Những chuyện xảy ra ở bàn ăn

Bữa ăn quan trọng nhất trong ngày là bữa ăn tối. Cùng ăn bữa tối với nhau hằng ngày là cách giữ hạnh phúc gia đình rất hữu hiệu. Bữa ăn tối quan trọng nhất trong năm xảy ra vào Lễ Phục Sinh, Lễ Tạ Ơn, hay Lễ Giáng Sinh. Còn nhiều ngày lễ lớn của các tôn giáo khác bữa ăn tối rất quan trọng nhưng vì không biết chắc nên tôi không nhắc đến. Đôi lứa yêu nhau khi cảm thấy có thể tính chuyện lâu dài thường đưa ý trung nhân về nhà ăn tối vào những dịp lễ lớn kể trên. Alvy và Annie trong phim “Annie Hall” đã ăn tối vào lễ Phục Sinh với gia đình Annie. Woody Allen đã dùng bữa ăn này để so sánh sự khác nhau trong cách sống và cách suy nghĩ của người trong hai gia đình. Đôi khi bữa ăn trọng đại của gia đình xảy ra vào một dịp khác, có lẽ còn đặc biệt hơn những buổi tiệc trong ngày lễ, chẳng hạn như đám cưới trong phim “Meet The Parents – Gặp Bố Mẹ Người Yêu” hay đám tang trong phim “August: Osage County – Tháng Tám ở Quận Osage.” Cả gia đình và họ hàng tụ họp nên người ta có nhiều chuyện để nói như: ôn lại chuyện quá khứ, chúc mừng sự thành công hiện tại, bàn tính việc sắp tới, hay bày tỏ lòng thương yêu với nhau. Và xin đừng ngạc nhiên, những bữa ăn quan trọng, cũng là nơi có thể xảy ra những cuộc tranh chấp, gièm siểm, thậm chí đến đánh nhau. Trong phim “The Dinner – Bữa Ăn Tối” phim Ý năm 2014, của đạo diễn Ivano De Matteo, hai anh em gặp nhau hằng năm ở một nhà hàng Pháp sang trọng. Người anh là luật sư nổi tiếng và giàu có. Người em là kiến trúc sư, không giàu bằng người anh, nhưng cũng không nghèo. Người anh có một đứa con gái trang lứa với đứa con trai của người em. Hai người trẻ tuổi, một đêm đi chơi về khuya đã cố ý giết một người không nhà. Bữa ăn hằng năm là dịp để hai anh em gặp nhau hàn huyên tâm sự, biến thành thời điểm thích hợp để bàn cách đối phó với chuyện giết người của hai đứa con: nên cho chúng nhận tội hay chối tội. Bữa ăn trong nhà hàng được đạo diễn Ivano De Matteo khai triển khéo léo, khán giả nhìn thấy sự mâu thuẫn ngấm ngầm giữa hai anh em, từ sự ganh tị của kẻ giàu người nghèo, đến quan niệm về công lý và luật pháp, từ cách đối xử với vợ đến cách nuôi nấng dạy dỗ con cái. Khi sự xung đột đến tột độ thảm kịch xảy ra.

Băng đảng Mafia thường dùng bàn ăn ở nhà hàng làm nơi bàn luận chuyện thanh toán đối phương. Và thanh toán đối phương ở bàn ăn trong nhà hàng. Bạn đọc chắc chưa quên phim “The Godfather – Bố Già,” Al Pacino trong vai Michael Corleone, là công dân mẫu mực, từng đi lính Thủy quân lục chiến, trước nguy cơ dòng họ bị băng đảng khác tiêu diệt, đã đi vào hang cọp, một nhà hàng ở Bronx, địa điểm do đối phương chọn. Đang giữa bữa ăn, viện cớ cần đi tiểu, Michael vào phòng vệ sinh, lấy cây súng được “phe mình” dấu trong bình chứa nước, ra bàn ăn giết chết đối phương, sau đó chuồn sang Ý.

