Mèo hoang và câu chuyện giết người lần thứ ba

mèo út
Mèo Út

Đây là chàng mèo út. Hồi mới sinh ra Út nhỏ nhất, chậm chạp nhất. Trong khi các anh ăn thức ăn mèo ào ào, chạy nhảy rượt đuổi thì Út nhút nhát trốn đâu đó, ra ăn sau cùng, và không ăn, chỉ đeo theo mẹ đòi bú. Bây giờ thì vẫn nhỏ hơn mèo anh một chút, nhưng đã to lớn hơn mèo mẹ, Củ Gừng. Bây giờ nhiều khi Củ Gừng và mèo anh đi đâu mất, bỏ Út ở lại một mình. Sáng nào khi tôi thức dậy, trời tối om và lạnh -4° C. cũng thấy Út chờ sẵn ở ngoài cửa. Chỉ cần nghe tiếng chân hoặc thấy mở đèn là Út ngó vào cửa kiếm tôi. Thấy tôi là Út nằm lăn ra trên đất, ưỡn bụng như tỏ ý đầu hàng, khuất phục. Út để tôi ôm vào lòng, ẵm trên tay. Chỉ thân thiện với tôi thôi. Thấy người khác là bỏ chạy thật xa, dừng lại thủ thế, để chạy tiếp.

Hôm qua, trời lạnh nhưng có nắng nguyên ngày. Buổi chiều cho Út và mèo anh ăn xong (không thấy Mr. Mun và mèo mẹ), hai anh em leo lên thân cây mục trong rừng, phía sau nhà, ngồi im lặng rất lâu, chẳng biết rình gì ngoài bầy nai năm sáu con (chiều nào sáng nào đàn nai cũng đi ngang sân sau nhà tôi).

Tôi luôn luôn cảm thấy lòng mình rung động (một chút trắc ẩn), mỗi khi nhìn đàn mèo hoang. Chúng chắc chắn là không hề đòi được sinh ra đời. Chúng cũng không thể kiểm soát hay tự chủ được sự sinh tồn trong môi trường chúng được sinh ra.

Tình cờ tôi mượn được cuốn phim Nhật, “The Third Murder” của đạo diễn Hirokazu Kore-eda. Một trong những bài học quan trọng tôi rút ra được trong quá trình sáng tác là không coi thường bất cứ khuynh hướng văn chương nào. Người Mỹ họ chia ra thành nhiều thể loại (genre), romance (tình cảm lãng mạn), thriller (trinh thám), suspense (kinh dị) , v. v. … . Mỗi thể loại có độc giả riêng của họ. Có nhiều quyển sách hay cuồn phim, khi được hay bị xếp vào một thể loại nào đó có thể làm người đọc có thành kiến về quyển sách trước khi đọc. Giới phê bình nghiêm túc thường hay gạt ra ngoài truyện tình cảm lãng mạn, hay trinh thám, cho rằng loại truyện này thiếu tính cách nghệ thuật văn chương. Mỗi loại có cái khó riêng của nó. Thể loại nào cũng đòi hỏi sự làm việc hết sức của người viết. Không thật sự viết văn, dễ xem thường tác phẩm của người viết, rằng nó thuộc loại này thuộc loại kia không phải là tác phẩm văn chương.

Tomoaki Shigemori là trưởng nhóm luật sư, điều tra một vụ giết người mà Misumi là thủ phạm. Misumi đã nhận hết tội một cách dễ dàng; tuy nhiên, khi phỏng vấn ông ta, Shigemori nhận ra nhiều chi tiết không ăn khớp và đâm ra nghi ngờ ông ta không phải là thủ phạm. Dường như ông ta nhận tội để che chở cho một người nào đó. Cái tựa đề “The Third Murder” làm người xem thoạt tiên nghĩ rằng có ba vụ giết người. Thật ra chỉ có một vụ án giết người, nhưng qua cuộc điều tra Shigemori nhìn ra ba góc cạnh và ba lần kết luận ai là kẻ giết người trong vụ án.

Cuốn phim hay đến độ tôi dán mắt, há hốc mồm, nín thở để xem. Lâu lâu nhận ra là mình đang há hốc và nín thở nên tự sửa lại. Tôi có khuynh hướng thích các loại thriller (chỉ không thích phim có cảnh giết người tàn bạo và đầy máu me). Có một thời say mê “Murder, She Wrote.” Vẫn còn rất mê phim Hitchcock và truyện của Patricia Highsmith.

Phim có góc độ quay rất sáng tạo (với tôi). Khi Shigemori và Misumi đối đầu với nhau, kẻ cố khai thác để tìm ra thủ phạm, kẻ cố dấu loanh quanh để nhận mình là thủ phạm, Kore-eda cho mặt một người xuất hiện trên màn ảnh, còn mặt người kia là ảnh mờ xuất hiện trên cửa kính trong (hai người nói chuyện với nhau qua tấm kính dày ngăn giữa người tù và luật sư). Cách quay này cho người xem thấy được sự diễn xuất của hai diễn viên cùng một lúc, như thể mình nhìn thấy sự suy nghĩ của hai người với hai quan điểm ngược chiều với nhau.

Shigemori có một người phụ tá tôi quên tên. Trong một bữa ăn, Shigemori và người phụ tá nói chuyện đời và chuyện Misumi. Người phụ tá nhận xét. “Người ta không có ai đòi được sinh ra đời. Không chọn được gia đình hay nơi chốn mình sinh ra. Và từ đó, không phải ai cũng có khả năng vượt ra được cái môi trường họ đang sống.” Nhận xét này làm Shigemori giật mình. Vì Misumi cũng có ý nghĩ này và đã nói với Shigemori. Giật mình, vì Misumi từng nói riêng với Shigemori, nếu ông bắt tay Shigemori, ông sẽ biết được ý nghĩ của Shigemori.

Misumi có một cô bạn nhỏ, một chân có tật. Cô bé này là con của người mà Misumi (nhận tội là) đã giết. Misumi bảo rằng ông ta không xứng đáng làm con người. Ông chỉ làm khổ người chung quanh. Ông cũng như cô bạn nhỏ với một chân có tật, không đòi được sinh ra, không chọn được cha mẹ, không có cách để thoát khỏi môi trường họ đang sống.

Tôi nhìn mấy con mèo hoang lại nghĩ đến cuốn phim. Xem cuốn phim lại nghĩ đến mấy con mèo hoang, nghĩ đến tôi, và các con tôi. Tất cả đều được sinh ra mà không hề có được quyền lựa chọn.

Lan man vài phim hay

Tôi xem và xem lại ba phim có kết cuộc giống nhau. “Love Story – Chuyện Tình,” “Sweet November – Tháng Mười Một Ngọt Ngào,” và “Autumn in New York – Mùa Thu ở New York.” Một tình yêu rất lãng mạn, say đắm, nhưng hạnh phúc bị tan vỡ nửa chừng vì người con gái mang trọng bệnh rồi qua đời. Chuyện Tình từ khi ra đời đến nay đã được nhiều quốc gia trên thế giới phóng tác.

Nếu bạn đang lập danh sách 100 phim hay của riêng bạn, tôi xin đề nghị (nếu bạn chưa có phim này trong danh sách) phim Wuthering Heights – Đỉnh Gió Hú. Phim này có nhiều kịch bản, tôi thích phim năm 1939 do Laurence Olivier đóng vai Heathcliff. Tôi hay nói về truyện và phim xưa, thường nhắc đến Anna Karenina và Gone With The Wind – Cuốn Theo Chiều Gió, không hiểu sao tôi không có dịp nhắc đến Đỉnh Gió Hú, một truyện tôi thích có thể nói là hơn cả Jane Eyre, Anna Karenina, và Gone With The Wind.

Tôi nhận ra khuynh hướng đọc của tôi, tôi thích loại truyện và phim, ngoài khuynh hướng cổ điển, còn thể hiện khía cạnh tăm tối và bản chất độc ác của con người. Có lẽ vì thế mà tôi bị cuốn hút vào quyển Wuthering Heights.

Mỗi khi nhắc đến chị em bà Brontë (để giản dị tôi chỉ dùng chữ é) người ta thường nhắc đến bà Charlotte Bronté với quyển Jane Eyre (thật ra bà còn vài cuốn nữa), Emily với Wuthering Heights, và người em út Jane làm thơ nhưng chưa nổi tiếng bằng hai người chị. Cả ba người con gái họ Bronté đều chết trẻ. Charlotte ở tuổi hơn bốn mươi, Emily hơn ba mươi, và Jane chỉ mới hai mươi sáu. Tôi không nhớ Charlotte chết vì bệnh gì, còn Emily và Jane chết vị bệnh lao phổi. Thật là đáng kinh ngạc và khâm phục, một người con gái gia cảnh nghèo khó, bệnh hoạn, yếu đuối như Emily lại có thể sáng tạo ra một tác phẩm đào sâu về khía cạnh tối tăm đầy thù hận và cũng đầy yêu thương với một tình yêu vượt ra ngoài cuộc sống vói đến cõi chết của Heathcliff và Cathy Earshaw trong Wuthering Heights.

Cũng như phim Chuyện Tình, Đỉnh Gió Hú có hằng chục bản khác nhau trên toàn thế giới. Tôi có xem một phim kịch bản khác của Đỉnh Gió Hú (1992) do Ralph Fiennes và Juliette Binoche đóng, thật là vô cùng thất vọng.

Còn hai phim tôi xem đã lâu, nhưng chưa biết tôi muốn làm gì viết gì. “The Lake House – Căn Nhà Trên Hồ” tôi ước gì có thể đọc được truyện bằng tiếng Hàn, hay bản dịch từ tiếng Hàn sang tiếng Anh hoặc tiếng Việt. “Stage Beauty – Mỹ Nhân (Trên) Sân Khấu” tôi mở ngoặc đóng ngoặc chữ (trên) vì nghĩ là chữ trên hơi thừa, nhưng giữ nó để nghe êm tai hơn thì có lẽ lúc nào đó siêng siêng một chút sẽ viết giới thiệu. Phải viết tựa đề của phim vào đây để khi quên còn có chỗ nhắc cho mình nhớ.

Đỉnh Gió Hú (1939) do Charles McArthur và Ben Hetch viết phim bản. Stage Beauty là phim kịch bản của Jeffrey Hatcher. Có lẽ bạn sẽ không thích lắm vì đối thoại trong phim giống như đối thoại trên sân khấu của kịch. Có người nghĩ là lối đối thoại cứng, màu mè lên gân, (cường điệu) nhưng nó rất văn chương, đầy ẩn ý, đòi người xem phải suy nghĩ và thấy thấm thía. Với người không thích kiểu đối thoại này, có thể họ sẽ bị ngủ quên. Nhưng tôi thích lối phim có thoại kịch như thế. Bạn sẽ tìm thấy đối thoại như thế trong các phim xưa như “Cat on a Hot Tin Roof” hay “Street Car Named Desire” chẳng hạn.

Xem Đỉnh Gió Hú, tôi nhận ra tôi chưa hề biết yêu (như những nhân vật chính trong phim) là gì, và thú thật, tôi cũng không muốn yêu hay được yêu giống như họ. Dữ dội quá. Khốc liệt quá. Đôi khi không cần yêu nhiều, yêu nhàn nhạt thôi, chỉ cần đối xử tử tế với nhau, cũng đủ sống chung mấy chục năm.

Hai phim xem gần đây

Viết vài dòng để không quên. Gần đây tôi xem hai phim có cốt truyện hay. “Wakefield” và “Birth.”

