Nữ quyền bảo vệ không gian cá nhân

Hoa chẳng liên hệ gì đến bài viết nhảm. Đăng lên cho có màu sắc dễ nhìn. Hoa chưng trên con đường hành lang nối giữa hai tòa nhà được thay đổi hàng tuần rất đẹp mắt.

Đặt cái tựa đề cho nổ nổ chứ thật ra chỉ là chuyện chen lấn dành chỗ trên xe lửa.

Chẳng hiểu từ đâu và từ bao giờ, đàn ông khi ngồi thì họ dạng chân, banh đầu gối như khoe của. Đàn bà ngồi thì tréo chân, hay khép đầu gối xuôi chân xéo xéo để dấu của. Ừa, thì đàn bà hay mặc váy phải che lại cho kín đáo. Nhưng mặc quần thì cũng chẳng dám ngồi kiểu tanh banh.

Thỉnh thoảng tôi thấy có một bài phóng sự  nói về ở những nơi công cộng như đi xe lửa, đi xe điện ngầm, chật chội, đàn ông ngồi ghế, chẳng những không nhường chỗ mà còn dành chỗ. Người Mỹ, nãy giờ tôi nói người Mỹ chứ không nói người Á châu, đàn ông, ngồi dạng chân banh chân chiếm chỗ lấn chỗ. Hễ nói thì mất lòng sinh ra cãi vã. Mà không nói thì bực bội ấm ức.

Mấy hôm nay đi chuyến xe lửa sau, ngồi chỗ khác tôi bị một thanh niên đến ngồi bên cạnh. Cậu không to béo, nhưng cũng thuộc loại cao lớn. Nhìn mặt cậu trẻ lắm chỉ trên hai mươi, cái tuổi của kiêu căng ngạo mạn nghĩ mình là thứ hạng nhất trên đời. Tôi ngồi bên trong cạnh cửa sổ, già cả, nhỏ bé. Cậu tấn bên ngoài ngồi dạng chân thật rộng chẳng kể gì khoảng không gian cá nhân của tôi. Mặt cậu vênh vênh váo váo. Tôi nép mãi vào bên trong, hầu như dán sát vào cửa sổ để tránh bị chạm vào người. Chỉ chờ một phép lạ là tôi sẽ biến thành ruồi muỗi đậu lên cửa sổ cho rộng chỗ. Tự nhủ là ngày mai sẽ đi chỗ khác ngồi.

Phụ nữ Mỹ họ để ý đến những chuyện như thế này. Khoảng không gian cá nhân, gọi là personal space, người lịch sự phải tôn trọng. Lấn khoảng không gian cá nhân, có thể bị xem là một hành động khiêu khích, tấn công. Người không quen nhau, thân nhau, không đụng chạm đến da thịt người khác, không vỗ vai sờ mó gì cả. Cô bạn làm việc chung với tôi bị bà boss sờ đầu nổi giận mà không dám sừng sộ cứ ấm ức mãi.

Lâu rồi, tôi có đọc đâu đó, trong một tờ báo lá cải, khuyến khích các nhà nữ quyền vùng dậy bảo vệ không gian cá nhân. Tác giả bài báo bảo rằng phụ nữ hay thu nhỏ mình để tránh đụng chạm, nên lúc nào cũng rúm ró, bị đè bẹp. Thí dụ như đi trên đường hẹp phụ nữ thường hay tránh né trước, nhường chỗ cho đàn ông nên lúc nào cũng có vẻ yếu thế, lép vế, thiếu bản lĩnh, thiếu quyền uy. Tác giả cổ vũ bảo vệ nữ quyền bằng cách cứ đi xông tới xông vào, để người ta tránh mình chứ mình đừng tránh người ta.

Lâu rồi, có một cô thư ký làm việc ở chỗ tôi. Cô khá cao lớn. Y phục của cô là kiểu áo rộng thùng thình của người Phi châu. Tóc của cô luôn luôn được gói kín trong cái khăn quàng đầu kiểu Phi châu (khác với kiểu người đạo Hồi) có buộc túm như cái nơ to trên đầu càng làm cô có vẻ cao hơn. Cô đi như gió bão. Tôi không biết đàn ông có tránh cô không chứ tôi thì luôn luôn tránh cho cô đi trước. Tôi không muốn và không dám tranh chấp với những thứ to lớn hơn tôi, và cũng vì tôi không dám tranh chấp quyền lực. Tôi thiếu bản lĩnh, uy quyền, cũng như sức mạnh.

Nhiều khi trên xe lửa, chen lấn chật chội, mỗi lần người soát vé xe lửa và một hành khách (bất kể nam hay nữ) không nhường nhau bị mắc kẹt giữa xe, chèn bởi hai hàng ghế đầy hành khách, tiến thoái lưỡng nan.

Tôi tự hỏi tại sao tôi khó chịu khi bị người ta chen lấn mình như thế. Tôi vùng vẫy trong cái không gian nhỏ hẹp như một con cá mắc cạn. Muốn làm nhà nữ quyền chen lấn nhưng nhát gan.

Hoa xuân

 

một góc của công viên
Enter a caption

vạt mai Mỹ ở đầu đường cao tốc
Enter a caption

hoa nút áo ở sát bờ tường nhà bên cạnh thư viện
Enter a caption

hoa nút áo
Enter a caption

ngồi trên xe lửa nhìn thấy hàng đào
Enter a caption

hàng đào trắng cạnh đường xe lửa
Enter a caption

đào trắng
Enter a caption

hoa chùm nho trước sân thư viện
Enter a caption

đào trắng bên cạnh hàng rào
Enter a caption

hàng đào ở đường xe lửa nhìn về hướng thành phố
Enter a caption

đào hồng còn phong nhụy
Enter a caption

Cụm đào trắng nở trên gốc cây gần với mặt đường
Enter a caption

cổng vào của một công viên nhỏ gần chỗ làm
Enter a caption

bồ công anh
Enter a caption

chim đậu ngọn đào
Enter a caption

Buổi sáng đi làm ngồi trên xe lửa tôi nhìn thấy một hàng đào nở hoa trắng xóa ven đường phố và sát với đường xe lửa. Giờ ăn trưa tôi đi bộ đến chỗ ấy, khá xa nhưng vốn đi rừng đã quen tôi có thể đi liên tiếp ít nhất là bốn giờ đồng hồ, nên không ngại. Cũng trên đường này có một công viên nhỏ xíu, tôi gọi là công viên bỏ túi, có hoa anh đào rũ bắt đầu chúm chím nở. Vội đi làm nên chỉ đăng ảnh xem chơi. Đang tập dùng một tính chất của máy điện thoại Samsung gọi là near focus. Có một hai tấm tạm tạm. Nói gì thì nói, cũng cần có ống kính macro mới chụp ảnh hoa cho vừa mắt.

