Con nhện Maman ở Ottawa

img_0289
Con nhện tên Maman – Mẹ tôi

Tượng con nhện Maman ở phía trước viện bảo tàng Mỹ thuật Quốc Gia Canada ở Ottawa. Tác giả là Louise Bourgeois. Tượng có kích thước 9271 x 8915 x 10236 mm. Được cấu tạo năm 1999, làm bằng đồng, thép không gỉ sét, và đá cẩm thạch trắng.

boc-trung
Bọc trứng nhện bao gồm 26 cái trứng

Nhìn gần thấy chân nhện làm bằng đồng sơn đen, lưới của cái bọc trứng nhện làm bằng thép không gỉ (stainless steel), và trứng nhện bằng đá cẩm thạch trắng.

Tác giả Louise Bourgeois bị mất mẹ năm 21 tuổi. Bức tượng điêu khắc này dùng để vinh danh mẹ của bà vì vậy lấy tên là Mẹ Tôi. Ngày còn sống, Josephine, mẹ của Louise, làm nghề sửa chữa những tấm thảm lớn (tapestries) trong xưởng bảo tồn những thứ đồ dệt của bố Louise, Ở Paris. Ngày mẹ qua đời, Louise nhảy xuống sông Bièvre tự tử, nhưng được bố cứu thóat. Bà nhìn thấy con nhện có những đức tính và năng khiếu của mẹ bà, như dệt tơ, khéo léo, khôn ngoan, và bảo vệ người thân.

Đây là một trong sáu con nhện được làm cùng một mẫu. Con nhện này lớn hàng thứ nhì còn những con kia ở khắp nơi trên thế giới như Anh, Tây Ban Nha, Nhật, Korea, và Arkansas (Hoa Kỳ). Ngoài ra Louise Bourgeois còn thiết kế tượng của ba con nhện nhỏ hơn, có tên là Spider, một được trưng bày ở viện bảo tàng nghệ thuật quốc gia Hoa Kỳ ở Washington D.C., Viện Nghệ Thuật Denver, và Viện Bảo Tàng Nghệ Thuật Đương Đại Kemper ở Kansas City (Missouri).

Con nhện Maman được viện bảo tàng Canada mua với giá 3.2 triệu Mỹ kim, bị cho là quá đắt vào năm 2005, chiếm hết một phần ba ngân sách hằng năm của viện bảo tàng.

Những ngày qua

Mới tuần trước thấy trời vào thu, cây lá ửng màu, đến tuần này thì nóng trở lại. Hôm nay nhiệt độ sẽ lên đến 95 độ F. Một điều vui của ngày nóng là được tiếp tục mặc quần áo mùa hè. Ai không tin chuyện global warming thì hãy để ý đến những năm gần đây, số ngày nóng nhiều hơn và độ nóng cao hơn rất nhiều. Mỗi năm là một kỷ lục mới về số ngày nóng. Và nạn lụt ở Việt Nam ngoài chuyện đường phố tắt nghẽn còn là ảnh hưởng của độ nóng của bầu khí quyển toàn cầu tăng lên. Không chỉ ở VN, mà cả ở Hoa Kỳ, một quốc gia tân tiến (nhưng có hệ thống đường xá cũ kỹ có lẽ nhất nhì thế giới) nạn ngập lụt cũng tăng lên rất nhiều so với thập niên trước. Đường xá của Hoa Kỳ thật là thua xa hệ thống đường xá của Canada.

Bên cạnh nhà cao cửa rộng, rừng núi hoa cỏ, có những người không nhà ngủ trên hè phố ngay trong platform của nhà ga. Tôi vẫn ngại ngần không dám đăng những hình ảnh này, sợ bị buộc tội bêu riếu xứ sở dung chứa mình, thôi thì để dành chờ lúc về hưu sẽ đăng.

Chớm thu

những chùm tú cầu nặng trĩu

sau một cơn mưa, nấm mọc nhiều thật nhiều

loài hoa rủ bướm

Đã thấy thu về

bắt đầu thu

mặt trái

chuyển mùa

bông súng nhưng giống như một loại cúc nước hay thủy cúc

một loại hoa dâm bụt to bằng cái đĩa bàn

rừng vắng có bao lá vàng

ửng vàng

Chỉ cần một đêm hơi lạnh đã thấy lá bắt đầu đổi màu. Dường như cố gắng tận hưởng những ngày cuối hè, trước khi học sinh bắt đầu đi học trở lại, và thời tiết mát mẻ, mọi người đi hiking. Hôm qua gặp người đi trên đường trong rừng, tôi đếm được sáu mươi lăm người, không kể số người gặp lại hai lần.

Tản mạn từ “chương” đến “trường”

Lâu rồi, có lần gom góp trí nhớ để viết một bài tản mạn, bỗng dưng tôi nghĩ đến vài câu thơ trong bài thơ Hồ Trường. Những lúc đi đâu xa với ông Tám ngồi trong xe tôi thường được nghe bài thơ này. Và lúc lên giường bắt đầu thiu thiu ngủ tôi cũng được nghe. Trong xe tôi không có CD này mà chỉ có vài băng cassette nhạc cũ trước năm 75. Một cái may mắn của tôi là tôi cũng thích nghe loại nhạc ông Tám thích. Tôi nghĩ chẳng có gì kém may mắn cho bằng phải nghe loại nhạc mình không thích.

Tôi làm việc chung với một người Mỹ thích nghe nhạc. Tôi không rành âm nhạc Hoa Kỳ nên không phân biệt được nhạc ông nghe là nhạc gì. Chỉ thấy ông mở radio hơi to, và thỉnh thoảng có một giọng hát cao, nghe the thé xoáy vào tai tôi, rất phiền toái. Phiền nhất là ông mở nhạc nhưng không ngồi đó để nghe. Khi tôi cằn nhằn, xin ông vặn nhỏ lại, thì ông nói, vặn nhỏ ông không nghe, chắc ông bị điếc. Tôi cũng bị điếc nhưng nhạc ông nghe xoáy vào tai tôi như những lời xỉa xói. Ông nói ông cần có âm thanh “white noise” chung quanh ông, không có nhạc ông không làm việc được. Bà thư ký, ngồi gần bàn của ông, thỉnh thoảng lại quát to: Charlie, làm ơn tắt cái radio của ông có được không. Có lần có người nào đó đã tháo dây điện ném cái radio của ông vào sọt rác. Hôm sau ông đến sở thấy mất toi cái radio lại mang vào cái khác. Cách đây vài hôm ông về hưu. Trước đó cả nhóm tổ chức tiệc đãi ông. Hôm sau ông mang đến một cái bánh to, mang bánh đến từng phòng để mời. Tôi nhận bánh, cám ơn và nói nửa đùa nửa thật, thật nhiều hơn đùa. “Ông nhớ mang cái radio của ông ra khỏi chỗ này nhé.” Ông cười xí xóa. Thật ra tôi ghét cái loại nhạc Charlie nghe chứ không phải cái radio.

Tôi không ghét nhạc ông Tám nghe nhưng không có nghĩa là ông thích nhạc tôi nghe, vì tôi tò mò nghe đủ thứ loại, nghe cho biết. Tuy nhiên, cả hai chúng tôi đều thích nghe ngâm bài Hồ Trường. Trong lúc đi rừng ngẫm nghĩ đến bài tản mạn chưa viết, tôi nhớ đến mấy câu thơ.

“Công chưa thành, danh chẳng đặng. Tuổi trẻ bao lâu mà đầu bạc.” Khi viết tôi không để ý, sau này tôi mới biết là tôi viết sai, nhớ sai. Trong bài thơ tôi được nghe Trần Lãng Minh ngâm như sau:

“hồ cương thường hạ tất tiêu dao,
công chưa thành, danh chẳng đạt
tuổi trẻ bấy lâu mà đầu bạc
vỗ gươm mà hét, nghiêng bầu mà hỏi”

Wikipedia Việt viết rằng Nguyễn Bá Trác dịch bài thơ từ bản phiên âm Hán Việt như sau:

Học không thành, danh chẳng lập, trai trẻ bao lâu mà đầu bạc, trăm năm thân thế bóng tà dương.

