Jazz trong phim ảnh 1

Hôm qua tuyên bố sẽ viết về Jazz trong văn học và phim ảnh. Sáng nay tự hỏi mình biết gì về chủ đề này mà tuyên bố như vậy. O Gió chắc biết tật của tôi. Để bắt buộc mình tập trung về một chủ đề nào đó, tôi thường tuyên bố trước, rồi bắt mình phải giữ lời hứa. Cũng có một đôi lần thất hứa, nhưng thường hễ đã hứa thì tôi cố gắng làm với tất cả những giới hạn và khiếm khuyết của mình.

Hôm qua tôi nói nhạc Jazz phát xuất từ người da đen nghèo, nhạc của họ buồn. Sáng nay nói thêm. Nhạc jazz ban đầu phát xuất từ miền Bắc châu Phi Congo và Savannah khu vực lòng chảo của rừng nhiệt đới. Nhạc cụ là những khúc gỗ được biến thành trống. Người Bắc Phi đã từng xâm lấn Spain và từ đó mang tiếng kèn (rồi sau nữa là guitar, dương cầm và vĩ cầm) vào nhạc jazz. Nhạc jazz ở Hoa Kỳ (nhạc jazz có khắp nơi trên thế giới, đặc biệt lớn mạnh ở Pháp) biến chuyển theo thời gian, từ ban nhạc nhà nghèo với vài ba cây kèn và guitar, đến giàn nhạc đại hòa tấu, vài chục cây kèn, dương cầm vĩ cầm, có nhạc sĩ biểu diễn solo, vào những đại hí viện. Tôi không muốn gọi đây là nhạc sang trọng nhưng rõ ràng là muốn thưởng thức thì phải có tiền nhiều. Tôi vẫn tin (đầy vẻ ngây thơ ngớ ngẩn) là, người biểu diễn, người nghe, và nơi biểu diễn, có thể nghèo nàn hay giàu có nhưng tự âm nhạc thì không dành riêng cho ai cả. Âm nhạc giàu có ở âm thanh và giai điệu và miễn là đừng điếc thì ai cũng có thể nghe và thưởng thức nó với chính cảm quan của mình. (Ngay cả điếc như Beethoven mà còn viết được bản dương cầm bất hủ For Elise). Nhạc jazz có khi chậm buồn có khi nhanh vui (swing) có khi ồn ào cuồng loạn (rock’ n ‘ roll). Mình thích hay không thích một giai điệu có thể bắt nguồn từ tâm thức, kinh nghiệm, hay thói quen, nhiều hơn là vì kinh tế.

Khi nghĩ đến jazz trong phim ảnh, tôi không nhớ ra phim nào ngay lập tức, ngoại trừ The Great Gatsby. F. Scott Fitzgerald là nhà văn của thời kỳ nhạc jazz hưng thịnh, do đó có lẽ nhạc jazz sẽ xuất hiện tràn đầy trong phim. Tôi xem lại phim này, mới làm năm 2013 của đạo diễn Baz Luhrmann. Thú thật khi xem phim này lần đầu tôi đã có chút thất vọng. Tôi thích cái hào nhoáng giàu có, thích màu sắc của thời trang, thích cái mới mẻ của phim nhưng tôi cũng chính những khía cạnh này mà tôi không thích phim The Great Gatsby của Luhrmann. Phải công nhận, khó mà làm vừa lòng khán giả xem phim này, bởi vì họ đã được xem quá nhiều phim bản (1926, 1949, 1955, 1974, 1999 opera, 2000 phim truyền hình) cũng như đã đọc quyển tiểu thuyết này từ năm xửa năm xưa. Xem lại phim này với ý định tìm hiểu nhạc jazz trong phim, cốt truyện xảy ra năm 1922, quyển tiểu thuyết được xuất bản năm 1925, thế nhạc jazz trong phim có thể hiện nhạc jazz của thời đại ấy không? Tôi thất vọng thêm lần nữa. Luhrmann đưa hip hop, rap vào phim, đây có thể là biến thể của jazz nhưng vài chục năm sau. Tôi sẽ tìm xem những phim bản trước đó và sẽ trở lại với bài blog này. Tôi đã xem phim năm 1974 Robert Redford đóng, nhưng không còn nhớ chi tiết đặc biệt là soundtrack của phim.

