Sunfish pond

Chỗ tôi ở, lá bắt đầu đổi màu. Mấy cây redbud lá vàng lẫn vào lá xanh. Mấy cây oak năm nay không đỏ rực như năm ngoái chỉ vàng và nâu, ngoại trừ một vài nhánh có nhiều nắng. Mấy cây black locust lá nhỏ lấm tấm vàng lẫn trong cây xanh. Đường đi dọc theo bờ sông và bờ kênh vẫn xanh nhiều hơn vàng. Đoán chừng lên núi cao có lẽ sẽ gặp nhiều lá màu đẹp hơn.

Ở vùng giáp ranh New Jersey và Pennsylvania có một chỗ khá nổi tiếng, tên là Delaware Water Gap (DWG). Mùa hè nhiều người đến chơi. Họ leo núi, xem hồ, chèo thuyền, câu cá. Mùa đông có cho phép săn nai và gấu. Gọi là DWG bởi vì con sông Delaware chảy giữa hai ngọn núi Tammany và Minsi tạo thành khoảng cách (gap) cũng là ranh giới thiên nhiên của PA và NJ.

DWG khá dài. Núi Tammany ở phía Nam của DWG, nằm trong khu vực Worthington State Forest (WSF). Những lần đi Canada, ngang qua khu rừng này, biết tiếng nhưng tôi chưa vào. Đây cũng là chỗ nổi tiếng cho người thích cắm trại, sống gần thiên nhiên, với những thú vui như câu cá, đi săn.

Tôi nói với người quản lý văn phòng của WST (rừng thuộc cấp tiểu bang quản lý) tôi mới đến nơi này lần đầu, muốn có bản đồ và tìm một đường hiking tương đối dễ dàng. Tôi cũng nghĩ đến thử leo núi Tammany. Bà quản lý nói ngay, đường lên núi Tammany không dễ dàng, và bà giới thiệu đường trail đến hồ Sunfish Pond. Thật ra tôi cũng đã đọc trước ở nhà. Biết đường đến Tammany rất khó đi, nhưng vẫn thả cái tên này ra để xem phản ứng của bà quản lý. Bà nhìn thấy tôi tóc bạc da mồi nên biết ngay là quá sức tôi. Độ cao, tính theo đường thẳng đứng, của Tammany là 1527 feet, cao hơn núi Purple Mountain (núi Tím) ở Yellowstone National Park chỉ có 27 feet thôi. Tuy nhiên đường đi của núi Tím là hai mile rưỡi, trong khi đường đi của Tammany chỉ có một mile rưỡi thôi. Có nghĩa là độ dốc rất dốc. Có một chàng thanh niên rất thiện nghệ hiking, chỉ sơ ý mà ngã sấp mặt ở Tammany phải đi bệnh viện cấp cứu, và vết thương phải khâu vá đến mấy chục mũi.

Nhìn thấy đường trail Garvey Springs dẫn đến hồ Sunfish cũng biết là hồ ở trên núi cao, đâu đó trên ngọn của dãy núi Kittatinny. Chiều cao xấp xỉ 1400 feet (420 mét) đường dài 1.3 mile. Tôi thở dốc, lỗ tai lùng bùng, tim đập mạnh, phải nghỉ nhiều lần, đi cả hai tiếng đồng hồ mới đến hồ. Đường bằng phẳng như Delaware and Raritan Trail đi chậm thì một giờ cũng được hai mile rưỡi. Ông Tám bảo rằng đường Garvey Springs ít hiểm trở hơn lên núi Purple. Những bậc đá ở Garvey Springs trail làm thành những bậc thang thiên nhiên tương đối thấp, dễ đi, ít sợ bị ngã hơn là Watchung Reservation. Lên cao, lên cao mãi, tưởng chừng như đường đi không đến. Đến nơi, chụp vài tấm ảnh. Đi về. Người ta bảo rằng có đường mòn đi dọc quanh hồ nhưng tôi không thấy có lẽ cây cối lấp hết. Chu vi hồ khoảng một mile rưỡi.