Vỗ tay mà hát, nghiêng đầu mà hỏi, trời đất mang mang, ai là tri kỷ lại đây cùng ta cạn một hồ trường.

Mấy câu trong trí nhớ của tôi có vài chữ khác với bài thơ Trần Lãng Minh đã ngâm nhưng không khác nghĩa (cho lắm). Mấy câu của Trần Lãng Minh cũng hơi khác với mấy câu thơ ông Nguyễn Bá Trác dịch nhưng cũng không làm khác nghĩa. Nếu, nhấn mạnh chữ nếu, câu thơ của Nguyễn Bá Trác dịch là chưa thành và chửa lập thì cái sai của tôi sẽ nặng hơn vì chưa thành và chửa lập vẫn còn có chỗ để hy vọng.

Cái câu tiếp theo trong bài thơ do Trần Lãng Minh ngâm “vỗ gươm mà hét, nghiêng bầu mà hỏi” nghe có vẻ khí khái của một tráng sĩ hơn là bản dịch của Nguyễn Bá Trác.

Thơ văn từ trí nhớ người này sang trí nhớ người khác tam sao thất bổn cũng nhiều. Nhìn qua văn học truyền khẩu, một bài ca dao biến dạng thành ra nhiều phiên bản giống giống nhau cũng nhiều. Thí dụ như:

Chiều chiều ra đứng ngõ sau,
Nhớ về quê mẹ ruột đau chín chiều

và,

Chiều chiều chim vịt kêu chiều,
Bâng khuâng nhớ mẹ chín chiều ruột đau.

Dường như người viết, nhất là tôi, thường hay đổi câu thơ (không phải của mình) cho phù hợp với tâm trạng của mình trong một tình huống nào đó. Có lần tôi nhớ sai bét mấy câu thơ của Phạm Công Thiện (thần tượng của nhiều thi sĩ và triết gia Việt). Bây giờ chẳng còn nhớ mấy câu thơ chỉ nhớ có mùi hương trên đồi Tây hay đồi Đông. Thật là, khi nhắc đến hay trích dẫn thơ văn của ai đó, phải cẩn thận, dù chỉ là một bài tản mạn, bởi vì trí nhớ hay đánh lừa khổ chủ.

Cũng trong lần đi rừng, hôm ấy ông Tám hỏi tôi có biết Hồ Trường có nghĩa là gì không. Dĩ nhiên là tôi không biết nên nghĩ vẩn vơ. Chữ trường làm tôi liên tưởng đến ruột già (haha) như dồi trường. Thì hình như khúc trên của bài thơ có câu “Đại trượng phu không ai xé gan bẻ cật” đó mà. Từ gan đến cật đến ruột đều nói về lòng dạ con người, không phải vậy sao? Bây giờ thì tôi đã biết (dĩ nhiên) là không phải. Tôi nói, chắc là người ta chứa rượu vào mấy cái bong bóng hay bao tử bò, hay bao tử trâu, thấy trong phim xưa, viễn khách đi đâu cũng mang theo bao rượu. Ông Tám thêm vào, hay hồ trường nói về rượu chứa trong mấy cái sừng trâu sừng bò khổng lồ mà các hiệp khách lấy ra ngửa cổ mà tu rượu.

Thật khó mà nghĩ ra chữ trường là từ chữ thương, có nghĩa là cái chén uống rượu, và uống rượu một mình, và kính trọng mời người uống rượu.

Nghĩ đến sự tam sao thất bản của văn thơ từ người này sang người khác, từ đời này sang đời khác, thật là phải cẩn thận với những gì viết qua trí nhớ mà không cẩn thận kiểm chứng. Bây giờ thấy chữ kiểm chứng được thay thế bằng rà soát lại. Bạn đọc nếu muốn biết thêm xin đọc link này. Wikipedia Hồ Trường.

 

Dễ hiểu hay khó hiểu

Như những cặp vợ chồng già, tôi và ông Tám thường hay trái ý nhau. Tôi vẫn tự hỏi vì sao ông cứ phải luôn luôn nghĩ là mình đúng hơn, hiểu biết hơn. Vì sao ông cứ đặt ông ở vai trò lãnh đạo hướng dẫn và muốn người khác phải vâng theo. Không muốn cãi nhau, chộn rộn thêm bực mình, mỗi khi ông lên giọng gắt gỏng tôi làm ngơ, nhưng không vừa ý.

Đi rừng, đến một đoạn đường có dấu vàng, ông cằn nhằn. “Mấy người đánh dấu con đường thật là vô lý. Nhìn cái cây này nè, mở đầu đoạn đường vàng và chấm dứt đoạn đường vàng, ở trên cùng một cái cây. Tại sao mở đầu và chấm dứt ở một nơi giữa rừng chẳng đưa đến đâu dẫn vào đâu.”

Đoạn đường chúng tôi đang đi là Sierra trail có dấu màu trắng, nhưng có một đoạn dùng chung cho nhiều ngả đường, có dấu vuông màu hồng, màu vàng, màu xanh lá cây.

Đi thêm một đoạn nữa ông chỉ thêm một cái cây khác, “Thấy chưa, cây này cũng vậy. Dấu mở đầu và chấm dứt cũng trên cùng một cái cây.” Tuy là cùng một cây nhưng nó ngược hướng với nhau. Đứng bên này nhìn thấy mở đầu, đổi chỗ ra phía đối diện sẽ thấy chấm dứt. “Họ làm dấu như thế này làm người đi rừng thấy khó hiểu.”

Tôi thấy chẳng có gì khó hiểu cả. Con đường màu vàng là hình chữ U, một chữ U có hai cạnh rất dài. Đầu chữ U , cái khoảng cách giữa hai cạnh chữ U, là đoạn đường dùng chung cho nhiều đường. Người dùng đường màu vàng, có thể bắt đầu ở một cạnh chữ U (thí dụ như cạnh trái) đi cho đến hết đường. Người khác, đi từ hướng khác, bắt đầu ở cạnh phải, ngược chiều. Vì thế dấu mở đầu ở cạnh này sẽ là dấu chấm dứt của cạnh kia, cho hai người đi ngược chiều với nhau.

Tôi lại liên tưởng đến dấu âm dương của Thái Cực Đồ, điểm mở đầu cũng là điểm chấm dứt. Và biết bao nhiêu chu kỳ của mùa màng thời tiết, mỗi lần chấm dứt cũng là lúc bắt đầu.

Đâu có gì khó hiểu.

ảnh minh họa đường hiking
Ảnh minh họa, con đường màu vàng là con đường có dấu chữ Y.

Tưởng chừng nghịch lý

ảnh minh họa đường hiking

Lâu rồi, tôi đi rừng. Gặp một cậu Á châu đang chạy rất khỏe ở một đoạn đường nhiều ngả nhập vào nhau. Cậu chạy qua mặt, chúng tôi nép vào một bên, vì đoạn đường ấy hơi hẹp. Chập sau cậu quay lại, vẫn chạy không ngừng, như sợ mất trớn. Cậu hỏi chúng tôi đường đến Nature and Science Center. Lúc ấy, ở chỗ chúng tôi đang đứng, Trung tâm Thiên-nhiên và Khoa-học đang nằm ở bên tay trái của chúng tôi, ngôi nhà rất to với sân cỏ rất rộng nhìn thấy được.

“Nhìn thấy nó ở bên trái nhưng không có đường qua bên kia suối.” Cậu ấy nói.

“Cậu đi theo hướng có dấu hình vuông trắng (sơn trên thân cây).” Ông Tám vừa nói vừa chỉ tay (về hướng tay phải).

Cậu nói có vẻ ngỡ ngàng: “Không thấy dấu vuông trắng.”

Tôi nói: “Cậu quẹo sang tay mặt.”

“Nhưng tòa nhà ở bên trái. Tôi chạy con đường bên trái thì nó dẫn tôi trở lại chỗ này.”

“Muốn qua bên tay trái, cậu phải quẹo bên tay phải, chạy vào đường có dấu vuông màu xanh lá cây, chập sau sẽ tiếp vào đường có dấu hình vuông màu trắng.”