Thôi để hôm khác viết tiếp. Đang viết ngon trớn nhưng tôi phải chuẩn bị đi làm.

Nhạc Jazz là gì?

Mấy năm trước, tôi đăng bản nhạc hòa tấu cổ điển, một bạn đọc đi ngang, đã lên tiếng. Theo ý bạn loại nhạc này sang trọng, là nhạc nhà giàu, thời thượng. Bạn ấy chỉ nghe và thích nhạc cổ điển dân tộc Việt Nam, những điệu hò, điệu lý, đàn bầu, đàn tranh. Tôi cũng thích nhạc này nhưng không luôn tìm được để nghe.

Là một người khá nhạy cảm, hay quan sát nội tâm, tôi tự hỏi có phải mình nghe bằng chính cái thành kiến của mình không. Tôi có cảm tưởng bạn nghĩ tôi là người vọng ngoại, tôn thờ văn hóa nước ngoài, chỉ là một thứ học làm sang.

Mới đây khi tôi kể chuyện đi xem nhạc jazz, có bạn cho rằng cần phải có chút tinh tế và nghệ sĩ tính để thưởng thức nhạc jazz. Tôi lại cẩn thận nhắc mình, đừng nghe bằng thành kiến của mình. Tôi không (luôn luôn) vọng ngoại, không học làm sang, không (tuyệt đối) tôn thờ văn hóa nước ngoài. Tôi đang từng ngày và từng bước, tìm hiểu cuộc sống chung quanh mình, mở cửa tâm hồn để tiếp nhận văn học nghệ thuật nơi tôi đang sống. Mấy mươi năm quanh quẩn với cơm áo gạo tiền, bây giờ tôi mới có dịp để ý đến nền văn hóa hiện diện chung quanh tôi.

Jazz có phải là loại nhạc dành cho những người giàu có sang trọng, hay đặc biệt chỉ dành cho những nhà nghệ sĩ tinh túy không? Tôi muốn kêu to rằng, không! Nhạc jazz phát xuất từ người Mỹ gốc châu Phi làm sao là nhạc nhà giàu cho được.

Người châu Phi, bị bắt sang châu Âu và châu Mỹ làm nô lệ, đời sống của họ đầy những bất hạnh, nghèo khó, đau khổ, và tối tăm. Nhạc của họ là những bài hát nói về những cuộc tình tan vỡ, bội bạc, và họ nhận chìm đau thương trong men rượu. Nhạc cụ của họ thường chỉ có một cây đàn guitar hay một cái kèn đồng. Ngay cả sau khi bãi bỏ chế độ nô lệ cuộc sống của những người nghệ sĩ da đen vẫn nghèo khó rày đây mai đó, từ hộp đêm này sang hộp đêm khác. Dăm ba người nghệ sĩ, vài ba cây kèn đồng, giàn trống về sau họ có thêm piano gia nhập. Nhạc jazz làm tôi nghĩ ngay đến những quán rượu về đêm, khói thuốc mù mịt, tiếng kèn khàn khàn, giọng ca sĩ nhừa nhựa mụ mị. Đó là những hình ảnh tôi nhìn thấy trong phim chứ nhạc jazz trong phòng trà hộp đêm có từ thời tôi chưa ra đời và từ khi sống ở Hoa Kỳ tôi chưa hề biết cái hộp đêm nó ra làm sao. Tôi đoán bạn cũng như tôi, nhiều khi nghe nhạc jazz mà không biết đó là nhạc jazz.

