Láng giềng

Sáng hôm kia (Dec. 11, 2021) cho mèo ăn, tôi thấy có con nai đang lặng lẽ ăn rau cải, vỏ trái cây, ông Tám để ngoài hàng rào với hy vọng là nai hay con thú nào đó sẽ ăn. Mấy con mèo hoang cũng rất khôn ngoan. Chỉ gần gõ vào miệng chén leng keng là chúng sẽ đến ăn, nếu đói.

Cách đây vài hôm, tôi đang đọc cái gì đó, thì điện thoại reo. Ngạc nhiên thấy đó là bà Robyn, nhà bên cạnh. Bà bảo tôi nhìn ra cửa sổ, có con cáo đang ở trên deck nhà tôi. Con cáo này đến khá thường xuyên. Có hôm tôi gặp nó nằm khoanh ở gốc cây sồi gần cái shed, đang liếm láp chân, có lẽ mới vừa ăn thức ăn mèo xong. Chập sau nó đứng dậy lững thững đi, cái dáng đi hơi gượng gạo cà giật chứ không uyển chuyển như mèo và chó. Cái đuôi của nó cũng dày hơn, xum xuê hơn chứ không như năm trước, đuôi trụi lủi một đoạn dài cả gang tay. Khúc đuôi chỗ lông bị trụi lủi đã thu ngắn lại, chỉ còn cỡ chừng 2 hay 3 cm.

Bà Robyn nói, “tôi gọi chị để báo chị biết kẻo chị giật mình khi đi ra sân lại thấy con cáo đứng đó. À, mà chị có để thức ăn mèo ở đó không? Mấy con mèo làm tôi phát sùng lên. Hình như chúng nấp dưới cái hồ tắm của tôi vì tôi thấy có lỗ cho thú vật chui vào.” Hồ tắm của bà lộ thiên và xây bên trên mặt đất nên thế nào cũng có chỗ trống phía dưới hồ. Tôi biện hộ cho mấy con mèo hoang, có thể lỗ đó là của ground hog, marmot, hay opossum. Dù không muốn nhưng tôi cũng ngập ngừng thú nhận là tôi có để thức ăn cho mấy con mèo hoang. Bà Robyn rất ghét nai, hễ bà thấy nai là bà ném đồ cho chúng sợ bỏ chạy. Bà ghét mèo vì hai con mèo hoang có khi đánh nhau gào thét um sùm. Bà đặc biệt ghét chó. Con trai và con dâu không thể dọn vào ở chung, dù bà ở một mình, và lúc ấy phải thay xương chậu, chỉ vì gia đình con trai có nuôi con chó. Bà nhất quyết, con và dâu và cháu muốn ở thì ở còn chó thì nhất định là không. Chắc là bà không vui khi biết tôi để thức ăn cho mèo, càng không vui hơn khi tôi để thức ăn cho nai. Bà còn nhắc tôi nhớ chụp ảnh con cáo. Tuy vậy vì tôi đang dùng điện thoại nên không chụp ảnh được, và con cáo chạy đi trong nháy mắt.

Có lần bà mời tôi vào nhà, cho tôi xem các phòng trong nhà bà. Bà xếp đặt ngăn nắp, trang trí thật trang nhã, như một căn phòng của khách sạn hạng sang, còn hơn cả khách sạn vì có nhiều ánh sáng tràn vào cửa sổ. Dĩ nhiên là bà không mở B&B vì không muốn có kẻ lạ vào nhà. Chồng bà qua đời cách đây vài năm (hình như năm 17 hay 18 tôi không còn nhớ). Từ khi chồng qua đời, bà thuê người cắt cỏ nhưng cho dù trời lạnh bà vẫn lui cui thu dọn, trồng hoa, nhổ cỏ rất chăm chỉ. Dường như bà làm việc để không có thì giờ nghĩ đến sự cô đơn quạnh hiu của bà. Mỗi lần nhìn thấy bà quanh quẩn trong sân, tôi lại nghĩ đến hai câu ca dao.

Lạnh lùng thay láng giềng ơi,
Láng giềng lạnh ít sao tôi lạnh nhiều.

Láng giềng quan trọng lắm chứ. Tình thân, hay tình yêu, nhiều khi bắt đầu chỉ vì ở gần nhau. Ông bà mình đã chẳng nói, bà con xa không bằng láng giềng gần, đó sao. Đến đây thì tôi lại nhớ mấy câu thơ như “Nhà nàng ở cạnh nhà tôi. Cách nhau chỉ giậu mồng tơi xanh rờn.” Và “Cô láng giềng ơi. Không biết cô còn nhớ đến tôi.” Và “Láng giềng đã đỏ đèn đâu. Chờ em nhai giập miếng trầu em sang.” Do ở gần nhà nên họ có cơ hội để yêu nhau. Nói thì nói vậy chứ gần quá thì cũng xảy ra nhiều chuyện mích lòng. Báo đăng hôm qua có một anh người Việt 35 tuổi bị bắt vì tình nghi giết người cha 65 tuổi. Còn hàng xóm cãi nhau người ta cũng xách súng bắn chết người. Ngày trước khi ông Steve còn sống, chúng tôi còn biết chuyện đầu trên xóm dưới. Trước ông là cảnh sát cho công ty xe lửa, chỗ tôi làm việc nhưng ông làm ở trạm nào đâu đó tôi không biết. Ông bị ngã, chấn thương xương sống nên về hưu sớm. Lúc chúng tôi mới dọn về thấy ông có con chó nhỏ hay dẫn đi trên đường trước nhà. Sau ông đem chó tặng cho hàng xóm. Lúc ấy tôi không biết là vợ ông không thích nuôi chó. Ông “đi tuần” trong xóm, thỉnh thoảng gặp ông Tám kể nghe tin tức láng giềng. Cũng chính ông Steve đã báo cho chúng tôi biết, lâu lắm rồi từ lúc chúng tôi mới dọn về ở căn nhà này, cũng đã hơn hai mươi năm, một nhà hàng xóm khác có đứa con bị chết trong trận cháy ở đại học của tiểu bang. Chuyện xảy ra cũng vào khoảng cuối năm, sắp đến Giáng Sinh.

Đâu như hồi tháng trước, bà Robyn gặp ông Tám đang cắt cỏ, báo tin một người hàng xóm khác, đã bán nhà dọn đi chỗ khác, qua đời vì bệnh ung thư. Ông Lennie, nhỏ tuổi hơn tôi và bà Robyn. Ông rất thân với nhà bà Robyn. Khi bà vắng nhà, bà giao chìa khóa cho ông. Ở đây, đèn nhà ai nấy sáng. Ít ai qua lại với ai. Ông cụ Jack, nhà xéo xéo nhà tôi, bà vợ qua đời mà mãi mấy năm sau chúng tôi mới biết, sau khi ngừng xe trò chuyện với ông cụ lúc ông đang cắt cỏ dọn dẹp ngoài sân. Thời gian, khi nhìn lại, thấy thời gian qua rất nhanh. Khi Lennie dọn đi, gia đình mới dọn vào, đó là một cặp vợ chồng trẻ, chồng làm cảnh sát. Cô vợ lúc ấy còn mang thai. Vậy mà bây giờ đã có hai đứa con, chừng bảy hay tám tuổi chạy nhảy vui đùa trong sân. Con chó nhỏ xíu của họ, mùa đông đầu tiên, mặc dù được mặc áo ấm nó vẫn run lẩy bẩy. Bây giờ đã quen với cái lạnh, chạy giỡn, sủa inh ỏi trông rất vui.

Ngồi kể chuyện láng giềng, bởi vì bỗng dưng tôi nhớ một bài haiku, có lẽ của Basho. Không nhớ chính xác từng câu, chỉ nhớ đại ý. Mùa đông năm nay (hay cuối thu) trời lạnh nghĩ đến người láng giềng, không biết người ấy ra làm sao, như thế nào. Ở đây, trời lạnh càng ít gặp nhau ở ngoài sân, bẵng một thời gian mình mới chợt nhận ra, người láng giềng đã ra người thiên cổ.

Vịt hay chim?

Vịt Mallard

Buổi sáng đi bộ, không sớm lắm, sau 9 giờ nhưng vì là mùa đông, lại nhiều mây nên có cảm tưởng như chừng sáu giờ sáng mùa hè. Bầy vịt mallard đang lùng thức ăn ráo riết.

Người Mỹ họ phân biệt chim và vịt, là bird và duck. Tuy vậy có những loài họ ghép vào loại waterbird, chim chẳng phải chim, vịt chẳng phải vịt, chim cũng là vịt mà vịt cũng là chim. Loại waterbird này có thể bơi trên mặt nước, lặn khá sâu và khá lâu, cất cánh bay trong nháy mắt, và khi đáp xuống dùng chân đạp vào mặt nước như người ta đạp thắng xe ô tô vậy.

Vịt mallard người Việt gọi là chim le le.

Merganser trống có đầu đen, mình trắng, con mái đầu nâu ngực trắng mình xám

Merganser cũng là loài waterbird. Hồi mùa xuân thấy merganser mẹ và con đi thành bầy khá đông, cả mười mấy con cùng một màu giống như mẹ. Sáng hôm qua 10 tháng 12 thấy cả chim vịt trống lẫn mái. Ít khi gặp trống mái đi chung với nhau. Có lẽ phải trưởng thành thì chim trống thay lông còn khi bé có màu giống mẹ.

Phải chăng là woodduck?