Cậu gật đầu cám ơn và chạy đi. Tôi ngẫm nghĩ câu nói của tôi, tưởng chừng như nghịch lý. Muốn sang bên trái phải quẹo tay phải. Không biết đường đời muôn vạn nẻo, đã bao lần mình muốn sang phải phải queo trái hay chưa.

 

Hình ảnh trong ngày

 

người Á châu cao lớn

Đi làm về tôi gặp một người Á châu, không biết Nhật hay Trung quốc, nhìn nét mặt không phải người Việt 🙂 Cậu này rất trẻ, chắc chưa đến hai mươi, cao lớn khác thường. Cậu phải cao ít nhất là bảy feet (2.1mét). Người đàn ông đứng cách đó một cửa sổ cũng là người cao lớn, chắc phải 6 feet.  Lúc cậu xuống xe, tình cờ đứng gần một người phụ nữ Á châu chắc chiều cao cỡ 1.5 mét, thấy cậu gần như cao gấp đôi 🙂 (nói phóng đại). Người đàn bà ấy cao chỉ đến bụng hay nhiều lắm là đến ngực. Ít khi thấy người Á châu cao lớn như vậy, nên khi thấy thì rất lạ.

Giữa rừng bỗng gặp một dây bí mọc hoang, có hoa bí và đọt bí. Đọt bí luộc rất ngọt. Hoa bí người Ý thích tẩm bột đem chiên, đây là một món delicacy của Ý.

đang ngủ bị phá giấc ngủ

Hai con vịt đang ngủ, đứng một chân, nghe tiếng người đến gần, một con thức giấc.

Dưới đây là chuyện hai con vịt. Vịt đang ngủ, người đến gần, vịt thức giấc, đủng đỉnh xuống nước, bơi đi, xa.

Vụn vặt trong tuần

Chạy xe đạp buổi sáng

Mùa hè, tôi đi hiking sớm hơn để đỡ nóng. Nói sớm chứ ra khỏi cửa cũng tám giờ nắng đã lên. Sáng sớm thường hay gặp người ta đi xe đạp, hay chạy bộ. Vì là vùng đồi núi nên chạy xe đạp lên dốc cũng là một môn thể thao đòi hỏi nhiều sức lực. Người ta đi từng đoàn rất đông, có khi cả hai chục người mặc đồng phục màu sắc rất đẹp. Tự hỏi, không biết bên nhà người ta có những phong trào thể dục thể thao, gọi là khỏe vì nước hay không.

“Khỏe vì nước kiến thiết quốc gia.” Hay “Khỏe vì nước chí khí vô biên.”

Dưới đây là mấy tấm ảnh tôi chụp lúc buổi trưa đi bộ. Dạo này trời nóng tôi lười đi bộ quá. Hôm nào cũng nóng trên chín mươi độ F (hơn 32 độ C), cứ đi một block là tôi thấy oải người chỉ muốn tìm chỗ để ngủ gật.

còn dưới đây là một số ảnh trên đường đi hiking.

 

Vẩn vơ

những đóa hoa trắng li ti

Sáng nay ngồi nhìn bức ảnh một chùm hoa dại tôi chụp lúc đi rừng, hoa nhỏ li ti, màu trắng, có lẽ cái màu trắng của hoa khiến tôi nhớ đến một bài hát của Phạm Duy đã lâu rồi không nghe ai hát.

“Một đàn chim tóc trắng bay về qua trần gian, báo tin rằng có nàng Giáng Hương. Nàng ngồi bên cung vắng mơ một đêm đầu trăng phá then vàng bước vào vườn hoang. . .”  

Rồi thêm nữa

Trời đày cô tiên nữ xuống đầu thai thành hoa giữa đêm dài hoa nở chóng phai. . . Người về trong đêm tối ôm cành hoa tả tơi bóng in dài gác đời lẻ loi.”

Tìm thử trên youtube thấy nhiều người hát bài này nhưng không thấy vừa ý với óc tưởng tượng của tôi nên thôi không dẫn link về. Không hiểu vì sao tôi lại thuộc những câu hát này. Có lẽ hồi còn nhỏ mình thích những hình ảnh đẹp của hoa, hoa giống những con chim tóc trắng, có nàng công chúa tên cũng đẹp như người, công chúa cô độc quá nên nổi loạn phá then vàng để bước vào vườn hoang. Nếu phá then vàng thì nên bước vào vườn hoan chứ vào vườn hoang thì đâu có gì vui. Phải không?

 

Nghe đọc Tuổi Thơ Em Thả Trên Đồng

Xin mời các bạn nghe giọng đọc của Kim Oanh tự truyện đầu tay của tôi. Như mối tình đầu, tôi nhớ truyện này suốt đời. Cám ơn tất cả các bạn đã góp phần làm nên truyện này. Cảm ơn tác giả cái ảnh có em bé thả diều. Giọng Kim Oanh rất hợp mỗi khi giả giọng trẻ con, nũng nịu, nghe thật là đáng yêu.

Nghe đọc Mở Nắp Hầm của Nguyễn thị Hải Hà

Xin trân trọng cảm ơn hai người bạn trên Facebook Tám Tình TangKim Oanh đã nhín thì giờ đọc hai truyện ngắn của tôi. Hai bạn này cũng đã đọc một truyện ngắn khác của tôi trước đây. Truyện Tình Bi Đông Có List thì Dông. Hai bạn làm tôi cảm động quá biết lấy gì đền đáp công của các bạn đây. Truyện này đã đăng ở Gió O.

Mời bạn nghe nhen. Giọng Kim Oanh nghe “đã” lắm. Nàng nói giọng Huế, giọng Bắc, giọng Nam, rất diễn tả. Làm tôi thấy, té ra truyện tôi viết nghe cũng được lắm. 🙂 Cám ơn Kim Oanh đã truyền sức sống và sự truyền cảm vào truyện. Lại còn đoạn nhạc Biển Nhớ nữa, làm cảm động quá trời luôn.

http://www.gio-o.com/NguyenThiHaiHa/NguyenThiHaiHaMoNapHam.htm

Vẫn bước – Still Walking

Nếu cuối tuần muốn tìm xem một phim nhẹ nhàng để giải trí, bạn sẽ không thích phim này, “Still Walking” xin tạm dịch là Vẫn Bước. Những phim về xung đột trong gia đình vẫn làm tôi ngại ngần không muốn xem vì cái không khí nặng nề của nó. Gia đình nào mà chẳng có xung đột, ngấm ngầm hay lộ liễu, vì thế chẳng ai thấy dễ chịu khi sống lại những giây phút quen thuộc nhưng không êm đẹp của mình. Người Mỹ làm nhiều phim loại này. Họ thể hiện sự xung đột trong gia đình một cách khôi hài để làm giảm bớt không khí nặng trĩu của những cuộc cãi nhau, hằn học ngấm ngầm với nhau. Thoáng qua trong ý nghĩ tôi là phim “Death at a Funeral,” “The Royal Tenebaums,” còn nhiều nhưng bất thình lình không nhớ ra.

Tựa đề “Still Walking” được trích từ một bài hát Nhật thịnh hành vào cuối thập niên 60. Và cuốn phim này cũng lấy bối cảnh xã hội Nhật-bản vào thời gian này. Câu chuyện xoay quanh gia đình của bà Toshiko Yokoyama (diễn viên Kirin Kiki) trong ngày giỗ đứa con trai cả của bà qua đời vì chết đuối trong khi cứu người. Tôi chú ý đến nữ diễn viên này vì hình dáng của bà, tóc bạc muối tiêu, mặt không son phấn, dáng đi lệt bệt nặng nề, nhan sắc tầm thường (rất giống tôi 🙂 chỉ tiếc tôi không có tài diễn xuất của bà). Đạo diễn Hirokazu Kore-eda chọn bà vì ông thấy ngoài bà ra không ai có thể diễn được vai này. Kore-eda sáng tạo nhân vật này dựa vào bà mẹ của ông. Phim này được viết sau khi bà mẹ của Kore-eda qua đời, là một cách để đạo diễn tạ từ người mẹ lần cuối cùng.