Nhạc jazz là gì? Tôi nghĩ nghe một bản nhạc tôi có thể nói một cách do dự, bản này, cách trình tấu này nghe giống như nhạc jazz. Tôi không chắc là nếu bạn cho tôi nghe một bản nhạc lạ, tôi có thể nhận ra đó có phải là nhạc jazz hay không. Nhận biết một bản nhạc jazz, với tôi không dễ, nhưng vẫn dễ dàng hơn định nghĩa nhạc jazz. Ngay cả đối với những người chuyên nghiệp, định nghĩa nhạc jazz là gì, không phải dễ dàng.

Để tìm hiểu nhạc jazz tôi tham khảo quyển “Why Jazz? – A Concise Guide” của Kevin Whitehead. Đây là một quyển sách mỏng, dễ hiểu, bởi vì tác giả không viết theo lối hàn lâm. Ông đặt ra những câu hỏi ngắn, và câu trả lời cũng ngắn gọn, đơn giản, để thỏa mãn tò mò của độc giả (không chuyên về nhạc) như tôi. Sau đây là phần tôi trích dịch trong quyển sách. Tuy ông viết rất dễ hiểu, nhưng tôi thấy khó dịch, vì tôi không có đủ từ Việt về âm nhạc. Tôi chỉ dịch theo cách tôi hiểu, và dịch thoáng, thêm chữ hay bớt chữ để câu văn viết dễ đọc và xuôi tai.

Trang 5. Jazz là gì?

Jazz có nhiều loại, nhịp điệu khác nhau, nên khó có một định nghĩa đơn giản để mọi người đều đồng ý. Người sành điệu có thể không chấp nhận một số nhạc sĩ, bảo rằng những người này không phải là nhạc sĩ jazz vì loại nhạc họ trình diễn không phải là nhạc jazz. Tuy nhiên để bắt đầu cuộc tìm hiểu chúng ta có thể tạm chấp nhận rằng: jazz là một loại nhạc có nhịp điệu trái ngược nhau, chú trọng việc phô trương kỹ thuật trình diễn cá nhân, thường là do sự tự cải biến trong lúc trình diễn. Jazz là một hỗn hợp gồm nhiều khía cạnh của nhạc dân ca và nhạc hòa tấu nghệ thuật. Đặc tính (cái hay cái đẹp) của jazz là bộc lộ rõ rệt cá tính của người Mỹ da đen, bất kỳ người trình diễn là ai hay trình diễn ở đâu.  Đối với nhạc sĩ jazz, loại nhạc cụ họ sử dụng không quan trọng bằng cách họ sử dụng nhạc cụ: tác phẩm được cải biến bằng cách “bóp méo” (một cách nghệ thuật) nhịp điệu (rhythms), âm điệu (melodies), ngay cả hình thức (forms) của bản nhạc.

Trang 1. Tại sao nghe nhạc jazz?

Vì nhạc jazz thú vị. Sau đó mới đến các lý do khác. Jazz hấp dẫn vì loại nhạc này được xem là một cách thử thách tài năng của nhạc sĩ và cũng là một khía cạnh văn hóa, tiếng nói của người Mỹ gốc Phi châu với thế giới. Nhưng tất cả những điều này chẳng có nghĩa lý gì nếu nhạc jazz nghe không thú vị. Jazz là một thế giới âm nhạc riêng biệt, bao gồm loại nhạc jazz truyền thống vùng New Orleans và nhạc jazz tự do không theo thể loại nhất định, nhạc swing cuồn cuộn của Kansas City và loại bebop dồn dập, nhạc jazz được trình diễn bằng đàn guitar điện âm thanh dòn dã, những đoạn nhạc được viết theo khuynh hướng hậu hiện đại, loại nhạc jazz quí phái, quyến rũ dục vọng, khôi hài, loại nhạc thưởng thức bằng trí óc và nhạc để nhảy múa, nhạc blues, nhạc Viễn Tây (country music), rock’n’roll. Tất cả đều gọi chung là jazz.