Bên kia bờ sông Raritan, dòng sông khúc này tương đối rộng, có một ống cống thoát nước. Miệng ống cống đã được gắn một tấm lưới sắt khá kiên cố, có lẽ để ngăn đồ vật thoát ra sông. Vậy mà cũng có khá nhiều đồ vật khá lớn đọng lại ở miệng cống. Đây là cống thoát nước mưa, storm rain, chứ không phải cống nước thải. Nước chảy mạnh, lần nào đi ngang cũng thấy có một bầy chim vịt, vui đùa tung tăng giỡn nước. Xa quá, với ống kính 300 mm và cắt ảnh để làm ảnh lớn hơn cũng chỉ nhìn thấy ngần ngày. Loại chim vịt này khá lạ, tôi chỉ nhìn thấy lần đầu ở khúc sông này, nó gần giống như mallard duck nhưng nhiều màu nhiều vân trắng hơn. Nghe nhiều người nói đã nhìn thấy wood duck ở sông này, nên tôi tự hỏi không biết có phải đây là wood duck hay chỉ là một hình thức khác của mallard. Xem ảnh trên mạng thì wood duck có nhiều vân màu rất đẹp.

Trong bầy có một số chim vịt khá xinh. Thấy có người trên mạng gọi là bufflehead. Một trống và ba mái.

Còn sau đây là chim hẳn hoi, chỉ bay trên trời đậu trên cây không xuống nước.

Không biết tên, đoán có lẽ là chim warbler.
Chim gõ kiến
Cũng là gõ kiến, hai con đi chung với nhau, có lẽ một trống một mái.

Mùa đông ảnh không đẹp

Xe lửa chạy ngang chiếc cầu nhỏ

Vì đường trail khá dài nên tôi đi ngang nhiều cảnh trí khác nhau. Mùa hè cây cối bụi rậm che khuất nên có khi nghe tiếng xe lửa chạy sầm sập, tiếng còi hú vang vang nhưng không nhìn thấy đoàn xe. Đây là đường xe lửa chở hàng hóa nên có rất nhiều toa. Vì toa thấp ngang tầm với các miếng thép dựng đứng làm thành cầu nên chỉ nhìn được phần bên ngoài cầu màu trắng có sơn xanh.

Tôi ưa nhìn đồng cỏ khô, có cái gì đó rất quyến rủ, màu vàng, những bông cỏ lắt lay trong gió. Tôi nghĩ đến chữ meadow, và những câu truyện xảy ra ở đồng cỏ, tưởng tượng ra những người đi lang thang, những niềm vui và nỗi buồn của người đi trên đồng cỏ, màu sắc của y phục họ mặc, những cảnh đời họ sống khi họ ra khỏi đồng cỏ. Tôi thấy đồng cỏ khô rất đẹp. Nó giống như bức tranh.

Một nhánh cây gai

Mùa đông, cây to rụng hết lá nên cây gai này hưởng được ánh nắng muộn màng. Một mảng màu còn sót lại, rực rỡ giữa khung cảnh mùa đông, ảm đạm và khô héo.

Mallard duck

Tối qua tuyết rơi một lớp mỏng. Đến sáng vẫn còn nguyên. Ngày hôm nay cao nhất là 40 độ F. tương đương với 4 độ C.

Wikipedia tiếng Việt dịch mallard duck là vịt cổ xanh, hay le le. Thật ra loại vịt này cả cái đầu đều xanh. Con trống có màu xanh, còn con mái chỉ có màu nâu.

Trên đường đi bộ dọc theo bờ kênh cách đây vài hôm tôi không còn thấy con rùa nào lên trên mặt nước nữa. Hạc xám thì lác đác vài ba con săn cá dọc theo phía bên kia bờ sông. Trên dòng kênh tôi gặp nhiều đàn vịt đầu xanh. Mỗi đàn vịt, nhiều thì mười con. Tôi thường thấy trong đàn số vịt trống nhiều hơn vịt mái. Mỗi lần nhìn đều cố nhìn cho kỹ vì vịt mái có thể lẩn vào trong các bụi cỏ ven bờ khó nhìn thấy. Vì thấy số vịt trống luôn nhiều hơn vịt mái nên tôi ngạc nhiên khi thấy em này bơi chỉ có một mình. Thường thường, khi không đi chung đàn, ít nhất cũng là một cặp. Tôi cũng để ý, vịt trống bơi trước, vịt mái bơi sau, cách nhau độ một mét. Cũng có khi vịt mái bơi trước, nhưng ít lần tôi nhìn thấy.

Chàng đầu xanh này đi nguyên đàn, nhưng mấy con kia ở xa một chút. Nàng này thì đi chỉ có một mình, rất lặng lẽ và không có vẻ gì hoảng hốt vì lạc bầy. Có lẽ nó chỉ cần nhìn xuống nước là thấy cái bóng của nó như một người bạn vậy.

Mùa Thu trong tranh của Hokusai – Nguyễn Thị Hải Hà

http://www.gio-o.com/NguyenThiHaiHa/NguyenThiHaiHaHokusai2021.htm

Bài tiếp theo trong loạt bài “mùa dịch bệnh nằm nhà xem tranh Hokusai.”

Katsushika Hokusai, người Nhật, sinh ngày 31 tháng Mười 1760 và mất ngày 10 tháng Năm 1849.  Nổi tiếng trên thế giới với bức tranh The Great Wave of Kanagawa (Lượn Sóng Khổng Lồ ở Kanagawa)[1] thường được viết tắt là The Great Wave, trong bộ tranh khắc trên gỗ ukiyo-e Thirty-six Views of Mt. Fuji (Ba mươi sáu cách nhìn núi Phú Sĩ). Đặc điểm của bức tranh này là lượn sóng màu xanh Prussian blue; to đến độ núi Phú Sĩ ở đằng xa trở nên nhỏ bé như cái nón lá.  Bọt sóng màu trắng, như trăm ngàn cái vấu nhọn của con quái vật khổng lồ đang bủa xuống đầu của hai đoàn phu chèo thuyền cố gắng lèo lái hai chiếc thuyền gỗ mong manh vượt qua ngọn sóng.  Khi vẽ loạt tranh Ba Mươi Sáu Cách Nhìn Núi Phú Sĩ, Hokusai đã ở tuổi bảy mươi, và màu xanh Prussian blue, mới được nhập vào Nhật cách đó không lâu, khoảng 1830.  Tranh khắc trên bảng gỗ ukiyo-e là tranh trên mặt phẳng, chủ yếu dùng mực, ban đầu chỉ dùng hai màu trắng và đen.  Vào những năm 1720 -1730 tranh gỗ có thêm màu xanh lá cây và màu đỏ.  Màu xanh, Prussian blue, còn gọi là Berlin blue được tìm ra từ phòng thí nghiệm và phát triển từ giữa cho đến cuối thập niên của thế kỷ 18.  Trước khi có màu xanh Prussian, họa sĩ dùng các màu xanh khác, như indigo lấy từ thảo mộc.  Màu xanh indigo mau phai. Màu xanh Prussian trong bộ tranh của Hokusai sáng ngời chinh phục giới thưởng ngoạn ngay lập tức.  Hokusai áp dụng cách vẽ perspective của người Tây phương và dùng độ đậm nhạt khác nhau làm nổi bật không gian ba chiều của bức tranh dù ukiyo-e là tranh mặt phẳng.  Màu đỏ được dùng một cách dè xẻn, mờ nhạt, thường dùng để chỉ khoảng trống như bầu trời có vài cụm mây. 

Vẻ đẹp của mùa thu, chủ yếu nằm trong sự thay đổi màu sắc của cây lá.  Một số họa sĩ nổi tiếng ở phương Tây như Claude Monet, Gustave Courbet, Albert Bierstadt đã thể hiện màu sắc phong phú của mùa thu bằng sơn dầu.  Đặc điểm của sơn dầu là họa sĩ có thể pha trộn màu sắc với nhau để tìm ra màu sắc thích hợp.  Nhật Bản có loại cây phong màu đỏ rất tươi, đậm, rực rỡ; Hokusai thuộc về thế hệ trước thời các họa sĩ nói trên.  Thời của Hokusai sơn dầu chưa thịnh hành ở Nhật và Nhật vẫn còn trong thời kỳ bế quan tỏa cảng.  Không biết Hokusai sẽ vẽ cây phong Nhật mùa thu như thế nào?  Xin mời độc giả cùng với tôi ngắm một vài bức tranh vẽ mùa thu của danh họa Hokusai.  Tranh của Hokusai được trưng bày rất nhiều ở các websites trên mạng.  Ở đây tôi chỉ xin giới hạn ở vài bức tranh được nhắc đến trong quyển Hokusai – Beyond The Great Wave do Timothy Clark biên soạn[2].    

Bức tranh Lá Thu Trên Sông Tatsuta – ‘Autumn leaves on the Tatsuta river’. 

Bức tranh trên, không được in trong quyển sách Hokusai – Beyond The Great Wave; tuy nhiên, nó được Roger S. Keyes nhắc đến bằng giai thoại như sau:

Vào năm 1807, nhà quân phiệt Tokugawa Ienari (cai trị Nhật Bản từ 1787-1837) cho vời Hokusai đến vẽ trước sự chứng kiến của ông.  Đây là một vinh hạnh to lớn cho Hokusai.  Để kết thúc buổi vẽ biểu diễn, Hokusai đã vẽ một mảng sơn màu xanh dương trải rộng trên một tờ giấy to lớn.  Bắt một con gà được nhốt sẵn trong cái giỏ gần đó, ông nhúng chân gà vào sơn đỏ và ịn chân gà vào mảng sơn xanh trên giấy.  Sau đó ông đặt tựa đề bức tranh là “Lá Thu Trên Sông Tatsuta.”[3]  Suốt đời nghèo khó, nhưng vào năm 1808, Hokusai trở nên khá giả, ông có thể mua nhà và treo tranh để bán cho người đến xem.

Những ngọn cây màu cam, hay đỏ nhạt xuất hiện phía sau rặng đồi và lá phủ đầy mặt nước dưới chân cầu.

