CAFÉ ở New Jersey, Hoa Kỳ

cafe 4cafe 5

Đi làm tôi thường mang thức ăn trưa, rất ít khi đi café dù chung quanh chỗ tôi làm café nhiều như nấm.  Giờ ăn trưa tôi ngồi ăn tại bàn làm việc.  Những hôm đẹp trời tôi thường đi bộ quanh phố chừng nửa giờ đồng hồ.  Trên đường đi bộ, một trong những chỗ mà tôi thích đi ngang là New Jersey Performing Art Center (NJPAC).  Đây là nơi được dùng để trình diễn các bộ môn nghệ thuật như ca vũ nhạc kịch.  Những buổi độc diễn hay hòa tấu của các giàn nhạc đại giao hưởng cũng được tổ chức ở đây.  Bên trong có nhà hàng, có café riêng của nhà hát.  Nhưng bên ngoài nhà hát và chung quanh phố cũng có rất nhiều café.  Hai tấm ảnh trên đây là ảnh của NJPAC café.  Ảnh thứ nhất là ảnh của quán café nằm sát bên cạnh nhà nghệ thuật.  Tấm thứ hai là quán cà phê bên kia đường.  Tôi chưa vào quán café này bao giờ nên không biết bên trong trang trí ra làm sao.

Café ở Mỹ rất phổ thông. Đi quanh một con phố có ít ra là hai hay ba tiệm café để phục vụ cho khách hàng là những nhân viên của các cơ sở chung quanh. Café được xem như một quán ăn trưa, ngoài cà phê, trà, chocolate nóng, bánh kẹo, khách còn có thể mua các món ăn nóng hay bánh mì sandwich làm sẵn. Có một số ít café có thể phục vụ rượu. Café đa dạng như văn hóa Mỹ. Tùy theo sở thích thẩm mỹ của chủ quán, mỗi café có một phong thái riêng, một hình dáng riêng rất đặc thù. Không khí của café một phần tùy thuộc vào cách trang trí, một phần tùy thuộc vào khách hàng. Giá cả mắc rẻ cao thấp tùy thay đổi tùy theo tiệm và khách hàng chung quanh làm lương cao hay thấp. Tôi vẫn thường có cảm giác đi từ một quán café ở miền quê châu Âu qua một quán café ở Nam Mỹ (như những tấm hình tôi được xem trong tạp chí National Geographic ).  Bốn tấm ảnh dưới đây chụp bên trong một café ở Newark , New Jersey .  Đây là một café có phục vụ rượu, khách hàng đa số là nhân viên hãng bảo hiểm, ngân hàng, công ty điện toán.  Quán trang trí màu đen và đỏ, nhân viên phục vụ là người Nigeria, món ăn trên đĩa là món rau trộn rất chua, và thịt gà gói trong miếng bánh mềm rất cay, một món ăn nấu theo kểu miền Nam nước Mỹ.

cafe 9 cafe 8 cafe 7 cafe 6cafe 7cafe 8cafe 9

Những quán café ở những miền quê hẻo lánh đa số chỉ bán thức ăn sáng và là chỗ để gặp nhau tán gẫu, bàn chuyện, và hội họp.  Trong các trung tâm thương mại của các thành phố lớn, café phục vụ khách hàng cả điểm tâm và bữa ăn trưa.  Ở Hoa Kỳ cũng như các nước châu Âu, café là những quán trong nhà, đôi khi được bày ra đường phố (sidewalk café) dưới những cây dù che nắng màu sắc rực rỡ tươi thắm.  Nắng ở vùng Đông Bắc Mỹ rất hiếm quý nên cứ hằng năm từ mùa xuân cho đến thu khi trời ấm và nhiều nắng các cửa hàng lộ thiên đều được khách rất yêu chuộng.

Quán cà phê lộ thiên hay còn gọi là cà phê lề đường (pavement café, walkway café) là một chỗ mà khách đến uống cà phê rồi hội họp bàn chuyện làm ăn, học sinh đến để học bài, có khi dùng internet.  Những quán cà phê như Starbuck, cửa hàng bán sách có chi nhánh toàn quốc như Borders, café kiêm của hàng sản xuất bánh mì như Paneras đều cung cấp internet không tính tiền do đó có thể xem như một hình thức của internet café.

Ly Cà Phê Ngon Nhất

 

Tôi nghiện cà phê rất sớm, nói cho đúng là nghiện caffeine, bởi vì quen uống trà của má tôi, pha rất đậm.  Có một lần hồi còn học tiểu học đi học vội vàng không uống trà tôi ngồi xếp bằng trên ghế ngủ gục trong lớp, nước dãi chảy ra.  Thầy giáo cho đánh thức, cả lớp chế nhạo tôi là ngủ quên đến độ thằn lằn “tè” lên mặt.

Tôi không nhớ tôi uống trà từ lúc nào nhưng tôi biết chắc tôi bắt đầu uống cà phê từ năm chín tuổi.  Nhà tôi bị cháy, má tôi dọn về ở một khu ngoại ô tên là Tân Quí Đông, cách Quận Tư Sài Gòn chỉ có một con sông nhưng rất quê mùa với đồng lúa và rất nhiều sông rạch.  Má tôi lúc đó đã có cháu ngoại bằng tuổi của tôi.  Chín tuổi tôi nhận biết là má tôi yêu chìu cháu ngoại hơn tôi mặc dù tôi là con út.  Điều này cũng rất dễ hiểu bởi vì tôi là một đứa trẻ bướng bỉnh ngổ ngáo vượt bực, làm nhiều chuyện động trời kỳ khôi mà tôi không tiện kể.  Thêm một điều là tôi rất xấu xí, đen đủi và khẳng khiu, không phải như đám cháu ngoại trắng trẻo mủm mỉm như mấy con búp bê.  Còn thêm một điều, có lẽ là, tại vì tôi rất giống ba tôi.  Ba má tôi bỏ nhau từ khi tôi mới được ba tháng.  Mỗi khi má tôi phát cáu chuyện gì hay mắng: “mầy sao giống ‘ông già mắt kiếng’ quá đi!”

Từ lúc dọn về Tân Quí Đông má tôi có vẻ ngọt ngào gần gũi với tôi hơn.  Buổi sáng khi má tôi ra bán hàng ngoài chợ tôi vẫn còn ngủ.  Sáng thức dậy nếu tôi hôm nào không đến trường tôi đi bộ ra chợ chơi với má tôi.  Đây là một cái chợ chồm hổm vì tất cả những người mua bán đều ngồi chồm hổm dưới đất xem hàng hay trao đổi giá cả.  Khoảng chín giờ trưa chợ tan, dấu vết của cái chợ chỉ còn lại một ngả tư đường đất đỏ với dăm ba tấm lá chuối cạnh cây cầu bắt ngang dòng kênh đào.  Ở chợ này người ta có thể mua một ít cá bống cá kèo mới hốt ra từ trong vó, một mớ nấm rơm tươi mới hái, một ít đọt lá bí hay bông bí trên giàn, hay vài trái mướp hương.  Chợ tuy thế cũng có một hàng cà phê với cái bàn chừng một mét vuông thấp lè tè, vài cái ghế đóng bằng gỗ vụn cao hơn mặt đất chừng một tấc.  Má tôi gọi cho má một ly “xây chừng” nhiều sữa ít cà phê.  Má tôi gọi cho tôi một ly sữa nóng nhỏ xíu, nhỏ đến độ có thể nằm gọn trong lòng bàn tay của đứa trẻ chín tuổi.  Và bà múc vài thìa xây chừng cho vào trong ly sữa của tôi.  Sợ uống nhiều khó ngủ.  Ha!  Bà mẹ quê mùa không được đến trường tự học đủ để biết đọc truyện Phong Thần, Tây Du Ký, và Chung Vô Diệm của tôi đâu có biết ở trong trà có caffeine.   Đó là ly cà phê đầu đời của tôi mà thú thật đến bây giờ tôi vẫn không thể nào nhái lại cách pha.  Tôi không thể nào tìm lại hương vị cà phê ngày đó.  Có lẽ thức ăn, trong trường hợp này là thức uống, ngon nhất là thức ăn trong trí nhớ.  Những ly cà phê sau đó đều bị tôi đem đọ với cái cà phê trong trí nhớ mà tôi đã thêu dệt ít nhiều bằng sự tưởng tượng của mình.  Có thể cái ngon của cà phê tôi thưởng thức lúc ấy không phải là của cà phê mà là của sự thỏa mãn lòng ghen tị của tôi với đám cháu xinh đẹp mà má tôi cưng quí hơn.  Hay là vì tôi được hưởng trọn vẹn sự ân cần của má tôi mà không có ai ở gần để chia sẻ và lấy mất một phần nào má tôi.  Đến bây giờ tôi vẫn chưa hề tìm được hương vị của ly cà phê năm cũ.

