánh giá là huy hiệu của gia đình anh, bức họa bên dưới là phong cảnh một cánh rừng ở gần nhà anh, và trên cánh tay là bức họa về hội yêu thích câu cá hồi.

Chia tay

Rồi thì cũng đến lúc chúng tôi chia tay.  Tôi nhớ một bài hát của Hướng Đạo.

Gặp nhau đây rồi chia tay. Ngày vàng như đã vụt qua trong phút giây. Niềm hăng say, còn chưa phai.  Đường dài sông núi hẹn mai ta sum vầy.

Chuyện sum vầy cả đoàn có lẽ sẽ khó.  Al Belais không chịu nổi thời tiết nóng của Việt Nam.  Ngay cả tôi đã từng sống ở Sài Gòn những 25 năm cũng thấy rã rời ngộp thở vì nóng.  Bà Connie thì không muốn lo món ăn sáng trưa chiều liên tiếp hai tuần cho cả đoàn.  Tuy thế, tôi vẫn hy vọng sẽ có vài người trong đoàn trở lại vì yêu mến Việt Nam.  Yêu mến như Graham Greene đã viết trong quyển “The Quiet American.”

“I can’t say what made me fall in love with Vietnam – that a woman’s voice can drug you; that everything is so intense. The colors, the taste, even the rain. Nothing like the filthy rain in London. They say whatever you’re looking for, you will find here. They say you come to Vietnam and you understand a lot in a few minutes, but the rest has got to be lived. The smell: that’s the first thing that hits you, promising everything in exchange for your soul. And the heat. Your shirt is straightaway a rag. You can hardly remember your name, or what you came to escape from. But at night, there’s a breeze. The river is beautiful. You could be forgiven for thinking there was no war; that the gunshots were fireworks; that only pleasure matters. A pipe of opium, or the touch of a girl who might tell you she loves you. And then, something happens, as you knew it would. And nothing can ever be the same again.”

“Tôi không thể nói điều gì đã khiến tôi yêu mến Việt Nam – nó như cái giọng nói của một người đàn bà có thể mê hoặc người ta; hay là tất cả mọi sự vật ở đây đều xảy ra ở mức độ đậm đà đến kịch liệt.  Từ màu sắc, đến hương vị, thậm chí ngay cả cơn mưa.  Mưa ở đây thật chẳng giống tí nào những cơn mưa nhớp nháp ở Luân Đôn.  Người ta nói, bất cứ điều gì bạn tìm kiếm, bạn sẽ gặp ở đây.  Người ta nói, bạn đến Việt Nam và bạn sẽ “ngộ” rất nhiều điều chỉ trong một vài phút, nhưng tất cả những phần còn lại bạn phải “sống” để hiểu.  Mùi hương: đó là “tiếng sét ái tình” tấn công bạn, hứa hẹn tất cả mọi thứ để đánh đổi linh hồn bạn.  Và cái nóng.  Áo của bạn sẽ trở thành miếng giẻ rách ngay tức khắc.  Bạn sẽ không thể nhớ nổi cái tên của bạn, hay những điều bạn đến đây để lẩn tránh. Tuy vậy, ban đêm sẽ có chút gió nhẹ.  Con sông đẹp vô cùng.  Người ta có thể bỏ qua cho bạn vì bạn dám nghĩ rằng nơi đây không có chiến tranh; rằng tiếng súng chỉ là tiếng pháo nổ; rằng chỉ có lạc thú là quan trọng.  Một điếu thuốc phiện, hay cái vuốt ve của một cô gái, người có lẽ sẽ nói yêu bạn.  Thế rồi, chuyện đó xảy ra, như bạn biết là nó sẽ đến.  Và tất cả mọi thứ đều không thể trở lại nguyên vẹn như xưa.”

Tôi hy vọng!

Nguyễn thị Hải Hà

Tháng 4. 2019

Hồn ta phơi trắng giữa sương mù

Ngôi nhà đối diện với nhà tôi chụp sáng nay trời sương mù.
Con gà tây (hay gà lôi) đang ở trong sân của nhà bên cạnh nhà đối diện với nhà tôi.

Sáng nay trời dày đặc sương mù. Đến bây giờ 8:25 sáng sương mù chưa tan và mưa nặng hạt hơn. Buổi sáng sớm nghe tiếng gà tây gáy hay ho khúc khắc và tiếng chim hót cũng mù mờ như sương.

Tôi lục tìm một số bài thơ cũ của nhà thơ Tô Thùy Yên trong mấy bộ sưu tập thơ của nhà xuất bản Thư Ấn Quán và nhìn thấy một bài thơ có nhắc đến sương mù. Bài thơ này của Tô Nhược Châu, trong quyển Thơ Miền Nam thời chiến tập I in năm 2007. Bài thơ này in trang 688, trước khi đến thơ của Tô Thùy Yên, tôi chép lên đây vì tựa đề có từ sương mù.

Hồn ta phơi trắng giữa sương mù

Hương tóc em ồ hương của Thu
Hồn ta phơi trắng giữa sương mù
Sáng nay có một bông quỳnh nở
Và bóng chim về trên ngọn khô

Một thoáng trầm hương trên tóc xanh
Rượu của ta mà mộng của em
Sẽ đốt sầu tan trong mắt biếc
Tình ơi ta đợi đã mười năm

Thu của ta và em của ta
Một rừng cây chết sẽ trổ hoa
Ta uống cho quên trời đất cũ
Hồn ơi bay trắng cõi giang hà.

Không biết chỗ nào có rừng cây chết trổ hoa, chứ hai chậu lan của tôi được ông thầy dạy lớp trồng lan tặng, một là lan vũ nữ, một là lan hồ điệp, đều nở hoa. Học sinh trong lớp người nào cũng được tặng một chậu lan, phí tổn đã cộng vào học phí, Tôi học hai lần được hai chậu lan. Bỏ nó khô héo suýt chết, mấy đóa hoa đầu tiên bị thiếu nước rụng hết, nhưng sau đó mọc đợt hoa lần thứ nhì thay vì năm sáu nụ chỉ còn lại ba nụ thôi.