Trong phim “Shadow of a Doubt – Bóng Tối Nghi Ngờ” của Hitchcock, có hai nhân vật vốn là bạn của nhau, Joseph Newton và Herbie Hawkins. Cả hai có cùng ý thích, sưu tầm và thảo luận về cách thức giết người được dùng trong tiểu thuyết trinh thám.  Herbie thường tìm gặp Joseph lúc ông bạn đang ăn tối với gia đình, có khi Herbie cũng tham dự bữa ăn và vì thế những phương pháp giết người được bàn luận ở bữa ăn. Nghe thì có vẻ rùng rợn, thật ra những thủ đoạn giết người họ bàn với nhau chỉ là chuyện nghiên cứu của hai nhà thám tử dởm, trong khi ấy Charles, em vợ của bà chủ nhà, đang lập mưu giết cô cháu gái (con của Joseph Newton) vì cô này biết được quá khứ của người cậu, thế mà hai thám tử dởm hoàn toàn không biết.

Bữa ăn làm tôi căm giận nhất là bữa ăn trong phim “The Return of the King – Ngày trở về của Vua,” phim cuối trong bộ phim ba tập “The Lord of The Rings – Nhẫn Chúa” của đạo diễn Peter Jackson, người vừa lên tiếng “đả thương” Harvey Weinstein, kẻ ngã ngựa vì bị cáo buộc đã uy hiếp, lạm dụng, và tấn công tình dục cả chục (hay hơn) nữ minh tinh thượng thặng trên màn ảnh Hoa Kỳ.

Denethor
Denethor và dòng rượu trên cằm
Denethor ăn còn Pippin đứng hầu
Pippin đứng hầu trong lúc Denethor ăn

Denethor, là vị quan chấp chính đang trấn thủ thành Condor. Ông có tham vọng soán ngôi nên sai người con trai lớn, Boromir, đi tìm nhẫn chúa mang về cho ông. Boromir có tài lại rất hợp tính bố, nhưng chẳng may bị giết trong lúc bảo vệ chiếc nhẫn đang được Frodo mang đi hủy diệt. Faramir là con thứ hai của Denethor, tài năng chẳng kém gì người anh, nhưng bản tính nhân từ nên không được lòng bố. Bắt được Frodo, biết chàng hobbit này đang giữ nhẫn chúa nhưng Faramir thả Frodo đi để phá hủy nhẫn chúa mang lại hòa bình cho nhân loại. Quyết định của Faramir làm Denethor nổi giận. Khi quân đội của Sauron bao vây thành với số quân đông gấp nhiều lần, Denethor ra lệnh cho Faramir ra quân để chuộc tội, dù biết làm như thế là thí mạng con mình. Trong khi sắp sửa nước mất nhà tan, Denethor ra lệnh dọn tiệc cho ông, và còn bắt hobbit Pippin phải hát hầu trong lúc ông ta đang ăn. Bữa ăn gồm có thịt, cà anh đào, và nho tươi. Bài hát của Pippin là bài hát buồn thảm than khóc cho vận mệnh nước nhà sắp rơi vào tay quỷ dữ. Sauron nhai rau ráu. Nước của những quả cà tươi, và rượu chảy thành dòng đỏ đậm như màu máu trên môi trên cằm Denethor. Bữa ăn của Denethor là bữa ăn sang trọng, trong mùa đông, giữa lúc chiến tranh đến lúc cực độ, dân đang đói khổ mà quan cai trị vẫn còn có thịt nướng, rau quả tươi, và rượu. Đạo diễn Jackson cho luân phiên hình ảnh ứa lệ của Pippin và giọng hát thê lương, cái nhai rau ráu của Denethor với giòng rượu đỏ nhễu nhão xuống cằm, và đội quân Faramir đang phi ngựa hứng lằn tên của Orcs. Ông đã dùng “setting” bữa ăn, và cách ăn để nói lên sự kém sáng suốt và thiếu đạo đức của nhân vật một cách tuyệt diệu. Vì tôi ngưng từng khung ảnh để lấy cho được ảnh của Denethor với giòng rượu trên cằm, tôi khám phá ra một điều thú vị. Đó là khi thu cận cảnh thì miếng gà màu nâu vì nướng, nhưng trên bàn tiệc thì miếng gà màu vàng như gà luộc. Có lẽ vì đoạn phim được quay ít nhất là hai lần ở thời điểm khác nhau.

Hẹn lần sau sẽ đưa bạn đến với hai bữa ăn được dùng để nói lên thảm kịch của gia đình.