“Wakefield” là một phim lạ. Nhân vật nữ chính là Jennifer Gardner, nổi tiếng, quen thuộc. Nhân vật nam chính là Bryan Cranston dường như tôi mới gặp lần đầu. Phim dựa vào truyện ngắn của E. L. Doctorrow. Phim nói về mặt trái (hay bóng tối) của tình yêu. Howard Wakefied có vợ đẹp. Diana là nhân viên của bảo tàng viện và đã từng là vũ công. Hai người lấy nhau 15 năm có hai con. Wakefield yêu vợ nhưng ghen. Trong cơn ghen ông tạo ra cuộc mất tích của chính mình. Thật sự ông trốn trong nhà xe (loại tách rời với gian nhà chính) để lén quan sát vợ. Chịu đói khát, lạnh, bỏ cả công việc, lục thùng rác để kiếm ăn, sống cuộc đời tệ như cuộc sống của người hành khất. Toàn phim là diễn tiến suy tưởng của Wakefield chung quanh sự mất tích của ông và sự quan sát thái độ của vợ con ông.

“Birth” do Nicole Kidman đóng vai chính. Tôi xem nhiều phim do cô đóng, nhưng không có cảm tình với cô và những vai nữ do cô đóng. Không dở, nhưng tôi không thích nếu so cô với Cate Blanchet. Anna (Kidman) có chồng mất sớm. Mười năm sau có người cầu hôn, Anna nhận lời dù vẫn còn thương nhớ người chồng. Ngày lễ đính hôn, có cậu bé tên Sean (cùng tên với người chồng đã chết) xuất hiện. Cậu bé chừng mười tuổi và cậu tự xưng cậu là người chồng cũ của Anna. Cậu biết rất nhiều chi tiết trong quá khứ của Anna, kể cả thói quen, và người thân của cả hai vợ chồng. Anna dần dần tin rằng Sean là người chồng cũ của cô đầu thai trở lại. Truyện thắt gút mở gút rất hay.

Cả hai phim đều nói về những khía cạnh phức tạp của tình yêu.

Những chuyện xảy ra ở bàn ăn

Bữa ăn quan trọng nhất trong ngày là bữa ăn tối. Cùng ăn bữa tối với nhau hằng ngày là cách giữ hạnh phúc gia đình rất hữu hiệu. Bữa ăn tối quan trọng nhất trong năm xảy ra vào Lễ Phục Sinh, Lễ Tạ Ơn, hay Lễ Giáng Sinh. Còn nhiều ngày lễ lớn của các tôn giáo khác bữa ăn tối rất quan trọng nhưng vì không biết chắc nên tôi không nhắc đến. Đôi lứa yêu nhau khi cảm thấy có thể tính chuyện lâu dài thường đưa ý trung nhân về nhà ăn tối vào những dịp lễ lớn kể trên. Alvy và Annie trong phim “Annie Hall” đã ăn tối vào lễ Phục Sinh với gia đình Annie. Woody Allen đã dùng bữa ăn này để so sánh sự khác nhau trong cách sống và cách suy nghĩ của người trong hai gia đình. Đôi khi bữa ăn trọng đại của gia đình xảy ra vào một dịp khác, có lẽ còn đặc biệt hơn những buổi tiệc trong ngày lễ, chẳng hạn như đám cưới trong phim “Meet The Parents – Gặp Bố Mẹ Người Yêu” hay đám tang trong phim “August: Osage County – Tháng Tám ở Quận Osage.” Cả gia đình và họ hàng tụ họp nên người ta có nhiều chuyện để nói như: ôn lại chuyện quá khứ, chúc mừng sự thành công hiện tại, bàn tính việc sắp tới, hay bày tỏ lòng thương yêu với nhau. Và xin đừng ngạc nhiên, những bữa ăn quan trọng, cũng là nơi có thể xảy ra những cuộc tranh chấp, gièm siểm, thậm chí đến đánh nhau. Trong phim “The Dinner – Bữa Ăn Tối” phim Ý năm 2014, của đạo diễn Ivano De Matteo, hai anh em gặp nhau hằng năm ở một nhà hàng Pháp sang trọng. Người anh là luật sư nổi tiếng và giàu có. Người em là kiến trúc sư, không giàu bằng người anh, nhưng cũng không nghèo. Người anh có một đứa con gái trang lứa với đứa con trai của người em. Hai người trẻ tuổi, một đêm đi chơi về khuya đã cố ý giết một người không nhà. Bữa ăn hằng năm là dịp để hai anh em gặp nhau hàn huyên tâm sự, biến thành thời điểm thích hợp để bàn cách đối phó với chuyện giết người của hai đứa con: nên cho chúng nhận tội hay chối tội. Bữa ăn trong nhà hàng được đạo diễn Ivano De Matteo khai triển khéo léo, khán giả nhìn thấy sự mâu thuẫn ngấm ngầm giữa hai anh em, từ sự ganh tị của kẻ giàu người nghèo, đến quan niệm về công lý và luật pháp, từ cách đối xử với vợ đến cách nuôi nấng dạy dỗ con cái. Khi sự xung đột đến tột độ thảm kịch xảy ra.

Băng đảng Mafia thường dùng bàn ăn ở nhà hàng làm nơi bàn luận chuyện thanh toán đối phương. Và thanh toán đối phương ở bàn ăn trong nhà hàng. Bạn đọc chắc chưa quên phim “The Godfather – Bố Già,” Al Pacino trong vai Michael Corleone, là công dân mẫu mực, từng đi lính Thủy quân lục chiến, trước nguy cơ dòng họ bị băng đảng khác tiêu diệt, đã đi vào hang cọp, một nhà hàng ở Bronx, địa điểm do đối phương chọn. Đang giữa bữa ăn, viện cớ cần đi tiểu, Michael vào phòng vệ sinh, lấy cây súng được “phe mình” dấu trong bình chứa nước, ra bàn ăn giết chết đối phương, sau đó chuồn sang Ý.

Trong phim “Shadow of a Doubt – Bóng Tối Nghi Ngờ” của Hitchcock, có hai nhân vật vốn là bạn của nhau, Joseph Newton và Herbie Hawkins. Cả hai có cùng ý thích, sưu tầm và thảo luận về cách thức giết người được dùng trong tiểu thuyết trinh thám.  Herbie thường tìm gặp Joseph lúc ông bạn đang ăn tối với gia đình, có khi Herbie cũng tham dự bữa ăn và vì thế những phương pháp giết người được bàn luận ở bữa ăn. Nghe thì có vẻ rùng rợn, thật ra những thủ đoạn giết người họ bàn với nhau chỉ là chuyện nghiên cứu của hai nhà thám tử dởm, trong khi ấy Charles, em vợ của bà chủ nhà, đang lập mưu giết cô cháu gái (con của Joseph Newton) vì cô này biết được quá khứ của người cậu, thế mà hai thám tử dởm hoàn toàn không biết.

Bữa ăn làm tôi căm giận nhất là bữa ăn trong phim “The Return of the King – Ngày trở về của Vua,” phim cuối trong bộ phim ba tập “The Lord of The Rings – Nhẫn Chúa” của đạo diễn Peter Jackson, người vừa lên tiếng “đả thương” Harvey Weinstein, kẻ ngã ngựa vì bị cáo buộc đã uy hiếp, lạm dụng, và tấn công tình dục cả chục (hay hơn) nữ minh tinh thượng thặng trên màn ảnh Hoa Kỳ.

Denethor
Denethor và dòng rượu trên cằm
Denethor ăn còn Pippin đứng hầu
Pippin đứng hầu trong lúc Denethor ăn

Denethor, là vị quan chấp chính đang trấn thủ thành Condor. Ông có tham vọng soán ngôi nên sai người con trai lớn, Boromir, đi tìm nhẫn chúa mang về cho ông. Boromir có tài lại rất hợp tính bố, nhưng chẳng may bị giết trong lúc bảo vệ chiếc nhẫn đang được Frodo mang đi hủy diệt. Faramir là con thứ hai của Denethor, tài năng chẳng kém gì người anh, nhưng bản tính nhân từ nên không được lòng bố. Bắt được Frodo, biết chàng hobbit này đang giữ nhẫn chúa nhưng Faramir thả Frodo đi để phá hủy nhẫn chúa mang lại hòa bình cho nhân loại. Quyết định của Faramir làm Denethor nổi giận. Khi quân đội của Sauron bao vây thành với số quân đông gấp nhiều lần, Denethor ra lệnh cho Faramir ra quân để chuộc tội, dù biết làm như thế là thí mạng con mình. Trong khi sắp sửa nước mất nhà tan, Denethor ra lệnh dọn tiệc cho ông, và còn bắt hobbit Pippin phải hát hầu trong lúc ông ta đang ăn. Bữa ăn gồm có thịt, cà anh đào, và nho tươi. Bài hát của Pippin là bài hát buồn thảm than khóc cho vận mệnh nước nhà sắp rơi vào tay quỷ dữ. Sauron nhai rau ráu. Nước của những quả cà tươi, và rượu chảy thành dòng đỏ đậm như màu máu trên môi trên cằm Denethor. Bữa ăn của Denethor là bữa ăn sang trọng, trong mùa đông, giữa lúc chiến tranh đến lúc cực độ, dân đang đói khổ mà quan cai trị vẫn còn có thịt nướng, rau quả tươi, và rượu. Đạo diễn Jackson cho luân phiên hình ảnh ứa lệ của Pippin và giọng hát thê lương, cái nhai rau ráu của Denethor với giòng rượu đỏ nhễu nhão xuống cằm, và đội quân Faramir đang phi ngựa hứng lằn tên của Orcs. Ông đã dùng “setting” bữa ăn, và cách ăn để nói lên sự kém sáng suốt và thiếu đạo đức của nhân vật một cách tuyệt diệu. Vì tôi ngưng từng khung ảnh để lấy cho được ảnh của Denethor với giòng rượu trên cằm, tôi khám phá ra một điều thú vị. Đó là khi thu cận cảnh thì miếng gà màu nâu vì nướng, nhưng trên bàn tiệc thì miếng gà màu vàng như gà luộc. Có lẽ vì đoạn phim được quay ít nhất là hai lần ở thời điểm khác nhau.

Hẹn lần sau sẽ đưa bạn đến với hai bữa ăn được dùng để nói lên thảm kịch của gia đình.

Xem phim A Quiet Passion

Oh life oh home
Diễn viên trong ảnh là Emma Bell trong vai Emily Dickinson khi còn trẻ

Mới xem qua một lần, chưa kịp ghi chú, tìm và đọc thêm tài liệu để có thể review hay giới thiệu với các bạn phim A Quiet Passion (Mối Đam Mê Thầm Kín). Và tôi đang bận rộn với một số công việc dở dang, thêm nữa là con gái út tối nay về và sẽ ở chơi cho đến hết lễ Tạ Ơn. Con về thì vui, và phải nấu cho con ăn tươm tất hơn, nên không biết bao giờ mới có thể viết về phim này một cách chỉnh chu. Tôi ghi lại vài nét chính, để cho nhớ về sau có thể quay trở lại với phim này.

Tôi đặt phim này ở thư viện, có ngay lập tức. Có nghĩa là không ai dành với tôi, và như thế có nghĩa là phim không thuộc loại “đắt hàng.” Sự thật là, cũng đúng như tôi nghĩ. Nếu bạn có khuynh hướng thích xem phim sôi động, hấp dẫn, éo le, thì đây không phải là một phim cho bạn mong đợi. Phim này kén người xem. Bạn phải có sở thích đặc biệt, hiểu biết và thẩm thấu nghệ thuật phim ảnh hơi nằm ngoài thị hiếu bình thường.

