Thăm ngôi chùa vàng

The Ryumon Taki – Carp Rock
Đây là một trong hai dòng suối của chùa, nước suối rất trong được dùng để nấu trà. Suối chảy thành thác rơi trên đầu hòn đá giống như con cá chép chuẩn bị vượt vũ môn để lên trời rồi biến thành rồng. Chỗ này vì thế còn có tên là Ryumon-baku (Dragon Gate Waterfall) được xem như là một bài học cho các thiền sư cố tu tập để đến mức giác ngộ

Nếu đi chơi xa, du lịch ở nước ngoài, bạn chọn xem những gì? Danh lam thắng cảnh được nhiều người biết đến, nói ra ai cũng biết, cũng bảo rằng ồ chỗ ấy tôi đã đến rồi, cách đây một năm hay hằng mấy chục năm. Hay bạn sẽ chọn một nơi ít người biết đến nhưng bạn biết nhờ vào một lý do nào đó? Bạn tìm đến một nơi chốn để nhớ lại kỷ niệm cũ hay để tạo ra một kỷ niệm mới cho mai sau? Đi chơi với tôi bao giờ cũng là cuộc tìm kiếm một câu chuyện để mang về, để kể.

Tôi suy nghĩ nhiều và đã muốn gạt Kim Các Tự ra khỏi danh sách những thứ tôi muốn xem ở Nhật. Tôi đến Kyoto lần đầu và không biết chừng có thể là lần cuối. Có ai biết được tương lai? Và vì thế tôi đắn đo mãi. Một trong những điều làm tôi đắn đo là tôi sợ mình thất vọng với những kỳ vọng của chính mình.

Tôi thích văn chương và cổ tích hơn lịch sử dù vẫn biết những lãnh vực này liên hệ với nhau và bổ sung cho nhau. Tôi nhiều lần nhìn ảnh ngôi chùa vàng rồi tự hỏi mình có được vào xem bên trong không? Hầu hết ảnh trên mạng không có ảnh bên trong. Du khách chỉ có thể đứng xa mà ngó, thậm chí không được đặt chân lên thềm hay tam cấp của ngôi chùa vàng. Cuối cùng tôi cũng đến ngôi chùa vàng nổi tiếng này. Một trong những lý do tôi đến xem là không muốn về sau này bị có người hỏi. “Ủa, ở Kyoto chín ngày mà không đến ngôi chùa vàng à. Vậy thì đi Kyoto làm cái gì.”

Dù đã đoán biết được những gì mình có thể được xem và không được xem, tôi không hẳn là thất vọng nhưng có đôi chút ngỡ ngàng. Thứ nhất, đông người quá. Tôi biết là đông người nhưng không biết đông đến mức như vậy. Xe buýt chở học sinh, mỗi chuyến mấy chục hay cả trăm học sinh, và hằng mấy chuyến. Xe buýt chở đầy nhóc du khách từ nơi xa đến. Người địa phương đến tham quan. Phải công nhận là người Nhật tổ chức du lịch thật giỏi. Đông người đến thế mà nhà vệ sinh vẫn sạch sẽ không đến độ quá tải. Không thấy rác xả bừa bãi. Tuy đông người nhưng vẫn giữ được vẻ trang nghiêm. Tôi thấy mình bất công quá đáng và có chút gì bất bình thường khi có đôi chút bất mãn là nhiều du khách chụp ảnh chùa, selfie, rồi đứng chiếm chỗ đó rất lâu, không còn ngắm chùa nữa mà chỉ ngắm nhan sắc mình trong cái máy ảnh hay phone. Họ không có ý thức là nên chừa chỗ cho người đứng sau chờ phiên mình được ngắm chùa và chụp ảnh. Du khách cũng được, hay bị, lùa đi xem cảnh theo một chiều, một hướng để tránh hỗn loạn và va chạm với nhau. Cằn nhằn chuyện này đúng là vô lý, chẳng lẽ mình đi xem mà người khác không được xem à?

