Mallow hay hibiscus?

Hibiscus ở sau nhà

Mallow hay hibiscus?  Thấy có khi người ta nhập cả hai loại này vào chung một gia đình.  Hibiscus là loại khi nở hết cỡ thì cánh cong, lật ngược về phía trên vì vậy trông giống như cái đèn lồng màu đỏ.  Thời trung học, ngồi trong lớp, giờ Lý Hóa buổi chiều, ông thầy dữ hay chửi mắng học trò, ngó ra cửa sổ, những cái hoa lồng đèn đỏ cứ như thôi miên tôi, nắng lóa và màu đỏ cứ làm mắt tôi nhíu lại.

Hibiscus có nhiều loại, nhiều màu, đỏ, hồng nhạt, trắng, tím, vàng.  Loại hoa trong tấm ảnh tôi chụp thấy Wikipedia bảo là Hibiscus syriacus.  Chung quanh nhà tôi có hai loại, hồng lúc mới nở, lúc sắp tàn trở thành màu tím nhạt, và một loại khác màu trắng, bên trong gần cuống hoa màu đỏ sậm, nhụy hoa có khi trắng khi vàng.

Mallow cũng giống như hibiscus nhưng to hơn.  Ngày còn đi làm, lái xe ra mấy cây cầu quay gần cửa biển, trên đường đi tôi thường gặp ở các trại trồng hoa hay trong sân nhà người ta trồng, hoa mallow giống như hoa dâm bụt, nhưng to như một cái đĩa bàn, loại đĩa người ta dùng để chưng trái cây trên bàn thờ, hay đặt nguyên con gà tây vào những bữa ăn tối trong các ngày lễ lớn.  Loại này có nhiều màu rất đặc biệt, như màu đỏ sậm của rượu vang, tùy theo ánh sáng, và mới nở hoa hay đã sắp tàn, có khi nhìn giống như màu đen.  Loại hoa này cũng có nhiều tên, có khi trong trại bán hoa, thấy người ta gọi là rose of Sharon.  Có một loại mallow màu trắng, thơm, tên là marshmallow, người ta dùng tên này để đặt cho một loại kẹo đường mềm và xốp.  Kẹo marshmallow này thường được cho vào chung với khoai lang, nho khô, hạt walnut, và bơ rồi đem nướng.  Một món ăn rất khoái khẩu trong những buổi tiệc lớn.  Gần đây, tôi thấy bà chị đun marshmallow với bơ cho tan chảy rồi cho krispy rice vào, khuấy đảo cho đều, đổ ra khuôn, lúc còn mềm dùng dao xắn thành những miếng vuông nho nhỏ vừa tay cầm, thành cốm rất thơm ngon.  A! xin lỗi các bạn, đang nói chuyện hoa mà nhảy sang chuyện cốm, thật là lang bang.  

Mallow là một trong những loài hoa lâu đời nhất của nhân loại.  Người Ai Cập thời cổ thường kết hoa này với larkspur và acacias để làm thành vòng nguyệt quế.  Hằng năm trên đảo Delos, sinh quán của thần Apollo, những cành mallow đầy hoa và trái cùng với rễ của cây asphodel được dùng để dâng tặng vị thần chủ của ánh sáng.  Vào thời bấy giờ, mallow được xem là một loại thức ăn tốt nhất được dùng để ngăn chận cơn đói và cái khát.  Một biểu tượng căn bản về thức ăn của nhân loại (vì vậy mới dâng hiến cho thần).  Người nghèo (thời Ai Cập cổ) dùng mallow không chỉ là thức ăn mà còn là thuốc.  Hạt của nó có chất gây hứng và chữa bệnh tình.  Mallow và asphodel được trồng trước mộ để làm thức ăn cho người ở âm ti.

Trái của mallow có hình dáng cái bánh nho nhỏ và có vị ngọt thanh. Nhánh non và lá mallow có vị thuốc để trị sưng tấy, chữa bệnh ho, và làm thuốc nhỏ mắt. 

Người Hy Lạp cổ, thể theo Dioscorides, đặt tên cho mallow là althea, lấy từ chữ althaino, có nghĩa là “to heal” hay “chữa cho lành”.  Những người nữ tu của thần Apollo thường quết bột mallow vào chân trước khi đi lên than cháy trong các buổi lễ vinh danh thần Apollo.  Mallow được trồng trong vườn hoa của Hecate, một trong những vị thần của Hy Lạp, trong thế giới âm ti, chuyên về chữa bệnh.  Vài thế kỷ sau, Charlemagne, đại đế La Mã, (748-814) ra lệnh trồng mallow trong thượng uyển để làm thuốc.  Tất cả mọi bộ phận trong cây mallow đều có vị thuốc.  Hoa và lá có chứa đường, dầu, bột, và dầu ethereal.  Có thể cho trẻ con đang mọc răng một đoạn rễ cây mallow để nhai cho đỡ ngứa nướu răng (lợi).

Tất cả những chi tiết trên đây được trích từ trang 54 trong quyển sách “The Language of Flowers, Symbols and Myths” của tác giả Marina Heilmeyer.  Thông tin dùng mallow làm thuốc để chữa bệnh xin các bạn chỉ đọc chơi cho biết thôi, đừng thử nghiệm.

Mallow nhìn thấy ở bờ kênh Delaware and Raritan từ tháng Tám năm 2020

Nhìn thấy lúc đi xe đạp

Mấy tháng nay tôi cữ đi bộ vì gót chân bị đau. Đi xe đạp thì đi xa hơn, ít mệt hơn, nhưng không thuận tiện cho việc chụp ảnh. Hôm nay đăng vài tấm ảnh trong lúc đi xe đạp. Ảnh có sao đăng vậy, không chỉnh sửa gì cả, không bắt buộc mình phải có bố cục, phải đúng độ ánh sáng, phải có tâm hồn nghệ thuật gì cả. Cứ thấy bắt mắt thì ngừng xe lại chụp.

Hoa hydrangea, tiếng Việt là tú cầu, có lẽ vì nó hình cầu, chữ tú nghĩa là đẹp (phải không? Không phải. Chữ tú có nghĩa là thêu, thêu như thêu may) Vì màu trắng nên là bạch tú cầu.

Ảnh chụp trong cái vườn hoa nhỏ xíu (nhưng đầy ắp các loại hoa và được chăm sóc chu đáo) của ngôi nhà cổ trên con đường Blackwells Mills Road. Con đường cắt ngang con kênh đào Delaware and Raritan.

Đàn ngỗng con giờ đã lớn, mới nhìn khó phân biệt đâu là ngỗng con đâu là ngỗng bố mẹ. Suýt soát một chín một mười, ngỗng con bé hơn và gầy hơn một chút.
Con nai ở bên kia bờ sông Raritan. Nai đực đầu đã nhú sừng.
Mấy trái dâu blackberry bắt đầu tách lớp vỏ râu ria bên ngoài để lộ trái dâu đỏ bên trong.
Thấy mấy cây hoa silktree (mimosa) trổ hoa xum xuê là biết giữa mùa hè. Hôm qua trời nóng, nhưng vẫn chưa đến mức khó chịu, cao nhất chưa đầy 90 độ F. (khoảng 31 hay 32 độ C.)
Hoa silktree nhìn từ xa, cứ làm cho mình mơ ước được nhìn thấy hoa phượng.
Nhớ mang máng có người gọi hoa này là hỏa hoàng. Có người nói là hoa honeysuckle loại đỏ. Thấy trên mạng gọi là trumpet vine. Tôi kê sát mũi ngửi không thấy mùi thơm nhưng kiến bu đầy chứng tỏ là mật nó rất ngọt.
Hoa nhìn rất giống hoa huệ (tuberose) nhưng màu tím có lẽ là violet bell. Mới thấy một hai cây mọc sát bờ kênh, nhô mình ra mé nước.
Trái dâu tằm (mulberry) cây không cao nhưng trái xum xuê. Có trái bắt đầu chín màu đen. Có trái đã rụng chỉ còn lại cái cùi.

Bearded Irises

Iris, theo thần thoại Hy Lạp, là tên vị nữ thần chủ nhân của cầu vồng.  Nàng vốn là sứ giả được cử đi trao mệnh lệnh của các vị thần ngự trị trên đỉnh Olympus đến các vị thần cấp thấp hơn.  Là một trong những vị thần kiểm soát bầu trời và biển cả nàng cưỡi cầu vồng với tốc độ của sấm sét, mang hương mật của hoa đến dâng cho các vị thần khác.  Nữ thần được xem là mối liên kết giữa thần và nhân loại.

Tên Iris thường được nhắc đến trong thần thoại và văn học.  Trong trường sử thi The Iliad, Iris là thiên sứ mang cây trượng có cánh trên lưng.  Iris cũng xuất hiện vào lần trong quyển Aeneid của Virgil, thường là một sứ giả của thần Juno.

Iris cũng xuất hiện trong The Tempest của Shakespeare.  Nàng được Prospero triệu đến cùng lúc với Juno và Ceres.  Một điểm đáng chú ý là Juno và Ceres đều là hai nữ thần La Mã, chỉ có Iris là nữ thần Hy Lạp.  Cả ba vị nữ thần được lệnh là phải thực hiện một cái mặt nạ và cái mặt nạ này sẽ nhân danh ba vị nữ thần dạy dỗ Miranda giữ gìn tiết hạnh cho đến ngày kết hôn với Ferdinand. Prospero, từng là Công Tước của thành phố Milan, bị người em trai chiếm đoạt ngôi vị, đã dẫn đứa con gái tên là Miranda chạy trốn rồi bị lạc vào hoang đảo.  Mười hai năm sau, Antonio, người em trai đã tiếm vị Prospero, nay trở thành vua của Naples, trên đường đi biển bị Prospero dùng pháp thuật gây nên một trận bão lớn đánh đắm thuyền.  Ferdinand là con trai của Antonio.  Tuy đánh đắm thuyền của Antonio nhưng Prospero lại muốn con gái mình kết hôn với Ferdinand, con trai của kẻ thù.  Một là để giữ vững địa vị và cũng để con mình lấy được người chồng tốt có địa vị trong xã hội. Nữ thần Iris hoàn thành nhiệm vụ.