Xung đột trong “Still Walking” nhẹ nhàng hơn phim “August: Osage County” không có những cuộc đấu khẩu phẫn nộ la hét, nhưng đầy những đay nghiến nhức nhối ngấm ngầm. Ông bố là bác sĩ, tuy đã về hưu nhưng vẫn muốn được gọi là Doctor, thậm chí không muốn người ta nhìn thấy mình đi chợ giúp vợ. Ông bà có hai con trai và một con gái. Đứa con trai lớn Junpei, học làm Bác sĩ nối nghiệp và là nguồn hãnh diện của bố, chết đuối từ mười lăm năm trước. Đứa con trai kế Ryota Yokoyama là con chiên ghẻ của gia đình. Không làm bác sĩ mà lại đi học hội họa, đang làm nghề bảo tồn tranh xưa cũ thì bị thất nghiệp. Ryo còn phạm một cấm kỵ khác của xã hội Nhật, vẫn còn bảo thủ vào những năm 60, là anh cưới một người đàn bà góa chồng có đứa con trai riêng. Cô con gái có chồng được hai con, muốn dọn về ở chung với bố mẹ. Điều đó có nghĩa là cô sẽ lấy căn phòng của Ryo, và với xã hội Nhật, bố mẹ già thường ở chung với con trai chứ không ở với con gái.

Bạn có thể đoán được cảm giác bất an của tất cả mọi người trong buổi giỗ. Ryo thì ở trong tình trạng mình là người thất bại không đạt được nguyện vọng của bố. Như cha mẹ Việt Nam hay than thở “hòn vàng thì mất, hòn đất thì còn” Ryo thầm nghĩ rằng ông bố đã tiếc rằng người chết là Junpei. Điều này làm tôi nhớ đến một đoạn trong phim “Lord of the Rings,” Denethor có hai người con là Doromir và Faramir. Doromir chết trong lúc đi tìm chiếc nhẫn chúa cho bố và Faramir luôn nghĩ rằng Denethor tiếc là người chết là Doromir chứ không phải Faramir. Tôi tin rằng tất cả các bậc cha mẹ đều cố gắng yêu thương con đồng đều, nhưng sự thật là có khi cán cân tình yêu của cha mẹ bị nhìn thấy nghiêng về người này nhiều hơn người khác. Ryo cũng sợ là bố mẹ sẽ không tiếp đãi ân cần vợ mình và con trai (của vợ).

Ông bố, Kyohei, nếu không gắt gỏng cáu kỉnh, thì cũng lạnh nhạt lơ đãng. Ông thường dấu mình trong văn phòng riêng của ông, chỉ xuất hiện khi đến bữa ăn. Bà mẹ, Toshiko thì đầm ấm hơn, luôn luôn lăng xăng lo nấu các món ăn khoái khẩu của cả nhà. Tuy nhiên, câu truyện khai mở dần dần người xem sẽ thấy bà mang trong lòng một nỗi đắng cay lâu dài. Nỗi đau này biến thành một thứ chất độc, tràn ra khỏi lòng bà vấy vào người chung quanh.

Nói lén với con gái, chuyện Ryota lấy người đàn bà đã có con, Toshiko nói dẫu sao lấy một người đàn bà ly dị vẫn tốt hơn người đàn bà góa chồng. Vì người đàn bà ấy tự nguyện bỏ chồng. Cô con gái nghe bà mẹ nói thế cũng kinh ngạc bảo rằng. Nhiều khi mẹ thật là độc ác. Mãi về sau tôi mới hiểu câu nói của bà. Người đàn bà bỏ chồng “có thể” không còn yêu thương vương vấn người chồng cũ nữa. Tuy nhiên, nó hàm ý trường hợp của bà. Nhiều khi người ta sống suốt đời với chồng (hay vợ) nhưng tình yêu không còn, không ly dị có thể vì không dám, không dám sống một mình, không dám nuôi con một mình, không dám đi ngược lại dư luận, và hằng trăm thứ khác.

Trong bữa ăn, mọi người bàn đến âm nhạc. Ông bác sĩ luôn luôn coi thường bà vợ nội trợ là người không biết yêu và thưởng thức nhạc. Bà nói bản nhạc bà rất yêu thích là bài Blue Light Yokohama. Bà bảo Ryo đặt đĩa lên máy hát, và khi âm điệu ngọt ngào lãng mạn của bản nhạc tràn đầy căn phòng, bà nghiêng đầu lẩm nhẩm hát theo.

“Aruitemo aruitemo kobune no you ni
Watashi wa yurete yurete anata no ude no naka”

“I walk and walk, swaying
Like a small boat in your arms”

Bạn có thể hình dung hai người đang khiêu vũ với nhau.

“Em bước và bước, đong đưa
như chiếc thuyền con trong vòng tay anh”

Khi bữa ăn tàn, ông chồng bác sĩ vào ngâm mình trong bồn tắm, bà vào phòng tắm mang đồ dùng cho ông, và thổ lộ, khi ông hẹn hò với tình nhân, bà đến nhà, biết ông và tình nhân đang khiêu vũ, bà nghe ông hát vang những câu trong bài hát, bà ôm con lẳng lặng về nhà.

Phim còn có những giây phút khác rất hay, như lúc cậu bé Atsushi con riêng của Yukari (vợ của Ryota) nhìn con bướm và nói những lời tâm sự với người bố ruột đã qua đời. Và lúc bà mẹ Toshiko công nhận là bà mời cậu bé mà Junpei cứu mười lăm năm trước đến dự đám giỗ của Junpei hằng năm vì bà muốn trừng phạt anh ta, vì anh ta mà con trai bà chết đuối.

Người ta cũng thường so sánh Hirikazu Kore-eda với Yasujiro Ozu đạo diễn Nhật nổi tiếng với những phim tình cảm giữa cha mẹ và con cái. Phim đầu tiên người ta có thể nghĩ đến của Ozu là Tokyo Story. Tôi thì nghĩ đến Late Spring của Ozu. Cũng là tình gia đình nhưng Late Spring dịu dàng và ngọt ngào trong khi Still Walking quặn thắt và cay đắng. Về mỹ thuật thì phim của Ozu có khuynh hướng mỹ thuật của Zen, thanh đạm và đơn giản, trong khi phim của Kore-eda gần với cuộc sống hiện thực.

Đây là phim đầu tiên của Kore-eda tôi được xem. Ngạc nhiên thấy thư viện địa phương của tôi có chừng năm hay sáu phim của đạo diễn này. Chắc chắn là tôi sẽ dành thì giờ để xem thêm vài phim của ông.

Kèm theo cuốn phim Still Walking tôi mượn ở thư viện có một bài essay review phim của Dennis Lim. Trong quyển này có một số tranh và ảnh tôi scanned và post lên để minh họa. Nhà của hai ông bà Yokoyama ở trên một ngọn đồi cao. Xe chở hành khách thả người ở xa lộ và khách đến thăm phải leo lên những bậc thang này để đến nhà ông bà. Ảnh đầu là ông bà sau khi đưa vợ chồng Ryota ra về hai người trở vềcăn nhà. Bà lẩm bẩm nhớ lại tên người lực sĩ mà bà và Ryota trong khi trò chuyện đã không nhớ ra. Ông hỏi tên người ấy là gì bà chẳng chịu nói ra cho ông biết. Cùng lúc ấy Ryota trên xe buýt cũng nhớ ra tên người lực sĩ. Một chi tiết nhỏ nhưng nói rằng cả hai mẹ con cùng nghĩ đến nhau. Dù bà mẹ nhiều khi nói những lời khắc nghiệt, vô tình làm đau lòng người khác, nhưng đó là một thí dụ về tình gia đình, những đau đớn và ngọt ngào luôn quyện vào nhau.

Ảnh thứ hai là Ryota đi với mẹ. Ảnh thứ ba là những đồ vật trưng bày trong nhà. Một điểm thú vị là đàn ông Nhật Bản trong thời ấy vẫn không giúp đỡ vợ. Ryota với vợ leo lên bậc thang, anh chàng đi tay không trong khi cô vợ xinh đẹp mảnh mai phải tay xách nách mang thở hào hễn.