Để đến hồ chúng tôi đi một đoạn Appalachian Trail. Nhiều khi nghĩ những người thích chụp ảnh thiên nhiên cũng khá kỳ cục. Đi xa, lái xe gần hai giờ đồng hồ, leo núi hai tiếng, chụp vài tấm ảnh (ảnh tôi chụp cũng xoàng, không sắc nét), rồi lục tục xuống núi đi về. Không thấy có bàn ghế để nghỉ chân. Đi ngày trong tuần nên vắng người. Địa điểm này, hồ Sunfish là nơi nổi tiếng nhiều người đến, vậy mà chúng tôi chỉ gặp có hai người cùng với ông Tám và tôi là bốn người. Chắc nhờ vắng người mà đường đi rất sạch, không có những thứ rác như giấy napkin, ly nhựa, lon soda như những chỗ khác, đường trail D&R và Watchung Reservation chẳng hạn.

Hồ nước trong nhưng không thấy cá. Nước hồ có tính acid khá mạnh nên chỉ có yellow perch và pumpkinseed sunfish có thể sống trong hồ.

Trên đường về chúng tôi ghé lại trạm Kittatinny Point Visitor Center. Đứng gần sát chân núi Tammany và Minsi nên chỉ có thể dùng phone chụp ảnh. Ống kính 75mm không thể lấy hết cảnh hai ngọn núi. Không thể nhìn thấy cái gap nhưng biết có dòng sông chảy qua. Dự tính đi ba chỗ, đi được hai chỗ, còn cái thác và cây cầu Dingman chắc để lúc khác. Vậy cũng được rồi, phải không?

Một góc hồ Sunfish phơi mình trong nắng sáng
Trên đường lên núi, gặp một con red salamander
Một góc rừng Worthington State Forest
Ở Kittatinny Point Visitor Center nhìn thấy Mount Tammany và Minsi. Bên trái là Tammany.

Xem phim Song Lang

Nghe tiếng từ lâu, cuối cùng rồi tôi cũng xem được phim Song Lang. Thật ngạc nhiên khi thấy thư viện địa phương có phim này, và Mùi Đu Đủ Xanh, Vượt Sóng, Người Vợ Thứ Ba, Sẻ Và Cú. Mượn được phim về tôi ngần ngại rất lâu mới xem. Tôi sợ bị thất vọng. Xem xong thì có cảm giác hài lòng. Phim cảm động. Tôi luôn luôn cảm động khi xem cải lương. Và phim Song Lang có rất nhiều đoạn diễn tuồng và nhiều bài hát thuộc về cải lương.

Về diễn xuất, kép chính Isaac đóng vai Linh Phụng đóng cải lương rất giống cải lương. Con mắt của người không trong nghề như tôi không thể nhìn ra những thiếu sót, nếu như anh có thiếu sót. Thoạt tiên tôi tưởng không phải người Việt mà sao đóng cải lương được như vậy. Đọc Wikipedia thấy cả Isaac và Liên Bỉnh Phát trong vai Dũng Thiên Lôi đều là người Việt, nhưng mà sao tên lại có vẻ như tài tử Tây và Tàu.

Về hình ảnh, phim thành công trong việc tạo nên phong cách của những năm 80. Nhà và vách tường đều vàng ố. Có những tấm ảnh cinemaphotography rất đẹp. Tuy nhiên có nhiều đoạn phim có vẻ như không được sắc nét, không hiểu tại kỹ thuật hay vì đạo diễn muốn như vậy. Những đoạn phim này làm tôi có cảm tưởng như tôi xem những tấm ảnh tôi chụp, có cái gì đó soft focus, không được sharp tack như những phim Mỹ tôi thường xem. Có lẽ tôi không nên so sánh như thế, nhưng khổ nỗi, xem phim Mỹ riết rồi quen mắt. Mà có lẽ Mỹ họ dùng máy quay phim, hậu xử lý phim tuyệt xịn chăng? Ngay cả những phim ngoại quốc (trừ Anh) khác cũng cho tôi cảm giác là phim Mỹ đẹp hơn, màu sắc và hình ảnh rõ hơn. Đoạn phim quay trên sân thượng của ngôi nhà Dũng Thiên Lôi ở ban đêm, xem được, nhưng nếu so với cảnh ban đêm, lấy thí dụ như cảnh ban đêm trong phim Benjamin Button, lúc Cate Blanchett khiêu vũ dưới ánh trăng thì thấy kỹ thuật quay phim ban đêm của Song Lang yếu hơn nhiều.