Hoa iris (diên vỹ) xuất hiện lần đầu tiên khoảng 3500 năm về trước trên những phiến đá khắc chữ của Ai Cập.  Đối với người Hy Lạp thời cổ, Iris có giá trị tài chính vì là nguồn hương thơm để sản xuất nước hoa.  Dioscorides, nhà văn Hy Lạp, đã viết trong quyển Vienna Codex, hoa Diên Vỹ được dùng để tẩy tàn nhang trên da, là chất kích thích để làm ra nước mắt, thuốc chữa bệnh loét bao tử, chất dưỡng da cho trẻ đẹp mịn màng, và là chất thuốc ngủ công hiệu[1].  Mùi hương của diên vỹ nằm ở trong củ rễ. 

Một trong những bức tranh đắt tiền nhất nhì của họa sĩ Vincent van Gogh là bức tranh bình hoa diên vỹ.  Ngoài bức tranh này, ông còn vẽ rất nhiều tranh có hoa diên vỹ mọc trong vườn, trước nhà, hay ven đường xa xa là nhà thờ trong bối cảnh đồng quê.  Diên vỹ của ông thường là diên vỹ tím. 

Diên vỹ có nhiều loại, nhiều màu.  Có loại có râu và có loại không có râu.  Sau đây là vài tấm ảnh hoa diên vỹ loại có râu.


[1] Hager, Ben.  The Iris, p.8 

Buổi sáng mùa hạ

Bữa nay thì đỡ nóng rồi. Liên tiếp bốn năm ngày nóng, hôm qua nhiệt độ lên đến 95 độ F (35 độ C.) cộng thêm độ ẩm người ta có cảm giác như nóng đến 104 độ F. (40 độ C.) Dù nhà có nhiều bóng râm, dù nước giếng mát lạnh, dù mở máy lạnh tôi vẫn cảm thấy bải hoải vì nóng. Nghĩ đến cái nóng của mấy tiểu bang nổi tiếng nóng như Texas và Arizona mà rùng mình. Nghe đâu những vùng khí hậu vốn ôn hòa nhiều mưa như Oregon bị cơn heatwave nhiệt độ lên đến 118 độ F.

Đêm qua có chút mưa nên sáng nay trời ẩm. Ánh sáng xuyên qua tàng cây chiếu trên sân sau nhà hàng xóm.

Đó là độ nóng thời tiết. Độ nóng xã hội thì không thể đo bằng nhiệt độ. Báo đăng CFO của Trump Organization đã bị truy tố tội trốn hay gian lận thuế. James Franco tốn hơn 2 triệu để dàn xếp cho êm đẹp những cáo buộc lạm dụng tình dục. Ông Bill Cosby được toàn kháng án lật ngược bản án cũ. Báo New York Times có đăng một video ngay trên trang nhất, a visual investigation, một bản tin bằng hình ảnh, phim video do NYT sưu tầm, tổng hợp, phân tích, điều tra, về cuộc bạo loạn tấn công vào tòa nhà quốc hội ngày 6 tháng Giêng năm 2021. Bản tin dài độ 45 phút.

Số người chết vì bệnh Covid-19 hôm qua là 287 người, số người mới mắc bệnh là 13,775 (theo báo New York Times). Con số không nhỏ.

Dù người ta nói nhiều về sự trổi dậy của loài ve sau 17 năm, ở đây tôi vẫn chưa nghe tiếng ve. Đi dọc theo bờ kênh cũng thế. Tiếng chim thì nhiều, hầu như suốt ngày đều nghe tiếng chim. Có khi ba giờ sáng vẫn nghe tiếng chim ríu rít đâu đó. Không phải tiếng cú ăn đêm, và giọng chim không có vẻ gì hãi sợ. Nó như những tiếng rù rì rủ rỉ của những người thức giấc lúc nửa đêm trò chuyện vu vơ.

Trên đường đi bộ gặp một con red-tailed hawk đang cất cánh
Thấy một bạn trẻ gọi hoa này là hoa cơm cháy

Hoa cơm cháy, vì bạn nhúng chùm hoa vào bột pha sữa và đem chiên. Hoa nhúng bột trở nên dòn và vàng giống như một miếng cơm cháy. Có lẽ đây là elderberry (sambucus). Thoạt nhìn nó giống như hoa Queen Anne’s lace nhưng không phải. Nó cũng hơi giống như bông trang trắng.

Cây dâu blackberry mọc hoang còn lớp vỏ bên ngoài
Hoa lilly tiger khô. Còn gọi là kim châm
Kim châm
Một cái lá bị sâu ăn hết chỉ còn lại những sợi gân lá như một miếng lưới

Vậy đó bỗng nhiên mà họ lớn*

Vậy đó bỗng nhiên mà họ lớn
Một mẹ mười một con. Đây là một loại vịt chứ không phải ngỗng Canada. Nếu tôi đoán không lầm thì đây là loại vịt mallard duck. Con trống có đầu màu xanh lóng lánh rất đẹp.
Rùa đang đào đất để làm ổ
Blue bells
Hoa Khên Tông
Hoa Tông Khên
Trông giống như hoa hồng, nhất là cái nụ của nó. Tùy theo ánh sáng có khi nó màu tím như hoa sim hay hoa mua
Hoa của cây mullein
Hoa bìm bìm, morning glory
Hoa silk tree, có người gọi là mimosa, đầu mùa.
Trái dâu mọc hoang. Đây là loại dâu blackberry. Nó giống rasberry nhưng khi chín thì màu đen, hay tím sẫm

Tôi dùng một câu trong đoạn thơ tôi không nhớ là của ai.

Vậy đó bỗng nhiên mà họ lớn
Tuổi hai mươi đến có ai ngờ
Một hôm trận gió tình yêu lại
Đứng ngẩn trông vời áo tiểu thơ
– Huy Cận

Họ, trong bài này, là ngỗng, vịt, rùa, và các loại hoa trái mọc hoang dọc theo bờ kênh, tôi nhìn thấy trên đường đi bộ. Cả thú và hoa cỏ đều âm thầm lớn lên không có bàn tay chăm sóc của loài người. Còn nhiều loại hoa nữa nhưng không thể dừng xe đạp chụp ảnh mãi. Còn vài loại thú nữa, như nai chẳng hạn, chúng chẳng ngừng cho mình kịp chụp ảnh. Tôi có mấy tấm ảnh chụp con hạc xám, great blue heron. Tôi nghi là nó nuốt phải cái gì đó không thể ngậm mỏ lại, nó gầy xơ xác có lẽ vì không ăn được nữa, trông buồn quá nên không đưa lên.

Lần nào đi tôi cũng ngóng tìm đàn ngỗng. Có đàn sinh sau nở muộn nên vẫn còn bé tí. Có đàn thì ngỗng con đã lớn xấp xỉ với ngỗng mẹ như tấm ảnh bạn nhìn thấy bên trên.

Tôi không có chuyện gì hay ho mới mẻ để kể. Cuộc sống vẫn đều đặn tiếp diễn như trước khi có dịch, đang khi có dịch, và cơn dịch dần trôi xa. Trong nước thì người ta bắt đầu đi xa nhiều hơn. Báo New York Times bảo rằng những nơi du lịch nổi tiếng như The Arch National Park đóng cửa từ 9 giờ sáng vì đã đủ số người ấn định. Máy bay nào cũng đông nghịt người. Ảnh bãi biển luôn luôn kín mít người ta. Cô con gái út của tôi cũng về thăm nhà sau khi gần hai năm ở xa.

Riêng thời tiết, thì mùa hè năm nay đáng được khen ngợi, hay đáng được tôi tự chúc mừng mình đã may mắn. Gần bước vào tháng 7 mà hầu như ngày nào cũng chỉ hơn bảy mươi độ F. Nắng nhiều. Buổi sáng mát lạnh như mới vào xuân hay vào thu. Có khi tôi phải mặc thêm áo lạnh.

À tấm ảnh cuối chụp ảnh mấy trái dâu, xin thú nhận là đã làm photoshop quá vụng về. Trong đó chỉ có ba trái dâu là tự nhiên, còn hai trái là lấy từ một tấm ảnh khác.

Xem phim The Inland Sea

Nếu bạn quen thuộc với phim Nhật, ắt là bạn nghe tên Donald Richie, một học giả nổi tiếng về nhiều thứ của Nhật Bản; thí dụ như viết review phim, nghiên cứu về cuộc đời và tác phẩm của Ozu, truyện và huyền thoại về Zen… . Ông có rất nhiều tác phẩm, nhiều thể loại, kể cả du hành ký và ông cũng từng làm phim.  Một tác phẩm kết hợp hai thể loại ông yêu thích đó là cuốn phim “The Inland Sea” do chính ông viết lời diễn giải và giọng đọc cũng là của ông.  Tôi đã không ngờ ông có giọng đọc khá thu hút.  Giọng thuyết minh cho phim về một vùng đất xa lạ thì có nhiều người nổi tiếng hay.  David Attenborough nói giọng Anh, rõ ràng và khá dịu dàng.  Bạn nào xem những cuốn phim du hành châu Âu chắc là biết giọng của Rich Steves (giọng ông này khá sắc nhọn tôi thích giọng trầm hơn).  Chủ quan, tôi cho là giọng của ông Richie hay hơn giọng của cả hai người nói trên. Richie, có vẻ như được luyện giọng, dịu dàng êm ả chẳng thua gì các nghệ sĩ điện ảnh nổi tiếng thỉnh thoảng góp giọng cho các phim tài liệu, như Robert Redford, và Merryl Streep.