Trang 2. Tôi có cần phải thích tất cả loại nhạc jazz không? Tôi có cần phải biết lịch sử nhạc jazz để thưởng thức nhạc không?

Giới hâm mộ nhạc phản ứng theo bản năng. Họ nghe nhịp điệu hòa quyện với âm thanh của nhạc cụ hoặc là giọng hát của ca sĩ và họ thích ngay lập tức. Đối với một số thính giả, chỉ cần biết một loại nhạc jazz là đủ rồi. Họ có thể nghĩ là chỉ có một loại jazz đó là quan trọng thôi.

Nhưng jazz lại quan trọng về sự thay đổi: cách mà nhạc sĩ “riff”[1], ý tưởng, hoặc phong cách trình diễn đã biến bản nhạc gốc thành một bản nhạc khác. Với những người nghe jazz kinh nghiệm, họ biết những chỗ hay, hoặc lạ, đặc biệt đến độ buột miệng kêu à há, khi họ nhận ra những âm thanh thay đổi, mới lạ và độc đáo, từ bản nhạc cũ. Để biết nhận ra những cái hay đó, biết về lịch sử âm nhạc có thể giúp ích – một vài khái niệm về dáng dấp âm nhạc.

***Đặt cục gạch làm dấu ở đây – Ngày mai sẽ viết jazz trong phim ảnh và văn học.


[1] Cách nhạc sĩ trình diễn, thường là một chuỗi nốt nhạc được lập lại với một vài nốt nhạc được biến đổi.

Jazz in the garden 3

David Gibson người thổi kèn trombone
David Gibson người thổi kèn trombone

Thứ năm tuần trước, trời đẹp, gió hiu hiu. Tôi không ăn trưa, giờ ăn trưa tôi quơ vội mắt kính đen và cái mũ fedora, đi nghe nhạc jazz.

Điểm thú vị của mùa hè là trời nóng, các cô gái trẻ mặc quần áo rất ít vải, đi đâu cũng thấy những đôi chân đẹp đều như những đôi đũa ngà, những bờ vai trần, và những cổ áo cắt thật sâu để lộ vùng ngực thật là quyến rũ. Tôi thích mùa hè ở chỗ tôi được mặc đồ bằng vải trắng, vải cotton không pha nylon hay vải soa. Tôi thích cái mỏng, thô, mềm của vải.

Vừa băng qua đường, trước mặt tôi là một nơi trưng bày mỹ thuật của các nhà mỹ thuật trẻ tuổi. Người đàn ông đứng ở cửa, nhìn thấy tôi xăm xăm băng qua đường, có lẽ tưởng nhầm tôi là du khách đi xem triễn lãm mỹ thuật, ông vội vàng mở cửa mời. Khi thấy tôi đi ngang mà không vào, ông cười khen: “Cái mũ của bà rất đẹp.” Tôi vừa đi vừa cúi người nói cảm ơn ông. Và thấy sung sướng được khen, dù chẳng phải khen mình mà là khen cái mũ. Khoe ở đây thôi, chứ không dám kể lại với ông Tám. Các đấng ông chồng Việt Nam, chẳng những chẳng bao giờ khen cái mũ của vợ đẹp, người khác khen cũng chẳng hài lòng.

Không thể nghe nhạc đến cuối chương trình, tôi phải ra về sau khi nghe được 45 phút, vì phải đi làm. Tôi có thể ở trễ một chút, chẳng ai kiểm soát hay rầy mắng gì, nhưng tôi không muốn như thế. Tôi áy náy, cảm thấy mình bất nhã khi bỏ về giữa chừng. Ra khỏi chỗ hòa nhạc, đói bụng, tôi mua một cái hot dog, vừa đi vừa ăn, cố cẩn thận để không dính catchup vào áo trắng.

