Đi dạo với con chó

Tác giả: Đặng đình-Túy

Mỗi sáng trở dậy ông mở hết các cánh cửa vì mùa này là mùa hè, mùa hè như lạc quan, như ánh sáng, như vội vàng sợ mất của anh chàng thi sĩ mơ mộng ngày xưa : Tôi muốn tắt nắng đi cho mầu đừng nhạt mất/Tôi muốn buộc gió lại cho hương đừng bay đi. Vì nhà thơ sống miền nhiệt đới nên sợ phai sợ nhạt ; còn ông ở xứ mù và lạnh nên chỉ mong được thắp mãi sáng trời. Việc mở cửa dù đơn giản nhưng đối với ông vẫn đòi hỏi một thứ tự nhất định : phải mở các cánh cửa về hướng đông trước để ánh sáng tràn nhà. Và lạc quan cũng sẽ đi vào bằng lối cửa ấy. Sau đó thì ông ra vườn, ngồi với các luống hoa. Ông không làm gì nhiều cho chúng nhưng việc nhổ vài cộng cỏ dại, ngắt đi những cành hoa héo, vun lại khoanh đất chung quanh gốc cũng đủ làm cho cây hoa sáng sủa hơn. Con chó nhỏ theo sát chân ông. Nó không biết mệt dù ông lẩn thẩn đi ra lại đi vào. Định cho giòng nước chảy vào các luống hoa, ông chợt nhớ ra là chưa làm một việc gì cần trước đã ; ông tất tả đi vào, con chó theo vào ; chợt nghe tiếng bà gọi ông đi ra, nó lại theo ra. Chỉ đến khi ông ở yên một chỗ với một công việc gì đó thì nó yên tâm mon men đến nằm cạnh. Continue reading Đi dạo với con chó

Nói lại cho rõ

ao dai

o_dai_2

Tác giả: Đặng Đình Túy

Truyện  hát cô đầu đăng trên Blog Chuyện Bâng Quơ tôi viết khoảng sáu bảy năm rồi. Lúc ấy thấy có hứng thì cứ tưởng tượng mà viết không suy nghĩ, tìm kiếm, vì vậy có nhiều chi tiết sai lầm. Khi viết xong có người chỉ cho thấy những chỗ hỏng ấy nhưng vẫn để vậy không muốn sửa. Vả lại nghĩ rằng đã là chuyện tưởng tượng thì hơi sức đâu mà viết cho đúng; ăn thua là có cơ hội đưa ra vài ý nghĩ, vài cảm xúc, tuy nội dung chẳng ăn nhằm gì tới mình nhưng khi thấy có  dịp nhét vào đôi ý tưởng riêng tư thế là khoái rồi. Trong trường hợp này, viết coi như giải thoát nên cái tôi trở thành chính mà những điều khác chỉ là phụ như một nhà văn ngoại quốc đã từng bảo truyện chỉ là cái đinh để ta máng bức tranh ta lên, thế thôi.

Rồi cũng nhờ Bà Tám lấy một bức ảnh đâu đó dùng làm minh họa đã nhắc tôi nhiều điều. Ngắm bức ảnh, tôi tự hỏi không biết được chụp vào thời gian nào, đầu thế kỷ XX chăng? Rõ ràng là những chiếc áo trong ảnh không phải là áo tứ thân, vậy suy ra phải xuất hiện sau năm 1933 năm họa sĩ Nguyễn Cát Tường tốt nghiệp mỹ thuật, vì  sự nghiệp ông dính liền với chiếc áo dài của phụ nữ Việt. Khi viết truyện, trong tiềm thức tôi cũng đặt vào thời đại đó vì đã từng đọc Tản Đà, Nguyễn Tuân hai danh sĩ thường hay nói đến thú tiêu khiển của các nghệ sĩ phóng dật lúc bấy giờ, vậy mà tôi cho nhân vật diện áo tứ thân!  So với thời điểm mà tôi tưởng tượng thì lúc này đào Huệ phải mặc áo Le Mur mới đúng.