Ơ nhưng mà từ sương mù lại đến lan, tôi lang thang lạc đề mất rồi.

Đọc thơ tưởng niệm nhà thơ lớn, ôn lại ca dao.

“Ta về một bóng trên đường lớn
Thơ chẳng ai đề vạt áo phai”

(Ta Về – Tô Thùy Yên)

Buổi sáng quét sân, hoa khô lá rụng đầy, lẩn thẩn nhớ mấy câu thơ của nhà thơ nổi tiếng vừa mới qua đời. Hai câu thơ trích trong bài Ta Về khiến tôi nhớ đến mấy câu ca dao. Tôi vốn yêu thích ca dao, và thể thơ lục bát, dù suốt đời chẳng làm nổi mấy câu gọi là thơ.

“Người về ta chẳng cho về
Tay níu vạt áo, tay đề câu thơ
Câu thơ ba chữ đành rành
Chữ trung, chữ hiếu, chữ tình là ba
Chữ trung thời của phần cha
Chữ hiếu phần mẹ, đôi ta chữ tình.”

Bài ca dao nói lên cảm giác nuối tiếc, dùng dằng, xao xuyến của hai người đang yêu chia tay nhau thì hai câu thơ trong bài Ta Về càng tương phản cảm giác cô độc của một người không còn ai yêu thương bên mình.

Cũng vẫn trong bài Ta Về, đoạn thơ sau đây như một lời tạ lỗi vì đã bội tình bạc nghĩa.

“Ta về dẫu phải đi chân đất
Khắp thế gian này để gặp em
Đau khổ riêng gì nơi gió cát
Thềm nhà bụi chuối thức thâu đêm.”

Thức thâu đêm hay khóc thâu đêm, hay khóc lặng lẽ trong đêm thâu? Đi chân đất thì chẳng đủ để chuộc lỗi. Ngày xưa Tiết Đinh San cầu Phàn Lê Huê phải tam bộ nhất bái kia kìa nhà thơ ơi. Ông thật là may mắn vì được tha thứ, có lẽ người tha thứ cũng chẳng cần đọc đoạn thơ kia.

“Gió đưa bụi chuối sau hè
Anh mê vợ bé bỏ bè con thơ
Con thơ tay ẵm tay bồng…”

Vẫn trong Ta Về, hai câu:

“Ta về như nước Tào Khê chảy
Tinh đẩu mười năm luống nhạt mờ.”

khiến tôi liên tưởng đến một người đứng nhìn sao nghĩ đến những chuyện phù du của cuộc đời bên cạnh sự trường tồn của thiên nhiên, trời và đất.

“Đêm qua ra đứng bờ ao,
Trông cá, cá lặn, trông sao, sao mờ.
Buồn trông con nhện giăng tơ,
Nhện ơi nhện hỡi, nhện chờ mối ai?
Buồn trông chênh chếch sao Mai,
Sao ơi sao hỡi nhớ ai sao mờ?
Đêm đêm tưởng dải Ngân Hà,
Chuôi sao tinh Đẩu đã ba năm tròn.
Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn,
Tào Khê nước chảy hãy còn trơ trơ.”

Tấm ảnh chụp con sóc đang gặm mẩu bánh mì trong công viên ở Washington DC. Ảnh chẳng liên hệ gì với mấy câu suy tư vớ vẩn của tôi.

Yêu nhau không phải là nhìn nhau mà là cùng nhìn về một hướng

Mới càm ràm chuyện bụi chuối sau hè của một người thất trận cô đơn, lại thấy trong computer có tấm ảnh đôi rùa nằm sưởi nắng bên nhau. Nó làm tôi tưởng tượng đến hạnh phúc của một đôi vợ chồng tuổi già vẫn bên nhau và không có cắn nhau hay cãi nhau.

Cảnh đồng quê

Đồng quê VN.

Ảnh này chụp ở Tam Thái, Quảng Nam.

Cũng cánh đồng ở Tam Thái Quảng Nam, lúa trổ đòng đòng
Đồng quê Hoa Kỳ

Ảnh này chụp ở tiểu bang Maryland, Hoa Kỳ, dọc theo đường 50. Ông Tám đưa tôi và hai người cháu đi Virginia thăm gia đình một người cháu khác. Trên đường về lại New Jersey, ngồi trong xe chụp bằng phone được tấm ảnh đồng quê này.

Whoever could make two ears of corn, or two blades of grass to grow upon a spot of ground where only one grew before, would deserve better of mankind, and do more essential service to his country, than the whole race of politicians put together. Johnathan Swift (1667-1745), Gulliver’s Travels, 2.7, 1726

Bất cứ người nào có thể trồng được hai quả bắp, hay là hai cọng cỏ, trên mảnh đất trước kia chỉ mọc được một (quả bắp hay cọng cỏ), xứng đáng được hưởng phúc lợi của nhân loại nhiều hơn; Người ấy cũng đã cống hiến cho quốc gia những điều tối cần thiết, hơn tất cả chính trị gia bao gồm lại.

Chuyến đi tình nguyện phần 3

14 ngày với 14 người Mỹ đi làm việc tình nguyện  cho Habitat for Humanity

phần 1, phần 2

Giao lưu với người địa phương

LuAnne làm việc lao động rất giỏi, suốt ngày đứng lắp gạch, trét hồ, xây tường trên giàn cao không lộ vẻ mệt, nhưng so với mục giao lưu với người địa phương thì bà giỏi hơn gấp mấy lần.  Những ngày đầu chưa tiếp xúc với người địa phương, bà thường than không được giao lưu văn hóa Việt Nam.  Bà đi chợ mua trái cây cho cả đoàn ăn tráng miệng rủ tôi theo để thông dịch.  Như một nữ diễn viên điện ảnh, hay vợ của một nhà ngoại giao đang tiếp xúc với dân chúng, LuAnne trả giá, trò chuyện, hỏi han, và chụp ảnh với những cô bán hàng.  Bà thường bảo tôi, nói với cô này, nói với cô kia, “cô rất là xinh đẹp,” hay “tôi thích cái áo của bà,” những câu ngắn nhưng làm người nghe có cảm tình ngay lập tức.  Thấy trẻ nhỏ là bà xin bế, khen bé đẹp dễ thương.  Nụ cười của bà luôn sáng rực trên môi.