Có thể nói tôi nghiện cà phê từ ngày đó.  Tôi thường trông ngóng cuối tuần và ngày nghỉ hè để tôi được ra chợ uống cà phê với má.  Một hôm tôi thơ thẩn đi đến chợ.  Trên đường đi tôi gặp một con rắn nằm dài giữa đường.  Tôi muốn đuổi con rắn đi để đến chợ nên hốt một nắm đất và đá ném vào con rắn.  Bị động và bị đau nó văng người phóng về hướng tôi nhưng vì tôi đứng khá xa nên nó cắn hụt tôi.  Sau đó nó nghển cố phóng vào bụi rặm.  Tôi sợ một mẻ hết hồn, chạy một mạch đến chợ lòng vẫn canh cánh con rắn sẽ quay trở lại rủ theo bầy đàn của nó và rượt tôi.  Cứ tưởng tượng từ trong lùm bụi chúng sẽ phóng ra quấn lấy chân tôi rồi cắn mổ.  Những câu chuyện về rắn mà tôi đã từng đọc là rắn biết trả thù, nếu rắn bị chặt đầu nó sẽ mang cái đầu đặt lên dép người ta lúc người ta ngủ, để khi thức dậy thò chân mang dép nó sẽ cắn người ta đến chết để trả thù càng làm tôi hốt hoảng hơn.  Tôi ra chợ đến ngồi cạnh má tôi và chờ hoài không thấy má kêu cà phê sữa.  Tôi hỏi và Má trả lời:  “Hôm nay không có sữa cũng không có cà phê.”  Trước cái nhìn của tôi Má nói tiếp:  “Hai vợ chồng chủ hàng cà phê cãi nhau đập hết đồ bán cà phê rồi!”  Rồi bà đuổi tôi về nhà học bài.  Tôi muốn khóc vô cùng.  Lần đầu tiên tôi học bài thất vọng, khi cái mình thèm muốn, ao ước mong chờ, đã không đến.

Những café bất tử trong ngành hội họa

cafe 1

Một trong những quán café nổi tiếng nhất trong giới hội họa là quán café đã được Vincent van Gogh mang vào bức tranh Café Terrace at Night (Quán Cà Phê trên Sân Cao Về Đêm) ông vẽ bức tranh này vào tháng Chín năm 1988.  Quán cà phê này vẫn còn tồn tại.  Năm 2003 quán được đổi tên là Café Van Gogh.  Bức tranh này miêu tả Place du Forum ở Arles, thành phố gần biển miền Nam của Pháp.

cafe 2

Van Gogh cũng vẽ thêm một bức tranh khác bên trong một quán café ban đêm có tên The Night Café.  Quán cà phê này được dựa theo Café de la Gare, ở địa chỉ 30 Place Lamartine cũng thuộc thành phố Arles của cặp vợ chồng chủ quán Joseph-Michel và Marie Ginoux, vào tháng Mười Một năm 1888.

cafe 3

Một bức tranh khác về café lộ thiên khá nổi tiếng được Konstantin Korovin sáng tác cuối năm 1890 có tên là A Parisian Café.

(Đoạn viết về cà phê trong hội họa được lấy từ nguồn Wikipedia)

 

Quán Cà Phê Làm Tôi Suy Nghĩ Nhiều Nhất

cafe momaTôi thích xem tranh nên hay đi viện Bảo Tàng Nghệ Thuật.  Cái cafe làm tôi suy nghĩ nhiều nhất là cái café bên trong Viện Bảo Tàng Nghệ Thuật Hiện Đại của New York (MoMA hay Museum of Modern Art of New York).  Quán cà phê nằm ở tầng hai dẫn ra một ban công.  Từ ban công khách có thể nhìn xuống công viên bên trong viện bảo tàng nơi trưng bày bằng các tượng điêu khắc mỹ thuật bằng đá và đồng đen.  Hôm ấy là một ngày đầu tháng năm trời vẫn còn khá lạnh, nhất là hôm ấy gió mạnh.  Sau khi đi xem nhiều nơi trong viện bảo tàng tôi thấy đói nên đến viếng quán café này.  Trước đó tôi đứng dưới công viên có tượng điêu khắc nhìn lên ban công của quán café tôi tự nhủ ngồi ở ban công vừa uống cà phê ăn bánh ngọt hay ăn trưa ngắm các tượng điêu khắc chắc là thú vị.  Lúc ấy vào giờ ăn trưa quán rất đông, người ta xếp hàng chờ vào rất dài.

Bạn đồng hành với tôi cộng thêm tôi nữa là bốn người.  Tất cả đều đã có công ăn việc làm, không ai giàu cả nhưng cũng chẳng phải nghèo.  Chúng tôi cùng có một quá khứ nghèo nàn vất vả của những năm vừa làm vừa học ở Mỹ nên nói chung đều thận trọng trong chuyện chi tiêu.  Trong đám có lẽ chỉ có tôi là người tiêu tiền bạt mạng nhất.  Ngoài cửa café có một bảng liệt kê món ăn và giá cả.  Tôi liếc nhìn một ly kem chừng hai muỗng kem tròn (scoop) khoảng năm đô la.  Món ăn chính như gà, heo, bò từ hai chục cho đến hai mươi lăm đô la.  Tôi nhẩm tính bọn tôi đi bốn người, một bữa ăn trưa ở café này làm tôi tốn ít nhất là cũng phải một trăm năm chục đô la, và phải xếp hàng ít ra là bốn mươi lăm phút.  Bàn qua tính lại tôi là thiểu số phải phục tùng đa số.  Thế là bọn tôi bỏ hàng, ra bên ngoài viện Bảo Tàng mỗi người mua một cái hotdog một lon soda, thế là xong một bữa ăn trưa dưới năm đô la cho mỗi người.  Không ai nói gì đến quán café này nữa cả.  Tuy nhiên, lòng tôi vẫn luôn nhớ cái dằng co trong lòng tôi lúc đó.  Tôi muốn biết cái cảm giác của một người ngồi ở ban công trong một viện bảo tàng nổi tiếng, trong gió se se lạnh, ngó xuống một công viên đầy những pho tượng điêu khắc mỹ thuật.  Để làm gì?  Để về sau nếu tôi có viết truyện tôi sẽ mang cảm giác ấy vào trong truyện.  Thì cứ tưởng tượng ra.  Dựa vào cảm giác thật sẽ dễ viết hơn.  Chừng nào thì viết?  Chắc phải chờ tới già, về hưu mới có thì giờ viết.  Trời đất, chờ đến đó thì đâu còn nhớ nữa.  Chuyện mới tuần trước còn không nhớ làm sao mà để dành cảm giác cho đến mấy chục năm sau.  Bộ khùng sao mà bỏ cả mấy chục đô la để mua cái cảm giác phù du đó?  Ờ mà có cái gì mà không là phù du đâu.  Một khoảnh khắc được ghi nhận còn hơn cả đời trôi qua không cảm giác.  Dù biết rằng cái cảm giác đó rất phù du tôi vẫn muốn bỏ ra ngần ấy tiền để mua cái cảm giác đó.  Tôi không nói lời nào với những người đồng hành về ý muốn của tôi, nhưng tôi vẫn nhớ hoài quán cà phê ấy.  Một ngày nào đó tôi sẽ trở lại MoMA một buổi sáng đầu tháng năm gió vẫn còn se lạnh và tôi sẽ ngồi ở cái ban công ấy rồi ngó xuống công viên ấy.  Và tôi hy vọng sẽ cảm thấy một cái gì đó phù du nhưng có thật trong vòng một bữa ăn.