 

Chuyện nhỏ ở thác Niagara

Hôm qua vội chuẩn bị đi làm tôi nghĩ tối về sẽ viết thêm về thác Niagara, nhưng về nhà xem lại thì thấy tự ảnh đã nói hết rồi còn thêm bớt gì. Để kể chuyện đi chơi tôi có thể kể lể đầu cua tai nheo, nhưng sợ chẳng ai đọc, thứ nhất người đọc chẳng có thì giờ, thứ nhì chuyện chẳng có gì hấp dẫn.

Có một vài chi tiết tôi muốn chia sẻ với các bạn vì chuyện vui vui.

một góc của horseshoe bowl

Thác hùng vĩ lắm. Bạn biết rồi. Đứng bên bờ Hoa Kỳ bạn sẽ không nhìn thấy hết sự hùng vĩ này. Đã có một thời người Hoa Kỳ khai thác thương mại thác không đúng hướng nên thác mất đẹp, lôi thôi nhếch nhác, loạn xị. Hoa Kỳ bị du khách thế giới, đặc biệt là châu Âu chê cười dữ dội nên có sửa chữa. Canada khai thác du lịch ở thác Niagara rất tận tình. Cái gì cũng đắt giá kinh hồn.

khi thác Niagara bên bờ Hoa Kỳ ngừng chảy

Năm 1969, người Mỹ xây cofferdam (chẳng biết chữ này dịch là gì, nó là một cái đập làm bằng thép) chặn dòng thác chảy để khám xét thác và nghiên cứu sự soi mòn của thác. Cái đập này làm dòng thác phía Hoa Kỳ ngưng chảy, trở nên khô cạn. Sau bảy năm, họ rút đập ngăn để thác chảy tự do, và soi mòn tự do. Có lẽ cái gì đi ngược hướng với thiên nhiên cũng gây ra tác hại của nó.

Từ bờ Canada, bạn sẽ nhìn thấy có một vùng thác chảy xuống, miệng thác hình móng ngựa vì thế được gọi là horseshoe bowl. Người ta tổ chức chuyến đi khám phá lòng thác từ phía sau dòng thác, đặt tên chuyến đi là Journey Behind The Falls. Chúng tôi đến mua vé lúc mười hai giờ. Người ta bảo chờ đến một giờ ba mươi mới được vào xem. Giá mỗi người đi xem là 30 đô la Canada. Mỗi người được phát cho một cái áo mưa poncho, loại mỏng dùng một lần thôi. Có thể để dành dùng lại, nhưng tôi cắt lủng lỗ để chừa camera ra tiện việc chụp ảnh. Sắp hàng chừng mấy trăm người, lần lượt đi thang máy xuống dưới lòng thác.

đi luồn phía sau thác

Chúng tôi được căn dặn là đi đến về phía trước, chờ xem, coi chừng trượt té, vân vân. Tôi đi theo người phía trước, tản mác, chỉ nhìn thấy cửa động với một màn nước trắng xóa như thế này. Tôi ngỡ ngàng, chỉ có thế này thôi mà tôi phải trả ba chục đồng. Rip off. Tôi quay qua nói với một người ngoại quốc da trắng. Chỉ có thế này thôi à. Ông ta nói. “Thieves.” Quả là nói oan. Nhưng người ta bóc lột tiền của người đi xem quá độ. Ông nói tiếp. “Nhưng chúng ta cứ đâm sầm vào đổ tiền vào túi của họ, vì thế đó là lỗi của chúng ta, sự ngu ngốc của chúng ta.”

ở phía sau thác

Sự ngỡ ngàng này thật ra bắt đầu từ sự hiểu lầm. Chúng tôi muốn đi lên chiếc tàu chạy trên dòng sông, ngược chiều đến gần thác. Khi nghe đi lên tàu, tôi từ chối không muốn đi. Chồng hỏi tại sao, tôi nói sợ. Chồng nạt, gắt gỏng, “làm gì mà sợ. Đã đến đây rồi mà lại không đi.” Ơ hay, sao người ta lại có quyền bắt mình phải đi phải làm những chuyện mình không thích. Tôi ghét chồng lúc ấy muốn nạt lại nhưng cãi nhau sẽ mất vui của mọi người, và tôi đã rất mệt. Tôi có bệnh tâm lý là tôi rất sợ chỗ đông người. Sợ đi tàu đi ghe (vì vượt biên), sợ những gì bất trắc, sợ đi xe (sợ tai nạn và sợ hư xe), sợ đi xa (dù muốn đi chơi). Bệnh này không rõ rệt lắm nên ít người biết, nhưng nó vẫn hiện diện trong tôi. Và tôi biết rất rõ bệnh của tôi.

Không bị đi tàu, giữa đám đông bát nháo trên tàu tôi thở phào nhẹ nhõm. Té ra chúng tôi chọn chuyến đi lòng vòng trong đường hầm chỉ để xem cái cửa động nhìn ra thác, một màn nước trắng xóa và đám rong bám lơ phơ trên cửa động.

Đi ngược trở ra tôi thấy một con đường khác dẫn ra cửa động khác. Nơi đây là một khoảng sân rộng rãi, có hàng rào. Du khách nhìn thấy bảng hiệu của chuyến đi phía sau thác.

dưới lòng thác nhìn lên miệng thác thấy vách núi dựng đứng

Từ chỗ đứng tôi nhìn thấy vách núi dựng đứng. Chúng tôi đang đứng ở dưới lòng thác nhìn lên.

nhìn thác hùng vĩ

Nước chảy xuống từ miệng horsehoe bowl. Mạnh mẽ. Hùng vĩ. Tiếng nước chảy ầm ầm át cả tiếng nói của đám đông. Tôi bỗng nhớ một câu thơ của Lý Bạch trong bài Tương Tiến Tửu. “Quân bất kiến. Hoàng hà chi thủy thiên thượng lai…” Chẳng biết sông Hoàng hà có khúc nào chảy mạnh như thác Niagara không, như nước từ trời rơi xuống sầm sập tung tóe thế này.

Tôi cố chụp cả miệng chén hình móng ngựa nhưng không được vì ánh sáng không đều và tôi không biết cách chụp.

Trong đường hầm có nhiều tấm áp phích giảng giải thêm về lịch sử của thác. nước đổ sầm sập xuống

Và đây là bóng của loại hoa dại màu tím loosetride in lên nền thác.

Chuyện nhỏ ở phố Tàu Toronto

cổng lân
Cổng lân hay cổng rồng ở Chinatown

Dù đang ở trong tình trạng tẩy chay Trung quốc tôi cũng thấy có cái gì đó không ổn thỏa với chính mình. Sao đầy vẻ kỳ thị chủng tộc như thế này. Bản thân mình không thích bị kỳ thị sao lại kỳ thị người khác. Không phải người Trung quốc nào cũng xấu. Họ cũng là những người buôn bán làm ăn mà. Silver rule là đừng làm những gì cho người khác điều gì mình không muốn người khác áp đặt lên mình. Tôi không thể nào tẩy chay thơ Đường, và vẫn còn muốn có dịp nào đó đi thăm năm ngọn núi của Trung quốc được nhắc nhở trong truyện kiếm hiệp của Kim Dung. Thôi thì gác sự tẩy chay qua một bên.

Tôi nói, “mình đi xem phố Tàu đi. Cô Tr. và cô Th. thích mua trái cây Việt Nam.”

Ông Tám nói, “Toronto có đến ba phố Tàu. Muốn xem phố nào.”

Ai mà biết phố nào ra phố nào. Tôi nhớ lần đi xa xưa, 2004, có đi cái phố Tàu có cái cổng hoành tráng nên nói. Đi phố nào có cái cổng đó. Ông Tám quên mất tiêu rồi nên lần này cái cổng nhỏ tí không giống cái phố kia.

Buổi trưa, đi ăn, thấy tiệm nào cũng đông, sắp hàng dài. Giao cho cô út nhà tôi chọn chỗ ăn, mỗi người một ý kiến, nên đi bộ rã cả chân mà chưa tìm được chỗ nào ưng ý. Dim Sum đi. Bánh mì Nguyên Hương kìa. Ăn nhanh và gọn còn đi chỗ khác nữa. Buffet đi, ăn được nhiều món. Cô Tr. muốn ăn cái gì có nước và rau, kiếm lẩu hay hot pot của Hàn đi.