Nhưng trước hết phải nói về chiếc áo dài thời ấy: áo Le Mur là áo gì? Họa sĩ Nguyễn Cát Tường tốt nghiệp trường cao đẳng mỹ thuật Hà Nội, là người được coi là cha đẻ của chiếc áo dài mà phụ nữ Việt-Nam đã và đang mặc kể từ khoảng đầu thế kỷ XX. Theo những điều mà chúng ta thường nghe và đọc được từ trước đến nay là như thế, nghĩa là trước thì phụ nữ ta mặc áo tứ thân, tức hai tà áo trước và sau đều bị xẻ đôi (thân sau  có nối giữa –không hiểu tại sao phải mất công xẻ ra rồi nối lại? còn hai vạt trước thì khi mặc vào xong người ta sẽ thắt chúng lại với nhau ngang bụng –riêng khâu này thì duyên dáng, đỏng đảnh đấy), sau này cải tiến, chiếc áo có hai thân liền, và xẻ giữa ngang từ hông trở xuống. Đại loại là như thế vì những cải cách sau này chỉ là những cải cách nhỏ so với nét chính thí dụ về chiều dài của hai tà áo, về cách thực hiện sao để hai tào áo ôm được thân thể người mặc một cách sít sao (thêm mấy cái chít vào chỗ eo), hài hòa, về các kiểu cổ áo, về cách ráp tay (gọi là raglan chẳng hạn, ráp hai tay cắt xéo vào vai mục đích tránh nhăn nơi nách), về màu sắc…

Nhưng mới đây, bà Nguyễn thị Chân Quỳnh có cho đăng một bài nghiên cứu chứng minh cho thấy là  trước khi có cải cách của họa sĩ Nguyễn Cát Tường, chiếc áo dài  đã từng chịu đổi thay. Kèm với tài liệu viết còn có những tấm ảnh chụp chua ngày tháng rõ ràng chứng tỏ cho lập luận của tác giả. Kết luận là chiếc áo tứ thân thực ra đã từng  được cải biến trước thời Nguyễn Cát Tường khá lâu. (Điều này lại khiến ta quay lại với bức ảnh mà tôi thắc mắc trên kia, và chính vì vậy kiểu áo trong hình không chứng minh được gì cho thời điểm sử dụng nó).  Tuy nhiên chẳng nhằm “cất công” họa sĩ Cát Tường, nghĩa là ta vẫn nên xem ông là người có công cải cách trang phục nhưng không thể nói ông là người đầu tiên, thế thôi. Gì chứ về mặt y phục, hình thức luôn luôn thay đổi; có khi ta gọi là mới nhưng kỳ thực chính là một mẫu cũ nào đó được mang ra khai thác lại. Căn bản trong chiếc áo dài là thân hai vạt, xẻ hai bên hông, vào khoảng từ bụng trở xuống và đòi hỏi một phụ tùng thiết thân là chiếc quần dài để trở thành một “bộ”. Hai cánh tay và cổ áo là những thành phần chịu nhiều sửa đổi hơn; ngày nay có người đã mạnh dạn “xúp” luôn tay chắc vì cho rằng cánh tay trần  là phần thân thể đẹp nhất và khêu gợi nhất của phụ nữ nên cần phô ra hơn là dấu đi. Cổ áo cũng vậy. Có một thời, chiếc cổ áo được nâng cao tối đa đến nổi người mặc cảm thấy khó khăn trong một số động tác liên hệ. Chiếc cổ tuy không có được địa vị của cánh tay vừa gợi tình vừa gợi dục một cách… hợp pháp (!) tuy nhiên che kín quá cũng là chuyện bất công (mãng trắng sau gáy với món tóc quăn lơ thơ cũng có thể gây “lắm chuyện” đối với kẻ thưởng lãm chứ); sau này thì bà mệnh phụ Ngô đình đã táo bạo cắt hết phần đó biến chiếc cổ thành cổ thuyền, trạt ra đến tận vai.