 

Quán café tôi yêu nhất

 

 

Đó là một quán café trong bài hát Hà Nội Mùa Vắng Những Cơn Mưa có câu “Quán cóc liêu xiêu một câu thơ.”  Hình như cái hình ảnh quán cóc nghèo nàn xiêu vẹo tự nó đã mang dáng dấp những bài thơ dang dở.

Mưa chiều thứ Bảy

1

Chạy trốn mưa, chúng tôi đứng dưới vòm của viện bảo tàng Hirshhorn nhìn màn mưa giăng ở Washington DC.  Cũng may là trời không mấy lạnh và tôi khôn hồn mặc áo len bên ngoài.  Thêm một đôi tình nhân mắc mưa.

2

Dưới vòm của viện bảo tàng Hirshhorn, mưa tạo thành một lớp nước mỏng phủ mặt đất giống như mặt hồ.

3

Một cái xe bán kem cũng chạy trốn mưa.

Khi em ngủ tôi biến thành chiếc gối
để phòng hờ. . . ngộ nhỡ em muốn ôm
để đêm hờn em có cái vứt luôn
sáng nhặt lại. Thấy mình sao. . . dữ thiệt.

Biết là đoạn thơ này chẳng ăn nhằm gì đến những tấm ảnh, nhưng đọc cho vui. Ăn cắp của một nhà thơ nổi tiếng trong bài Hiến chương tình yêuNhớ mang máng là của Nguyễn Tất Nhiên, giọng thơ cũng của Nguyễn Tất Nhiên nhưng tôi không chắc. (xin đính chính bài thơ này của Du Tử Lê). Của ai cũng được nhưng chắc chắn không phải của tôi.

Đưa Em Về Dưới Mưa

đưa em về dưới mưa

Thứ năm có khách đến chơi.  Phái đoàn gồm có 7 người.  Ba người đến từ Việt Nam, hai người đến từ Texas và hai người đến từ một thành phố nhỏ bên cạnh thành phố của tôi, cùng tiểu bang.  Tôi sợ nhất là chuyện nấu ăn đãi khách, bởi vì tôi nấu ăn rất dở.  Canh chua cá bông lau, cá chim muối chiên, và rau muống luộc chấm nước mắm.  Ba dĩa rau muống luộc bay vèo trước nhất.  Mấy tô canh chỉ hơi vơi đi một chút.  Kỳ này khách về rồi là tôi sẽ phải ăn thức ăn thừa chắc cả tuần chưa hết.

Thứ Sáu đến nhà của hai người ở thành phố kế bên.  Hai người đến chơi tối qua mời lại dù tôi rất lười đi nhưng không dám từ chối sợ người ta cho là mình không muốn kết bạn.  Hai người này rất giàu.  Họ đãi các món ăn của Mã Lai họ đặt từ nhà hàng.  Ăn lạ miệng.

Thứ Bảy lái xe đi Annadale tiểu bang Virginia gặp người chị.  Chị từ Texas đến thăm người bạn ở Annadale.  Chỗ của tôi đến Annadale phải năm giờ lái xe.  Bạn của chị đãi ăn trưa xong rồi chúng tôi vào Washington DC chơi.  Tôi mới đi hồi đầu tháng Tư xem hoa đào nhưng vì muốn gặp chị T. và chị chưa được xem DC nên tôi lại đi.

Buổi chiều trời bỗng đổ cơn mưa bất chợt.  Chúng tôi nấp dưới hiên của tòa nhà đồ sộ xây theo hình tròn.  Cơn mưa chưa dứt hẳn chúng tôi đi dưới mưa để đến chỗ đậu xe.  Trên đường đi bắt gặp hình ảnh hai người che dù đưa nhau về dưới cơn mưa.  Mọi người thách tôi tìm ra câu thơ nào có liên hệ đến trời mưa để đi chung với tấm ảnh này.  Thơ về mưa thì có khối bởi vì Việt Nam là xứ mưa mà.  Đây nhé:

Trời nào đã tạnh cơn mưa.
Mà giông tố cũ còn chưa muốn tàn – Nguyễn Tất Nhiên

Tháng sáu trời mưa, trời mưa không dứt
Trời không mưa anh cũng lạy trời mưa
Anh lạy trời mưa cho ướt áo em về – Nguyên Sa

Đưa em về dưới mưa
Nói năng chi cũng thừa
Đưa em về dưới mưa
Áo em bùn lưa thưa  – Nguyễn Tất Nhiên

Hay bạn có thể thay thế bằng câu “Má em đòi đi thưa.”   Tác giả vô danh

Mai em đi anh chắc trời mưa mau
Mưa thì mưa chắc em không bước vội
Nhưng chậm thế nào thì cũng phải xa nhau – không nhớ tác giả có thể Nguyên sa hayTrần Anh Tuấn.

Tôi yêu hình ảnh hai người đưa nhau về trong mưa trông lãng mạn ra phết. Ngày còn trẻ tôi vẫn thường tưởng tượng đến một tấm tranh vẻ hình hai cô cậu thiếu niên choai choai, che dù đưa nhau đi trông mưa mù, đến một chỗ vắng cụp dù xuống để hôn nhau. Cây dù che khuất hai người nên không ai thấy cho dù chung quanh chẳng có ai nhòm ngó hai người.

Tôi cũng nhớ một đoạn phim người vợ giận chồng đưa con gái đi nghỉ hè một tuần.  Trong tuần lễ này bà vợ có một summer fling và đứa con gái gặp một cậu bé trạc tuổi và lần đầu tiên trong đời cô biết yêu.  Hết kỳ nghỉ hè, bà mẹ được người tình tặng cho một đóa hồng.  Khi khép cửa lại để mang vali về, bà ném đóa hồng xuống đất và gót giày của bà nghiến đóa hồng nát bét.  Đối với bà đó chỉ là một chuyện tình ngắn ngủi tạm bợ, hết mùa hè là hết yêu.  Nhưng cô bé con chia tay với người bạn trai đầu đời, hai đứa đứng cách nhau qua một lớp tường kính trong suốt.  Bên ngoài trời mưa ướt sủng, tường kính mờ đục hơi nước, hai đứa chạm mười đầu ngón tay qua lớp kính, thèm được nắm tay và thèm một nụ hôn cuối cùng.  Ôi mối tình đầu bước nhẹ mà sâu.  Phim thật lãng mạn và tôi ngạc nhiên là ở tuổi này, tôi và các bạn của tôi vẫn còn rất lãng mạn.

Ở bất cứ tuổi nào tình yêu cũng vẫn có thể bắt đầu.  Và người ta vẫn có thể yêu thật thà và say đắm.  Tôi tin thế.

Giới Thiệu Sách – The Abortionist’s Daughter

 Con gái người Bác Sĩ Phụ Khoa

Tác Giả: Elizabeth Hyde  

Trước khi The Abortionist’s Daughter ra đời, Elizabeth Hyde đã có ba tác phẩm: Her Native Colors, Monoosook Valley , and Crazy as Chocolate.  Bà sinh trưởng ở New Hampshire và cư ngụ ở nhiều tiểu bang như Vermont , Washington D.C. , San Francisco .  Bà tốt nghiệp Luật năm 1979 và làm việc một thời gian ngắn với U.S. Department of Justice.  Bà dạy môn sáng tác ở các trường Công Lập và Đại học Naropa.