The Inland Sea của Donald Richie là Seto Inland Sea.  Cuốn phim này do đạo diễn Lucille Carra thực hiện.  Phim làm đã lâu, từ năm 1991.  Quyển sách của Richie còn lâu hơn nữa, 1971.  Cũ người mới ta, tôi mới xem hôm qua.  Theo Richie, đoạn biển hẹp này có chiều dài từ Little Rock (Arkansas) đến Dallas (Texas).  Vùng biển này rất nổi tiếng trong văn chương Nhật Bản.  Đây là nơi xảy ra The Tale of Genji, nơi xảy ra trận chiến khốc liệt của hai giòng dõi Heiki và Genji.  The Genpei War.  Đoạn biển này khá êm, với người đi biển, nó như một con sông rộng lớn và dài, hơn là một đoạn đường biển hẹp.  Tác giả du hành, trở đi trở lại đoạn biển này nhiều lần. Thoạt tiên ông có ý định tìm người Nhật, những người nguồn gốc, chứ không phải những người đã bị thay đổi vì văn minh và văn hóa.  Ông cho rằng, người thuần gốc của Nhật phải là người ven biển, sống và lớn lên ở biển, sinh nhai bằng nghề có liên quan đến biển.

Tác giả cho tôi gặp nhiều người.  Tôi gặp trong phim một cậu thanh niên làm nghề nuôi rong biển.  Cậu này rất trẻ, có vẻ như chưa đến 30.  Cậu thích nghề này vì cậu toàn quyền làm chủ, muốn làm lúc nào thì làm, muốn nghỉ thì nghỉ.  Cậu không phải bẩm báo với những ông chủ như khi làm việc trong các công ty lớn đông người.  

Tôi gặp một thầy tu Phật giáo lúc còn trẻ thích xem phim Mỹ.  Ông xem cả chục phim có Audrey Hepburn.  Thích những bản nhạc do Frank Sinatra hát. 

Tôi gặp một người chuyên viết thư pháp, không cần phải kiếm sống bằng nghề này.  Nhà viết thư pháp bảo rằng ban đầu ông chỉ chép lại, bắt chước thôi.  Dần dần nét bút nhập vào tư tưởng rồi chạy ra bàn tay và ngón tay.  Viết thư pháp, có vẻ gì đó giống giống như viết văn.

“Bạn có thể nhờ luyện tập mà cách viết trở nên hoàn hảo, nhưng nhiều người có tài năng bẩm sinh.  Cũng giống như ca hát vậy, lấy thí dụ.  Nhiều người có thể rèn luyện suốt đời mà vẫn không thể cất giọng cho ra hồn.  Người khác thì sinh ra đã như thế – bạn gọi đó là gì?  Thiên tài!”

Đây là cuốn phim tài liệu về du hành.  Điểm thu hút của nó là chất văn chương biểu lộ qua sự suy nghĩ và hồi tưởng của tác giả.  Ông có nhiều đoạn văn rất thú vị.  Mở đầu phim và kết thúc phim là mấy câu sau đây

I hear they are building a bridge.
To the island of Tsu.
Alas…
To what now
Shall I compare myself?

Tôi nghe nói người ta xây cây cầu
Bắc qua đảo Tsu
Trời hỡi…
Tôi biết lấy gì
để so sánh với tôi đây.

Đây là một bài thơ cổ không thấy để tên tác giả. Ông này nói gì lạ vậy?  Ông so sánh mình với hòn đảo Tsu?  Cô độc?  Hoang dã?  Tác giả là một người xứ lạ sống trên nước Nhật.  Ông có lẽ cố ý không hòa nhập, sống tách rời để quan sát và suy nghĩ.

“Có khi, người ta trở nên cô đơn.  Thường thường, tôi phân biệt tình trạng một mình và sự cô đơn – đây là sự phân biệt người Nhật khuyến khích và thực hiện.  Hôm nay, tôi chào đón sự cô đơn.  Trong những lúc như thế này, người ta cảm thấy rõ rệt, mình là một người lạ, người ngoại quốc, sống trên Nhật Bản.  Tôi có thể nói chuyện với nhiều người, để xác định là mình vẫn còn đang sống.  Tuy nhiên, tôi giữ im lặng, không đáp lại những ánh nhìn soi mói, vì không muốn bộc lộ cảm nghĩ của tôi.  Tôi muốn được buồn bã, không hạnh phúc, và dĩ nhiên, tôi được buồn bã như ý muốn.  Có một điều, nếu có một điều Nhật Bản có thể dạy cho bạn, đó là không nên tin cậy vào tình cảm.  Tình cảm, nói cho cùng, cũng giống như ý nghĩ.  Bạn có thể thay cảm xúc dễ dàng như bạn đổi ý.”

Có một đoạn phim, nếu ngưng phim lại thì nó giống như một bức ảnh chụp một hòn đảo, phía sau là cả vài chục hòn đảo khác trong hoàng hôn đỏ sậm.  Richie bảo rằng với con mắt của người Tây phương, phong cảnh này có vẻ như không có thật. Giống như ảnh bưu thiếp vậy.  Ông tự hỏi nếu nhà văn Byron nhìn thấy cảnh này ông ta sẽ nghĩ gì.  Vốn quen thuộc với núi non hiểm trở và hồ trên núi, chắc ông Byron sẽ chẳng buồn ngắm nó.  Bạn hoặc là yêu Nhật Bản tới chết, hoặc là ghét nó cũng tới chết luôn.  Nếu giống như Lafcadio Hearn bạn sẽ ôm chầm “nó”, ghì chặt “nó” vào lòng.  Còn nếu giống như Bernard Shaw, xứ sở này như xát muối vào vết thương trên người, khiến bạn giận đến độ quên cả phép lịch sự, từ chối cởi giày khi bước lên những tấm nệm tatami.  Richie tưởng tượng đến cả Henry Fielding và Jane Austen, hai nhà văn này sẽ phản ứng như thế nào?  Ông cho là cả hai sẽ chê bai.  Fielding sẽ vạch ra, giữa tràng cười ha hả, sự lệch lạc và sai trái.  Austen sẽ có những nhận xét, rất tình cảm, đầy yêu mến nhưng không kém phần mỉa mai.  Có rất nhiều ngăn cách, lệch lạc, hay sai trái, giữa sự muốn làm và những điều được thực hiện.

“Họ biết rằng bề ngoài là nơi ẩn náu của sự thật.  Họ có thể nhìn xuyên qua phong cảnh đẹp.”

Theo chân Ritchie, tôi đi khắp nơi.  Ông bị trễ chuyến tàu thủy, đi chuyến khác, lại nhầm tàu nên đến một đảo nuôi người bị bệnh phong (cùi). Oshima National Leprosarium.  Đi đâu ông cũng nghe thấy tiếng nhạc, ngoài việc yêu thích âm nhạc, tiếng nhạc cũng là cách dẫn dắt người mù, vì bệnh phong tàn phá đôi mắt họ, đến đúng nơi họ muốn.

Hết cuốn phim, tôi muốn đọc quyển sách.  Đã đến xem Nhật Bản một lần, tôi vẫn còn muốn trở lại.  Cuốn phim “The Inland Sea” đánh thức ước mơ đi đến một chân trời khác, quen thuộc với nhiều người nhưng vẫn còn xa lạ, cái xa lạ đầy quyến rũ, trong ý thích của tôi.

A journey is always something of a flight. You go to reach out but you also go to escape.

Du hành luôn là một cái gì đó giống như chạy trốn.  Bạn đi để vươn ra tiếp xúc với thế giới bên ngoài nhưng bạn cũng đi để lẩn tránh một điều gì đó trong thế giới của bạn.

Không có ảnh. Bạn có thể xem ảnh ở Wikipedia, hay vài đoạn phim ngắn giới thiệu trên youtube.

Cái sở thú của tôi

Mấy hôm nay trời mát. Trong ngày nhiệt độ cao nhất chừng bảy mươi mấy độ F. chưa đến tám mươi. Tính theo độ C. chừng hai mươi mốt hay hơn một chút.

Sau nhà tôi, cây lá xanh um, nhiều lá đến độ trời hơi râm là thấy rừng tối om om. Buổi sáng ra sân nghe tiếng xào xạc nhìn kỹ thấy mấy cái đuôi của nai ve vẩy như những cụm hoa lau.

Hai con mèo hoang, Xám và Mun, thay nhau chiếm hữu cái sàn gỗ thấp sau nhà. Con nào đến trước thì sau khi ăn nằm kềnh ở đó để bảo vệ giang sơn của nó. Thỉnh thoảng hai con gầm gừ nhau, thấy tôi xuất hiện một con bỏ chạy. Ông Mun lớn tuổi hơn, giàu kinh nghiệm hơn, có nghĩa là nhát sợ loài người hơn. Bây giờ đã quen, hễ đói bụng mà thấy bóng tôi thì kêu meo meo lên, như báo hiệu là có mặt tôi ở đây, bà đừng bỏ đói tôi nhé. Hễ tôi kêu meo meo, thì Mun cũng đáp lại meo meo. Vẫn rất nhát sợ loài người, nghe tiếng mở cửa thì bỏ chạy lên đồi, núp sau mấy gốc cây, khi thấy có vẻ an toàn thì quay lại. Xám trẻ hơn. Có lẽ khỏe hơn. Khi hai con đánh nhau, kỳ phùng địch thủ, vật nhau, khóa nhau đến không con nào cục kịch nhúc nhích được. Sau đó thì thấy ông Mun bị nhiều vết thương. Còn Xám có khi hai ngày không thấy mặt, không biết đau quá nên trốn đâu đó để tịnh dưỡng, hay chỉ đến lúc không có Mun và cũng chẳng có người. Cả hai con, hôm nào đói thì đến sớm, chờ sẵn. Có hôm Mun nằm trên sàn gỗ gần thùng rác. Xám cũng nằm trên sàn gỗ nhưng sát vào cánh cửa. Hai con cách nhau chừng vài mét. Loài vật cũng tranh giành lãnh thổ. Thức ăn không thiếu không cần phải đánh nhau. Con nào đến trước thì ăn trước. Tôi thường cho hai loại thức ăn, thức ăn khô, loại hạt cứng ít mùi, và loại mềm có mùi cá hay gà. Bọn mèo có khi thích món cứng, có khi ưa món mềm, con nào đến trước thì được chọn món ăn mình thích, và khi thích thì ăn hết không chừa cho con kia, dù tôi đã chia thành hai phần để hai chỗ cách xa nhau.