Xem phim A Quiet Passion

Oh life oh home
Diễn viên trong ảnh là Emma Bell trong vai Emily Dickinson khi còn trẻ

Mới xem qua một lần, chưa kịp ghi chú, tìm và đọc thêm tài liệu để có thể review hay giới thiệu với các bạn phim A Quiet Passion (Mối Đam Mê Thầm Kín). Và tôi đang bận rộn với một số công việc dở dang, thêm nữa là con gái út tối nay về và sẽ ở chơi cho đến hết lễ Tạ Ơn. Con về thì vui, và phải nấu cho con ăn tươm tất hơn, nên không biết bao giờ mới có thể viết về phim này một cách chỉnh chu. Tôi ghi lại vài nét chính, để cho nhớ về sau có thể quay trở lại với phim này.

Tôi đặt phim này ở thư viện, có ngay lập tức. Có nghĩa là không ai dành với tôi, và như thế có nghĩa là phim không thuộc loại “đắt hàng.” Sự thật là, cũng đúng như tôi nghĩ. Nếu bạn có khuynh hướng thích xem phim sôi động, hấp dẫn, éo le, thì đây không phải là một phim cho bạn mong đợi. Phim này kén người xem. Bạn phải có sở thích đặc biệt, hiểu biết và thẩm thấu nghệ thuật phim ảnh hơi nằm ngoài thị hiếu bình thường.

Phim khô khan, cách diễn xuất cứng ngắc, gần như kịch trên sân khấu, lời đối thoại rời rạc như đọc chứ không nói (với cách lên giọng xuống giọng như người ngoài đời bình thường). Đó là những nhận xét (gần như thiếu thiện cảm) về phim này. Để thích nó bạn phải đặt mình ở một vị trí khác, như sống trong thời đại nghiêm khắc của bà Dickinson để cảm được cuộc sống cũng như tâm hồn nhân vật. Tôi nghĩ đạo diễn Terence Davies cố ý làm phim như thế. Cynthia Nixon thì khỏi phải nghi ngờ gì về tài diễn xuất của nàng. Bạn sẽ không nhìn thấy dấu vết gì về nhân vật Miranda Hobbes trong “Sex and the City.” Tôi có cảm tưởng Cynthia Nixon chính là Emily Dickinson trong trí tưởng tượng của tôi.

Tôi thích quần áo của nhân vật. Đẹp và sang. Những tấm vải the, những vạt đăng ten, màu xanh lục, xám, xanh rêu trang nhã; và ước gì tôi có những cái áo trắng mà Cynthia Nixon mặc trong lúc đóng vai Emily Dickinson vào lúc gần cuối đời để mặc đi làm. Tôi thích mặc đồ trắng nhưng thường chỉ mặc lúc mùa hè. Tuy cách đối thoại khô cứng nhưng lời thoại rất hay, “witty,” thông minh, hiểu biết, ý nhị, thâm trầm cả trong lúc khôi hài hay đối chọi nhau chan chát.

Dickinson không dễ dịch vì không dễ đọc. Nhiều bài đơn giản nhưng mình vẫn phải tự hỏi là mình có hiểu đúng ý của bà không. Năm 2018 tôi sẽ đi thăm viện bảo tàng Emily Dickinson. Coi như đây là một cái New Year resolutions vậy nhé.

Buổi chiều hôm qua đi làm về, trong lúc chờ thang máy, tôi nghe bà đưa thư và ông lao công quét dọn cãi đùa với nhau. Bà đưa thư người Hispanic mới nhập cư, nói tiếng Anh còn bập bẹ với giọng ngoại quốc đặc sệt. Ông lao công người Mỹ nói hơi ngọng và biết đọc rất ít. Bà hỏi, Who do you think you are? Ông trả lời, I am nobody! (Bà hỏi, ông nghĩ ông là ai chứ, ngầm bảo ông chẳng có quyền hành gì đừng có lớn lối). Ông trả lời, tôi chẳng là ai cả, chỉ là một kẻ vô danh. Nghe ông bà cãi nhau tôi chợt nghĩ đến một bài thơ của Emily Dickinson.

I’m Nobody! Who are you?
Are you – Nobody – too?
Then there’s a pair of us!
Dont tell! they’d advertise – you know!

How dreary – to be – Somebody!
How public – like a Frog –
To tell one’s name – the livelong June –
To an admiring Bog!

Trong phim này, Emily Dickinson đọc bài thơ khi đang bế đứa bé, con của người anh trai. Tôi đoán chắc, rất nhiều người trong các bạn, kể cả tôi, ít nhất cũng một lần nghĩ về mình qua câu thơ. I am a Nobody!

