Biểu Tượng Heo Trong Huyền thoại, Điện ảnh, và Văn học

Nguyễn thị Hải Hà sưu tầm, dịch và tổng hợp

Người miền Nam gọi là con heo. Miền Bắc, gọi con lợn. Ở miền Nam có bánh da lợn và bánh tai heo. Không thấy ai nói bánh da heo và bánh tai lợn. Heo thì có heo nhà và heo rừng. Trong giống heo nhà có gồm chung một loại heo nhỏ, màu đen hoặc đốm đen, là heo mọi. Tiếng Anh có nhiều chữ để chỉ con heo, hoặc lợn. Mãi cho đến thế kỷ thứ mười chín, chữ “swine” là chữ được dùng thường xuyên nhất. “Pig” ban đầu được dùng để chỉ “a young swine” (một con heo còn bé). “Boar” là heo đực tuy nhiên thường được dùng để chỉ loài heo rừng. “Sow” là heo nái. “Barrow” heo đực bị thiến. “Hog” là con heo đực trưởng thành, to lớn hơn “pig,” được dùng chung cho cả hai “swine” hoặc “barrow.” “Farrow” trước kia dùng để chỉ heo con, sau dùng để chỉ đàn heo con mới sinh.

Đối với người Do Thái và người Hồi Giáo, heo là con vật bẩn thỉu vì vậy giáo dân không được phép ăn thịt. Người nào không tuân theo giới cấm sẽ bị Chúa hay Giáo Chủ trừng phạt. Tuy vậy, vẫn có những quốc gia, đưa loài heo vào hàng thần linh. Albina là một nữ thần trong huyền thoại của xứ Etruscan (thuộc về nước Ý thời cổ). Gốc gác Albina là một con heo nái màu trắng. Tương tự như huyền thoại Etruscan, huyền thoại Celtic (bao gồm các quốc gia Ireland, Scotland, Wales) có nữ thần Eridwen (cũng là con heo trắng). Babi Ngepet là một con heo quỉ trong huyền thoại Indonesia. Huyền thoại Wales có Hen Wen, vị thần heo nái đã sinh ra con mèo khổng lồ Cat Palug. Về sau còn mèo này đánh nhau với Vua Arthur. Hildisvíni là con heo đực của vị thần Freyja trong huyền thoại Norse. Gullinbursti là một con heo nọc có bộ da cứng như thép, lông bằng vàng mọc dọc theo xương sống. Bộ da này có thể chiếu sáng trong bóng tối. Gullinbursti được dùng làm quà tặng cho Frey, vị thần tượng trưng cho nắng và thời tiết tốt đẹp, bảo vệ sự sinh tồn và thịnh vượng cho loài người. Kamapua’a trong huyền thoại Hawaii là một cậu bé nửa người nửa heo, là thần tượng trưng cho khả năng sinh sản và bảo vệ của hòn đảo Maui. Moccus là một vị thần heo Celtic bảo vệ thợ săn và chiến sĩ. Trư Bát Giới trong huyền thoại Trung quốc, là một người, nửa phần trên mang hình dáng heo, đã theo Đường Tam Tạng đi thỉnh kinh. Sau khi cuộc thỉnh kinh thành công, Trư Bát Giới trở thành Bồ Tát.

Dường như, người Tây phương thời cổ vì sợ sự tàn phá của loài heo rừng khổng lồ mà đưa chúng vào huyền thoại. Heo, được tôn thờ vì sợ hãi chứ không vì kính yêu. Lưu truyền mãi đến ngày hôm nay, heo luôn luôn là biểu tượng cho sự khinh ghét vì những đặc tính dâm dục, ngu độn, và tham ăn. Phim ảnh về tình dục tục tằn (pornography) được dịch ra là “phim con heo”. Con heo cũng là biểu tượng của sự ngu xuẩn. Người Việt mình thường chê trách một người nào đó bằng thành ngữ “ngu như heo.” Người Mỹ dùng chữ “pig out” để chỉ hành động ăn tham và ăn nhiều. Tiếng Hy-lạp cổ có một thành ngữ được dùng để chỉ người ngu mà hay làm ra vẻ khôn ngoan dạy đời; đó là “a pig contending with Athena” có nghĩa là heo là dám đối đáp với Athena, vị nữ thần bảo hộ thành phố Athen. Bên cạnh hai con heo rừng của Calydon và Heracles, tôi sẽ kể bạn nghe sau đây, Hy lạp còn có con heo rừng (nái) Crommyonian sow là mẹ của con heo rừng Calydon, bị Theseus, vị thần lập nên thành phố Athen, giết chết. Câu chuyện heo Crommyonian cũng na ná như hai huyền thoại kia lại ít chi tiết ly kỳ nên tôi bỏ qua.

Cuộc săn heo rừng ở Calydon.

calydonian_hunt 

Figure 1 Cuộc săn heo rừng ở Calydon. Ảnh của Wikipedia

Calydon là một thành phố của Aetolia, vào thời Hy Lạp cổ, nằm ở bờ phía Tây của con sông Evenus cách bờ biển chừng 11 km. (Theo Wikipedia). Calydon vào thời ấy rất thịnh vượng, được nhắc nhở nhiều lần trong tác phẩm Iliad của Homer. Oeneus, vua của Calydon thường dâng hiến lễ vật cúng tế Artemis, nữ thần chúa tể ngành săn bắn, con của Zeus và là chị/em sinh đôi của thần Apollo. Có một năm, Oeneus quên kèm tên Artemis trong các món lễ dâng cúng các vị thần. Nổi giận vì cho là Oeneus khinh thường mình, Artemis thả con heo rừng khổng lồ của bà đến tàn phá tất cả ruộng vườn nhà cửa và giết hại dân chúng của Calydon. Dân chúng rút vào kinh thành cố thủ, con heo rừng lại canh ngay trước cửa thành khiến dân không thể cày cấy hay săn bắn, dần dần lâm vào nguy cơ bị chết đói. Oeneus kêu gọi anh tài cứu giúp quốc gia. Người nào giết con heo rừng khổng lồ này sẽ được thưởng bộ da và cặp nanh của nó.

Một người thì có lẽ khó mà thắng được con heo rừng của Artemis, tuy nhiên rất nhiều anh hùng xứ Calydon đã đáp ứng lời kêu gọi của Oeneus. Trông số này có Argonauts, đoàn quân đã từng đi săn con cừu thần có cánh với bộ lông bằng vàng, và hoàng tử Meleager, con vua Oeneus. Người yêu của Meleager là Atalanta, săn bắn rất tài giỏi, cũng được mời tham dự cuộc săn.

Atalanta, nguyên là con nuôi của Artemis. Thuở nhỏ đã từng được nuôi bằng sữa của Artemis. Lớn lên nàng thường được Artemis ủy quyền quán xuyến công việc. Tài năng của nàng vượt xa người thường. Hoàng tử Meleager giết chết con quái vật, tuy nhiên, phần thưởng cao quý của người chiến thắng được chàng trao cho Atalanta vì nàng là người đầu tiên bắn trọng thương con quái vật.

Đoàn quân săn bắn không đồng ý việc giải thưởng cao quý này lại được trao cho một người đàn bà (kỳ thị phụ nữ quá!). Mấy người con của Thestios, cậu của Meleager, cướp phần thưởng này, vì thế Meleager giết đám con và cả người cậu. Ngày xưa, khi Meleager mới sinh ra, có một vị thần tiên tri, nhìn mấy cây que củi đang cháy trong lò sưởi, rồi bảo rằng: “Bao giờ cây củi ấy cháy hết, Meleager sẽ chết.” Mẹ của Meleager để bảo vệ con, vội dập tắt cây củi rồi cất vào trong áo. Meleager nhờ đó thoát chết. Đang cơn giận con trai giết chết em trai và cháu, bà rút cây củi đang giấu trong áo ném vào lửa, vì thế giết chết Meleager.

Người ta bảo rằng thần Artemis sai Atalanta đi giúp đoàn người săn con heo rừng khổng lồ để chia rẽ đoàn quân sâu xa hơn, và trả thù vua Oeneus. Trong cuộc săn, người này bắn lầm người kia, các vị anh hùng đâm ra thù oán giết chóc lẫn nhau, xã hội càng thêm hỗn loạn.

Bộ da con heo rừng được thờ trong đền Athena Alea ở Tegea, Laconia; tương truyền từng được người đời nhìn thấy hồi thế kỷ thứ hai sau Công Nguyên. Bộ nanh heo rừng khổng lồ xứ Calydon, phần gốc to nhất, có chu vi gần 89 centimeters. Bài học duy nhất của cuộc săn heo lưu lại cho đời sau là sự qui tụ rất nhiều anh hùng (heroes) chung tay góp sức với nhau để cứu quốc gia đang gặp nạn.

Cuộc săn heo rừng của Heracles

herakles_eurystheus_boar_louvre_f202

Figure 2 – Heracles, Eurystheus, và Erymanthian Boar – Wikipedia

Người Hy-lạp cổ biến heo rừng thành thần và đưa vào huyền thoại không phải chỉ một lần. Cuộc săn heo rừng trở thành một trong mười hai công việc khó nhọc mà Heracles phải thực hiện để chuộc tội.

Heracles (còn được biết bằng tên La-mã, Hercules) là con của Zeus. Vị chúa tể của các vị thần này có người vợ chính thức tên là Hera. Mẹ của Heracles là Alcmene, một trong những người vợ lẽ của ông. Hera vì ghen nên thường tìm cách hãm hại Heracles. Ngày chàng còn nằm nôi Hera cho hai con rắn thân tín của bà đến giết Heracles. Tuy nhiên, cậu bé Heracles đã bóp chết hai con rắn bởi vì từ khi mới sinh ra đời chàng đã có sức mạnh vô song. Hera không bỏ cuộc. Bà biến Heracles trở nên điên loạn. Trong cơn điên chàng đã giết chết vợ và các con.

