Hoa cây kế – thistle

ong và thistle

thistle
Hoa thistle còn gọi là cây kế

Mùa này thistle trổ hoa. Đi đâu cũng thấy chúng, mọc khỏe, màu tươi thắm trong nắng, hương thoang thoảng, rủ rê ong bướm. Đầy gai.

Cây kế, hay thistle, là quốc huy của Scotland. Nó là biểu tượng của sự làm việc siêng năng và vất vả. Đây cũng là biểu tượng của sự hy sinh dâng hiến của Chúa. Người ta tin rằng thistle có vị thuốc chống trầm cảm.

Theo huyền thoại Hy lạp, Aphrodite, nữ thần của tình yêu và tình dục, đã tặng cho chàng trẻ tuổi Phaon một nhánh thistle ngụ ý chàng dễ dàng bị mắc bẫy cho dù nhiều gai góc. Tuy nhiên có một câu chuyện thần tiên khác lại bảo rằng, thistle tượng trưng cho tình yêu vững bền, dù cuộc đời nhiều đau đớn, tình yêu vẫn lớn mãi.

Thistle, cây kế, là một biểu tượng cổ xưa. Hơn năm trăm, trong lịch sử hoàng gia Scotland, có truyền thuyết rằng: có một tên hải tặc Viking vì đi vào một vạt rừng đầy cây kế. bị gai đâm đau quá nên kêu la. Tiếng kêu của hắn làm dân làng chú ý nên họ tổ chức chống lại Viking. Vua James VII năm 1687 đã thành lập đạo quân “Order of the Thistle” với khẩu hiệu là nemo me impune lacessit, có nghĩa là “không ai có thể tấn công tôi mà không nhận lãnh hậu quả.” Có thể đạo quân và khẩu hiệu này bắt nguồn từ truyền thuyết kể trên.

Các cô gái Anh ngày xưa, khi có nhiều người theo đuổi mà không biết chọn người nào. Các nàng tham khảo ý kiến của nhà tiên tri thistle bằng cách viết tên của các chàng trên những nụ hoa thistle rồi đặt dưới gối. Sáng ra đóa hoa nào nở thì sẽ chọn người có tên trên cái hoa ấy làm chồng.

Dioscorides, nhà thực vật học người Hy lạp, bảo rằng ngâm rễ và hoa thistle vào trong rượu uống sẽ giải sầu, giải chứng bệnh trầm cảm. Theo Thiên chúa giáo, bướm đậu lên hoa thistle là dấu hiệu của Phục Sinh. Bướm thoát khỏi cái kén của nó trên hoa thistle, là dấu hiệu một linh hồn được cứu chuộc.

Biến mất

boyfriend

Không biết Boyfriend lảng vảng sau nhà tôi từ lúc nào. Tối qua tôi ngồi xem ảnh cũ thấy khoảng tháng 5 năm 2015 tôi bắt đầu rình chụp nhiều ảnh của Boyfriend. Ít nhất là từ mùa đông, đầu năm 2015 tôi đã thấy dấu chân chung quanh nhà, trên nền tuyết. Nora ít khi ra ngoài vào mùa đông. Thường nàng chỉ ngồi ở bậc cửa nhìn đời.

Tấm ảnh của Boyfriend phía trên chụp chàng vào tháng 9 năm 2015. Lần cuối cùng, chừng giữa tháng 6 hay đầu tháng 7 năm nay (2017), tôi còn nghe về Boyfriend, là lúc cô út nhà tôi vui mừng text bằng điện thoại, cô thấy Boyfriend bắt được một con chipmunk. Và sau đó Boyfriend hoàn toàn biến mất. Ách Cơ như nhấn mạnh vào cái bóng tối trong tôi, nói rằng, con nghĩ Boyfriend đã chết.

Lúc sau này Inkie như thế chỗ của Boyfriend, cứ ngồi đâu đó trên đồi, trên hàng rào, nằm trên con lối nhỏ tráng nhựa sau nhà, ngó vào cửa sổ, chờ cho ăn. Ginger cũng đến nhưng ít hơn. Có vẻ như Ginger vẫn còn được chủ cho ăn chăm sóc. Còn Inkie đã hoàn toàn bị chủ bỏ rơi.