Kim Các Tự bị đốt cháy năm 1950 chắc chắn phải là một chấn động to lớn. Nhật Bản vừa trải qua chiến tranh thế giới thứ nhì nên vẫn còn khó khăn. Ngôi chùa vàng là nguồn tự hào văn hóa và cũng là nguồn thu lợi khá lớn. Vào thế kỷ thứ 14, chùa vàng là một kiến trúc lừng lẫy. Trong khi đa số lâu đài và biệt thự chỉ có một tầng hay hai tầng, chùa vàng có ba tầng. Mỗi tầng được xây theo một lối kiến trúc riêng và mỗi tầng đều có tên gọi riêng dành cho nó. Trong quyển Kim Các Tự của Yukio Mishima, cách phiên âm tên riêng của mỗi tầng hơi khác cách phiên âm ở Wikipedia. Mishima có kể sơ qua có những gì quí giá trong chùa. Tầng một có pho tượng bằng gỗ của Yoshimitsu, người sáng lập ra ngôi chùa. Năm 1950 tượng bị cháy theo chùa nhưng về sau tượng cũng được tạc lại. Trong một tấm ảnh của Wikipedia nhìn từ rất xa cho thấy có tượng phật Di Đà bên cạnh tượng Yoshimitsu. Xá lợi của Phật chắc là không thể được tái tạo sau trận cháy.

https://en.wikipedia.org/wiki/Kinkaku-ji#/media/File:Kinkaku-ji_03.jpg

Bên trong tầng thứ ba của ngôi chùa vàng chụp từ brochure của chùa.

Tầng thứ hai Choondo được xây cất theo kiểu nhà của giới hiệp sĩ cao cấp, thuộc hàng quí tộc, bên trong có tượng Quan Âm. Vách tường của tầng hai và tầng ba bên trong được giát vàng, nhưng vào năm 1950 đa số lớp vàng này đã bị thất thoát, hư hại, hầu như không còn gì. Mãi về sau, 1987, lớp vàng bên ngoài được thay thế và làm cho dầy hơn gấp năm lần. Brochure của ngôi chùa vàng có tấm ảnh tường vàng phản chiếu trên nền nhà trong như tấm gương của tầng ba. Theo Mishima trên trần có nhiều tranh ảnh vẽ thiên thần đang sử dụng nhạc cụ như đàn sáo, chẳng hiểu những tranh ảnh này có được tái tạo hay không. Tầng thứ ba, Kukyocho, được xây cất theo kiến trúc Thiền chẳng hạn như cửa sổ có hình vòng cung. Thật ra vì mình không thuộc giới kiến trúc nên khó mà tưởng tượng kiến trúc Thiền ra làm sao. Mà lại không thể vào tận nơi để xem cho biết. Tầng này dành riêng để tiếp khách quí nhất của gia chủ.

Tuy có chút không hài lòng vì không được xem tận mắt bên trong của ngôi chùa vàng, tôi cũng thấy không cho du khách vào bên trong xem là phải. Với số lượng du khách hằng ngày đến tham quan, nếu để du khách vào bên trong chắc ngôi chùa sẽ bị hư hại nặng. Chỉ cần va chạm, cọ quẹt là lớp vàng mỏng 0.5 micrometer sẽ bị cào xước và mất đi cả số lượng lẫn chất lượng. Giá mà người ta chụp ảnh bên trong của ngôi chùa làm thành poster để bên ngoài cho du khách xem thì cũng phục vụ lòng hiếu kỳ của du khách đến từ khắp nơi trên thế giới. Nhưng mà có lẽ người ta lại sợ làm thế thì bọn trộm cắp lừng danh trên thế giới sẽ âm mưu cướp tài sản của chùa. Thêm vào một chút không vừa ý là bị cấm chụp ảnh ở những nơi vô tội vạ nhất. Vì sao không được chụp ảnh tượng thần, tượng Phật? Vì như thế là bất kính? Làm phai màu? Sợ bị trộm? Hay để bán ảnh bưu thiếp và sách in ảnh tượng trong chùa? Nhiều khi tôi không cần phải chụp ảnh tượng Phật tượng Bồ Tát, tôi chỉ cần chụp một cái bảng giải thích bằng tiếng Anh để khi về nhà xem lại tôi biết là tôi đã xem những gì.

Không biết tấm bảng này nói gì. Brochure của chùa gọi chỗ này là Shin-un. Google translate dịch shin-un là heart – trái tim. Có lẽ ngày xưa bậc thang này dẫn đến chỗ đọc kinh hay ngồi thiền? Bây giờ bên trên những bậc thang này là một con đường nhỏ dẫn lên trên sườn núi ngó xuống vườn. “Kinkakujigaki”
Fudo-do bên trong là một tượng đá của thần Fudo-myo-o. Không hiểu tại sao tôi không chụp ảnh của thần này ở nơi này, có lẽ bị cấm chụp ảnh chăng?

Tiền lệ phí không cao, chừng bốn hay năm đô la thôi, không phải để xem chùa, mà là ngắm vườn chung quanh. Phải nói là khu vườn tuyệt đẹp.