Figure 17 – LuAnne bế em nhỏ gần chỗ xây nhà

Những ngày đầu tiên mới đến khách sạn tôi dẫn bà đi cắt tóc.  LuAnne có mái tóc ngắn màu bạch kim rất hợp thời trang, nụ cười rạng ngời khiến cho bà trông rất trẻ và đẹp như một nữ minh tinh điện ảnh.  Trong khi bà ngồi cho cô thợ trẻ cắt tóc với mũi kéo nhọn hoắc, trí óc của tôi đi lang thang.  Tôi nhớ câu chuyện của một nữ thi sĩ nổi tiếng rất được mọi người yêu mến ở hải ngoại.  Nhiều năm trước chị đưa người chồng Mỹ về thăm Việt Nam, ông đi hớt tóc, khi chị viết, chị nhìn lưỡi dao cạo mặt của người thợ hớt tóc kéo dài nơi gần cổ của chồng chị, tôi đọc được cảm giác rờn rợn của chị.  Bà LuAnne và rất nhiều người trong đoàn, bây giờ, không hề biết cảm giác bất an giữa mũi kéo của người thợ hớt tóc và mối oán thù do ảnh hưởng cuộc chiến tranh Việt Nam.  

Những lúc nghỉ ngơi chúng tôi thường đi loanh quanh trong xóm làm quen với người địa phương.  Một nhóm người ngoại quốc vui vẻ ồn ào xây một ngôi nhà cho người trong xóm trở thành điểm chú ý của người địa phương.  Các em nhỏ đạp xe ngang để xem.  Người trong xóm ngừng lại trước nhà trò chuyện hỏi han. Có một ông cụ người nhỏ nhắn ăn mặc bảnh bao đến xem và bảo rằng chúng tôi, đoàn tình nguyện làm việc chậm quá, làm thợ hồ như thế này sẽ không đủ ăn.  Không biết trả lời sao với ông cụ, tôi và Patty hay LuAnne cười làm thinh.  Tôi thầm nghĩ chúng tôi đủ ăn rồi mới đi tình nguyện cụ ơi.

Không riêng người địa phương đến tìm xem chúng tôi xây nhà.  Cả công an cũng đến.  Tôi gặp một cậu công an rất trẻ, mặc áo màu tím hoa sim, đi xe gắn máy rất đẹp.  Cậu nhận ngay cậu là công an cấp tỉnh được phái đến xem sự sinh hoạt của đoàn Habitat.  Cậu bảo vệ chúng tôi và cũng bảo vệ người địa phương.

Figure 18- Patty, ông cụ chê chúng tôi xây nhà chậm, và LuAnne

Ryan và Brandon khám phá ra có đến ba ngôi chùa gần ngôi nhà chúng tôi xây cất.  Trong một ngôi chùa, họ gặp một ông sư, và một cậu sinh viên nói tiếng Anh rất giỏi.  Hôm sau Ryan, Brandon rủ tôi và Cookie đi trở lại ngôi chùa ấy.  Lần này chúng tôi không gặp vị sư và cậu thanh niên, trái lại chúng tôi gặp một người nữ tu và cô đồ đệ của người nữ tu này. Cậu thanh niên giỏi tiếng Anh đã lên đường du học sang Úc.

Một lần khác, Cookie, Patty và tôi quẹo sang ngõ khác.  Chúng tôi gặp một đống tro vàng mã trong đó có một số đồ sứ bị đem bỏ trong đống rác ở ven đường gần chùa.  Cookie nhặt một một cái đĩa sứ hình rồng phụng, phía sau ở đáy đĩa có in chữ Bát Tràng.  Khi thấy chữ Bát Tràng tôi biết chắc chắn đây không phải là món đồ cổ.  Đây có thể là lễ cúng rồi dẹp bỏ tất cả đồ vật ở một ngôi mộ gần đó.  Patty nhặt được mấy cái bình và chung rượu có nắp đậy cũng thuộc loại gốm sứ xanh và trắng.  Tôi hơi sợ không muốn thu nhặt đồ ở mộ, rủi tốt vía lại rủ người dưới mộ theo mình về nhà.  Tuy vậy tôi cũng không muốn làm hai người bạn cùng đoàn bị lây nỗi sợ vớ vẩn của tôi.  

Figure 19 – Cookie đang cầm cái đĩa bà nhặt được

Những người hào phóng

Ở Tam Kỳ, tôi gặp một người bạn. Thúy Loan và tôi quen nhau từ hồi 2009 khi chúng tôi dùng yahoo blog 360.  Khi biết tôi cùng phái đoàn tình nguyện Habitat đi xây nhà cho một người dân ở xã Tam Thái, huyện Phú Ninh, cô đến thăm.  Để bày tỏ lòng tri ân đoàn tình nguyện đã đến giúp một gia đình người dân Quảng Nam, quê nhà của Loan, nàng nhờ tôi gửi tặng người trong đoàn túi chứa quế để làm thơm quần áo.

Figure 20 – Túi bột quế thơm

Không chỉ riêng Thúy Loan, rất nhiều người chúng tôi gặp, khi biết chúng tôi đến Tam Thái, Phú Ninh làm việc tình nguyện, họ đều bày tỏ thái độ quí mến và đáp lễ với chúng tôi bằng tấm lòng hiếu khách của người địa phương.