Bức tranh Người Hái Sậy ‘The Reed Gatherer’ (Togusa-gari)[4]

Bức tranh này lấy ý từ một vở kịch Noh có tựa đề là Tokusa (Lau sậy).  Cụ già gánh mớ sậy cụ đã khổ nhọc cắt hái suốt ngày về nhà. Ánh trăng soi đường cụ đi.    Tình cờ, cụ gặp lại người con trai thất lạc nhiều năm trước đây.  Vui mừng tưởng chừng hóa điên, cụ nhảy múa trong ánh trăng để giải tỏa nỗi đau buồn những năm dài mất con.  Sau đó cả hai cha con rủ nhau vào chùa Phật xa rời thế tục.  Trong lúc vẽ tranh này, Hokusai đã tâm niệm bài thơ của Minamoto no Nakamasa viết khoảng cuối những năm 1000 cho đến đầu 1100.  Bài thơ như sau:

Through the trees
on Mt Engen
where they gather reeds
appears the polished full moon
of an autumn night[5]

Xuyên qua rừng cây
Trên núi Engen
Nơi họ hái sậy
Xuất hiện vầng trăng bóng loáng
của đêm thu.[6]

Khó mà nhận ra đây là bức tranh vẽ mùa thu nếu không có bài thơ của Minamoto no Nakamasa minh họa cùng với lời ghi chú của các học giả.  Dù cây cầu có màu đỏ nhưng lá phong được vẽ bằng màu đen hay xanh đậm rơi đầy trên mặt đất cạnh bờ sông. Người xem nhìn ánh trăng, nghe tiếng nước chảy dưới chân cầu, và hai con ngỗng đang ngủ trên hồ, mơ hồ tưởng tượng được sự mệt mỏi và nỗi cô đơn của người gánh sậy.

Bức tranh minh họa bài thơ của Thi sĩ Kakinomoto no Hitomaro[7]

Khoảng tháng Hai năm 1835, Hokusai viết trong lá thư gửi một người bạn, báo tin ông sẽ là người minh họa loạt tranh vinh danh 100 nhà thơ nổi tiếng của Nhật.  Loạt tranh này trước đó đã được ký hợp đồng với Ōi, con gái của Hokusai.  Bức tranh bên trên được vẽ minh họa cho bài thơ của thi sĩ Kakinomoto no Hitomaro.

Must I sleep alone
through the long autum nights
long like the dragging tail
of the mountain pheasant
separated from his dove[8]

Nếu tôi phải ngủ một mình
Suốt đêm thu dằng dặc
thì đêm sẽ lê thê như cái đuôi
của con công bị ngăn cách
với chim mái.

Hokusai chuyên chở cái cảm giác dài vô tận của một đêm cô đơn bằng hình ảnh đám ngư phủ mỏi mệt kéo lưới hai bên bờ suối đi ngược dòng từ chân núi lên đỉnh núi trong lúc chiều đang dần buông. Gió thổi khói bay dạt từ bên trái sang bên phải có thể được dùng để gợi sự tưởng tượng cái đuôi dài của con công.  Giữa thung lũng là ngôi nhà có người ngồi ở cửa sổ.  Phải chăng một thiếu phụ chờ chồng đi xa về, hay một nhà thơ chờ nàng thơ đến thăm.[9]

Bức tranh này tuy có nhiều màu đỏ, màu có thể dùng để vẽ lá thu, tuy nhiên người xem chỉ có thể biết đây là bức tranh nhắc đến mùa thu qua câu thơ của thi sĩ Kakinomoto no Hitomaro.

Bức tranh minh họa bài thơ của thi sĩ Kan Ke (Sugawara no Michzane)[10]

This time around
I couln’t even bring sacred streamers
Offering Hill
but if this brocade of autumn leaves
is to the God’s liking[11]

Lần này
Tôi không thể mang lá phướng linh thiên
Lên đồi Hiến Dâng Lễ Vật
Nhưng biết đâu chừng
tấm áo bào kết bằng lá thu này
là món quà Thượng Đế yêu thích[12]

Trong bức tranh này, lá thu rơi và bay tản mác trong bầu trời.  Bức tranh diễn tả một bài thơ cổ.  Cổ xe của hoàng gia đang đậu ngoài đền thờ, các quan quân hầu cận đứng ngồi lố nhố cạnh con bò kéo xe.  Tác giả bài thơ là Kan Ke, (Sugawara no Michizane, 845-903)  Bài thơ được viết vào năm 898.  Kan Ke ở trong đoàn tùy tùng đưa Hoàng Đế Uda (887-897) làm chuyến hành hương mùa thu đến đồi Hiến Dâng Lễ Vật ở Nara.  Vẻ đẹp của mùa thu với lá thu rơi khiến thi sĩ liên tưởng đến tấm áo bào kết bằng lá thu.[13]

Bức tranh minh họa bài thơ của thi sĩ Harumichi no Tsuraki[14]

Ah, the weir
that the wind has flung
across the mountain stream
is the autum foliage that
cannot flow on, even though it would.
trans. Joshua Mostow

A, cái đập nhỏ
gió thổi lá thu qua bên kia bờ suối
cái đập ngăn lá thu
khiến chúng không thể trôi, mặc dù
chúng rất muốn.

Bức tranh vẽ một toán thợ mộc đang xẻ gỗ. Trên cây cầu bằng gỗ bắc tạm băng qua con suối có người phụ nữ đầu đội thùng gỗ (có lẽ đựng thức ăn cho thợ) tay dẫn con.  Đứa bé kéo con rùa nhỏ như món đồ chơi.  Người phụ nữ này có lẽ là người mẫu được Hokusai mến chuộng, vì ông đã dùng người mẫu này trong một bức tranh khác.  Lá thu rơi đầy trên dòng suối.  Bên trái cây cầu gỗ, một người đàn ông đang cào lá bị mắc kẹt không trôi được, vẽ để diễn tả lời thơ. 

Bức tranh này được dùng để minh họa bài thơ của thi sĩ Bunya no Asayasu[15]

Shira-tsuyu ni
kaze no fuki-shiku
aki no ta wa
tsuranuki tomenu
tama zo chirikeru

In the autumn fields
where the wind blows repeatedly
on the white dewdrops
the gems, not strung together,
do scatter about indeed[16]

Khi cánh đồng mùa thu
nơi ngọn gió thổi mãi không ngừng
trên những giọt sương trắng
những hạt ngọc chưa được kết thành chuỗi
bay tan tác

Bài thơ nói trên xuất hiện ở một tập thơ, được Kenneth Rexroth dịch từ Một Trăm Bài Thơ Nhật Nổi Tiếng.  Cỏ mùa thu trong bài thơ được Hokusai đổi thành lá sen.

p.[13]

In a gust of wind the white dew
On the Autumn grass
Scatters like a broken necklace

Gió thổi trên cỏ thu
làm những hạt sương đọng tan tác
như chuỗi hạt trai bị đứt

Bức tranh vẽ năm cậu bé hầu cận đi giúp hái hoa sen.  Hai cậu đang sắp xếp hoa sen. Một cậu đang cố gắng vói một chiếc lá sen cuối cùng trước khi gió thổi giạt chiếc thuyền sang hướng khác.  Hai cậu đang cố chèo chống một cách thảm hại khiến các cậu có vẻ như chống cự nhau hơn là kháng cự cơn gió.  Bài thơ của Asayasu vẽ lên một hình ảnh rất đẹp nhưng không bền, ví sương thu như những hạt ngọc chưa được kết thành chuỗi, bị gió thu thổi bay tan tác.  Bức tranh này ông Hokusai vẽ cảnh cuối hè.  Đầu mùa thu, lá sen chưa tàn héo.  Dựa theo lời thơ ông vẽ những hạt sương trắng li ti trên những chiếc lá sen màu xanh đậm và xanh lá cây.  Chúng ta có thể tưởng tượng ra gió thu đang miên man thổi làm lật bề trái của những tàu lá sen và đám cỏ bên kia bờ uốn rạp theo chiều gió thổi.

Hokusai dùng màu đỏ không dành riêng cho màu lá thu.  Mùa thu được Hokusai diễn tả bằng thư pháp, ông vẽ bài thơ tả sự chia cách của đôi tình nhân trong đêm dài, vẽ những giọt sương trong trên lá sen bị gió thổi bay tan tác, hay trăng soi đìu hiu trên hồ vào mùa hái sậy.  Tranh thu của Hokusai không chỉ vẽ cảnh thu; qua nét vẽ của ông người thưởng ngoạn luôn được nhìn thấy rất nhiều người thuộc nhiều tầng lớp của xã hội luôn luôn hoạt động mang lại sinh khí cho bức tranh.  Trong bức tranh “Lượn sóng khổng lồ” chúng ta thấy đoàn phu chèo thuyền chiến đấu với ngọn sóng.  Trong “Lá thu trên sông Tatsuta” có đoàn người trẩy hội, anh hề, các vị samurai.  Và thêm vào những bức tranh sau nữa có giai cấp hoàng gia, học giả, thợ mộc, ngư dân, nông dân, phụ nữ, người già, em bé, một xã hội thu nhỏ lại trong nét vẽ của ông.

Nguyễn thị Hải Hà viết xong ngày 9 tháng Mười Một 2021.


[1] Wikipedia tiếng Việt dịch là Sóng Lừng ở Kaganawa.

[2] Cộng tác với Timothy Clark trong quyển Hokusai – Beyond the Great Wave có Angus Lockyer, Matsuba Ryōkō, Asano Shūgō, và Alfred Haft.

[3] Bức tranh này khá phổ biến trên mạng, tôi không nhớ đã dùng ở mạng nào. 