Somon Gate of Rukuonji

Trích một đoạn

trong quyển “The Temple of the Golden Pavilion.” Những đoạn văn này là lời của Kashiwagi nói với Mizoguchi, nhân vật chính trong truyện. Kashiwagi là bạn học của Mizoguchi. Anh ta bị chứng bệnh hai bàn chân teo lại và bẻ quặp vào bên trong, club feet, khôn lỏi, thường dụ ái tình của phụ nữ bằng cách khiến cho người ta thương hại đôi bàn chân què quặt của anh ta.

Well, beauty – beauty that you love so much – is an illusion of the remaining part, the excessive part, which has been consigned to knowledge.  It is an illusion of the “other way to bear life” which you mentioned.  One could say that in fact there is no such thing as beauty.  What makes the illusion so strong, what imparts it with such a power of reality, is precisely knowledge.  From the point of view of knowledge, beauty is never a consolation.  It may be a woman, it may be one’s wife. but it’s never a consolation.  Yet from the marriage between this beautiful thing which is never a consolation, on the other hand, and knowledge, on the other, something is born.  It is as evanescent as a bubble and utterly hopeless.  Yet something is born.  That something is what people call art.

“Beauty. . .”  I said and broke off in a fit of stuttering.  It was a limitless thought.  The suspicion had just crossed my mind that it might be my very conception of beauty that had given birth to my stuttering.  “Beauty, beautiful things,” I continued, “those are now my most deadly enemies.”

“Beauty is your most deadly enemy?” said Kashiwagi, opening his eyes wide.  Then the usual philosophical, exhilirated look returned to his flushed face.  “What a change to hear that from you!  I really must re-focus the lenses of my understanding.”

Với ba đoạn văn trên ông Mishima đã cho nhân vật chuyển hướng từ sự tôn thờ cái đẹp đến căm thù cái đẹp và từ đây dần dần đưa đến ước muốn đốt ngôi chùa vàng.

Bạn có thể chọn một tấm ảnh Kim Các Tự trong vô số ảnh Kim Các Tự trên internet. Tuy vậy tôi chọn tấm ảnh này trong cả chục tấm ảnh Kim Các Tự tôi chụp dù nó cũng chẳng có gì đẹp hơn. Tấm nào tôi chụp cũng xoàng xoàng như nhau cả. Tôi chọn ảnh này vì nó là của tôi và cũng vì ngoài ngôi chùa giát vàng, Kim Các Tự, tôi có thể nhìn thấy vài hòn đảo nhỏ trong hồ bao quanh ngôi chùa vàng. Hồ này có tên là Kyoko, tượng trưng cho biển cả. Ở góc trái là hai hòn đá to không có cây tùng mọc lên trên như những đảo kia. Đây cũng là một khái niệm vườn Thiền của người Nhật.

Những đoạn văn bên trên là của Yukio Mishima, trích trong quyển “The Temple of the Golden Pavilion.” Ivan Morris dịch sang tiếng Anh. Bạn nào muốn đọc bản tiếng Việt thì dùng google sẽ thấy Kim Các Tự ở VN thư quán. Đây là những đoạn cuối của chương Tám.

Tôi bắt đầu đọc quyển này chẳng biết bao giờ, có lẽ một hay hai năm về trước, khi tôi thầm mơ một chuyến đi chơi ở Nhật nhưng đọc mãi chẳng xong. Nghe tên quyển sách thì từ lâu rồi, nhưng bạn biết mà, sách kinh điển thì mình chỉ nghe tên nhiều lần và có cảm tưởng như quen biết với nó, như đã đọc nó rồi. Suốt mấy ngày nay tôi ôm quyển sách đọc cho đến trang cuối đầy những vệt màu tô lên quyển sách cũng như gấp kiểu tai chó ở những trang tôi nghĩ là quan trọng tôi có thể dùng để trích dẫn hay dịch. Ai cũng biết Kim Các Tự bị một nhà sư trẻ, 22 tuổi, thiêu rụi từ năm 1950. Và Mishima đã mang chi tiết này một cách khá trung thực vào quyển tiểu thuyết nói trên. Yukio Mishima bắt đầu câu chuyện khi nhân vật Mizoguchi, còn là một cậu bé nhà quê, mang tật nói lắp cho đến khi chàng ta đốt ngôi chùa cổ nổi tiếng bậc nhất nhì thời bấy giờ. Tên thật của người đốt chùa vàng là Hayashi Yoken, nhưng người ta cố tránh không nhắc đến tên nhân vật vì sợ biến hắn thành nhân vật nổi tiếng. Mẹ của Hayashi Yoken đã lao người vào xe lửa để tự tử sau khi anh ta đốt chùa. Ngôi chùa được xây dựng lại theo nguyên mẩu của ngôi chùa trước khi bị phóng hỏa. Sáu năm sau khi thiêu rụi ngôi chùa, Yoken cũng lìa đời vì chứng bệnh lao phổi. Yoken cũng bị tù giam nhưng án được giảm nhẹ đi vì anh ta mang bệnh tâm thần. Yoken ra khỏi tù năm năm sau (1955) vừa lúc cuộc tái kiến thiết ngôi chùa vàng hoàn tất.