Nhiều lần tôi thấy con cáo xuất hiện ăn thức ăn mèo. Nó to chừng một con chó trung bình nhưng nó gầy xơ xác. Nó thường đến buổi sáng sớm hay chiều tối. Nó ăn vài hạt rồi bỏ chạy ngó dáo dác như sợ hãi. Rồi lại chạy vào. Rồi lại chạy đi. Nó như làm một cuộc khiêu vũ với những bước thật nhanh. Có khi thức ăn còn ít quá, tôi muốn mang thêm thức ăn ra nhưng biết là sẽ làm nó sợ và nó sẽ chạy biến đi. Tôi thấy thương hại nó quá nghĩ đến cái đói của nó. Không biết đây là con đực hay cái. Ở đâu đó còn có những con cáo con nhỏ bé đang đói chăng? Tôi nhớ đến phim The Fantastic Mr. Fox, một phim của Anderson rất hay.

Mỗi ngày, đến nhiều lần, có ba con chim bluejay. Loại chim này rất khôn ngoan. Khi tìm thấy thức ăn chúng báo cho nhau biết bằng một loại âm thanh đặc biệt. Chúng bay sà xuống vụt lên thật nhanh, nghiêng nghiêng ngó ngó, mổ ráo riết, ngó ngó nghiêng nghiêng, nuốt vài hạt thức ăn mèo, sau đó bay vụt đi mang theo một hay hai hạt. Ngay cả thức ăn mềm của mèo còn dư chúng cũng ăn, và có vẻ rất thích. Lúc sau này mấy con mèo có lẽ vì no nên không còn hứng thú rình bắt chim, dù bản tính đi săn hoang dã vẫn còn. Có lần tôi thấy Mun đang vờn một con chipmunk như đồ chơi. Tội nghiệp con chipmunk đau quá và sợ hãi quá đến phát cuồng cứ nhảy cẫng lên mà không chạy thoát.

Mấy con ground hog sống dưới cái nhà kho cứ sáng sáng chiều chiều là ra sân gặm cỏ trông rất thoải mái. Thỉnh thoảng cả Nora, lẫn Xám và Mun, đều ngồi canh ở cái nhà kho. Có lẽ vì tò mò chứ có khi ground hog và mèo cùng ở trong sân nhưng một loại ăn thịt, loại kia ăn cỏ, không ai tranh giành với ai. Hôm kia tôi thấy một con ground hog con đang nũng nịu với mẹ rất đáng yêu.

Raccoon thì vẫn đến ăn thức ăn mèo. Bàn tay khéo léo của nó lật úp cả những cái bát để tìm thức ăn.

Chỉ có thức ăn cho mèo hoang mà tôi nhìn thấy bao nhiêu là thú đói. À, nai cũng ăn thức ăn mèo đó nha. Lâu rồi không có chụp ảnh nai. Chúng vẫn ở chung quanh nhưng vì cây cối rậm rạp nên không nhìn thấy. Có tấm ảnh chim bluejay.

Sẵn đây đăng thêm vài tấm ảnh chụp trong lúc đi bộ. Bên dưới là ảnh đàn merganser một mẹ năm con, là một loại chim nước, có thể bay và bơi, mỏ chim chân vịt.

Dưới đây là ảnh của trái dâu mulberry, có người bảo là trái mâm xôi, có người bảo là trái dâu tằm. Cây rất cao, to khác với sự tưởng tượng của tôi khi nói đến cây dâu tằm tôi cứ nghĩ nó cao chỉ tầm ngang ngực.

Và sau đây là vài tấm ảnh tôi chụp trên đường đi bộ của mấy hôm trước. Cái ảnh hoa hồng chụp ở phía sau nhà cổ trên góc đường Blackwell Mill Road. Mấy tấm khác là các loại hoa tôi không biết tên.

Catalpa tree

Catalpa tree thuộc loại cây to cao từ 12 đến 18 mét (20 – 40 ft.) Lá to hình trái tim. Trái dài nhỏ như trái đậu đũa. Hoa rất thơm.

Riêng cái hoa sau cùng này, nó bé như cái cúc áo. Tên hoa là Spreading fleabane. Đây là hoa thuộc gia đình aster, có 140 loại khác nhau, tuy vậy, sự khác nhau này rất nhỏ nhặt nên rất khó nhận ra. Có người gọi là cúc thạch thảo, có người gọi là hoa xuyến chi. Trông nó vừa giống daisy vừa giống cúc. Nhiều khi cánh rụng đâu hết chỉ còn cái nhụy vàng trụi lũi.

Ngày bình thường

Bird’s foot trefoil, tên khoa học là Lotus Corniculatus. Có tên bird’s foot (chân chim) là vì những sợi gân đỏ trong cánh hoa giống như dấu chân chim. Dòng họ nhà đậu. Hoa nhỏ từ 0.5 đến 1.25 cm.

Ngày của tôi, thời bệnh dịch hay hết bệnh, ngày trong tuần hay cuối tuần cũng na ná giống nhau. Hôm qua mưa nên hôm nay trời mát (từ 71 đến 84 độ F.). Buổi sáng chim họp chợ trong rừng cây sau nhà. Cách đây vài hôm đã thấy đom đóm bay lập lòe trên cỏ. Những ngày đi bộ tôi thường để ý đến đàn ngỗng con xem bọn chúng đã lớn cỡ nào.

Ảnh bên trên có hai đàn ngỗng. Đàn ngỗng đi chung với bố mẹ, thoạt nhìn tưởng ba con, nhìn kỹ thấy bốn con, thật ra đến 5 con. Một con hơi bị khuất sau cái cổ của ngỗng bố hay mẹ. Một con khác khuất sau con ngỗng đi sau chót. Mấy đứa ngỗng con nay đã lớn, có cái dáng hơi gà tồ của các thiếu niên. Tiếng kêu đã hơi đổi khác. Cổ ngỗng con đã bắt đầu mọc lông cứng và dài màu đậm, gần giống như cổ bố mẹ. Tuy vậy vẫn còn bám đuôi bố mẹ san sát. Đàn ngỗng bốn con ở xa hơn thuộc về bố mẹ khác nằm bên ngoài tấm ảnh. Cách đó không xa là đàn rùa đang sưởi nắng.

Hoa này thì không biết tên. Lật trong mấy quyển wild flower thì thấy nó giống một loại pimpernel. chỉ khác cái pimpernel màu cam đỏ chứ không phải màu vàng. Đúng là mùa nào mọc hoa ấy. Tôi thấy có rất nhiều loại hoa nhưng không thể ngừng xe đạp để chụp ảnh mãi được.

Có hôm đi không thấy đàn ngỗng con nào. Hôm khác lại thấy nhiều đàn. Có đàn mới nở các em toàn là baby nhỏ nhít ngây thơ. Có đàn sinh sớm nên đã có dáng thiếu niên thiếu nữ. Có đàn 11 con, có đàn chỉ một con. Có một đàn chỉ một con nhưng cũng đã lớn. Có lẽ những đàn con đông cũng hao hụt rơi rụng theo dòng đời.

Rùa cũng bắt đầu làm những cuộc vượt qua đường trail, chẳng biết để làm gì và đi đâu. Thỉnh thoảng bị người đi bộ hay đi xe đạp tránh không kịp cán ngang người. Tội nghiệp. Tôi chưa thấy lần nào nhưng ông Huey, người đi trên đường trail có lần chúng tôi gặp và trò chuyện, kể là có lần ông thấy con rùa đang đẻ trứng. Anh rùa trên đây rất bé và đang vượt cạn (đường trail). Đây là con rùa đực vì móng chân của nó rất dài. Bạn có biết là rùa có thể thở bằng hậu môn không?

Còn đây là loại tỏi mọc hoang. Thật ra tôi không biết nó là tỏi hay hành. Nó có từng múi giống như múi tỏi nhưng có mùi hành.

Hoa wild rose. Thơm lắm. Hoa nở xum xuê khắp nơi trên đường trail. Cùng với honeysuckle đua nhau tỏa hương, làm người đi ngang ngất ngây luôn. Mỗi lần nhìn thấy hoa này tôi thường nghĩ đến bánh bèo. Bánh trắng có nhân đậu xanh màu vàng và một ít tôm khô nhuyễn sấy khô màu cam rắc lên mặt bánh. Xin lỗi bạn đọc, tôi không có tâm hồn thơ nên thay thế bằng tâm hồn ăn uống.

Honeysuckle hồng và trắng

Đang đi xe đạp tôi nói với ông Tám, khoan khoan quay trở lại. Tôi thoáng nhìn thấy honeysuckle có màu hồng đậm. Tôi có nghe nói đến loại honeysuckle này nhưng bây giờ mới thấy. Sau nhà tôi có rất nhiều hoa loại trắng. Không biết màu hồng là bởi vì đất, hay thiếu ánh sáng, hay giống của nó là như vậy. Hoa thơm ngát. Đi đến đâu ngửi thấy mùi hương đến đó. Trưa hè, có vẻ như đậm đặc hơn.

Tên khoa học là Lonicera caprifolium.

Vào thời Trung Cổ (thế kỷ thứ 4 đến thế kỷ thứ 15) honeysuckle (hoa kim ngân) là biểu tượng của hạnh phúc bền vững muôn đời.  Năm 1609, họa sĩ Rubens cũng tin biểu tượng này nên đã vẽ chính mình với Isabella Brant, người vợ mới cưới.  Cả hai ngồi dưới cổng hoa honeysuckle.  Bạn có thể xem bức tranh này, Honeysuckle Bower, ở Wikipedia.

Tuy vậy, trong một bài dân ca cổ, hoa kim ngân tượng trưng cho sự quá đáng có thể gây tai họa cho người đời.  Để vô hiệu hóa sự quá đáng này người ta dùng hoa daisy.

In healthy strands it grows, and from its flowering ends,
A sickness then all flows – take heed and make amends!
I’ve seen it with my skills, the honeysuckle’s power,
Avoid it if you will, the daisy is your flower!