Tối qua tôi cho cả hai con mèo ăn, hai đợt khác nhau. Ách Cơ trêu tôi, mẹ chăm sóc mèo hoang còn hơn mẹ chăm con lúc con còn bé. Tôi thấy có chút buồn, dịu dàng lén vào tâm hồn. Cái chết của một con mèo hoang thật lặng lẽ. Rồi có một ngày, nó biến mất khỏi cuộc đời, nhưng để lại trong tôi một chút thương cảm.

Hạnh phúc đâu rồi

Rất khó mà ôm hạnh phúc vào trong tay. Tay tôi vừa chạm đến nàng thì nàng uốn người, nhẹ nhàng thoát khỏi tầm với của tôi. Tôi nhanh chân đuổi theo, nàng nhanh hơn, chạy mất. Không đi đâu xa, chỉ quẩn quanh, tôi nhìn thấy đó nhưng không thể bắt được.

Hôm qua con gái lớn của tôi, Ách Cơ, lái xe hơn mười tiếng đồng hồ mang theo một cô bạn về nhà. Ách Cơ đi chợ nấu ăn. Bạn Ách Cơ ăn chay nên Ách Cơ làm món chay, cà tím sốt Miso, rau muống xào, đậu hủ chiên. Bữa ăn rất ngon. Trước khi đi chợ Ách Cơ kéo ống quần khoe vết xâm trên bắp chân của nàng ảnh mấy cọng rau muống trổ hoa và rau mồng tơi. Tôi không biết nói gì chỉ gật gù khen, trông ngộ nghĩnh. Ách Cơ ngủ một phòng. Bạn của Ách Cơ ngủ một phòng. Chỗ nào cũng có người. Một phòng có người lạ. Một phòng có người quen nhưng dần dần trở nên lạ.

Mỗi khi trong nhà lao xao, ồn ào, hạnh phúc trốn biệt.

Mấy hôm nay, trời bắt đầu lạnh. Đi bộ tôi đã thấy cây lá mọc dọc theo hàng rào của nhà người ta đã bắt đầu có màu đỏ. Ban đêm trong nhà lạnh hơn dù chưa đến mức cần phải mở sưởi. Ban ngày tôi liếc nhìn nhiệt độ kế thấy 68 độ F. Chưa đến nỗi nào. Đi ngủ thì 65 độ F vẫn còn thấy dễ chịu.

Tôi thức giấc nửa đêm không ngủ lại được. Hỏi ông Tám, hạnh phúc đâu rồi, anh có thấy nàng không. Vừa dứt lời thì như thể nghe tiếng tôi, hạnh phúc xuất hiện. Nàng nhảy lên giường, chui vào trong chăn, nằm gọn trong lòng tôi. Cổ nàng kêu rù rù có vẻ như hài lòng lắm.

Tôi nhẹ nhàng nắm tay ông Tám. Ngăn không cho ông quơ tay chạm đến nàng kẻo ông lại giật mình khi chạm vào làn da mềm mại như tơ của nàng. Và cũng sợ nàng giật mình lại chạy trốn. Tôi rơi dần vào giấc ngủ với hạnh phúc ấm cúng trong vùng ngực của tôi.

Để giải thích cho bạn mới chưa quen cách viết của tôi. Tôi chỉ đổi cái tên Nora, con mèo tam thể của tôi, thành hạnh phúc (cố ý không viết hoa). Tôi muốn nói là hạnh phúc là những điều thật đơn giản chung quanh. Tuy nhiên nhiều khi chúng ta không để ý nhìn thấy. Khi vồ vập đuổi bắt hạnh phúc chạy vuột khỏi tầm tay. Nhưng một lúc nào đó, khi bình an, nó sẽ lặng lẽ quay lại.

trái còn xanh
trái hoang lúc còn xanh
Queen Ann's Lace
Hoa Queen Ann’s Lace, họ cà rốt. Nếu bứt lá vò vò đưa lên mũi ngửi sẽ thấy có mùi cà rốt.
ong và thistle
Hoa thistle và hai con ong
Chùm trái hoang
Trái hoang đã chín.

Ảnh không có liên hệ với bài. Đăng cho bài có chút màu sắc.