Có một hôm tôi đến thư viện địa phương để mượn sách.  Trên một quầy trưng bày sách để nghe (audio book) tôi thấy có nhiều quyển sách khá nổi tiếng nhưng tôi chọn quyển này để nghe vì cái tựa đề của quyển sách này đã làm tôi chú ý.  Quyển sách rất hấp dẫn vì thế sau khi nghe xong tôi lại đến thư viện để mượn quyển sách mà tôi có thể đọc để có thể ngừng lại trích dẫn dễ dàng hơn.  Hủy diệt một bào thai bao giờ cũng là một chủ đề nóng bỏng, dễ gây tranh cãi.  Tôi đã đoán có lẽ đây là một quyển tiểu thuyết chủ trương tranh luận về cái tốt và xấu, nên hay không nên, lợi hay hại của hành động này. Tuy nhiên rất bất ngờ và thú vị khi tôi khám phá ra đây là một quyển sách thuộc loại trinh thám.  Bắt đầu là cái chết của vị bác sĩ phụ khoa và kết thúc khi người ta tìm ra thủ phạm giết người.

Ở Mỹ, hành nghề bác sĩ chuyên hủy bỏ bào thai tuy hợp pháp nhưng khá nguy hiểm.  Có một dạo các bệnh viện nhỏ chuyên phá thai bị đặt bom và có người bị ám sát làm các bác sĩ chuyên môn kinh hãi. Diana Duprey là một bác sĩ phá thai rất tận tụy với nghề.  Bà cũng là một người kinh doanh giỏi.  Bệnh viện của bà được trang trí rất sáng sủa khang trang.  Bà biết dùng màu sắc, ánh sáng, và âm nhạc để làm bệnh nhân không bị căng thẳng hay lo lắng.  Dọc theo hành lang bà để nhiều sách báo chỉ dẫn phụ nữ cách bảo vệ sức khỏe và dinh dưỡng cho thai nhi và bản thân.  Bệnh viện của bà rất đông bệnh nhân.

Frank Thompson, người chồng hai mươi sáu năm của Diana, luật sư ngành công tố, phát hiện Diana chết trong hồ bơi.  Sau khi thử nghiệm cảnh sát loại bỏ giả thuyết bà bị say và té vào trong hồ hay va đầu vào thành hồ.  Diana bị đập đầu.  Ai là thủ phạm?

Diana có nhiều kẻ thù.  Người ta không thích bà vì bà rất giỏi ăn nói, rất thẳng tính, khi phát biểu bà chẳng sợ ai mất lòng.  Một trong những người có thể ghét bà đủ để giết bà là những người chống đối việc phá thai.  Khi đạo luật cấm phá thai khi bào thai hơn 27 tuần được soạn thảo bà được mời phát biểu ý kiến trước hội đồng soạn thảo luật.  Bà đã chống đối dự luật này bởi vì dự luật này sẽ gây khó khăn cho phụ nữ mang những bào thai dị dạng hay hay tàn tật đến độ không thể sống mà không nhờ đến sự phục dịch của rất nhiều người.  Sau việc phát biểu ý kiến trước hội đồng bà bị hăm dọa nhiều hơn.  Số người tụ tập biểu tình trước bệnh viện của bà đông hơn và gay gắt hơn.  Bà nhận được nhiều thư, băng thâu hình ảnh, thư điện hăm dọa bà.  Một trong những người chống đối phá thai có tiếp xúc với Diana là mục sư Steven O’Connell người đã gặp Diana ở bệnh viện buổi sáng của ngày bà bị giết và Eve Kelly là một trong những người đã để lại lời hăm dọa trong điện thoại của Diana.

Người ta nhanh chóng chĩa mũi nhọn điều tra vào Frank Thompson.  Sau hơn hai mươi năm kết hôn hạnh phúc của hai người đã bị sứt mẻ nhiều, nhất là sau cái chết của Ben, đứa con bị triệu chứng Down.  Người ta khám phá là vài giờ đồng hồ trước khi Diana bị giết, Diana và Frank đã cãi nhau, Frank đập vỡ một cái ly và bỏ đi.  Frank không chịu khai là ông đã ở đâu và làm gì khi vợ ông bị giết.  Meghan con gái của hai người đang học đại học.  Buổi sáng trước ngày Diana bị giết Meghan đến bệnh viện nơi Diana làm việc để xin mẹ tiền mua vé máy bay  đi nghỉ hè nhưng Diana không cho và Meghan đã nổi giận.  Trước khi rời khỏi bệnh viện Meghan nói vói lại chúc mẹ vui vẻ trong khi giết chết thai nhi.  Frank cũng đã có một thời ngoại tình. Dù chuyện đã chấm dứt nhưng rất có thể người tình của ông ta vẫn còn hờn oán.  Meghan có nhiều bạn trai.  Một trong những người bạn trai cũ của cô là Bill Branson đã báo với cảnh sát là Diana dùng ma túy và vì thế bà nợ một số trùm ma túy một món nợ to và rất có thể họ thanh toán bà.  Tất cả mọi người đều có động cơ và cơ hội để giết Diana.

Quyển sách hấp dẫn nhờ bố cục chặt chẽ.  Độc giả bị bắt buộc phải tiếp tục đoán ai là thủ phạm và bị cuốn hút từ diễn tiến này qua diến tiến khác cho đến khi tác giả quyết định tiết lộ thủ phạm.  Tuy nhiên quyển sách này không phải chỉ hay vì tình tiết bất ngờ.  Elizabeth Hyde là một tác giả nhận xét tinh tế về tình cảm của nhân vật.  Độc giả sẽ nhận thấy quan hệ giữa vợ chồng, mẹ và con gái, cha và con gái, với những xung đột không tránh khỏi trong một gia đình trung lưu của xã hội Mỹ.  Cuộc sống tình dục và những lỗi lầm ngu xuẩn của các cô gái trẻ, tình yêu nảy nở trong tình huống bất ngờ giữa người thám tử trẻ tuổi Huck Berlin và Meghan và cái mất mát trong tình yêu có thể đưa đến thảm họa của Meghan và Bill được tác giả diễn tả rất linh động.

Elizabeth Hyde cho độc giả thấy Diana không phải chỉ là cái máy phá thai mà là một vị bác sĩ có lương tâm, giàu suy nghĩ và rất nhân đạo .  Tuy bà chống đối dự luật cấm phá thai khi bào thai quá 27 tuần, nhưng đã quyết định giữ bào thai của mình cho đến khi sinh sản và nuôi Ben cho đến khi cậu bé được mười một tuổi dù bà đã biết cậu bé bị triệu chứng Down.  Cũng như Diana đã từ chối không chịu làm áp lực hay thuyết phục Rosie một cô bé mười lăm tuổi phải phá thai.  Qua nhân vật Diana, Elizabeth Hyde đã biểu lộ quan điểm bảo vệ quyền quyết định về bản thân của người phụ nữ phải thuộc về người phụ nữ. 

Trích dẫn vài đoạn.

Cách làm việc của Diana:

“Em sẽ cảm thấy hơi đau một chút, như là đau bụng khi có kinh,” Diana có thể sẽ nói thế, “nhưng chúng ta sắp xong rồi.  Mọi chuyện sẽ êm đẹp đâu vào đấy. . .”
“Xong rồi sao?”
“Không những thế,” Diana nói, đứng thẳng người, “em không còn mang thai nữa.”
Những lời nói tuyệt vời như phép mầu đối với bệnh nhân của Diana.
Không những Diana có thủ thuật đặc biệt, bà còn có thể làm việc mà không vướng víu tình cảm – điều này là nhờ vào triết lý của bố bà là có nhiều việc cần phải làm cho dù nó không vui vẻ hay thú vị.