Điểm yếu nhất của Song Lang là những câu đối thoại. Trong khi những đoạn trò chuyện của các vai phụ với âm thanh đường phố lẫn vào rất linh động, thì những đoạn đối thoại của Dũng và Linh Phụng khá cứng. Tôi có cảm tưởng như đang xem phim ngoại quốc lồng tiếng Việt. Tôi luôn luôn không thích cách đối thoại đầy kịch tính của phim Việt sau năm 75. Trước năm 75 thì ít xem phim và đã quên. Tôi luôn luôn thấy thất vọng với cách đối thoại của một số phim VN.

Nói gì đi nữa, nội dung của Song Lang vẫn gây ấn tượng mạnh mẽ trong lòng tôi. Nếu là tình yêu của hai người đàn ông thì đạo diễn Leon Lê đã diễn tả đúng mức, dừng lại đúng mức. Có cái gì đó thật thiêng liêng đáng quý giữa hai người, hơn tình bạn một chút, gần giống tình chiến hữu, và tình tri kỷ như Bá Nha và Tử Kỳ.

Ẻo lả

Ảnh chẳng liên hệ với bài viết. Tại có sẵn nên đăng lên.

Mười tháng Mười

Còn sớm nên cây lá chỉ có chút màu như vầy thôi. Vẫn còn vạc và rùa. Vẫn còn cormorant và merganser. Mấy con merganser nhỏ xíu hồi mùa xuân bây giờ đã to gần bằng ngỗng Canada. Ngỗng thì đã thấy ít hơn hồi mùa hè, và lúc này càng to béo hơn xưa. Mùa thu đang chầm chậm trôi qua.

Ba phim hay

Tôi xem phim lu bù, hầu như tối nào cũng xem ít nhất là một phim. Có ba phim tôi để ý.

Hai phim mượn ở thư viện là Where the Crawdads Sing và The Rocket (2013), phim này đạo diễn Kim Mordaunt, Úc sản xuất. The Sun Is Also a Star tôi xem ở Netflix.

The Rocket nói về một cậu bé người Lào tên Ahlo. Gia đình cậu đang sống ở một thung lũng Lào thì bị bắt phải dời nhà, vì người ta sẽ xả nước cho ngập thung lũng trong quá trình xây đập thủy điện. Mẹ Ahlo chết vì tai nạn trong lúc dời nhà. Sống trong trại tạm cư cậu bé phá phách quá khiến người trong trại định cư nổi giận, đánh đuổi gia đình cậu. Để trốn đám người quá khích này cả gia đình Ahlo trốn trong chiếc xe chở đạn pháo kích được đem đi phá hủy. Đến một vùng quê bình an, cả gia đình muốn ở lại nơi đây nhưng không có tiền để mua đất. Ahlo tham gia một cuộc thi làm hỏa tiễn. Hỏa tiễn nào bắn cao nhất, xa nhất, sẽ được giải thưởng với số tiền khá lớn. Vùng quê này cũng đang bị hạn hán đang cầu mưa. Ahlo được sự giúp đỡ của chú Purple, một người cũng bị xã hội tẩy chay vì tính tình lập dị. Chú Purple có chút hiểu biết về đạn pháo hỏa tiễn đã giúp hai bố con Ahlo làm hỏa tiễn dự thi. Họ may mắn trúng giải, và sau khi hỏa tiễn bắn đi thành công, một cơn mưa to rơi xuống. Gia đình Ahlo dùng giải thưởng mua đất làng và xin nhận nơi này làm quê hương. Có chừng ba phim đều nói về Lào tôi gặp ở thư viện, sẽ dần dần xem tiếp. À tôi đang nghĩ đến sang thăm xứ Lào chừng một tuần vì thế chuẩn bị, đọc và tìm hiểu về xứ này, nhờ vậy gặp phim The Rocket.

Crawdad là con crawfish, có lẽ là tôm đất. Nó giống như con tôm hùm thu nhỏ lại. Người miền Nam Hoa Kỳ thường thích ăn con tôm này dù thịt của nó chẳng có bao nhiêu. Tôm đất được nấu với gia vị đặc biệt, có bán trong siêu thị, nấu chung với bắp trái để lấy nước ngọt. Chỉ ăn được một khúc thịt dính trong thân tôm, còn cái đầu, vỏ, và đuôi phải bỏ. Bỏ bớt vỏ cứng đem xay lấy nước nấu bún riêu chắc là tuyệt ngon. Con này có biết hát không? Tiếng hát của nó là âm thanh phát xuất từ thân người nó khi nó búng người để trườn tới hay bơi. Nghe lọc cọc như tiếng gõ vào vật cứng, hay từa tựa như tiếng Morse code. Nếu ở đầm lầy nơi có nhiều crawfish chắc là âm thanh này rất đặc biệt, gợi chú ý.