Hôm trước có bạn bảo rằng nhạc jazz là nhạc khó thưởng thức. Trong bài này tôi kiếm được cái link nhạc Việt Nam trình diễn theo kiểu nhạc jazz. Đây là những bài quen thuộc như Đêm Đông, Mưa Sài Gòn Mưa Hà Nội. Có lẽ nhờ đã biết lời (lyrics) của các bản nhạc này, và nhạc (melody) cũng quen thuộc, mà jazz dễ nghe, dễ thích hơn.

Jazz in the garden 2

Chương trình nhạc jazz này tôi xem từ hồi tuần trước, cũng vào ngày thứ Năm. Người trình diễn buổi nhạc hôm ấy là Akiko. Tấm ảnh đầu tiên là nàng. Họ Tsugura. Vì không biết nhiều về nhạc jazz tôi đo lường tài năng của nàng qua mức độ phấn khích của khán giả. Nhìn những cái gật đầu, đánh nhịp, lắc lư, vỗ tay vào những lúc nàng riff hoặc improvise. Tôi đoán sự sành điệu của khán giả qua cách ăn mặc rất jazzy của họ.

Vì trời mưa, nên buổi trình diễn được dời vào bên trong thư viện. Bức ảnh chụp khán giả mờ, một phần vì tôi để iso thấp quá, quên chỉnh máy trước khi chụp, một phần vì khán giả lắc lư kích động quá. Akiko hay nói đùa, nhưng giọng của nàng có accent nặng quá nhiều khi tôi không hiểu nàng nói gì, thấy người ta cười khi nàng cười có cái răng khểnh rất duyên.

Xem nhạc xong tôi ra ngoài chụp mấy tấm ảnh ở khu vườn sau thư viện. Những cái cửa vườn hoang phế luôn có cái gì đó mời gọi hấp dẫn tôi. Cũng như những căn cottage, tường đá phủ đầy dây ivy (trường xuân).

Jazz in the garden 1

desktop-jazz_0  
Ảnh này lấy từ website của mạng Thư viện Newark. Mấy tấm ảnh dưới là của Tám.
Jazz in the garden
  005  007
Mấy tấm ảnh này chụp từ hồi thứ Năm tuần trước. Mùa hè, thành phố tôi làm việc trở nên sống động, tưng bừng náo nhiệt. Thứ Năm vừa qua là ngày mở đầu chương trình nhạc Jazz trình diễn trong khu vườn nhỏ phía sau thư viện chính của thành phố Newark. Tôi ngồi ở khoảng giữa của hàng ghế khán giả. Không đông khách lắm, độ 150 người, vẫn còn nhiều chỗ trống, có lẽ khu vườn này có đủ chỗ cho ba trăm khán giả.

Hôm ấy là buổi biểu diễn của Gary Bartz, ông hát và thổi kèn đồng saxophone. Cùng trình diễn với ông là một dương cầm thủ, một đại hồ cầm (chẳng biết gọi là gì, cello hay bass?), và giàn trống. Ở phía tay trái có một người điều khiển một giàn nhạc bằng computer (tôi đoán thế vì không rành kỹ thuật của âm nhạc). Khán giả gồm nhiều nhóm, khoảng sáu mươi tuổi hay hơn, đã về hưu, họ ăn mặc khá thoải mái. Nhóm trẻ chừng hơn hai mươi là những người làm việc chung quanh lấy giờ ăn trưa đến nghe nhạc, ăn mặc đẹp, có cả com lê dù trời mùa hè khá nóng. Có những người có vẻ như từ nơi xa đến, New York chẳng hạn. Đa số là người địa phương. Tôi có gặp lại một đồng nghiệp cũ đã về hưu ở nơi này.