Nói tiếp chuyện, thơ – là gì?

Hôm trước tôi tự hỏi thơ là gì. Trả lời câu hỏi này chắc phải viết như một thứ “chuyện dài còn tiếp.” Có người bạn hỏi, nói về thơ bằng Anh ngữ, làm sao để nhận ra đó là một bài thơ, và khi đọc thơ có thấy cảm xúc, cảm động như đọc thơ Việt không.

Thơ Anh ngữ cũng như thơ Việt, có nhiều loại, thơ có vần và thơ tự do. Tôi lập lại là tôi không chuyên về thơ, (cũng chẳng chuyên về cái gì cả, ngoài tám chuyện bâng quơ), chưa hề làm thơ, hễ thắc mắc cái gì đó không ai giải thích cho thì tự tìm hiểu qua sách vở. Người thắc mắc thơ là gì, như tôi, thì chưa hề làm thơ. Người làm thơ mấy chục năm, in ra cả chục tác phẩm thơ thì chẳng bao giờ cần phải thắc mắc thơ là gì.

Hôm trước tôi xem phim “Anonymous.”  Cuốn phim này chất vấn liệu có phải Shakespeare là tác giả của 37 vở kịch thơ và 154 bài sonnets như người ta vẫn tin tưởng từ trước đến nay hay không. Lý do người ta nghi ngờ Shakespeare là vì người ta không tìm thấy dấu tích, bản thảo có chữ viết của Shakespeare cũng như hồ sơ ghi lại mức độ học vấn của ông. Các tác giả đồng thời với ông đều có nhiều hồ sơ để lại. Cuốn phim đưa ra giả thuyết là có một vị Bá tước (Earl of Oxford) là người thật sự viết những vở kịch này. Sở dĩ Bá tước phải mượn tên của Shakespeare là vì thời bấy giờ quan chức của triều đình không được hạ mình làm việc kiếm tiền lãnh lương như dân chúng. Thêm vào đó, các vở kịch này gói ghém nhiều điều không tốt về nhà cầm quyền nên họ sợ bị tổn hại thanh danh cũng như tính mạng. Khi vị Bá tước Oxford đưa quyển thơ Romeo và Juliet cho đoàn kịch của Shakespeare trình diễn, ông nhấn mạnh với người đại diện cho ông là toàn vở kịch thơ được viết theo thể “iambic pentameter.” Nói cho đơn giản “iambic pentameter” là một thể thơ mỗi câu có năm nhịp. Mỗi nhịp luân phiên có một âm đơn, theo sau là âm kép có dấu nhấn ở một trong hai âm. Như đã nói ở phần trên, Shakespeare có 154 bài sonnets. Sonnet là một bài thơ có mười bốn câu, mỗi câu có mười chữ. Ngoài ra thơ Anh ngữ còn có một số thể loại khác như haiku (mượn từ thơ Nhật) . Tôi hỏi google có bao nhiêu loại thơ Anh ngữ. Câu trả lời là có hơn năm mươi loại thơ, kể cả thơ tự do.

Bạn hỏi, thơ Anh ngữ có gợi cảm xúc ở người đọc hay không, thì điều đó tùy người đọc. Người thích đọc thơ và giàu tình cảm sẽ cảm thấy rung động ở một số bài thơ. Tôi đọc bài thơ Dog’s Death của John Updike lần nào cũng chảy nước mắt. Bài thơ nói về một con chó, chẳng biết bị đạp hay xe tông, bị nội thương mà chủ không biết. Chủ dạy con chó đi tiểu lên tờ giấy, mỗi lần như vậy là được khen, giỏi. Khi con chó bỏ ăn nằm liệt, chủ tưởng là nó đau vì chích ngừa. Đến chừng sau khi nó chết mới biết nó bị dập gan. Trên đường đi đến sở thú y, trong cơn đau đớn tột cùng nó cắn bàn tay chủ rồi chết. Chủ về nhà mường tượng ra bóng hình con chó, tờ báo cho chó đi tiểu vẫn còn đó. Khi chủ chơi đùa với chó thì máu của chó chảy ra ngập dưới da. Tôi không chắc mấy ông bợm nhậu thịt chó đọc bài thơ này sẽ thấy cảm động. Vì vậy kết luận thơ Anh ngữ đọc có cảm động hay không thì xin trả lời là tùy bài và tùy người đọc.