Đúng là nhiều sãi thối ma. Cuối cùng chúng tôi vào một tiệm bán mì. Tôi ưa mì nước tại vì ăn phở mãi muốn thay đổi không khí. Đi tám người, bị chủ tiệm bắt chờ cả nửa tiếng ngoài trời nắng. Tôi nói, chia ra làm hai bàn, mỗi bàn bốn người thì nhanh hơn. Chủ tiệm nói, thêm vài phút nữa tôi quí vị sẽ được ngồi ăn chung với nhau.

Trong khi chờ bàn ăn, tôi nhìn thấy một đám người, ăn mặc đẹp sang trọng đi chợ, nói tiếng Việt. Họ mua trái cây Việt, trả bằng Mỹ kim. Giá hối suất chính thức 100 Mỹ kim bằng 131 đồng Canada. Cô trả giá 129. Người bán hàng chỉ chịu giá 120.

Tô mì vịt làm tôi nhớ thời còn đi học ở Philadelphia. Tôi và một nhóm bạn Việt Nam thỉnh thoảng kéo nhau đi ăn mì vịt ở phố Tàu Phila. Thời nghèo khó, tô mì bảy tám đồng thật là ngon. Tô mì hôm ấy cũng ngon. Gợi nhớ cả thời ăn mì Hải Ký ở Hàng Xanh Thị Nghè, gần nhà cô bạn học đã chết vì ung thư vào năm 1977 hay 78. Nhớ cả những lần đi ăn mì vịt với ông Tám ở New York sau mỗi học kỳ. Lần ấy nhìn thấy ông Mỹ cầm đũa thật điệu nghệ tôi suýt soa mãi.

Tiệm đông khách. Có hai cô gái Á Châu. Một cô da trắng bóng như sứ trắng. Cô kia da không đẹp bằng nhưng cũng không phải là không đẹp. Cô lại có dáng cao mảnh mai, tóc thắt french braid rất đẹp. Hai cô nói chuyện liến thoắng rôm rả. Chẳng biết nói gì vì họ nói tiếng “ngoại quốc.” Một anh Tây cao lớn, mang ba lô lỉnh kỉnh, bụi bặm, bước vào; có lẽ đi du lịch bụi ở đâu mới đến đói bụng nên vào ăn. Ở xéo góc, nhưng ngay tầm nhìn của tôi có ba cậu bé, chừng chưa đến ba mươi. Một cậu Á châu, tóc ngắn, mặt xương, mắt nhỏ. Trông cậu giống như một anh thầy tu người Miến Điện, (hay Tây Tạng, tôi cứ nhầm nhập nhằng họ với nhau) rất điển trai. Cậu ngồi bên cạnh cậu Á châu là một anh da trắng người hơi béo, có bụng, tóc xoăn, có vẻ hiền lành, dễ dãi, vui tính. Ngồi đối diện với hai cậu này là một cậu có vẻ như Ấn độ hay Trung Đông. Tóc đen, quăn. Cậu ngồi đưa lưng về hướng của tôi nên tôi không nhìn thấy mặt. Vai ngang to, đỉnh đầu hơi vuông vì mái tóc, tôi đoán cậu cao hơn hai cậu kia. Nhìn vẻ cân xứng của vai và đầu, có lẽ cậu cũng đẹp không kém gì cậu Á châu. Ba người nói chuyện liên tu bất tận, rất vui. Cậu giống người Ấn ăn xong gọi thêm một đĩa mì nữa. Hai cậu Á châu và da trắng cũng đụng đũa vào đĩa mì, gắp chĩa thức ăn. Trông họ, tôi đóan có một tình bạn rất thân thiết giữa ba người.

Chỉ có thế, nhưng nhìn thấy tình bạn giữa ba người trẻ tuổi, khác chủng tộc, ngay trong phố Tàu trên đất Canada bỗng thấy ấm lòng.

Ở Toronto, tôi không nhìn thấy sự nghi ngờ, đề phòng, đầy sợ hãi như tôi nhìn thấy ở Hoa Kỳ. Người dân có vẻ thoải mái, tin cậy, dễ chịu hơn. Phố Tàu thoáng, sạch, ngăn nắp hơn phố Tàu ở New York.

Ripley’s Aquarium of Canada

cá râu rồng

cá quên tên

Cá chỉ vàng

cái gì đây

chu kỳ phát triển của sứa

anemone

giống như con mực biển

lại râu rồng

người ta ngắm những bong bóng màu của biển

dưới đáy biển

sea urchin

Ripley's aquarium

rong biển

san hô

sứa 2

như cái nấm của biển

cá trình giảo kim

trang trí

sứa 3

như những viên ngọc trai

sứa

tranh trừu tượng

ngồi dưới đất tưởng tượng mình ngó lên trời

cá mập

Chuyến đi này, chúng tôi đi chung với gia đình người em của ông Tám. Người lớn bảo các cháu tự chọn những chỗ muốn đi xem. Ripley’s Aquarium là một trong những chỗ các cô cậu chọn. Hai đứa cháu của tôi vốn dễ tính và ngoan nên chọn lựa đều bị cô út nhà tôi ảnh hưởng. Con bé nhà tôi đi đâu cũng chỉ xem viện bảo tàng thiên nhiên và aquarium. Cái aquarium này chắc là cái thứ tư thứ năm gì đó. Vả lại khi bị bắt chọn những thứ để đi xem hầu hết chúng ta đều lúng túng khi có quá nhiều thứ để chọn lựa, và khó mà biết ý muốn của tất cả mọi người.

Aquarium dịch là gì nhỉ? Đơn giản, nó là cái bồn cá. Nhưng cái bồn cá này nó to quá thì phải có chữ gì to lớn để chỉ nó chứ. Viện hải dương học, hay Trung tâm thủy sinh vật. Có nhiều loại cá quá không thể nhớ tên nổi. Tôi nghĩ đến hai phim họat hình, The Little Mermaid và Finding Nemo, với những rặng san hô nhiều màu dưới đáy biển, và những đàn cá có hình dáng quen thuộc. Cái sai lầm của tôi là không dùng điện thoại để chụp ảnh, mà dùng cái Canon lúc trước hay dùng. Tôi lôi cái Nikon con tôi cho làm quà Giáng sinh ra săm soi nhưng không đủ tự tin để dùng mà mang theo nhiều thì nặng. Samsung 6 có cái giới hạn của nó nhưng snapshot trong bóng tối thì nó hữu hiệu hơn Canon Powershot S5.

Một trong những điểm thú vị của viện thủy sinh này là khán giả đứng lên một vòng quay chậm, nó sẽ đưa khán giả đi xem cá mập và nhiều loại cá khác được nuôi trong những cái bồn khổng lồ. Khán giả nhìn lên đầu, nhìn chung quanh toàn là nước và cá và san hô và rong biển. Ai cao lớn có thể với tay lên đầu chạm vào tường kính tưởng chừng có thể sờ được những con cá mập hung dữ. Cá đuối, và con sam được để trên mặt cát có nước biển và trẻ em với người lớn được khuyến khích sờ vào những con vật biển này, nhẹ nhàng thôi nhé.

Tôi xem mấy con sứa khá lâu. Chúng bay lượn, trồi lên ngụp xuống nhẹ nhàng, phiêu diêu, khi thì như những cái bong bóng màu, khi thì như những cái nấm có đuôi biết bay. Làm mình thấy thư giản bớt căng thẳng. Có một đàn cá, tôi biết tên, nghĩ là mình sẽ nhớ tên nhưng bây giờ thì lại quên mất, trông nó giống như cá chim, có sọc, khá to, có lẽ cỡ hai bàn tay của đàn ông Mỹ để cạnh nhau. Chúng bơi nhẹ nhàng thành từng đàn đến hết chiều dài của hồ, quanh lại bơi về hướng kia, dường như nhìn ngắm loài người đang đứng quanh hồ.  Tôi thấy mấy con vật biển mang tên anemone vì chúng giống như loài hoa anemone.