Bảng sơ lược lịch sử của Kim Các Tự cho biết cuộc tái thiết chùa hoàn tất vào năm 1955.

Đoạn văn trích dẫn nói trên là một trong những đoạn Mishima suy nghĩ và tự tranh luận về “Cái Đẹp,” “Kiến thức,” và “Thiền.” Ông có nhiều đoạn suy nghĩ mà tôi không hiểu thấu tư tưởng của ông cũng như không đủ ngữ vựng để truyền đạt cái tôi hiểu. Nhân vật chính Mizoguchi của Mishima trong ngôi chùa vàng mang đầy ám ảnh về “Cái Đẹp” và sự mong muốn phải phá hủy cái đẹp này. Tôn thờ cái đẹp và phá hủy cái đẹp tôi gặp nhiều lần trong văn học và phim ảnh Nhật. Chắc không thể chỉ viết một vài câu rồi thôi.

Tâm lý của nhân vật Mizoguchi của Mishima không đơn giản. Không đơn thuần chỉ là một gã điên đi đốt nhà. Mishima đặt nghi vấn về đức hạnh của những vị bề trên của chùa, Thiền và Phật Giáo. Có thể nào Mizoguchi đốt chùa vì chống đối quyền lực của đấng bề trên, vì sự bất tuân phục vào hạnh kiểm của những đấng đại diện cho quyền năng trong tôn giáo?

Ngay từ những năm 1950, Kim Các Tự đã là một nơi thập phương bá tánh tề tựu để thưởng ngoạn vẻ đẹp của ngôi chùa và khu vườn bao quanh. Nếu bạn tận mắt chứng kiến số lượng du khách trong một buổi sáng tôi đến xem chùa, bạn sẽ không khỏi cái ấn tượng là tiền vô chùa như nước. Đọc Mishima xong tôi không khỏi tự hỏi, lợi tức của ngôi chùa vàng là bao nhiêu, ai quản lý nguồn lợi này, nguồn lợi được phân chia như thế nào, bao nhiêu được dùng để nuôi dưỡng tăng sĩ.

White Snake Pagoda của Kinkaku-ji Temple

Chuyện vượt biển hồi trước

Tôi (Bà Tám) chỉ nghe kể lại câu chuyện này, và người kể lại câu chuyện (tạm gọi là Cô Chủ Nhà) cho tôi nghe đã nghe kể từ một người trong cuộc.

Và sau đây là câu chuyện tôi (Bà Tám) nghe kể lại qua lời kể của (Cô Chủ Nhà).

Ông Thầu Khoán xây căn nhà cho tôi là người hiền lành, chăm chỉ, và cẩn thận. Trong lúc ông trông coi cho thợ xây nhà, ông có trò chuyện với tôi chút ít. Tôi không quá tò mò, chỉ hỏi sương sương gọi là trò chuyện. Tôi ngạc nhiên khi biết ông ăn chay trường.

“Anh làm nghề thầu xây cất này đã lâu chưa?”

“Cũng không lâu lắm, chỉ sau thập niên 80.”

“Vậy à? Trước kia anh làm nghề gì?”

“Tôi làm nghề đóng ghe, đi ghe, buôn bán trên sông.”

“Anh ăn chay trường đã lâu chưa? Và tại sao, phát nguyện gì mà ăn chay trường?”

Ông Thầu Khoán trầm ngâm một hồi lâu mới nói tiếp. Chuyện xảy ra khá đau lòng. Đối với tôi đó là một cơn chấn động khủng khiếp.