Tôi không rành nhạc jazz, chỉ nghe chút đỉnh, biết tên một vài nhạc sĩ nổi tiếng. Hễ có dịp là tôi muốn được đắm mình vào văn hóa nhạc jazz nhạc blue. Loại nhạc này rất dễ nghe, nhiều bài hát Việt được biểu diễn theo lối jazz. Đừng kể Hạ Trắng và Đêm Đông, những bài như Ảo Ảnh của Y Vân, hay Kiếp Nghèo, Quán Nửa Khuya biểu diễn theo lối jazz nghe nhức nhối lắm.

Vé vào cửa để gây quỹ giúp Thư Viện Newark chỉ có ba tì. Buổi trình diễn bắt đầu thừ 12:15 pm và kết thúc lúc 1:45 pm. Tôi chỉ có thể nghe được nửa giờ đồng hồ là phải trở lại chỗ làm. Thứ Năm này tôi sẽ được nghe đàn organ.

Những điều thú vị chung quanh chuyện ăn thịt chó

Cún Bơ của Bảo Bình - Blog Những Dòng Thương Nhớ
Cún Bơ của Bảo Bình – Blog Những Dòng Thương Nhớ.

Người châu Âu, có nhiều đồng cỏ nên chuyên về nuôi bò, cừu, và dê. Chó khỏe, chạy nhanh, khôn ngoan, có thể giúp chủ rất nhiều trong việc lùa đàn thú về trại hay săn tìm những con thú đi lạc. Do nhiều năm tiếp xúc với chủ nhân nên tình cảm thân thiện giữa thú và người phát triển. Đây có thể là nguyên nhân vì sao người phương Tây không ăn thịt chó. Tuy nhiên, ra luật bảo vệ súc vật nói chung, chó nói riêng, người ta chưa chắc đã nhân từ và người ăn thịt chó không hẳn là người dã man. Vài người trong họ hàng nhà tôi, bằng cấp đầy mình, văn minh văn hóa hết mực, tính tình hòa nhã tử tế, thích ăn thịt chó, bảo rằng “nhất trắng, nhì vàng, tam khoang, tứ mực.” Ai đã từng xem phim Điệp Viên 007 chắc còn nhớ ông trùm SPECTRE, tay luôn luôn ôm con mèo nhưng giết người như giết ngóe. Thủ hạ của ông ta nếu không thực hiện nhiệm vụ thành công thì ông hạ thủ chẳng lưu tình. Continue reading Những điều thú vị chung quanh chuyện ăn thịt chó

Để trả lời một câu hỏi – tại sao người Mỹ không ăn thịt chó?

Tại sao người Mỹ không ăn thịt chó?

Người Mỹ, không ăn thịt chó (và mèo) vì họ xem đó là một hành động dã man, và độc ác. Họ xem chó, mèo là bạn, là người thân trong gia đình. Ăn thịt chó (mèo), ở Mỹ và một số nước Tây phương, là một điều cấm kỵ (taboo), một thứ luật vô hình của xã hội mà ai cũng muốn tuân theo nếu không sẽ bị xã hội tẩy chay.

Mấy quyển sách tôi mang về từ thư viện[1] không trực tiếp trả lời cho tôi hai câu hỏi đơn giản, vì sao người Mỹ không ăn thịt chó và có luật cấm ăn thịt chó hay không. Đọc lướt qua những quyển này tôi có cảm tưởng tôi là một người muốn tìm cách giải một bài toán nhân lại gặp sách toán về phương trình vi phân hay đại số tuyến tính. Tìm trên mạng tôi thấy blog của luật sư Matt Pfau. Ông cho biết, có 44 tiểu bang người ta có thể làm thịt chó (một cách nhân đạo), ăn thịt chó, và mời cả láng giềng cùng nhậu. Tuy nhiên, có 6 tiểu bang cấm ăn thịt chó; đó là Virginia, New York, California, Georgia, Michigan và Hawaii. Cùng là ngăn cấm, nhưng cách cấm của mỗi tiểu bang mỗi khác. Virginia cấm giết thú vật nếu không cần thiết, ngoại trừ thú vật dùng trong nông nghiệp. Và chó không phải là thú nông nghiệp. New York bảo rằng giết hay chặt mổ chó (pet) để làm thực phẩm cho người hay súc vật là bất hợp pháp. California cấm giết pet. Georgia cấm bán chó (hay mèo) để ăn thịt. Michigan không thẳng thừng cấm ăn thịt chó nhưng bán thịt chó hay ngựa phải để nhãn hiệu cho minh bạch. Vi phạm sẽ bị tội (misdemeanor). Hawaii ra luật giết hay bán chó (và mèo) cho người ta tiêu thụ là bất hợp pháp. Luật này có hiệu lực cho đến năm 2100.[2]