Tấm lòng hào phóng của người địa phương không thể tính bằng tiền.  Vợ chồng người hàng xóm, Lợi (người vợ) và Tư (người chồng) đã niềm nở đón chúng tôi như bạn bè.  Đầu tiên vài người trong nhóm chúng tôi sang xem cô làm bánh tráng.  Cô mời chúng tôi ngồi chơi, trò chuyện hỏi han.  Cô rất yêu thích mái tóc thắt bính và màu da chocolate của Cookie, cô xin phép được sờ mái tóc, làn da và khen Cookie trẻ và đẹp mãi. Rồi cô mời chúng tôi nước trà vối.  Sau đó mời chúng tôi ăn cơm.  Và chúng tôi say chuyện cứ muốn ngồi mãi không về.  Bữa cơm của cô có rau cải, thịt lợn luộc, và cá chiên.  Cá do con trai của Lợi đi câu hay nơm ngoài đồng.  LuAnne rất thích ăn cá, cá đồng mới bắt rất ngọt thịt, bà tấm tắc khen ngon.  Lợi cũng đãi chúng tôi món mắm cá do chính tay cô làm.  Mắm ngon tuyệt vời khiến tôi nhớ mãi.

Figure 21 – Bữa ăn trưa ở nhà Tư và Lợi

Tư, chồng của Lợi là người vui tính, biết cách nói đùa.  Những câu nói bông đùa của anh luôn làm chúng tôi cười vang.  Eric nhiều lần ngỏ ý muốn cưới vợ Việt Nam bị hăm, đòi bắt rể.  Các cô cũng nghi ngờ lòng chung thủy của anh Tây thích lang bạt giang hồ.  Eric nói anh sẽ mang vợ theo trong những chuyến du hành.

Brandon có mái tóc vàng rậm và bồng bềnh rất lãng tử, bộ râu cả tuần không cạo càng khiến anh đầy nam tính, nhiều lần được khen đẹp trai. Anh khen nước vối ngon, (ngon thiệt, uống một ngụm muốn uống hoài) Tư nói uống bổ lắm, uống đi nó giúp râu tóc mọc nhanh hơn.    

Đi đâu tôi cũng gặp sự hào phóng của người địa phương.  Buổi tối tôi trùm mền dùng đèn pin soi để gõ phím computer viết blog mỗi khi không ngủ được, đến độ hết cả pin dự trữ.  Buổi trưa đi mua bánh mì, tôi hỏi cậu tài xế nơi nào tôi có thể mua pin.  Cậu băng qua đường đến cửa tiệm gần đó mua cho tôi hai cục pin.  Tôi gửi tiền lại mà cậu không chịu nhận, nói mãi không được tôi đành chịu thua.

Sự hào phóng đối với phái đoàn Habitat xuất hiện ở những nơi tôi không ngờ.  Tôi tìm ra được chỗ giặt quần áo bên ngoài khách sạn, giá rẻ hơn.  Tiệm giặt quần áo cũng là một tiệm tạp hóa, cô chủ họ Huỳnh tên Linh.  Bà Connie và Cookie mua quần áo, loại đồ bộ, vật liệu và kiểu giống như bộ đồ Tư và một bà hàng xóm khác hay mặc.  Tôi hỏi đường, thế là Huỳnh Linh dẫn ông Al, Connie, Cookie, và tôi đi một quảng đường khá xa đến một cái chợ khá lớn có bán đủ thứ cần dùng. Chợ ấy tên là chợ Thương Mại. 

Đi ngang một cái bùng binh, người Tam Kỳ gọi cái bùng binh là vòng xoay, có người gọi là vòng xuyến ngõ năm hay ngõ sáu tôi hơi khiếp đảm dù Tam Kỳ rất ít xe không như Hà Nội hay Sài Gòn.  Tôi theo đúng luật đi đường của Mỹ, đến góc đường, có kẻ vạch trắng, đứng chờ ngớt xe để băng qua con đường khá rộng.  Tôi biết có lẽ phải băng qua đường ít nhất là hai lần để đến cái con đường ở xéo góc vòng xoay.  Tôi ngạc nhiên vì tất cả bạn đồng hành của tôi biến đâu mất hết, không thấy trước mặt cũng không thấy đàng sau lưng.  Nhìn kỹ lại, tất cả bạn đồng hành của tôi theo chân nhà lãnh đạo Huỳnh Linh, men theo đường cung của vòng xoay, chen giữa dòng xe cộ để đi tắt đến góc đường cần đến.  Khi gặp nhau ở góc đường và mọi người đều an toàn, tôi thấy hình như bà Connie và ông Al đều biến sắc.  Và cái hình ảnh của cô Linh dẫn đoàn người đi phía sau cao hơn cô cả cái đầu khiến tôi nhớ một bài hát vui.

Một đàn vịt cồ rủ nhau đi chơi vịt nó kêu cạp cạp.  Một chú vịt con, bước theo vịt cồ vịt nó kêu cạp cạp.

Linh đã bỏ thì giờ buôn bán đưa chúng tôi đi chợ.  Đi đâu chúng tôi cũng may mắn gặp người có tấm lòng cởi mở sẵn sàng giúp đỡ chúng tôi khiến những ngày ở Quảng Nam là những ngày tốt đẹp.

Figure 22- Huỳnh Linh đưa chúng tôi đến chợ Thương Mại.

Figure 23 – Patty đang nhìn bà Connie trong cái mũ mới mua.  Trông Connie giống một bà nhà giàu xinh đẹp.  Linh với nụ cười rất đẹp đứng phía sau bà Connie.

 Những bữa ăn thú vị

Chuyện tổ chức bữa ăn cho 14 người ăn không đơn giản như chúng ta tưởng.  Đây là lý do một trong những lý do (bên cạnh thời tiết nóng bức và trở ngại ngôn ngữ) khiến bà trưởng đoàn, Connie, đủ bực mình để nói rằng bà sẽ không trở lại Việt Nam.  Tôi hy vọng vài năm sau bà sẽ hết bực mình và thay đổi ý.  Chín người mười ý.  Có người thích ăn cá, nhưng phải là cá không xương, hoặc ít xương nhỏ.  Có người không chịu được mùi tanh của cá.  Lúc ấy heo đang chết vì bệnh dịch gì đó, dù có lời giải thích là bệnh này không lây qua người, thịt heo nấu chín thì không sao, có người không muốn ăn.  Có người không ăn thịt cá, chỉ ăn rau.  Anh thông dịch viên thì e ngại không muốn người trong đoàn ăn xà lách hay những món rau không nấu chín, sợ người trong đoàn bị đau bụng.