Không biết tôi có nói đi nói lại đâu đó không chứ câu chuyện do nghệ sĩ Trần văn Trạch kể thì thật thú vị nên nếu có nói nhiều lần thì cũng xin bạn đọc bỏ qua. Hơn nữa không phải tôi kể, mà là ông í – Trần văn Trạch– kể rằng có lần đoàn văn nghệ của VNCH sang Hong Kong biểu diễn, anh quản trò (giờ ta gọi là MC) ra trước nói mấy lời giới thiệu với bàn dân xứ nẫu đã ranh mảnh mách họ thế này: “Bà con sẽ được xem những tiết mục hấp dẫn của đoàn văn nghệ từ Sài gòn tới nhưng cái hấp dẫn hơn cả là phái nữ họ mặc áo dài cũng từa tựa như phụ nữ ta mặc chiếc sườn sám nhưng chỗ xẻ thì cao hơn nhiều. Áo phụ nữ ta chỉ xẻ đến ngang gối còn áo của họ thì xẻ ngang hông lận!”.  Anh chàng láu cá muốn gợi tò mò các đấng mày râu Hong Kong đã không nói rõ là phụ nữ ta có mặc quần trong khi phụ nữ Tàu chỉ mặc đồ lót bên trong thôi. Phần khán giả do vậy tha hồ tưởng tượng: chiếc sườn sám chỉ để hở có bắp chân mà đã làm điên đảo  thiên hạ huống chi chiếc áo dài xẻ đến tận hai bên hông thì sẽ để lộ ra bao nhiêu hàng hóa đây? Lổn ngổn lảng ngảng chứ ít sao! Mặc sức mà ngắm!

Những cuộc điều tra mới đây cho thấy là chiếc áo dài hiện nay bên nhà rất ít được mặc. Lý do nêu ra nghe cũng hợp lý rằng nó thiếu gọn gàng vì vai trò xã hội của phụ nữ Việt càng lúc càng quan trọng, rằng mặc áo dài lạnh lắm (cũng đúng nữa, thí dụ đối với phụ nữ ở miền ngoài); chỉ tiếc cái là nó đẹp quá và rất hợp với mẫu người phụ nữ ta. Không lẽ chỉ dùng khi đến thánh đường hoặc nhà chùa thôi ? Tôi lại thắc mắc : trước 1975 người miền nam luôn luôn khoác áo dài mà lúc đó họ cũng đã xông xáo lắm trong vai trò xã hội : luật sư, dân biểu, y sĩ, viết văn, làm báo, thậm chí lái xe, quét đường, gánh hàng rong, vũ nữ, lái moto bay… Tất nhiên là nếu trong hoạt động nghề nghiệp, có khi họ đòi hỏi phải cất chiếc áo dài vào tủ nhưng sau buổi làm ai cấm họ vào buồng thay và trở lại tha thướt như những cánh bướm trên đường phố cho dù khi “Sài gòn phóng solex như bay” như cô học trò của Nguyên Sa ?

Té ra là tôi còn nhiều chuyện để nói về áo dài. Thôi đế lần sau vậy.

Quê Hương Mỗi Người Chỉ Một

1

Sài Gòn, phóng Solex rất nhanh.

2

Đồ gốm nung, ở một hè phố Hội An, những món quà nhỏ bé được du khách mua về làm quà.

3

Một chiếc cầu tre lắc lẻo gập ghềnh, cảnh trong vườn của một nhà hàng trên một hòn đảo nhỏ ở Bến Tre.

Quê hương mỗi người chỉ một. Đó là một câu trong bài hát lần đầu tiên tôi được nghe khi tôi về VN thăm má tôi năm 1991. Bài hát được trình bày qua giọng thổ trầm của một ca sĩ người Huế, Bảo Yến. Tôi nghe bài hát này thấy xao xuyến quá nên bài hát trở lại trong óc tôi nhiều lần. Sau đó tôi được biết đó là bài thơ của Đỗ Trung Quân được Giáp Văn Thạch phổ nhạc. (Thấy trên internet nói là Giáp văn Thạch nếu có sai xin bạn đọc chỉ giùm.) Đỗ Trung Quân là nhà thơ rất được yêu mến. Ngay từ những ngày hòa bình tôi đã được đọc bài thơ nói về cô thanh niên xung phong của ông rất cảm động. Bài thơ có những câu như Cô ấy ngã mấy lần tôi đếm được. Mà sao không khóc mới lạ lùng. Lúc ấy tôi ngỡ ông là nhà thơ ngoài Bắc vào Nam vì thơ của ông rất thích hợp với cuộc đời vừa đổi mới.

Quê hương là gì hở mẹ? Mà cô giáo dạy phải yêu. Quê hương là gì hở mẹ? Ai đi xa cũng nhớ nhiều.