[4] Timothy Clark, Hokusai Beyond the Great Wave, Cat. 130, tr. 220. From Japanese Ukiyo-e Woodblock Print Hokusai the Gatherer | Etsy

[5] Bản dịch từ tiếng Nhật sang tiếng Anh của Alfred Haft.

[6] Nguyễn thị Hải Hà dịch sang tiếng Việt

[7] Cat. 132 p. 224 (Clark, 224)

[8] Bản dịch từ tiếng Nhật sang tiếng Anh của Joshua Mostow

[9] Alfred Haft diễn dịch bức tranh.

[10] Cat. 134, (Clark, p. 226)

[11] Joshua Mostow dịch từ tiếng Nhật sang tiếng Anh.

[12] Nguyễn thị Hải Hà dịch từ tiếng Anh sang tiếng Việt

[13] Alfred Haft diễn giải bức tranh

[14] default.jpg (843×570) (artic.edu) Tranh copy từ link này

[15] Timothy Clark, Hokusai – Beyond the Great Wave.  Cat. 140, p. 232

[16] Joshua Mostow dịch từ tiếng Nhật sang tiếng Anh

Đi bộ trong rừng mùa đông

Hôm Chủ Nhật 5 tháng 12, 2021 trời ấm. Mùa đông hễ trên 40 độ F. là ấm rồi nhưng hôm ấy lên đến 50 độ F. Đi dọc đường thấy có người chạy nóng quá cởi áo sweatshirt ném vào vệ cỏ bên đường. Chập sau, chạy ngược chiều với tôi có cô gái mồ hôi nhễ nhại, tôi đoán cô ấy là chủ của cái áo. Và đúng là như tôi đoán.

Lâu rồi, lúc mùa hè hay đầu mùa thu, đi bộ tôi thấy ném bên đường một cái backpack màu hồng, cái phone cũng màu hồng nằm lăn lóc trên backpack. Đồ còn mới không phải thứ vứt đi làm tôi cũng ngạc nhiên. Đi chập nữa thấy có cô gái đang chạy tôi cũng đoán cô là chủ của những món đồ ấy. Chỗ tôi gặp cô gái khá xa chỗ cô ném đồ nên chúng tôi hỏi, có phải cái phone ấy là của cô hay không. Cô gật đầu.

Thỉnh thoảng tôi cũng gặp cái quần màu tối, hay cái áo khoác to vứt trên băng ghế đặt theo dọc đường, tôi đoán của đàn ông. Chắc chạy đã đời rồi nếu có quay lại sẽ lấy.

Bầu trời mùa đông
Chim gõ kiến đang gõ kiến
Bụi cỏ khô
Ngọn cây hồng (persimmon) trĩu trái

Cây hồng mọc hoang ở giữa bãi cỏ gần nhà máy điện của cơ quan cung cấp nước cho thành phố. Trái nhỏ xíu cỡ chừng đầu ngón tay. Trái chín rụng quanh gốc cây trên bãi cỏ làm thức ăn cho ngỗng Canada.

Có phải là tổ chim không?

Vài tấm ảnh nhìn thấy trong lúc đi bộ.

Ma trong tranh Hokusai

Bài đăng ở Gió O

http://www.gio-o.com/NguyenThiHaiHa/NguyenThiHaiHaMaHokusai.htm

Mùa dịch nằm nhà xem tranh Hokusai.

Katsushika Hokusai, người Nhật, sinh ngày 31 tháng Mười 1760 và mất ngày 10 tháng Năm 1849.  Ngày còn bé ông được một nhà chuyên môn làm gương (mirror) cho Shogun nhận làm con nuôi.  Năm 12 tuổi ông làm việc cho tiệm sách và thư viện.  Sau giờ làm việc ông đến các ngôi chùa gần nhà để học vẽ.  Năm 14 tuổi ông học nghề khắc gỗ với một nghệ nhân nổi tiếng cho đến năm 18 tuổi ông được thâu nhận vào xưởng họa của Katsukawa Shunshō.  Hokusai học nghệ thuật ukiyo-e từ Shunshō và trở nên bậc thầy của môn nghệ thuật này.  Ukiyo-e có nghĩa là những bức tranh của Ukiyo, những bức tranh của “the floating world.”  The Floating World (tạm gọi là thế giới nổi trôi) được dùng để ám chỉ xã hội của ca nữ, geisha, những người diễn tuồng kabuki.  Họ không được kính trọng lắm vì không thuộc giới samurai, và thế giới của họ luôn có những cuộc vui cờ bạc thâu đêm, rượu chè trác táng.  Tranh từ bản khắc gỗ ukiyo-e có thể in thành nhiều bản, do đó giá tranh không đắt lắm và người không giàu cũng có thể sở hữu tranh.  Tranh ukiyo-e vì thế rất thịnh hành. Năm 1807 ông được mời vẽ trước mặt Shogun Tokugawa Ienari (trị vì Nhật Bản năm 1787 đến 1837)  Nổi tiếng trên toàn thế giới với bức họa The Great Wave of Kanagawa.  Ông vẽ nhiều chủ đề, minh họa cho hơn 200 quyển sách, được xem là một trong những người khởi đầu bộ môn manga. Hằng trăm bức vẽ, và hơn ngàn bức tranh còn tồn tại.  Bức tranh the Great Wave of Kanagawa chỉ là một trong hơn 300 bức tranh ông vẽ sóng, một hình thức của nước.

Ông lấy vợ lúc 17 tuổi, người vợ đầu mất sớm, có ba người con.  Người vợ thứ hai, có hai người con cũng chết trước ông.  Một trong hai người này là cô con gái tên Eiji, có bút danh là Ōi.  Cô này cũng là một họa sĩ có tài đã giúp ông hoàn tất nhiều bức tranh.  Nhiều phê bình gia đã không thể phân biệt nét vẽ của Ōi và của Hokusai. 

Hokusai vẽ nhiều chủ đề, cả hữu hình lẫn vô hình.  Ông vẽ thú như cọp và rồng.  Ông vẽ người như nông dân, ngư phủ, samurai, geisha và cả Phật, tiên, hay ma quỷ.   Ông vẽ rất nhiều bức họa sư tử với mục đích trục quỷ trừ tà.  Ông vẽ tranh làm bùa hộ mạng cho thân chủ đánh đuổi những chứng bệnh nan y thời bấy giờ.  Vào khoảng năm 1833 ông vẽ chủ đề One Hundred Ghost Tales; một số tranh của chủ đề được ghi lại trong quyển Hokusai Beyond the Great Wave do Timothy Clark biên soạn.

Truyện ma của Nhật thường là sự kết hợp của các quan điểm Phật Giáo, Lão (Đạo) Giáo, Thần Giáo, và huyền thoại dân gian của Trung quốc.  Mặc dù ít người có dịp nhìn thấy ma quỉ hay tiên, trong sáng tác văn hóa nghệ thuật, ma quỉ trong truyện thường có nhiều hình dáng.  Người Nhật theo Thần Giáo nên tin rằng vạn vật đều có linh hồn.  Tiên và thần linh có khi là cáo hay gấu mèo.  Ma quỉ có khi giống như người.

Kohada Koheiji

Con ma trong bức tranh Kohada Koheiji, là cái đầu lâu có lửa chập chờn bao quanh.  Kohada đang đè nóc mùng xuống thò đầu vào để nhát người đàn bà đang ngủ.  Người đàn bà này, trước kia là vợ của Kohada, đã cùng với tình nhân dìm Kohada trong đầm lầy Asaka đến chết.  Kohada trở về từ cõi âm để hài tội kẻ giết ông ta. Truyện ma này rất phổ biến vào thế kỷ thứ 18, và đã được nhà văn Nhật Santō Kyōden (1761-1816) viết thành truyện in vào năm 1803.  Những bắp thịt đỏ lói cùng với những sợi gân tái xanh bao chung quanh cái đầu lâu trông rất ghê rợn.  Khi Kohada thò mặt vào nóc mùng mở miệng cười với hai hàm răng trắng nhỡn cùng với đôi mắt trắng dã, chắc cô vợ phải ngất xỉu.

Điểm chính của truyện ma thường khi miêu tả những cái chết oan ức, hay có chuyện gì đó rất quan trọng nhưng không hài lòng hoặc chưa kết thúc khiến người chết cứ phải vương vất ở cõi trần.  Ma thường là phụ nữ bị giết, người ta gọi hồn ma là những linh hồn uất nghẹn.  Trong trường hợp này ma lại là đàn ông. 

Ōiwa-san

Năm 1825 Ōiwa-san xuất hiện lần đầu trong vở kịch kabuki Yotsuya kaidan rồi trở thành nhân vật trong truyện ma nổi tiếng nhất Nhật Bản cho đến nay.  Là một nghệ nhân nổi tiếng đẹp, Ōiwa-san bị đối thủ lừa bịp, tráo một loại kem phấn làm hủy hoại gương mặt của nàng. Trở nên xấu xí nàng bị chồng bỏ rơi.  Trong lúc đau buồn, Ōiwa-san tình cờ gây tai nạn tạo nên cái chết của chính nàng.  Uất hận, Ōiwa-san tự nguyện ở lại âm ti và thề trả thù. 

Trong bức tranh phía trên, gương mặt xấu xí của Ōiwa-san đã hòa nhập vào cái lồng đèn giấy được dùng trong lễ hội Obon.  Obon là lễ thờ cúng tổ tiên của người Nhật.  Trong lễ hội này thường có buổi nhảy múa tế lễ gọi là Bondori.  Obon có nguồn gốc từ Trung quốc, tương tự với lễ Vu Lan.  Lỗ thắp đèn trên lồng đèn giấy được biến thành cái miệng há ra của Ōiwa-san.  Nếp gấp bằng giấy được xếp đặt thành nét nhăn ở mũi và đuôi mắt của hồn ma càng làm tăng vẻ ghê rợn.