Tôi ở một vùng có tên là Rừng Đước Mênh Mông. Sinh ra lớn lên ở vùng này, tôi biết từng ngõ ngách của rừng. Người lạ lọt vào rừng này bảo đảm không biết đường ra, mà nếu người nào cố tình lẫn trốn trong rừng thì cũng chẳng ai có thể tìm ra, ngoại trừ dân thổ địa, như tôi.

Khi người ta bắt đầu vượt biển đi tìm cuộc sống mới, có người rủ tôi đóng ghe, và dẫn đường. Tôi rước người dấu vào trong Rừng Đước Mênh Mông, và dẫn người ra ghe lớn đậu ngoài khơi xa. Thật ra những cuộc tổ chức vượt biển này đều có ăn chịu với các Anh Hai. Vì tôi là người sinh ra lớn lên trong vùng nên quen biết với khá nhiều Anh Hai. Tôi đưa người đi trót lọt một vài lần nên rất được tin cậy. Tôi cũng chuẩn bị một chuyến thật chu đáo, coi như là chuyến cuối cùng vì tôi cũng sẽ đi theo đoàn người đến một vùng đất mới để sinh sống.

Một hôm tôi nhận được cuộc gọi đưa người đi ra địa điểm. Chuẩn bị đâu đó đã xong chỉ chờ đến giờ thì Anh Hai gọi tôi ra một bên bảo nhỏ.

“Chuyến này làm gì thì làm, nhưng chú mày không được đi theo tàu. Nhớ nghe chưa. Không được đi theo.”

Trong giọng nói của Anh Hai có một sức nặng đầy đe dọa, đến độ tôi không dám cãi lời. Đêm ấy nghe nói người ta quýnh quíu tìm kiếm tôi năm lần bảy lượt rồi thế vào một người tài công khác. Còn tôi thì bỏ trốn, không hề xuất đầu lộ diện.

Về sau tôi được biết chuyến vượt biển đêm ấy không ai sống sót. Bao nhiêu người, tôi không nhớ chính xác, hơn một trăm hay mấy trăm. Tất cả mọi người trên ghe bị đưa đến một nơi nào đó trên biển và bị xả súng giết hết.

Tôi trốn lên Sài Gòn, và từ đó ăn chay trường.

Ấn tượng đầu tiên

Người ta nói ấn tượng đầu tiên rất quan trọng. Đi tìm việc làm, ai cũng muốn chủ nhân tương lai có ấn tượng tốt về mình. Cái ấn tượng đầu tiên có thể khiến người ta yêu nhau rồi kết hôn với nhau. Rất khó mà thay đổi ấn tượng đầu tiên thành hình trong chúng ta, tốt hay xấu.

Ấn tượng đầu tiên của tôi với nước Nhật là họ giàu quá. Ngấm ngầm, như dòng nước chảy sâu dưới đáy, có thể họ giàu hơn nước Mỹ. Thú thật là tôi không phải là người có kinh nghiệm du lịch toàn thế giới. Tôi sống ở Mỹ khá lâu, dài hơn thời gian tôi sinh ra và lớn lên ở VN. Tôi ở giáp ranh với NY, đi dạo chơi ở những nơi phồn hoa đô hội khá thường xuyên, tức là cũng không phải Tư Ếch hay Hai Lúa đi Sài Gòn. Tuy nhiên, tuần đầu tiên ở Nhật tôi có cảm giác mình là một chị nhà quê lên phố.

Từ Tokyo đi Kyoto, tôi chọn cách đi bằng xe buýt. Đa số người ta chọn xe điện tốc hành, bullet train, chạy nhanh như đạn bắn. Nhanh như tên bắn, xưa rồi lỗi thời rồi. Loại xe buýt tôi đi, Willer Express, to lớn, ngồi khá thoải mái. Trên xe có thông báo bằng tiếng Anh, nói qua loa phát thanh trên xe và nhìn qua màn ảnh computer. Đi lâu hơn, xe điện tốc hành đi hơn hai tiếng đồng hồ còn xe buýt đi tám tiếng. Giá xe điện vài trăm đô la (130/chuyến). Đi xe buýt vừa đi vừa về mỗi người chỉ độ chín mươi đồng US. Mình về hưu rồi, thì giờ có thừa mà. Ngồi máy bay từ Mỹ qua Đài Bắc mỗi lần đi VN, mười mấy tiếng đồng hồ được, thì ngồi thêm mấy tiếng nữa đâu có khó khăn gì.