Ân hận vì vợ con chết dưới tay mình, Heracles đến đền Delphi cầu xin với các nhà tiên tri lời sấm truyền chỉ cách cho chàng chuộc tội. Sấm truyền Heracles phải đến chầu vua Eurystheus, và thực hiện 12 công việc nhọc nhằn cực độ do vị vua này chọn lựa. Theo lệnh vua Eurystheus, Heracles giết con sư tử thần Nimean rơi từ trên mặt trăng xuống, con rắn chín đầu Hydra, và bắt sống con tuần lộc có bộ lông bằng vàng, thú cưng của thần Artemis. Công việc thứ Tư, Eurystheus sai Heracles đi giết một con heo rừng khổng lồ sống trên núi Erymanthos thường xuyên xuống núi giết người và phá hoại mùa màng.

Tương tự trường hợp Calydon, heo rừng Erymanthos cũng do Artemis thả xuống trần gian để trừng phạt người dân. Erymanthus, con của thần Apollo, nhìn trộm vị nữ thần Aphrodite đang tắm vì thế bị Aphrodite đánh mù mắt. Apollo trả thù cho con bằng cách sai con heo rừng (của Artemis) đi giết Adonis, người tình trẻ tuổi đẹp trai của Aphrodite. Robert Graves, một học giả chuyên nghiên cứu huyền thoại Hy-lạp, cho rằng đời sau ghi chép nhầm lẫn nên gán cho nữ thần Aphrodite, thật ra đó chính là Artemis.

Nếu tin theo giả thuyết của Robert Graves, câu truyện vừa kể bên trên trở thành, Erymanthus nhìn trộm Artemis tắm vì thế nữ thần đánh Erymanthus, cháu gọi bằng cô, đến mù mắt còn gửi cả con heo rừng đến phá hoại mùa màng trên vương quốc của cháu. Thật là một người cô hung tợn. Và Heracles phải giết con quái vật này để chuộc tội giết vợ con.

Trên đường đi giết con heo rừng Erymanthos, Heracles giải cứu Chiron, người bị xiềng trên đỉnh núi. Hằng ngày có con đại bàng đến rỉa gan của Chiron để ăn. Heracles giết chết chim đại bàng cứu Chiron, vì thế được ông ta chỉ cách để bắt giết con heo rừng khổng lồ Erymanthos. Vì đang giữa mùa đông, Heracles lùa con heo rừng vào cánh đồng tuyết thật dày khiến nó bị lún sâu không chạy được. Heracles bắt trói và khuân về để trước mặt Eurystheus. Hoảng sợ vì con thú khổng lồ và hung dữ, vua ra lệnh đem giam nó vào một cái chum khổng lồ “pithos” phân nửa chum được chôn dưới đất. Vẫn còn kinh sợ, vua Eurystheus van xin Heracles đem con quái thú đi thủ tiêu. Người đời sau, Roger Lancelyn Green, kể thêm rằng Heracles ném con quái vật ngoài biển khơi, nó bơi vào nước Ý, và nanh của nó được lưu giữ trong đền thờ Apollo ở Cumae.

Heo rừng thường thường rất dữ tợn và nguy hiểm. Nữ thần Venus đã lên tiếng cảnh cáo Adonis, không nên đi săn heo rừng, nanh của nó có chứa sức mạnh của sấm sét. Tuy vậy, phim ảnh Hoa Kỳ có một con heo rừng rất hiền lành, chỉ biết ăn sâu bọ, đó là Pumbaa, nhân vật trong “the Lion King.” Pumbaa theo tiếng Swahili, Đông Phi, có nghĩa là ngu ngốc, kỳ khôi, cẩu thả, bất cẩn. Pumbaa tuy vậy lúc cần cũng là một chiến sĩ can trường, và sẽ tức giận nếu kẻ nào không phải là bạn mà dám gọi Pumbaa là con heo. Châm ngôn của Pumbaa là “Hakuna Matata” có nghĩa là chẳng hề gì đâu, đừng lo nghĩ, hãy cứ vui mà sống.

pumbaa

Figure 3 Pumbaa con heo rừng trong phim The Lion King

Nhưng Pumbaa chỉ là con heo rừng trong phim hoạt họa. Thế còn có con heo nào được đóng phim không. Có chứ. Không chỉ một con mà cả ngàn con trong phim “The Pigs and the Battleships” (1961) hay “Bầy heo và Đoàn Chiến Hạm.”

“Bầy heo và Đoàn Chiến Hạm” là tên của cuốn phim dựa vào tiểu thuyết của Kazu Otsuka và do Shohei Imamura làm đạo diễn.

Hai nhân vật chính trong phim là Kinta và Haruko. Phim lấy bối cảnh là Yokosuka, một thành phố cạnh biển vào thập niên năm mươi, lúc chiến tranh giữa Hoa Kỳ và Nhật Bản vừa chấm dứt. Nhân danh bảo vệ Nhật Bản lúc ấy đã đầu hàng và tuyệt đối giã từ vũ khí; Hoa Kỳ mở nhiều trại lính dọc theo chiều dài của quốc gia Thái Dương Thần Nữ. Phim cho thấy quan điểm của Imamura về xã hội Nhật vào thời điểm ấy, khác hẳn nếu không nói là hoàn toàn trái ngược với quan điểm của Yasujiro Ozu. So sánh quan điểm của Imamura với Ozu mà không với đạo diễn nào khác là bởi vì Imamura đã từng là phụ tá đạo diễn cho Ozu trong rất nhiều phim. Nhiều người bảo rằng Imamura là học trò của Ozu. Với bộ phim rất thành công này, Imamura khẳng định tài năng, và được xem là người dẫn đầu khuynh hướng New Wave (Làn Sóng Mới) của Nhật Bản. Người xem nếu quen thuộc và yêu thích quan hệ cha con, vợ chồng, với những xung đột ngấm ngầm bên dưới bộ mặt lặng lẽ trầm ngâm của các nhân vật; quen thuộc và yêu thích quan niệm thẩm mỹ của vườn Thiền, trà đạo, cắm hoa, thơ haiku như trong phim Ozu; sẽ cảm thấy bực bội, hay choáng váng với cách miêu tả xã hội Nhật của Imamura.

Kinta lớn lên trong một gia đình nghèo, mẹ mất sớm, ông bố nghiện rượu làm nghề kéo xe thuê. Anh lêu lỏng, lười biếng, làm tay sai cho băng đảng Himori, chuyên tống tiền những chủ tiệm nhỏ trong vùng để kiếm tiền tiêu vặt. Haruko giúp việc cho một cái bar nhỏ, yêu Kinta, mơ một ngày nào làm đám cưới với Kinta và thoát ly gia đình. Chị của Haruko hành nghề gái bán bar, lấy tiền mang về giúp mẹ nuôi em. Mẹ Haruko đã hứa gả nàng cho một người Mỹ đứng tuổi để lấy ba chục ngàn. Và tiền đã được bà mẹ lấy trước. Haruko muốn Kinta cùng chạy trốn với nàng đến Kawasaki để tìm việc làm và bắt đầu cuộc sống tự lập.

Cứ mỗi lần một chiến hạm Hoa Kỳ cập bến, thành phố Yokosuka trở nên bát nháo với quang cảnh cờ bạc, say sưa, đĩ điếm. Khung ảnh của Imamura miêu tả những anh chàng lính Mỹ to lớn, đần độn, và dâm dục. Người Nhật thì tham lam, trộm cắp, lường gạt, và đánh mất phẩm giá.

Băng đảng Himori kiếm lợi bằng cách nuôi heo, cung cấp thịt cho các trại lính Hoa Kỳ. Kẻ cắp gặp bà già, băng đảng này bị lường gạt, ký hợp đồng với một tên bịp bợm. Họ nộp tiền trước để được mua thịt hộp phế thải của lính Mỹ và dùng thịt này để nuôi heo. Băng đảng Himori bị bịp hết tiền, thua lỗ. Haruko mang thai, phá thai, hẹn hò đi chơi với lính Mỹ say rượu, bị hiếp dâm, ăn cắp tiền của lính Mỹ, bị bắt, vào tù, được chuộc ra và phải lấy chồng Mỹ để trả nợ. Haruko bỏ trốn đến trại nuôi heo. Kinta tổ chức bắt trộm tất cả heo trong trại đem bán để lấy tiền và trốn đi với Haruko. Kế hoạch không thành, Kinta bị băng đảng đối lập cướp tất cả các xe heo, và bản thân anh ta bị bắt lên xe heo đưa vào thành phố. Kinta dùng súng uy hiếp tài xế của các xe vận tải chở heo phải thả heo ra, và trong cuộc xung đột Kinta bị bắn chết. Đàn heo tràn ngập thành phố chen chúc trong các ngõ hẻm dẫm đạp lên người ta khiến nhiều người bị chết. Haruko nhìn thấy cái chết của Kinta, một mình bỏ thành phố ra đi.

Người xem phim không khỏi nghĩ rằng Imamura đã dùng hình ảnh đàn heo tràn ngập thành phố đè chết người dân như biểu tượng của lính Mỹ dày xéo nước Nhật.

Nếu trong thời cổ đại của Hy-lạp con heo rừng khổng lồ là biểu tượng cho sức mạnh và sự hung tợn của thú vật khống chế loài người, thì trong thời hiện đại con heo của George Orwell là biểu tượng của sự độc tài, sử dụng quyền hành đàn áp và dối gạt người dân. Tuy chê bai loài heo tham lam và dâm dục, loài người, nhất là các nhà độc tài thật ra cũng chẳng khác gì loài heo. Ở phần cuối truyện “Animal Farm” Orwell viết:

“The creatures outside looked from pig to man, from man to pig, and from pig to man again; but already it was impossible to say which was which.”