Nụ cười của nữ ác quỷ

Trong bức tranh khắc trên gỗ này, Hokusai đã vẽ một nữ ác quỷ xuất hiện bên khung cửa sổ hình tròn.  Óc sáng tạo của Hokusai thật là phong phú.  Ông kết hợp hai mẫu người đàn bà, một là người phụ nữ miền núi yamauba với hannya, vị nữ thần Ấn Độ chủ trì bệnh trái rạ.  Con quỉ cái nhe nanh cười, bàn tay đầy vấu nhọn đang chộp lấy đầu của một đứa bé còn đẫm máu. 

Yamauba, người phụ nữ miền núi, được miêu tả là người nuôi dưỡng trẻ con vào thế kỷ thứ mười tám.  Tuy vậy, vào thời xưa hơn nữa, người ta bảo rằng yamauba ăn thịt trẻ con.

Hokusai quan sát sinh vật hữu hình và tưởng tượng nên chủ thể vô hình.  Ông xóa nhòa biên giới của thế giới có thật và thế giới sáng tạo.  Những bức tranh vẽ các địa danh trong lịch sử đã được ông tái tạo vì những địa danh ấy đã không còn tồn tại ngay cả trong thời của ông.  Nghệ thuật sáng tạo của ông, không chỉ là dụng cụ để mưu cầu sinh kế, mà còn phản ánh niềm tin tôn giáo của ông.  Càng lớn tuổi ông càng có khuynh hướng gần gũi hơn với thế giới tâm linh khiến ông dùng những vật thể hữu hình để vẽ lại thế giới vô hình chung quanh ông.

Nguyễn thị Hải Hà

Viết xong ngày 27 tháng Mười 2021

Mùa thu và nỗi buồn

Mùa thu và nỗi buồn của cái chết – Nguyễn thị Hải Hà

Nhà văn Pico Iyer nói rằng xa Nhật Bản ông rất nhớ mùa thu vì mùa thu là mùa đẹp nhất.  Khi ông bố vợ người Nhật qua đời, ông trở lại Nhật Bản.  Nỗi đau buồn về cái chết của người thân trong vẻ đẹp của mùa thu đã khiến ông viết một quyển sách có tựa đề “Autumn Light – Season of Fire and Farewell” có nghĩa là ánh sáng của mùa thu, mùa của rừng phong màu cam và màu đỏ rực rỡ trong nắng như những vầng lửa cháy trên các ngọn cây; mùa thu cũng là mùa chia tay. 

Trong thi ca Việt Nam, không hiếm những cuộc chia tay vĩnh viễn giữa người sống và người chết xảy ra vào mùa thu.  Những người cùng thế hệ với tôi có lẽ vẫn còn nhớ bài thơ Viếng Người Trinh Nữ của Nguyễn Bính được Trịnh Lâm Ngân phổ nhạc thành bài Hồn Trinh Nữ.  Bài thơ có những câu như sau:

Sáng nay vô số lá vàng rơi,
Người gái trinh kia đã chết rồi.
Có một chiếc xe màu trắng đục,
Hai con ngựa trắng bước hàng đôi,

Lá vàng rơi trong màu trắng tang tóc như những giọt nước mắt tiễn đưa.  Không chỉ Nguyễn Bính khóc thương cô gái trẻ Hà Nội mà Đinh Hùng cũng gửi những vần thơ tưởng tiếc đến người dưới mộ sâu.

Trời cuối thu rồi – Em ở đâu?
Nằm bên đất lạnh chắc em sầu?
Thu ơi! Đánh thức hồn ma dậy,
Ta muốn vào thăm nấm mộ sâu.

Có phải người ta qua đời nhiều hơn vào mùa thu?  Ngày xưa bệnh lao phổi còn hoành hành dữ dội, và ngày nay bệnh cúm cấp tính thường cướp mạng sống con người vào mùa thu.  Do đó chúng ta có những bài thơ, bản nhạc về mùa thu buồn thê thiết.  Ai mà không thấy được nỗi buồn trong Giọt Mưa Thu của Đặng Thế Phong.

Ngoài hiên giọt mưa thu thánh thót rơi,
Trời lắng u buồn mây hắt hiu ngừng trôi
Nghe gió thoảng mơ hồ
Trong mưa thu, ai khóc ai than hờ

và Buồn Tàn Thu của Văn Cao.

Ôi vừa thoáng nghe,
em mơ ngày bước chân chàng
Từ từ xa đường vắng
Ðếm mùa thu chết
Nghe mùa đang rớt rơi theo lá vàng.

Sự chia ly không chỉ dành riêng cho cái chết. Người chiến binh trong Chinh Phụ Ngâm lên đường ra chiến trường cũng chọn một ngày vào mùa thu.

Giã nhà đeo bức chiến bào
Thét roi cầu Vị ào ào gió thu.

Nỗi buồn chia cách của những người yêu nhau cũng thường xuất hiện trong mùa thu, xin hãy nghe những câu hát sau đây trong bài Vẫn Một Cõi Đời Hiu Quạnh của nhạc sĩ Từ Công Phụng.

Đời chia xa những giòng sông khuất mờ
Tình phôi pha những mùa rơi lá vàng
Lệ em rơi hàng lệ nến những mùa mưa nhạt nhòa

Buổi chiều là mùa thu của một ngày.  Nhà văn Kazuo Ishiguro, người được giải văn chương Nobel 2017, đã quan niệm rằng, buổi chiều là phần đẹp nhất của một ngày, chúng ta làm xong việc, giờ là lúc gác chân lên để nghỉ ngơi hưởng thụ thành quả của một ngày. 

Mùa thu là buổi chiều của một năm.  Mùa thu cũng được đem so sánh với phần cuối của đời người, người Tây phương gọi là golden age, tuổi hoàng kim, thời điểm người ta hưởng thụ thành quả của một đời người.  Nhưng không phải ai cũng có thể hưởng thụ tuổi hoàng kim.  Thi sĩ Vũ Hoàng Chương đã than thở.

Xuân đời chưa hưởng kịp.
Mây mùa thu đã sang.

Đỗ Phủ lên núi cao nhìn lá rơi lay động nỗi sầu bệnh tật vì tuổi già

Vô biên lạc mộc tiêu tiêu hạ
Bất tận trường giang cổn cổn lai
Vạn lí bi thu thường tác khách
Bách niên đa bệnh độc đăng đài

Sông dài không dứt cơn sầu đến,
Vô số là vàng gió lắt lay.
Muôn dặm thu buồn thân lãng tử,
Trăm năm bệnh hoạn có ai hay.
Bản dịch của Trường Xuân Phạm Liễu

Nhà thơ Bàng Bá Lân bùi ngùi với tuổi vào thu

Vào thu là đã xế chiều
Đã già phân nửa cái điều nhân sinh.
Trông gương mình lại thẹn mình
Giận chưa phỉ chí bình sinh đã già

Nhà thơ Việt buồn vì tuổi già mà chưa được phỉ chí bình sinh.  Trong khi nhà thơ ngoại quốc kêu rêu với nhức mỏi của thể xác.

The leaves fall early this autumn, in wind.
The paired butterflies are already yellow with August
Over the grass in the West garden;
The hurt me.  I grow older.
          Ezra Pound 1885-1972  The River Merchant’s Wife: A Letter (After Rihaku)

Mùa thu năm nay lá rơi sớm, trong gió
Đôi bướm tung tăng cánh đã trổ vàng mãi từ tháng Tám
Trên bãi cỏ phía vườn Tây;
Thể xác tôi đau mỏi.  Vì tuổi già[1].

Tôi thường nghĩ, mùa thu năm nay ắt phải buồn hơn mùa thu năm ngoái, và mùa thu năm ngoái buồn hơn mùa thu năm kia, tổng số người chết vì bệnh dịch cúm trên thế giới cho đến ngày hôm nay đã hơn năm triệu hai trăm ngàn người.  Mùa thu vẫn đẹp, đến rồi đi. Người năm nay già hơn năm trước.  Những cuộc chia tay vẫn xảy ra hằng ngày.

Pico Iyer viết. 

We cherish things, Japan has always known, precisely because they cannot last; it’s their frailty that add sweetness to their beauty. […]

Beauty, the foremost Jungian in Japan has observed, ‘is completed only if we accept the fact of death.’ Autumn poses the question we all have to live with: How to hold on to the things we love eventhough we know that we and they are dying.  How to see the world as it is, yet find light within that truth.[2]

Chúng ta yêu mến sự vật, người Nhật đã biết điều này từ lâu, chính xác là bởi vì nó không trường tồn; chính cái sự mỏng manh dễ vỡ này càng làm tăng vị ngọt ngào của Vẻ Đẹp […]

Vẻ Đẹp, theo quan niệm nổi tiếng của Jung, ‘được xem là trọn vẹn nhất chỉ khi nào chúng ta chấp nhận cái chết.’  Mùa thu đặt ra một vấn đề mà chúng ta phải sống chung với nó: Làm thế nào để giữ gìn những thứ chúng ta yêu mến cho dù vẫn biết là cả chúng ta, và những thứ ấy đều dần dần chết đi.  Làm thế nào để nhìn sự vật một cách hiện thật, mà vẫn thấy được ánh sáng tỏa ra từ sự thật ấy.

Nguyễn thị Hải Hà New Jersey. Thứ Hai 29 tháng 11 năm 2021


[1] Nguyễn thị Hải Hà tạm dịch.