Bữa ăn sáng và tối ở khách sạn Mường Thanh (Tam Kỳ, Quảng Nam), rất sang và rất ngon.  Ăn sáng kiểu buffet với nhiều món ăn cả kiểu Việt, lẫn Tây.  Món cá được nấu theo khẩu vị của người nước ngoài, ít xương hoặc không xương, không tanh. 

Nhà anh Thoại chị Nở (chủ nhân căn nhà đoàn Habitat đang xây) không mấy xa hồ Phú Ninh, một nơi có thắng cảnh đang khuếch trương ngành du lịch.  Chúng tôi ăn trưa ở đó một đôi lần. Có một lần, hình như là bữa thứ hai, nhiều người trong đoàn phàn nàn.  Anh thông dịch viên còn trẻ, hình như chưa hề nấu ăn lần nào, nên không thấu đáo những khác biệt tinh tế trong sở thích ăn uống.  Tôi lắng nghe người trong đoàn và giúp bà Connie tổ chức những bữa ăn kế tiếp để mọi người ăn ngon miệng và hài lòng.  Tôi dặn cô chủ nhà hàng, trẻ tuổi, thân thiện luôn luôn cố gắng chìu lòng khách hàng. Đừng làm món đậu hủ sốt cà nữa (người Mỹ không biết ăn đậu hủ, làm cách gì họ cũng không thấy ngon, tội nghiệp người ăn chay trong đoàn).  Nếu đã ăn cơm, thì đừng làm mì xào hai ba thứ.  Đừng dọn nhiều cơm nhiều mì quá ăn không hết bỏ phí.  Tôi nhấn mạnh với cô chủ quán.  Bà trưởng đoàn đã dặn trước rồi mà hôm nay vẫn thấy thừa cơm và mì nhiều quá nên bà không vui vì thấy thức ăn lãng phí.  Cô chủ quán phân trần, mang ít sợ thiếu, cô áy náy.  Tôi giải thích và nhấn mạnh phái đoàn đều đã ăn sáng ở khách sạn, họ rất no do đó không mang lên nhiều cơm và mì.  Mấy cậu trẻ tuổi đã bắt đầu nhớ thức ăn ở quê nhà nên đĩa khoai tây rán được chiếu cố tận tình.  Bữa ăn nào cũng phải có nhiều rau.  Ai cũng thích rau muống xào và một loại rau địa phương (tôi không nhớ tên) ăn dòn dòn dai dai, ngon hơn cả đậu mầm.  Món canh được nhiều người thích, nhất là Eric, người rất thích các món đặc sản Việt Nam, khen chan canh vào cơm ăn rất ngon.  Ở nhà hàng hồ Phú Ninh tôi rất ưa món canh bí (rợ) rừng, vừa thơm vừa dẻo.  Tôi giải thích với cô chủ quán, người Mỹ thích cá chiên thịt nướng hơn là cá kho thịt kho.  Cá kho thì phải ít nước và đậm đà.  Thịt kho thì phải mềm và đừng có mỡ nhiều (nghĩ cũng lạ, họ rất thích bacon chiên, mà bacon lại là thịt ba chỉ muối).

Bà Connie, nhiều lần tỏ ý lo ngại chuyện chi tiêu vào mục ăn uống quá mức ấn định, mà ăn mãi thức ăn ở một nhà hàng thì cũng bớt ngon.  Cả đoàn vì đã ăn sáng rất ngon và thức ăn tú hụ ở khách sạn, cũng ngại đi ăn trưa xa chỗ làm việc mất thì giờ, nên khi bà nhờ tôi giúp bà tổ chức bữa ăn trưa cho cả đoàn tôi đề nghị tìm một quán cơm bình dân ở gần đó.  Lo ngại chỗ ăn uống không được sạch sẽ, và nóng bức tôi đề nghị với chị chủ quán mở quạt thật mạnh và dọn bàn dọn quán cho sạch.  Tôi thấy mình rất quan tâm, muốn người đi chung đoàn ăn uống ngon miệng và không bị bệnh cấp tính.  Người Mỹ, nhất là các cậu trai trẻ, khác với đàn ông Việt ở chỗ, khi ăn món nào ngon họ khen thật tình.  Eric bảo rằng bữa ăn ngày hôm ấy là một trong những bữa ăn ngon nhất ở Việt Nam.  Cũng phải nhấn mạnh rằng, mười bốn người Mỹ này là những người từng trải, du lịch nhiều nơi trên thế giới, đã từng ăn những món ăn lạ và ngon trên thế giới. Hôm ấy, nhà hàng mang ra thêm món tôm rim, món ăn không đặt trước nhưng nhà hàng đãi khách đến từ xứ lạ.  Món này ai cũng khen ngon. 

Figure 24 – Ăn trưa ở quán cơm bình dân.  LuAnne chụp ảnh với cô chủ quán và hai người nấu bếp.  Tuy đã đặt trước nhưng khách đến ăn trưa trước chật hết bàn ghế trong quán.  Thấy đoàn chúng tôi đông, khách hàng tử tế không ngồi nấn ná trò chuyện, ra về sớm chừa chỗ cho chúng tôi.

Một bữa ăn khác cũng thú vị không kém, không phải là sơn hào hải vị của món ăn trên thế giới, mà là hương đồng cỏ nội ở Quảng Nam.  Tôi đã nhắc đến bữa ăn này ở phần trên của bài viết này khi đề cập đến tấm lòng hào phóng của người dân địa phương.

Hai vợ chồng Tư và Lợi đã đãi chúng tôi thịt lợn luộc, cá chiên, con trai của hai người mới lưới được ở ngoài đồng.  Và món mắm do chính tay Lợi làm thật thơm ngon.  Tôi thầm tiếc tôi sẽ không bao giờ được ăn lại món mắm này.

Figure 25 – Bữa ăn trưa của hai vợ chồng láng giềng, Tư và Lợi, đãi chúng tôi.