Dịch là:

“Loài thú ở bên ngoài đưa mắt nhìn từ loài heo sang loài người, rồi từ loài người sang loài heo, rồi lại từ loài heo sang loài người; nhưng không thể nào phân biệt kẻ nào là heo, kẻ nào là người.”

Người Anh (và Mỹ) khi biểu lộ sự khinh bỉ một người đến tột độ, họ mắng là đồ heo. Somerset Maugham đã cho một nữ nhân vật, Sadie Thompson, Altogether [1934.] Rain, kêu lên. “You men! You filthy dirty pigs! You’re all the same, all of you. Pigs! Pigs!” Dịch là “Lũ đàn ông các anh! Bầy heo bẩn thỉu! Các anh toàn như nhau cả. Cả một lũ heo! Heo! Heo!”

Bên cạnh sự bẩn thỉu, ngu xuẩn, tham lam, tham ăn, và dâm dục, ít thông dụng hơn, con heo còn tượng trưng cho sự giận dữ tột độ. Trong vở kịch Lysistrata của Aristophanes, đám phụ nữ đồng lòng biểu tình, từ chối chăn gối với chồng và người yêu, để phản đối chiến tranh, có câu: “I will set loose my sow,” nghĩa đen là “tôi sẽ thả rong con heo nái,” nghĩa bóng là “tôi sẽ bày tỏ cơn giận dữ của tôi.”

Shakespeare đã tận dụng chi tiết, cờ hiệu của vua Richard III có hình con heo trắng. Ông vua này bị Shakespeare gọi là “Heo” thí dụ như: “the boar” (3.2.11), “elvish-marked, abortive, rooting hog” (con heo bị quỉ ám gây ra thất bại), hay con heo phá hoại của quỷ (1.3.227) và

The wretched, bloody, and usurping boar,
That spoiled your summer fields and fruitful vines,
Swills your warm blood like wash, and makes his trough
In your emboweled bosoms” (5.2.7-10)

Con heo khốn nạn, khát máu, xâm chiếm,
Phá hoại ruộng vườn và vườn nho mùa hè đang tốt tươi,
Máu của bạn tuôn chảy ra như là nước để rửa, và làm cái máng cho hắn
Bằng cái lồng ngực bị mổ toang của bạn.

Người Do Thái và Hồi Giáo chê thịt heo bẩn không ăn, nhưng với người Việt thịt heo là vật liệu để nấu thành những món ăn ngon không thể thiếu. Ngày thường ở các hàng quán bán thức ăn, thịt heo là nguyên liệu chính trong cơm sườn, gỏi cuốn, chả giò, bánh canh giò heo. Đặc biệt, với ngày Tết, bên cạnh dưa chua, củ kiệu, thịt heo nạc lưng kho với trứng là món không thể thiếu. Phổ thông đến độ, thịt heo xuất hiện cả trong hai câu đối nổi tiếng, lưu truyền từ bao năm cho đến bây giờ.

Thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ.
Dây leo Cây nêu tràng pháo bánh chưng xanh.

Xin chúc độc giả một năm mới ngon miệng với nồi thịt kho nước dừa thơm ngát.

Ghi chú Jan. 30, 2019, 8:54 AM. Sửa câu đối thứ hai. Xin lỗi độc giả, tôi viết sai.

Thư tình

Này người yêu dấu,
Người có biết tôi yêu người đến chừng nào?
Tôi vấp váp?
Tôi lao đao – mất thăng bằng, trầy đầu gối, xước trái tim?
Tôi biết mình yêu khi tôi gặp mặt người.
Tôi biết khi nào tôi nhớ quá, muốn gặp người.
Tôi bốc cháy.
Không một bắp thịt nào trong tôi chuyển động
Lá trên cây không lao xao bởi bất cứ cơn gió nào
Không khí ngưng đọng lại.
Tôi ngã vào vòng tay tình ái dù không bước một bước nào
Người là sự chọn lựa sai lầm và tôi biết thế, nhưng tôi không còn quan tâm đến suy nghĩ của tôi
ngoại trừ khi, ý nghĩ ấy là về người.
Khi tôi ở gần bên người, tôi cảm thấy như thể tóc người cọ vào má tôi.
Tôi nhìn lảng ra xa, tránh nhìn người, rồi tôi quay nhìn lại.
Khi tôi cột dây giày, khi tôi bóc vỏ cam, khi tôi lái xe, khi tôi đậu xe, khi tôi đi ngủ hằng đêm không có người, tôi vẫn giữ cho,

Tôi là của riêng người.

Lá thư tình này, không phải của tôi. Xin đính chính cho rõ ràng. Đây là lá thư trong cuốn phim “Lá Thư Tình – The Love Letter” (1999) của đạo diễn Peter Chan, tôi chỉ trích trong phim và dịch lại.

Lá thư này là nguyên nhân gây ra bao nhiêu sự hiểu lầm ở trong một thành phố nhỏ, ở một nơi ai cũng quen nhau, vùng ven biển New England. Và vì hiểu lầm, người ta trở nên yêu nhau, có mối tình đúng đắn, có mối tình sai lầm. Phim dựa vào quyển truyện của Cathleen Schine.

Lá thư, được Helen, cô chủ hàng sách, tìm thấy bị kẹt ở giữa hai tấm nệm ghế sô pha. Không bì thư, không người gửi, không người nhận. Vì lá thư ở trong tiệm sách của cô, cô nghĩ là thư ấy viết cho mình. Cô đi tìm chủ nhân, một vài người cô đoán có thể là người viết lá thư ấy. Johnny, cậu học sinh hai mươi tuổi giúp việc trong tiệm sách tình cờ đọc lá thư, tưởng là của Helen viết cho cậu, nên cậu đem lòng yêu Helen. Janet, bạn của Helen cũng là nhân viên trong tiệm sách, tình cờ đọc lá thư tưởng là của George, anh lính chữa lửa, viết cho Janet. Một nhân viên cảnh sát đọc lá thư, chép lại tặng người yêu. Helen, George, và Johnny tạo thành mối tình tay ba. Cứ thế mà người xem bị lôi vào cuốn phim nhẹ nhàng, nhiều chỗ đầy hài hước.

Trong quyển “Tuyết – Snow” của Orhan Pamuk, Ka nhân vật trong truyện trở về thành phố Kar (có nghĩa là tuyết), gặp lại người yêu cũ. Đã lâu chàng không thể làm thơ, nhưng tức cảnh sinh tình, nơi đây chàng làm được bài thơ xuất thần, một tác phẩm để đời, chàng biết thế. Thế nhưng từ đầu đến cuối truyện, người đọc cứ phải dõi tìm, mà không bao giờ được đọc bài thơ.

Trong phim này, bạn được đọc ngay một lá thư tình, và đi tìm người viết cũng như người nhận trong suốt chiều dài của phim. Tôi luôn yêu mến những câu chuyện về tình yêu xảy ra ở một thành phố ven biển. Nó có cái thân mật của người tỉnh lẻ, và cái duyên dáng của phố biển. Trong mùa hè có những mối tình ngắn ngủi, và những mối tình lâu dài âm ỉ chỉ chờ dịp là cháy rực trở lại.

Nhiều khi trong một tác phẩm, bạn nghe nhắc đến một bài thơ, một cuốn sách được sáng tác bởi nhân vật, nhưng không bao giờ được đọc hay tìm thấy chúng ngay trong tác phẩm bạn đang đọc đang xem. Thêm một thí dụ nữa, là các quyển truyện của nhân vật Richard trong quyển “Nửa Mặt Trời Vàng – Half of a Yellow Sun” của Adichie. Mỗi lần như thế tôi có chút bực bội, vì thế tôi chép lại bài thơ tình trong cuốn phim để bạn đọc. Một lá thư tình hay đến độ người đọc có thể đem lòng yêu mến người viết khi tưởng lầm là lá thư đó viết cho mình.

Cẩn thận đừng đạo văn đem chép tặng người yêu nhen. Đối tượng mà biết thì rất có thể bạn sẽ bị từ chối tình yêu. Đừng trách tôi không cảnh báo nhé.

Dearest,
Do you know how much in love with you I am?
Did I trip?
Did I stumble – lose my balance, graze my knee, graze my heart?
I know I’m in love when I see you.
I know when I long to see you,
I’m on fire.
Not a muscle has moved.
Leaves hang unruffled by any breeze.
The air is still.
I have fallen in love without taking a step.
You are all wrong for me and I know it, but I can no longer care for my thoughts unless they are thoughts of you.
When I am close to you, I feel your hair brush my cheek when it does not.
I look away from you sometimes, then I look back.
When I tie my shoes, when I peel an orange, when I drive my car, when I lie my car, when i lie down each night without you, I remain,

Yours.

Istanbul

bìa ngoài
Bìa ngoài
có tên dịch giả
Bên trong với tên dịch giả Nguyễn Quốc Trụ

Nhận được quà lì xì của dịch giả Nguyễn Quốc Trụ. Xin cảm ơn Bác.