Phim khô khan, cách diễn xuất cứng ngắc, gần như kịch trên sân khấu, lời đối thoại rời rạc như đọc chứ không nói (với cách lên giọng xuống giọng như người ngoài đời bình thường). Đó là những nhận xét (gần như thiếu thiện cảm) về phim này. Để thích nó bạn phải đặt mình ở một vị trí khác, như sống trong thời đại nghiêm khắc của bà Dickinson để cảm được cuộc sống cũng như tâm hồn nhân vật. Tôi nghĩ đạo diễn Terence Davies cố ý làm phim như thế. Cynthia Nixon thì khỏi phải nghi ngờ gì về tài diễn xuất của nàng. Bạn sẽ không nhìn thấy dấu vết gì về nhân vật Miranda Hobbes trong “Sex and the City.” Tôi có cảm tưởng Cynthia Nixon chính là Emily Dickinson trong trí tưởng tượng của tôi.

Tôi thích quần áo của nhân vật. Đẹp và sang. Những tấm vải the, những vạt đăng ten, màu xanh lục, xám, xanh rêu trang nhã; và ước gì tôi có những cái áo trắng mà Cynthia Nixon mặc trong lúc đóng vai Emily Dickinson vào lúc gần cuối đời để mặc đi làm. Tôi thích mặc đồ trắng nhưng thường chỉ mặc lúc mùa hè. Tuy cách đối thoại khô cứng nhưng lời thoại rất hay, “witty,” thông minh, hiểu biết, ý nhị, thâm trầm cả trong lúc khôi hài hay đối chọi nhau chan chát.

Dickinson không dễ dịch vì không dễ đọc. Nhiều bài đơn giản nhưng mình vẫn phải tự hỏi là mình có hiểu đúng ý của bà không. Năm 2018 tôi sẽ đi thăm viện bảo tàng Emily Dickinson. Coi như đây là một cái New Year resolutions vậy nhé.

Buổi chiều hôm qua đi làm về, trong lúc chờ thang máy, tôi nghe bà đưa thư và ông lao công quét dọn cãi đùa với nhau. Bà đưa thư người Hispanic mới nhập cư, nói tiếng Anh còn bập bẹ với giọng ngoại quốc đặc sệt. Ông lao công người Mỹ nói hơi ngọng và biết đọc rất ít. Bà hỏi, Who do you think you are? Ông trả lời, I am nobody! (Bà hỏi, ông nghĩ ông là ai chứ, ngầm bảo ông chẳng có quyền hành gì đừng có lớn lối). Ông trả lời, tôi chẳng là ai cả, chỉ là một kẻ vô danh. Nghe ông bà cãi nhau tôi chợt nghĩ đến một bài thơ của Emily Dickinson.

I’m Nobody! Who are you?
Are you – Nobody – too?
Then there’s a pair of us!
Dont tell! they’d advertise – you know!

How dreary – to be – Somebody!
How public – like a Frog –
To tell one’s name – the livelong June –
To an admiring Bog!

Trong phim này, Emily Dickinson đọc bài thơ khi đang bế đứa bé, con của người anh trai. Tôi đoán chắc, rất nhiều người trong các bạn, kể cả tôi, ít nhất cũng một lần nghĩ về mình qua câu thơ. I am a Nobody!

 

Xem phim Paterson

Tối qua tôi xem phim Paterson. Sẵn vẫn còn đang nhớ nhiều chi tiết nên tôi viết vài dòng. Đây là một phim rất thú vị, tuy nhiên trước khi tôi đưa ra vài lý do vì sao tôi thích phim này tôi khuyên bạn đừng xem nếu sở thích của bạn chỉ dành cho loại phim chiến đấu gay cấn, hay ái tình nóng bỏng.

Phim này thú vị vì nó được quay ở Paterson (thuộc New Jersey là tiểu bang “của tôi”) và nói về người sống ở Paterson. Paterson là một thành phố tương đối nhỏ so với Newark, nhưng lớn hơn Green Brook. Newark là thành phố lớn nhất của New Jersey còn Green Brook là  vùng ngoại ô nơi tôi đang ở. Paterson có dân số khá đông, khoảng một trăm mấy chục ngàn người. Dân ở Paterson thường là dân làm việc ở New York, đa số là dân lao động, với rất nhiều người di dân Ấn Độ, Hispanic, Pakistan. Trước kia đây là một thành phố kỹ nghệ rất thịnh vượng có nhiều nhà máy dệt lụa. Thành phố Paterson mang tên vị Thống Đốc New Jersey, William Paterson, người đã ký tên vào bản Hiến Pháp Hoa Kỳ.

Paterson cũng là tên của nhân vật chính, tài xế lái xe buýt cho New Jersey Transit. Một trong những cái làm tôi thú vị là thấy xe buýt của công ty tôi đang làm việc được đóng phim. Thấy bộ quần áo công nhân có gắn phù hiệu công ty. Thấy cái garage xe buýt chạy ra chạy vào. Paterson thích làm thơ. Chàng có một quyển sổ để chép thơ. Chàng luôn luôn khuyến khích và khen ngợi những người làm thơ chàng gặp trên đường làm việc ban ngày hay dẫn chó của vợ đi bộ ban đêm.

Bạn sẽ thích phim này nếu bạn làm thơ, hay dịch thơ vì phim này nói về thơ và người làm thơ. Thành phố Paterson là gốc gác của nhiều nhà thơ nổi tiếng. Thí dụ như Allen Ginsburg và William Carlos Williams.

William Carlos Williams có nghề chính là Bác sĩ. Ngày ông còn sống ông không mấy nổi danh về thơ nhưng nổi tiếng nhiều đào và phản bội vợ. Thơ của ông chuyên lấy chủ đề về cuộc sống giản dị hằng ngày, về những thứ mà chúng ta hay xem thường, không nhìn thấy chất thơ của chúng. Thí dụ như chiếc xe cút kít màu đỏ, bóng loáng vì cơn mưa, bên cạnh con gà màu trắng. Thí dụ như tác giả mở cái hộp chứa nước đá và khám phá mấy trái mận tím được dấu trong đó. Kềm lòng không được, ông ăn mấy trái mận (có lẽ được để dành cho bữa ăn sáng) thấy nó ngon quá và mát quá.

Nhân vật Paterson cũng vậy. Chàng tìm thấy chất thơ trong mấy cái bao diêm có chữ bên ngoài, và trong tình yêu vợ. Vợ chàng cứ thúc giục chàng hãy làm bản copy, và xuất bản để người đời được đọc những bài thơ tuyệt vời của chàng. Cũng như bao nhiêu người làm thơ khác chàng không mấy tin tưởng vào tài nghệ thơ phú của chàng. Thơ làm ra chàng chép vào cuốn sổ. Cho đến một ngày, Marvin, con chó của vợ cắn xé tan nát quyển sổ chép thơ của chàng.

Câu chuyện xảy ra chỉ trong vòng một tuần. Phần lớn các bạn có lẽ sẽ thấy cuốn phim này rất chán vì ngày nào cũng xảy ra ngần ấy chuyện. Chàng Paterson thức dậy, hôn vợ, ăn sáng bằng Cheerios, đi làm, nghe anh sếp than thở chuyện nhà, tối về dắt chó đi dạo, ghé vào cái bar nghe ông chủ quán bar nói chuyện đời, gặp những người trong thành phố nhỏ. Tuy nhiên thành phố nhỏ cũng có một vài bi kịch và rất nhiều hài kịch xảy ra hằng ngày. Paterson, nhà thơ của chúng ta lặng lẽ quan sát ghi nhận, viết lại thành những dòng thơ.

Đoạn thú vị nhất là đoạn cuối phim. Paterson buồn vì bị con chó xé mất tập thơ ra công viên ngồi ngắm cái thác Great Falls cho đỡ buồn. Chàng gặp một thi sĩ Nhật Bản. Ông này đến Paterson để viếng quê hương của nhà thơ William Carlos Williams người mà ông ta rất ngưỡng mộ. Paterson không thú nhận mình làm thơ chỉ nói mình là tài xế lái xe bus. Nhưng khi nhà thơ Nhật nói về thơ thì ông ta ngạc nhiên lẫn thú vị về sự hiểu biết về thơ của Paterson. Trước khi chia tay ông tặng Paterson một quyển sổ còn trống không. Loại sổ để người ta chép thơ. Ông nói: “Đôi khi, trang giấy trống thể hiện cho những điều rất có thể sẽ xảy ra.” Nhà thơ Nhật này chỉ làm thơ bằng tiếng Nhật và ông không mấy thích chuyện dịch thơ ra tiếng nước khác. Ông bảo “Đọc thơ dịch thì giống như đi tắm mà vẫn mặc áo mưa vậy.”

Và ngay sau đó chàng mở quyển sổ lấy cây bút trong túi ra viết một bài thơ khác.

Thật là một cuốn phim tuyệt vời về những điều rất bình thường trong cuộc sống. Và sau đây là một số hình ảnh ở Paterson.

the Great Falls
Thác nước ở Paterson. The Great Falls, nơi nhân vật Paterson hằng ngày ngồi thư giản ngắm thác và làm thơ.
Thác nước
Tôi chộp được ảnh này cũng chẳng khác ảnh trong phim mấy. Hình như đây là chỗ tốt nhất để nhìn thấy thác
red cottage
Một ngôi nhà nhỏ gần thác
Đợi chờ
Công viên, nơi này nhân vật Paterson đi và về trong công việc lái xe
115
Một bờ tường vào mùa thu. Phim được quay trong vòng ba mươi ngày vào mùa thu
chiếc xe buýt ở Paterson
Và đây là loại xe buýt nhân vật Paterson đã đưa đón hành khách ở Paterson.

Xem phim Sea of Trees

Tôi xem bốn phim. “Silence,” “Light Between Oceans,” “Nocturnal Animals,” và “Sea of Trees.” Cả bốn phim tôi đều ngần ngừ không muốn xem nhưng xem xong rồi thì thấy phim nào cũng hay. Nếu phải chấm điểm tôi cho ba phim nhắc đến đầu tiên bốn điểm trên năm. Riêng phim Sea of Trees tôi cho bốn điểm rưỡi vì ý thích cá nhân. Chẳng hiểu duyên cơ gì, tôi cứ đọc sách xem phim nếu không của người Nhật thì cũng nói những chuyện liên quan đến Nhật.

“Nocturnal Animals” do Tom Ford đạo diễn nên phim có thiết kế theo kiểu đương đại, diễn viên ăn mặc theo thời trang rất sang, đẹp lộng lẫy. Amy Adams trong phim này trông khác hẳn cô nàng khoa học gia về ngôn ngữ học trong phim Arrivals.

“Silence” do Martin Scorsese đạo diễn dựa vào truyện “Silence” của Shūsaku Endo. Quyển truyện này tôi mượn ở thư viện, đọc vài ba trang, đem trả, mượn lại, vẫn không thể đọc. Trước đó tôi đọc một truyện ngắn khác của Endo, thấy thích, nghĩ là có thể đọc tiếp. Bây giờ thì không nhớ ra truyện ấy nói gì, tựa đề là gì. (Tuổi già thật là khó ưa. Thậm chí những điều tôi viết ra trong hai ba ngày là đã quên.) Cuối cùng tôi xem hết cuốn phim và tôi mừng là tôi đã xem. Có lẽ tôi sẽ mượn lại quyển sách và lần này sẽ đọc cho đến hết. Ông Scorsese khi làm cuốn phim này đã xin gặp Đức Giáo Hoàng, có lẽ vì những chi tiết trong phim, làm cho đạo diễn e ngại bị xem là phỉ báng tôn giáo. Một trong những lý do khiến tôi muốn xem phim là vì, có lẽ, có một diễn viên tôi thích. Liam Neeson. Well, Andrew Garfield is also a plus.

Trong “Sea of Trees” tôi suýt không nhận ra Matthew McConaughey. Hoàn toàn mất vẻ sáng láng hào hoa phong nhã, trong vai Arthur Brennan, trông anh chàng tàn tạ khắc khổ. Arthur chán đời, mua vé máy bay một chiều sang một khu rừng đặc biệt ở gần núi Phú Sĩ, để tự tử. Aokirahara Forest, còn được gọi là suicide forest, là khu rừng nổi tiếng là nơi hoàn hảo để tìm cái chết. Khu rừng này rất rộng lớn, như một cái biển và nước biển được thay thế bằng cây của rừng. Do đó phim có tựa đề “Sea of Trees.”