Tôi nghĩ đến cá chết ở Việt Nam, đến những rặng san hô đã bị chết, đến những hủy hoại môi trường và sinh linh vì sự tham lam táng tận lương tâm của một số người nắm vai trò lãnh đạo. Lãnh đạo như thế này là đưa người dưới quyền lãnh đạo của họ, nôm na là dân quèn, vào chỗ chết. Ở đâu cũng có những người lãnh đạo đâm sau lưng và đâm trước mặt những người dân người lính của họ.

Sau khi đi khá mỏi, tôi hết muốn đi, ngồi trong một góc của viện thủy sinh. Bóng tối, có nhạc nhẹ nên người mỏi mệt dễ buồn ngủ. Tôi thấy một phụ nữ Á châu, trẻ đẹp, chừng hơn bốn mươi, xách rất nhiều giỏ quà chắc mua sắm ở  các tiệm đắt tiền trên Canada. Nàng ngủ gục bên những giỏ quà quí giá. Ngủ say quá đến há hốc cả mồm ra. Tôi nghĩ thầm giá mà chụp ảnh nàng đưa lên facebook nhỉ, có biết ai chụp đâu mà kiện cáo, và mình cũng chẳng nói gì làm nàng thẹn thùng, chỉ nói nàng ngủ quá say thôi. Chập sau thấy chồng nàng đến đánh thức nàng. Hai người nói tiếng Việt với nhau.

Lâu đài Casa Loma

ban công
Enter a caption

cửa trước
Enter a caption

góc nhỏ bên hông lâu đài
Enter a caption

lâu đài nhìn từ công viên phía  sau
Enter a caption

bưc điêu khăc ở sân sau
Enter a caption

fountain
Enter a caption

những ống pipe của đàn organ
Enter a caption

phim quay ở Casa Loma Castle
Enter a caption

nóc trần phòng nuôi trồng hoa kiểng
Enter a caption

đàn organ
Enter a caption

một góc phía trước của lâu đài
Enter a caption

hầm rượu
Enter a caption

câú trúc điêu khăcs ở sân sau được dùng để chưng hoa hay làm khán đài
Enter a caption

fountain phía sau nhìn thấy CN Tower
Enter a caption

cầu thang và cửa bí mật trong lâu đài
Enter a caption

nhà chứa xe
Enter a caption

đường hầm nối liền các tòa nhà
Enter a caption

Tiểu sử của chủ nhân lâu đài
Enter a caption

đường dẫn ra vườn hoa
Enter a caption

Rất tiếc là tôi không chụp được tấm ảnh nào thấy nguyên vẹn lâu đài. Vì lâu đài quá lớn, và không có khoảng sân rộng đủ để có thể chụp từ xa. Tôi chỉ có thể chụp từng góc nhỏ ở bên ngoài.

Bên trong cũng rất đẹp, nhưng hơi tối, và đông người quá làm tôi phát mệt. Xe buýt ngừng lại cho xuống xe toàn người du lịch nói tiếng Trung quốc. Ba chiếc xe buýt khổng lồ đầy người. Chưa kể du khách ở Mỹ, Pháp, Anh v.v. . . cũng rất nhiều.

Tôi đã đi xem lâu đài này đâu như từ năm 2004, nhưng cô nhỏ đòi xem lại. Tôi thích đi Ottawa để xem cái vườn thiền đá ở viện bảo tàng thiên nhiên bên cạnh bờ sông Ottawa nhưng tôi sợ người trong gia đình không thích xem, bảo rằng chỉ có đá thôi mà cũng đòi xem.

Lâu đài này được làm bối cảnh cho nhiều phim trong đó có Chicago, và mới đây là hai tập phim cuối cùng của Harry Potter. Có một cái khung sắt, kiến trúc điêu khắc đã bị con khủng long chở ba người Harry, Hermione, và Ron bay lên khỏi hầm và làm vỡ cái khung sắt ấy.

Hai tấm ảnh đầu ở hàng thứ nhì là ảnh cây đàn organ với những cái ống pịpe gõ vào sẽ phát ra âm thanh, làm thành tiếng nhạc. Có cái đường hầm nối liền hai khu nhà (nhà chính và nhà xe với nhà trồng cây) để nhân viên không phải đi ra ngoài trời tuyết lạnh. Trong nhà cũng có một hai cầu thang bí mật đề phòng chủ nhân muốn thóat ra ngoài mà người trong nhà không kiểm sóat được. Muốn lên trên cao ra ngoài ban công phải sắp hàng chờ rất lâu tôi không đủ kiên nhẫn để chờ.

Đưa con đi học

 

Chuyện đi chơi ở Toronto và Niagara Falls sẽ kể sau. Mình sẽ thăm (đọc) các blog và facebook bạn đăng suốt tuần vừa qua. Còn bây giờ mình kể chuyện đưa cô út đi học xa.

Hôm nọ đi Toronto chơi, cô em chồng ngồi phía sau với mình thủ thỉ. Cô này chăm chồng con rất chu đáo, hai cháu rất ngoan. Cô nói, “Em quen có hai đứa con bên cạnh từ lúc còn bé, chẳng bao giờ rời mẹ ra. Chẳng biết sau này chúng nó lớn lên không còn ở chung với mình thì sao nhỉ? Chắc nhớ không chịu được.” Hai cháu, mùa hè năm ngoái được cho về thăm ông bà nội ở Việt Nam ba hay bốn tuần. Tôi đoán nếu cô em tôi chịu được ba bốn tuần thì cũng sẽ chịu được ba bốn tháng, rồi ba bốn năm sẽ được thăm con hay con thăm. Nỗi nhớ nào rồi cũng nguôi ngoai. Cô cũng như tôi, đều là những đứa con gái đã từ bỏ mẹ để đi xa. Và con của chúng tôi cũng sẽ là những đứa con đi xa. Ơ! Đi xa đâu có nghĩa là từ bỏ mẹ. Phải không?

Chim non nào cũng rời khỏi tổ. Bà mẹ nào cũng biết con mình rồi sẽ như những con chim non kia. Mình tập tành, dẫn dắt, thậm chí lùa con ra khỏi tổ, vì sợ chúng sẽ không bao giờ học bay, học tìm kiếm thức ăn, tự sống một mình, cho đến một ngày nào đó những con chim non này cũng phải làm trách nhiệm cha mẹ của chúng. Và luật tuần hoàn cứ thế mà luân chuyển.

Cô út học xong chương trình đại học, đi làm một năm, xin vào học chương trình cao học và tiến sĩ ở Illinois. Tháng trước ông Tám đưa cô đi tìm thuê nhà. Mấy ngày vừa qua tôi và bố cô giúp cô dọn nhà đến Illinois.

Đường xa quá, 800 miles (1280 km) từ New Jersey đến Urbana-Champaign. Chúng tôi nghỉ đêm ở Columbus, Ohio. Căn phòng thuê khá tồi tàn. Cái máy lạnh để trong phòng, gần sát mặt đất, nước không được dẫn ống thóat nhễu xuống đọng thành vũng thấm vào thảm. Người trọ chung quanh nhìn cũng thấy khiếp đảm vì nhìn họ là mình có thể đoán được nếp sống của họ chẳng mấy tốt đẹp. Những người đàn bà ăn mặc nhếch nhác, ghẻ lở, đầu rối, răng cỏ chẳng còn. Nửa đêm tôi thức giấc vén màn nhìn ra cửa sổ, nhiều nỗi suy tư.

Cô út mướn được một phòng rất khang trang rộng rãi. Căn phòng như thế này có thể chứa được hai vợ chồng và một đứa con nhỏ. Giá khá rẻ. Tôi đoán kinh tế ở thành phố này khá trì trệ, ít việc làm. Buổi tối tôi ở đó, trời nóng hầm hập như lò hơi nước, sau đó đổ xuống cơn mưa khá lớn. Đường phố lướt thướt, cây mịt mù trong bóng đèn vàng. Tôi vẫn không ngủ được nhìn ra cửa sổ, chưa gắn màn treo cửa, vẫn nhiều nỗi suy tư.