Bài hát, ngay lúc ấy, làm tôi cảm động. Không biết có phải vì tôi đang ở trong tâm trạng lạc lõng xa nhà, hay vì cái giọng Huế áo não của cô ca sĩ “quê hượng ai mạ không nhợ” mà tôi đâm ra rưng rưng. Tôi đang ở cạnh má tôi, trong căn nhà tôi lớn lên, nhưng tôi rất buồn vì nhớ đứa con gái đầu lòng chưa đầy tuổi tôi để ở lại Mỹ với bố nó. Tôi phải tức tốc về thăm má tôi vì chị tôi bảo bà cụ đang ốm nặng sợ không qua khỏi. Rồi thì tôi ở cạnh mẹ tôi, trong căn nhà, trong thành phố mà tôi được sinh ra, rồi lớn lên, mà tâm hồn thì đang nhớ về gia đình nhỏ bé của riêng tôi bên kia bờ đại dương. Đó là một miền đất xa lạ tôi sống ở đó được mười năm. Tôi chẳng nhớ nhà nhớ vườn con đường bến xe ở đấy như nhớ quê hương, tôi chỉ nhớ người thân. Ở đây thì nhớ đó. Ở đó thì nhớ đây. Vậy thì đây hay đó là quê hương? Và quê hương là gì?

Quê hương là gì hở mẹ? Quê là quê quán, nơi người ta được sinh ra đời và lớn lên ở đó. Thế còn hương? Trong bài thơ Hoàng Hạc Lâu, Thôi Hiệu viết nhật mộ hương quan hà xứ thị ông Tản Đà đã dịch ra quê hương khuất bóng hoàng hôn. Có phải hương cũng là quê quán? Quyển Hán Việt Từ Điển của ông Đào Duy Anh giải thích hương là làng, là nhà quê.

Má tôi sinh ra ở Cái Bè, Mỹ Tho, lưu lạc lên Sài Gòn kiếm sống, thỉnh thoảng về quê thăm người thân. Vậy thì Cái Bè là quê hương của má tôi, nhưng nó lại không phải là quê hương của tôi. Tôi được sinh ra ở Sài Gòn, trong nhà thương Từ Dũ, quận nhì. Nhà tôi ở là nhà của chị tôi, ở khu Vĩnh hội, cạnh chùa Giác Nguyên gần cây cầu ông Lãnh nước đen ngòm. Khu ấy bây giờ bị giải tỏa, chùa Giác Nguyên vẫn còn, nhưng căn nhà của chị đã bị san bằng má tôi và chị tôi cũng đã qua đời. Những người con của chị tôi dọn đi chỗ khác. Nếu định nghĩa quê hương là một nơi chốn cụ thể, nơi mình sinh ra và lớn lên, thì quê hương của tôi đã không còn. Tôi không còn một quê hương để trở về.

Mà cô giáo dạy phải yêu. Tôi đang ở cái tuổi mà chuyện gì tôi cũng mang ra để mổ xẻ và suy nghĩ. Tình yêu, lòng yêu thương, có thể dạy cho người khác được không? Có lần tôi xem phim Aladin và cây đèn thần, Aladin cọ vào cây đèn và ông thần hiện ra cho Aladin ba điều ước. Thần có thể mang giàu sang, biến Aladin thành hoàng tử nhưng thần nói rõ là thần không thể bắt người này fall in love với người kia. Không ai có thể bắt người khác yêu mình, mình chỉ có thể cố gắng dễ yêu để được yêu. Có phải chăng lời dạy phải yêu quê hương là một điều khó có thể thực hiện?

Ai đi xa cũng nhớ nhiều. Khi thuyền tôi ra đến hải phận quốc tế có người kêu lên ra hải phận quốc tế thế là thoát rồi. Tôi không nghĩ đến căn nhà hay khu phố mà tôi nghĩ đến má tôi và ứa nước mắt. Thế là đã nghìn trùng xa cách. Thế là đi mà không hẹn trở về. Trong ba mươi năm ở nước ngoài, tôi nhớ má tôi, tôi nhớ cánh đồng cỏ và con sông ở Tân Quí Đông nơi tôi ở một thời gian, ít khi tôi thèm nhớ món ăn ngay cả trái cây ngon như sầu riêng mảng cầu măng cụt, nhưng lại nhớ rất nhiều những bài hát, những câu ca dao. Tôi nhớ những người bạn học và những kỷ niệm nho nhỏ lúc đi học, nhưng tôi không nhớ ngôi trường.