Tám tiếng đồng hồ, được chia thành hai “ca.” Cứ khoảng hai tiếng người ta ngừng ở một trạm nghỉ ngơi cho hành khách “xả nước cứu thân.” Và nghỉ hai lần thì đổi tài xế. Tài xế của cả hai chuyến đi và về tôi gặp, lái xe rất đằm, họ nói tiếng Anh khá ít, nhưng đưa người đến nơi đến chốn an toàn. Hành lý không thất lạc. Giá mà mình biết tiếng Nhật có lẽ chuyến đi sẽ thêm phần thú vị.

Và trên những chuyến xe buýt này tôi có ấn tượng người Nhật nói chung chung rất giàu. Không phô trương, sôi nổi, đình đám, trên thế giới như Mỹ (và Trung quốc) nhưng người dân bình thường của họ được hưởng nhiều phúc lợi của xã hội.

Trạm dừng chân nghỉ ngơi của xe buýt của chuyến đi từ Tokyo đến Kyoto và chuyến về ngược lại, là bốn cái shopping malls khá sang trọng. Ở nơi đây bạn có thể mua hầu như đủ thứ loại quà, khá đắt tiền. Những người bán hàng có thể nói tiếng Anh đủ lưu loát để giao tiếp và tính toán tiền nong. Họ luôn luôn bặt thiệp và lễ độ.

Ấn tượng tốt đầu tiên của tôi bắt nguồn từ hệ thống vệ sinh công cộng ở những trạm dừng chân này. Tôi đã từng đi qua nhiều trạm dừng chân nghỉ ngơi ở Mỹ (rest area, rest stop), khá sạch sẽ, và kiến trúc khá đẹp, nhưng những trạm dừng chân trên đường từ Tokyo đến Kyoto mà tôi nhìn thấy thì thật là quá đẹp, rất sạch, phải nói là rất sang trọng. Khu vực vệ sinh dành cho phụ nữ có cả mấy dãy phòng san sát nhau. Nhiều phòng có ghế dành cho trẻ em ngồi được ràng lại bằng rào ngăn an toàn, khi người đàn bà cần phải bế con vào chung với họ. Mỗi toilet đều có trang bị nước ấm, bidet, rất hiện đại. Bên ngoài phòng vệ sinh, có chỗ cho người ta trang điểm, đèn sáng ấm cúng, mỹ thuật, có tranh ảnh, và chưng hoa tươi.

Ở phòng vệ sinh nữ của Bryant Park New York tôi thấy có chưng hoa tươi, nhưng rất ít phòng vệ sinh nếu chừng chục người phụ nữ cần dùng phòng vệ sinh chắc là phải sắp hàng dài ra đến đường phố. Còn số phòng ở các trạm dừng chân trên đường Tokyo-Kyoto rất nhiều, đến độ tôi trong lúc vội vàng và đang ngơ ngẩn với mức độ sáng loáng sang trọng của những dãy phòng vệ sinh tăm tắp, đã đi lạc, quành qua quanh lại mới tìm được lối ra. Vậy mà không có sẵn máy ảnh để chụp vài tấm, thật ra tôi cũng sợ mình để lộ gốc phèn hai lúa của mình nếu cái gì cũng rút máy ảnh ra chụp. Mà tôi là người đã từng đến San Francisco, Los Angeles, sống bên cạnh New York hằng bao nhiêu năm nay. So với mức độ sạch sẽ, tất cả phòng vệ sinh những nơi tôi đi qua ở Mỹ đều không thể sánh bằng.

Chỉ mới nói đến phòng vệ sinh dọc đường gió bụi mà đã dài thế này, còn hệ thống xa lộ Nhật và những thứ tôi nhìn thấy thì chắc để khi khác.

Chỉ làm thường dân của Nhật, đi chơi xa bằng xe buýt cũng đã được hưởng phúc lợi như thế này. Còn bao nhiêu thứ giàu ngầm của Nhật mình nghe nói nhưng chưa đến. Đại khái như những trạm xe lửa ở thôn quê dành cho một vài trẻ em cần phải đến trường.

Không biết người Nhật phải đóng thuế lợi tức bao nhiêu phần trăm lương bổng của họ để dân Nhật có thể sống sung túc như thế?

Núi Phú Sĩ nhìn qua cửa sổ xe buýt trong nắng chiều chập choạng
Dãy phòng vệ sinh ở một trạm dừng để nghỉ ngơi của xe buýt tuyến đường Tokyo-Kyoto

Đồng bạc không lớn như bánh xe bò

Đồng bạc không lớn như bánh xe bò.