Năm 1989, hai người gốc Cambodia sống ở miền nam của tiểu bang California bị bắt tội độc ác với thú vật. Họ làm thịt một con chó con loại German Shepherd. Tòa không kết tội hai người này, với lý do, giết chó cũng giống tương tự giết thịt thú vật nuôi trong ngành nông nghiệp. Hội bảo vệ thú vật ra sức vận động, sau đó, California ban hành luật cấm ăn thịt chó hay mèo.  Tiếp theo, luật được nới rộng ra, bao gồm tất cả các loại pet khác. Dân Mỹ có những hội thiếu nhi, thí dụ như hội 4-H, trong đó trẻ em tham gia nuôi thú nông nghiệp như bò, heo, dê, thỏ, v. v… . Đến mùa, các em đem gia súc đi thi lấy giải thưởng. Vì nuôi những con thú nông nghiệp này nhiều năm, các em xem những con thú này như là pet. Các nhà thi hành luật pháp phải làm ngơ khi những con thú, vừa là thú nông nghiệp vừa là pet, này bị đem bán và đưa vào lò sát sinh.[3]

Tuy chỉ có sáu tiểu bang Hoa Kỳ ra luật tương đối rõ ràng, cấm ăn thịt chó (và mèo), người Tây phương có luật bảo vệ súc vật từ xa xưa.

Năm 1822, Richard Martin, người Anh (1754 – 1834), đã vận động đưa ra luật Martin cấm đánh đập, hành hạ, bỏ đói, đối xử tệ với các loại thú dùng trong nông nghiệp như lừa, ngựa, trâu, bò, cừu… Người nào vi phạm sẽ bị phạt năm bảng Anh hoặc là 2 tháng tù.[4] Tuy nhiên luật này không mấy khi được thực hiện nghiêm túc.

Cũng trong năm 1822, New York ban hành luật cấm hành hạ súc vật, tuy nhiên không trừng phạt nặng.

Năm 1835 Cruety to Animal Act được ban hành, cấm đá gà, cá độ, đấu chó.

Năm 1850, Pháp ra luật Loi Grammont cấm đối xử độc ác với gia súc. Luật này gây tranh luật sôi nổi vì người Pháp thích xem đấu bò, do đó họ không biết bò đấu có bị ghép vào thành phần gia súc hay không.

Năm 1876, Anh quốc ban hành Cruelty to Animal Act 1876 cấm hành hạ độc ác, làm thú vật đau đớn, trong những cuộc thí nghiệm khoa học sau khi có một vụ mổ chó (vivisection) lúc còn đang sống để xem sinh hoạt của các bộ phận bên trong cơ thể mà không có thuốc gây mê.

Năm 1966, Tổng-thống Hoa Kỳ Lyndon Johnson ban hành luật  liên bang Animal Welfare Act 1966 để quản lý tất cả các loại thú được dùng trong thí nghiệm khoa học. Và từ hơn trăm năm trước cho đến bây giờ rất nhiều đạo luật được ban hành để quản lý cuộc sống và làm giảm sự hành hạ của con người đặt lên thú vật.