Tôi không nghĩ những kỷ niệm tôi hồi tưởng là quê hương. Quê hương, nó là một khái niệm mù mờ hình như tôi chưa bao giờ thật sự suy nghĩ về cái khái niệm này cho tường tận. Có một lần tôi đi từ Sài gòn ra Tuy Hòa chơi. Đi ngang cánh đồng khô khan tôi thấy có một đóa hoa màu đỏ nở trong nắng nóng rực. Hình ảnh ấy theo đuổi tôi mấy mươi năm nay. Tôi vẫn còn nhớ cái đẹp của màu hoa trong không khí khô hạn ấy. Tôi nhớ biển Tuy hòa sóng thật to bờ đá thật cao chớn chở. Tuy Hòa không phải là quê tôi, nó chỉ là nơi tôi đi ngang một lần và chưa có dịp trở lại. Tôi vẫn nhớ đến vùng đất Tuy Hòa nhưng đó không phải là quê hương tôi theo định nghĩa quê hương là nơi người ta sinh ra lớn lên.

Ấy, xin bạn đừng vội mắng tôi là kẻ phụ bạc vong tình. Ra xứ ngoài ăn bơ sữa rồi quên quê hương. Thật ra bây giờ có đủ ăn đủ mặc tôi mới ngồi nghĩ lẩm cẩm về quê hương, chứ những ngày đầu nghèo khổ vất vả tôi chỉ lo cái ăn cái mặc, không có thì giờ để ngủ đừng nói gì nghĩ đến quê hương, một điều rất ư là trừu tượng.

Quê hương mỗi người chỉ một. Như là chỉ một mẹ thôi. Quê hương ai mà không nhớ. Sẽ không lớn nổi thành người. Bây giờ nghe đến câu hát này thì tôi giật mình. Tôi là một trong những người không thể lớn, không thể thành người vì tôi không còn quê hương để nhớ. Tính ra, thời gian tôi ở nước ngoài đã dài hơn thời gian tôi ở Việt Nam. Nhà tôi ở bên này, chồng con tôi ở bên này, tôi không sinh ra ở đây nhưng tôi lớn lên ở đây. Lạ một điều gần ba mươi năm ở Mỹ tôi vẫn không nói tiếng Mỹ trúng giọng như tôi nói tiếng Việt dù tôi bắt gặp mình suy nghĩ bằng tiếng Mỹ và trong giấc mơ tôi thường nói tiếng Mỹ nhiều hơn tiếng Việt.

Aristophanes nói rằng “A man’s homeland is wherever he prospers” tôi xin tạm dịch là quê hương là nơi người ta phát triển về cả tinh thần và vật chất. Đất nước này nuôi tôi, cho ăn, cho đi học. Người xứ này không chắc đã yêu thương tôi chan chứa tràn trề như anh em ruột thịt nhưng từ trước đến giờ cũng chẳng đuổi xua. Đất này lành, còn tôi là loài chim tha phương cầu thực. Như loài chim chỗ nào có thức ăn không ai làm hại mình thì nhận chỗ ấy làm quê hương? Người ta đôi khi có hai bà mẹ. Một mẹ sinh ra mình nhưng vì lý do nào đó không thể nuôi. Và có bà mẹ tuy không đẻ ra mình nhưng nuôi cho nên người. Với những người như tôi, bỏ cha mẹ, bỏ quê quán ra đi tìm chỗ sống đôi khi thấy lạc lõng bàng hoàng. Quê quán nơi mình sinh ra không còn. Nhà cửa nơi mình lớn lên không còn. Tất cả chỉ còn là một quá khứ với dăm ba kỷ niệm trong trí nhớ thì đó có phải là quê hương không? Tôi không còn nghĩ đến Việt Nam như một chỗ để về dù tôi rất muốn được đi thăm như thăm một thắng cảnh trên thế giới. Năm mười năm về thăm cái quốc gia, nơi đó có cái thành phố trong đó có cái căn nhà mình đã ở nhưng bị san bằng giải tỏa rồi. Lưu lại trong cái quốc gia ấy vài ba tuần thì đó có thể gọi là quê hương không? Hay có phải, quê hương là nơi tôi hình thành cái ký ức về nơi ăn chốn ở và người thân. Và nhiều năm sau, nếu có lúc  tôi quyết định về sống ở Việt Nam vì khí hậu thích hợp và giá cả vật chất hợp với túi tiền, và khi ấy tôi ngồi nhớ lại nơi tôi đang sống bây giờ, nơi tôi đã hình thành cái ký ức về nơi chốn tôi sống mấy mươi năm, nơi tôi hằng ngày sử dụng một ngôn ngữ tôi không bao giờ quán triệt, và gọi nơi này là quê hương?