[2] Pico Iyer.  “Autumn Light – Season of Fire and Farewell.” pp. 13-4

Một ngày chưa đến mùa đông

Ảnh chụp ngày 3 tháng 12 2021, trời hôm ấy rất lạnh và gió mạnh. Buổi chiều có chút xíu nắng thấy có vài con rùa đang phơi nắng. Có tất cả bốn con rùa. Con thứ nhất to nhất, thấy tôi ngừng xe đạp cách chỗ rùa đang ngồi khoảng 20 mét, xa như vậy mà nó vẫn rất tinh ý, nhào ngày xuống, im lìm không khuấy động mặt nước. Còn lại ba con, tôi vừa chụp ảnh hai con rùa này thì cả ba con đều biến mất.

Loại trái này mọc rất nhiều trong rừng. Cả một cây chi chít trái. Nhiều loại giống nhau nên khó phân biệt. Không biết có phải là winterberry, hay không?

Một con quạ đậu tuốt trên ngọn cây khá cao, kêu quang quác, mổ lọc cọc vào cây.

Đi ngang Colonial Park, ở cây thông đã thấy người ta treo hai quả cầu màu đỏ và tượng này. Năm ngoái (và năm kia) thấy người ta treo rất nhiều tượng hình và quả cầu. Tôi đã khen người Mỹ rất hay, đem đồ trang trí treo lên cây thông giữa rừng để mọi người ngắm. Sau Giáng sinh thấy tất cả đều được gỡ xuống.

Nichiren và kinh Diệu Pháp Liên Hoa

Qua nét vẽ của Hokusai – Nguyễn thị Hải Hà

Đây là bài đầu tiên trong loạt bài viết “thời dịch bệnh nằm nhà xem tranh của Hokusai.”

Chân dung Hokusai.  Cat.187, p. 289*

Katsushika Hokusai (1760-1849) nổi danh trên thế giới với bức tranh “The Great Wave of Kanagawa.”  Bức tranh vẽ đợt sóng khổng lồ trên bản gỗ khắc có màu xanh đậm Prussian blue, được chú ý nhiều đặc biệt trong loạt tranh “Ba Mươi Sáu Góc Nhìn Phú Sĩ Sơn”.  

Danh họa Hokusai suốt đời say mê hình ảnh núi Phú Sĩ. Nghe kể rằng, đam mê này được biết đến từ một giai thoại như sau.  Thuở nhỏ chừng năm hay sáu tuổi, ông thường ngồi chơi trước nhà và nhìn thấy núi Phú Sĩ từ xa.  Hokusai bắt đầu vẽ hình dáng ngọn núi trên mặt đất cứ vẽ rồi xóa đi liên tiếp nhiều năm.  Mẹ Hokusai hứa sẽ dẫn cậu bé đi hành hương ở núi Phú Sĩ nhưng tiếc thay chưa kịp thực hiện lời hứa thì bà đã qua đời.  Hokusai có rất nhiều bút danh.  Cứ mỗi lần ông mở một loạt tranh theo chủ đề là ông đặt cho mình bút danh khác. Hokusai có nghĩa là “Phòng vẽ tranh Bắc Đẩu.” Về già Hokusai, bảo rằng núi Phú Sĩ đã nhập vào ông.  Ông là biểu hiện sự trường thọ của núi Phú Sĩ.  Ông vẽ nhiều chủ đề, nhiều thể loại.  Càng lớn tuổi ông càng vẽ nhiều; tranh của ông càng linh động và sâu sắc.  Về thiên nhiên ông vẽ thác, sông, núi, biển.  Về kiến trúc ông vẽ cầu, lâu đài, và các chòi lá.  Về người ông vẽ võ sĩ samurai, nghệ nhân geisha với những chiếc kimono lộng lẫy, thi sĩ, dân chài, tiều phu, nông dân, đủ hạng người từ giàu sang đến nghèo khó.  Về tâm linh ông vẽ Tổ sư Bồ Đề Lạt Ma, Phật, ma, và Nichiren. 

Wikipedia tiếng Việt dịch Nichiren là Nhật Liên nhưng chữ Hokusai để nguyên không dịch.

Hokusai suốt đời thờ ngài Nhật Liên (1222-1282), người thành lập một chi nhánh của Phật Giáo Nhật Bản. (Tôi không biết dùng danh hiệu gì trước tên Nhật Liên. Hòa thượng hay Giáo chủ nên để trống)  Iijiam Kyoshin (1841 – 1901), người viết tiểu sử Hokusai, kể rằng, nhà danh họa đã làm rất nhiều chuyến hành hương đến những ngôi chùa nổi tiếng thờ ngài Nhật Liên ở ngoại ô Edo và người ta thường nhìn thấy Hokusai đi trên những khu phố gần chùa, không chú ý đến ngoại cảnh vì đặt hết tâm trí vào cuốn kinh Diệu Pháp Liên Hoa ông vừa đi vừa đọc.[1] Ngài Nhật Liên chủ trương tụng niệm kinh Diệu Pháp Liên Hoa hằng ngày có thể đưa đến Giác Ngộ và tin rằng niềm tin vào tôn giáo có thể thay đổi xã hội mang đến hòa bình cho nhân thế.  Ngài cũng có quan niệm cực đoan là phải xóa bỏ tất cả mọi tôn giáo khác chỉ giữ lại Phật giáo mà thôi. Quan điểm của ngài Nhật Liên gây nhiều tranh luận sóng gió vào thời ấy. 

Trong gian nhà nhỏ bé Hokusai sống chung với cô con gái thứ ba (tên là Eiji và họa danh là Ōi), có một cái kệ nhỏ để thờ Nhật Liên. Về sau học trò của ông, Tsuyuki Kōshō, tả lại gian phòng bằng một bức tranh có tựa đề “Hokusai and Eijo in their lodgings.” Hokusai vẽ nhiều bức họa Nhật Liên, trong đó có bức “chân dung Hòa thượng Nhật Liên,” “Hòa thượng Nhật Liên và con rồng bảy đầu,” và “Hòa thượng vẽ kinh trên sóng.”  Những bức họa này cho thấy phần nào khía cạnh tâm linh của danh họa Hokusai.

Dưới đây là bức phác họa Hòa thượng Nhật Liên bị lưu đày sang đảo Sado, trong lúc ngồi thuyền vượt eo biển Nhật Bản thì gặp cơn bão lớn.  Trên bức họa này có những lời ghi chú, Hokusai dặn dò các họa sinh, thí dụ như dùng màu vàng ochre cho chiếc thuyền.  Bức tranh mô tả Hòa thượng Nhật Liên làm dịu cơn bão lớn bằng cách dùng cọ vẽ những câu kinh lên mặt nước.  Tranh khắc lên gỗ dựa vào các nét khắc cạn hay sâu.  Mực đỏ, thường được Hokusai dùng làm màu nền để phân biệt với nét đậm chính được dùng màu đen hay màu xanh Prussian.  Trong bức họa này, màu đỏ được Hokusai dùng để miêu tả câu kinh trong Diệu Pháp Liên Hoa Hòa thượng Nhật Liên đã vẽ lên mặt sóng.  Đợt sóng không còn dâng cao đe dọa nhận chìm chiếc thuyền nữa mà biến thành những vòng tròn bao quanh.

Monk Nichiren writing on waves.  Cat. 157, p. 251.
Hokusai and Eijo in their lodgings.  Bức họa của Tsuyuki Kōshō.  Cat. 193, p. 295

Trong bức họa này, bên tay phải Hokusai lúc ấy đã ngoài tám mươi, từ đầu mùa thu cho đến cuối mùa xuân, suốt ngày nằm dưới tấm chăn để ăn, ngủ, và vẽ.  Bên tay trái là Ōi, ngồi cầm cái tẩu dài nhìn ông bố.  Sau lưng Ōi là bàn thờ Nhật Liên.  Sau khi bị một cơn stroke, Hokusai không còn vẽ được như ý nữa.  Ōi đã giúp ông bố rất nhiều.  Có rất nhiều bức họa của Hokusai về sau người ta nhận ra là nét vẽ của Ōi.  Tuy cô bắt chước nét vẽ của Hokusai rất tài tình, khó phân biệt rõ ràng ai vẽ, nhưng người ta bảo rằng, Ōi vẽ ngón tay phụ nữ rất dài và chỉ vẽ phân nửa những cái móng tay.  Các nữ nghệ nhân geisha mặc kimono thường được Ōi vẽ lộ ra bàn chân.  Một cách biểu hiện nét sexy nhưng cực kỳ thanh nhã.

*Cả ba bức họa, Chân dung Hokusai, Monk Nichiren writing on waves,Hokusai and Eijo in their lodgings trích trong “Hokusai Beyond the Great Wave” do Timothy Clark biên soạn.

Nguyễn thị Hải Hà viết xong ngày 26 tháng Mười 2021

[1] Angus Locker, Hokusai’s Thought. Hokusai Beyond The Great Wave edited by Timothy Clark.

Xin tôn trọng quyền tác giả và tác phẩm

Vài lời xin thưa với tvvn.org. Cách đây vài hôm tôi tình cờ thấy bài viết “Làm Thơ” của tôi đăng trên mạng tvvn.org mà không đề tên tác giả (dù là Bà Tám hay Chuyện Bâng Quơ). Tôi tên là Nguyễn Thị Hải Hà tự là Bà Tám, chủ nhân của blog Chuyện Bâng Quơ. Đây không phải là lần đầu tiên tvvn.org dùng bài của tôi viết mà không để tên tác giả cũng chẳng ghi nguồn nhưng tôi hy vọng là lần cuối. Đâu như hồi năm ngoái tôi viết một bài về đi câu cá, có dịch một đoạn văn của Hemingway, tvvn.org đã làm cái mửng này. Được mạng tvvn.org đăng bài (dù không hỏi ý kiến) là bài được nhiều người đọc hơn. Điều này làm tôi rất vui, tuy vậy tôi cũng chạnh lòng buồn khi bạn đọc, đọc bài tôi viết mà không biết người viết là Nguyễn Thị Hải Hà hay Bà Tám của Blog Chuyện Bâng Quơ mà lại nghĩ rằng tác giả là Ban Tu Thư. Dù một bài viết tầm thường chẳng đáng gì nhưng cùng là người viết xin tvvn.org tôn trọng quyền tác giả và tác phẩm của người viết và từ rày về sau đừng làm như vậy nữa. Bài “Làm Thơ” đăng lần đầu trên blog này vào 15 tháng 10 năm 2017.