Làm thế nào để nhận ra đó là một bài thơ, thì đa số thơ Anh ngữ cũng có vần. Thí dụ như đoạn ca từ trích trong bản nhạc Treaty của ông Leonard Cohen, như sau:

I heard the snake was baffled by his skin sin
He shed his scales to find the snake within
But born again is born without a skin
The poison enters into everything

Tôi nghe kể rằng con rắn thắc mắc về bộ da tội lỗi của nó
Nó lột da để tìm ra con rắn ở dưới bộ da
Nó được tái sinh thành một con rắn mới không có lớp da
Chất độc (của chính con rắn, phải không?) ngấm vào khắp nơi trong thân của nó.

Bạn để ý những chữ cuối câu có vần “in.” Tôi nhờ vần điệu mà nhận ra đó là bài thơ.  Tôi thích bài thơ này, vì tuy đơn giản nhưng nó có nghĩa sâu xa nhờ dùng ẩn dụ của tôn giáo.

Nếu không có vần điệu thì tôi “đoán” đó là bài thơ tự do. Nói thì nói vậy, đọc quen có kinh nghiệm thì có thể nhận ra một bài thơ dù không vần.  Tôi kèm theo bài thơ “Dog’s Death” để bạn nào có thì giờ thì đọc thêm. Bài thơ làm tôi cảm động bởi vì tôi rất nhạy cảm với thơ dù cả đời chưa làm được bài thơ nào.

Dog’s Death – John Updike

She must have been kicked unseen or brushed by a car.
Too young to know much, she was beginning to learn
To use the newspapers spread on the kitchen floor
And to win, wetting there, the words, “Good dog! Good dog!”

We thought her shy malaise was a shot reaction.
The autopsy disclosed a rupture in her liver.
As we teased her with play, blood was filling her skin
And her heart was learning to lie down forever.

Monday morning, as the children were noisily fed
And sent to school, she crawled beneath the youngest’s bed.
We found her twisted and limp but still alive.
In the car to the vet’s, on my lap, she tried

To bite my hand and died. I stroked her warm fur
And my wife called in a voice imperious with tears.
Though surrounded by love that would have upheld her,
Nevertheless she sank and, stiffening, disappeared.

Back home, we found that in the night her frame,
Drawing near to dissolution, had endured the shame
Of diarrhoea and had dragged across the floor
To a newspaper carelessly left there.  Good dog.

Và sau đây là phần comment của em Đậu Hủ. Thấy hay quá, nên tôi mang lên đây để dành.

Nói làm thơ Anh ngữ thì đúng cái em đang học rồi, mà học mới thấy khác thơ văn phương Đông mình lắm.

Em bắt đầu học lớp Poetry trước khi bắt đầu viết thơ tiếng Anh, và càng học thì càng thấy có quá nhiều loại và quá nhiều dạng thơ, quá nhiều cách tính vần true rhyme, half rhymes, bởi vì khác với tiếng Việt, cách phát âm tiếng Anh đa dạng nên tìm vần cũng khó khăn, hầu hết đều chỉ là nửa vần, hoặc vần na ná. Bên này học thơ người ta khuyến khích tự mình đọc diễn cảm, nhìn vào gương đọc hay đọc cho cả lớp cũng được, người viết phải tự đọc người nghe mới biết nhấn ở đâu, ngắt nghỉ thế nào, hàm nghĩa ra làm sao. Nói chung rất khác ở Việt Nam. Mà ở VN thì cũng không có lớp dạy bài bản làm thơ, không có chỉ dẫn về bằng trắc lên xuống, cái này thì em hi vọng là tương lai sẽ có thêm 🙂

Thơ tự do cũng có quy luật của nó, như sonnet quy luật là iambic pentameter (thi thoảng là tetrameter) và vần cuối dòng xen kẽ, hai dòng cuối vần cho nhau hay villanelle mười chín dòng, chỉ vần hai âm và lặp câu nhưng yêu cầu mỗi lần lặp đều phải mang một nghĩa khác. Quy luật thơ tự do nằm ở ngắt nghỉ, xuống dòng, rồi còn có thể loại visual poetry, tức thơ tự do dùng cách cắt câu và sắp xếp các dòng tạo thành hình miêu tả hay tạo một cái hiệu ứng nào đó lên người đọc, rồi còn cả prose poetry, về cơ bản thì chỉ là một đoạn văn xuôi, nhưng dùng hình ảnh ẩn dụ để người ta đọc vào là biết đó là thơ.