Chú thích: Tấm ảnh đầu là chôm đâu đó trên mạng. Hai tấm sau là của tôi chụp.

Mèo khóc

Một hôm con bé mang về hai con mèo.  Nếu so hai con mèo này với người ta thì chúng không phải trẻ sơ sinh mà đâu chừng hai ba tuổi gì đó.  Đứa bé trai, Lyle, lông vàng sọc nâu như con cọp con.  Và cô bé gái, Nora, là một con mèo tam thể.  Mặt nó mới nhìn thấy hai màu đen trắng, giống như một nhân vật trong tuồng hát bội, nhưng xinh xắn dễ thương hơn.  Phòng của con bé đã giống cái chuồng heo lắm.  Nhưng là cái chuồng heo không hôi thối trái lại thơm nồng nực các mùi dầu thơm và kem dưỡng da.  Từ lúc có hai con mèo cái chuồng heo này thật sự có mùi cứt mèo.  Ở đây mèo đi ị vào một cái chậu to có chứa cát sỏi hạt nhuyễn có mùi thơm.  Chủ nhân chỉ việc lấy xuổng nhỏ xúc phân cho vào bao rồi đem đổ rác.  Tuy thế tôi vẫn không chịu được mùi hôi này.  Tôi có cái mũi rất nhạy, có lẽ kiếp trước tôi là chó, vì thế mùi thơm hay mùi hôi dường như tăng cường độ tra tấn tôi.  Con bé ra lệnh cửa phòng của nó phải luôn luôn đóng kín, phải mở quạt, cho hai đứa bé Lyle và Nora được thoải mái tiện nghi.  Và tôi phải lái xe đi mua thức ăn mèo, mua tô chén đựng thức ăn nước uống cho mèo.

Tôi được bảo cho biết.  Hai con mèo là của bạn trai của nó.  Anh bạn trai này, phải dọn nhà vì hết hợp đồng thuê nhà.  Chỗ ở mới không cho nuôi mèo.  Tôi phản đối không chịu đeo thêm công việc nên con bé hứa là sẽ mang Lyle đến Peters Valley chỗ nó học nung đồ gốm và cho ông chủ lò gốm để bắt chuột trong lò gốm.  Còn  Nora sẽ được gửi cho mẹ của một đứa bạn học khác.  Nghe nói thế tôi yên lòng.  Hai ba ngày nay tôi chơi với Lyle và Nora.  Đứa bé gái biết tên của nó nên khi nghe gọi tên nó chạy ngay đến.  Và nó rất thích chụp mái tóc dài của tôi.  Y như một đứa bé vậy.

Sáng nay tôi chở con bé đến Peters Valley.  Nó cho Lyle vào lồng xách đi.  Khi Lyle ở ngoài cửa phòng, Nora quanh quẩn ló mũi dưới khe cửa phòng của con bé.  Tôi nghĩ đến hai câu thơ.  Em ngồi trong song cửa.  Anh đứng dựa tường hoa.  Rồi tôi tự nạt nộ tôi.  Rõ lẩn thẩn.  Hai đứa tụi nó là anh em, hay chị em.  Không phải tình nhân.  Ơ mèo chó đâu có biết gì về liên hệ huyết thống.  Liên hệ của chúng là liên hệ của đực và cái.  Lái xe đi một khoảng đường Lyle kêu khóc não nuột.  Tôi ứa nước mắt.  Tôi đã không nghĩ đến chuyện mình phải nghe tiếng khóc của con mèo.  Lòng tôi đau, lén lau nước mắt vì sợ bị cười là đa cảm.

Cô bé ở lại Peters Valley.  Nó nói là sẽ có giang bạn và về sau.  Tôi ghé nhà người quen dự buổi tiệc.  Nghe người bạn khoe chuyện con cái thành tài, ăn uống, nói cười vài giờ đồng hồ quên hẳn nỗi buồn mấy con mèo.  Tôi lái xe về nhà và nghe tiếng khóc não nuột của Nora.  Lần này tôi khóc nức lên như con nít.  

Chắc là nỗi nhớ của mèo sẽ mau nguôi ngoai.  Chỉ sợ cho loài người, như tôi, không phải lúc nào cũng dễ quên.  Mèo ơi, tao cứ tưởng trái tim tao không còn chỗ.