Tôi đọc quyển sách mấy hôm nay, thường là lúc mới ngủ dậy, chưa muốn ra khỏi giường, cứ trùm chăn mà đọc. Trước quyển Istanbul, tôi có đọc Snow, và Other Colors nên có phần nào biết trước văn phong của ông Pamuk. Nếu so ba quyển sách tôi đã đọc, thì tôi thích Snow nhất dù nó khô khan và mang đầy tính chất chính trị. Other Colors và Istanbul dễ đọc hơn. Có lẽ sở thích đọc của tôi thiên về plot and structure. Sách hồi ký và tự sự kể chuyện thường làm tôi mất kiên nhẫn. Orhan Pamuk là nhà văn được trao tặng giải văn chương Nobel, do đó không thể nói là sách của ông không hay. Ở vị trí độc giả, tôi thấy Istanbul hay, ngay cả khi nó không hợp với sở thích của tôi. Istanbul, độc giả không nhất thiết phải đọc theo thứ tự từ đầu đến cuối. Có thể mở một chương bất kỳ đọc và ngừng lúc nào cũng được. Hôm sau, hay tuần sau đọc tiếp vẫn thảnh thơi vì nó không đòi hỏi độc giả phải suy diễn dùng chi tiết trong quá khứ để giải thích chuyện sẽ xảy ra trong tương lai, theo kiểu plot and structure.

Cách dịch và văn phong của dịch giả thì rất tuyệt, không thể không khen. Từ khi tôi đến với thế giới văn học mạng thì Nguyễn Quốc Trụ đã lừng lững khắp nơi. Có nhiều khi tôi không thích cái “lèm bèm” (chữ của ông nói về văn của ông) nhưng tôi vẫn nhận ra, ông có một tâm hồn mềm mại nhưng cố dấu, có lẽ vì mắc cỡ, cái mềm mại này làm ông kém hào hùng (cái hào hùng của một con gà chọi 🙂 ). Tôi cũng nhận ra ông rất yêu, và rất sợ, các nhà văn nhà thơ nữ. Họ, các nhà văn nhà thơ nữ, Bắc hay Nam, đều là những “thánh cô” âm thầm của ông. Nguyễn Quốc Trụ có thể chọt vài câu tấn công các nhà văn, nhà phê bình nam giới, nhất là những nhà văn hay nhà phê bình nổi tiếng, và nhất là nổi tiếng trí thức; tuy những câu chỉ chọt này nhiều khi “trớt quớt,” ông bao giờ cũng khen tặng các vị nữ lưu. Khen cũng rất thật tình, rất ga lăng.

Cho dù ông có “chướng khí kỳ đời” hay “lèm bèm” tôi vẫn nhận ra giọng văn rất mềm mại của ông. Không phải nữ tính, nhưng nó có chút thơ nên rất dịu dàng. Một giọng văn không thích hợp mấy cho những bài nghị luận hay đầy khí chất học giả, nhưng nó là giọng văn thích hợp cho lối văn tự sự của Istanbul của Pamuk. Trước khi đọc Istanbul, tôi cũng nghĩ văn của ông nếu dịch quyển “The English Patient” sẽ rất hợp.

Tôi ít khi đọc sách tiếng Anh dịch ra tiếng Việt, tại vì tìm sách tiếng Anh dễ hơn ở cái xứ Hoa kỳ này. Tuy nhiên, quyển Istanbul đọc bằng tiếng Việt của Nguyễn Quốc Trụ khiến tôi quí sách dịch hơn, vì nó dễ đọc, có thể đọc nhanh mà vẫn thấy thấm được lời và ý văn.

Dù ông là người Bắc (di cư năm 1954) ông lại dùng chữ rất đặc thù của miền Nam.

Trang 38, “Cảm quan ấy được chứng nghiệm liền sau đó, trong một lần cãi lộn kéo dài hơn lệ thường của cha mẹ tôi, và mẹ tôi bỏ đi, cô người làm phải trông nom chúng tôi tắm cho tôi. Bằng một cái giọng tịnh không có chút cảm thông nào, cô mắng tôi là “đồ cậu chó.”” (Phải là người đọc sách miền Nam mới biết và hiểu chữ cậu chó mà không cần lời giải thích)

“Ê này, đừng đung đưa hai cái cẳng của mi nữa,…” (tr. 41).
“Chen vai thúc cùi chỏ” (tr. 54)
“Thượng cẳng chân hạ cẳng tay” (tr. 62)
Ở một trang nào đó, ông dịch chữ day dreams thành ra cơn mê ngày. Nhiều lần tôi bắt gặp trên trang Tin Văn những chữ ông chọn dịch tôi thường gật gù thầm công nhận chữ ấy hay. Rất tiếc đã không ghi lại nên không nhớ.

Đây là chỉ một vài thí dụ. Cũng xin khen ngợi biên tập viên, rất là cao thủ, nên đã không đồng hóa giọng văn của Nguyễn Quốc Trụ.

 

Bơi ngược dòng văn hóa phụ hệ

Nguyễn thị Hoàng –  Bơi Ngược Dòng Văn Hóa Phụ Hệ Bằng Vòng Tay Học Trò

Tác giả: Nguyễn thị Hải Hà

“Her wounds came from the same source as her power” – Adrienne Rich

Tôi chú ý đến quyển Vòng Tay Học Trò vì những lời đả kích dành cho nó. Tạp chí “Quần Chúng” bộ mới số 2, đăng một mẩu quảng cáo với giọng điệu đao to búa lớn: “Tiểu Thuyết của Nguyễn thị Hoàng: Sự buôn lậu tư tưởng trong một con bệnh dâm thành phố?” Nhà văn Nhật Tiến trong một bài đăng trên báo Bách Khoa năm 1968 đã nhận định truyện Vòng Tay Học Trò là táo bạo. Buổi thảo luận Bàn Tròn (đăng trên Văn số 206 năm 1972) bao gồm bảy nhà văn danh tiếng của miền Nam trước năm 1975 như Mai Thảo, Viên Linh, Huỳnh Phan Anh, Mặc Đỗ, Nguyễn Xuân Hoàng, Dương Nghiễm Mậu và Nguyễn Đình Toàn đã đưa ra nhiều chi tiết quí giá cho độc giả chút khái niệm và hình ảnh về văn chương và xã hội, đặc biệt là những suy nghĩ của các ông về năm nhà văn nữ đang “làm mưa làm gió” trên văn trường lúc bấy giờ. Dương Nghiễm Mậu so sánh Vòng Tay Học Trò với hiện tượng Quỳnh Dao nhưng nhà văn Viên Linh không đồng ý, bảo rằng:  “Quỳnh Dao viết về cái trong sáng, không viết về cái nhầy nhụa.” Câu phát biểu ấy khiến người đọc hơn bốn mươi năm sau không khỏi nghĩ rằng có cái gì đó nhầy nhụa trong quyển tiểu thuyết ngắn (novella) Vòng Tay Học Trò. Các nhà văn khác trong Bàn Tròn tuy dùng chữ nhẹ nhàng hơn, nhưng có đến khoảng mười bảy lần chữ “táo bạo” được dùng để miêu tả văn chương nữ lúc bấy giờ. Tập San Sinh Viên cho rằng tác phẩm Vòng Tay Học Trò là “trường hợp ngoại lệ, mất thăng bằng, bệnh hoạn…”Vòng Tay Học Trò còn bị chê là lai căng, đọc vào chỉ thấy chất Tây chứ không thấy bản chất phụ nữ Việt Nam[1].

Táo bạo cỡ nào, bệnh hoạn ra làm sao, hẳn đây là một tác phẩm viết về tình dục, tôi tự hỏi. Táo bạo cỡ Fear of Flying của Erica Jong, Nhật Ký của Anais Nin, Tropic of Cancer của Henry Miller, hay Phu Nhân Chatterley của D. H. Lawrence? Fear of Flying miêu tả mơ tưởng tình dục (sexual fantasies) của một người phụ nữ thuộc giai cấp trung lưu với chồng và người tình. Anais Nin, là người tình của Henry Miller hay viết những đoạn nhật ký rất gợi tình, khiêu dâm (erotica) về những người phụ nữ trong đó có June, vợ của Miller. Tropic of Cancer của Miller là tiểu thuyết khiêu dâm bị cấm xuất bản khá lâu. Lawrence viết về sự ngoại tình của một người đàn bà thuộc giai cấp quí tộc với một người thợ săn cung cấp thịt cho gia đình. Lawrence viết về tình dục nhưng không tục tằn thô bạo như Miller. Còn nếu nói Vòng Tay Học Trò thuộc loại bệnh dâm thì đây thuộc loại bệnh gì? Bệnh ấu dâm như Lolita của Nabokov, hay ác dâm như Fifty Shades of Grey của E. L. James chiếm danh sách bán chạy nhất của New York Times cả năm trời? Hay vừa ác dâm vừa khổ dâm như The Secretary của Mary Gaitskill? Mở dấu ngoặc ở đây kẻo có ngày độc giả phát giác tôi nói dối thì xấu hổ. Sự thật tôi đọc chỉ có vài chục trang của Miller vì tục quá chịu không nổi, và chỉ đọc hai trăm trang trong bộ 50 sắc thái của Grey, bỏ nửa chừng vì chán.

Cô giáo Trâm, nhân vật chính, ở biệt thự Tây, nghe nhạc Tây, xem phim Mỹ (phụ đề Pháp Ngữ), ăn xúp nấu kiểu Tây, nhắc đến tên của những nhà văn Tây như George Sand và Sagan. Cô huýt sáo như đàn ông và hút thuốc như đàn bà Tây. Về mặt hút thuốc, các bà cụ ở làng Cẩm Lệ chuyên làm thuốc lá, cả trăm năm trước, cũng hút thuốc phì phèo mỗi điếu thuốc to bằng ngón tay thì có Tây không? Cái Tây của cô giáo Trâm chỉ là hình thức bên ngoài, một thứ thời trang. Người đọc, kỹ một chút sẽ thấy; Trâm săn sóc đám học trò nghèo, e ngại miệng tiếng thị phi nhưng vẫn đặt nhu cầu của tha nhân lên trên lợi ích cá nhân, hành động này biểu lộ bản tính của người phụ nữ Việt Nam. Khi lỡ yêu chú học trò bé bỏng, tâm tư của cô giáo bị dằn vặt âu lo; đó cũng là một tính chất của đàn bà Việt Nam.