Quan niệm của Diana:

Ngay cả khi làm công việc phá hủy bào thai khi người phụ nữ đã mang thai khoảng 6 tháng, Diana có thể nhận ra một phần thân thể của thai nhi, bà vẫn có thể chỉ tập trung vào những người phụ nữ đang nằm trên bàn phụ khoa: những người phụ nữ nghèo khó không tiền, không chồng, không chuẩn bị tư tưởng và không có đủ tình cảm để nuôi một đứa trẻ – và đó là điều mà Diana đã tập trung, không phải những mảng máu me trong chậu.  Công việc của Diana, theo quan niệm của bà, chỉ là một cách nhấn nút phản hồi dùm cho người phụ nữ đang nằm trên bàn.

Tình dục của những người trẻ tuổi:

“Họ tăng tốc độ về phía chân đồi.  Bill lái xe một tay trên vô lăng, một tay đặt trên áo cô.  Ở khúc quanh đầu tiền – trước khi đến nhà hàng Overlook, nơi bố mẹ nàng đang dùng bữa tối – cô ra lệnh cho hắn ngừng xe, và trước khi hắn có cơ hội kéo thắng xe dự phòng, cô kéo dây kéo quần của hắn xuống. . .

. . . Meghan bật kêu khẽ.  Cô tự hỏi không biết người ta có bất tỉnh trong lúc làm tình.  Cô thoáng nghĩ đến bao cao su.

Nhưng vào lúc ấy hắn hạ lưng ghế, dạng chân của cô ra và cô cảm thấy cú thúc đầu tiên vụng về nhưng đầy cảm giác tuyệt diệu khi hắn đẩy vào bên trong người cô, cô không còn nghĩ đến bất tỉnh hay bao cao su nữa.  Cô đã vượt qua giới hạn đêm nay.  Cô không còn là trinh nữ, và đó, theo lập luận của cô, có nghiữa là cô không còn là đứa con bé bỏng của bố mẹ cô.

Đây là điều hay ho nhất đã xảy ra trong cuộc đời của cô. 

Sau khi Diana chết, Frank hồi tưởng khi ông đổ lỗi cho Diana.  Ông cho là Dianne đã quá dễ dãi với Meghan.

Trong ánh sáng mù mờ trong bếp, Frank dựa người vào bàn ăn giữa bếp và hít điếu thuốc một hơi dài.  Diana không bao giờ có thể đối diện với sự thật là bà là người mẹ chứ không phải là người bạn.  May giữa hai mẹ con sẽ bớt sự hằn học, ông nghĩ, nếu Diana nhận lãnh trách nhiệm làm mẹ một cách nghiêm chỉnh hơn.  

Đây là một quyển sách lôi cuốn, cách dùng chữ rất giản dị, suốt quyển sách ít khi nào độc giả gặp một chữ khó hiểu.  Elizabeth Hyde diển tả tư tưởng tình cảm nhân vật rất nhạy bén.  Tác giả có thể diễn đạt tình yêu ở bất cứ lứa tuổi nào và bà cũng không nhát tay khi viết về tình dục.  Elizabeth không diễn tả dài dòng khi đôi khi chỉ một câu thôi nhưng rất tượng hình và không có vẻ khiêu dâm.  Chỉ một chút tô điểm cho câu truyện linh động và hấp dẫn.  Luôn luôn bất ngờ và không thể đoán ra thủ phạm cho đến khi gần cuối truyện.

Một ngày, ngày đã qua

Vậy là hết một ngày.  Mai lại tiếp tục đi làm.  Hôm nay là ngày nhớ ơn mẹ.  Hôm qua vào tiệm sách Border thấy người ta đi mua quà cho mẹ rất nhiều.  Việt Nam mình lấy ngày Vu lan làm lễ báo hiếu.  Ở đây giới nào cũng có một ngày được người đời biết đến “công đức” của mình.  Làm như người ta cần có một ngày đối xử tử tế với mẹ để cả năm được quyền đối xử không tử tế.  Mỗi lần nghĩ đến mẹ, tôi luôn luôn thấy ray rức vì đã không ngoan.  Suốt đời tôi chưa làm gì cho mẹ tôi vui, chỉ toàn mang đến những lo âu phiền muộn cho bà.  Có một ngày nào đó tôi phải viết về mẹ tôi, để ăn năn sám hối!

Thấy người ta làm powerpoint khá hay và đẹp nên tôi bắt chước.  Tôi có thói quen hay chụp hình, để ghi lại những gì xảy ra chung quanh mình.  Cũng là một hình thức sống trân trọng cuộc đời, có mắt để nhìn thấy cái đẹp của đất trời và loài người.  Đôi khi thấy một vài điểm xấu xa của xã hội.  Nhìn ngắm và ghi nhận.  Tôi cú định bụng sẽ đi học một khóa chụp ảnh nhưng vì đam mê nhiều thứ tôi chưa có dịp học môn này.  Có cái máy chụp hình dễ dùng cứ giơ máy lên mà chụp.  Một trăm tấm mới có một tấm không hư.  Tôi cứ cây nhà lá vườn mà dùng.  Dùng powerpoint để làm một cái slide show với mấy tấm hình tôi đụng đâu chụp đó.  Powerpoint tôi dùng trong sở nhưng chưa hề ghép nhạc.  Tối qua tôi hì hục mãi với cái slideshow của tôi khi thì hình không chịu tự động chạy, khi thì không nghe được nhạc. Đến sáng nay tôi vẫn còn loay hoay với cái slideshow.  Và thất vọng khám phá là chỉ có mình tôi nghe được bài nhạc.

Đêm qua bạn Hoàng Anh của tôi chịu khó đọc từng bài và để comment cho mỗi cái post thì tôi đang vất vả bức tóc bức tai thêm hình bớt hình, cho chạy nhanh hơn hay chậm lại cho đúng chiều dài của bài hát.  Giá mà tôi đừng mãi mê với cái powerpoint chết tiệt chắc là chat với bạn vui hơn.

Tôi nghĩ có lẽ tại vì tôi dùng vista Microsoft Office Powerpoint 2007, và chuyển qua 97-2003 compatible nên có những feature như nhạc không nghe được.  Và với vista không thể dùng Việt fonts cho e-mail hay các trang web, kể cả Google.

Một ngày Chủ nhật đẹp trời, lá xanh, hoa khắp nơi nở đủ màu, suốt ngày nghe tiếng máy cắt cỏ um um khắp đẩu trên xóm dưới.  Tôi chẳng làm gì ngoài cái powerpoint ấm ớ.  Mất thì giờ của tôi và của người khác.  Già mà cứ ham vui.  Buổi trưa tôi ngủ một giấc ngắn khi đang xem DVD về du lịch ở Turkey.  Xem phim the Reader.  Tôi đọc quyển The Reader đã lâu và rất thích quyển sách này.  Xem phim để thử so sánh cái giống nhau và khác nhau của truyện.  Chưa xem hết phim, khúc đầu sexy quá.  Phim làm truyện cheap đi rất nhiều.

Chúc the world ngủ ngon và nhiều mộng đẹp.

Tổ Chim

 
 

1
2
Có một ngày đẹp trời bạn Hoàng Anh của tôi gửi cho một cái link connect gì đó.  Tôi tẩn mẩn mở link, yahoo 360 plus không hiểu tại sao bắt tôi phải làm một cái blog.  Tôi tò mò cứ tiếp tục làm blog và vất vả cả mấy buổi tối mới có được cái blog này.  Tôi nghĩ là bạn tôi đi chơi Tam Cốc chỗ này chỗ kia chắc là sẽ post hình lên blog cho tôi xem chờ hoài không thấy tôi chán quá nên cứ post hình và chờ và viết blog.  Đến nay vẫn chưa thấy bạn viết bài nào, ảnh nào.  Not fair!

Mấy hôm rày, cứ nghe có con chim bay va vào cửa phành phạch.  Mở cửa ra xem thì thấy có một đôi chim robin, mỏ vàng, cánh nâu, ức màu cam.  Cả hai con bay chuyền cành kêu hót um sùm.  Rồi tôi phát giác là có cái tổ chim ở ngay sát mái hiên ở cửa sau, cạnh cái đèn.  Tôi bắt ghế đứng lên xem nhưng vì tôi “cao” quá nên đứng lên ghế mà vẫn không nhìn thấy có gì trong tổ chim hay không.