Phim Where The Crawdads Sing tôi thấy một bạn trẻ khen, và tìm biết quyển sách nằm trên best seller list của the New York Times một thời gian khá dài. Phim hay. Tôi dự định sẽ tìm đọc quyển sách này. Điều hấp dẫn tôi là trong khi xem phim tôi thấy có nhiều hình ảnh về đầm lầy (marsh), heron (vạc), và nhiều loại chim khác. Tôi muốn biết thiên nhiên trong một địa danh (Carolina) đã xuất hiện như thế nào trong quyển sách. Phim mở đầu là một cái chết của chàng trai nổi tiếng trong phố và người ta gán tội sát nhân cho Kya, một cô gái trẻ sống đơn độc trong đầm lầy. Cuối phim có tiết lộ một chi tiết liên quan đến cái chết của Chase. Tôi muốn biết quyển sách nói gì về chi tiết này. Phim hay, cảm động. Tuy nhiên, nếu đừng trách tôi bới lông tìm vết thì có nhiều chi tiết không mấy hợp lý. Một cô gái lớn lên một mình trong đầm lầy thì khó mà có một hàm răng đẹp, không được đi học mà có một sự hiểu biết rất khoa học về các loại động vật, v.v… Có lẽ quyển sách sẽ giải thích hợp lý hơn.

The Sun Also a Star là một phim tình yêu của hai người mới lớn. Chàng trai là người Mỹ gốc Hàn. Cô gái là người Jamaica. Cả gia đình cô gái bị đuổi ra khỏi nước Mỹ (thành phố New York) vì họ là cư dân bất hợp pháp ngày hôm sau. Họ bắt đầu yêu nhau trong vòng 24 tiếng đồng hồ với những diễn tiến mà chàng trai Mỹ gốc Hàn tin là định mệnh. Người xem sẽ nhìn thấy những khía cạnh đáng yêu và đáng ghét của thành phố New York. Nhà ga Madison là một trong những hình ảnh của thành phố New York, càng nhìn càng thấy hấp dẫn. Nhà ga này xuất hiện trong nhiều phim, trong đó có Fisher King với Jeff Bridges và Robin Williams. Lâu không đọc sách hay xem phim tình yêu của những chàng trai và cô gái mới lớn, gặp phim này thật thú vị.

Thu đang qua

Lá phong

Chưa viết gì nhưng tôi nghĩ đến cái tựa đề. Chợt nhớ câu thơ nhưng không nhớ tác giả. “Thu đang đến nghĩa là thu đang qua.” Mà chắc là nhớ lầm, xuân chứ không phải thu. Nhưng mà thây kệ. Ông nào đó đã nói, mùa thu là mùa xuân thứ nhì trong năm. Vậy cho phép tôi lẫn lộn một chút.

Sau năm hay sáu ngày mưa liên tục, lê thê, ướt đầm, rồi thì cũng hết mưa. Hôm qua tạnh mưa, tôi đi bộ. Hôm nay cũng tạnh ráo. Dự đoán thời tiết là sẽ có nắng cả tuần. Lá bắt đầu đổi màu, trong màu xanh bất tận của rừng đã thấy ửng chút vàng. Lác đác chỗ này chỗ nọ, một nhánh cây nhuộm nắng bắt đầu đỏ rực.

Con rùa đang được giúp băng ngang đường trail

Có một con rùa mới vừa từ dưới sông lên, người còn ướt. Nó đang hướng về dòng kênh. Ông Tám sợ người đi đường, hay xe đạp, tránh nó không kịp thì nó sẽ bị chết nên giúp nó, bê nó vào vệ cỏ bên đường và nó nhanh chóng nhào xuống dòng kênh.

Chân dung chính diện

Nhưng trước khi từ giã tôi xin chụp rùa một tấm chân dung. Nét mặt không vui, có lẽ rùa không đồng ý nhưng không thể từ chối. Lá đã rụng lác đác trên đường. Ngày hôm qua, vẫn còn thấy vạc trắng, vạc xám, chim cốc, merganser. Có tiếng quạ rù rì êm tai. Mùa thu đang nhè nhẹ đi qua New Jersey. Có nắng lên trời khá ấm áp.