Hôm qua

Tôi nhận ra tôi bị lãng tai từ lâu, nhưng hôm qua thì rõ ràng nhất. Nếu tôi bịt tai bên trái, tai bên mặt tôi chỉ nghe được chừng năm mươi phần trăm mức độ nghe bình thường. Đó là lạc quan. Nhìn thân thể mình mỗi ngày một hao mòn, càng làm tôi thấy quí trọng những điều bình thường của cuộc sống hơn. Cặp mắt còn nhìn thấy dù không tinh tường. Chân còn đi dù bước cũng có khi liêu xiêu. Hai ba tuần trời lạnh không đi bộ được thì cuối tuần cũng mong trời đừng mưa để có thể đi rừng. Tôi cần vận động, nhẹ nhàng thôi như đi bộ chừng vài tiếng đồng hồ, để thấy mình còn khỏe khoắn.

Tôi vẫn còn cặp mắt tò mò của trẻ nhỏ. Nhìn cái gì cũng thấy lạ, muốn ghi lại. Một đóa hoa rừng, một con chim đi lạc, v.v… Những cái tầm thường nhất của cuộc sống vẫn còn làm tôi ngạc nhiên, yêu thích.

cỏ rong
Cỏ rong bắt đầu mọc lại dưới hồ
đôi vợ chồng vịt còn sót lại
Đôi vợ chồng vịt còn sót ;ại
hoa dại mọc lên từ kẽ đá
Hoa mọc giữa kẽ đá
hoa súng (waterlily) bắt đầu mọc trở lại
Hoa súng bắt đầu mọc lại
rêu phủ đá dưới lòng suối
rêu đóng trên đá dưới lòng suối
một cây hoa trắng nở lẻ loi ở giữa rừng
một cây hoa trắng nở lẻ loi ở giữa rừng
một đóa hoa rừng
một đóa hoa rừng
một đoàn xe motocycle đi ngang
đoàn xe motocycle đi ngang cái trail
những loại cỏ rong dưới hồ bắt đầu sống lại
thủy thảo mọc lại sau mùa đông

Từ trái qua phải từ trên xuống dưới.

Thủy thảo, cỏ rong, sau mùa đông, nước ấm lại đã bắt đầu sống trở lại, hay thức giấc trở lại. Lâu ngày tôi đi rừng theo một lộ trình nhất định. Không đi hết cái trail như lúc trước, chỉ đi một phần, nghỉ những chỗ định trước và vừa sức. Lộ trình có đi ngang cái hồ (Lake Surprise). Nước hồ tùy lúc gặp mưa nước dâng cao, hôm qua nước cạn dù mấy hôm trước mưa liên tiếp mấy ngày nhưng mưa nhỏ thôi.

Lộ trình cũng đi dọc theo một con suối. Gặp mùa mưa, nước đục và chảy xiết. Hôm qua nước trong thấy đáy. Chỗ này ít khi thấy chim vịt nhưng hôm qua lại thấy một cặp vợ chồng vịt đầu xanh. Con trống có màu sắc, con mái màu nâu quê mùa dân dã :-).

Giữa những kẽ đá mọc lên những đóa hoa trắng nhỏ. Tôi trầm trồ, ngộ hen, giữa đất đá nảy lên đóa hoa. Ông Tám khịt mũi bảo rằng, hoa thì mọc lên từ dưới đất lạ gì mà lạ. Tôi nghĩ thầm, hoa mọc trên cây. Cây đủ năm đủ tháng, như một người lớn lên, đến mùa đến tuổi, viết ra được những bài thơ ấp ủ trong lòng, nở ra những đóa hoa từ tâm hồn. Còn giữa kẽ đá, không có chỗ cho cỏ mọc vậy mà nở ra được một đóa hoa. Với tôi, điều này thật là kỳ diệu.

Ở hồ, mùa hè nếu hồ đừng bị cạn nước đến mùa hoa súng nở đầy. Loại hoa súng này màu vàng trông giống như hoa cúc vậy. Hồ này thường là nơi trú ngụ cho chim vịt Canada, ngỗng v.v… Hôm qua chẳng thấy bóng chim vịt nào cả, chắc là chúng quay trở về quê hương để sinh nở.

Cây cối bắt đầu đâm chồi, thấy nhiều nơi lá bắt đầu xanh non, nhưng nhìn chung vẫn còn hiu quạnh trơ trụi lắm. Giữa rừng nở một cây hoa màu trắng. Làm tôi nhớ bài hát xa xưa nào đó. “Anh sẽ lên trên ngọn Hồng Lĩnh. Hái cho em một đóa hoa rừng. Thầm khắc tên em vào phiến đá rêu xanh. Và vây quanh bằng trái tim anh.” Đâu cần đi đâu cho xa, chỉ vào khu rừng này cũng hái được hoa, và thỉnh thoảng trên đường đi tôi thấy người ta khắc tên nhau lên vỏ cây, hoặc vẽ nhăng lên phiến đá chứ chưa thấy khắc tên vào đá.

Lại thêm một đóa hoa nhỏ nhoi nảy lên từ lớp đất ít oi trên đá. Tôi bỗng tưởng tượng một câu truyện. Một người lạc vào một khu rừng hoang mọc chi chít những đóa hoa nhỏ màu trắng vươn lên giữa những kẽ đá. Người hái một đóa, gói đem về, dọc đường hoa tỏa mùi hương thoang thoảng. Mười ngày sau vẫn còn tươi vẫn còn tỏa hương. Về sau gặp một thầy thuốc bảo rằng hoa này trị bách bệnh, chỉ cần một đóa hoa đủ tăng sức sống mười năm. Trăm năm nở một lần, chỉ một giờ. Người ấy trở lại khu rừng hoang, nhìn lại bãi đá, nghĩ đến cái duyên chỉ gặp một lần trong đời.