 

Xem phim Paterson

Tối qua tôi xem phim Paterson. Sẵn vẫn còn đang nhớ nhiều chi tiết nên tôi viết vài dòng. Đây là một phim rất thú vị, tuy nhiên trước khi tôi đưa ra vài lý do vì sao tôi thích phim này tôi khuyên bạn đừng xem nếu sở thích của bạn chỉ dành cho loại phim chiến đấu gay cấn, hay ái tình nóng bỏng.

Phim này thú vị vì nó được quay ở Paterson (thuộc New Jersey là tiểu bang “của tôi”) và nói về người sống ở Paterson. Paterson là một thành phố tương đối nhỏ so với Newark, nhưng lớn hơn Green Brook. Newark là thành phố lớn nhất của New Jersey còn Green Brook là  vùng ngoại ô nơi tôi đang ở. Paterson có dân số khá đông, khoảng một trăm mấy chục ngàn người. Dân ở Paterson thường là dân làm việc ở New York, đa số là dân lao động, với rất nhiều người di dân Ấn Độ, Hispanic, Pakistan. Trước kia đây là một thành phố kỹ nghệ rất thịnh vượng có nhiều nhà máy dệt lụa. Thành phố Paterson mang tên vị Thống Đốc New Jersey, William Paterson, người đã ký tên vào bản Hiến Pháp Hoa Kỳ.

Paterson cũng là tên của nhân vật chính, tài xế lái xe buýt cho New Jersey Transit . Một trong những cái làm tôi thú vị là thấy xe buýt của công ty tôi đang làm việc được đóng phim. Thấy bộ quần áo công nhân có gắn phù hiệu công ty. Thấy cái garage xe buýt chạy ra chạy vào. Paterson thích làm thơ. Chàng có một quyển sổ để chép thơ. Chàng luôn luôn khuyến khích và khen ngợi những người làm thơ chàng gặp trên đường làm việc ban ngày hay dẫn chó của vợ đi bộ ban đêm.

Bạn sẽ thích phim này nếu bạn làm thơ, hay dịch thơ vì phim này nói về thơ và người làm thơ. Thành phố Paterson là gốc gác của nhiều nhà thơ nổi tiếng. Thí dụ như Allen Ginsburg và William Carlos Williams.

William Carlos Williams có nghề chính là Bác sĩ. Ngày ông còn sống ông không mấy nổi danh về thơ nhưng nổi tiếng nhiều đào và phản bội vợ. Thơ của ông chuyên lấy chủ đề về cuộc sống giản dị hằng ngày, về những thứ mà chúng ta hay xem thường, không nhìn thấy chất thơ của chúng. Thí dụ như chiếc xe cút kít màu đỏ, bóng loáng vì cơn mưa, bên cạnh con gà màu trắng. Thí dụ như tác giả mở cái hộp chứa nước đá và khám phá mấy trái mận tím được dấu trong đó. Kềm lòng không được, ông ăn mấy trái mận (có lẽ được để dành cho bữa ăn sáng) thấy nó ngon quá và mát quá.

Nhân vật Paterson cũng vậy. Chàng tìm thấy chất thơ trong mấy cái bao diêm có chữ bên ngoài, và trong tình yêu vợ. Vợ chàng cứ thúc giục chàng hãy làm bản copy, và xuất bản để người đời được đọc những bài thơ tuyệt vời của chàng. Cũng như bao nhiêu người làm thơ khác chàng không mấy tin tưởng vào tài nghệ thơ phú của chàng. Thơ làm ra chàng chép vào cuốn sổ. Cho đến một ngày, Marvin, con chó của vợ cắn xé tan nát quyển sổ chép thơ của chàng.

Câu chuyện xảy ra chỉ trong vòng một tuần. Phần lớn các bạn có lẽ sẽ thấy cuốn phim này rất chán vì ngày nào cũng xảy ra ngần ấy chuyện. Chàng Paterson thức dậy, hôn vợ, ăn sáng bằng Cheerios, đi làm, nghe anh sếp than thở chuyện nhà, tối về dắt chó đi dạo, ghé vào cái bar nghe ông chủ quán bar nói chuyện đời, gặp những người trong thành phố nhỏ. Tuy nhiên thành phố nhỏ cũng có một vài bi kịch và rất nhiều hài kịch xảy ra hằng ngày. Paterson, nhà thơ của chúng ta lặng lẽ quan sát ghi nhận, viết lại thành những dòng thơ.