Nếu đọc Vòng Tay Học Trò, chỉ chú trọng văn bản; hay chỉ dựa vào sự tương tác của người đọc (hơn ba mươi năm làm quen với sách báo phim ảnh Hoa Kỳ) và tác phẩm, độc giả sẽ cho rằng đây là loại “chick lit”, tiểu thuyết tình cảm lãng mạn dành cho các cô gái trẻ mới lớn lên và bắt đầu yêu. Vòng Tay Học Trò không chứa đựng ý thức chính trị (dù ở VN lúc ấy cuộc chiến đang leo thang), cộng với văn phong lãng mạn, đậm nét thơ, hay tả cảnh đẹp của thiên nhiên, càng làm người ta chú ý đến yếu tố non trẻ của tác phẩm đầu tay. Độc giả có đốt đuốc đi tìm suốt quyển sách cũng sẽ không thấy một chữ nào nói về bộ phận sinh dục, tả chân những màn làm tình nóng bỏng, hay kể chuyện còng tay cùm chân, đét vào mông, để tìm khoái cảm tình dục, làm sao có thể kết luận đây là một tác phẩm bệnh hoạn về tình dục? Vòng Tay Học Trò bị kết án phi luân, Đào Huy Đán[2] lập lại lời của một nhà phê bình, vì tác phẩm này chạm vào hai điều cấm kỵ (taboo) của nền văn hóa phụ hệ Việt Nam. Một, người đàn bà yêu người con trai nhỏ tuổi hơn. Hai, độc hại hơn, người đàn bà này lại là cô giáo của chính người cô yêu. Một người “sính” dùng lý luận của Freud để phân tích văn học có thể kêu lên đây là hiện tượng Oedipus. Cô giáo được so sánh với hình ảnh của người mẹ và vì thế người ta dễ liên tưởng đến chuyện loạn luân.

Phải đặt tác phẩm Vòng Tay Học Trò ở giữa nền văn hóa phụ hệ của Việt Nam mới hiểu tại sao tác phẩm này bị lên án. Với phong tục Việt Nam, người chồng lớn tuổi hơn người vợ là chuyện dĩ nhiên, thậm chí kể cả những cô vợ vẫn còn là bé con. “Lấy chồng từ thuở mười ba. Sang năm mười tám thiếp đà năm con. Ra đường thiếp hãy còn son. Về nhà thiếp đã năm con cùng chàng.” Người ta chê cười những người phụ nữ lấy chồng trẻ con. “Đòng đòng cõng chồng đi chơi. Đi đến chỗ lội đánh rơi mất chồng. Chị em ơi cho tôi mượn cái gàu sòng. Để tôi tát nước vớt chồng tôi lên.” Đối với người Việt Nam, môi trường giáo dục là môi trường đạo đức. Nào là “nhất tự vi sư, bán tự vi sư.” Nào là “không thầy đố mày làm nên”. Nào là “muốn sang thì bắc cầu kiều. Muốn con hay chữ phải yêu mến thầy.” Thầy là hình ảnh của người cha. Và cô giáo, dĩ nhiên, được liên tưởng với vai trò người mẹ. Trên thực tế, một cô giáo dạy đệ nhất cấp, mới ra trường có thể chừng hai mươi. Một học sinh đệ nhị cấp, học trễ tuổi, hay khai sụt tuổi để trốn lính, có thể  mười chín hoặc đôi mươi, nhiều người có vóc dáng to lớn hơn cả cô giáo dạy họ. Điều trớ trêu là, tình yêu của người đàn ông trưởng thành với một cô bé “tuổi của nàng tôi nhớ chỉ mười ba”, hay của thầy giáo với học trò, lại thường được ca tụng qua những cuốn tiểu thuyết hay những bài thơ lãng mạn. Một trường hợp có thật, chú bé mười một mười hai, yêu một người con gái lớn tuổi hơn, vẫn yêu “chị” sau khi “chị” có chồng. Chú kể lại mối tình bằng bài thơ với những câu “đứa nào tìm được Lá Diêu Bông, từ nay chị gọi là chồng” thì thiên hạ suýt xoa khen. Bà Duras đưa cô bé mười lăm tuổi người Pháp quyến rũ người đàn ông Việt gốc Tàu lớn hơn cô mười hai tuổi để lấy tiền, vào quyển Người Tình, chẳng những không ai mắng chửi dâm loạn mà còn trao tặng cho bà giải thưởng Goncourt.

Chuyện người đàn bà yêu một người con trai trẻ tuổi hơn mình không phải là chuyện hiếm hay chỉ có trong tiểu thuyết và phim ảnh. Trước khi Vòng Tay Học Trò xuất hiện (1964), đã có Anna Karenina của Leon Tolstoi đăng từng kỳ kéo dài mấy năm trời (1873-1877), The Awakening (Thức Tỉnh) của Kate Chopin (1899), và phim Tea and Sympathy (1956). Sau Vòng Tay Học Trò có phim The Graduate (1967), Summer of ‘42 dựa vào hồi ký của Herman Raucher (1971), The Reader của Bernhard Schlink truyện Đức dịch sang tiếng Anh (1997) là một vài thí dụ. Trên thực tế, ở Tây phương, không ít phụ nữ kết hôn với đàn ông trẻ hơn họ hàng chục tuổi; Mary Tyler Moore, Demi Moore, Elizabeth Taylor, là một vài thí dụ. Tất cả những sách và phim nói trên đều nổi tiếng và được yêu mến. Tuy nhiên, tác phẩm có ảnh hưởng sâu đậm đến Vòng Tay Học Trò là cuốn phim Tea and Sympathy (Những Cuộc Uống Trà và Lòng Thương Xót). Đây là một vở kịch của Robert Anderson ra đời năm 1953 và chuyển thành phim năm 1956. Phim Mỹ được chuyển sang tiếng Pháp với tựa đề, Thé et Sympathie; Minh nhân vật trong truyện Vòng Tay Học Trò đã nhắc đến phim này với cô giáo Trâm.

Tea and Sympathy nói về một cậu học trò Tom Robinson Lee mười bảy tuổi, vừa chuyển sang trường mới. Tom nhạy cảm dịu dàng bị xem là có nữ tính (hay đồng tính) thường bị bạn học bắt nạt. Phim cho người xem thấy quan niệm về tình dục và nam tính của xã hội thời bấy giờ. Laura Reynolds, vợ của vị giáo viên ban thể thao, bênh vực cậu bé. Laura không được chồng bày tỏ lòng yêu thương và chăm sóc. Sự nhạy cảm và quan tâm của Tom làm nảy sinh tình cảm giữa Tom và Laura. Tom thú nhận cậu luôn có cảm tình, đôi lần đi đến chỗ thầm yêu những người phụ nữ lớn tuổi hơn cậu, có lẽ vì thiếu tình yêu của mẹ. Mẹ cậu bỏ đi khi cậu còn bé. Bố cậu nhìn thấy bản chất dịu dàng của cậu lại sợ rằng cậu là người đồng tính luyến ái. Ông bố và các bạn học là áp lực khiến cậu bé tìm cách học vỡ lòng tình dục với một cô gái điếm tên Ellie. Bài học thất bại, cậu bị đuổi học, bạn bè trêu chọc, Tom xấu hổ và thất vọng nên tự tử. Laura khuyên giải, hai người trao đổi cái hôn, Laura nói rằng “nhiều năm sau, khi cậu kể chuyện này, và cậu sẽ, xin hãy nhớ giữ lòng nhân hậu.” Phim của thời 1956 luôn kín đáo. Đạo diễn chỉ cho thấy cái hôn, nhưng người xem phim thời bấy giờ có lẽ hiểu rằng giữa Laura và Tom tiến xa hơn một chút, vì sau cái hôn vào buổi chiều ở một góc vắng trong sân cù, cậu bé Tom không còn nghi ngờ bản chất đàn ông của cậu, trở thành nhà văn có vợ con. Mười năm sau trở về thăm trường cũ, cậu gặp lại vị giáo viên phụ trách môn thể thao, khi hỏi thăm về Laura cậu nhận được lá thư Laura để lại. Laura kể rằng sau buổi chiều ấy, nàng không thể nào trở lại với người chồng không yêu. Nàng bỏ đi nhưng lòng vẫn mang cảm tình dành cho cậu bé.

Giữa Tea and Sympathy và Vòng Tay Học Trò có một điểm tương đồng. Cùng là tình yêu một phụ nữ với một cậu học sinh, trong khi Tea and Sympathy nhấn mạnh sự tìm kiếm tình yêu và tìm hiểu dục tính của Tom, quan sát nỗi buồn chán (của Laura) vì không được cống hiến khả năng vào xã hội của một người phụ nữ trung lưu Hoa Kỳ[3] thì Vòng Tay Học Trò cho thấy sự kháng cự nền văn hóa phụ hệ ở cô giáo Trâm. Lớn lên với quan niệm “tại gia tùng phụ, xuất giá tùng phu, phu tử tùng tử,”phu xướng phụ tùy”, và “quyền huynh thế phụ” cũng như thường được nghe nhắc những câu thơ của Bạch Cư Dị “Nhân sinh mạc tác phụ nhân thân, bách niên khổ lạc do tha nhân,” (ở đời chớ làm thân đàn bà, trăm năm vui khổ do người ta) tôi thông cảm cái uất ức vì bị gò ép trong văn hóa phụ hệ của người cung nữ trong Cung Oán Ngâm Khúc “bực mình muốn đạp tiêu phòng mà ra”. Từ đó tôi nhận thấy sự kháng cự một xã hội gò bó của nhà văn Nguyễn thị Hoàng qua tác phẩm Vòng Tay Học Trò là điều tất nhiên. Vào thập niên sáu mươi, ý thức nữ quyền bắt đầu phát triển mạnh ở khắp nơi trên thế giới. Việt Nam thầm lặng đón nhận làn gió ý thức nữ quyền từ văn học Pháp và Hoa Kỳ bay sang.