Thay vì đi theo cái trail quanh co trong rừng, tôi đi tắt cắt ngang một con đường tráng nhựa. Thấy một đoàn xe moto, ông Tám đếm mười bảy chiếc. Tôi lóng cóng chậm chạp chỉ chụp được ba chiếc sau cùng. Chập sau trở lại đường trail, gặp một cô gái xinh cỡi ngựa. Ảnh của cô làm đầy khung ảnh điện thoại của tôi thế mà tôi vụng về không chụp được, máy ảnh như đóng băng không bấm được. Chừng bấm được thì cô đã đi khuất. Không duyên.

Hai tấm ảnh chót thủy thảo dưới lòng hồ.

Ba truyện Giáng sinh hay

Giới thiệu ba truyện ngắn rất hay về Giáng sinh. Nguyễn thị Hải Hà dịch và giới thiệu. Phần giới thiệu này đã đăng trên Văn Chương Việt năm 2011.

Cả ba truyện ngắn, Giáng Sinh của Vladimir Nabokov, Hai Người Chưa Gặp của John McNulty, và Giáng Sinh ở Tokio đều được trích từ “Christmas at The New Yorker: stories, poems, humor, and art” xuất bản năm 2003. Nhiều truyện trong quyển này rất hay và của nhiều tác giả rất nổi tiếng như John Cheever, John Updike, Alice Munro, … . Continue reading Ba truyện Giáng sinh hay

Đi thăm con

Chị tôi ở Houston Texas lên thăm miền Đông Bắc Hoa Kỳ. Dùng chữ lên là vì trên bản đồ, tiểu bang của chị nằm mãi ở cuối xứ Hoa Kỳ rộng lớn. Sẵn chị lên chơi, tôi và ông Tám đưa chị đi thăm vài người thân. Bạn thân của chị ở Virginia, đến Virginia phải đi ngang Baltimore là nơi cô út của tôi đang ở, nên sẵn đó tôi đi thăm con. Thả chị xuống nhà bạn, chị ngủ đêm ở đó, tôi quay lại chỗ con tôi, ngủ đêm. Nhà bạn chị rất giàu, có phòng ngủ cho khách, một phòng cho chị, còn một phòng nữa cho chúng tôi. Phòng rộng, trang trí lộng lẫy, có bathroom riêng, thật là tiện nghi và thoải mái, nhưng tôi từ chối vì muốn đến thăm con gái út.

Trước đó đã điện thoại xin phép trước. Bố mẹ có thể ở qua một đêm với con không? Nó bằng lòng mới dám đến. Lại hối lộ trước là bố mẹ sẽ mang bánh mì và thức ăn cho con. Bạn của chị gửi cho bún bò. Bánh mì mua người ta làm sẵn ở chợ. Cũng như mấy đứa Tây, Mỹ trẻ, chúng nó thích ăn bánh mì, phở. Bún bò thì phải có cái khẩu vị Việt Nam hơn. Continue reading Đi thăm con

Bạn mới ở Paterson, New Jersey

Gặp người bạn mới
Người bạn này tôi gặp ở Paterson Great Falls. Paterson là một thành phố nhỏ phía Bắc của New Jersey. Hôm nọ tôi vớ phải cuốn những vùng đất cổ và di tích lịch sử của NJ thấy có nhắc đến tên Paterson. Hoa Kỳ là một quốc gia mới so với toàn thế giới, vì thế di tích lịch sử thì cũng chỉ một hai trăm năm thôi. Vậy chứ di tích lịch sử của Paterson cũng xuống dốc điêu tàn lắm. Vừa đến nơi, chưa xem gì thì gặp người bạn mới này. Hắn nhìn thấy tôi từ xa đã đứng lên, chắp hai tay lại vái lia lịa, miệng sủa gâu gâu. Hắn là tài sản của một phụ nữ Mỹ, họ đi một nhóm bốn người đang ngồi ăn trưa ở công viên. Hắn thân thiện lắm nên cho phép tôi vuốt đầu, hôn tay tôi lia lịa làm như tôi đã quen với hắn từ quá khứ. Continue reading Bạn mới ở Paterson, New Jersey

Bắt trẻ đồng xanh

Salinger

Tác giả: Đặng Đình Túy

Khiêu vũ, ngày trước, là một phương tiện hợp pháp cho phép nam nữ gần gũi nhau mà không cần dài dòng.  Nó giúp bạn khỏi tán tỉnh nếu bạn tán tỉnh dở, — tệ hơn, nếu bạn không thổ ra được câu nào khả dĩ thuận tai người đẹp. Nó giúp bạn sau nốt nhạc chót, tìm cách kéo người bên cạnh ra khỏi đám đông, mà khỏi chống chế rằng: trời! khói thuốc khiến tôi muốn nghẹt thở luôn. Em có khó chịu không hay chỉ vì tôi có hai lá phổi yếu? (đồng thời giả vờ ho lên sặc sụa…) Người con gái một khi đã định đi “nhảy đầm” ít có định kiến hơn khi, thí dụ,  nàng tung tăng bát phố. Có nghĩa là cũng chính nàng nhưng tâm tính thay đổi chút ít khi lọt vào khung cảnh của đèn mầu, nhạc và rượu. Continue reading Bắt trẻ đồng xanh

Tam thập dư niên hậu

Tác giả: Đặng Đình Túy

                                                            Ta cũng nòi tình thương người đồng điệu
(Chu Mạnh Trinh)