Hoa mọc thành những dây hoa khỏe mạnh, và từ phần cuối của dây hoa
Sẽ tuôn ra mầm bệnh – hãy cẩn thận và ngăn ngừa hay chữa trị!
Tôi đã từng nhìn thấy bằng kinh nghiệm của tôi, sức mạnh của kim ngân,
Hãy tránh xa nó nếu bạn tin, daisy là hoa của bạn.

Dịch quấy quá thôi nhe các bạn.  Dịch thơ hay ca từ với tôi khá khó khăn.

Nạn dịch

Nhân đọc “Những Ngọn Gió Hua Tát” của Nguyễn Huy Thiệp tôi gặp đoạn văn dưới đây. Trích trong truyện thứ chín có tựa đề “Nạn Dịch”

“Dịch tả ở Mường La, Mai Sơn tràn đến Hua Tát vào một ngày thời tiết kỳ lạ: vừa nắng chang chang, vừa mưa như trút. Hơi nước ở trên mặt đất hầm hập bốc lên nghi ngút gai lạnh cả người. Trẻ con chết trước rồi đến người già. Người nghèo chết trước rồi đến người giàu. Người tốt bụng chết trước rồi đến lượt những tên đê tiện.”

Ảnh không liên quan đến bài. Đăng ảnh cho vui mắt thôi.

Nghĩ về một cách kể chuyện

Trong vòng bạn đọc và viết người Việt, ít khi nghe nói về phim cao bồi Viễn Tây. Lâu rồi tôi có xem một phim tạo ấn tượng rất mạnh trong tôi. “The Ballad of Buster Scruggs” do anh em nhà Coen(s) làm đạo diễn. Có nhiều phim của Coen(s) làm tôi sợ, vì nó khai thác khía cạnh bạo động nhiều quá. Bạn nào đã xem “No Country for Old Men” chắc sẽ đồng ý với tôi. Khi xem phim “No Country for Old Men” tôi nhiều phen hết hồn giật thót người. Phim The Ballad of Buster Scruggs thì cũng thế, có lẽ ít máu me hơn nhưng chẳng kém phần bạo động.

Đây là một tập bao gồm nhiều phim ngắn. Nhà sản xuất phim (hay đạo diễn) đã chọn tên một phim nổi trội nhất làm tựa đề nguyên tập phim. Phim nào cũng đáng chú ý, tuy vậy có một phim khiến tôi khó quên. Đó là phim “Meal Ticket.”

Một trong những điểm đặc biệt của anh em Coen(s) là cách kể chuyện, phim tuy đầy những hình ảnh bạo động, giết người, máu me, nhưng họ lồng vào những chi tiết rất hài hước, cách kể dí dỏm, loại khôi hài khô khan người xem có thể cười lặng lẽ hay tiếng cười bị chạy ra đường mũi biến thành tiếng khịt mũi nhẹ nhàng âm thầm. Có khi buồn cười nhưng không dám cười vì cười thì có vẻ như nhạo báng, thô lỗ, cười trên sự đau khổ của kẻ khác. Trong phim có rất nhiều khung hình mà nhân vật trong cuộc sẽ cảm thấy một sự mỉa mai oái oăm, ngậm miệng mà đau buồn. Đó là điều tôi cảm nhận qua tập phim ngắn này. Đặc biệt là “Meal Ticket” (Phiếu mua thức ăn).

Phim có hai nhân vật chính là ông chủ đoàn xiệc (Liam Neeson) và người biểu diễn (Harry Melling). Đây là một đoàn xiệc, hát rong, trên chiếc xe ngựa kéo (wagon) đi hết làng này sang làng khác, biểu diễn cho dân làng xem, kiếm chút tiền độ nhật, xong, đi tiếp. Ông chủ làm tất cả mọi việc, từ bán vé thu tiền, dọn sân khấu, biểu diễn ảo thuật đơn giản, v.v… Người nghệ sĩ, nhân viên của ông chủ, là một người bị cụt cả tay và chân. Anh chàng này có giọng rất hùng hồn, một biệt tài đọc kịch. Với giọng nói thiên phú, anh trình diễn cho khán thính giả những đoạn kịch nổi tiếng của Shakespeare như The Sonnet và The Tempest, bài thơ Ozymandias của Shelley, và diễn văn đọc ở Gettysburg của Tổng Thống Lincoln.

Càng đi sâu vào rừng núi, dân càng nghèo, chẳng ai bỏ tiền ra xem diễn tuồng, vì vậy cuộc sống của họ ngày càng khó khăn. Trong một buổi diễn, ông chủ đoàn kịch thấy một ông chủ khác chuyên môn biểu diễn bằng gà. Ông ta nuôi một con gà biết chọn những con số treo trên bảng, một hình thức sổ xố hay đánh đề. Người ta đổ xô chọn số để đánh bạc, nếu con gà chọn số họ có thì họ sẽ trúng đề, được thưởng tiền. Đoàn xiệc dùng gà biểu diễn này làm ăn rất khá, công việc dễ dàng lại kiếm nhiều tiền. Ông chủ đoàn kịch mua lại con gà của ông chủ đoàn xiệc biểu diễn bằng gà.

Mỗi lần diễn kịch xong, ông chủ nấu ăn, rồi đút cho nhân viên ăn. Trời lạnh ông chủ thuê phòng của nhà điếm. Khi ông chủ cần thỏa mãn xác thịt thì ông bế anh nhân viên đặt anh xoay mặt ra hướng khác.

Cảnh chót trong phim, cái xe thổ mộ lắc lư chậm chạp lên núi. Trong xe anh nhân viên ngồi lặng lẽ. Cái lồng chứa con gà treo tòn teng. Tuyết đổ xuống khá dày. Lạnh thở ra khói. Không thấy làng mạc nào ở gần. Gần đó là đường xe lửa chạy băng ngang cái vực sâu, bên dưới nước chảy xiết. Ông chủ bê một tảng đá, cùng cỡ với cái thân hình của anh nhân viên tàn tật, và thả tảng đá xuống nước như để đo thử chiều sâu từ chỗ ông đứng tới mặt nước. Ông ta quay trở lại xe thổ mộ. Người xem phim nhìn thấy gương mặt lặng lẽ và đôi mắt mở to của anh nhân viên. Người xem cũng nhìn thấy thoáng trắc ẩn, đầy suy nghĩ trước một quyết định trọng đại, trên đôi mắt và gương mặt của Liam Neeson, ông chủ đoàn xiệc

Xe thổ mộ bắt đầu lắc lư, lên đường. Ống kính quay lại cảnh trong xe. Chiếc lồng có chứa con gà vẫn lắc lư. Chỗ ngồi của anh nhân viên thì trống trơn.

Phim chấm dứt. Không giải thích gì cả, để người xem suy nghĩ và kết luận. Phim này ở nán lại trong tôi lâu hơn mấy phim kia, một phần vì cái ác của con người, một phần vì cách kể chuyện phim, montage. Montage là một cách xếp đặt vài khung hình, và không cần nói lời nào, người xem có thể xem hình mà đoán được diễn tiến của câu chuyện. Có lẽ tôi để ý đến montage của “Meal Ticket” vì nó được đặt ở cuối phim, tạo thành một cách kết cục có ấn tượng rất mạnh trong lòng khán giả. Mỉa mai thay, cái chất giọng hùng hồn đầy thuyết phục, giọng nói của danh nhân, diễn tả trí tuệ của các bậc thiên tài, đã không duy trì được mạng sống của chàng diễn viên.

Phim có ở youtube, bạn ở ngoài nước Mỹ không biết có xem được không.

Đừng quên tôi

Hoa forget-me-not hay đừng quên tôi. Ảnh chụp xa.
Người ta bảo rằng hoa “Đừng Quên Tôi” giống như đôi mắt màu xanh, ở giữa có con ngươi. Bạn nghĩ sao?

Ở đây đang mùa hoa forget-me-not. Tên hoa “Đừng quên tôi” như một lời van nài, kêu gọi sự thủy chung của người kia. Tên Việt là hoa lưu ly. Cũng như diên vỹ vàng và tím, hoa mọc sát bờ kênh, nơi có nhiều nước. Khác với các loại hoa khác, to hơn, màu đậm hơn, thơm hơn, kêu gọi sự chú ý của người đi trên đường to hơn, rõ ràng hơn. Hoa forget-me-not nhỏ nhắn, khiêm tốn. Người ta chỉ có thể nhìn thấy chúng khi chúng mọc thật nhiều sát cạnh nhau.

Trên đường trail dọc theo bờ kênh, có những đoạn người ta xây thấp hơn với mục đích để cho nước kênh tràn qua rồi chảy vào con sông chạy song song với con kênh, mỗi khi nước kênh dâng cao quá. Tôi gọi những đoạn đường thấp xây bằng đá tảng kiên cố, có chiều dày độ hai hay ba mét, cũng là bề rộng của đường đi, là bờ kè. Hình như bờ kè cũng là bờ đê, phải không? Vì xây với mục đích cho thoát nước nên người ta dọn bờ kè sạch sẽ hơn, không có cây mọc um tùm. Dọc theo bờ kè hoa Đừng Quên Tôi mọc khá nhiều, dài cả mấy chục thước. Dưới bờ kè có đường cho xe đạp chạy, từ con đường này đến mặt bờ kè dễ cũng ba hay bốn mét chiều cao. Từ dưới đường xe đạp nhìn lên bờ kè, thấy hoa Đừng Quên Tôi mọc như những sợi tóc loăn xoăn.