Hai vợ chồng chủ nhà, anh Thoại và chị Nở cũng đãi chúng tôi một bữa ăn rất ngon.  Ngày xưa, tôi có người bạn đãi tôi ăn mì Quảng, nhưng lần ấy tôi thấy không ngon.  Lần này chị Nở đãi món mì Quảng, sợi mì mới tráng rất tươi, thái thành sợi tại chỗ.  Nước lèo thật ngon.  Và món gà xé (phay) trộn rau răm củ hành thật vừa miệng.  Thêm vào đó có món xôi chiên phồng và bánh nếp có nhân mặn gần giống như bánh chưng ăn rất ngon.  Dù bận bán rau cải ở chợ chị vẫn cố thu xếp thì giờ để đãi chúng tôi các món ăn tiêu biểu của Quảng Nam.  Chắc chắn từ bây giờ về sau tôi sẽ nhớ mãi món mì Quảng.

Figure 26 – Bữa ăn chị Nở đãi đoàn Habitat.

(còn tiếp)

Nguyễn thị Hải Hà

http://www.gio-o.com/NguyenThiHaiHa.html

Chuyến đi tình nguyện phần 2

14 ngày với 14 người Mỹ đi làm việc tình nguyện  cho Habitat for Humanity

Phần 1

Người ta có thể đến bất cứ nơi nào trên thế giới, tại sao chọn Việt Nam?

Connie, Patty, Cookie, Al, Ken, Rob và LuAnne là người của tổ chức tôn giáo.  Họ thích làm việc thiện nguyện, có ý muốn phục vụ xã hội, và giúp đỡ người nghèo.  Nguyên nhóm này, trừ Al ra, không nhất định phải đến Việt Nam, họ có thể đi bất cứ nơi nào có người cần được giúp.  Họ đã đi nhiều nơi trên thế giới thì sớm hay muộn họ cũng sẽ đến Việt Nam.  Riêng lần này, họ đến Vietnam vì đáp ứng lời kêu gọi của bà Connie.  Sáu người này có cùng tôn giáo và thường gặp nhau khi đi lễ ở nhà thờ.  Connie mời Eric và Ryan vì hai cậu này đã cùng đi xây nhà ở Nam Mỹ với bà.  Eric có nhiều năm kinh nghiệm với Habitat và bà rất quí kinh nghiệm này.

Rob và LuAnne nói, hai vợ chồng ông có cuộc sống rất đầy đủ và tốt đẹp.  Ông nghĩ rằng đó là hồng ân của Thiên Chúa và ông muốn làm một điều gì đó cho xã hội tốt đẹp hơn để tạ ơn.

Nelly, cô kiến trúc sư mảnh mai nhỏ nhắn nói: “Tôi luôn luôn thích làm việc phụng sự lợi ích cho cộng đồng như một cách đền đáp lại cho xã hội vì tôi nhận được rất nhiều điều tốt đẹp từ xã hội và từ cộng đồng.”

Người tiếp xúc với tôi đầu tiên là bà Connie Genger.  Tuy khả năng xây cất nhà của tôi chỉ ngang tầm thợ vịn, nhưng tôi có thể giúp bà, làm cây cầu nối giữa đoàn tình nguyện và người địa phương.  Habitat Việt Nam có gửi cậu thông dịch viên trẻ tuổi, dễ mến, nói tiếng Anh khá trôi chảy.  Nhưng cậu rất bận bịu một mình không thể xẻ làm đôi, còn tôi thì có mặt ở ngay đó lúc nào cần cũng giúp được.  Dần dần tôi trở thành thông dịch viên không chính thức cho mọi người.  Đi chợ, chọn món ăn, đi giặt quần áo, đi mua thuốc, đi mua tem gửi bưu thiếp, trò chuyện với người địa phương mọi việc trở nên dễ dàng hơn nhờ khả năng thông dịch tiếng Việt-Anh của tôi.  Có lần bà Connie nói nếu có tôi làm hướng dẫn viên du lịch Việt Nam chắc là thú vị.  Tôi rất vinh hạnh nếu được làm hướng dẫn viên riêng cho bà, để đáp lại tấm lòng nhân hậu bà dành cho dân Việt Nam.  Ngoài công việc xây cất ngôi nhà ở Tam Thái, Phú Ninh, bà còn tổ chức quyên góp sách vở bút màu mang tặng làng cô nhi Hòa Bình.  Thoạt tiên bà muốn tặng cho các em học tiểu học.  Tuy nhiên, cậu thông dịch viên cho biết là ý muốn của bà không được nhà cầm quyền địa phương chấp thuận.  Bà đề nghị đem tặng số văn phòng phẩm này cho làng cô nhi Hòa Bình.  Cũng đáng tiếc vì gần chỗ xây nhà, trong phạm vi đi bộ có một trường rất đông học sinh.  Nếu bà không kiên quyết, có lẽ quà không được đến tay các em.

Figure 9- Các em cô nhi làng Hòa Bình

Figure 10 – Các em học sinh ở ngồi trường trong khoảng cách đi bộ gần ngôi nhà đang xây cất

Có lẽ tôi chú ý đến Eric nhiều hơn các thành viên khác vì cái lý lịch mười lần tình nguyện đi xây nhà cho Habitat.  Eric nói, đi xây nhà cho Habitat đã cứu cuộc đời anh do đó anh phát nguyện đi xây nhà cho Habitat hằng năm.  Có lần Eric bị ngã gãy xương vai.  Thuốc giảm đau làm xáo trộn tinh thần của anh khiến cho anh trở nên buồn nản thất chí. Anh quen với một người tình nguyện cho Habitat, sau khi nghe người ấy thuyết trình về công cuộc xây cất nhà cửa cho người nghèo ở Việt Nam, Eric tham gia Habitat.  Lần đi đầu tiên anh chọn giúp một quốc gia khác, không phải Việt Nam.  Lần đi ấy thay đổi cuộc đời Eric.  Khi kể chuyện Eric phải ngưng vài lần để ngăn giòng cảm xúc.  Eric rất quan tâm đến văn hóa và môi sinh của quốc gia mà anh đến làm việc tình nguyện.  Anh tỏ vẻ bức xúc khi thấy nước sông dưới một cây cầu rất đẹp ở Lào bị ngập ngụa rác thải như thể thiên đường của anh bị chà đạp.  Anh không để trở ngại ngôn ngữ ngăn ngừa anh trong việc giao thiệp với người địa phương.  Anh yêu cầu Lợi, cô láng giềng, dạy anh và mọi người trong đoàn cách làm bánh tráng, từ khâu xay bột, đến tráng bánh trên lò, phơi bánh, và nướng bánh.