Vào thế kỷ 17 ảnh hưởng bởi lý thuyết của nhà toán học kiêm triết gia René Descarte, thú vật được xem như những cái máy tự hoạt động, Nicholas Malebranche bảo rằng “Thú vật ăn không biết ngon, kêu la mà không đau, không biết là chúng đang lớn lên, không biết ao ước, chẳng biết sợ hãi, và không hiểu biết gì cả. “[Animals] eat without pleasure, cry without pain, grow without knowing it; they desire nothing, fear nothing, know nothing. — Nicolas Malebranche (1638–1715).[5]

Đến bây giờ, quan niệm của người Tây phương nói chung, và người Mỹ nói riêng, cách đối xử với pet (tôi xin được dùng chữ pet từ đây về sau, không dịch ra là thú nuôi trong nhà làm bạn được yêu mến như người trong gia đình), đã thay đổi rất nhiều, tạo một khoảng cách rất xa với cách đối xử với thú vật của người Việt Nam. Người Mỹ không còn xem thú vật là tài sản của con người nữa. Họ nâng thú vật, nhất là pet, lên địa vị gần với loài người hơn. Pet là bạn, là người đồng hành, người thân trong gia đình, thậm chí là người thừa hưởng của cải khổng lồ sau khi chủ nó qua đời. Để theo kịp cuộc sống và đối phó với sự phức tạp của đời sống con người, người Mỹ đặt ra luật xử sự quan hệ của loài người với thú vật (Animal Law). Khi hai vợ chồng ly dị nhau, ai sẽ là người được nuôi con chó. Cặp vợ chồng John Kennedy, Jr. khi chưa thành vợ chồng, có lúc hục hặc đòi bỏ nhau, báo chí bàn tán um sùm vì cả hai ai cũng dành nuôi con chó. Bà hoàng keo kiệt Hemsley khi chết để lại tài sản kếch sù cho con mèo. Còn lại 44 tiểu bang tuy không có luật rõ ràng là cấm ăn thịt chó nhưng các bạn nhậu chớ vội mừng. Họ có đủ thứ luật lệ về y tế, vệ sinh, thực phẩm để ngăn cấm người ta ăn thịt chó. Ai ăn thịt chó trong nhà, trong rừng, họ không biết thì thôi, chứ nếu họ biết được, và nhất là bạn không phải là người da trắng sinh ra lớn lên là công dân của đất nước này thì họ có đủ cách để làm bạn nhục nhã, tốn kém, khổ sở để bạn cảm thấy thà là không được ăn, dù là món ngon nhất trên đời, còn hơn phải qua cái quá trình xử tội bạn bằng luật pháp của nước này. Thí dụ như, muốn nấu thịt chó bạn phải giết chó, mà giết chó thì phạm vào tội hành hạ súc vật. Bạn có thể bị kết tội không giữ vệ sinh, gây bệnh cho mọi người, hoặc người ta chỉ nghi ngờ vết máu đó là máu người rồi điều tra tới lui thì bạn cũng chết dở, và còn biết bao nhiêu luật địa phương mà chính người địa phương cũng không biết đến.

Tạm ngưng ở đây, lần sau tôi sẽ kể các bạn một vài trường hợp đặc biệt liên quan đến chuyện ăn thịt chó.

[1] “Law 101 – Everthing You Need to Know About the American Legal System” của Jay M. Fienman, “Just A Dog – Understanding Animal Cruelty and Ourselves” của Arnold Arluke, và “The Animal Rights Debate – Abolition or Regulation?” của Gary L. Francione và Robert Garner.

[2] http://pickardparry.com/2015/02/is-it-legal-to-eat-dog/.

[3] Hopkins, Jerry, “Extreme Cuisine – The Weird & Wonderful Foods that People Eat”, Hong Kong, Periplus, 2004,  p. 19.

[4] http://en.wikipedia.org/wiki/Animal_rights.

[5] http://en.wikipedia.org/wiki/Animal_rights.