Đây là link bài viết của tôi. Làm Thơ

Đây là link bài đăng trên tvvn.org https://www.tvvn.org/lam-tho/

Đây là bài tôi viết Đầu Mùa Thu Nói Tiếp Chuyện Đi Câu đăng ngày Sept. 20, 2020

Đây là bài đăng trên tvvn.org không đề tên tác giả https://www.tvvn.org/dau-mua-thu-noi-tiep-chuyen-di-cau/

Lần trước tôi có than phiền, vài bạn đọc bảo rằng bài của tôi không có đề tên tác giả, cuối bài không có đề ngày, ký tên (lần nữa), ngầm bảo vì thế cho nên khi người ta copy bài, đem đi chỗ khác, bài không có tên tác giả. Nghe như vậy tôi rất phật ý. Nói như vậy chẳng khác nào đổ lỗi cho tác giả tại không ký tên nên bài bị đánh cắp. Tôi không nghĩ là mỗi bài viết trên blog cá nhân cần phải ký tên mỗi ngày. Bạn vào nhà ai thì lẽ tự nhiên phải biết rằng những món đồ đạc trong nhà đều là của chủ nhân. Ngày đăng bài đều có ở cuối bài.

Vào mùa đông

Lần đông giá đầu tiên, bãi cỏ đầy sương trắng xóa, đàn ngỗng đậu hàng trăm thậm chí cả ngàn con, tôi vẫn còn nghe tiếng dế. Lần đông giá thứ hai, viền chung quanh mấy chiếc lá băng đóng như muối, tôi để ý không còn tiếng dế nữa. Vài cơn tuyết rất nhẹ, gió bay lất phất. Nồi nước cho mèo uống đóng băng qua đêm. Nắng lên trên rừng cây sau nhà có màu hồng. Lá trên cây rụng gần hết, đợt quét lá hốt lá lần thứ nhì của thành phố sẽ bắt đầu vào ngày Chủ Nhật sắp đến. Tuy chưa chính thức theo lịch ngày tháng, mùa đông chừng như đã bắt đầu.

Lá rụng ven bờ kênh

Mùa thu đã gợi nên bao nỗi buồn, mùa đông thì sao? “Một thoáng mưa bay, vài cành khô gẫy, gió lung lay một cánh lan gầy” như bài thơ của PTT được PD phổ nhạc phải không?

Hoa nở cuối thu

Cuối thu (hay đầu đông) rồi mà vẫn có một loại cỏ nở hoa dọc theo bờ sông, vàng rực chói chang trong nắng. Tôi chụp vài tấm nhưng mà hư hết, vì nhiều ánh sáng quá. Tự mắng mình đến bây giờ mà chụp ảnh vẫn bị hư.

Di cư về miền nắng ấm

Mùa này đi gặp chim bay thành từng đàn rất nhiều. Nhiều lần, có thể nói lần nào cũng vậy thấy chim bay về hướng Nam.

Mùa đông thì làm gì cho vui với ngày tháng? Mùa này ăn phở, các loại mì hay bún có nước nóng như bún bò, bún riêu, cháo lòng là tuyệt.

Mặt nước

Có một ngày tôi đến Duke Farms để chụp ảnh lá thu. Ở trên chiếc cầu đỏ dẫn vào Meditation Center nhìn xuống mặt nước thấy ảnh này. Hồ không sâu lắm nên thấy cả lá chìm dưới đáy hồ. Một vẻ thu rất điêu tàn.

Splinter

The voice of the last cricket
across the first frost
is one kind of good-by
It is so thin a splinter of singing
– Carl Sandburg

Tiếng gáy của con dế cuối cùng
Trong ngày sương giá đầu tiên
Là lời giã từ
yếu ớt như một mảnh dm của tiếng hát

Hàng tùng bên bờ kênh

Ảnh chụp ngày 24 tháng Mười Một 2021. Hôm qua 30/11/2021 có tuyết bay lất phất độ năm mười phút. Có con mèo vàng sọc trắng rất trẻ, gầy mảnh khảnh, đến chỗ để thức ăn mèo. Thấy tôi nó bỏ chạy không biết có kịp ăn không. Sáng nay nắng mùa đông rất hồng. Vậy thôi. Chẳng có gì để nói thêm.

Cây trắng

American sycamore

Mỗi lần đi bộ tôi thường gặp cây này. Người ta có nhiều tên cho nó nhưng tôi chỉ nhớ mỗi tên American sycamore. Nó cùng giòng họ với 7 hay 8 loại khác. Đặc điểm chung của sycamore (Wikipedia tiếng Việt bảo rằng nó thuộc chi huyền tiêu) là vỏ cây của nó có thể tróc ra, bên dưới lớp vỏ là một lớp da cây nhiều màu, xám và xanh, đậm nhạt hơi khác nhau, chụp ảnh gần trông giống như tranh vẽ vậy. Rồi chẳng hiểu tại sao, vì là mùa đông, hay vì lớp da dưới vỏ cây chết đi, cây trở nên màu trắng như vầy.

Tôi định dùng photoshop tẩy hết mấy vết lốm đốm trên cây, cho nó giống cây màu trắng biểu tượng của Gondor trong phim The Lord of the Rings. Nhưng thôi, kệ nó, để vầy cho tự nhiên. Từ xa, nhìn thấy cây này, ở giữa quảng trường, dân Gondor biết đó là quê nhà.

Theo Wikipedia, mấy trăm năm dưới quyền cai trị của Stewart cây khô như đã chết. Aaragon khi làm vua đã mang một cây non, lấy giống của Cây Trắng, đem trồng trong thành phố. John Garth bảo cây này tương tự Cây Khô (Dry Tree) trong truyện cổ tích vào thế kỷ 14, Cuộc Phiêu Lưu của Ngài John Mandeville. Truyện xưa kể rằng cây khô bắt đầu khô kể từ ngày Chúa bị đóng đinh lên cây thập tự, nhưng nó sẽ sống lại, khi nào có vị hoàng tử từ phương Tây đến làm lễ cầu nguyện dưới cây này. Trái của Cây Khô có thể giúp người ta sống đến 500 năm.

Đây là ngọn và trái của cây American sycamore. Ảnh chụp cách đây độ hai tuần.

Tôi rất ưa đọc Wikipedia. Nó có nhiều tóm tắt đại ý truyện huyền thoại, đọc hay và dễ nhớ. Hình như ngày nào tôi cũng đọc wikipedia ít nhất là một lần.

Ta thấy một sớm mai*

Sáng nay thấy trên sân có một lớp tuyết mỏng. Ngay lập tức tôi nhớ đến hai câu trong một bài hát, dĩ nhiên không nhớ bài nào và của ai, để bạn đọc nhắc giùm.

Ta thấy một sớm mai,
Rừng đông im lặng tiếng.

Thật ra cũng không nhớ chắc là rừng đông hay rừng thu. Tuy vậy thấy tuyết là nghĩ đến mùa đông. Vậy là mùa thu đã hết rồi sao?

Ảnh chụp cách đây mấy hôm. Buổi chiều đạp xe về thấy còn sót lại vài cây sycamore lá vàng rực trong nắng chiều. Thấy ảnh này, tôi muốn kêu lên, mùa thu chưa (c)hết, chưa hết đâu, mùa thu chưa hết, chưa hết đâu.

Cái cây bữa trước chụp, hải ly cạp chung quanh chỉ còn lại một chút đủ để cây chưa ngã. Ba hôm sau đi ngang thì thấy cây đã gãy rồi, nhưng không thấy thân cây chắn trên đường hoặc trôi trên dòng kênh. Có thể nó đã trôi đến chỗ nào đó mình không để ý, hay ban quản lý đã cho người đến dọn rồi. Họ chỉ cần cưa vài khúc và đẩy sang bờ bên kia, hay cho lên xe chở đi chỗ khác.

Vẫn còn hạc.

Hôm đi gần đây nhất, 24 tháng Mười Một thì không thấy con rùa nào nữa cả. Trời khá lạnh, gió nhiều, ít nắng. Chỉ cần chút hơi ấm là các ngài rùa duỗi tay chân để rút hơi ấm vào người.

Một vài cây cattails đã tàn. Tôi lại ưa nhìn chúng khi ngược nắng, những sợi tơ bung ra trắng xóa, lóa cả mắt.

Cỏ khô. Trắng xóa khi ngược nắng.

Một chàng vịt đầu xanh cô đơn.

Khi không còn màu sắc rực rỡ của lá cây. Hạc, chim vịt, và ngỗng rủ nhau bay về miền nắng ấm. Rùa trốn vào trong hang. Mùa thu còn lại gì?

Sắc trời trôi nhạt dưới khe
Chim đi lá rụng cành nghe lạnh lùng.
                          – Huy Cận

Tái bút. Sau khi đọc comment của Huyền, tôi xin sửa lại như sau. Cám ơn Huyền.
Ta thấy một sớm nao. Rừng thu im lặng tiếng.
Trích trong bài Lời Tình Buồn của Hoàng Thanh Tâm.