Ở đất Tề, đời Thiệu đế có gã nhạc sĩ hát không hay và đàn không giỏi. Bọn hạ nhân lúc đầu nghe đến tên chàng đều bỉu môi chê bai: “Lũ chúng ta chưa bao giờ biết một nhạc sĩ mà giọng hát như nước lỗ cống chảy và tiếng đàn thì như cát vãi vào bãi sậy. Ở đời sao lại có những anh bất tài đến vậy mà dám lớn lối tự cho mình là bậc tài tử?” Lời dèm xiểm có khi đến tai, nhạc sĩ chỉ quay mặt giả vờ không nghe thấy. Nhưng có lần một kẻ kia, áo khăn coi ra cũng chững chạc tìm đến vái chào và xin nhạc sĩ tấu cho nghe vài bản mà người cho là đắc ý nhất. Thấy kẻ lạ, lại nhận thấy dáng vóc cũng ra chiều nho nhã, nhạc sĩ bất đắc dĩ mời vào, dạy tiểu đồng pha trà ngon, dâng mỹ tửu, đốt trầm thơm, đoạn mở hòm lấy cây hồ cầm bằng gỗ quí đã mấy đời truyền lại tự nhiều tay danh cầm nghìn năm trước.  Continue reading Tam thập dư niên hậu

Vĩnh Long và Hà Nội trong hồi tưởng của Marguerite Duras

Vĩnh Long 
Người dịch: Bà Tám
Trích từ tác phẩm Practicalities của Marguerite Duras

Có Vĩnh Long, và còn có Hà Nội. Tôi đã nói về Vĩnh Long, nhưng chưa hề nói đến Hà Nội. Như tôi đã nói trước đây, Vĩnh Long là một vùng biên giới hẻo lánh của vùng Đông Nam Á. Bạn đã ở ngay trên Tràm Chim, một cánh đồng có nhiều sông ngòi dẫn nước lớn nhất thế giới, theo ý tôi. Continue reading Vĩnh Long và Hà Nội trong hồi tưởng của Marguerite Duras

Mơ Cùng Tôi Giấc Mơ Đà Lạt – Phạm Cao Hoàng

1

2

Nhận được quyển Truyện và Tạp Bút “Mơ Cùng Tôi Giấc Mơ Đà Lạt” của tác giả Phạm Cao Hoàng từ tuần trước nhưng vì chưa đọc xong nên tôi chờ đến hôm nay.

Quyển sách in bằng giấy láng, tuyệt đẹp, làm tôi đọc nhưng không dám mạnh tay sợ mất đẹp. Ông có ký tặng nét chữ rất đẹp. Đây là “cuốn sách ghi lại những kỷ niệm vui buồn của một đoạn đời bốn mươi năm.” Continue reading Mơ Cùng Tôi Giấc Mơ Đà Lạt – Phạm Cao Hoàng

Nhật Ký Lassie – Phần 5

Tác giả: Đặng Đình Túy

Hôm trước bàn về chuyện bản năng mà quên ghi môt sự việc thế này. Vì chuyện sưu tầm phụ hệ trong điều kiện và hoàn cảnh mình là điều bất khả nên khó mà giải thích được hết mọi hành động gọi là thiên tính. Cũng như mọi người, mình không được mẹ dạy bảo nên không biết phát triển những năng khiếu riêng. Đôi khi, đột nhiên, “năng khiếu” ấy được phục sinh ngang xương. Nó xúi mình hành động theo sự chỉ dẫn của nó. Mình như kẻ mù, không hiểu tại sao phải hành động như vậy, chỉ biết là có một thôi thúc máy móc nào đó từ trong mình mà ra. Và mình băn khoăn. Những lúc như vậy mới cảm thấy một nỗi bơ vơ vì không tự giải thích được. Giá có mẹ một bên để vặn hỏi nhỉ. Nhưng nói nhiều thì chỉ tổ bị người khinh thôi, họ sẽ bảo mi là chó thì biết cái quái gì mà lý với sự! Continue reading Nhật Ký Lassie – Phần 5

Nhật Ký Lassie – Phần 4

Tác giả: Đặng Đình Túy

(Ông chủ viết thay cho Lassie một lần)

Hồi thanh xuân tôi tin rằng tới độ tuổi nào đó thì con người sẽ không cần tình yêu nữa. Sai lầm có nhiều nguyên nhân. Với tuổi trẻ tình yêu có nghĩa nhất thiết là tình trai gái. Rất mạnh mẽ. Rất mê đắm. Cường độ cao đến nỗi những thứ tình khác không thể nào sánh kịp. Nó ám ảnh ta từng giờ từng phút, nó còn cao hơn, vút hơn nữa, khi có tình dục chen vào. Không phải tuổi trẻ không có tình gia đình, anh em, bè bạn; cũng có đủ nhưng vì tình yêu thần thánh quá, cao ngất quá nên át mất hấp lực của những thứ tình kia. Chỉ khi nào thất bại rồi thì lúc ấy ta mới chịu đi cầu cứu những thứ tình khác: một người bạn để tâm sự, một cuốn sách hoặc bản nhạc nhằm tự ru ngủ, cây đàn bỏ đóng bụi giờ lôi ra khua vài ngón, nghêu ngao dăm câu, tỉ tê với cô em gái hay bà chị để được vỗ về… Tuổi trẻ vốn rất “đoảng”, dễ quên, dễ qua sông bỏ đò; bà chị, cô em, người bạn chỉ là phương tiện xong rồi thì quên quách đi cho nhẹ. Continue reading Nhật Ký Lassie – Phần 4

Đi dạo với con chó

Tác giả: Đặng đình-Túy

Mỗi sáng trở dậy ông mở hết các cánh cửa vì mùa này là mùa hè, mùa hè như lạc quan, như ánh sáng, như vội vàng sợ mất của anh chàng thi sĩ mơ mộng ngày xưa : Tôi muốn tắt nắng đi cho mầu đừng nhạt mất/Tôi muốn buộc gió lại cho hương đừng bay đi. Vì nhà thơ sống miền nhiệt đới nên sợ phai sợ nhạt ; còn ông ở xứ mù và lạnh nên chỉ mong được thắp mãi sáng trời. Việc mở cửa dù đơn giản nhưng đối với ông vẫn đòi hỏi một thứ tự nhất định : phải mở các cánh cửa về hướng đông trước để ánh sáng tràn nhà. Và lạc quan cũng sẽ đi vào bằng lối cửa ấy. Sau đó thì ông ra vườn, ngồi với các luống hoa. Ông không làm gì nhiều cho chúng nhưng việc nhổ vài cộng cỏ dại, ngắt đi những cành hoa héo, vun lại khoanh đất chung quanh gốc cũng đủ làm cho cây hoa sáng sủa hơn. Con chó nhỏ theo sát chân ông. Nó không biết mệt dù ông lẩn thẩn đi ra lại đi vào. Định cho giòng nước chảy vào các luống hoa, ông chợt nhớ ra là chưa làm một việc gì cần trước đã ; ông tất tả đi vào, con chó theo vào ; chợt nghe tiếng bà gọi ông đi ra, nó lại theo ra. Chỉ đến khi ông ở yên một chỗ với một công việc gì đó thì nó yên tâm mon men đến nằm cạnh. Continue reading Đi dạo với con chó