Những chiếc đèn lồng treo trên cây

Mưa cho đến hết ngày mai

Không nhớ mưa từ bao giờ, có lẽ từ ngày 30/09 hay 1/10. Dự báo thời tiết sẽ mưa cho đến hết ngày mai. Coi như mưa liên tiếp 6 ngày. Giếng có lẽ đã đầy trở lại. Hôm 29 tháng 9 đi bộ thấy nước kênh đã dâng cao, tràn qua các kè đá thoát nước. Tôi mang giày sneaker mùa hè nên bị ướt giày cả hai lượt đi và về. Chắc là nước càng tràn bờ kè nhiều hơn và có thể đã cuốn trôi đi đất đá dọc theo bờ kênh.

Trái hồng (persimmon) mọc hoang

Gần trạm lọc nước trên đường trail D&R, gần chỗ có tên là 10-mile lock, nơi một nhánh sông Raritan nhập vào sông Millstone, có một cây hồng giòn, loại persimmon kaki, có rất nhiều trái. Cây hồng có thể được trồng từ hồi năm xưa, nhưng không ai chăm sóc, trở thành cây mọc hoang. Đoán như vậy vì vùng đất này ít thấy cây hồng chỉ có những cây táo mọc hoang. Trái mọc trĩu cành, nhánh sà xuống gần mặt đất nhưng vẫn còn ngoài tầm tay với của tôi. Ông Tám kéo xuống giúp, tôi hái một số trái. Trái hồng rất bé, cỡ vòng của ngón cái và ngón trỏ chạm vào nhau. Những trái chín tự nhiên, mềm sắp sửa trở thành chín ngấu, sắp rơi, ăn ngọt và ít chát. Những trái còn cứng ngọt nhưng chát vô cùng. Tôi ngâm nước rất lâu vẫn không bớt chát. Những trái đã hái mang về tôi ném ra sau rừng, hy vọng có con thú nào đó ăn được thì ăn. Cả nai cũng chê.

Ảnh hưởng đuôi bão Ian trời mưa dầm, khá lạnh, lá bắt đầu đổi màu. Tôi có cảm giác mệt mỏi và buồn ngủ suốt ngày. Không có gì đặc biệt tạo cảm hứng để viết.

Ngày mưa

Mưa chẳng biết từ bao giờ, bốn giờ sáng đã nghe tiếng mưa. Mưa thu. Trời dần dần lạnh nhiều hơn. Cả tuần nhiệt độ trong ngày cao nhất rơi từ hàng 70s, xuống 60s, và hôm nay chỉ 50s. Lá cây bắt đầu đổi màu. Những cành gặp nắng chiếu đã trổ màu đỏ như thể nhờ nắng mà trở nên chín. Những cây xa trong rừng, chưa vàng nhưng có chút màu đỏ viền ở ngọn lá. Màu xanh lá trông giống như màu những trái mận xanh, táo xanh, hơi rám nắng ửng vàng và ửng đỏ.

Dọc đường đi bộ vẫn còn thấy rất nhiều chim vạc trắng và xám, wood duck, và merganser thì cả trăm con, con nào cũng phởn phơ. Chúng đùa giỡn trên mặt sông thật vui nhộn. Rùa vẫn còn trồi lên nằm trên những cành cây hay tảng đá giữa sông để phơi nắng. Chùm dragon berries gợi nhớ những trái mồng tơi vẫn còn sót lại sau mùa hè. Tiếng dế ban ngày vẫn còn nghe thưa thớt. Một con osprey đậu gần tổ của cặp ó bạc đầu. Tôi nhìn thấy osprey này là nhờ thấy ông Kim Mao Sư Vương, một người tóc bạc trắng thường đi dạo đường trail chụp ảnh chim bằng cái máy nhỏ mà mạnh như có võ của ông ta. Và có con vạc xám vẫn còn hong cánh sau khi lặn lội trầm ngâm dưới nước để bắt cá. Vạc xám không biết bơi nhưng thỉnh thoảng trầm mình dưới nước ngập lên đến cổ. Có lẽ ướt lông quá nên phải lật ngửa cánh ra phơi.