Đoạn thú vị nhất là đoạn cuối phim. Paterson buồn vì bị con chó xé mất tập thơ ra công viên ngồi ngắm cái thác Great Falls cho đỡ buồn. Chàng gặp một thi sĩ Nhật Bản. Ông này đến Paterson để viếng quê hương của nhà thơ William Carlos Williams người mà ông ta rất ngưỡng mộ. Paterson không thú nhận mình làm thơ chỉ nói mình là tài xế lái xe bus. Nhưng khi nhà thơ Nhật nói về thơ thì ông ta ngạc nhiên lẫn thú vị về sự hiểu biết về thơ của Paterson. Trước khi chia tay ông tặng Paterson một quyển sổ còn trống không. Loại sổ để người ta chép thơ. Ông nói: “Đôi khi, trang giấy trống thể hiện cho những điều rất có thể sẽ xảy ra.” Nhà thơ Nhật này chỉ làm thơ bằng tiếng Nhật và ông không mấy thích chuyện dịch thơ ra tiếng nước khác. Ông bảo rằng “Đọc thơ dịch cũng giống như đi tắm mà mặc áo mưa bên ngoài vậy.”

Và ngay sau đó chàng mở quyển sổ lấy cây bút trong túi ra chép viết một bài thơ khác.

Thật là một cuốn phim tuyệt vời về những điều rất bình thường trong cuộc sống. Và sau đây là một số hình ảnh ở Paterson.

the Great Falls
Thác nước ở Paterson. The Great Falls, nơi nhân vật Paterson hằng ngày ngồi thư giản ngắm thác và làm thơ.
Thác nước
Tôi chộp được ảnh này cũng chẳng khác ảnh trong phim mấy. Hình như đây là chỗ tốt nhất để nhìn thấy thác
red cottage
Một ngôi nhà nhỏ gần thác
Đợi chờ
Công viên, nơi này nhân vật Paterson đi và về trong công việc lái xe
115
Một bờ tường vào mùa thu. Phim được quay trong vòng ba mươi ngày vào mùa thu
chiếc xe buýt ở Paterson
Và đây là loại xe buýt nhân vật Paterson đã đưa đón hành khách ở Paterson.

Xem phim Sea of Trees

Tôi xem bốn phim. “Silence,” “Light Between Oceans,” “Nocturnal Animals,” và “Sea of Trees.” Cả bốn phim tôi đều ngần ngừ không muốn xem nhưng xem xong rồi thì thấy phim nào cũng hay. Nếu phải chấm điểm tôi cho ba phim nhắc đến đầu tiên bốn điểm trên năm. Riêng phim Sea of Trees tôi cho bốn điểm rưỡi vì ý thích cá nhân. Chẳng hiểu duyên cơ gì, tôi cứ đọc sách xem phim nếu không của người Nhật thì cũng nói những chuyện liên quan đến Nhật.

“Nocturnal Animals” do Tom Ford đạo diễn nên phim có thiết kế theo kiểu đương đại, diễn viên ăn mặc theo thời trang rất sang, đẹp lộng lẫy. Amy Adams trong phim này trông khác hẳn cô nàng khoa học gia về ngôn ngữ học trong phim Arrivals.

“Silence” do Martin Scorsese đạo diễn dựa vào truyện “Silence” của Shūsaku Endo. Quyển truyện này tôi mượn ở thư viện, đọc vài ba trang, đem trả, mượn lại, vẫn không thể đọc. Trước đó tôi đọc một truyện ngắn khác của Endo, thấy thích, nghĩ là có thể đọc tiếp. Bây giờ thì không nhớ ra truyện ấy nói gì, tựa đề là gì. (Tuổi già thật là khó ưa. Thậm chí những điều tôi viết ra trong hai ba ngày là đã quên.) Cuối cùng tôi xem hết cuốn phim và tôi mừng là tôi đã xem. Có lẽ tôi sẽ mượn lại quyển sách và lần này sẽ đọc cho đến hết. Ông Scorsese khi làm cuốn phim này đã xin gặp Đức Giáo Hoàng, có lẽ vì những chi tiết trong phim, làm cho đạo diễn e ngại bị xem là phỉ báng tôn giáo. Một trong những lý do khiến tôi muốn xem phim là vì, có lẽ, có một diễn viên tôi thích. Liam Neeson. Well, Andrew Garfield is also a plus.