Figure 11 – Eric đang tráng bánh và Lợi đang chống nạnh làm cô giáo dạy làm bánh tráng

Tất cả mọi người trong đoàn đều làm việc với tất cả sức lực.  Ở Tam Thái, vào tháng Ba nhiệt độ trong ngày lên đến mức 35 độ Celsius. Đa số người trong đoàn sống ở miền Bắc nước Mỹ, quen không khí lạnh nên không chịu được cái nóng miền nhiệt đới.  Mấy ngày đầu Connie và nhóm người ở Billing, Montana, thấy khí hậu Việt Nam dễ chịu so với Billings lúc ấy đang bị bão tuyết nhiệt độ xuống mấy chục độ âm.  Vài ngày sau, thấm dần, cái nóng bắt đầu khiến mọi người thấy khó chịu.  Tuy vậy, họ vẫn làm việc chăm chỉ, nhanh nhẹn, hăng hái hết mình trong cái nắng nung người, mồ hôi nhễ nhại.  Tôi hết lòng khâm phục thái độ làm việc của họ; bất cứ người nào nhìn thấy họ làm việc sẽ tự bôi xóa cái thành kiến người ta hay đặt lên người Mỹ, vừa béo vừa lười “fat and lazy Americans.”  Tôi hiểu tại sao những người này đều là những người rất thành công trong xã hội.  Khi biết rõ mục tiêu, họ dồn tất cả sức lực và rất đoàn kết để đạt mục tiêu này. 

Mấy anh thợ hồ, bạn và anh em của chủ nhà, đến góp sức.  Anh chủ nhà là người có kinh nghiệm lâu năm, vừa làm vừa kiểm tra chất lượng xây cất của đoàn Habitat.  Mấy anh thợ hồ trầm trồ sự dẻo dai của Ken. 

“Ông ni tám mươi mà khỏe chưa hì.  Ông làm việc khỏe hơn bọn mình.  Mình mệt muốn nghỉ rồi mà ông vẫn làm không ngừng.”

Họ cũng khen cách xây tường của Eric rất đẹp, thẳng và rất đều đặn, như những người thợ hồ kinh nghiệm lâu năm.  Được thợ hồ chuyên nghiệp khen tay nghề cao quả thật là một điều đáng tự hào.

Đàn ông, cao lớn, khỏe mạnh, như Eric, Ryan, Brandon, và Rob Streza làm việc lao động tay chân có vẻ dễ dàng.  Rob Streza chẳng những chỉ làm việc chăm chỉ, anh cống hiến toàn vẹn sức lao động.  Khi bắp tay bị đau vì dùng sức quá mức và chuyển động lập đi lập lại nhiều lần, anh dùng “duct tape” (băng keo giấy cao su bạc) để băng cứng bắp tay lại, dùng duct tape như một loại băng nẹp hỗ trợ gân và bắp thịt để giảm đau và tiếp tục làm việc như thường.  Al và Rob Engh xấp xỉ bảy mươi cũng làm việc thật hăng say.  Ngay cả phái nữ trong đoàn làm việc cũng rất mạnh mẽ, không dám nói là hơn các ông, nhưng thật ra chẳng kém chút nào.  Nelly người mảnh mai (bề ngang mỏng hơn tôi) và nhỏ bé (chiều cao chỉ nhỉnh hơn tôi chút xíu) vậy mà cô đẩy xe đất, lát gạch thẻ xây tường, vừa mạnh mẽ vừa dẻo dai.  Tôi thán phục quá không có lời nào nói cho cùng. 

Thán phục sức khỏe của Nelly một, tôi thán phục sức khỏe của Mary và Jen gấp hai ba.

Figure 12- Mary Bagalso

Cả Mary lẫn Jen đều có thể lực của nhà thể thao.  Mary bên cạnh có bàn tay khéo léo và bộ óc thông minh của bác sĩ giải phẩu, cô còn là nhà trượt sóng (surfer) chuyên nghiệp.  Mary nhận lãnh công việc nặng nhọc từ đẩy xe cút kít chứa đầy cát, xi măng, đất, hay gạch thẻ; đến trộn hồ, đào móng.  Jen cũng chẳng chịu kém. Thon thả, tóc dài, Jen có hình dáng đẹp như một người mẫu.  Jen còn là người dạy tennis bán chuyên nghiệp.  Trong công cuộc xây nhà, hai cô gái gốc Á châu (Phi Luật Tân, và Việt) đóng góp sức lực, so với cánh đàn ông thì bên tám lạng bên nửa cân.  Còn tôi, nói ra xấu hổ, chỉ làm được việc nhẹ.  Chuyền sô chứa hồ thì chỉ khiêng nổi một phần ba sô.  Có một hôm đứng chuyền sô chứa xi măng ướt, tôi chẳng hiểu vì trời nóng hay đất lệch mà tôi ngã lăn kềnh ra mặt đất.  Mọi người đỡ tôi đứng dậy xong Connie bảo tôi thôi ra ngoài kia nghỉ đi. 

Tôi tự hỏi, rất nhiều quốc gia có tổ chức Habitat for Humanity, tại sao các tình nguyện viên lại chọn đi giúp người Việt.  Với đa số tình nguyện viên, nơi nào cần và họ có thể giúp thì họ đến.  Người ta có thể chọn địa điểm vì muốn tìm hiểu về địa phương ấy, một nơi được nghe nhắc tên nhiều lần nhưng chưa đến bao giờ. Việt Nam quyến rũ những người trẻ tuổi thích du lịch, thám hiểm, với những cái tên nổi tiếng trên thế giới như Sơn Đoòng, Fan Xi Pan, Mã Pí Lèng, Hoàng Su Phìn, hay Hạ Long.  Eric và Ryan, có lẽ, thuộc về nhóm người nói trên. Patty, Rob và LuAnne, một phần vì lời mời của bà Connie, một phần vì họ là người thích du lịch nhiều nơi trên thế giới. 