Thấy trên Facebook có một anh Tây đi du lịch ở Nhật than phiền về chuyến đi không may mắn của anh ta.  Vì bị trễ chuyến xe, mà lỗi là tại hãng xe nào đó treo cái bảng quảng cáo to quá che mất bảng tuyến đường skyline access anh cần dùng, nên anh đành lấy tắc xi.  Sau khi trả giá hai bên thỏa thuận, anh tài xế tắc xi sẽ đưa vợ chồng anh Tây này từ phi trường đến khách sạn của anh ta ở vùng giữa thành phố Tokyo với giá 50 USD.  Anh Tây đưa địa chỉ cả tiếng Anh lẫn tiếng Nhật và anh tài xế chắc chắn là biết chỗ và hứa sẽ đưa đúng đường.  Dọc đường anh tài xế than đường xa quá, mưa lại đổ xuống dầm dề, anh đòi thêm tiền.  Vợ chồng anh Tây túng thế đồng ý tăng từ 50 lên 70 USD.  Chỉ một chốc sau, anh tài xế đổi ý không đi nữa và đuổi vợ chồng anh Tây ra khỏi xe, bắt phải trả 40 USD.  Đến đây thì hai bên cãi vã dữ đội cuối cùng cảnh sát được gọi đến.  Tất cả mọi người đều phải về bót cảnh sát để giải quyết vấn đề.  Cô vợ Tây sợ hãi nên khóc nức nở.  Anh tài xế cáo buộc với cảnh sát anh Tây dùng con dao găm uy hiếp anh.  Khi cảnh sát khám xét thì thấy anh tài xế hiểu lầm, tưởng một cái dụng cụ nào đó là con dao.  Mọi chuyện có lẽ ổn thỏa vì anh Tây đón chuyến xe skyline access sau đó, về đến khách sạn anh viết một bài trên facebook.  Kinh nghiệm đắng cay làm anh trở nên cay đắng với người Nhật.  Anh kết luận là không phải người Nhật nào cũng tử tế. 

Người mình có nói.  Ở đâu cũng có anh hùng.  Ở đâu cũng có thằng khùng thằng điên. 

Mấy quyển sách chỉ cách đi du lịch Nhật đều nhấn mạnh, từ phi trường về khách sạn mà đi tắc xi thì giá rất đắt.  Có một cô nàng nào đó trả cuốc tắc xi từ phi trường Nhật về khách sạn tốn hết hơn 200 USD nhưng với cô chỉ là một bài học đắt giá hơi méo túi tiền chứ không đến nỗi lôi kéo cả cảnh sát Nhật vào cuộc. 

Tháng Ba (2019) tôi ra Hà Nội.  Ông Tám nói trước sẽ đưa tôi đi từ phi trường về khách sạn bằng xe buýt.  Giữa lúc ông ngó chung quanh tìm hướng đi thì có một anh tài xế tắc xi chờ sẵn ở bên đường đến gần dắt tay ông Tám đến chiếc tắc xi của anh.  Anh tài xế thấp người, chân phải ngắn hơn và yếu hơn chân trái nên anh đi bước thấp bước cao.  Anh còn trẻ, có vẻ quê mùa, giọng nói của dân miền ngoài Hà Nội, luôn gọi ông Tám bằng ông và xưng con. 

Lên xe ngồi, càng lâu trong chuyến hành trình tôi càng sốt ruột.  Thấy đồng hồ giá tiền tắc xi cứ nhảy vọt.  Tôi làm một bài toán nhẩm, cho chẵn dễ tính cứ 20 ngàn đồng VN là 1 đồng US.  Giá tiền tăng dần từ 20, đến 30, đến 40 đô la.  Tôi tự hỏi trông anh quê mùa như thế không biết anh có bịp chúng tôi không.  Những cuốn sách du lịch Việt Nam đều chỉ cho cách nhận ra cái đồng hồ tính tiền theo đường dài đã bị chế biến để gian lận khách như thế nào.  Tôi nghĩ có nhận ra những dấu hiệu này thì cũng đã muộn.  Vả lại mới đi tắc xi Hà Nội lần đầu không có tour guide, mình đâu biết giá cả bao nhiêu, đường dài bao nhiêu. 

Bảng chỉ đường, những cái bảng hiệu màu xanh, trên đường cao tốc, bảo rằng vào Hà Nội đi hướng này, nhưng anh tài rẽ sang một nhánh vào đường khác, đi một lúc thấy cũng quay trở lại đường cao tốc.  Tôi tự hỏi không biết mình phải trả bao nhiêu tiền cho chuyến đi này.  Khi anh ngừng xe cho chúng tôi xuống thì giá tiền chuyến đi tương đương với 50 đồng US.  Tôi thầm nghi là chúng tôi bị lừa, nhưng cũng mừng đó không phải là 100 hay 200 đồng US. 