Trong “Sea of Trees” tôi suýt không nhận ra Matthew McConaughey. Hoàn toàn mất vẻ sáng láng hào hoa phong nhã, trong vai Arthur Brennan, trông anh chàng tàn tạ khắc khổ. Arthur chán đời, mua vé máy bay một chiều sang một khu rừng đặc biệt ở gần núi Phú Sĩ, để tự tử. Aokirahara Forest, còn được gọi là suicide forest, là khu rừng nổi tiếng là nơi hoàn hảo để tìm cái chết. Khu rừng này rất rộng lớn, như một cái biển và nước biển được thay thế bằng cây của rừng. Do đó phim có tựa đề “Sea of Trees.”

Thoạt tiên thấy có diễn viên Nhật, Ken Wantanabe, đóng chung với Matthew McConaughey, và bối cảnh trong phim là rừng của Nhật tôi đoán do người Nhật viết phim bản. Tuy nhiên vào phim một lúc tôi nhận ra đây là cách viết phim bản của người Mỹ. Làm cho người ta quan tâm hay yêu mến nhân vật. Nhiều chi tiết được đưa vào phần đầu trong phim (thắt gút) về sau dùng thật tài tình (mở gút), đúng dịp, đúng lúc. Tạo chướng ngại vật, đẩy nhân vật vào trong tình trạng gian nan. Mỗi nhân vật đều có xung đột của họ. Sau khi giải quyết xung đột, mỗi nhân vật đều thay đổi, “trưởng thành.”

Arthur Brennan khi vào rừng, ngoài ống thuốc tự tử còn có một phong thư. Phong thư này gửi đến Joan, người vợ của Arthur. Joan vừa mới qua đời và là một trong những nguyên nhân đưa đến chuyện tự tử của Arthur. Về sau chúng ta biết trong phong thư là quyển sách thiếu nhi mà Joan thích nhất. Arthur chăn gối với Joan bao nhiêu năm, không biết vợ thích màu gì, thích quyển sách nào. Nhiều người trong chúng ta cũng như vậy. Vợ chồng sống với nhau mấy mươi năm thật ra người này không hề biết ý nghĩ của người kia.

Cuốn phim này không được khán giả yêu thích. Trong liên hoan phim (hình như ở Cannes) đạo diễn Gus van Sant đã bị “boo” (la ó để chê bai). Sách báo review phim cũng chê. Khán giả nói chung không thích phim có khuynh hướng u ám. Phim cũng có những chỗ không được lô gích và cường điệu hơi quá đáng. Tuy nhiên, tôi không chê phim vì những chi tiết này, nó phải có để được sự chú ý của khán giả rồi sau đó truyền tải những điểm quan trọng mà người viết phim bản và đạo diễn muốn truyền đạt.

Tôi thích phim này có lẽ vì tôi hay suy nghĩ chuyện sống chết. Như đã nói trước đây, tôi chết hụt nhiều lần nên rất quan tâm đến sự sống và cái chết. Bạn đã thấy tôi tự hỏi sống là gì. Tôi không muốn nghĩ rằng sống “chỉ” là nuôi dưỡng, kéo dài (càng dài càng tốt) sự sống mà chúng ta được ban cho từ lúc chào đời.

Khi Arthur vào rừng, uống hai viên thuốc màu xanh, chưa kịp uống hết cả ống thuốc, thì bắt gặp Takumi đang lảo đảo tìm đường đi ra khỏi rừng. Ông lạc lối đã hai ngày, cổ tay ông đẫm máu vì những vết cắt. Thay vì nằm chờ cái chết đến ông bỗng đâm ra nhớ vợ con và muốn tìm đường về nhà. Thấy ông quẩn quanh một cách tuyệt vọng Arthur tìm cách giúp ông, nhưng cũng bị lạc luôn. Takumi tự tử vì bị giáng chức. Arthur không hiểu được tại sao người ta lại muốn chết chỉ vì bị giáng chức trong công việc làm.  Takumi nói “Tôi không muốn chết. Tôi chỉ không muốn sống!” Arthur hỏi, như thế thì có khác gì? Suy ngẫm một chút tôi thấy động từ sống và động từ chết có cái chủ động và tích cực của nó. Dĩ nhiên chúng ta thừa hiểu rằng người Nhật tôn trọng danh dự hơn là mạng sống.