Thoạt tiên thấy có diễn viên Nhật, Ken Wantanabe, đóng chung với Matthew McConaughey, và bối cảnh trong phim là rừng của Nhật tôi đoán do người Nhật viết phim bản. Tuy nhiên vào phim một lúc tôi nhận ra đây là cách viết phim bản của người Mỹ. Làm cho người ta quan tâm hay yêu mến nhân vật. Nhiều chi tiết được đưa vào phần đầu trong phim (thắt gút) về sau dùng thật tài tình (mở gút), đúng dịp, đúng lúc. Tạo chướng ngại vật, đẩy nhân vật vào trong tình trạng gian nan. Mỗi nhân vật đều có xung đột của họ. Sau khi giải quyết xung đột, mỗi nhân vật đều thay đổi, “trưởng thành.”

Arthur Brennan khi vào rừng, ngoài ống thuốc tự tử còn có một phong thư. Phong thư này gửi đến Joan, người vợ của Arthur. Joan vừa mới qua đời và là một trong những nguyên nhân đưa đến chuyện tự tử của Arthur. Về sau chúng ta biết trong phong thư là quyển sách thiếu nhi mà Joan thích nhất. Arthur chăn gối với Joan bao nhiêu năm, không biết vợ thích màu gì, thích quyển sách nào. Nhiều người trong chúng ta cũng như vậy. Vợ chồng sống với nhau mấy mươi năm thật ra người này không hề biết ý nghĩ của người kia.

Cuốn phim này không được khán giả yêu thích. Trong liên hoan phim (hình như ở Cannes) đạo diễn Gus van Sant đã bị “boo” (la ó để chê bai). Sách báo review phim cũng chê. Khán giả nói chung không thích phim có khuynh hướng u ám. Phim cũng có những chỗ không được lô gích và cường điệu hơi quá đáng. Tuy nhiên, tôi không chê phim vì những chi tiết này, nó phải có để được sự chú ý của khán giả rồi sau đó truyền tải những điểm quan trọng mà người viết phim bản và đạo diễn muốn truyền đạt.

Tôi thích phim này có lẽ vì tôi hay suy nghĩ chuyện sống chết. Như đã nói trước đây, tôi chết hụt nhiều lần nên rất quan tâm đến sự sống và cái chết. Bạn đã thấy tôi tự hỏi sống là gì. Tôi không muốn nghĩ rằng sống “chỉ” là nuôi dưỡng, kéo dài (càng dài càng tốt) sự sống mà chúng ta được ban cho từ lúc chào đời.

Khi Arthur vào rừng, uống hai viên thuốc màu xanh, chưa kịp uống hết cả ống thuốc, thì bắt gặp Takumi đang lảo đảo tìm đường đi ra khỏi rừng. Ông lạc lối đã hai ngày, cổ tay ông đẫm máu vì những vết cắt. Thay vì nằm chờ cái chết đến ông bỗng đâm ra nhớ vợ con và muốn tìm đường về nhà. Thấy ông quẩn quanh một cách tuyệt vọng Arthur tìm cách giúp ông, nhưng cũng bị lạc luôn. Takumi tự tử vì bị giáng chức. Arthur không hiểu được tại sao người ta lại muốn chết chỉ vì bị giáng chức trong công việc làm.  Takumi nói “Tôi không muốn chết. Tôi chỉ không muốn sống!” Arthur hỏi, như thế thì có khác gì? Suy ngẫm một chút tôi thấy động từ sống và động từ chết có cái chủ động và tích cực của nó. Dĩ nhiên chúng ta thừa hiểu rằng người Nhật tôn trọng danh dự hơn là mạng sống.

Sự u ám của phim được làm dịu bớt bởi một chút dí dỏm. Buổi tối để sưởi ấm, hai người đốt lửa trong rừng. Ở bìa rừng có nhiều sợi dây màu được cột để đánh dấu phòng hờ người đi tìm cái chết, sau khi suy nghĩ, đổi ý và muốn trở về. Ngày xưa, truyện cổ tích của anh em nhà Grimms, Hansel và Gretel, hai đứa bé nhà nghèo bị bố và mẹ ghẻ mang vào bỏ trong rừng, đã rải đá cuội và bánh mì vụn để tìm dấu trở về. Arthur bảo rằng anh là người sử dụng mẩu bánh mì chứ không dùng dây màu (vì anh không muốn trở về.) Takumi nói “You are handsome!” Đây là một cách chơi chữ mà tôi không thể truyền đạt ngắn gọn. Câu nói có nghĩa là “anh rất đẹp trai” làm Arthur ngỡ ngàng. Takumi nói “Handsome and Gretel” khiến Arthur chợt hiểu ra, Takumi muốn nhắc đến nhân vật Hansel, cậu bé trong truyện cổ tích đã dùng vụn bánh mì để đánh dấu đường về. Là người Nhật, Takumi có thể nhớ lầm, hoặc là phát âm sai chữ Hansel. Arthur đã bật cười. Còn tôi cười to hơn vì nó gợi tôi nhớ những lần phát âm sai làm xấu hổ muốn chết luôn cho rồi của tôi. Chưa bao giờ tôi xem một phim có không khí nặng nề lại làm tôi cười to như thế.

Tôi ngưng ngang ở đây vì thấy không muốn viết tiếp. Cũng không muốn xui các bạn nên xem phim này. Tôi viết chỉ vì nó gợi tôi suy nghĩ về chuyện sống nhiều hơn là chuyện chết, chuyện quan hệ giữa vợ chồng, người ta ở với nhau lâu năm, có thật là bởi vì tình yêu không?

Post trước sửa sau. Bây giờ tôi phải chuẩn bị đi làm.

Xem phim A Single Man

Một phim tuyệt đẹp. Tôi thích đến độ tìm mượn quyển sách ở thư viện để đọc. Và viết mấy câu để ghi nhớ ở đây. Làm sao mà bạn có thể không thích phim nhỉ? Một phim hay có sức mạnh có thể thay đổi quan điểm của người xem, đi ngược lại định kiến của xã hội.

Thứ Bảy đầu tiên của tháng 3

Hôm nay nắng rực rỡ nhưng lại rất lạnh. Tôi dự định đi rừng nhưng lạnh quá, mà tôi lại bị cảm tuần vừa qua nên thôi. Tôi cũng thuộc loại khỏe mạnh, ít khi buồn vẩn vơ, nhưng thỉnh thoảng tôi lại rơi vào một cơn kiệt sức, rã rời chỉ muốn nằm luôn hai ba ngày. Tuy nhiên vẫn phải ngồi dậy để ăn. Tôi là người thích ăn, dù bệnh ăn vẫn thấy ngon miệng. Bởi vậy càng ngày càng béo ù ra.

Hôm qua tôi xem một lượt hai phim The Boxtrolls và Finding Dory. Xem The Boxtrolls vì có một bạn trẻ trên blog review và bài review thật là sâu sắc. Người review phim The Boxtrolls nhìn thấy một điều mà ngay cả tôi tuy già cũng không để ý: Cái sức mạnh của đám đông và những người khích động đám đông để đạt mục đích sai trái của cá nhân. Xem Finding Dory vì tôi thích phim Finding Nemo. Chắc bạn sẽ cười tôi lớn tuổi rồi mà xem phim trẻ con. Thật tình, người Mỹ họ làm phim trẻ con nhưng vẫn rủ rê được người lớn. Thật là một cách kinh doanh khôn ngoan, nếu họ làm phim chỉ để trẻ em xem thì người lớn sẽ không đưa trẻ em đến rạp mà xem; vì vậy phim trẻ em vẫn có những vấn đề cho người lớn suy nghĩ. Ở quan điểm người xem bình thường, xem để giải trí, cả hai phim đều xem được nhưng không thể gọi là phim hay đến mức tuyệt vời. The Boxtrolls có tính sáng tạo, người viết phim nghĩ ra những điều độc đáo như: những con quái thú sống trong hộp, và thằng bé được những con quái thú này nuôi lớn lên. Cái con người thực tế trong tôi moi móc ngay ở cái chỗ một thằng bé sống trong hang động biết nói tiếng người, ôi thôi đủ thứ không hiện thực, rồi tôi quay trở về ý nghĩ, chính những chi tiết hoang đường như thế mới làm ra phim. Suy nghĩ cứng ngắc như tôi làm sao mà sáng tác cho được. Finding Dory mang cho tôi cảm giác mỗi lần tôi xem sequel của một phim nổi tiếng, luôn có một chút thất vọng. Có lẽ những cái hay của một phim nổi tiếng sẽ không thể thực hiện lần thứ nhì. Tôi yêu màu sắc rực rỡ trong phim Finding Dory và những câu đối thoại trong phim bản khá thú vị. Cả hai phim đều thuộc loại hoang đường trong hiện thực. Nếu phải cho điểm tôi sẽ cho ba điểm trên năm, vui vẻ rộng rãi một chút sẽ cho ba điểm rưỡi.

Tối qua tôi vẫn còn dùng cái tablet. Sáng nay tự nhiên nó chết ngắc. Cắm điện bấm nút này nút kia cái màn ảnh vẫn đen thui. Tôi tức mình, còn mới keng mà đã hư. Tôi vào nét thấy người ta bảo reset bằng cách bấm nút power và volume cùng một lúc khoảng 15 giây. Tôi bấm một hồi nó reset nhưng vẫn không dùng được. Tôi sửa nó bằng cách những người không biết sử dụng máy, bấm lung tung lia chia loạn xạ, cuối cùng cái tablet trở lại bình thường. Tôi thở dài nhẹ nhõm. May quá.

Ông Tám nghe tôi than máy chết liền tặng tôi một cái tablet khác ông mới mua nhưng chưa dùng lần nào, nhỏ hơn gọn hơn. Dĩ nhiên là nhận ngay lập tức và cám ơn.

 

Suy nghĩ vụn về phim

Tôi đưa ông Tám đi bác sĩ, ngồi chờ nên viết nhảm.

Trong lý thuyết phê bình phim có auteurism, là khuynh hướng dựa vào tiểu sử của người làm phim để phân tích cuốn phim. Khuynh hướng này đưa ra nhiều chi tiết thú vị.

Tôi nghĩ đến hai cuốn phim. Still Walking và Akira Kurosawa’s dreams. Cả hai đạo diễn đều cho nhân vật mang suy nghĩ của mẹ. Và người xem có thể nhận ra bóng dáng người làm phim trong đứa con.

Giấc mơ của Akira Kurosawa là một tập phim bao gồm tám phim ngắn. Phim nào cũng đặc biệt. Nhưng tôi chú ý nhiều đặc biệt đến ba hay bốn phim. Và phim đầu tiên Đám Cưới Chồn (còn có tên khác là Sunshine in the Rain) là phim thể hiện mối quan hệ của ông Kurosawa với mẹ rõ ràng nhất.

Thể theo lời của Kurosawa trong một cuộc phỏng vấn, ngày còn bé ông rất ít nói, đến độ bố mẹ ông nghĩ là ông bị bệnh tâm lý hay thần kinh. Cậu bé trong phim là hình ảnh của Kurosawa. Ông đã cho người dựng lại mái hiên nhà cho thật giống ngôi nhà của ông và hướng dẫn người diễn viên cách diễn làm sao cho thật giống mẹ của ông. Theo dõi phim bạn sẽ thấy người mẹ của cậu bé trong phim rất bận rộn và tính chu đáo đâu ra đó. Bạn có thể nghĩ rằng người mẹ của cậu bé muốn dạy con sống cho đúng với qui luật của xã hội hơn là bày tỏ lòng yêu mến với con, dù đứa bé chỉ chừng tám hay chín tuổi.