Nói lại cho rõ

ao dai

o_dai_2

Tác giả: Đặng Đình Túy

Truyện  hát cô đầu đăng trên Blog Chuyện Bâng Quơ tôi viết khoảng sáu bảy năm rồi. Lúc ấy thấy có hứng thì cứ tưởng tượng mà viết không suy nghĩ, tìm kiếm, vì vậy có nhiều chi tiết sai lầm. Khi viết xong có người chỉ cho thấy những chỗ hỏng ấy nhưng vẫn để vậy không muốn sửa. Vả lại nghĩ rằng đã là chuyện tưởng tượng thì hơi sức đâu mà viết cho đúng; ăn thua là có cơ hội đưa ra vài ý nghĩ, vài cảm xúc, tuy nội dung chẳng ăn nhằm gì tới mình nhưng khi thấy có  dịp nhét vào đôi ý tưởng riêng tư thế là khoái rồi. Trong trường hợp này, viết coi như giải thoát nên cái tôi trở thành chính mà những điều khác chỉ là phụ như một nhà văn ngoại quốc đã từng bảo truyện chỉ là cái đinh để ta máng bức tranh ta lên, thế thôi.

Rồi cũng nhờ Bà Tám lấy một bức ảnh đâu đó dùng làm minh họa đã nhắc tôi nhiều điều. Ngắm bức ảnh, tôi tự hỏi không biết được chụp vào thời gian nào, đầu thế kỷ XX chăng? Rõ ràng là những chiếc áo trong ảnh không phải là áo tứ thân, vậy suy ra phải xuất hiện sau năm 1933 năm họa sĩ Nguyễn Cát Tường tốt nghiệp mỹ thuật, vì  sự nghiệp ông dính liền với chiếc áo dài của phụ nữ Việt. Khi viết truyện, trong tiềm thức tôi cũng đặt vào thời đại đó vì đã từng đọc Tản Đà, Nguyễn Tuân hai danh sĩ thường hay nói đến thú tiêu khiển của các nghệ sĩ phóng dật lúc bấy giờ, vậy mà tôi cho nhân vật diện áo tứ thân!  So với thời điểm mà tôi tưởng tượng thì lúc này đào Huệ phải mặc áo Le Mur mới đúng.

Nhưng trước hết phải nói về chiếc áo dài thời ấy: áo Le Mur là áo gì? Họa sĩ Nguyễn Cát Tường tốt nghiệp trường cao đẳng mỹ thuật Hà Nội, là người được coi là cha đẻ của chiếc áo dài mà phụ nữ Việt-Nam đã và đang mặc kể từ khoảng đầu thế kỷ XX. Theo những điều mà chúng ta thường nghe và đọc được từ trước đến nay là như thế, nghĩa là trước thì phụ nữ ta mặc áo tứ thân, tức hai tà áo trước và sau đều bị xẻ đôi (thân sau  có nối giữa –không hiểu tại sao phải mất công xẻ ra rồi nối lại? còn hai vạt trước thì khi mặc vào xong người ta sẽ thắt chúng lại với nhau ngang bụng –riêng khâu này thì duyên dáng, đỏng đảnh đấy), sau này cải tiến, chiếc áo có hai thân liền, và xẻ giữa ngang từ hông trở xuống. Đại loại là như thế vì những cải cách sau này chỉ là những cải cách nhỏ so với nét chính thí dụ về chiều dài của hai tà áo, về cách thực hiện sao để hai tào áo ôm được thân thể người mặc một cách sít sao (thêm mấy cái chít vào chỗ eo), hài hòa, về các kiểu cổ áo, về cách ráp tay (gọi là raglan chẳng hạn, ráp hai tay cắt xéo vào vai mục đích tránh nhăn nơi nách), về màu sắc…

Nhưng mới đây, bà Nguyễn thị Chân Quỳnh có cho đăng một bài nghiên cứu chứng minh cho thấy là  trước khi có cải cách của họa sĩ Nguyễn Cát Tường, chiếc áo dài  đã từng chịu đổi thay. Kèm với tài liệu viết còn có những tấm ảnh chụp chua ngày tháng rõ ràng chứng tỏ cho lập luận của tác giả. Kết luận là chiếc áo tứ thân thực ra đã từng  được cải biến trước thời Nguyễn Cát Tường khá lâu. (Điều này lại khiến ta quay lại với bức ảnh mà tôi thắc mắc trên kia, và chính vì vậy kiểu áo trong hình không chứng minh được gì cho thời điểm sử dụng nó).  Tuy nhiên chẳng nhằm “cất công” họa sĩ Cát Tường, nghĩa là ta vẫn nên xem ông là người có công cải cách trang phục nhưng không thể nói ông là người đầu tiên, thế thôi. Gì chứ về mặt y phục, hình thức luôn luôn thay đổi; có khi ta gọi là mới nhưng kỳ thực chính là một mẫu cũ nào đó được mang ra khai thác lại. Căn bản trong chiếc áo dài là thân hai vạt, xẻ hai bên hông, vào khoảng từ bụng trở xuống và đòi hỏi một phụ tùng thiết thân là chiếc quần dài để trở thành một “bộ”. Hai cánh tay và cổ áo là những thành phần chịu nhiều sửa đổi hơn; ngày nay có người đã mạnh dạn “xúp” luôn tay chắc vì cho rằng cánh tay trần  là phần thân thể đẹp nhất và khêu gợi nhất của phụ nữ nên cần phô ra hơn là dấu đi. Cổ áo cũng vậy. Có một thời, chiếc cổ áo được nâng cao tối đa đến nổi người mặc cảm thấy khó khăn trong một số động tác liên hệ. Chiếc cổ tuy không có được địa vị của cánh tay vừa gợi tình vừa gợi dục một cách… hợp pháp (!) tuy nhiên che kín quá cũng là chuyện bất công (mãng trắng sau gáy với món tóc quăn lơ thơ cũng có thể gây “lắm chuyện” đối với kẻ thưởng lãm chứ); sau này thì bà mệnh phụ Ngô đình đã táo bạo cắt hết phần đó biến chiếc cổ thành cổ thuyền, trạt ra đến tận vai.