Hôm sau, trò chuyện với cô chủ khách sạn, tôi hỏi giá một cuốc tắc xi từ phố cổ Hà Nội ra phi trường chừng bao nhiêu.  Cô nói, chừng 20 hay 30 đồng US.  Ra ngoài phố, đi bộ một đoạn tôi thấy có một cửa hàng tổ chức du lịch có cái bảng quảng cáo đề giá tắc xi từ phố cổ ra phi trường là 10 đồng US.  Mặc dù ông Tám nhất định lần này sẽ đi xe buýt nhưng tôi bảo ông cứ hỏi thử xem sao.  Cuối cùng chúng tôi đồng ý với giá này.  Hẹn đến chiều sẽ trả tiền đặt trước chuyến xe.

Khi chúng tôi trở lại thì anh chủ tiệm đi vắng.  Tiệm sắp đóng cửa, chỉ có cô vợ trẻ ngồi đút cơm cho con.  Khi chúng tôi nói với cô chuyện đi tắc xi ra phi trường với giá tiền ấy, cô gọi điện thoại hỏi chồng.  Cô nhận tiền, bảo rằng anh ấy đã hứa, thì cô chú cứ đi về khách sạn, sáng mai sẽ có người đến tận khách sạn đón cô chú.  Cô không đưa giấy biên nhận, làm tôi cũng ngạc nhiên, nhưng không nói gì.  Cả ông Tám cũng không đòi giấy biên nhận.  Có lẽ ông cũng như tôi, tuy không giống với cách thức buôn bán, giao nhận mà chúng tôi quen thuộc, nhưng số tiền chỉ là 10 đồng US thôi.  Hai vợ chồng tuy còn rất trẻ nhưng đã có một cửa tiệm quan trọng như thế này ở phố cổ thì ai mà để mất tiếng lương thiện với chỉ 10 đồng US.  Ở đây tôi cũng xin nói thêm, một điểm hay ở Hà Nội tôi nhận thấy hiện nay những người làm chủ cơ sở thương mại đều là những người rất trẻ. Và đa số cơ sở này đều do người Việt làm chủ, chứ không phải những cơ sở chuỗi kinh doanh của nước ngoài.

Tôi có tính dễ tin.  Biết mình dễ tin tôi hay cẩn thận tránh bị lừa.  Ở bên Mỹ, cái gì cũng có biên nhận.  Đó là một thứ hợp đồng ký kết giữa đôi bên.  Mua bán thối tiền lại một xu cũng có biên nhận.  Đến chỗ lạ tôi càng tránh mắc hỡm, để không mang ấn tượng xấu về một nơi chốn đáng yêu chỉ vì một trường hợp không vừa ý, theo cái kiểu con sâu làm rầu nồi canh.

Hôm sau, sáng sớm, anh chồng lái Honda, dẫn anh tài xế tắc xi mặt còn ngái ngủ, đến tận khách sạn đón chúng tôi.  Tôi nghĩ anh sẽ là một người thành công lớn sau này, vì chỉ với một số tiền nhỏ bé mà anh dậy sớm dẫn đường và thực hiện cái hợp đồng với chúng tôi một cách tận tình.  Rất lương thiện. 

Trở lại với anh tài xế tắc xi ban đầu.  Tuy giá tiền hơi đắt, và tôi có chút nghi ngờ, nhưng tôi không thể chứng minh là anh không thành thật.  Rất có thể giá mà chúng tôi trả cho cuốc tắc xi anh chở là giá đúng, và đồng hồ của anh cũng không có chế biến gian lận.  Còn giá của chuyến tắc xi thứ hai giá rẻ hơn bình thường.  Tôi chỉ có thể cười chế nhạo cái tính tiết kiệm đến hà tiện của mình, mà người thân của tôi có lần mắng tôi là trọng đồng tiền quá thể chứ đồng bạc không lớn như bánh xe bò.  Bây giờ ở VN người làm ăn buôn bán giàu có, người ta có thể giao dịch buôn bán với nhau dựa vào sự tín nhiệm.  Nói cho đúng hơn, đồng bạc không còn lớn như bánh xe bò nữa.

Ảnh chụp biển từ bờ biển Mỹ Khê, chẳng liên quan gì đến bài viết.