Tôi cẩn thận, không gán nhãn hiệu nữ quyền tùy tiện. Rất nhiều nhà văn từ chối cái danh hiệu nữ quyền thí dụ như Doris Lessing và Alice Munro. Tôi sẽ đưa ra những chi tiết trong Vòng Tay Học Trò để giải thích vì sao tôi cho rằng tác phẩm này mang ý thức nữ quyền trong thời kỳ nữ quyền của Việt Nam vẫn còn phôi thai.

Vòng Tay Học Trò, chứa đựng ý thức nữ quyền trong thời kỳ phôi thai, có nhiều điểm tương đồng với The Awakening (Thức Tỉnh, 1899) của Kate Chopin (1850 – 1904). Edna Pointellier, nhân vật nữ chính, có chồng khá giả và hai đứa con. Cảm thấy bị vây hãm trong đời sống làm mẹ và làm vợ, Edna muốn được tự do và trở thành nhà văn kiêm họa sĩ. Trong một cuộc nghỉ hè, Edna quen và đem lòng yêu Robert Lebrun, một thanh niên trẻ tuổi hơn nàng. Khác với Anna Karenina bị lệ thuộc tài chánh vào chồng, Edna có tiền do bố của nàng để lại. Bởi vì mơ ước được tự do hoàn toàn chiếm ngự tư tưởng nàng khiến nàng đâm ra có những cử chỉ khó hiểu, chồng nàng cho rằng thái độ bất thường của nàng, là một căn bệnh tâm lý. Khi chồng nàng mang hai đứa con đi xa, nàng dọn ra khỏi nhà, mua một căn nhà nhỏ và sống riêng để được tự do cả vật chất lẫn tinh thần. Edna theo đuổi mối tình với Robert, nhưng không thành. Truyện kết thúc ở chỗ Edna bơi ra ngoài khơi, càng ra xa nàng càng thấy tự do và không nghĩ đến chuyện quay vào bờ. Cách kết thúc của Kate Chopin đưa đến hai kết luận. Một số người cho rằng Edna chọn cách chết đuối vì không muốn chịu thua sức ép của xã hội và đánh mất tự do của nàng. Một nhóm khác, ít người hơn, cho rằng, Edna không nhất thiết phải chết đuối và tiếp tục sống hưởng thụ sự tự do của nàng. Sau khi tác phẩm Thức Tỉnh ra đời, nhà văn Kate Chopin bị xã hội tẩy chay. Phụ nữ lên án tác phẩm của Chopin vi phạm đạo đức xã hội vì nhân vật Edna chẳng những đã bỏ chồng mà còn bỏ cả con. Thậm chí Câu Lạc Bộ tác giả Chopin thường đến sinh hoạt hằng ngày cũng rút lại thẻ hội viên của bà. Đang là nhà văn có sức viết rất mạnh, bỗng dưng bà bị cô lập, không thể xuất bản sách được nữa. Sau khi Chopin qua đời, không mấy ai nghĩ đến tác phẩm của bà, thường bị giới phê bình cho là loại tác phẩm của địa phương. Mãi về sau, khi phong trào nữ quyền trở nên lớn mạnh, bắt đầu khôi phục những tác phẩm biểu lộ ý thức nữ quyền, người ta mới chú ý đến tác phẩm của bà, đặc biệt là The Storm, The Story of an Hour, và The Awakening.

Sandra Lee Bartky viết, có ba loại áp bức tâm lý đặt lên phụ nữ: thành kiến, thống trị văn hóa, và xem họ như một đối tượng tình dục. Phụ nữ, cũng như người dân bị đô hộ lâu ngày, dần dần chấp nhận sự áp bức và trở nên thuần phục. Phụ nữ bất tuân phục một cách ngấm ngầm ở đâu và thời nào cũng có. Phát hiện và chấp nhận sự áp bức mỗi phụ nữ có mức độ khác nhau[4]. Bartky nói: “To be a feminist, one has to become one.” (Bartky, p.11). Tôi xin dịch thoát nghĩa như sau. Để mang danh là một nhà nữ quyền, trước nhất người ấy phải làm cái gì đó để trở thành nhà nữ quyền. Tức là phải có sự thay đổi trong hành động và tư tưởng. Diễn biến này sâu sắc, phức tạp, thay đổi ở từng cá nhân và không phải dễ dàng nhận ra. Bà đưa ra một vài thí dụ như đang là nhà nội trợ người phụ nữ muốn trở thành người có nghề chyên môn, hay có những hành động chống đối chính trị, hay làm một cái gì đó trái ngược với những gì xã hội định sẵn cho vai trò phụ nữ, thậm chí như : “ở tù, không dùng son phấn trang điểm nữa, cạo lông chân, bắt đầu học Thái Cực Đạo, và thay đổi ý thức chính trị hoàn toàn”[5] (Bartky, p.12). Trong tác phẩm Vòng Tay Học Trò, Trâm muốn tự chủ, tự lực và sống độc lập trong xã hội. Một trong những điều kiện quan trọng nhất để được quyền bình đẳng với nam giới là sự độc lập tài chính. Cô giáo Trâm bỏ học để đi dạy vì đây là một phương tiện thích hợp với khả năng của nàng để đưa đến sự độc lập về tài chánh, đồng thời đây cũng là một lãnh vực mà nền văn hóa phụ hệ chấp nhận sự có mặt của phụ nữ. Trâm hút thuốc và huýt sáo như đàn ông, và chứng tỏ khả năng tự chủ tự lập của nàng bằng cách đứng ra thuê người sửa chữa căn biệt thự của người Pháp đang bị hư hại nặng. Từ bỏ Huế, và Sài Gòn, Trâm muốn từ bỏ cái quá khứ ăn chơi bất tận với những mối tình không như ý ở Sài Gòn, và đồng thời muốn thoát khỏi khuôn phép của gia đình cũng như sự nghiêm khắc của xã hội Huế. “Ở Sàigòn là nỗi kiêu hãnh liều lĩnh bất chấp thiên hạ để dám sống, để phá đời, để hưởng đời. Ở đây là sự kiêu hãnh liều lĩnh bất chấp để gây dựng cho mình, để vạch lối riêng không cần đến những đường mòn của thiên hạ” (VTHT, trang 3).

Tuy nhiên, đi đâu Trâm cũng không thoát khỏi sự áp bức của nền văn hóa phụ hệ, đặc biệt là trong môi trường giáo dục. Trâm bị vây bủa trong một xã hội của nam giới. Đồng nghiệp của nàng, cấp trên của nàng, học trò của nàng tất cả đều là phái nam. Trâm bị cô lập và cảm thấy cô đơn. Suốt chiều dài tác phẩm độc giả dễ nhận ra rằng, dù là một cô gái đẹp, dễ mến, và nhân hậu, Trâm có một quan điểm khá hằn học với phái nam, nhất là những người có thể đặt áp lực lên nàng. Trâm không ghét Lưu, vì Lưu không săn đuổi nàng, không nhìn nàng như nhìn một đối tượng tình dục. Trâm từ chối Ngữ, và một số người đàn ông khác đã từng theo đuổi nàng,“Nàng nhớ lại những tên người trong ký ức như người lính thắng trận kiểm điểm xác chết của phe địch bỏ lại ở chiến trường. Văn tỉ phú. Marc giáo sư đại học, John sĩ quan Mỹ. Tuấn phi công. Francois ký giả, Hồng nhà văn. Linh con nhà giàu phá sản. Và một khối thằng sinh viên. Một khối thằng học trò choai choai mới lớn say mê của cấm như khoái làm chuyện siêu phàm. Bây giờ họ là những xác chết.”[6] (VTHT, trang 2) bởi vì họ biết quá khứ của nàng. Họ có thể dùng quá khứ của nàng để kềm chế sự độc lập của nàng, bắt nàng tuân theo bổn phận làm vợ, làm mẹ. Với những danh từ (biến thành tĩnh từ) miêu tả nghề nghiệp phía sau tên của những người đàn ông theo đuổi Trâm, độc giả có thể nhìn thấy họ tượng trưng cho giai cấp trung lưu, hay trí thức, và có quyền lực áp đặt lên một cô gái trẻ như Trâm, cai trị nàng hay biến nàng thành đối tượng tình dục của họ.