Cả tháng nay, ông Tám để một cái thùng nhựa trong nằm nghiêng bên dưới cái máy lạnh treo tường. Bên trong ông lót vài miếng giẻ. Con mèo Già thường đến nằm trong cái thùng này. Mun, mấy tháng nay không đi đâu hết, chỉ quanh quẩn trong sân sau nhà tôi. Gần đây Mun ganh tị với Già, đánh đuổi Già đi chỗ khác, và giành lấy chỗ ngủ của Già. Mỗi lần bọn chúng biến đi đâu mất, tôi thấy mừng, vì nghĩ là chúng tìm chỗ ấm hơn. Cứ mỗi khi trời lạnh là tôi lại thấy mình lo lắng cho loài mèo bị chết.

Một góc nhỏ của New York City

Bảng đồng Picasso

Ở Library Way có bảng đồng ghi lại quan niệm của Picasso về nghệ thuật. “Thiên nhiên và nghệ thuật là hai thứ khác nhau, không thể là một thứ. Qua nghệ thuật chúng ta có thể biểu lộ quan niệm của chúng ta về những điều không là thiên nhiên.” Thật tình, dịch đến đây thì tôi hơi lấn cấn. Nếu dịch “thiên nhiên không là” thì nghe gượng gạo quá khác với cách viết tiếng Việt. Dịch không là thiên nhiên thì nghe có vẻ như sai, hay đi xa quá.

Sửa lại sau khi có góp ý của bạn Tống Mai. “Tính chất thực tế và nghệ thuật là hai khía cạnh khác nhau, không thể là một. Qua nghệ thuật chúng ta có thể biểu lộ quan niệm của chúng ta về những điều không là hay không có trong thực tế.” Đúng là dễ đọc và rõ nghĩa hơn.

Chưa biết tên tòa nhà này nhưng có thể tôi sẽ tìm ra. Building 15 Park Row.

Building có địa chỉ 15 Park Row. Trước kia là một trong những tòa nhà cao nhất ở New York City. Thể loại Classical Revival. Kiến trúc sư R. H. Robertson. Bắt đầu xây từ đầu thế kỷ 19 và tiếp tục xây suốt những năm 1920. Coi vậy mà nó không xưa lắm. Chỉ độ hơn 200 tuổi thôi.

Đứng ở ground Zero nhìn chung quanh. Tôi thường thích ngắm kiến trúc của những năm xưa, thời các thành phố lớn ở Hoa Kỳ bắt đầu xây dựng. Tòa nhà này, với kiến trúc này có thể chừng ba trăm năm. Thích mấy cái dome tròn tròn có màu xanh của đồng rỉ với những hình chạm khắc tinh vi. À đồng rỉ màu xanh như thế này rất độc. Có những cuốn sách xưa tẩm chất đồng, có lẽ để bảo quản sách, mang màu xanh như thế này người ta tìm cách thu hồi vì sợ người đọc sách bị nhiễm độc.

Bức tranh tường gần ground Zero

Tôi thích tấm ảnh này vì có hai du khách tình cờ bước vào khung ảnh. Tiếc là người mờ nhạt trước màu sắc rực rỡ của bức tranh tường.

Năm 2018 đưa người thân ở VN đến xem chỗ này, vào tháng Năm mưa liên tiếp ba ngày tầm tã. Trời khá lạnh không tiện đi loanh quanh. Phía sau rặng cây là tòa nhà occulus, nhìn như con đại bàng đang giương cánh chuẩn bị bay. Tòa nhà rất lớn bên trong sáng sủa vì toàn màu trắng, tuy vậy nhìn có vẻ nhỏ bé so với những tòa nhà chung quanh.

Ground Zero hiện nay

Giã từ mùa hạ

Những ngày nắng lửa mưa dầu không còn nữa. Hè năm nay số ngày nóng khá nhiều và độ nóng cao hơn những năm trước. Con sông Raritan và Millstone cạn nước để lộ nhiều bãi đá ở đáy sông. Cũng có lẽ vì cạn nước nên số chim cốc, vạc trắng, và vạc xám tụ về kiếm cá dọc bờ sông khá đông. Cả tuần vừa qua không đi bộ, hôm qua đi trở lại. Trời lạnh và gió mạnh. Liên tiếp vài ba cơn mưa lớn nhưng chưa đủ để che lấp các bãi đá. Và trời chưa đủ lạnh để các loại chim nước bay về miền ấm áp.