Sự u ám của phim được làm dịu bớt bởi một chút dí dỏm. Buổi tối để sưởi ấm, hai người đốt lửa trong rừng. Ở bìa rừng có nhiều sợi dây màu được cột để đánh dấu phòng hờ người đi tìm cái chết, sau khi suy nghĩ, đổi ý và muốn trở về. Ngày xưa, truyện cổ tích của anh em nhà Grimms, Hansel và Gretel, hai đứa bé nhà nghèo bị bố và mẹ ghẻ mang vào bỏ trong rừng, đã rải đá cuội và bánh mì vụn để tìm dấu trở về. Arthur bảo rằng anh là người sử dụng mẩu bánh mì chứ không dùng dây màu (vì anh không muốn trở về.) Takumi nói “You are handsome!” Đây là một cách chơi chữ mà tôi không thể truyền đạt ngắn gọn. Câu nói có nghĩa là “anh rất đẹp trai” làm Arthur ngỡ ngàng. Takumi nói “Handsome and Gretel” khiến Arthur chợt hiểu ra, Takumi muốn nhắc đến nhân vật Hansel, cậu bé trong truyện cổ tích đã dùng vụn bánh mì để đánh dấu đường về. Là người Nhật, Takumi có thể nhớ lầm, hoặc là phát âm sai chữ Hansel. Arthur đã bật cười. Còn tôi cười to hơn vì nó gợi tôi nhớ những lần phát âm sai làm xấu hổ muốn chết luôn cho rồi của tôi. Chưa bao giờ tôi xem một phim có không khí nặng nề lại làm tôi cười to như thế.

Tôi ngưng ngang ở đây vì thấy không muốn viết tiếp. Cũng không muốn xui các bạn nên xem phim này. Tôi viết chỉ vì nó gợi tôi suy nghĩ về chuyện sống nhiều hơn là chuyện chết, chuyện quan hệ giữa vợ chồng, người ta ở với nhau lâu năm, có thật là bởi vì tình yêu không?

Post trước sửa sau. Bây giờ tôi phải chuẩn bị đi làm.

Xem phim A Single Man

Một phim tuyệt đẹp. Tôi thích đến độ tìm mượn quyển sách ở thư viện để đọc. Và viết mấy câu để ghi nhớ ở đây. Làm sao mà bạn có thể không thích phim nhỉ? Một phim hay có sức mạnh có thể thay đổi quan điểm của người xem, đi ngược lại định kiến của xã hội.

Thứ Bảy đầu tiên của tháng 3

Hôm nay nắng rực rỡ nhưng lại rất lạnh. Tôi dự định đi rừng nhưng lạnh quá, mà tôi lại bị cảm tuần vừa qua nên thôi. Tôi cũng thuộc loại khỏe mạnh, ít khi buồn vẩn vơ, nhưng thỉnh thoảng tôi lại rơi vào một cơn kiệt sức, rã rời chỉ muốn nằm luôn hai ba ngày. Tuy nhiên vẫn phải ngồi dậy để ăn. Tôi là người thích ăn, dù bệnh ăn vẫn thấy ngon miệng. Bởi vậy càng ngày càng béo ù ra.

Hôm qua tôi xem một lượt hai phim The Boxtrolls và Finding Dory. Xem The Boxtrolls vì có một bạn trẻ trên blog review và bài review thật là sâu sắc. Người review phim The Boxtrolls nhìn thấy một điều mà ngay cả tôi tuy già cũng không để ý: Cái sức mạnh của đám đông và những người khích động đám đông để đạt mục đích sai trái của cá nhân. Xem Finding Dory vì tôi thích phim Finding Nemo. Chắc bạn sẽ cười tôi lớn tuổi rồi mà xem phim trẻ con. Thật tình, người Mỹ họ làm phim trẻ con nhưng vẫn rủ rê được người lớn. Thật là một cách kinh doanh khôn ngoan, nếu họ làm phim chỉ để trẻ em xem thì người lớn sẽ không đưa trẻ em đến rạp mà xem; vì vậy phim trẻ em vẫn có những vấn đề cho người lớn suy nghĩ. Ở quan điểm người xem bình thường, xem để giải trí, cả hai phim đều xem được nhưng không thể gọi là phim hay đến mức tuyệt vời. The Boxtrolls có tính sáng tạo, người viết phim nghĩ ra những điều độc đáo như: những con quái thú sống trong hộp, và thằng bé được những con quái thú này nuôi lớn lên. Cái con người thực tế trong tôi moi móc ngay ở cái chỗ một thằng bé sống trong hang động biết nói tiếng người, ôi thôi đủ thứ không hiện thực, rồi tôi quay trở về ý nghĩ, chính những chi tiết hoang đường như thế mới làm ra phim. Suy nghĩ cứng ngắc như tôi làm sao mà sáng tác cho được. Finding Dory mang cho tôi cảm giác mỗi lần tôi xem sequel của một phim nổi tiếng, luôn có một chút thất vọng. Có lẽ những cái hay của một phim nổi tiếng sẽ không thể thực hiện lần thứ nhì. Tôi yêu màu sắc rực rỡ trong phim Finding Dory và những câu đối thoại trong phim bản khá thú vị. Cả hai phim đều thuộc loại hoang đường trong hiện thực. Nếu phải cho điểm tôi sẽ cho ba điểm trên năm, vui vẻ rộng rãi một chút sẽ cho ba điểm rưỡi.