Trâm đặc biệt có ác cảm với ông Dụ, giám thị trong trường nàng đang dạy, không phải chỉ vì ông là người soi mói tọc mạch chuyện riêng của nàng, mà còn vì ông là hình ảnh tượng trưng cho quyền hành của người cha, người chủ, hay cấp trên, những người có thể thực hiện trừng phạt hay đàn áp những người ở thế yếu như nàng. “Mình có làm gì phạm pháp đâu. Lão ta chỉ có quyền kiểm soát ở trường thôi. Đây là thế giới mình. Nhà này là của mình. Đời sống này là của mình. Không có ai có quyền xâm lấn hay sửa chữa, can cớ gì đến lão ta đâu mà xía vô. Tôi ngủ trong phòng, bên lò sưởi, dưới bếp, ở nhà xe, hay đâu mặc xác tôi chứ, miễn là tôi không ngủ gục trong khi giảng bài, không ngủ quên trong lớp khi tan học. Trong bản nội qui nhà trường không thấy buộc giáo sư phải ngủ trên giường, cấm giáo sư nằm giữa sàn nhà, trước lò sưởi. Cũng như pháp luật không cấm đoán đàn bà sống độc thân. Vậy thì tôi muốn sống như thế đó. Và tôi có quyền sống như thế. Có hại gì ai không? Có làm mất mát gì của ông đâu?” (VTHT, tr. 53-54)

Trâm chống đối cả nền giáo dục mà nàng xem là giả dối, giáo điều. Giảng giải lý thuyết, áp dụng những nguyên tắc cổ điển sáo hủ. Như người ta lơ đễnh rải lá dâu cho tằm ăn trong khi tằm đã biến hình thành con nhộng trong cái kén. Học trò cứ ngồi đó, thờ ơ chép bài, lơ đãng nghe giảng, tìm cách này hay cách khác, tiết kiệm những suy tư về học tập, để chín phần mười tâm trí phiêu du theo những thắc mắc riêng tư. Thầy giáo cứ viết, cứ nói, cứ lập đi lập lại như cái máy hát bị hỏng một điệp khúc nhàm chán về những qui tắc mà chính mình cũng không muốn áp dụng trong đời sống. Những vấn đề đạo đức, những bài học công dân, giáo sư thao thao bất tuyệt, khoác cho mình vẻ đạo mạo của người truyền giáo mà không bao giờ nhận định rằng trong đám người nghe còn phải có cả chính mình. Sự giả dối quen thuộc đến nỗi không ai chú ý đến hiện diện trơ tráo của nó, và vô tình, người mang mặt nạ với kẻ khác và với chính mình nữa.”(VTHT, tr. 67)

Kháng cự cả một chế độ phụ hệ chung quanh nàng, Trâm chỉ có thể biểu lộ quyền lực của nàng qua hai cách, từ chối tình yêu của những kẻ si mê nàng, và chọn lựa người nàng yêu.

Trâm chọn Minh không phải vì sự đòi hỏi của tình dục. Trâm chọn Minh vì cậu bé là hình ảnh trái ngược những người đàn ông có quyền lực. Trâm không coi Minh, một cậu bé gầy gò, da trắng môi hồng, là đối tượng có thể kềm chế, kiểm soát, hay trấn áp nàng: “Vòng tay Minh là vòng tay học trò. Nếu coi Minh như một người đàn ông, tôi cũng đã điên cuồng, đã chán mứa, đã cùng cực hoài nghi.” (VTHT, trang 113).

Nhà văn Nguyễn thị Hoàng bỏ lửng đoạn kết của Vòng Tay Học Trò tùy độc giả tưởng tượng đến tương lai của mối tình không được xã hội chấp thuận này. Xem chừng nhà văn Nguyễn thị Hoàng là người thắng thế trong cuộc bơi ngược dòng văn hóa phụ hệ. Trước bà, những nhân vật nữ yêu hay có liên hệ tình dục với các cậu trai trẻ tuổi hơn đều tự tử; như Anna Karenina, Edna Pontellier, hay bỏ đi xa như Laura Reynolds, Dorothy (Summer of ’42), và sau này là Hanna Schmitz (The Reader). Độc giả có thể tưởng tượng được cô giáo Trâm sẽ đoàn tụ với cậu học trò Minh, hai người sống (và có con) với nhau cho đến khi họ chán nhau cãi nhau rồi chia tay, như Demi Moore và Aston Kusher hay Elizabeth Taylor với những người tình trẻ của bà.

Cô giáo Trâm, là người dám đi ngược lại định kiến xã hội đặt ra cho người phụ nữ, nhất là người phụ nữ trong môi trường giáo dục. Cô có nhan sắc và biết dùng nhan sắc của mình để chi phối những người yêu nhan sắc của cô. Trâm thích hợp với câu nói của Adrienne Rich dành cho bà Marie Curie. “Những vết thương của nàng xuất phát từ nguồn quyền lực của nàng.” Cuộc đời của nhà văn Nguyễn thị Hoàng cũng bị ít nhiều thương tích và những thương tích này đã phát xuất từ tác phẩm Vòng Tay Học Trò, nguồn quyền lực của bà. Độc giả tùy quan điểm thẩm mỹ có thể chê tác phẩm Vòng Tay Học Trò là không chứa đựng một tư tưởng lớn nào. Ngay cả so với những quyển “chick lit” hiện nay Vòng Tay Học Trò cũng yếu hơn về sức tưởng tượng và thiếu những màn ái tình cụp lạc. Dù độc giả có chê Vòng Tay Học Trò tôi hy vọng độc giả đồng ý với tôi là nhà văn Nguyễn thị Hoàng rất nghiêm túc khi nghĩ về công việc viết văn: “Muốn viết thành thật phải sống lăn lóc, phải có kinh nghiệm đã. Nhưng đàn bà như vậy thì còn gì. Vả lại, có làm cho hết sức cũng chẳng đi đến đâu, chỉ là hạt bụi, không một tiếng vang nào cả. Chị xem, trong văn học Pháp, Georges Sand có nổi tiếng cũng chỉ vì phụ nữ hiếm trong làng văn, chứ thật ra sự nghiệp của bà ta có đáng gì so với những tác phẩm vĩ đại của các văn hào nam giới. Như thế mà rồi cũng một đời thật sa đọa, tan nát… Rồi bây giờ lại Sagan…” (VTHT, trang 13). Tôi tự hỏi, liệu bà có phiêu lưu vào những cuộc tình tai tiếng để lấy chất liệu và kinh nghiệm sống đưa vào tác phẩm hay không? Tôi cũng hy vọng độc giả đồng ý với tôi, Vòng Tay Học Trò là một trong những tác phẩm có ý thức nữ quyền có thể nói là đầu tiên ở VN khi chủ nghĩa nữ quyền chưa được biết đến một cách sâu rộng. (Tôi mạo muội không nhắc đến nhà thơ Hồ Xuân Hương vì thời điểm nhà thơ này xuất hiện đã cách ra quá xa.)

Ông Nguyễn Nhật Duật trong thảo luận Bàn Tròn đã nói: “Không có một Nguyễn thị Hoàng này sẽ có một Nguyễn thị Hoàng khác.” Tôi không biết ông muốn nói gì, nhưng tôi nghĩ ở thập niên sáu mươi, sự gò bó nghiêm khắc của nền văn hóa phụ hệ là nguyên nhân chín muồi cho những nhà văn nữ quyền xuất hiện. Họ nếu không thể nổi loạn làm một cuộc cách mạng chính trị thì sẽ làm cách mạng văn học.

Bài này đã đăng ở Thư Quán Bản Thảo số 61.

[1] Việt Thường, Một Hiện Tượng Văn Nghệ, quyển 13, Đồng Nai Văn Tập

[2] Đào Huy Đán, Nhìn Qua Văn Đàn Nữ Giới Miền Nam

[3] Phụ nữ trung lưu Tây phương dù có cuộc sống sung túc với bổn phận làm  vợ và làm mẹ vẫn thấy cuộc sống vô vị nhàm chán. Họ vẫn cảm thấy lệ thuộc vào nguồn tài chính chồng và họ muốn đóng góp tài năng cũng như trí tuệ của họ vào xã hội. Betty Friedman quan sát giới phụ nữ trung lưu nhiều năm rồi viết thành quyển the Feminine Mystique (1963). Quyển sách được xem là khởi xướng phong trào nữ quyền đợt thứ nhì ở Hoa Kỳ.

[4] Sandra Lee Bartky, “Toward a Phenomenology of Feminist Consciousness,” in Femininity and Domination (New York and London: Routledge, 1990), p. 13.

[5] Robin Morgan, “Introduction: The Women’s Revolution,” in Sisterhood is Powerful (New York: Random House, 1970), p. xiv. Bartky trích dẫn Morgan trên trang 12 của quyển Femininity and Domination.

[6] Nguyễn thị Hoàng, Vòng Tay Học Trò, vnthuquan.net,  làm thành ebook: Nguyễn Kim Vỹ

In Blackwater Woods – Trong Rừng Nước Đen

To live in this world

Để sống trong cuộc đời này

you must be able
to do three things:
to love what is mortal;
to hold it

Bạn phải có thể
Làm được ba điều:
Yêu sự tử vong
Ôm giữ nó.

against your bones knowing
your own life depends on it;
and, when the time comes to let it go,
to let it go.

Xiết nó vào tận xương, biết rằng
Mạng sống của bạn tùy thuộc vào nó;
Và, đến giờ phút bạn phải buông nó ra,
Hãy buông nó ra.

Mary Oliver (1935 – 2019)

Tôi biết nhà thơ Mary Oliver, cũng như nhạc sĩ Leonard Cohen, qua (đọc blog The Kitchen Window của) cô bạn HN. Một trong những người trẻ hơn tôi một thế hệ, nhưng tôi học được vài điều hay, thú vị. Tôi nhớ đã gặp một bài thơ của bà Mary Oliver khắc vào trong đá xây tường bên trong nhà ga Penn Station New York.

Tôi không biết dịch tựa đề của bài thơ như thế nào. Blackwater là nước thải, nước cống đen ngòm. Rừng thường ở nơi xa cách loài người nên ít bị ô nhiễm. Nước đen ở rừng thường là nước tù đọng, lá rơi rồi mục rữa khiến nước có màu đen và có mùi hôi.

“In Blackwater woods” tạm dịch là “Trong Rừng Nước Đen” trong bài thơ này có thể hiểu như rừng thiêng nước độc, làm người ta sợ hãi? Hay là cánh rừng tượng trưng cho sự chết? Tin bà qua đời, và câu thơ cuối cùng của bài thơ trên đây, “hãy buông nó ra” khiến tôi cảm thấy sự nhẹ tênh của cái chết, và khiến tôi nghe trong đầu mình bài hát “Traveling Light” của ông Cohen, “It’s au revoir, my once so bright, my fallen star.” Có lẽ, bà Oliver cũng như ông Cohen, những người đã chuẩn bị tâm hồn để làm một chuyến viễn du, hành trang thật nhẹ, chỉ có mây, khói, và sương mù.