Hãy thử tưởng tượng, nếu là bạn, bạn sẽ nghĩ gì, khi người mẹ đưa cho con lưỡi kiếm được dùng để tự tử khi samurai muốn dùng cái chết để bảo toàn danh dự, và bà quay vào nhà đóng cửa lại để mặc cậu bé đi tìm một trong những con chồn làm đám cưới mà xin lỗi. Lỗi của cậu bé là đã nhìn thấy đám cưới của loài chồn, thường diễn ra khi trong mưa có nắng, mà loài chồn không thích như thế. Nếu loài chồn không tha thứ lỗi, cậu phải tự xử bằng thanh kiếm ngắn. Phim rất đẹp, nào là hoa là lá, là đám cưới chồn với màu sắc rực rỡ và điệu múa thật thu hút. Nhưng cái cảm giác của người nằm mơ, hay cậu bé trong cuộc, thật là một cảm giác đáng sợ hãi và đau lòng.

Chủ Nhật mùa đông

1
cay-1
cay-2

Ảnh cũ đăng lại.

Chủ nhật mùa đông thì ở trong nhà không đi đâu hết. Hôm qua tuyết rơi đến tối, dày khoảng hơn một tấc. Tuyết bám đầy các cây đại thụ, cây thông trông rất đẹp. Khéo chụp ảnh có thể biến cảnh đẹp thành ảnh của lịch hay thiệp Giáng sinh. Chắc là trưa nay sẽ giúp ông Tám dọn tuyết. Không thấy hứng chụp ảnh tuyết nữa. Muốn ra ngoài là phải mặc áo ấm đội mũ đeo găng. Ở trong nhà thì cửa sổ rất bẩn làm ảnh mờ. Đêm qua Boyfriend không về chỗ ngủ có lẽ vì tuyết lấp hết lối đi.

Thứ Bảy hôm qua nhờ trời tuyết ở nhà tôi xem phim bất tận. Cô út giới thiệu mấy lần tôi không xem, nhưng cuối cùng hết phim mượn của thư viện tôi đồng ý xem với cô phim Swiss Army Man, Daniel Radcliff và Paul Dano đóng vai chính. Không biết nói sao về phim này. Phim vừa bi vừa hài. Có tính sáng tạo và avant-garde. Hài hước nhưng tục, cách tục rất ấu trĩ như là trẻ con. Có khuynh hướng đồng tính luyến ái của đàn ông. Phim cũng nói lên cái cô độc của những người trẻ tuổi không được gia đình yêu thương và xã hội chấp nhận. Dĩ nhiên bạn sẽ không còn thấy hình ảnh của Harry Potter. Radcliff cố gắng rất nhiều để trở thành một diễn viên nghiêm túc, muốn cởi bỏ hình ảnh Potter anh đã khoác lên người nhiều năm nay.

Tôi xem một phim tài liệu về những người làm phim. Một nhà làm phim nổi tiếng (tôi quên tên) đã nói, ông bỏ ra 95 phần trăm cuộc đời để đi tìm nguồn tiền cung cấp cho ông làm phim, và 5 phần trăm để thực hiện phim. Phim tập hợp những người nổi tiếng như Scorcese, Bertolucci, Alec Baldwin, và có cả Ryan Gosling trả lời phỏng vấn ở cuối phim.

Phim Chicken With Plums là một phim ngoại quốc nói tiếng Pháp phụ đề Anh ngữ. Tôi xem phim này với mục đích tìm một cái gì đó đặc biệt để viết về năm con Gà. Đây là một phim Persian (Iran). Món gà nấu với trái mơ/mận là món ăn mà một nhân vật trong phim rất thích. Phim này thuộc loại bi kịch kiêm hài kịch. Nhân vật chính Nasser-Ali chán đời nên muốn chết. Chàng thành công với việc tự tử trong tám ngày. Và trong tám ngày cuối cùng, cuộc đời của chàng được diễn ra trong cuốn phim. Một nhạc sĩ vĩ cầm có tài, được học hỏi với vị thầy giỏi, yêu một người, cưới người khác, cây đàn của vị thầy truyền từ đời này sang đời khác, bị người vợ đập vỡ trong cơn giận điên cuồng, cuộc hôn nhân không hạnh phúc, thời cuộc, nghèo khó, tài năng bị hủy hoại, đưa đến sự thất chí của nhân vật. Món thị gà nấu mơ chỉ được nhắc đến thoáng qua, khi người vợ nấu món ăn chồng ưng ý mang vào phòng cho chồng. Anh chàng nằm chờ thần chết. Và chàng nói thẳng với người vợ là anh chưa bao giờ yêu nàng, khi nàng xin lỗi chồng vì đã đập vỡ cây đàn. Phim bớt nặng nề nhờ những màn hài kịch.

Tôi xem Grand Piano và Guy and Madeleine on a Park Bench do Damien Chazelle đạo diễn. Grand Piano có cốt truyện hay, hào hứng. Hai diễn viên nổi tiếng, John Cusack và anh chàng đóng vai Frodo trong phim Lord of the Rings, quên mất tên.  Phim Guy thì tôi chỉ xem nửa chừng vì chán. Cả hai phim đều là phim âm nhạc, Guy and Madelein về jazz.

Vài cuốn phim hay

Ông Tám đi chơi xa với bạn từ Thứ Sáu đến thứ Hai mới về. Tôi rảnh rang từ chiều thứ Sáu sau khi đi làm về. Ăn thức ăn cũ còn thừa, từ hôm thứ Sáu đến thứ Hai tôi không nấu nướng gì cả. Trưa nay tôi sẽ ăn mì gói, hay oatmeal, hoặc là bánh mì sandwich với cá hộp.

Trời mưa rỉ rả, ướt át, lạnh lạnh, đủ để tôi trùm mền xem phim và ngủ. Tôi xem một loạt phim của Anthony Minghella trong đó có “Truth,” “Nine,” và “The Story Teller”. Bên cạnh mấy cuốn phim của Minghella còn vài phim khác như  “Walter Mitty,” và ba tập phim “Mushi-shi.”

“Truth” gây ấn tượng mạnh với tôi, dù phim này bị liệt vào loại ế hàng. Kate Blanchett đóng vai nhà sản xuất phim tài liệu cho chương trình “The 60 Minutes” rất hay. Robert Redford trong vai Dan Rather. Redford đến già vẫn còn nét điển trai. Không biết vẻ đẹp lão của ông có phải chỉnh sửa bằng dao kéo hay không. Cuốn phim đặt dấu hỏi, thật sự Cựu Tổng Thống Hoa Kỳ Bush (con) có gia nhập National Guard hay không, hay chỉ là cách trốn trách nhiệm quân sự của một ông “hoàng tử.”Vì cuốn phim này mà người sản xuất phim và ba nhân viên dưới quyền bà đều bị mất việc.

Phim “Nine” xem được, đẹp mắt, hấp dẫn với đoàn diễn viên tên tuổi lừng lẫy. Daniel Day-Lewis, Sophia Loren, Judi Dench, Kate Hudson, Penelope Cruz, Marion Cotillard. Một nhà làm phim bỗng dưng tịt ngòi sáng tạo, vướng mắc vào nhiều cuộc tình ái, cuối cùng bị vợ bỏ. Anh ta cố quay lại với nghề và hy vọng được sự tha thứ của người vợ cũ. Phim nhạc kịch, cốt truyện khá rời rạc nhưng có nhiều màn vũ đẹp mắt.

“Walter Mitty” xem lần thứ hai thấy thích hơn lần đầu. Thích mấy bản nhạc trong phim. “Mushi-Shi” là phim animé của Nhật. Tôi bắt đầu xem tập thứ Ba, rồi xem tập thứ Nhất, chưa xem tập thứ hai. Mỗi tập có chừng năm phim. Phim đầu tiên của tập thứ Nhất rất hay. Phim Nhật thường có sức tưởng tượng rất độc đáo.

Mỗi phim tôi rút ra một bài học, hay ít ra một vài điều để tôi suy nghĩ. “Truth” dựa vào một chuyện có thật. Truth nghĩa là sự thật, nhưng đôi khi sự thật không hoàn toàn là sự thật mà là một cách nhìn của người trong cuộc, một khía cạnh của sự thật được trình bày theo sự suy diễn của mỗi người. Mary Mapes là người đưa vụ tù nhân Abu Ghraib bị ngược đãi ra ánh sáng và được trao giải thưởng Peabody. Người xem phim có thể nghĩ rằng bà đã quá khích trong việc đào xới quá khứ phục vụ trong National Guard của cựu Tổng thống Bush. Nhưng cũng có thể bà đụng chạm vào quyền lực khủng khiếp của nhà cầm quyền nên bị trừng phạt. Dan Rather sau vụ tường thuật này cũng về hưu. Những người làm báo chí mong muốn đưa sự thật ra ánh sáng nhiều khi bị tổn hại rất nhiều về thanh danh, sự nghiệp, mất chức mất việc, nhiều khi mất mạng.

Ở một nước tự do dân chủ, báo chí và truyền thông có cơ hội đến gần với sự thật và đưa quan điểm của mình ra trước công chúng. Tuy nhiên sơ sẩy một li cũng bị tiêu tan sự nghiệp.

Vẫn bước – Still Walking

Nếu cuối tuần muốn tìm xem một phim nhẹ nhàng để giải trí, bạn sẽ không thích phim này, “Still Walking” xin tạm dịch là Vẫn Bước. Những phim về xung đột trong gia đình vẫn làm tôi ngại ngần không muốn xem vì cái không khí nặng nề của nó. Gia đình nào mà chẳng có xung đột, ngấm ngầm hay lộ liễu, vì thế chẳng ai thấy dễ chịu khi sống lại những giây phút quen thuộc nhưng không êm đẹp của mình. Người Mỹ làm nhiều phim loại này. Họ thể hiện sự xung đột trong gia đình một cách khôi hài để làm giảm bớt không khí nặng trĩu của những cuộc cãi nhau, hằn học ngấm ngầm với nhau. Thoáng qua trong ý nghĩ tôi là phim “Death at a Funeral,” “The Royal Tenebaums,” còn nhiều nhưng bất thình lình không nhớ ra.

Tựa đề “Still Walking” được trích từ một bài hát Nhật thịnh hành vào cuối thập niên 60. Và cuốn phim này cũng lấy bối cảnh xã hội Nhật-bản vào thời gian này. Câu chuyện xoay quanh gia đình của bà Toshiko Yokoyama (diễn viên Kirin Kiki) trong ngày giỗ đứa con trai cả của bà qua đời vì chết đuối trong khi cứu người. Tôi chú ý đến nữ diễn viên này vì hình dáng của bà, tóc bạc muối tiêu, mặt không son phấn, dáng đi lệt bệt nặng nề, nhan sắc tầm thường (rất giống tôi 🙂 chỉ tiếc tôi không có tài diễn xuất của bà). Đạo diễn Hirokazu Kore-eda chọn bà vì ông thấy ngoài bà ra không ai có thể diễn được vai này. Kore-eda sáng tạo nhân vật này dựa vào bà mẹ của ông. Phim này được viết sau khi bà mẹ của Kore-eda qua đời, là một cách để đạo diễn tạ từ người mẹ lần cuối cùng.