Rồi sáng nay tôi mở cửa sổ thò đầu ra ngoài thấy trong tổ có ba cái trứng màu xanh như là trứng sáo.  Đúng là trứng của con robin bay va vào cửa có lẽ hụt đáp vào tổ chim.

Buổi sáng tôi đến thư viện khuân về lắm quà.  Quyển 2666 của Bolano được nhiều người “điểm sách”  khen nhiều và quyển sách của vị tác giả quá cố này cũng được giải thưởng sau khi ông đã mất.  Quyển này nói về mấy trăm người phụ nữ ở Mexico bị giết và bỏ dọc theo đường núi.  Trên đường về tôi ghé Border để xem có quyển The Noodle Maker của Ma Jian không, nếu có thì tôi không phải mua online.  Một dịch giả kiêm phê bình gia ở Việt Nam hỏi tôi có thể nói về quyển này không và tôi hứa sẽ viết.  Nói thì ai nói chẳng được, cứ đọc rồi nghĩ thế nào thì nói thế ấy.  Ai thích thì đọc không thích thì thôi, mình cứ đăng lên blog cho ai muốn đọc thì tùy ý.  Có phải dân chuyên nghiệp đâu mà lo, đúng không?  Ngoài ra tôi còn khuân về mấy cái CD, nhạc của Turkey, nhạc kịch Les Miserables, hai cái CD trình tấu bằng Saxophone.

Buổi sáng đi làm, tôi thường nghe mấy bài saxophone cũ có câu “Mai em về nhà chồng quà không có biếu em.”  Tiếng saxophone bao giờ cũng làm tôi liên tưởng đến những cái bar tối mù mờ, ngập ngụa mùi khói thuốc, và những mối tình ray rứt.  Bài Love Story và bài Harlem Nocturnes thổi bằng saxophone nghe nhức nhối ghê lắm.  Còn nhạc Turkey?  Ha, tôi đọc quyển Snow của Orhan Pamuk là văn hào giải Nobel người Turkey.  Tò mò muốn tìm hiểu thêm về lịch sử và văn hóa Turkey tôi mượn thư viện một cái DVD về du lịch ở Turkey.  Và nghe nhạc Turkey nhất là nhạc cổ xưa như là dân ca, trời ơi nghe lạ và hay và đôi khi vô cùng thống thiết.  Để tư tưởng mình đi hoang một chút nếu mà nghe giọng hát đó bay trên những lâu đài Hồi Giáo vào những buổi rạng đông hay những đêm trăng tỏ, trời ơi chắc là mình ở gần với thiên đàng lắm.  Và nếu được tận mắt xem những nhà Hồi giáo mặc toàn trắng xoay tròn với vũ điệu dervish trong những căn nhà thờ hàng ngàn năm thì chắc chắn đó là một điều tuyệt diệu không thể nào quên.

Ngoài quyển 2666 tôi còn có hai quyển của Borges, mổi quyển dày cả inch, đọc xong chắc là tôi biến thành con mọt sách.  Lúc ở Border không có quyển sách của Ma Jian buồn tình tôi mua một quyển tự điển về hoa dại và cây cỏ, thế là tha hồ mà nghiên cứu.

Chiều ăn cơm, tôi uống thêm chút xíu wine.  Đã lâu không uống wine, chỉ một phần tư ly mà tôi đã hơi “sứa sứa”.  Thỉnh thoảng tôi thích cái cảm giác bồng bềnh, để thấy một chiều ngồi say, một thời thật nhẹ, ngày qua.  Bỗng dưng âm vang đâu đó trong góc hồn ta cất thêm men rượu chếnh choáng, đời vỡ tan một phiến môi mời . . .

Trở lại chuyện tổ chim.  Ngày xưa còn đi học tôi yêu thơ Phạm Thiên Thư.  Dĩ nhiên là yêu Động Hoa Vàng chứ.  Có một bài được Cung Tiến phổ nhạc, tôi yêu bài thơ nhưng bài nhạc nghe không hợp mấy.  Bài thơ đó là bài Vết Chim Bay.

Xưa anh đi đón em.
Nơi gác chuông chùa nọ.
Còn chim nào qua đó.
Còn để dấu chân in.
Anh một mình gọi nhỏ
Em ơi biết đâu tìm

. . .

Xưa anh đi đón em
Cho tình em chớm nở
Như chân chim muôn thưở
In mãi bậc thềm rêu
Cõi đời có bao nhiêu
Mà tình sầu vô lượng
Còn chi trong giả tướng
Hay một vết chim bay

Couples

041

Walking along the river bank I noticed that the wild geese living on the empty lot next to the parking lot already have three kids.  One duckling is out of the frame because it is far away from daddy and mommy.

026

All the cafes in Newark are already ready for pedestrian cafes

022

From the Cherry Blossom Festival, some participated in dressing up as Japanese pop singers or geisha.  These two just bought a pair of umbrella.

052

A pair of windows on an old building in Newark

018a

They stand side by side weather everything under the sun.

028

Green Flowers

005 031 (2) 015 dogwood 3

Opposite to NJPAC, across the street, is a fenced parking lot.  Along the fence are shrubs that I do not know the name.  These shrubs are cut and trimmed into hedges.  In the fall the hedges are bright red very attractive.  In the last few weeks if it is not cold or very wet or very hot (one week) so I do not take my usual lunch time walk.  Last two days the weather is nice I walk around Newark and by NJPAC.  The hedges along the fence is vivid green.  The shrubs have tiny green flowers.  I try to take a close up and larger picture (the first picture) but my camera sensor cannot pick up the flowers, just the leaves.  The second picture I took in early spring when I went to the meeting in Jersey City.  These clustered flowers may be mistaken as young leaves.  I guess they are oak flowers but not sure.  In front of my train station waiting room there is a large tree, last year spring, with proper temperature the tree bloomed fully.  The entire tree was covered profusely with these flowers.  The last two pictures are of green dogwood.  I have been in love with its look for a while but just learn of its name.  Green flowers and blue flowers always get my attention.

 

Nhận Xét về những nhân vật trong Nửa Mặt Trời Vàng

 

Phần cuối cùng

Thông thường trong những cuộc tình dị chủng, đa số là người đàn ông da trắng kết hợp với phụ nữ da màu. Trường hợp ngược lại, người đàn bà da trắng kết hợp với đàn ông da màu, ít xảy ra hơn. Rất thường xuyên, người đàn ông da trắng ở cương vị chủ động cung cấp tài chánh, vật chất và bảo vệ người phụ nữ da màu. Người đàn ông da trắng mang người phụ nữ da màu vào trong cái xã hội mà anh ta đã quen thuộc và người phụ nữ như loài cá sống trong nước lạ thường ở cương vị phục tùng. Trong Nửa Mặt Trời Vàng, Adichie đã cấu tạo một môi trường ngược lại. Kainene mang Richard vào thế giới của nàng, một nơi mà nàng có quyền hành và thế lực. Kainene là người che chở và bảo bọc người tình. Chẳng những Adichie đã tước đoạt tất cả sức mạnh và quyền lực của người da trắng trong xã hội da đen bằng cách khắc họa một nhân vật Richard nghèo, không vây cánh, không quyền lực, mà còn cấu tạo ra một Richard đầy thất bại; suốt thời gian ở Nigeria anh đã không xuất bản được tác phẩm nào (một bị thất lạc trong chiến tranh và một bị Kainene đốt bỏ khi cô biết Richard đã ngủ với Olanna). Adichie còn tước đoạt cả quyền làm người đàn ông của Richard bằng cách biến anh thành kẻ bất lực khi lần đầu hai người giao hoan. Tại sao Adichie lại sáng tạo một nhân vật nữ có cá tính rất mạnh và một nhân vật nam có  bản tính rất mềm mại, dịu dàng đến độ nhu nhược và cho hai nhân vật này yêu nhau? Tôi nghĩ nên để các bạn tự tìm câu trả lời.