Có lần em dịch một đoạn thơ prose poetry, nhưng không nhận ra đó là thơ mà dịch luôn thành văn xuôi nữa cơ 🙂

 

Một tuần đứng gác đường

bồ câu ăn mảnh vụn thức ăn một chàng trai đón xe buýt thảy ra
Có một chàng trẻ tuổi đứng đón xe buýt, hình như chán thức ăn đang cầm trên tay nên xé nhỏ thảy những mảnh vụn ra cho bồ câu ăn.
bồ câu ngủ trên sân
Bầy bồ câu ngủ rải rác trên sân. Trời khá ấm, có lẽ vì thế mà chúng không túm tụm vào nhau khi ngủ.
bồ câu say ngủ
Nàng bồ câu ngủ say quá nên tôi đến gần mà không vụt bay lên
người không nhà ngủ ở trạm xe buýt
Người không nhà ngủ ngồi ở trạm xe buýt. Liên tiếp ba ngày thứ Hai đến thứ Tư, người ngủ từ lúc nào không biết, chỉ biết khi tôi đến lúc sáu giờ sáng thì đã thấy ở đây. Độ tám giờ hơn thì người này, một chàng trai trẻ độ ba mươi người da màu, thức giấc và đi mất.
những bức tượng kể lại chuyện thời xưa khi bắt đầu thành lập trạm bán vé xe lửa
Những bức tượng diễn lại thời xưa khi mới thành lập hãng xe lửa.
tấm kính trong có những bức họa nho nhỏ
Trên một tấm kính trong, chắn giữa trạm xe điện, có những bức họa nho nhỏ.
thành phố vẫn chưa thức giấc
Thành phố chưa hoàn toàn thức giấc. Còn một bãi đất hoang cây cối mọc um tùm. Tôi và một người phụ nữ làm việc chung thầm ước biến chỗ này thành một công viên nhỏ, hay làm một bãi trồng rau.
tranh tường ghép bằng gạch màu
Tranh tường ghép bằng những miếng gạch nhỏ có nhiều màu sắc (mosaic art) .
cái đồng hồ của nhà ga
Cái đồng hồ của nhà ga, mà có rất nhiều lần tôi tự hỏi không biết nó có chết máy không mà sao kim đồng hồ không chuyển động

Vậy là cũng xong một tuần lễ chúng tôi “voluntold,” (be told to volunteer) bị bảo đi tình nguyện. “Người ta nói ăn cơm chúa múa tối ngày,” và “nuôi quân ba năm dùng một giờ,” vì thế “đâu cần thì nhân viên có (mặt) đâu khó (khăn) thì có nhân viên.”

Xong công việc, điều đầu tiên là tôi xóa mấy cái app cần dùng cho việc tình nguyện nhưng không dùng lúc bình thường, Mấy cái app này làm hao mòn điện rất nhanh. Tôi có cảm tưởng một tuần tình nguyện này nó làm hao mòn tuổi thọ của tôi có lẽ phải năm hay mười năm.

Ngày đầu tiên, không đói nhưng vì nhàm chán tôi thấy cần ăn cái gì đó. Đi mua ly cà phê và cái bánh corn muffin ở ngay trong nhà ga. Cô bán hàng thích trò chuyện, mãi đến khi tôi hỏi bánh của tôi đâu thì cô đưa bánh ra. Trời ạ, cô cho bánh vào microwave hâm nóng mà lại bọc bằng nhựa cao su. Chẳng lẽ ném cái bánh đi, cũng ngại không dám trả bánh lại (bản tính hay khiếp nhược của tôi), ăn cái bánh mà nghĩ đến chất độc hại trong giấy nhựa có thể gây ung thư, nó lấy đi bao nhiêu tuổi của mình đây?