Không biết tôi có nói đi nói lại đâu đó không chứ câu chuyện do nghệ sĩ Trần văn Trạch kể thì thật thú vị nên nếu có nói nhiều lần thì cũng xin bạn đọc bỏ qua. Hơn nữa không phải tôi kể, mà là ông í – Trần văn Trạch– kể rằng có lần đoàn văn nghệ của VNCH sang Hong Kong biểu diễn, anh quản trò (giờ ta gọi là MC) ra trước nói mấy lời giới thiệu với bàn dân xứ nẫu đã ranh mảnh mách họ thế này: “Bà con sẽ được xem những tiết mục hấp dẫn của đoàn văn nghệ từ Sài gòn tới nhưng cái hấp dẫn hơn cả là phái nữ họ mặc áo dài cũng từa tựa như phụ nữ ta mặc chiếc sườn sám nhưng chỗ xẻ thì cao hơn nhiều. Áo phụ nữ ta chỉ xẻ đến ngang gối còn áo của họ thì xẻ ngang hông lận!”.  Anh chàng láu cá muốn gợi tò mò các đấng mày râu Hong Kong đã không nói rõ là phụ nữ ta có mặc quần trong khi phụ nữ Tàu chỉ mặc đồ lót bên trong thôi. Phần khán giả do vậy tha hồ tưởng tượng: chiếc sườn sám chỉ để hở có bắp chân mà đã làm điên đảo  thiên hạ huống chi chiếc áo dài xẻ đến tận hai bên hông thì sẽ để lộ ra bao nhiêu hàng hóa đây? Lổn ngổn lảng ngảng chứ ít sao! Mặc sức mà ngắm!

Những cuộc điều tra mới đây cho thấy là chiếc áo dài hiện nay bên nhà rất ít được mặc. Lý do nêu ra nghe cũng hợp lý rằng nó thiếu gọn gàng vì vai trò xã hội của phụ nữ Việt càng lúc càng quan trọng, rằng mặc áo dài lạnh lắm (cũng đúng nữa, thí dụ đối với phụ nữ ở miền ngoài); chỉ tiếc cái là nó đẹp quá và rất hợp với mẫu người phụ nữ ta. Không lẽ chỉ dùng khi đến thánh đường hoặc nhà chùa thôi ? Tôi lại thắc mắc : trước 1975 người miền nam luôn luôn khoác áo dài mà lúc đó họ cũng đã xông xáo lắm trong vai trò xã hội : luật sư, dân biểu, y sĩ, viết văn, làm báo, thậm chí lái xe, quét đường, gánh hàng rong, vũ nữ, lái moto bay… Tất nhiên là nếu trong hoạt động nghề nghiệp, có khi họ đòi hỏi phải cất chiếc áo dài vào tủ nhưng sau buổi làm ai cấm họ vào buồng thay và trở lại tha thướt như những cánh bướm trên đường phố cho dù khi “Sài gòn phóng solex như bay” như cô học trò của Nguyên Sa ?

Té ra là tôi còn nhiều chuyện để nói về áo dài. Thôi đế lần sau vậy.

Quê Hương Mỗi Người Chỉ Một

1

Sài Gòn, phóng Solex rất nhanh.

2

Đồ gốm nung, ở một hè phố Hội An, những món quà nhỏ bé được du khách mua về làm quà.

3

Một chiếc cầu tre lắc lẻo gập ghềnh, cảnh trong vườn của một nhà hàng trên một hòn đảo nhỏ ở Bến Tre.

Quê hương mỗi người chỉ một. Đó là một câu trong bài hát lần đầu tiên tôi được nghe khi tôi về VN thăm má tôi năm 1991. Bài hát được trình bày qua giọng thổ trầm của một ca sĩ người Huế, Bảo Yến. Tôi nghe bài hát này thấy xao xuyến quá nên bài hát trở lại trong óc tôi nhiều lần. Sau đó tôi được biết đó là bài thơ của Đỗ Trung Quân được Giáp Văn Thạch phổ nhạc. (Thấy trên internet nói là Giáp văn Thạch nếu có sai xin bạn đọc chỉ giùm.) Đỗ Trung Quân là nhà thơ rất được yêu mến. Ngay từ những ngày hòa bình tôi đã được đọc bài thơ nói về cô thanh niên xung phong của ông rất cảm động. Bài thơ có những câu như Cô ấy ngã mấy lần tôi đếm được. Mà sao không khóc mới lạ lùng. Lúc ấy tôi ngỡ ông là nhà thơ ngoài Bắc vào Nam vì thơ của ông rất thích hợp với cuộc đời vừa đổi mới.

Quê hương là gì hở mẹ? Mà cô giáo dạy phải yêu. Quê hương là gì hở mẹ? Ai đi xa cũng nhớ nhiều.

Bài hát, ngay lúc ấy, làm tôi cảm động. Không biết có phải vì tôi đang ở trong tâm trạng lạc lõng xa nhà, hay vì cái giọng Huế áo não của cô ca sĩ “quê hượng ai mạ không nhợ” mà tôi đâm ra rưng rưng. Tôi đang ở cạnh má tôi, trong căn nhà tôi lớn lên, nhưng tôi rất buồn vì nhớ đứa con gái đầu lòng chưa đầy tuổi tôi để ở lại Mỹ với bố nó. Tôi phải tức tốc về thăm má tôi vì chị tôi bảo bà cụ đang ốm nặng sợ không qua khỏi. Rồi thì tôi ở cạnh mẹ tôi, trong căn nhà, trong thành phố mà tôi được sinh ra, rồi lớn lên, mà tâm hồn thì đang nhớ về gia đình nhỏ bé của riêng tôi bên kia bờ đại dương. Đó là một miền đất xa lạ tôi sống ở đó được mười năm. Tôi chẳng nhớ nhà nhớ vườn con đường bến xe ở đấy như nhớ quê hương, tôi chỉ nhớ người thân. Ở đây thì nhớ đó. Ở đó thì nhớ đây. Vậy thì đây hay đó là quê hương? Và quê hương là gì?