Dọc theo mé nước là những bụi hoa Forget-Me-Not màu xanh nhạt

Rồi có một hôm chạy xe đạp ngang, hoa Đừng Quên Tôi bỗng dưng biến mất. Chỉ còn vài sợi lơ thơ như những cọng tóc trên một cái đầu trọc tếu. Tôi ấm ức. Bọn nào tham lam quá, hái hoa dù là hoa dại mà vặt trụi cả. Chắc có bọn nào làm đám cưới, hay hái bán cho tiệm hoa. Đừng quên tôi thì chỉ được dùng làm loại hoa đệm thêm cho đầy bó hoa, lẵng hoa, tô điểm nhan sắc cho những loại hoa to rực rỡ hơn, như lily trắng chẳng hạn. Sở dĩ tôi nghĩ có người hái vì tôi đã từng thấy người hiking, đầu mùa hoa, hái mỗi người cả một bó hoa dại đủ thứ loại. Không phải một người mà cả ba người, hai nam một nữ, họ đi xe đạp chạy vèo vèo mà trên tay cầm cả bó hoa to đùng che cả khuôn mặt. Hoa dại trên đường nhiều lắm, cho dù có hái cả mấy bó to cũng không hết. Thế mà cả bờ kè dài mấy chục mét đầy hoa Đừng Quên Tôi chẳng còn mấy cọng lơ thơ.

Mặt hồ trắng lấm tấm xác hoa rơi từ trên cây xuống. Đa số là hoa của cây black locust màu trắng rất thơm

Đạp xe đi một quãng đường thật xa, tôi thấy có một nhân viên chăm sóc đường trail dùng máy tỉa cỏ (trim) dại mọc ven bờ đê, tôi vỡ lẽ ra có lẽ người ta đã dùng máy tỉa hết hoa Đừng Quên Tôi. Bởi vì tâm địa mình không tốt, nên luôn nghĩ xấu cho người khác. Ở cái bờ kè gần Colonial Park nơi tôi chụp ảnh một số pond lily màu vàng, vì hoa mọc sát bờ kè nên cũng bị hái trụi lủi luôn. Bữa trước đi còn thấy hoa, bữa sau chỉ thấy toàn lá. Loại hoa này, tròn như trái banh golf, màu vàng sáng rực cả một góc bờ đê.

Hoa mọc hoang, không hái thì nó cũng tàn. Phải vậy không?

Hoa hồng

Trên tay ta vạn đóa hồng.
Hôn em trời đất một lòng chứa chan.
Tiếng cười đâu đó dòn tan
Nụ hôn ngày đó miên man một đời
Nụ Hôn Đầu (Thơ Trần Dạ Từ)

Mấy bữa trước, rủ rê ông Tám đến Colonial Park chụp ảnh hoa hồng. Đi ngang chỗ ấy mấy lần nhưng bận cái này cái kia không vào chụp ảnh, lòng nghĩ thầm chắc chúng nở tòe loe hết rồi. Hôm qua, đến nhà cô em út của ông Tám ăn thịt bò áp chảo, lần đầu tiên trong suốt một năm dài đằng đẵng chúng tôi không dám họp mặt vì tình hình dịch Covid, mới biết nhà cô út có hai cây hồng đỏ, nở hoa xum xuê. Trời vừa mới tạnh mưa, ánh sáng êm ả, tôi thử cái máy Nikon D3200 của hai cô con gái hùn tiền nhau mua tặng. Chưa biết cách sử dụng hết mấy cái features tôi tí toáy một hồi rồi để chụp tự động. Có vài tấm dùng mode micro ảnh ra hơi nhiều ánh sáng. Màu sắc thật rực rỡ. Đây là một cái máy rất tiện để mang đi du lịch, có thể bỏ túi xách. Rất dễ dùng cho những người không chú ý đến kỹ thuật sử dụng máy.

Hoa hồng có nhiều huyền thoại. Người ta so sánh hoa hồng với nụ cười của Amor (thần Cupid). Rằng hoa hồng mọc lên từ những sợi tóc rơi của Aurora, nữ thần Bình Minh. Và Cybele, nữ thần Thiên Nhiên, vì ghen tức với vẻ đẹp của Venus, nữ thần Tình Yêu, đã sáng tạo ra hoa hồng, một loại hoa có vẻ đẹp vượt qua nhan sắc thần Vệ Nữ.

Hoa Hồng. Với nhan sắc, hương thơm, bền bĩ với thời gian, được xem là biểu tượng của Tình Yêu. Trong tổ Uyên Ương của nàng, Cleopatra đã dùng cánh hoa hồng để dồn gối. Được yêu mến và nuông chìu, hoa hồng được nhiều nữ hoàng xem là nữ hoàng của các loại hoa. Người La Mã dùng hoa hồng để kết vòng nguyệt quế trong những buổi lễ hội và Nero (hay Ceasar) đã cho rải hoa hồng vào thượng khách để chào mừng. Người ta kết vòng hoa hồng để chào đón The Council of Elders, thượng nghị sĩ thời La Mã, và cũng với vòng hoa hồng tiễn người đi vào chiến trận.

Với người Do Thái Giáo, hoa hồng là biểu tượng cho cái chết vì đó là màu của những giọt máu đầu tiên rơi trên quả đất này. Những đóa hồng mọc hoang Teutons tượng trưng cho thế giới âm ti, chiến trận và cái chết. Họ gọi chiến trường là vườn hoa hồng và vườn hoa này là nơi an nghỉ nghìn thu của chiến sĩ.

Hoa hồng đỏ là biểu tượng sự đau đớn của bà Mary, hoa hồng trắng lại là niềm vui của bà. Xâu chuỗi hạt niệm kinh của bà được mang tên Rosa (Mân Côi). Hoa hồng là quốc hoa của Anh, có nguồn gốc ở Ấn Độ; Khổng Tử có nhắc đến vườn hoa hồng ở Bắc Kinh; và Columbus tìm ra nó ở New World.

Ngày xưa, người ta tin là hoa hồng có thể chữa bệnh thần kinh (hysteria), nhức đầu, và nhiều bệnh khác.

Raccoon

Gấu mèo

Raccoon, tiếng Việt là gấu mèo. Đang đi xe đạp tôi chợt nhìn lên cây và thấy con gấu mèo. Hết sức là ngạc nhiên. Từ hồi nào đến giờ tôi vẫn nghĩ con này sống trong hang dưới đất. Loại này khá to béo nên tôi không hề nghĩ rằng nó có thể leo cây. Raccoon có thể là một loài vật bị con người ghét bỏ nhất. Lý do là nó hay bới thùng rác lôi rác ra bỏ vương vãi khắp nơi.

Cô em chồng của tôi rất sợ raccoon vì nó rất dạn và rất dữ. Có lần nó lục bới thùng rác, thấy cô mang rác ra ngoài nó không bỏ chạy, trái lại nó lừ lừ tiến đến chắc là nó tưởng cô mang thức ăn cho nó. Cô hết hồn chạy vụt vào trong nhà. Raccoon là loại ăn tạp, rau trái, thịt, động vật có xương sống hay không có xương sống nó xơi tuốt. Ngay cả thức ăn mèo chó, loại hạt khô hay loại mềm nó ăn cả. Tôi biết vì có ít nhất là ba con raccoon(s) đến ăn thức ăn của mèo còn dư. Vì đã được cô em chồng bảo trước là nó rất dữ, dám tấn công cô, nên tôi đề phòng. Có lần tôi xách chổi ra chiến đấu với nó. Nó bị tôi dứ cán chổi vào người nên bỏ chạy.

Raccoon có thể dùng hai chân trước rất thành thạo như người dùng tay. Tôi có hai cái bát nhựa đựng thức ăn cho mèo, nhỏ vừa lòng bàn tay, raccoon lấy đem đi đâu mất. Một lần ông Tám nhìn thấy một cái bát nhựa (màu xanh) trên đồi. Ông lấy xuống, chỉ ít lâu sau cũng biến mất luôn theo cái bát màu vàng cam.

Trong số mấy con raccoon đến ăn có một con khá già. Nó đi lom khom chậm chạp như một ông cụ (hay bà cụ), có đeo kính lão. Phân của raccoon có mầm bệnh có thể gây hại cho loài người, đó cũng là một lý do người ta xua đuổi raccoon, bên cạnh chuyện bới thùng rác. Ban đầu tôi đuổi chúng nhưng mãi rồi cũng mặc kệ. Thương hại mấy con mèo bị đói thì cũng thương hại cả gấu mèo. Lạ một điều là gấu mèo và mèo không đánh nhau. Mèo xám ngồi quay mặt hướng khác để gấu mèo ăn mà không sợ hãi hay dọa nạt gì cả.

Raccoon thường là chủ đề trong các truyện huyền thoại dân gian của thổ dân Hoa Kỳ. Người Dakota Sioux tin raccoon có quyền phép. Người Aztecs tin raccoon có quyền lực siêu nhiên nhất là raccoon cái; cách nuôi con của chúng là điềm phái nữ sẽ đảm trách vai trò quan trọng trong xã hội. Một số truyện và phim có raccoon là nhân vật, nổi tiếng ở Hoa Kỳ là “The Raccoons,” “Over the Hedge,” và “Guardians of the Galaxy.” Một số hình ảnh raccoon cũng được khắc trong hang động ở Lewis Canyon, Texas và Grayson County, Kentucky.

Có người nuôi raccoon làm thú cưng nhưng điều này bị xúi ra hay ngăn cấm vì chúng là loại thú rất khó thuần hóa. Wisconsin là một trong những tiểu bang cho phép nuôi raccoon nhưng phải có giấy phép. Có một con raccoon rất đặc biệt, chẳng những được người nuôi mà người ấy lại là Tổng Thống Hoa Kỳ, Calvin Coolidge.

Loài ăn tạp dễ nuôi. Nghe nói raccoon dễ bị béo phì. Điều này chắc đúng vì mấy con raccoon tôi thấy con nào cũng to béo lắm, dù chẳng ai nuôi.