Xung đột trong “Still Walking” nhẹ nhàng hơn phim “August: Osage County” không có những cuộc đấu khẩu phẫn nộ la hét, nhưng đầy những đay nghiến nhức nhối ngấm ngầm. Ông bố là bác sĩ, tuy đã về hưu nhưng vẫn muốn được gọi là Doctor, thậm chí không muốn người ta nhìn thấy mình đi chợ giúp vợ. Ông bà có hai con trai và một con gái. Đứa con trai lớn Junpei, học làm Bác sĩ nối nghiệp và là nguồn hãnh diện của bố, chết đuối từ mười lăm năm trước. Đứa con trai kế Ryota Yokoyama là con chiên ghẻ của gia đình. Không làm bác sĩ mà lại đi học hội họa, đang làm nghề bảo tồn tranh xưa cũ thì bị thất nghiệp. Ryo còn phạm một cấm kỵ khác của xã hội Nhật, vẫn còn bảo thủ vào những năm 60, là anh cưới một người đàn bà góa chồng có đứa con trai riêng. Cô con gái có chồng được hai con, muốn dọn về ở chung với bố mẹ. Điều đó có nghĩa là cô sẽ lấy căn phòng của Ryo, và với xã hội Nhật, bố mẹ già thường ở chung với con trai chứ không ở với con gái.

Bạn có thể đoán được cảm giác bất an của tất cả mọi người trong buổi giỗ. Ryo thì ở trong tình trạng mình là người thất bại không đạt được nguyện vọng của bố. Như cha mẹ Việt Nam hay than thở “hòn vàng thì mất, hòn đất thì còn” Ryo thầm nghĩ rằng ông bố đã tiếc rằng người chết là Junpei. Điều này làm tôi nhớ đến một đoạn trong phim “Lord of the Rings,” Denethor có hai người con là Doromir và Faramir. Doromir chết trong lúc đi tìm chiếc nhẫn chúa cho bố và Faramir luôn nghĩ rằng Denethor tiếc là người chết là Doromir chứ không phải Faramir. Tôi tin rằng tất cả các bậc cha mẹ đều cố gắng yêu thương con đồng đều, nhưng sự thật là có khi cán cân tình yêu của cha mẹ bị nhìn thấy nghiêng về người này nhiều hơn người khác. Ryo cũng sợ là bố mẹ sẽ không tiếp đãi ân cần vợ mình và con trai (của vợ).

Ông bố, Kyohei, nếu không gắt gỏng cáu kỉnh, thì cũng lạnh nhạt lơ đãng. Ông thường dấu mình trong văn phòng riêng của ông, chỉ xuất hiện khi đến bữa ăn. Bà mẹ, Toshiko thì đầm ấm hơn, luôn luôn lăng xăng lo nấu các món ăn khoái khẩu của cả nhà. Tuy nhiên, câu truyện khai mở dần dần người xem sẽ thấy bà mang trong lòng một nỗi đắng cay lâu dài. Nỗi đau này biến thành một thứ chất độc, tràn ra khỏi lòng bà vấy vào người chung quanh.

Nói lén với con gái, chuyện Ryota lấy người đàn bà đã có con, Toshiko nói dẫu sao lấy một người đàn bà ly dị vẫn tốt hơn người đàn bà góa chồng. Vì người đàn bà ấy tự nguyện bỏ chồng. Cô con gái nghe bà mẹ nói thế cũng kinh ngạc bảo rằng. Nhiều khi mẹ thật là độc ác. Mãi về sau tôi mới hiểu câu nói của bà. Người đàn bà bỏ chồng “có thể” không còn yêu thương vương vấn người chồng cũ nữa. Tuy nhiên, nó hàm ý trường hợp của bà. Nhiều khi người ta sống suốt đời với chồng (hay vợ) nhưng tình yêu không còn, không ly dị có thể vì không dám, không dám sống một mình, không dám nuôi con một mình, không dám đi ngược lại dư luận, và hằng trăm thứ khác.

Trong bữa ăn, mọi người bàn đến âm nhạc. Ông bác sĩ luôn luôn coi thường bà vợ nội trợ là người không biết yêu và thưởng thức nhạc. Bà nói bản nhạc bà rất yêu thích là bài Blue Light Yokohama. Bà bảo Ryo đặt đĩa lên máy hát, và khi âm điệu ngọt ngào lãng mạn của bản nhạc tràn đầy căn phòng, bà nghiêng đầu lẩm nhẩm hát theo.

“Aruitemo aruitemo kobune no you ni
Watashi wa yurete yurete anata no ude no naka”

“I walk and walk, swaying
Like a small boat in your arms”

Bạn có thể hình dung hai người đang khiêu vũ với nhau.

“Em bước và bước, đong đưa
như chiếc thuyền con trong vòng tay anh”

Khi bữa ăn tàn, ông chồng bác sĩ vào ngâm mình trong bồn tắm, bà vào phòng tắm mang đồ dùng cho ông, và thổ lộ, khi ông hẹn hò với tình nhân, bà đến nhà, biết ông và tình nhân đang khiêu vũ, bà nghe ông hát vang những câu trong bài hát, bà ôm con lẳng lặng về nhà.

Phim còn có những giây phút khác rất hay, như lúc cậu bé Atsushi con riêng của Yukari (vợ của Ryota) nhìn con bướm và nói những lời tâm sự với người bố ruột đã qua đời. Và lúc bà mẹ Toshiko công nhận là bà mời cậu bé mà Junpei cứu mười lăm năm trước đến dự đám giỗ của Junpei hằng năm vì bà muốn trừng phạt anh ta, vì anh ta mà con trai bà chết đuối.

Người ta cũng thường so sánh Hirikazu Kore-eda với Yasujiro Ozu đạo diễn Nhật nổi tiếng với những phim tình cảm giữa cha mẹ và con cái. Phim đầu tiên người ta có thể nghĩ đến của Ozu là Tokyo Story. Tôi thì nghĩ đến Late Spring của Ozu. Cũng là tình gia đình nhưng Late Spring dịu dàng và ngọt ngào trong khi Still Walking quặn thắt và cay đắng. Về mỹ thuật thì phim của Ozu có khuynh hướng mỹ thuật của Zen, thanh đạm và đơn giản, trong khi phim của Kore-eda gần với cuộc sống hiện thực.

Đây là phim đầu tiên của Kore-eda tôi được xem. Ngạc nhiên thấy thư viện địa phương của tôi có chừng năm hay sáu phim của đạo diễn này. Chắc chắn là tôi sẽ dành thì giờ để xem thêm vài phim của ông.

Kèm theo cuốn phim Still Walking tôi mượn ở thư viện có một bài essay review phim của Dennis Lim. Trong quyển này có một số tranh và ảnh tôi scanned và post lên để minh họa. Nhà của hai ông bà Yokoyama ở trên một ngọn đồi cao. Xe chở hành khách thả người ở xa lộ và khách đến thăm phải leo lên những bậc thang này để đến nhà ông bà. Ảnh đầu là ông bà sau khi đưa vợ chồng Ryota ra về hai người trở vềcăn nhà. Bà lẩm bẩm nhớ lại tên người lực sĩ mà bà và Ryota trong khi trò chuyện đã không nhớ ra. Ông hỏi tên người ấy là gì bà chẳng chịu nói ra cho ông biết. Cùng lúc ấy Ryota trên xe buýt cũng nhớ ra tên người lực sĩ. Một chi tiết nhỏ nhưng nói rằng cả hai mẹ con cùng nghĩ đến nhau. Dù bà mẹ nhiều khi nói những lời khắc nghiệt, vô tình làm đau lòng người khác, nhưng đó là một thí dụ về tình gia đình, những đau đớn và ngọt ngào luôn quyện vào nhau.

Ảnh thứ hai là Ryota đi với mẹ. Ảnh thứ ba là những đồ vật trưng bày trong nhà. Một điểm thú vị là đàn ông Nhật Bản trong thời ấy vẫn không giúp đỡ vợ. Ryota với vợ leo lên bậc thang, anh chàng đi tay không trong khi cô vợ xinh đẹp mảnh mai phải tay xách nách mang thở hào hễn.

 

Love of Violets

Tôi thường tự hỏi mình, điều gì khiến mình nghĩ rằng quyển sách đó hay, cuốn phim đó hay. Vì nó quen thuộc với những cảm nhận của mình đã được hình thành bởi kinh nghiệm sống hay được giáo dục dần dần ngay từ lúc sinh ra. Hay vì nó rất lạ, quá lạ với những kinh nghiệm này, nó làm òa vỡ trong mình một ý thức mới, cái nhìn khác. Hay cả hai. Và còn nhiều yếu tố khác mà nếu suy nghĩ cho cặn kẽ chắc chúng ta sẽ khám phá ra chính mình, một con người mà chúng ta không nhận biết đã tiềm tàng trong chính chúng ta.

Bây giờ ở tuổi này, tôi thường tự chống chỏi với thị hiếu của người xem người đọc chung quanh tôi. Tôi cố gắng nhìn thấy cái hay của một tác phẩm bằng chính cảm nhận của mình, kinh nghiệm của mình. Điều này dễ làm, mà cũng không dễ làm. Mình phải thường xuyên cảnh giác với chính mình.

Tôi xem New York, I Love You đã mấy tuần nay. Để ý đến nó, cũng như để ý đến một vài quyển sách nhưng không có dịp suy nghĩ nhiều hơn, cũng như viết ra thành một bài ra đầu ra đuôi. New York, I Love You là một tập phim trong đó có mười một phim ngắn. Nói là ngắn chứ mỗi phim cũng khoảng hơn mười phút. Mười phút rất quí giá của một người đọc blog hay facebook. Cái gì hơn ba phút thì đã là quá dài.

Tập phim lấy bối cảnh của New York. Hôm trước tôi mời bạn xem một phim ngắn của một đạo diễn ngoại quốc, đoạn phim lấy bối cảnh mấy cái cầu tàu (piers) dọc theo sông Hudson. Hôm nay tôi mời bạn xem đoạn phim Love of Violets lấy bối cảnh khu nhà giàu ở Fifth Avenue East Side. Đây là khu phố đắt tiền dọc theo Central Park. Phim trên youtube được phụ đề Anh ngữ trong khi đoạn phim trong DVD không có phụ đề và nói nhỏ quá với accent của người ngoại quốc tôi nghe tiếng được tiếng mất nên không hiểu. Đoạn phim này dễ hiểu hơn. Tôi thích đoạn này hơn dù người ta thường hay nói đến đoạn phim có Ethan Hawke và Maggie Q.

Phim nói về một nữ ca sĩ opera về già trở lại New York. Bà thuê một căn phòng ngó xuống Central Park. Và chuyện sau đó xảy ra như một cơn mơ rất là Murakami (hay Kafka).

Tại sao tôi thích phim này, vì tôi nhận ra Fifth Avenue hay Central Park, hay vì LaBeouf là một diễn viên giỏi tôi xem nhiều phim, vì sự cô độc của người nữ ca sĩ opera già đã quá thời, vì tiếng vĩ cầm trong phim, hay vì không khí Murakami của phim. Đoạn chàng thanh niên bước ra cửa sổ, bước vào ánh sáng hình ảnh rất đẹp, tưởng như một alien trong không gian bước vào bước ra trong ánh sáng.

Bài thơ cuối cùng – Apocrypha

Mời bạn xem một đoạn phim ngắn tựa đề “Apocrypha” của đạo diễn Andrey Zvyagintsev, trong tuyển tập phim ngắn “New York, I Love You.”

Tôi không tìm được bản có phụ đề tiếng Anh, dù phim nói tiếng Anh. Tóm tắt phần đầu, những câu đối thoại tiếng Anh (dành cho một vài người bạn của tôi ở VN thích nghe tiếng Việt) cho chúng ta biết. Cậu bé cuối tuần đến nhà người bố, mượn cái máy quay phim, hứa thứ Hai sẽ mang đến trả. Người bố hỏi mẹ khỏe không. Cậu bé trả lời mẹ bình thường. Hai bố con chia tay nhau. Họ vừa có vẻ xa lạ, ngỡ ngàng, vừa có vẻ như muốn ở gần nhau thêm chút nữa, muốn nói cái gì đó, muốn bày tỏ thêm chút tình thân. Khi ra khỏi nhà, có một cô gái đến hỏi tìm một người đàn ông nào đó sống trong cái building này. Cậu bé vì không sống ở khu nhà này nên trả lời “Tôi chưa hề nghe tên ông ấy.” Điều đáng chú ý là cậu bé đã không trả lời. Tôi không sống ở đây nên tôi không biết.