Quê hương là gì hở mẹ? Quê là quê quán, nơi người ta được sinh ra đời và lớn lên ở đó. Thế còn hương? Trong bài thơ Hoàng Hạc Lâu, Thôi Hiệu viết nhật mộ hương quan hà xứ thị ông Tản Đà đã dịch ra quê hương khuất bóng hoàng hôn. Có phải hương cũng là quê quán? Quyển Hán Việt Từ Điển của ông Đào Duy Anh giải thích hương là làng, là nhà quê.

Má tôi sinh ra ở Cái Bè, Mỹ Tho, lưu lạc lên Sài Gòn kiếm sống, thỉnh thoảng về quê thăm người thân. Vậy thì Cái Bè là quê hương của má tôi, nhưng nó lại không phải là quê hương của tôi. Tôi được sinh ra ở Sài Gòn, trong nhà thương Từ Dũ, quận nhì. Nhà tôi ở là nhà của chị tôi, ở khu Vĩnh hội, cạnh chùa Giác Nguyên gần cây cầu ông Lãnh nước đen ngòm. Khu ấy bây giờ bị giải tỏa, chùa Giác Nguyên vẫn còn, nhưng căn nhà của chị đã bị san bằng má tôi và chị tôi cũng đã qua đời. Những người con của chị tôi dọn đi chỗ khác. Nếu định nghĩa quê hương là một nơi chốn cụ thể, nơi mình sinh ra và lớn lên, thì quê hương của tôi đã không còn. Tôi không còn một quê hương để trở về.

Mà cô giáo dạy phải yêu. Tôi đang ở cái tuổi mà chuyện gì tôi cũng mang ra để mổ xẻ và suy nghĩ. Tình yêu, lòng yêu thương, có thể dạy cho người khác được không? Có lần tôi xem phim Aladin và cây đèn thần, Aladin cọ vào cây đèn và ông thần hiện ra cho Aladin ba điều ước. Thần có thể mang giàu sang, biến Aladin thành hoàng tử nhưng thần nói rõ là thần không thể bắt người này fall in love với người kia. Không ai có thể bắt người khác yêu mình, mình chỉ có thể cố gắng dễ yêu để được yêu. Có phải chăng lời dạy phải yêu quê hương là một điều khó có thể thực hiện?

Ai đi xa cũng nhớ nhiều. Khi thuyền tôi ra đến hải phận quốc tế có người kêu lên ra hải phận quốc tế thế là thoát rồi. Tôi không nghĩ đến căn nhà hay khu phố mà tôi nghĩ đến má tôi và ứa nước mắt. Thế là đã nghìn trùng xa cách. Thế là đi mà không hẹn trở về. Trong ba mươi năm ở nước ngoài, tôi nhớ má tôi, tôi nhớ cánh đồng cỏ và con sông ở Tân Quí Đông nơi tôi ở một thời gian, ít khi tôi thèm nhớ món ăn ngay cả trái cây ngon như sầu riêng mảng cầu măng cụt, nhưng lại nhớ rất nhiều những bài hát, những câu ca dao. Tôi nhớ những người bạn học và những kỷ niệm nho nhỏ lúc đi học, nhưng tôi không nhớ ngôi trường.

Tôi không nghĩ những kỷ niệm tôi hồi tưởng là quê hương. Quê hương, nó là một khái niệm mù mờ hình như tôi chưa bao giờ thật sự suy nghĩ về cái khái niệm này cho tường tận. Có một lần tôi đi từ Sài gòn ra Tuy Hòa chơi. Đi ngang cánh đồng khô khan tôi thấy có một đóa hoa màu đỏ nở trong nắng nóng rực. Hình ảnh ấy theo đuổi tôi mấy mươi năm nay. Tôi vẫn còn nhớ cái đẹp của màu hoa trong không khí khô hạn ấy. Tôi nhớ biển Tuy hòa sóng thật to bờ đá thật cao chớn chở. Tuy Hòa không phải là quê tôi, nó chỉ là nơi tôi đi ngang một lần và chưa có dịp trở lại. Tôi vẫn nhớ đến vùng đất Tuy Hòa nhưng đó không phải là quê hương tôi theo định nghĩa quê hương là nơi người ta sinh ra lớn lên.

Ấy, xin bạn đừng vội mắng tôi là kẻ phụ bạc vong tình. Ra xứ ngoài ăn bơ sữa rồi quên quê hương. Thật ra bây giờ có đủ ăn đủ mặc tôi mới ngồi nghĩ lẩm cẩm về quê hương, chứ những ngày đầu nghèo khổ vất vả tôi chỉ lo cái ăn cái mặc, không có thì giờ để ngủ đừng nói gì nghĩ đến quê hương, một điều rất ư là trừu tượng.

Quê hương mỗi người chỉ một. Như là chỉ một mẹ thôi. Quê hương ai mà không nhớ. Sẽ không lớn nổi thành người. Bây giờ nghe đến câu hát này thì tôi giật mình. Tôi là một trong những người không thể lớn, không thể thành người vì tôi không còn quê hương để nhớ. Tính ra, thời gian tôi ở nước ngoài đã dài hơn thời gian tôi ở Việt Nam. Nhà tôi ở bên này, chồng con tôi ở bên này, tôi không sinh ra ở đây nhưng tôi lớn lên ở đây. Lạ một điều gần ba mươi năm ở Mỹ tôi vẫn không nói tiếng Mỹ trúng giọng như tôi nói tiếng Việt dù tôi bắt gặp mình suy nghĩ bằng tiếng Mỹ và trong giấc mơ tôi thường nói tiếng Mỹ nhiều hơn tiếng Việt.