Liên tiếp ba ngày, sau khi người ngủ ngồi bỏ đi, tôi dọn mấy tờ báo anh ta lót để ngồi. Có người nhìn tôi lắc đầu tỏ ý thương hại. Một người phụ nữ hành khách đón xe buýt phàn nàn, mấy người “bum” ngồi đầy chiếm chỗ, nhiều khi bà muốn ngồi nhưng không dám ngồi. Tôi làm thinh không biết phải nói gì.

Buổi sáng sớm đi vào nhà ga, tôi thấy người không nhà ngồi chung quanh khá đông. Sáng thứ Sáu vừa qua, một người không nhà, chẳng biết bực dọc chuyện gì chửi bới um sùm. Hành khách sợ hãi lảng đi chỗ khác. Chập sau anh ta cùng đồng bọn lững thững kéo nhau đi, chẳng biết đi đâu.

Ngoài sân có một chàng trẻ tuổi. Sáng sớm có lẽ đói bụng nên cứ thấy ông đi qua bà đi lại là đến gần gạ gẫm cái gì đó. Thấy tôi đứng gác đường thỉnh thoảng đi tới đi lui cho đỡ chán anh chàng tiến đến gần. Tôi lập tức xoay người sang hướng khác vì không muốn phải trả lời bất cứ câu hỏi gì của anh ta. Có lẽ anh ta lẩm bẩm chửi thề nhưng không tiến đến gần tôi nữa.

Vì sao họ không nhà? Không có chỗ nào cho họ tạm trú sao? Đa số nhìn họ không được khỏe, như người bệnh phù, người nghiện, người say. Có một người phụ nữ ăn mặc rất tươm tất, đeo vòng đeo chuỗi, ngủ ngồi đến độ rơi cả mắt kính mát. Người ta không thể không nghĩ đến cái khoảng cách giữa những người giàu có tột bực và nghèo khổ rách nát sống vất vưởng đầu đường xó chợ ở Hoa Kỳ. Người ta có thể nhìn thấy cả một thiên đường hạnh phúc và một trần gian bất hạnh (chứ không đến độ là địa ngục dù có lẽ địa ngục cũng không mấy xa) ở ngay bên cạnh nhau.

Khó mà biết được vì sao họ ra nông nổi. Một quyết định sai lầm, đưa đến chỗ mất nhà. Chỗ tạm trú có nhưng chật chội và có thể không mấy an toàn, vì rừng nào cọp nấy. Đàn ông có thể bị đánh đập. Đàn bà có thể bị xâm phạm. Những người lang thang này, thỉnh thoảng nhảy xe buýt đi đến thành phố khác, những lúc vắng người tài xế không đuổi cũng không đòi phải trả tiền. Đôi khi tôi bối rối không biết chỉ người ta đi tuyến đường nào thì có nhiều người đứng gần nghe lóm chỉ dùm.

Cây kim đồng hồ có khi nằm bất động. Mười lăm phút sau cùng nó dài như mười lăm tiếng đồng hồ. Công ty ra thông báo hỏi có ai muốn tình nguyện thêm một tuần nữa không. Tôi thầm kêu “not me.”

Bình minh trên sân ga

bình minh trên sân ga

Một buổi sáng làm việc ở nhà ga đường Broad.  Khoảng từ 7 giờ đến 8 giờ buổi sáng nhà ga nhộn nhịp. Tôi đến chừng vài phút trước sáu giờ, trời mờ mờ sáng. Bầy bồ câu bay lên đáp xuống tìm thức ăn. Sáng nào cũng có một đàn ngỗng Canada bay ngang, không biết là mỗi ngày một đàn khác nhau hay chỉ là một đàn thôi.