Cậu bé mang máy quay phim ra bờ sông, có vẻ như là dòng sông Hudson chảy ngang qua thành phố New York. Và cậu tình cờ quay được một đoạn phim của hai người. Đến đây thì bạn có thể đoán được cốt truyện phim vì hầu hết toàn bộ phim có rất ít đối thoại. Tôi có thể đoán được một vài chữ bằng cách đọc trên môi của người đàn bà, như please vẻ van nài, năn nỉ. Và Why, đòi người đàn ông giải thích.

Trong phim có một bài thơ tiếng Anh, tạm dịch:

Chàng là hướng Bắc, hướng Nam, hướng Đông, hướng Tây của tôi,
Là những ngày làm việc trong tuần, và là ngày Chủ Nhật nghỉ ngơi,
Chàng là giờ nghỉ ăn trưa, là nửa đêm, là chuyện trò, bài hát
Tôi ngỡ tình yêu là vĩnh viễn: nhưng tôi đã lầm.
Giờ đây, những vì sao không còn được yêu mến, dập tắt từng chiếc.
Xếp xó mặt trăng, và tháo bung mặt trời;
Rót cạn đại dương và quét sạch rừng thẳm
bởi vì bây giờ không còn gì đáng giá nữa

Và sau đó là tấm ảnh của hai người, ở trang có đánh dấu đoạn thơ. Apocrypha là một đoạn văn, hay một đoạn thơ, hay một đoạn kinh thánh, không biết ai là tác giả, thường được trích dẫn trong những tác phẩm kinh điển hay thánh kinh.

 

The Big Short

the big short

Tôi muốn điểm phim The Big Short nhưng chợt nhận ra tôi không đủ tiếng Việt để viết về phim một cách chu đáo. Ngay cả chữ “Short” tôi không biết tiếng Việt trong ngành tài chánh dịch là gì. Dĩ nhiên short ở đây không có nghĩa là ngắn như bình thường. Muốn nói về phim này vì nó đánh vào nỗi lo sợ của tôi.  Tôi có một tuổi thơ nghèo khó, những năm mới sang Mỹ cũng vất vả chuyện tiền bạc, vì vậy suốt đời tôi luôn bị ám ảnh sợ nghèo, sợ đói, sợ từ đời mẹ đến đời con. Những cuốn sách, cuồn phim về giới tài chánh càng làm tôi bi quan hơn. Tôi vốn có rất ít lòng tin vào những người lãnh đạo nhưng chẳng biết làm gì hơn là theo con đường người đi trước đã đi. Tôi luôn luôn lo sợ là một ngày nào đó mình đọc trên TV cái bọn lãnh đạo tài chánh đã nuốt trọn số tiền nhỏ nhoi suốt đời làm việc tôi để dành cho tuổi già.

The Big Short, và trước đó là Wall Street, rồi đến The Wolf of Wall Street, càng làm tăng nỗi sợ của tôi. Sợ thì sợ nhưng chẳng biết làm gì chỉ biết nói về nỗi sợ của mình.

Tôi nghe đọc The Big Short trước, nghe lơ đãng, hay ngủ quên (tuổi già) nên nghe trọn quyển lúc được lúc mất không hiểu hết. Mượn quyển sách về đọc nửa chừng thì xem phim. Phim rút gọn lại nên dễ nắm được ý nhưng cũng chỉ hiểu lờ mờ. Cuốn phim hấp dẫn nhờ có nhiều tài tử nổi tiếng như Christian Bale, Ryan Gosling, Steve Carell, và Brad Pitt. Truyện có cái hay riêng. Thật tình khi đọc sách tôi không nghĩ người ta có thể làm phim vì nó rắc rối khó hiểu quá.

Đại khái là như thế này. Để mua nhà, không phải ai cũng có nhiều tiền để trả tiền mặt ngay một lúc. Do đó người ta phải vay tiền của nhà băng. Tiền này gọi là mortgage. Nhà băng có những luật lệ đòi người vay tiền phải có khoảng 5, 10, hay 20 phần trăm của giá căn nhà để đặt trước. (Tôi không muốn dùng chữ đặt cọc vì bản tính người Nam tôi sợ nói lái.) Người mua nhà phải có việc làm, có lợi tức nhất định (gọi là income), và khoảng lợi tức này phải đủ để trả tiền vay ngân hàng hằng tháng. Người mua nhà có thể chọn trả tiền vay mortgage trong 15 năm hay 30 năm. Trả 15 năm tiền lãi ít hơn 30 năm.

Thường thường người đàng hoàng trọng danh dự khi mượn tiền đều muốn trả cho đàng hoàng sòng phẳng. Không trả tiền thì sẽ bị xiết nhà. Do đó tiền cho vay mua nhà được xem là an toàn. Có người chọn trả tiền vay trong 30 năm, nhưng trả thêm vào món nợ chính (capital) nên hết nợ sớm, trong 10 năm, 20 năm. Số tiền thặng dư này nhà băng sẽ làm gì? Nếu trường hợp kinh tế trì trệ, giữ số tiền mặt to lớn mà không lãi thì coi như lỗ.

Để tránh lỗ nhà băng nới rộng luật lệ cho vay. Không xét lợi tức, không đòi tiền đặt trước, với giá lãi rất cao, cố định trong một hay hai năm đầu (fixed rate), và giá lãi tăng giảm theo thị trường (thường chỉ tăng chứ không giảm và tăng rất cao) vào những năm sau (adjustable rate). Người mua nhà không trả tiền nhà nổi bị mất nhà (default). Để tránh lỗ lã giới tài chánh nghĩ ra một trò chơi mới. Vì ai cũng tin là tiền cho vay mua nhà rất an toàn, nên giới tài chính đặt ra một thứ “bond” (không biết tiếng Việt) (công khố phiếu) có giá trị rất cao, rất an toàn, mức độ “AAA” dựa vào tiền cho vay mua nhà (bond based on mortgage securities). Nhà nước tài trợ những bond (công khố phiếu) này. Nhà nước mua bond (công khố phiếu) của Wall Street, bán cho dân với mức lãi thấp hơn. Dân tin tưởng ở những cái bond (công khố phiếu) này vì tuy lãi thấp nhưng không sợ mất tiền vì có chính phủ đứng sau lưng.

Khi số tiền vay mua nhà không trả trở nên quá lớn, giới quản lý dùng tiền vào công cuộc ăn chơi và trả lương cho các nhà tài chính quá cao, các món nợ xấu nhập nhằng chồng chất vào các món nợ tốt khiến bond cũng trở nên vô giá trị.

Có một số rất ít người nhận ra sự khiếm khuyết này. Họ đánh cược với ngân hàng, 1 ăn 10, ăn 20, ăn 200 trong một khoảng thời gian ngắn nào đó, 1 năm, 2 hay 3 năm, nếu những món nợ tốt (bond AAA) bị biến thành nợ xấu không trả nổi (default). Họ mua với giá 1 triệu lúc này thì khi thua cuộc ngân hàng phải trả cho họ 200 triệu. Sự đánh cược này gọi là “Short.” (Bây giờ thì tôi hiểu chữ short có nghĩa là bán để chạy nợ.) 22 tháng Năm 2019.

Kết quả là họ thắng cược. Năm 2008, nhiều nhà băng đóng cửa, người ta mất việc làm, nhiều người mất tất cả tiền hưu, tiền dành dụm dưỡng già.

Mở đầu phim là câu văn của Mark Twain, đại khái, “không phải cái điều mình không biết làm khổ mình, mà chính là lòng tin chắc chắn bị đặt sai chỗ mới thật là nguy hiểm.”

Sau đây là một số câu trích dẫn trong phim:

Overheard at a Washington, D.C. bar: “Truth is like poetry.  And most people fucking hate poetry.”

Nghe lóm trong quán rượu ở Washington D. C.: “Sự thật cũng như là thơ vậy.  Và phần lớn người ta rất ghét thơ.”

Phim chửi tục loạn xà ngầu, nghe riết quen tai nên không thấy tục nữa. Bạn không khỏi tự hỏi cái giới thông minh, có học, giàu có sang trọng như thế ăn mặc toàn là com lê đắt tiền mấy ngàn đồng một bộ mà sao ngôn ngữ của họ dơ dáy đến thế.

On screen quotation from Haruki Murakami’s novel “IQ84”: Everyone, deep in their hearts, is waiting for the end of the world to come.

Trên màn ảnh có một câu trích dẫn của Haruki Murakami trong quyển “IQ84”: Tự trong thâm tâm của tất cả mọi người, họ đều chờ đợi sự tận diệt của thế giới.

Thật ra câu này theo tôi hiểu là sự tận diệt của thế giới rồi sẽ đến không tránh khỏi chỉ là sớm hay muộn thôi.

Ben Rickert: If we’re right, people lose homes. People lose jobs. People lose retirement savings, people lose pensions. You know what I hate about fucking banking? It reduces people to numbers. Here’s a number – every 1% unemployment goes up, 40,000 people die, did you know that?

Ben Rickert: Nếu chúng ta đúng, điều đó có nghĩa là nhiều người sẽ bị mất nhà. Người ta mất việc làm, mất tiền để dành dưỡng hưu, mất tiền hưu bổng. Anh có biết điều làm tôi chán ghét cái bọn nhà băng mất dạy là gì không? Đó là giá trị con người bị suy giảm đến độ họ trở thành những con số. Con số là như thế này – cứ mỗi lần tỉ lệ thất nghiệp tăng 1 phần trăm, là có 40 ngàn người chết. Anh có biết điều này không?

Phim này, The Big Short, cùng với The Spotlight, và Trumbo nói lên sự khiếm khuyết, băng hoại của xã hội tư bản.

Trong nỗi lo sợ tài chánh cá nhân, tôi chỉ có một an ủi là ít ra cũng có người dám nói lên sự thật và sự thật cũng được lôi ra ánh sáng. Và xin cáo lỗi, với sự hiểu biết ít ỏi về tài chánh, và giới hạn của ngôn ngữ tôi chỉ viết đơn sơ được như thế thôi. Tôi xem phim hai lần, hiểu hơn trước khi đọc sách xem phim một chút, nhưng vẫn chưa đủ để tóm gọn cuốn sách hay giải thích nhiều hơn. Đề nghị nếu bạn quan tâm đến thị trường tài chính thì nên xem phim cho biết.

Ghi chú: Ngày 22 tháng Năm, 2019.  Bond có nghĩa là công khố phiếu.  Short sale có nghĩa là bán tống bán tháo để chạy nợ.

Vài cuốn phim hay

Tôi định viết về mấy cuốn phim này từ lâu nhưng wordpress của tôi bị hư cái gì chẳng biết mà gõ một hồi lâu mới ra chữ. Có khi tôi gõ hết câu rồi chữ  mới hiện ra. Và cũng vì tôi bận quá. Lúc rảnh thì lười hay mệt quá viết không nổi.