Dọc đường nhìn thấy

Thật ra tôi muốn gọi những tấm ảnh này là những tấm ảnh không nghệ thuật. Nhưng chỉ nghĩ đến đó thì tôi thấy mắc cỡ, nói vậy hóa ra mình tự nhận mấy tấm khác là ảnh nghệ thuật sao. Mắc cỡ vì tôi biết tài nghệ mình non kém. Đây là những khung cảnh tôi nhìn thấy trên đường đi bộ, hay đến thư viện, nhìn chung quanh thấy những hình ảnh giản dị, đời thường. Tầm nhìn thường bị giới hạn bởi những sợi dây điện chằng chịt, hay xe cộ chạy tới lui, hoặc đậu đầy trên đường. Tóm lại những khung cảnh này có màu sắc của mùa thu, bị tì vết. Thật ra tôi không đam mê nhiếp ảnh lắm đâu, tại vì tôi rất lười biếng, ngay cả đi chệch khỏi chỗ mình đang đứng để có một cái nhìn tốt hơn, đi xa hơn hoặc đến gần hơn, tôi đều lười. Thường chỉ giơ máy lên rồi bấm. Hình như tôi xem ảnh để khỏi phải suy nghĩ.

Thân cây bị con beaver cạp gần đứt ngang. Coi vậy mà xô nó không ngã, bởi vì ngọn của nó được ngọn của cây khác chống đỡ.
Đi chợ mua thức ăn cho mèo, đứng trong shopping center nhìn lên đồi

Tôi có thể xóa những cái camera trong bãi đậu xe nhưng lười biếng.

Ảnh chụp ở bên hông thư viện ngó sang bên cạnh, gần sân thể thao
Ngân hàng đối diện với thư viện

Đồng hồ chạy đúng giờ. Bên trên mặt đồng hồ có cái bảng nhỏ bằng kim loại khắc chữ PNC, tên ngân hàng.

Trên đồi, Washington Rock Park
Thơ thẩn đường chiều* dọc bờ kênh D&R

*Mượn vài chữ trong bài hát Cô Hái Mơ của Phạm Duy. Chỉ có bốn chữ là hợp với cảnh thôi, hoàn toàn không dám ví von mình là khách thơ.

Trời cuối thu rồi em ở đâu?

Hôm nay khá lạnh. Đài khí tượng bảo rằng cao nhất chỉ có 49 độ F. , hiện giờ sắp 7 giờ sáng, 26 độ F. Lạnh như vầy khiến tôi tự hỏi, trời cuối thu chưa. Theo đúng lịch thì khoảng sau 20 hay 21 tháng 12 mới bắt đầu mùa đông. Nhưng mùa màng thời tiết đâu có đi theo lịch của loài người đặt ra. Các vị thần chủ quản thời tiết, quyết định ngày nào nắng hay mưa, bao giờ nóng hay lạnh, họ có lịch riêng của họ. Đâu như tuần trước đi xe đạp đã thấy có đông giá trên sân cỏ. Một hình thức báo hiệu cuối mùa thu.

Sương giá đọng trên lá cỏ
Hằng ngàn ngỗng Canada đậu trên sân cỏ trong ngày giá đông, sương giá đọng trắng cả sân.
Nắng lên, băng đóng trên mặt nước bắt đầu tan, bốc khói

Tấm ảnh này làm tôi nhớ đến một cảnh trong phim Xuân, Hạ, Thu, Đông, rồi lại Xuân. Mặt hồ đầy khói sương huyền ảo như cảnh tiên. Khói tan nhanh lắm. Tôi mở máy xong thì khói đã tan hơn phân nửa vì nắng.

Hai chữ cuối thu luôn làm tôi nghĩ đến câu thơ của Đinh Hùng mà tôi dùng làm tựa đề. Trời cuối thu rồi em ở đâu? Nằm trong đất lạnh chắc em sầu. Em của tôi là hai con mèo hoang. Tôi vẫn lo ngại chúng không có chỗ trú ẩn những lúc lạnh chết người như thế này.

Thật ra thời tiết thay đổi rất nhanh, mới hôm trước ấm đến 67 độ F. rồi hôm sau lạnh dưới độ đông nước đá. Cứ một ngày rồi ấm dăm ba ngày lạnh, và cứ dần dần như thế mà vào đông.

Cũng tuần trước, sau một ngày lạnh, trời ấm, nắng nhẹ nhờ nhiều mây, tôi đi thư viện tạt sang ngọn đồi Washington Rock, dùng phone chụp tấm ảnh này. Phone cho màu hơi đậm, nhìn mắt thường màu nhạt hơn.

Washington Rock Park

Chỗ này ngày xưa ông Washington đã đứng quan sát quân Anh hình như tiến quân về hướng Princeton. Nói hình như vì không nhớ chi tiết trong lịch sử.

Cạnh ngọn núi này là trạm cứu hỏa thường được dùng làm phòng phiếu (bầu cử) cho dân địa phương. Trạm cứu hỏa này thuộc loại khá cũ nếu không nói là cổ. Bên hông trạm cứu hỏa có một căn nhà nhỏ, loại cottage, xây bằng đá, chắc bây giờ người ta dùng làm chỗ chứa đồ lặt vặt. Trông nó cũng khá suy tàn. Tôi lại rất yêu cái vẻ điêu tàn của những ngôi nhà đá, khi dây leo tràn lan trên mái trên tường. Cái vẻ điêu tàn này luôn làm tôi nghĩ đến vẻ đẹp wabi-sabi của người Nhật.

Ngôi nhà cổ tích

Cứ thấy lá vàng và đỏ che kín cả ngôi nhà tôi lại nghĩ mùa thu vẫn còn dài lắm ở chung quanh. Mới bên trên đã thắc mắc cuối thu rồi em ở đâu, rồi lại kêu mùa thu còn dài lắm. Không khéo bạn đọc lại trách móc, đúng là bản tính đàn bà (già), thay đổi ý nghĩ cũng như mùa màng thời tiết. Vài ba bữa nữa chắc là lại kêu lên buồn tàn thu.

Thật là mau quá, mới hôm trước còn nghe bây giờ là mùa thu, chiều vắng khói sương mù (Nam Lộc Tùng Giang).

Hai con mèo hoang của tôi

Nghe nghịch lý ha, hễ là mèo hoang thì không thể là của tôi. Mà nói là của tôi thì không là mèo hoang nữa. Mèo đen, ông Mun, đã bị triệt sản, được chích ngừa, từ năm 2018. Lúc ấy con mèo Củ Gừng (cũng là mèo hoang) sinh hai bầy con cách nhau 6 hay 7 tháng trong sân sau nhà tôi, làm tôi phát hoảng, vội vàng báo với Trung Tâm Kiểm Soát Thú Hoang. Họ đưa bẫy và tôi tóm cổ hết đám mèo này giao cho họ. Mèo con thì họ nuôi, hay cho người ta nuôi. Mèo đã trưởng thành họ chích ngừa, triệt sản, và thả trở lại cánh rừng sau nhà tôi. Mấy con mèo đẹp từ từ biến mất. Chỉ còn lại con mèo Mun.

Mèo Xám đến sau, bệnh trầm trọng, nghẹt mũi, mắt nhắm tít, sưng húp, lở lói. Nó không thể mở miệng để ăn, chỉ có thể le lưỡi liếm chút nước. Tôi hầm thịt gà cho nó uống nước, ngày nào cũng thầm nghĩ là hôm nay nó sẽ chết. Vậy mà nó vẫn sống. Bây giờ nó cũng to béo lực lưỡng, chẳng kém gì ông Mun. Ngày trước nó như đàn em của Mun. Bây giờ nó là đối thủ đáng sợ. Mèo Xám chưa bị triệt sản.

Bạn có bao giờ thấy hai con mèo đánh nhau, vật lộn chưa? Rất ngoạn mục. Con này khóa cổ, ngoạm chỗ hiểm của con kia, cả hai khóa cứng với nhau. Tôi có lần phải lấy cái gậy đụng nhẹ vào một trong hai con để bọn chúng thả nhau ra. Thức ăn chia làm hai phần, để hai nơi cách xa nhau. Cả hai chỉ cần ăn thôi, chẳng mắc mớ gì phải đánh nhau. Người ta bảo loài mèo tranh giành lãnh thổ. Thỉnh thoảng thấy cả hai con mèo cũng xây xước khá nhiều.

Nhiều khi tôi thấy áy náy đã triệt sản Mun, nhưng khi thấy Xám khổ sở đeo đuổi Nora nhà tôi thì tôi hết áy náy. Vì thấy nó cũng vật vã lắm. Bây giờ thì Xám quen rồi nên không lảng vảng sân nhà tôi nhiều. Nó cũng không vờn Nora như trước nên cô nàng không sợ nó nhiều như trước kia nữa. Mun bây giờ lại có vẻ theo đuổi Nora. Nhiều khi trong đêm khuya nó nằm trên cái sàn gỗ sau nhà ngóng vào nhà như chờ ăn hay chờ Nora. Điều này làm tôi tự hỏi, mèo có thể trở lại trạng thái sinh dục lúc chưa bị triệt sản không. Sau một thời gian dài, lớn lên, già đi chúng có thể lành lặn không?

Buổi sáng thức giấc, thấy Xám ngồi trong cái ổ, ông Tám câu bóng đèn điện để sưởi ấm cho mấy con mèo. Mun ngồi xa hơn, gần bức tường rào, kêu meo meo để tôi chú ý biết là nó muốn ăn. Mun nói nhiều lắm. Hễ tôi kêu meo một tiếng thì nó đáp lời meo một tiếng. Xám ít khi kêu thành tiếng. Chỉ lừ lừ lặng lẽ ăn.

Mấy con mèo cũng thường đòi ăn ngon. Nhiều khi có thức ăn mà Mun không ăn, cứ nằm chờ mãi cho đến khi tôi lấy thức ăn có mùi cá hồi, nó thích, ăn xong mới bỏ đi. Người ta nói ăn mày thì không thể đòi hỏi món này món nọ. Mấy con mèo này chắc làm chủ chứ không làm ăn mày.