Trên băng ghế ở trạm xe buýt liên tiếp hai ba ngày có một người ngồi ngủ đến chừng hơn tám giờ thì người ấy thức giấc và đi đâu mất. Hôm qua có một người đàn bà tuổi chừng bốn mươi hay năm mươi nhỏ nhắn mảnh khảnh đến hỏi xin tiền tôi. “Bà có thể mua cho tôi một ly cà phê không?” Tôi mới mua ly cà phê chưa uống.
“Bà có thể lấy ly cà phê này, nếu bà muốn. Tôi không thể cho bà tiền.”
“Không, tôi không muốn uống latte.” (Ly cà phê của tôi có sữa nhưng không đường.) Tôi nhún vai không trả lời.
“Ly cà phê của bà nhiều quá tôi không uống hết.” Tôi vẫn làm thinh. Sau đó bà nhận ly cà phê, sang một người đàn bà khác, chừng ba mươi hay hơn có đứa con nhỏ chừng ba bốn tuổi. Chẳng biết bà nói gì, người đàn bà lục trong ví lấy tiền cho bà. Sau đó bà đi vòng trong sân tiếp tục xin tiền.
Chỉ một chút sau sân ga trở nên rộn ràng. Người ta vội vã. Xe lửa, xe điện, xe buýt đến rồi đi. Không có ai than thở rằng: “Tôi đến sân ga đứng bơ vơ xem tiễn biệt. Lòng buồn chua đau xót nỗi chia xa.” – Thơ Tế Hanh.

Khi gà chưa gọi sáng

Em ra đi khi gà chưa gọi sáng.

Mùa hè là mùa sửa chữa cầu đường. Amtrak, công ty xe lửa chạy liên bang, có những chặng đường rầy dùng chung với nhiều công ty khác. Khi Amtrak cần sửa chữa đường rầy thì các công ty dùng chung đường rầy với Amtrak cũng bị ảnh hưởng. Do sự thay đổi lớn này công ty “của tôi” yêu cầu nhân viên tình nguyện đến những điểm nóng để giúp hành khách đi xe lửa thích ứng với thời biểu mới hay đổi trạm, v. v…  Và vì thế tôi cũng như nhiều nhân viên khác hoặc đi làm sớm hơn hoặc ở lại làm trễ hơn. Tôi làm từ sáu giờ đến 10 giờ sáng, xong vào công ty làm thêm bốn giờ nữa, ra về lúc hai giờ chiều. Để đến chỗ làm mới tôi phải ra khỏi nhà lúc 4:25 am đáp một chuyến xe lửa và một chuyến xe điện. Dễ dàng và khá an toàn. Chỉ tội cái trời tối thui, đường xá vắng vẻ, bãi đậu xe trống trơn. Tuy nhiên trạm xe lửa sáng choang và tôi ngạc nhiên khi thấy có khá nhiều người đi làm sớm.

Vì đi làm sớm nên nhớ bài vọng cổ tôi chép ở câu đầu tiên. Mới vừa bắt đầu thì bỗng dưng mất internet nên không viết tiếp được. Chắc không có nhiều người nhớ bài vọng cổ này, chỉ có những người còn ở trong nước sau năm 75 mới nghe được bản này. Bạn nào trẻ quá chắc chưa được nghe. Và có lẽ cũng chẳng nhiều người thích bản này vì nó gợi nhớ một thời bị áp bức bằng loa phường và nền văn nghệ giải phóng.

Nhắc đến văn nghệ sau năm 75, tôi tự hỏi những tác phẩm nổi tiếng thời ấy bây giờ ra sao? Thấy các bạn trong nước đón nhận các tác phẩm ngoại quốc thật long trọng linh đình, mà trên mạng không thấy nhắc gì đến “Mẫn và Tôi.” Một quyển tiểu thuyết khá dày và trữ tình một thời vẻ vang bây giờ đã bị lãng quên hoàn toàn hay sao? Tại sao Nỗi Buồn Chiến Tranh được dịch ra tiếng Anh còn “Mẫn và Tôi” thì không?

Sở dĩ tôi nhớ đến tác phẩm văn nghệ giải phóng, vì bài thơ mở đầu bản vọng cổ tôi không nhớ tựa đề.

Em ra đi khi gà chưa gọi sáng.
Trăng mùng mười còn gợn nước giữa đầm sen
Vẫn … (quên mất câu này)
Vẫn cơm gói mo cau, khăn rằn quấn cổ.

Nói nào cho ngay, có nhiều người cũng giận cô gái nhà quê trong bản vọng cổ này đã phản bội chiến sĩ miền Nam.