Tôi bảo, khi nào cô muốn về thăm nhà, những dịp lễ Tạ Ơn, lễ Giáng sinh, trường cho nghỉ một tuần, nếu cô không có tiền trả tiền vé máy bay hay xe lửa thì tôi sẽ trả. Hồi cô ở Baltimore cũng thế. Nếu cô học hành đúng chương trình theo dự tính cũng phải vài năm. Sau đó thì tính sau.

Ngày tôi đi học Tiểu học, từ nhà đến trường chừng mười phút đi bộ. Đến lớp ba, nhà cháy dọn về Tân Qui Đông, đi bộ chừng nửa tiếng. Lên Trung học đi bộ chừng một tiếng đồng hồ sau đó đi xe. Lên Đại học đạp xe đến trường chắc cũng chừng hơn nửa tiếng. Vẫn còn ở với má, tưởng chừng sẽ là con chim sắp già vẫn chưa có thể rời khỏi tổ để tự kiếm sống. Đùng một cái vù ra tận nước ngoài, vất vả với miếng cơm manh áo cho đến ngày hôm nay. Sinh cô lớn chưa đầy một tuổi, tôi để con ở lại nhà với bố, về VN thăm má tôi vì nghe bà bị bệnh nặng. Sau một tháng tôi về lại Hoa Kỳ. Bốn năm sau bà qua đời, cô út lúc ấy mới hai tuổi, tôi bận việc làm và nuôi con không về được. Lần về trước vì mẹ bỏ con. Khi mẹ mất, vì con bỏ mẹ. Đối đãi với mẹ và con đều không được trọn vẹn chu đáo.

Con tôi, ngày càng đi xa. Cuộc sống từ trước đến giờ may mắn có cha lẫn mẹ, tuy tôi không mấy chu đáo nhưng cả bố cô và tôi đều cố gắng làm cho sự chuyển tiếp của cô với cuộc kiếm sống cho dễ dàng hơn. Tôi lo lắng cho sự an toàn của cô nhiều hơn là sự thành công hay giàu nghèo.

Trên đường về, ông Tám lái xe một mạch mười bốn giờ từ Champaign về New Jersey, không ngủ đêm ở giữa chặng đường như chuyến đi. (Dĩ nhiên có ngừng nghỉ mỗi hai tiếng hay ba tiếng ở các trạm nghỉ hay vào trong phố ăn sáng ăn trưa.)  Suốt chặng đường về, tôi cứ bùi ngùi chảy nước mắt nghĩ đến má tôi và nghĩ đến con tôi. Những bạc bẽo tôi dành cho mẹ và những ân tình không trọn tôi đối với con.

Nora is well

Về đến nhà lật đật xem Nora có khỏe không vì trời nóng quá mà Nora bị nhốt trong nhà, tuy thức ăn và nước uống vẫn còn nhiều nhưng vắng người cả ba hôm rồi. Cô nàng vẫn khỏe, lẽo đẽo theo tôi suốt buổi tối. Tôi đi ngủ, cô nàng ngồi trước cửa phòng, kêu nhưng giọng khản không thành tiếng. Tôi ngồi viết thì nàng leo lên lòng ngồi. Con mèo này là tượng trưng cho hai cô con gái của tôi. Chúng gửi tình yêu vào con mèo, và tôi ôm con mèo như ôm tình yêu của con mình gửi gắm.

Tôi viết dông dài, nhưng thật ra vẫn chưa viết được chút xíu nào những điều tôi muốn viết. Nỗi lòng của người mẹ viết làm sao cho đủ.

Tối qua về gần đến nhà, cô em chồng biết đi xa chưa nấu ăn nên gọi qua nhà, ăn tối bún măng vịt rất ngon. Chúng tôi mang cả xương thịt vịt về cho Boyfriend nhưng khi về thì không thấy nó. Khi đi tôi lo ngại cho Boyfriend nhiều hơn Nora. Sáng nay, thấy chàng ta ngồi sẵn trên cái ghế ở sân sau chờ ăn. Khi tôi cho Boyfriend ăn thấy nó đi khập khễnh, chân trước bên trái bị đau. Có lẽ bị con thú nào đó cắn hay bị một nhà nào đó phang cho què chân khi nó đi tìm thức ăn.

Thoáng nhìn góc phố Tàu Toronto

Một vài tấm ảnh chụp ở Toronto. Ghé phố Tàu (Chinatown) đi tìm trái cây Việt. Sau đó đi thăm trung tâm du lịch ở Toronto, nơi có Aquarium và tháp CN.

Tháp CN viết tắt từ chữ Central National, tên của công ty hỏa xa Canada lúc mới thành lập. Để được đi xem tháp du khách phải trả tiền vé khoảng chừng ba mươi Canada dollars. Trên đỉnh tháp có trò chơi mạo hiểm. Khách được đeo dây nịt an toàn và đứng ở rìa mép của vành tháp.

Tháp cao hơn 533 mét. Hoàn tất năm 1976. Giữ chức vô địch chiều cao được ba mươi bốn năm. Biểu hiệu nổi tiếng nhất của Canada.

Một nét thú vị của Toronto Canada là bây giờ người ta vẫn còn giữ hệ thống điện thoại công cộng treo tường. Muốn dùng điện thoại mà không có điện thoại trong nhà hay điện thoại cầm tay, người ta có thể bỏ tiền vào máy và gọi đến số người mình muốn nói chuyện. Những điện thoại này đã hầu như hoàn toàn biến mất ở New Jersey.

Đêm Toronto

đêm Toronto

Dear Nora,

Tôi tự hỏi đêm nay Nora có ngồi ở ngay chân cầu thang kêu nghêu ngao trong bóng tối hay không. Có sợ hãi vì sao nhà vắng không người, không hơi ấm của cô chủ nhỏ, không có ai để Nora đánh thức lúc ba giờ, rồi bốn giờ như mỗi ngày vẫn làm.

Tôi thì ngồi  đây giữa khuya, trong một khách sạn giá bèo, ngộp ngụa giữa những mùi thơm rất nồng. Thứ mùi thơm được dùng để che dấu nhưng mùi ẩm mốc của không khí tù đọng trong một tòa nhà to lớn nhưng không bao giờ được mở cửa sổ cho không khí mới sạch bay vào.

Và tôi gõ mổ cò từng chữ vào tablet trong khi đứng trong phòng tắm để tránh phải mở đèn trong phòng. Ngoài kia là một góc nào đó của thành phố Toronto,  tối tăm, xe chạy trên đường phố tạo thành haicon rắn ngoằn ngoèo,  một đỏ và một trắng.

Tôi ra khỏi nhà lúc mới hơn  bảy giờ, thấy Nora nằm lim dim trên cái giường nhỏ dọn cho khách hôm nọ chưa dẹp, thức ăn và nước uống tôi để sẵn đủ ăn cho cả tuần, và tối nay với ngày mai cô chủ lớn sẽ về với Nora. Tôi biết Nora không ưa  bị xáo trộn cuộc sống,  và tôi cũng thế.

Nhưng bà đi chơi,  còn em ở nhà! Tôi biết Nora sẽ kêu lên như thế. Tôi chưa đi đâu cả. Lái xe dến Toronto thì đã sáu giờ. Nhận phòng xong chúng tôi đi ăn tối ở một quán nhỏ bình dân. Phở Con Bò. Về phòng uống chút wine, xong tôi đi ngủ. Như thường lệ thức giấc nửa đêm và nghĩ đến Nora đang ở nhà một mình.

Tôi hay mơ  về những chân trời xa lạ, nhưng không thích thức giấc nửa đêm nhìn ra ngoài cửa sổ tối đen ở một thành phố lạ và tôi phải đứng gõ mổ cò trong phòng tắm giữa những mùi sặc sụa của căn phòng rẻ nhất thành phố trong dịp này. Không,  tôi không phàn nàn, bởi vì đây là cái giá vừa túi tiền. Chỉ hy vọng là không đến nỗi sẽ mang rận rệp về nhà. Và như người ta thường  nói, của rẻ là của hôi.

Ngày mai, chỉ vài giờ đồng hồ nữa thôi.