Gọi là gấu mèo nhưng nhìn giống con chó

Đánh nhau

Đánh nhau

Hai con mèo hoang, Mun và Xám, tôi nuôi cho ăn đầy đủ. Thức ăn luôn luôn còn thừa; đủ cho đàn chim blue jays (ba con) và mấy con raccoons đến ăn. Tưởng ăn no rồi thì chẳng có gì phải gây chuyện, ấy vậy mà bọn chúng vẫn đánh nhau. Con mèo nào đến trước, ăn xong, nằm lì ra đó, canh giữ không cho con mèo kia đến ăn. Có khi hai con gườm nhau thật lâu, con ở gần thức ăn không dám ăn vì sợ bị tấn công trong lúc ăn. Con ở xa hơn thì biết là không thể đến ăn mà không đánh nhau. Gườm nhau đã đời, cả hai con đều bỏ đi mà không ăn. Ban ngày gườm nhau chưa đã, căm giận được nuôi dưỡng cho đến khi nổ bùng, buổi tối tôi nghe tiếng cắn nhau chí chóe có khi trên đồi, có khi sân trước. Hôm sau con nào cũng bị trầy xước. Bác sĩ thú y và những người quan tâm đến thú vật thường trấn an người nuôi mèo là thường thường cáo không bắt mèo để ăn thịt, những vết thương ở mèo đa số là do đánh nhau với đồng loại.

Raccoons (Wikipedia Việt gọi là gấu mèo), nai, và chim đều đánh nhau. Con lớn to khỏe đuổi những con bé không cho ăn. Mùa xuân, ngỗng kết đôi, đẻ trứng, ấp trứng, lại là chúng đánh nhau thường xuyên hơn. Đánh nhau vì tranh giành bạn tình, vì muốn bảo vệ gia đình, hay chỉ vì quá gần gũi nhau mà sinh ra đụng chạm. Ngỗng rất hay cãi nhau. Nhiều lần tôi thấy hai con chim khác loại với nhau đánh nhau rất găng. Thú vật cùng loài cùng cỡ có đánh nhau ít khi giết được nhau. Loài người thì khác.

Loài vật chết về tay con người rất nhiều. Có khi vì loài người cố ý. Đôi khi, có lẽ, vô tình. Có một hôm tôi kêu, năm nay không thấy cormorant (chim cốc) về trên đoạn sông này và đoạn kênh này. Hôm sau thì thấy nó. Tôi chụp được tấm ảnh nó vừa cất cánh bay. Về nhà, hí hửng mở computer ra xem ảnh. Khi ảnh mở lớn tôi thấy có con cá đeo lòng thòng bên cổ con chim cốc. Nhìn kỹ tôi nhận ra đó là con cá giả có móc lưỡi câu. Con chim cốc, có lẽ bắt được một con cá khá lớn, nuốt con cá vào cổ đã xong. Tuy vậy, con cá lại là con cá bị mắc lưỡi câu, còn dính theo con cá giả mắc vào lưỡi câu khác. (Người đi câu, có khi mắc một lúc hai ba lưỡi câu, mỗi lưỡi câu vốn là cái hook, có mắc vào một cái mồi khác nhau. Ngành câu cá phát triển mạnh nên người ta làm đủ thứ mồi câu giả rất giống thiệt. Mồi cá gì dùng để câu cá gì. Mực, bạch tuột, thậm chí cả vịt con ngỗng con giả.) Xem tấm ảnh con chim cốc bị mắc lưỡi câu giả, tối hôm ấy tôi không ngủ được. Tôi thương hại cho con chim cốc vì biết rằng nó sẽ bị đau đớn kéo dài cho đến khi nó chết vì đói. Còn biết bao loại thú khác bị tổn hại sinh mạng vì sự vô tình của loài người.

Chim cốc bị mắc lưỡi câu
Bay với lưỡi câu còn dính

Linh lan

Người Pháp gọi là muguet. (Hồi sáng viết ba chớp ba nhoáng thiếu chữ u. Xin lỗi nha quí vị.) Theo tiếng Anh hoa có nhiều tên: May bells, chuông tháng Năm. Có người gọi là Mary’s tears, những giọt nước mắt của bà Mary. Tôi nhớ mang máng, có người gọi là hoa đồng thảo, nhưng wikipedia gọi là linh lan. Hoa này có nguồn gốc từ châu Âu, người La Mã và Hy lạp không có tên cho nó; tuy vậy, các vị nhà tu hay chữ đặt cho nó cái tên Lilium convallium, hay Lily of the Valley. Tên của hoa lấy từ hai câu trong Song of Songs: “I am the rose of Sharon and the lily of the valley.” Thường gặp loại hoa này trong các bức tranh cổ, dưới chân hay trong tay bà Mary. Tương truyền, hoa này nở từ những giọt nước mắt của bà Mary dưới chân cây thánh giá. Có một thời, người ta gán hoa này với nữ thần Ostara, thần thoại Đức. Để vinh danh Ostara, người ta đốt lửa bonfires và ném hoa này vào trong lửa để tế thần.

Loại hoa xinh xắn, rất nhỏ bé, thấy lá dễ hơn thấy hoa. Nó mọc khuất dưới chân, trong góc cỏ. Trông hiền lành lẩn khuất như thế nhưng nó có chất độc (digitalis glycosides) rất mạnh trong hoa và trái. Hoa thơm nhẹ. Ngày xưa người ta tìm hái hoa này để làm “Aqua Aurea” một loại rượu thuốc được tin là có thể chữa hậu chứng của cho người bị stroke.

Thời xưa, vào mùa hoa linh lan nở, người Anh thường có những buổi lễ hội khiêu vũ. Đây là loài hoa tượng trưng cho tình yêu, mang may mắn cho những người yêu nhau. Có người bảo rằng khi đồng thảo hay linh lan nở, là loài người trở nên rạo rực thèm yêu. Nói kiểu này, nói đại nhiều khi cũng đúng. Sau mùa đông dài, mùa xuân về, cơ thể loài người được đánh thức. Yêu đời. Có nắng tươi, có hoa nở tràn lan. Con người thêm sức sống. Thèm yêu cũng hợp lý thôi. Nhiều người còn bảo rằng chim nightingale sẽ hót sau khi hoa linh lan nở lần đầu.

Vào hè

Pond-lilly

Mùa hè rồi đó. Liên tiếp hai ba hôm, nhiệt độ lên đến tám mươi mấy độ F. Bữa nay 88 độ F, khoảng 31 độ C.

Mùa nào hoa nấy. Chung quanh nhà tôi mấy cây black locust nở đầy hoa, rụng xuống trắng cả sân. Dọc đường trail, đã thấy hoa pond-lilly nở vàng. Đoạn đường trail có đường Backwell Mill Road cắt ngang có rất nhiều tử đằng nở tím ngát từng chùm đong đưa từ trên ngọn cây cao đến gần sát mặt đất. Đi một đỗi lại thấy ngan ngát hương hoa, khó phân biệt đó là hương của black locust hay wild rose hay honeysuckle. Ngay cả đeo khẩu trang vẫn ngửi thấy mùi hương. Mặt nước kênh có nơi đầy xác hoa, trắng của black locust, tím nhạt của tử đằng. Thỉnh thoảng tôi cũng chạnh lòng, mượn câu thơ của Nguyễn Du tự hỏi. “Hoa trôi man mác biết là về đâu.”

Cuộc sống của tôi vẫn bình thường, có vẻ như ngày nào cũng như ngày ấy. Tuy vậy, chú ý một chút có rất nhiều thay đổi chung quanh. Vẫn đạp xe dọc bờ kênh, năm nay tôi thấy ít hạc xám (great blue heron) hơn năm ngoái. Đám cormorants hồi đầu xuân thấy một vài con, bây giờ chẳng thấy con nào. Năm nay ít mưa, chả bù với năm 2019 mưa liên tiếp cả tuần, người thân ở VN sang chơi phải nằm nhà cả ba ngày không đi đâu được vì mưa. Mực nước sông xuống thật thấp, bờ cạn, thấy đá ở dưới sông. Có lẽ vì nước cạn nên ít cá và vì ít cá nên chim không về để săn cá chăng? Chúng tôi đạp xe đến Kingston Lock, đứng tần ngần một chút rồi về. Lúc trước, dọc theo cái đập nào là hải âu, cormorant, heron, và ngỗng Canada đậu đầy kín. Năm nay chỉ có vài (chính xác là hai con) con ngỗng đứng chơ vơ.

Mấy đàn ngỗng con, mới một hai tuần trước, cứ đi một đỗi chừng một dặm là thấy một đàn, tuần này bọn chúng biến đâu mất hết. Có một đàn ngỗng hình như nở muộn có sáu ngỗng con. Có hai đàn, chỉ có một ngỗng con. Chẳng biết vì ngỗng mẹ sinh ra ít, hay ngỗng con rơi vào tay (hay mồm) kẻ ác. Dọc đường đi thỉnh thoảng tôi thấy lông chim rơi đầy trên mặt đất. Cứ thấy túm lông xám là tôi nghi đó là lông của con chim mỏ màu cam (gốc gác ở Australia) rất đẹp có ai đem thả vào rừng; con chim tôi gặp vào lúc đầu xuân chắc các bạn vẫn còn nhớ chứ? Có lẽ người nuôi nghĩ rằng trao trả tự do cho con chim, nhưng mà nếu nó được nuôi trong lồng từ nhỏ, thả vào rừng thì sớm muộn gì cũng là mồi cho kẻ khác, nếu không cũng chết vì đói chứ làm gì mà biết tìm thức ăn. Lâu rồi, nhưng tôi quên kể bạn nghe. Có lần tôi gặp ba cái vỏ trứng ngỗng nằm ngay trên vệ đường; tôi không khỏi tự hỏi, chỗ này không phải ổ ngỗng, tại sao lại có trứng, và tại sao chỉ là vỏ rỗng không? Vỏ còn nguyên chỉ bị đục lổ, mà lổ không đủ lớn để ngỗng con thoát ra. Có con gì, hay người ta lấy trứng, đục lổ để ăn chăng?