Ngày 20 January, sửa Rừng Nước Độc thành Rừng Nước Đen lúc 6:47PM.

Nước đông

mặt nước đóng băng

Mấy hôm trước bão tuyết, ở Washington D. C. tuyết rơi nhiều đến độ các cơ quan, công sở cũng như thương mại, đóng cửa. D.C. thường thường ấm hơn New Jersey vài độ, ít khi tuyết rơi nhiều. Mấy năm sau này, thời tiết đảo lộn. New Jersey hôm ấy chỉ có một lớp tuyết mỏng, tan ngay vào lúc mặt trời lên. Sau đó thì trời rất lạnh.

Ven bờ suối, mặt nước đóng băng khá dày. Tấm ảnh trên tôi chụp mặt băng. Ông Tám ném rất mạnh một hòn đá xuống mặt băng để lại dấu rạn nứt (góc trái). Bên góc phải là dấu mũi nhọn của cây gậy đâm lên mặt băng để lại vài dấu trầy xướt.

Lúc nhìn xuống mặt băng, tôi ngạc nhiên thấy có con ếch đang bơi, nhưng không chụp ảnh kịp. Trời lạnh vậy mà ếch vẫn sống được.

ba chùm băng

Ở những nơi nước chảy mạnh, mặt nước không đóng băng. Vài nhánh cây mỏng manh thả xuống gần mặt nước hồ, đêm xuống lạnh hơn, đóng một chùm nước đá. Rất tiếc cái phone chụp không rõ vì khá xa.

Đi mười hai cây số đường rừng, tôi băng ngang qua mười hai (hay hơn, vì có những lúc tôi quên đếm) dòng nước chảy. Gọi là dòng nước chảy nhưng không thể chỉ gọi chung là suối, vì có nơi bề rộng của dòng nước chảy chỉ độ hai gang tay. Có nơi chảy tận dưới thung lũng sâu (gorge). Có con suối rộng phải có cầu bắt ngang. Người Mỹ có nhiều chữ mà tôi không thể tưởng tượng được những danh từ ấy chỉ dòng nước chảy bao lớn. Stream, creek, brook cái nào lớn hơn? Khi nào thì gọi là khê? Khi nào là tuyền? Chữ river thì tôi biết. Thỉnh thoảng gặp người đi. Thỉnh thoảng nghe tiếng chim ngỗng bay thành đàn đi về nơi nào đó ấm áp hơn. Bên cạnh lá vàng khô thỉnh thoảng tôi gặp những tảng đá có rêu xanh che phủ. Ngoài tiếng suối chảy, tiếng chim kêu, tiếng gió rì rào trên những ngọn thông cao vút, rừng mang đầy vẻ  hoang vu, và làm tôi cảm thấy chung quanh tôi là hình ảnh của thanh tịnh.

Mùa đông trong thung lũng xa như một tiếng kinh cầu. Xin mời các bạn nghe “Chiếc Lá Mùa Đông” Gia Huy hát.

Mèo hoang và câu chuyện giết người lần thứ ba

mèo út
Mèo Út

Đây là chàng mèo út. Hồi mới sinh ra Út nhỏ nhất, chậm chạp nhất. Trong khi các anh ăn thức ăn mèo ào ào, chạy nhảy rượt đuổi thì Út nhút nhát trốn đâu đó, ra ăn sau cùng, và không ăn, chỉ đeo theo mẹ đòi bú. Bây giờ thì vẫn nhỏ hơn mèo anh một chút, nhưng đã to lớn hơn mèo mẹ, Củ Gừng. Bây giờ nhiều khi Củ Gừng và mèo anh đi đâu mất, bỏ Út ở lại một mình. Sáng nào khi tôi thức dậy, trời tối om và lạnh -4° C. cũng thấy Út chờ sẵn ở ngoài cửa. Chỉ cần nghe tiếng chân hoặc thấy mở đèn là Út ngó vào cửa kiếm tôi. Thấy tôi là Út nằm lăn ra trên đất, ưỡn bụng như tỏ ý đầu hàng, khuất phục. Út để tôi ôm vào lòng, ẵm trên tay. Chỉ thân thiện với tôi thôi. Thấy người khác là bỏ chạy thật xa, dừng lại thủ thế, để chạy tiếp.

Hôm qua, trời lạnh nhưng có nắng nguyên ngày. Buổi chiều cho Út và mèo anh ăn xong (không thấy Mr. Mun và mèo mẹ), hai anh em leo lên thân cây mục trong rừng, phía sau nhà, ngồi im lặng rất lâu, chẳng biết rình gì ngoài bầy nai năm sáu con (chiều nào sáng nào đàn nai cũng đi ngang sân sau nhà tôi).

Tôi luôn luôn cảm thấy lòng mình rung động (một chút trắc ẩn), mỗi khi nhìn đàn mèo hoang. Chúng chắc chắn là không hề đòi được sinh ra đời. Chúng cũng không thể kiểm soát hay tự chủ được sự sinh tồn trong môi trường chúng được sinh ra.

Tình cờ tôi mượn được cuốn phim Nhật, “The Third Murder” của đạo diễn Hirokazu Kore-eda. Một trong những bài học quan trọng tôi rút ra được trong quá trình sáng tác là không coi thường bất cứ khuynh hướng văn chương nào. Người Mỹ họ chia ra thành nhiều thể loại (genre), romance (tình cảm lãng mạn), thriller (trinh thám), suspense (kinh dị) , v. v. … . Mỗi thể loại có độc giả riêng của họ. Có nhiều quyển sách hay cuồn phim, khi được hay bị xếp vào một thể loại nào đó có thể làm người đọc có thành kiến về quyển sách trước khi đọc. Giới phê bình nghiêm túc thường hay gạt ra ngoài truyện tình cảm lãng mạn, hay trinh thám, cho rằng loại truyện này thiếu tính cách nghệ thuật văn chương. Mỗi loại có cái khó riêng của nó. Thể loại nào cũng đòi hỏi sự làm việc hết sức của người viết. Không thật sự viết văn, dễ xem thường tác phẩm của người viết, rằng nó thuộc loại này thuộc loại kia không phải là tác phẩm văn chương.

Tomoaki Shigemori là trưởng nhóm luật sư, điều tra một vụ giết người mà Misumi là thủ phạm. Misumi đã nhận hết tội một cách dễ dàng; tuy nhiên, khi phỏng vấn ông ta, Shigemori nhận ra nhiều chi tiết không ăn khớp và đâm ra nghi ngờ ông ta không phải là thủ phạm. Dường như ông ta nhận tội để che chở cho một người nào đó. Cái tựa đề “The Third Murder” làm người xem thoạt tiên nghĩ rằng có ba vụ giết người. Thật ra chỉ có một vụ án giết người, nhưng qua cuộc điều tra Shigemori nhìn ra ba góc cạnh và ba lần kết luận ai là kẻ giết người trong vụ án.

Cuốn phim hay đến độ tôi dán mắt, há hốc mồm, nín thở để xem. Lâu lâu nhận ra là mình đang há hốc và nín thở nên tự sửa lại. Tôi có khuynh hướng thích các loại thriller (chỉ không thích phim có cảnh giết người tàn bạo và đầy máu me). Có một thời say mê “Murder, She Wrote.” Vẫn còn rất mê phim Hitchcock và truyện của Patricia Highsmith.

Phim có góc độ quay rất sáng tạo (với tôi). Khi Shigemori và Misumi đối đầu với nhau, kẻ cố khai thác để tìm ra thủ phạm, kẻ cố dấu loanh quanh để nhận mình là thủ phạm, Kore-eda cho mặt một người xuất hiện trên màn ảnh, còn mặt người kia là ảnh mờ xuất hiện trên cửa kính trong (hai người nói chuyện với nhau qua tấm kính dày ngăn giữa người tù và luật sư). Cách quay này cho người xem thấy được sự diễn xuất của hai diễn viên cùng một lúc, như thể mình nhìn thấy sự suy nghĩ của hai người với hai quan điểm ngược chiều với nhau.

Shigemori có một người phụ tá tôi quên tên. Trong một bữa ăn, Shigemori và người phụ tá nói chuyện đời và chuyện Misumi. Người phụ tá nhận xét. “Người ta không có ai đòi được sinh ra đời. Không chọn được gia đình hay nơi chốn mình sinh ra. Và từ đó, không phải ai cũng có khả năng vượt ra được cái môi trường họ đang sống.” Nhận xét này làm Shigemori giật mình. Vì Misumi cũng có ý nghĩ này và đã nói với Shigemori. Giật mình, vì Misumi từng nói riêng với Shigemori, nếu ông bắt tay Shigemori, ông sẽ biết được ý nghĩ của Shigemori.

Misumi có một cô bạn nhỏ, một chân có tật. Cô bé này là con của người mà Misumi (nhận tội là) đã giết. Misumi bảo rằng ông ta không xứng đáng làm con người. Ông chỉ làm khổ người chung quanh. Ông cũng như cô bạn nhỏ với một chân có tật, không đòi được sinh ra, không chọn được cha mẹ, không có cách để thoát khỏi môi trường họ đang sống.

Tôi nhìn mấy con mèo hoang lại nghĩ đến cuốn phim. Xem cuốn phim lại nghĩ đến mấy con mèo hoang, nghĩ đến tôi, và các con tôi. Tất cả đều được sinh ra mà không hề có được quyền lựa chọn.