Bạn đọc có thể nhận thấy Richard yêu Kainene say đắm, yêu đến độ tôn thờ và khiếp sợ bản lĩnh của cô. Tuy nhiên khó có thể khẳng định là Kainene yêu Richard. Cô vẫn còn phân vân không biết tình cảm của cô đối với Richard có phải là tình yêu hay không. Lúc cuộc nội chiến Biafra còn trong thời kỳ phôi thai, Kainene đã viết một lá thư ngắn, trong đó cô phân vân: “Có phải tình yêu là cái nhu cầu đặt không đúng chỗ mà hầu như lúc nào em cũng cần có anh bên cạnh? Có phải tình yêu là cái cảm giác an toàn em cảm thấy trong sự im lặng của hai đứa mình? Có phải là cái cảm giác chúng ta thuộc về nhau, cái cảm giác có đầy đủ mọi thứ khi chúng ta có nhau?”

Rất có thể nhân vật Richard được Adichie dùng như một phép đòn bẩy để làm nổi bật cá tính của Kainene, để người đọc thấy Kainene là một phụ nữ dám chọn lựa, cho dù đó là một hành động thách thức với xã hội Nigeria thời bấy giờ. Udodi, bạn của Madu, đã nhân cơn say để mạt sát Kainene là chỉ có điếm mới đi cặp với người da trắng. Kainene có lần đã nói với Richard, “Anh đã sai lầm khi nghĩ là tình yêu không chừa chỗ cho những chuyện khác. Rất có thể người ta yêu một cái gì đó nhưng vẫn khinh thị cái đó.” Nếu không chú ý, người đọc có thể hiểu là Richard với tư cách của một người đàn ông da trắng, đại diện cho giới cầm quyền thực dân, có thể yêu nhưng vẫn xem thường Kainene, một cô gái da đen người thuộc địa. Thật ra, Kainene, một cô gái giàu có trí thức, quản lý các nhà máy lọc dầu và nhà máy xi măng, mới là người ngấm ngầm khinh thị Richard. Và khi nói như thế, có lẽ từ thâm tâm cô bắt đầu nhận ra cô cũng yêu Richard.

Sự hiện diện của Richard là để người đọc nhận thấy một sự căm ghét chống đối tiêu cực của người Nigeria đối với người Anh được giả trang bằng sự kỳ thị. Richard cố gắng hết sức để được cộng đồng Nigeria tiếp nhận nhưng anh luôn bị tiếp đón lạnh nhạt. Thiếu tá Madu, bạn thân từ thuở thiếu thời của Kainene khinh thị Richard ra mặt, mặc dù Richard luôn luôn tìm cách học hỏi và tiếp nhận nền văn hóa của Phi châu (nói chung) và Nigeria (nói riêng). Anh yêu thích món ăn của người Nigeria trong đó có món xúp ớt, anh thích học hỏi về nghệ thuật, nhờ Ugwu dẫn anh về làng của chú bé để anh có dịp tìm hiểu lễ hội làng. Anh chịu đựng tất cả những bạc đãi và những lời khinh thị của mọi người, kể cả Odenigbo, Okeoma (nhà thơ cũng là bạn thân của Odenigbo), bố mẹ Kainene, Udodi (viên sĩ quan bạn của Madu), và Madu. Tuy thế Richard đã chung vai sát cánh với người Biafra trong cuộc chiến đấu đầy tuyệt vọng. Anh dùng ngòi bút của mình để bênh vực người Biafra, nói lên sự thật và lẽ phải của cuộc chiến Biafra đã bị báo chí Tây phương bóp nghẹt hoặc xuyên tạc. Tình yêu của Richard dành cho Kainene và sự chọn lựa đứng cạnh những người chiến đấu đã khiến mọi người chấp nhận và yêu mến anh như là người Biafra . Và sau đó anh bị chính người Mỹ, cũng da trắng như anh, dè bỉu anh. Graham Greene trong quyển The Quiet American (Người Mỹ Trầm Lặng) đã ẩn dụ Việt Nam như một người phụ nữ vì thất thế mà phải bán thân. Thì Adichie với sức mạnh ngòi bút của cô đã ẩn dụ nước Anh chỉ là một thanh niên nhu nhược không bao giờ có thể chiếm hữu hay khuất phục một cô gái Phi châu. Hy vọng trong một ngày gần đây chúng ta sẽ có một hay nhiều nhà văn tìm ra một biểu tượng dành cho các quốc gia đã giày xéo Việt Nam để đáp lại cái ẩn dụ nông cạn của Greene.

Qua quyển sách này Adichie đã vạch ra sự giả dối của những nhà lãnh đạo cuộc chiến Biafra, vị Thủ tướng hô hào chiến tranh mà không có vũ khí, lo củng cố địa vị của mình đến mức không tin cậy các sĩ quan dưới quyền. Và khi biết mình đã hoàn toàn thất bại, nhà lãnh đạo này vẫn lợi dụng lòng tin của dân đưa họ vào tình thế “tay không bắt giặc”, ngăn cản không cho dân di tản, không mở cửa cho thế giới cứu trợ nhân đạo vì sợ bị tấn công, và cuối cùng tẩu thoát để tự cứu mạng sống của mình.

Đây là một quyển sách đã nghiên cứu về lịch sử Nigeria rất chu đáo. Độc giả sẽ hoàn toàn bị hấp dẫn bởi những chi tiết sinh động và những diễn biến bất ngờ; có cả những bất ngờ được giữ cho đến phút cuối. Độc giả sẽ ngỡ ngàng một cách thú vị khi nhận ra tác giả của quyển sách có tựa đề “Thế Giới Im Lặng Khi Chúng Tôi Chết”.

Đàn vịt băng qua đường

 

Mới hôm qua đăng tấm hình đàn vịt, chiều nay đi làm về gần đến nhà thấy có một đàn vịt gồm có bố mẹ và lô nhô bốn năm chú nhóc vịt con lững thững băng qua xa lộ.  Tất cả xe cộ đều ngừng cho đàn vịt băng ngang đèn đỏ đèn xanh, người thì ngóng cổ xem vì hiếu kỳ, người thì không dám, hay nỡ lòng, đụng và cán đàn vịt.  Cái máy chụp hình của tôi bỏ đằng ghế sau lại ở trong giỏ xách tay nên không rút ra chụp kịp.  Một hình ảnh khá thú vị.

Nhận Xét Về Những Nhân Vật Trong Nửa Mặt Trời Vàng, Phần 4

Trong một xã hội da màu đã từng bị đặt dưới sự bảo hộ của chính quyền thuộc địa như Anh và Pháp, người đàn ông da trắng có một vị trí khá cao. Tuy nhiên Chimamanda Adichie đã truất phế cái quyền lực của một người da trắng mà xã hội thuộc địa ưu ái dành cho Richard. Richard là một thanh niên nghèo, mồ côi, sống nhờ tình thương và sự dưỡng nuôi của người bác. Anh đẹp trai, đỏm dáng, dịu dàng, hiền lành đến độ có thể bị xem là nhu nhược. Richard có cái mơ mộng của một nghệ sĩ và không thích đua chen với cuộc đời. Ngay cả cái nghề ký giả của anh cũng do bà bác dàn xếp. Rời Anh quốc để qua Nigeria , Richard có ý muốn thoát ly và tự lập. Anh muốn tìm hiểu bản thân và định hướng cuộc đời mình. Bác Elizabeth dàn xếp cho anh gặp Susan, một phụ nữ nhiều tuổi hơn Richard. Susan ngỏ ý muốn giúp anh có chỗ ở yên tĩnh để anh có thể viết văn. Richard về sống chung với Susan và rất nhanh chóng, cô yêu anh. Tuy không có ý định nhưng vô tình Richard trở thành một “gigolo” hay trai bao của Susan. Richard khám phá nghệ thuật đúc đồng thành bình hoa có cột dây của người Igbo và vì yêu bộ môn nghệ thuật này, anh ở lại Nigeria để nghiên cứu với ý định viết sách về nó. Trong một buổi tiệc Richard đi dự với tư cách người hộ tống Susan, anh gặp Kainene và ngay lập tức anh say mê Kainene bởi vẻ đẹp kỳ lạ và cá tính độc đáo của nàng. Hấp lực của Kainene mạnh đến độ anh chỉ muốn gạt Susan ra khỏi cuộc đời anh. Anh đã không ngần ngại nói dối Susan để mình có thì giờ riêng tiếp tục trò chuyện với Kainene.   