Tối qua tôi vẫn còn dùng cái tablet. Sáng nay tự nhiên nó chết ngắc. Cắm điện bấm nút này nút kia cái màn ảnh vẫn đen thui. Tôi tức mình, còn mới keng mà đã hư. Tôi vào nét thấy người ta bảo reset bằng cách bấm nút power và volume cùng một lúc khoảng 15 giây. Tôi bấm một hồi nó reset nhưng vẫn không dùng được. Tôi sửa nó bằng cách những người không biết sử dụng máy, bấm lung tung lia chia loạn xạ, cuối cùng cái tablet trở lại bình thường. Tôi thở dài nhẹ nhõm. May quá.

Ông Tám nghe tôi than máy chết liền tặng tôi một cái tablet khác ông mới mua nhưng chưa dùng lần nào, nhỏ hơn gọn hơn. Dĩ nhiên là nhận ngay lập tức và cám ơn.

 

Suy nghĩ vụn về phim

Tôi đưa ông Tám đi bác sĩ, ngồi chờ nên viết nhảm.

Trong lý thuyết phê bình phim có auteurism, là khuynh hướng dựa vào tiểu sử của người làm phim để phân tích cuốn phim. Khuynh hướng này đưa ra nhiều chi tiết thú vị.

Tôi nghĩ đến hai cuốn phim. Still Walking và Akira Kurosawa’s dreams. Cả hai đạo diễn đều cho nhân vật mang suy nghĩ của mẹ. Và người xem có thể nhận ra bóng dáng người làm phim trong đứa con.

Giấc mơ của Akira Kurosawa là một tập phim bao gồm tám phim ngắn. Phim nào cũng đặc biệt. Nhưng tôi chú ý nhiều đặc biệt đến ba hay bốn phim. Và phim đầu tiên Đám Cưới Chồn (còn có tên khác là Sunshine in the Rain) là phim thể hiện mối quan hệ của ông Kurosawa với mẹ rõ ràng nhất.

Thể theo lời của Kurosawa trong một cuộc phỏng vấn, ngày còn bé ông rất ít nói, đến độ bố mẹ ông nghĩ là ông bị bệnh tâm lý hay thần kinh. Cậu bé trong phim là hình ảnh của Kurosawa. Ông đã cho người dựng lại mái hiên nhà cho thật giống ngôi nhà của ông và hướng dẫn người diễn viên cách diễn làm sao cho thật giống mẹ của ông. Theo dõi phim bạn sẽ thấy người mẹ của cậu bé trong phim rất bận rộn và tính chu đáo đâu ra đó. Bạn có thể nghĩ rằng người mẹ của cậu bé muốn dạy con sống cho đúng với qui luật của xã hội hơn là bày tỏ lòng yêu mến với con, dù đứa bé chỉ chừng tám hay chín tuổi.

Hãy thử tưởng tượng, nếu là bạn, bạn sẽ nghĩ gì, khi người mẹ đưa cho con lưỡi kiếm được dùng để tự tử khi samurai muốn dùng cái chết để bảo toàn danh dự, và bà quay vào nhà đóng cửa lại để mặc cậu bé đi tìm một trong những con chồn làm đám cưới mà xin lỗi. Lỗi của cậu bé là đã nhìn thấy đám cưới của loài chồn, thường diễn ra khi trong mưa có nắng, mà loài chồn không thích như thế. Nếu loài chồn không tha thứ lỗi, cậu phải tự xử bằng thanh kiếm ngắn. Phim rất đẹp, nào là hoa là lá, là đám cưới chồn với màu sắc rực rỡ và điệu múa thật thu hút. Nhưng cái cảm giác của người nằm mơ, hay cậu bé trong cuộc, thật là một cảm giác đáng sợ hãi và đau lòng.