Không phải chỉ ở những nơi có chiến tranh mới có chết chóc. Trên đường trail, tôi cũng thấy chết chóc xảy ra với loài thú. Hôm gần đây thấy con hạc xám bắt được con cá khá to, nuốt vào còn thấy hình dáng con cá nằm cạnh cổ. Có khi thấy con gì đã ăn mất con cóc, chỉ còn lại cái đầu và hai chân trước. Con cóc khá to, chỉ nhìn cái đầu cũng đoán được con cóc phải to bằng bàn tay người đàn ông. Trong thiên nhiên, vì sự sống còn, nên con lớn nuốt con bé là chuyện xảy ra thường xuyên. Tuy vậy, con người lắm khi vô tình làm tổn hại đến thú vật và môi trường. Có lần nghe tiếng chim kêu quang quác và tiếng đập cánh tuyệt vọng, tôi ngó lên trên cây thấy một con chim bị vướng dây câu, treo ngược đầu lủng lẳng, cố bay nhưng không được. Rất tội nghiệp. Tuy vậy lúc trở về đi ngang chỗ ấy thì không thấy chim nữa. Có lẽ có người nào đó đi ngang đã dùng dao kéo cắt bỏ sợi dây câu nên chim thoát đi.

Đang đạp xe nghe tiếng à uồm inh tai, ngó xuống thì thấy cóc này.

Bác mẹ sinh ra vốn áo sồi (Lê Thánh Tông – Vịnh Con Cóc)

Và một bài haiku của Basho

The old pond-
a frog jumps in,
sound of water.

The Partisan

Đây là một bài hát tôi nghe ông Cohen hát đã lâu. Mấy hôm nay bỗng nhớ lại, có lẽ vì cuộc chiến của Do Thái và Palestine. Tôi nhiều lần tự hỏi. Có bao giờ thế giới này thật sự hòa bình, không có sự bắn giết của nước này và nước kia, phe này và phe kia. Hoàn toàn không chiến tranh dù chỉ một ngày?

"The Partisan"

When they poured across the border
I was cautioned to surrender,
this I could not do;
I took my gun and vanished.
I have changed my name so often,
I've lost my wife and children
but I have many friends,
and some of them are with me.

"Người kháng chiến"

Khi người ta tràn qua biên giới
Tôi bị ra lệnh hãy đầu hàng.
Tôi không thể làm như vậy
Tôi quơ súng và biến mất.
Tôi thay tên đổi họ thường xuyên
Tôi bị mất vợ con 
đổi lại tôi có nhiều bạn bè
Và có vài người vẫn còn bên tôi.

An old woman gave us shelter,
kept us hidden in the garret,
then the soldiers came;
she died without a whisper.

Một bà cụ cho chúng tôi trú ẩn
giấu chúng tôi trên trần nhà
khi bọn lính đến
bà chết không hề hé môi.  

There were three of us this morning
I'm the only one this evening
but I must go on;
the frontiers are my prison.

Buổi sáng nay chúng tôi có ba người
Chiều nay chỉ còn lại mình tôi
Nhưng tôi phải tiếp tục
Mặt trận là nhà giam tôi

Oh, the wind, the wind is blowing,
through the graves the wind is blowing,
freedom soon will come;
then we'll come from the shadows.

Ôi, ngọn gió, vẫn thổi mãi
xuyên qua mộ phần gió thổi không nguôi
tự do rồi sẽ đến không lâu đâu;
rồi chúng tôi sẽ đến (như hồn hoang) từ trong bóng tối

Les Allemands étaient chez moi (The Germans were at my home)
ils m'ont dit "Résigne-toi" (They said, "Surrender,")
mais je n'ai pas pu (this I could not do)
j'ai repris mon arme (I took my weapon again)

J'ai changé cent fois de nom (I have changed names a hundred times)
j'ai perdu femme et enfants (I have lost wife and children)
mais j'ai tant d'amis (But I have so many friends)
j'ai la France entière (I have all of France)

Un vieil homme dans un grenier (An old man, in an attic)
pour la nuit nous a cachés (Hid us for the night)
les Allemands l'ont pris (The Germans captured him)
il est mort sans surprise (He died without surprise)

Oh, the wind, the wind is blowing,
through the graves the wind is blowing,
freedom soon will come;
then we'll come from the shadows. 

Màu xanh lục

Mùa này, New Jersey đúng với cái tên của nó, Garden State. Đi đâu cũng thấy màu xanh lá cây mát mắt.

Dọc đường trail, hoa dại màu vàng, tím, trắng mọc khắp nơi.

Dame’s Rocket

Hoa buttercup vàng, lúc trước lấm tấm trên cỏ xanh, bây giờ mọc thật cao. Tuy mảnh khảnh mà vẫn đầy vẻ cứng cỏi.

Buttercup vàng mọc xen trong cỏ

Cái sân này mấy tháng trước đầy tuyết. Ngỗng Canada đậu đầy trên sân, ngủ đứng một chân, giờ xanh ngắt một màu.

Tôi đạp xe trên con đường, hai bên là cỏ non xanh biếc. Đầu lởn vởn mấy câu thơ.

Cỏ non xanh rợn chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa (Kiều)

Mùa này thì không còn hoa lê. Nhưng hoa trắng của dogwood và Crabapple vẫn còn. Và hoa trắng của black locust thì vừa mới nở.

Hoa của cây black locust

Màu cỏ xanh rất tươi, ít khi người ta nhìn màu cỏ mà buồn như người thiếu phụ trong “Chinh phụ ngâm khúc”

Nước trong chảy lòng phiền khôn rửa
Cỏ xanh thơm dạ nhớ chẳng khuây
Nhủ rồi tay lại cầm tay
Bước đi một bước day day lại dừng

Còn một đoạn khác nữa

Ngòi đầu cầu nước trong như lọc
Hai bên đường cỏ mọc còn non
Đưa chàng lòng dặc dặc buồn
Bộ khôn bằng ngựa thủy khôn bằng thuyền

Thanh thanh hữu lưu thủy
Bất tẩy thiếp tâm sầu.
Thanh thanh hữu phương thảo
Bất vong thiếp tâm ưu
(Xuất chinh – Chinh Phụ Ngâm Khúc)

Tôi viết qua trí nhớ nên có thể khác với bản in hay bản trên mạng mà bạn thấy. Có thể tôi sai, xin đừng chấp.

Tôi thích màu xanh lá cây hay màu xanh lục. Màu cỏ non, hay màu xanh mint (bạc hà) nhạt rất thu hút. Tuy vậy không phải ai cũng thích màu xanh lá cây. Những người trình diễn trên sân khấu, thường kỵ với màu xanh lá cây, vì dị đoan cũng có, mà cũng vì màu xanh lá cây thường làm người ta có màu nhợt nhạt, kém đẹp. Người chụp ảnh cũng tránh ánh sáng có màu xanh lá cây nhất là khi chụp ảnh người.

Người Mỹ dùng chữ green thumb, ngón tay cái màu xanh, để chỉ những người có tay trồng cây, trồng gì cũng sống, cũng ra hoa, ra quả. Họ cũng dùng màu xanh lá cây để chỉ sự đố kỵ, ganh tị, ghen ghét. “Green with envy.” Người mình dùng chữ màu xanh để chỉ vẻ mặt của người sợ hãi, “sợ xanh mặt” tuy không nói rõ là màu xanh nào nhưng tôi đoán những người có làn da xanh tái, tái mét, là màu xanh lá cây. Bạn có đồng ý không? Màu xanh lá cây, được người Mỹ dùng để chỉ những người non trẻ, và thiếu kinh nghiệm.

Có một loại rượu mà nhà văn Hemingway thường nhắc đến, và ở một số phim cao bồi Viễn Tây, người ta thường nhắc đến loại rượu này. Tôi nhớ mang máng trong The Magnificient Seven và The Ballad of Lefty Brown, mấy anh cao bồi vào quán gọi rượu này chứ không gọi whiskey. Rượu absinth. Đây là một loại rượu có màu xanh lá cây. Màu xanh này toát ra từ thảo mộc, đặc biệt là cây wormwood, nguyên liệu chính được ủ lên men nấu thành rượu. Người uống rượu này thường bị ảo tượng, và nhiều người bị chết do đó nó bị cấm một thời gian rất lâu. Sau khi bị cấm (1907), người ta nghiên cứu và khám phá ảo tượng là do say rượu, có nghĩa là uống rượu nào mà say bí tỉ thì cũng sẽ bị ảo tượng chứ không riêng gì absinth. Còn người ta bị chết là do ngộ độc, nhưng không phải wormwort hay các loại thảo mộc được ngâm chung và pha chế. Giới làm rượu, có lẽ làm lậu, để có thể lời nhiều hơn, nên thay vì dùng thảo mộc đã dùng muối đồng (copper salt) để tạo ra màu xanh. Về sau, năm 1980, rượu absinth tái xuất hiện, dĩ nhiên không dùng muối đồng.

Rượu absinth được giới văn nghệ sĩ Tây phương xưng tụng là nàng tiên xanh, the green muse. Baudelaire wrote “Where instead of blood flows the green waters of Lethe. The green waters of forgetfulness, with their lethargy-inducing effect, could only be absinth.” Chỗ đáng lẽ là máu chảy thì lại là dòng sông xanh Lethe. Dòng nước xanh của lãng quên, có thể gây mệt mỏi bạc nhược, chỉ có thể là rượu absinth.

Tên tuổi của giới văn nghệ sĩ yêu chuộng nàng tiên xanh khá đông, trong đó có Mark Twain, Ernest Hemingway, Paul Gaugin, còn nhiều nữa, nhưng tôi xin ngừng ở cái tên của một nhà họa sĩ tài hoa bạc phận, Vincent van Gogh.

Chúng ta bây giờ ai cũng biết để có màu xanh lá cây, người ta hòa màu xanh lơ (blue) với màu vàng. Nhưng tôi đọc đâu đó, mà bây giờ ngồi gõ lại không nhớ ra trong quyển nào của ai. Ông van Gogh không hòa màu xanh lơ với màu vàng để ra màu xanh lá cây. Người ta không biết ông làm thế nào để có màu xanh lá cây. Ông cũng là một trong số ít người, nếu không nói là duy nhất, đã xem màu đỏ là màu đối nghịch với màu xanh lá cây. Ông dùng màu đỏ đi kèm với màu xanh lá cây trong bức tranh The Night Café (1988) để diễn tả “the terrible human passions” (một thứ đam mê xấu xa của con người) có lẽ là sự ghen tị hay đố kỵ.