Rob Streza, tôi, và Jen Nguyên đều được sinh ra ở Việt Nam.  Người có dòng máu Việt muốn giúp người Việt, là điều tự nhiên.  Tôi rời Việt Nam gần bốn mươi năm, nay trở về tìm lại một chút quá khứ, tìm lại dấu tích những mảnh vỡ của cuộc đời bỏ lại giữa Sài Gòn.  Rob, hay Jen, tôi đoán muốn đi tìm gốc rễ của họ, để hiểu mảnh đất nơi cha mẹ họ rời bỏ.  Nelly sang Việt Nam để tìm hiểu quê hương chồng.  Cô gái Mỹ gốc Hoa này rất dễ thương.  Cô trò chuyện khá nhiều lần với tôi, có vẻ như nhìn thấy một vài nét tương tự giữa tôi và mẹ chồng cô, tuổi gần bằng nhau và có chung một quê hương trong quá khứ. Xin độc giả cho phép tôi lẩm cẩm nghĩ thế.  Mary cũng như Nelly, về Việt Nam để tìm hiểu gốc rễ người hôn phối của hai người.

Có người chọn đến Việt Nam, có lẽ, vì cái tên Việt Nam được nhắc đến hằng ngày đối với những người lớn lên trong thế hệ chiến tranh Việt Nam.

Al Belais, chọn đến Việt Nam, vì lý do cá nhân.  Thời ông lớn lên chiến tranh Việt Nam đến hồi gay cấn.  Ông được miễn quân dịch nhờ lý do học vấn, tuy nhiên ông có người bạn cùng học với ông phải tham gia chiến trường Việt Nam và chỉ trong một thời gian ngắn, anh bạn ấy qua đời.  Cái chết của người bạn đọng lại trong tâm hồn Al nhiều năm chưa phai. Ông muốn sang Việt Nam để tìm hiểu về một quốc gia mà bạn ông, một trong gần sáu chục ngàn quân nhân Mỹ, đã ngã xuống.

Bà Connie, thường tổ chức buổi họp nhóm cuối ngày, để rút kinh nghiệm làm việc.  Có lần, trong buổi họp bà nói, tật xấu lớn nhất của con người là sự kiêu hãnh.  Chiến tranh Việt Nam kéo dài qua suốt triều đại của năm vị Tổng Thống Mỹ cũng chỉ vì sự kiêu hãnh.  Sự kiêu hãnh đã ngăn cấm các vị Tổng Thống không dám đứng ra nhận sự sai lầm của nước Mỹ trong chính sách đối với Việt Nam.  Chính cái lòng kiêu hãnh đó đã giết chết hơn năm mươi tám ngàn người trai Hoa Kỳ.  Bà không nói thẳng ra, nhưng tôi suy diễn rằng, lý do bà đến Việt Nam là để góp một phần nhỏ bé và riêng tư thông cảm với nỗi đau khổ người dân hứng chịu chiến tranh Việt Nam.

Bốn mươi tuổi, khi Brandon ra đời thì chiến tranh Việt Nam đã kết thúc.  Lớn lên anh thường được nghe bạn bè của người chú nói về chiến tranh Việt Nam.  Chú của Brandon tên Barry, qua đời ở Quảng Ngãi, láng giềng của Quảng Nam, nơi chúng tôi xây cất nhà.  Ông Barry, chết vì bị cháy đến mức không còn nhận diện được.  Phải rất lâu người ta mới có thể làm giấy tờ xác nhận danh tính của ông Barry.  Anh đến Việt Nam muốn tìm hiểu về vùng đất mà chú anh đã gửi linh hồn.

Chồng của bà Cookie là cựu quân nhân chiến tranh Việt Nam.  Ông thoát chết ở Việt Nam nhưng trở lại Hoa Kỳ ông mang nhiều chứng bệnh tinh thần lẫn thể xác, gây ra bởi chiến tranh Việt Nam.  Ông qua đời khoảng tháng 10 năm 2018 và bà tình nguyện đi giúp người Việt Nam, như một cách vinh danh cho chồng, và cũng để tìm hiểu về mảnh đất nơi chồng bà đã từng chiến đấu.  Ngày còn sống ông không bao giờ muốn trở lại Việt Nam.  Mỗi khi nghe bạn bè đồng ngũ sang Việt Nam để tìm lại, hay để đóng lại vĩnh viễn cánh cửa mở vào quá khứ, ông thường nói, đối với ông Việt Nam như một thứ địa ngục, ông thoát ra rồi không bao giờ muốn nghĩ đến nó, đừng nói trở lại.

Tôi từng e ngại bà Cookie, hay Brandon sẽ oán trách hoặc ghét bỏ người Việt Nam; trái lại, tất cả người trong nhóm đều mở cánh cửa trái tim, từ trong tâm hồn của họ tràn ra một thứ hương thơm ngát tình người, và họ rất yêu mến những người Việt Nam họ gặp trong mười bốn ngày tình nguyện ở Việt Nam.  Tôi xin chọn một số ảnh cho độc giả xem.  Cứ nhìn độc giả sẽ thấy lòng tấm lòng tràn đầy tình yêu đối với người Việt Nam.

Figure 13- Cookie bế em cô nhi.  Đằng sau là Al áo trắng, Eric áo đen đội mũ lưỡi trai ngược và Brandon áo đen không mũ

Figure 14 – Brandon với các em cô nhi

Figure 15 – Brandon và người nữ tu

Figure 16 – Cookie và một người phụ nữ địa phương.  Phía sau là Brandon.

(còn tiếp)

Nguyễn thị Hải Hà

http://www.gio-o.com/NguyenThiHaiHa.html