Về sách: Tôi nghe đọc hết quyển “City of a Thousand Dolls.” Sách dành cho các bạn trẻ (young adults) tình yêu nhẹ nhàng của một cô gái mồ côi, sống trong một thành phố dành riêng cho những cô gái bị cha mẹ bỏ rơi từ bé. Hãy tưởng tượng đến một xứ giống như Trung quốc theo chế độ một con. Cô gái tên Nisha theo dõi và truy tầm thủ phạm đã giết chết ba cô gái trong thành phố này. Cô có hai con mèo khôn ngoan (và biết nói). Nisha yêu một anh con nhà quí tộc nhưng về sau thì … . Hai con mèo thần biến thành người một nam một nữ (nghe giống Tiểu Thư và Lãng Tử hen? Tôi thề, lúc viết Tiểu Thư và Lãng Tử chưa nghe truyện này, nếu nghe rồi chắc không viết). Anh mèo thần này đẹp trai, chân chất, khỏe mạnh, bảo vệ Nisha, chỗ dựa cả thân xác lẫn tinh thần của nàng. Bạn có thể đoán được kết cục rồi chứ?

Về phim: Tôi xem rất nhiều phim hay, vì thế mà không có thì giờ để viết. Vì viết sơ sài thì bất công cho cuốn phim. Thôi thì vài chữ ghi lại. Cái gì xem sau viết trước vì còn nhớ.

Tokyo Fiancée. Truyện của Amélie Nothomb. Đây là best seller. Cô gái Bỉ sang Nhật, dạy tiếng Pháp cho một anh Nhật nhà giàu. Rinri yêu nàng nhưng Amélie vẫn còn đang tìm kiếm chính mình. Phim dễ thương, cảnh đẹp, vài ba cảnh nude chẳng che đậy chút nào. Amélie gầy, cao, và rất thu hút. Phim dễ gây cảm tình, so với Fear and Trembling thì nhẹ nhàng hơn.

Bridge of Spies. Truyện phim hấp dẫn. Tom Hank đóng vai chính thì không thể phàn nàn gì. Phim hơi cường điệu không mấy hợp lý nhưng xem cũng thu hút. Hoa Kỳ bắt được anh gián điệp Nga, ai cũng đòi giết. Tom Hank đóng vai anh luật sư bào chữa cho anh gián điệp này với tinh thần dân chủ, tôn trọng tự do và công lý.

Cinema Paradiso. Bạn nào đó đã giới thiệu tôi tìm xem. Phim xưa, được tô chỉnh lại. Không uổng thì giờ để xem. Tito cậu bé yêu phim thích làm phim, cùng ông ngoại mở lại một nhà chiếu phim cũ để chiếu cho người trên một đảo nhỏ của Ý xem. Tito yêu một cô gái con nhà giàu và đúng kiểu Romeo, đứng dưới chân cửa sổ nhà nàng hằng đêm mấy tháng trời, để chinh phục trái tim nàng. Dĩ nhiên mối tình này chết yểu vì cha mẹ nàng không ưng thuận. Tito bỏ làng ra đi và trở thành nhà làm phim nổi tiếng. Ba mươi năm sau, ông ngoại chết, chàng trở về tìm lại nàng. Phim xưa, hay lắm. Tôi nhớ mang máng một câu ông ngoại của Tito nói: “Người lớn, họ muốn làm điều tốt nhưng đôi khi họ sai lầm.”

Children of Heaven. Chẳng biết vì sao mà tôi xem phim này. Có bạn nào đó giới thiệu hay là cả hai phim này (Cinema Paradiso và Children of Heaven) có một điểm chung nào đó. Thí dụ như phim đoạt giải Cannes hay là cùng đạo diễn. Vì đang vội, sắp sửa đi làm nên tôi không thể tìm chi tiết. Phim của Iran. Hai anh em con nhà nghèo, mẹ ốm, bố mất việc. Người anh làm hầu hết mọi việc chợ búa giao dịch. Trong khi đi chợ mua khoai mua rau cậu bé đánh mất đôi giày của em gái. Mà đôi giày đã bị rách bươm rồi đem đưa ông thợ dán lại bằng keo. Vì đánh mất giày mà không dám nói với bố mẹ vì biết bố mẹ không tiền nên hai anh em dùng chung đôi giày của người anh để đi học. Xảy ra biết bao nhiêu khó khăn cho cả hai anh em (chừng tám chín tuổi) người anh tham gia dự thi chạy, vì đọat giải ba sẽ được đôi giày sneakers cho em mang đi học. Người anh thắng giải nhất, nhưng giải nhất không được đôi giày. Xem phim mà thổn thức.

Departures. Phim này lạ, đọat mười giải Japan Academy Prize Awards (tương đương Oscar của Hoa Kỳ). Ai chưa xem, mà có thể tìm được phim này, thì nên xem vì nó rất hay. Daigo Kobayashi mất công việc đàn cello cho giàn nhạc giao hưởng. Anh mang cô vợ trẻ về quê, nơi đó có căn nhà của mẹ anh để lại. Cần tiền để sinh sống anh đọc quảng cáo và tìm được công việc tẩn liệm thi hài trước khi mai táng. Truyện phim kết cấu rất chặt, mở thắt những gút mắt trong tâm lý.

Nếu có thể chấm điểm các phim này, tôi cho Bridge of Spies và Tokyo Fiancée ba sao. Tất cả các phim kia đều bốn sao.

Bây giờ tôi phải đi làm. Công ty tôi đang chuẩn bị đình công. Tôi bị đưa đi chỗ khác làm việc một thời gian mười hai giờ một ngày. Có thể sẽ không lên mạng một thời gian nếu đình công bắt đầu từ khuya thứ Bảy tuần này.

Chúc các bạn vui cuối tuần.

Phim

Vì có ấn tượng với phim Never Let Me Go dựa trên sách của Kazuo Ishiguro tôi tìm xem phim The Remains of The Day cũng dựa trên sách của tác giả này. Hai quyển sách ở hai lãnh vực hoàn toàn khác biệt nhau điều này càng làm tôi muốn đọc tác giả này. Vì chỉ mới xem phim nên có thể sách nói về những điều mà phim không chuyên chở hết. Qua phim The Remains of the Day, tôi nhìn thấy một mối tình câm lặng. Nếu bạn thích xem phim tình yêu, một tình yêu thật nhàm chán vì không có tình dục ngoại trừ một vài cái hôn, tuy thế vẫn có khả năng thu hút người xem (là tôi) vì những người trong cuộc đã đặt bổn phận lên trên tình cảm thì mời bạn xem phim này. Phần còn lại của cuối ngày, như mùa thu trong năm, như phần cuối đời người, chứa đựng nhiều hồi tưởng, nuối tiếc những mất mát, những khát vọng không thành, những mối tình vuột khỏi tầm tay vì định mệnh, vì thành kiến, như một lần yêu người, một lần mãi mãi bao giờ cho nguôi.

Tôi cũng xem phim The March of Penguin. Chẳng biết vì sao có phim này, mua từ bao giờ chỉ thấy trên kệ nên lấy ra xem. Loại Emperor Penguin sống ở Nam Cực, đi bộ 70 miles vào sâu trong vùng băng giá, một ngày trung bình, có mặt trời lạnh 58 độ F âm. Chim mái đẻ một trứng giao cho chim trống ấp. Khi chim trống ấp trứng, chim mái đi tìm thức ăn. Hơn ba tháng sau chim mái trở lại nuôi con bằng thức ăn dự trữ trong thân thể, thì chim trống đi ăn. Có khi vừa mới giao trứng, hai bên vụng về, trứng đóng băng và vỡ trước khi trứng được ấp ủ. Chim mẹ có khi bị làm mồi cho hải cẩu trong quá trình đi tìm thức ăn, điều đó có nghĩa là chim con cũng sẽ bị chết vì không có mẹ nuôi. Loài penguin này cũng là một loại chim di cư, trở về vùng băng giá để sinh sản rồi sau đó sống trên biển. Một phim rất hay và đòi hỏi rất nhiều công cũng như khó nhọc ở người quay phim.

Mấy cuốn phim nổi tiếng

Phim nổi tiếng. Tôi mượn ở thư viện, từ lúc đặt hàng đến lúc nhận được phim là mấy tháng. Nhưng khi đến thì chúng đến cùng một lượt. Vì chỉ được giữ một tuần nên liên tiếp mấy ngày nay tôi nằm dài xem phim.
Boyhood
Đạo diễn Richard Linklater, có những phim được giới trẻ thích như Before Sunrise, Before Sunset, Before Midnight. Phim này cũng có Ethan Hawke. Truyện phim không có gì đặc sắc, một cậu bé lớn lên trong một gia đình với những vấn đề thường thấy trong gia đình Mỹ trung lưu. Bố mẹ ly dị, bố lấy vợ khác, mẹ lấy chồng khác, xui gặp phải mấy ông chồng không mấy tử tế. Mẹ cậu vượt qua tất cả khó khăn, lấy bằng Thạc sĩ, hai chị em cậu bé học xong Trung học vào Đại học. Đám trẻ có khó khăn của đám trẻ. Người lớn có khó khăn của người lớn. Điểm đặc biệt của phim này là đạo diễn dùng một diễn viên từ lúc 6 tuổi cho đến lúc 18 tuổi.
Birdman
Phim này rất lạ. Vừa hiện thực, vừa siêu thực. Hiện thực ở chỗ khán giả có thể hình dung cuộc sống hậu trường như sự thật của các diễn viên kịch trên sân khấu Broadway. Cả Michael Keaton và Edward Norton đều có vẻ già, nhan sắc phai tàn. Siêu thực ở chỗ Keaton có thể bay như chim, nhưng khán giả suốt cuốn phim không biết chắc đó là do sự tưởng tượng của nhân vật hay nhân vật có thể bay thật. Truyện phim rất hay, thu hút người xem từ đầu đến cuối. Tác giả có thể tạo ra căng thẳng và đưa người xem từ ngạc nhiên này sang ngạc nhiên khác với những chi tiết tưởng chừng không đáng để chú ý.
Gone Girl
Truyện phim rất hay. Truyện phim gần giống với chuyện có thật xảy ra ở tiểu bang của tôi đang ở. Một anh chàng đẹp trai, vợ có mang bỗng biến mất. Ai cũng nghi anh chồng giết vợ vì tiền bảo hiểm và anh chàng đang sống nhờ vào tiền của vợ (cha mẹ vợ rất giàu). Tuy nhiên tác giả đã đẩy những chi tiết này đến cực độ và tạo thành một phim vẫn là những xung đột của vợ chồng nhưng gay cấn kịch liệt. Cô vợ có đầy đủ cái tốt của một người phụ nữ, đẹp, thông minh, dịu dàng, ngọt ngào, kỹ lưỡng, ngăn nắp, chu đáo, và khi phát hiện anh chồng của mình ngoại tình thì trở nên toan tính, độc ác, mưu mô, đến chỗ giết người.

Xem phim

Tôi xem ba phim.

Enemy, do Jake Gyllenhaal đóng hai vai, phim dựa vào truyện the Double của văn hào giải Nobel (1998) José Saramago. Giải Nobel danh tiếng đến như thế mà giờ đây có mấy người biết đến nhà văn này.

Evening, dựa vào truyện của Susan Minot. Phim có nhiều tài tử thượng thặng như Meryl Streep, Glenn Close, and Vanessa Redgrave.

All Quiet on the Western Front. Tôi hơi ngần ngại khi xem phim chiến tranh vì rất sợ cảnh giết chóc đổ máu. Nhưng vẫn xem hết phim. Phim có nhiều câu rất hay. Ở đầu cuốn phim có trích một đoạn từ quyển sách (tôi đang nghe, sách audio): “This book is to be neither an accusation nor a confession, and least of all an adventure, for death is not an adventure to those who stand face to face with it. It will try simply to tell of a generation of men who, even though they may have escaped shells, were destroyed by the war.” (Quyển sách này không nhằm để cáo buộc cũng không phải là lời tự thú, và càng không phải là một cuộc phiêu lưu, bởi vì cái chết không phải là một cuộc phiêu lưu đối với những người phải đối diện với nó. Quyển sách này, đơn giản chỉ để kể chuyện về một thế hệ của những người, dù cho họ có thoát được những trận pháo kích, vẫn bị hủy hoại bởi chiến tranh.