Kainene là hiện thân của một phụ nữ mới, đi trước thời đại khoảng chừng 50 năm. Có thể nói hiện nay, số người phụ nữ thật sự nắm quyền lãnh đạo kinh tế và thương mại tuy có nhiều hơn những năm 60 của thế kỷ XX nhưng vẫn còn là thiểu số. Nigeria của những năm 60, người đàn ông là chủ gia đình. Dân Igbo có tục lệ đa thê. Người đàn ông ở gian nhà chính. Mỗi người vợ và con của họ ở trong gian nhà riêng, chung quanh căn nhà chính. Các bà vợ tự trồng rẫy, làm ruộng của mình. Đến bữa ăn họ được chia phiên người nào nấu thức ăn gì và mang đến cho chồng. Họ trọng nam khinh nữ. Tuy nhiên, Kainene vừa tốt nghiệp đại học ở ngoại quốc về đã lập tức được nắm quyền quản lý cơ sở thương nghiệp của bố và được ông bố tán dương có giá trị gấp đôi một người con trai.

Kainene là một cô gái vượt qua những giới hạn mà xã hội Nigeria đã dành sẵn cho phụ nữ. Kainene khẳng định quyền tự do chọn lựa và quyết định cuộc đời mình, cho dù sự quyết định hay chọn lựa của Kainene không được xã hội chấp nhận hay tán thành. Tính tự quyết và tự do trong việc chọn lựa thể hiện qua cách trang điểm, ăn mặc, cách chọn người để yêu và bạn giao du. Ngay cả cái quyết định tối hậu ảnh hưởng đến mạng sống của cô là vượt vòng đai cấm để đi tìm mua thức ăn cho dân tị nạn cũng là một quyết định đơn độc. Kainene không phải là một người quyết định dựa vào sự tán đồng của người chung quanh. Cô có thái độ kiên định của một người lãnh đạo, quyết đi trên con đường đã chọn cho dù phải hy sinh tính mạng. 

Độc giả có thể không thích Kainene lúc mới vừa gặp cô. Không thể nói là Kainene đẹp bởi vì cô không có vẻ đẹp mà xã hội của cô đã tạo tiêu chuẩn. Cô có hình dáng khác thường, cao bằng một người đàn ông ngoại quốc, gầy đến độ trông giống như một thanh niên. Tính khí thì kỳ quặc, tô môi son đỏ chóe, hút thuốc phì phà. Trong mắt nhìn của Richard, anh cho rằng cô giống những cô nàng “bồ nhí” của các ông lớn hơn là con gái của một Ông Trùm thầu khoán, tốt nghiệp đại học ở ngoại quốc mới về. Kainene ít nói đến lạnh lùng, hay châm biếm mỉa mai. Thế nhưng người đọc sẽ nhận ra rằng không thể nhìn hình bìa mà đánh giá nội dung của quyển sách. Càng vào sâu trong truyện, Kainene càng để lộ lòng nhân ái, biết suy nghĩ, quyết định đúng đắn. Kainene dùng tài quản lý của mình để săn sóc, nuôi nấng người tị nạn. Cô dùng sự suy xét và quyết đoán để cứu người thanh niên đào ngũ vì đói nên đi trộm khoai và bị dân tị nạn đánh đập. Cô can đảm mạo hiểm vượt tuyến để đi tìm mua thức ăn về nuôi sống mọi người trong trại tị nạn. Cô có thái độ và lòng can đảm của một nhà lãnh đạo đáng kính phục.  

Còn Tiếp

Hoa màu xanh lá cây

Ngày xưa khi đi học sớm tôi thường hay ngồi chờ Hoàng Anh trước cửa dưới giàn thiên lý.  Tôi nhớ Hoàng Anh có chỉ cho tôi nhưng tôi không nhìn thấy vì hoa thiên lý màu vàng rất nhạt gần như xanh của lá non lẫn vào trong lá.  Năm 2005 về Sài Gòn có người dẫn đi ăn nhà hàng có đãi món hoa thiên lý xào tỏi nên tôi mới biết mặt hoa.

Tôi vẫn hay hiếu kỳ.  Ở Việt Nam thường thấy hoa màu hồng, vang, đỏ, tím.  Ở Mỹ này tôi vẫn thường hay bị thu hút bởi những loài hoa màu xanh lơ hay xanh biển.  Có khi xanh đậm ngã sang màu tím.  Những loại hoa màu xanh (blue) là morning glory, African pensee, blue bonnet, v.v. . . .  Đặc biệt bao giờ tôi cũng dừng chân hay ngoái đầu nhìn hoa màu xanh lá cây như màu hoa thiên lý.

Đăng lên đây ba tấm ảnh của loại hoa màu xanh.  Tấm thứ nhất là hoa của loại oak (không chắc chắn lắm).  Tấm thứ nhì là hoa dogwood, tấm thứ ba tôi không biết tên hoa.  Chỉ thấy người ta trồng dọc theo hàng rào.  Loại cây này mùa thu lá đỏ rực rất đẹp.  Tôi có cố gắng chụp gần một tấm rất to nhưng rất tiếc ảnh bị mờ.  Ngày mai nếu trời không mưa tôi sẽ đi chụp lại.

Chúc ngủ ngon.

Ngỗng Canada hoang

ngỗng canada

Mấy hôm nay mưa dầm.  Đêm qua nằm nghe mưa rào rào trên mái nhà, tưởng tượng những cơn mưa ở Việt Nam.  Sáng đi làm vẫn còn mưa nhưng đến giờ ăn trưa thì bỗng có chút nắng lên.  Như thông lệ tôi xách máy chụp hình đi bộ vẫn theo lối đi hằng ngày con đường nhỏ dọc bờ sông.  Tôi thường khi nhìn thấy cặp ngỗng trời canada thẩn thơ trong bãi đất trống cạnh bãi đậu xe.  Tôi đi đến gần bờ sông thì thấy cặp ngỗng trời có thêm ba đứa con bé xíu.  Tấm hình này chỉ chụp được hai con ngỗng con, còn con kia thì dỗi bố mẹ nên đi nằm cách xa ra, nãy giờ tôi cố post tấm hình con ngỗng con nhưng internet có cái gì trục trặc mà post không được.

Tôi đang đọc quyển Snow của Orhan Pamuk.  Nhân vật chính tên Ka (có nghĩa là Snow) nói đến một nỗi im lặng trong lòng.  Cái im lặng này như là cái im lặng của tuyết là cái thúc đẩy ông làm thơ.  Có nhiều nhà văn nhà thơ than phiền là họ viết văn vì họ thấy cô đơn ghê gớm.  Tôi không bao giờ cảm thấy cô đơn.  Tôi được bao bọc bởi người thân và hạnh phúc.  Tuy nhiên tôi rất thèm có sự yên lặng tĩnh mịch trong lòng mình.  Thèm một sự vắng lặng mà không có gì chung quanh mình ngoài những con chữ đang chờ chạy ra những đầu ngón tay.  Đôi khi tôi thèm bị lãng quên, cứ để tôi ngồi một xó nào đó với sách vở và những ý tưởng ngổn ngang.