Aristophanes nói rằng “A man’s homeland is wherever he prospers” tôi xin tạm dịch là quê hương là nơi người ta phát triển về cả tinh thần và vật chất. Đất nước này nuôi tôi, cho ăn, cho đi học. Người xứ này không chắc đã yêu thương tôi chan chứa tràn trề như anh em ruột thịt nhưng từ trước đến giờ cũng chẳng đuổi xua. Đất này lành, còn tôi là loài chim tha phương cầu thực. Như loài chim chỗ nào có thức ăn không ai làm hại mình thì nhận chỗ ấy làm quê hương? Người ta đôi khi có hai bà mẹ. Một mẹ sinh ra mình nhưng vì lý do nào đó không thể nuôi. Và có bà mẹ tuy không đẻ ra mình nhưng nuôi cho nên người. Với những người như tôi, bỏ cha mẹ, bỏ quê quán ra đi tìm chỗ sống đôi khi thấy lạc lõng bàng hoàng. Quê quán nơi mình sinh ra không còn. Nhà cửa nơi mình lớn lên không còn. Tất cả chỉ còn là một quá khứ với dăm ba kỷ niệm trong trí nhớ thì đó có phải là quê hương không? Tôi không còn nghĩ đến Việt Nam như một chỗ để về dù tôi rất muốn được đi thăm như thăm một thắng cảnh trên thế giới. Năm mười năm về thăm cái quốc gia, nơi đó có cái thành phố trong đó có cái căn nhà mình đã ở nhưng bị san bằng giải tỏa rồi. Lưu lại trong cái quốc gia ấy vài ba tuần thì đó có thể gọi là quê hương không? Hay có phải, quê hương là nơi tôi hình thành cái ký ức về nơi ăn chốn ở và người thân. Và nhiều năm sau, nếu có lúc  tôi quyết định về sống ở Việt Nam vì khí hậu thích hợp và giá cả vật chất hợp với túi tiền, và khi ấy tôi ngồi nhớ lại nơi tôi đang sống bây giờ, nơi tôi đã hình thành cái ký ức về nơi chốn tôi sống mấy mươi năm, nơi tôi hằng ngày sử dụng một ngôn ngữ tôi không bao giờ quán triệt, và gọi nơi này là quê hương?

Chú thích: Tấm ảnh đầu là chôm đâu đó trên mạng. Hai tấm sau là của tôi chụp.

Mèo khóc

Một hôm con bé mang về hai con mèo.  Nếu so hai con mèo này với người ta thì chúng không phải trẻ sơ sinh mà đâu chừng hai ba tuổi gì đó.  Đứa bé trai, Lyle, lông vàng sọc nâu như con cọp con.  Và cô bé gái, Nora, là một con mèo tam thể.  Mặt nó mới nhìn thấy hai màu đen trắng, giống như một nhân vật trong tuồng hát bội, nhưng xinh xắn dễ thương hơn.  Phòng của con bé đã giống cái chuồng heo lắm.  Nhưng là cái chuồng heo không hôi thối trái lại thơm nồng nực các mùi dầu thơm và kem dưỡng da.  Từ lúc có hai con mèo cái chuồng heo này thật sự có mùi cứt mèo.  Ở đây mèo đi ị vào một cái chậu to có chứa cát sỏi hạt nhuyễn có mùi thơm.  Chủ nhân chỉ việc lấy xuổng nhỏ xúc phân cho vào bao rồi đem đổ rác.  Tuy thế tôi vẫn không chịu được mùi hôi này.  Tôi có cái mũi rất nhạy, có lẽ kiếp trước tôi là chó, vì thế mùi thơm hay mùi hôi dường như tăng cường độ tra tấn tôi.  Con bé ra lệnh cửa phòng của nó phải luôn luôn đóng kín, phải mở quạt, cho hai đứa bé Lyle và Nora được thoải mái tiện nghi.  Và tôi phải lái xe đi mua thức ăn mèo, mua tô chén đựng thức ăn nước uống cho mèo.

Tôi được bảo cho biết.  Hai con mèo là của bạn trai của nó.  Anh bạn trai này, phải dọn nhà vì hết hợp đồng thuê nhà.  Chỗ ở mới không cho nuôi mèo.  Tôi phản đối không chịu đeo thêm công việc nên con bé hứa là sẽ mang Lyle đến Peters Valley chỗ nó học nung đồ gốm và cho ông chủ lò gốm để bắt chuột trong lò gốm.  Còn  Nora sẽ được gửi cho mẹ của một đứa bạn học khác.  Nghe nói thế tôi yên lòng.  Hai ba ngày nay tôi chơi với Lyle và Nora.  Đứa bé gái biết tên của nó nên khi nghe gọi tên nó chạy ngay đến.  Và nó rất thích chụp mái tóc dài của tôi.  Y như một đứa bé vậy.

Sáng nay tôi chở con bé đến Peters Valley.  Nó cho Lyle vào lồng xách đi.  Khi Lyle ở ngoài cửa phòng, Nora quanh quẩn ló mũi dưới khe cửa phòng của con bé.  Tôi nghĩ đến hai câu thơ.  Em ngồi trong song cửa.  Anh đứng dựa tường hoa.  Rồi tôi tự nạt nộ tôi.  Rõ lẩn thẩn.  Hai đứa tụi nó là anh em, hay chị em.  Không phải tình nhân.  Ơ mèo chó đâu có biết gì về liên hệ huyết thống.  Liên hệ của chúng là liên hệ của đực và cái.  Lái xe đi một khoảng đường Lyle kêu khóc não nuột.  Tôi ứa nước mắt.  Tôi đã không nghĩ đến chuyện mình phải nghe tiếng khóc của con mèo.  Lòng tôi đau, lén lau nước mắt vì sợ bị cười là đa cảm.

Cô bé ở lại Peters Valley.  Nó nói là sẽ có giang bạn và về sau.  Tôi ghé nhà người quen dự buổi tiệc.  Nghe người bạn khoe chuyện con cái thành tài, ăn uống, nói cười vài giờ đồng hồ quên hẳn nỗi buồn mấy con mèo.  Tôi lái xe về nhà và nghe tiếng khóc não nuột của Nora.  Lần này tôi khóc nức lên như con nít.  

Chắc là nỗi nhớ của mèo sẽ mau nguôi ngoai.  Chỉ sợ cho loài người, như tôi, không phải lúc nào cũng dễ quên.  Mèo ơi, tao cứ tưởng trái tim tao không còn chỗ.