Dọc đường nhìn thấy những chùm hoa kim ngân cuối mùa. Nở một chùm lẻ loi không đủ tạo mùi hương ngan ngát quyện bước chân người như lúc đầu hè.

Hoa kim ngân (honeysuckle) còn sót lại

Chụp ảnh con vạc này xa tít bên kia bờ sông, về nhà mở xem bằng computer, ngạc nhiên thấy dưới chân vạc có hai con wood duck. Trong ảnh, con kia bị khuất chỉ nhìn thấy cái đuôi.

Vạc xám và hai con wood duck

Vạc trắng vẫn còn khá nhiều. Dọc đường thấy ít nhất là sáu hay bảy con. Vài ba con tụm lại một chỗ, bay vờn đẹp mắt. Đúng như người ta nói, loài vạc khi bay, cổ cong lại, trong khi loài sếu bay thì cổ giương ra.

Vạc trắng

Một con vạc xám đậu ngọn cây khô khá xa.

Vạc xám đậu ngọn cây khô

Dù yêu thích mùa thu, tôi thấy có chút nuối tiếc là mùa hè đã qua. Phải năm sau chúng ta mới có lại những ngày hè nồng ấm.

Quá Ồn Ào Một Nỗi Cô Đơn

Bữa trước đi bộ trên đường Library Walk gần thư viện thành phố New York, thấy một trong những câu văn hay được làm thành bảng đồng gắn trên lề đường. Bohumil Hrabal không được nhắc đến nhiều trong văn chương Mỹ nhưng mấy hôm nay tôi tình cờ gặp tác phẩm của ông vài ba lần. Nhà văn này có căn nhà ở ngoại ô, ông dùng để làm chỗ yên tịnh để viết văn. Ông có nuôi mấy con mèo nhưng chỉ cho mèo vào nhà khi ông đến. Bình thường mấy con mèo sống bên ngoài. Cứ mỗi lần ông đi về thành phố thì mấy con mèo đứng nhìn theo và ông rất tội nghiệp cho chúng nó. Thư viện thành phố tôi ở có vài cuốn phim dựa vào tác phẩm của nhà văn Tiệp này.

Bảng đồng do điêu khắc gia Gregg Lefevre thực hiện

Bởi vì khi tôi đọc,
Thật ra tôi không chỉ đọc;
Tôi bóp một
câu văn hay vào
mồm và tôi
ngậm nó như là
một viên kẹo trái cây,
hoặc là tôi nhấm nháp
như là
rượu
cho đến khi
tư tưởng
tan vào
trong tôi
như
men rượu
thấm vào
trong óc

trái tim

tiếp tục chảy
trong mạch máu
đến tận cùng gốc rễ
của mỗi đường gân thớ thịt.

Bohumil Hrabal (1914 – 1997) Trích trong quyển “Nỗi Cô Đơn Ồn Ào”

Màu sắc của thành phố New York

Tôi có bà chị ở Houston đến chơi. Tôi đưa chị đi xem thành phố New York. Chị đi nhiều lần rồi nhưng mỗi lần đi đều thấy có cái lạ. Đi ngang một tiệm bánh vì nhìn thấy những cái bánh đẹp này ở cửa sổ bằng kính chị vào mua ổ bánh mì làm bằng bột chua. Chị bảo nó không ngon như chị tưởng.

Bánh không biết tên

Ở Ground Zero giờ là nơi tưởng niệm. Lần nào đến tôi cũng thấy có hoa hồng cắm trên những cái tên,

Tưởng niệm

Vào thư viện New York tôi không muốn rời đi, nhưng vì chị muốn đi một vài nơi mà ít thì giờ quá, nên tôi hẹn thầm sẽ quay lại thư viện thành phố New York một ngày nào gần đây. Ra ngoài tôi đi dọc theo Library Walk. Có độ vài chục bảng bằng đồng gắn trên hè phố với nhiều câu văn rất hay.

Library Walk

Trên đường đi về trạm subway thấy tấm tranh treo ở tường kính của một building.

Một trận song đấu

Coi như chín mười ngày tôi không đi bộ. Hôm qua đi đường trail, trời mát dịu, gió hiu hiu, tôi thấy trong người dễ chịu. Không biết là vì đi bộ, hay thời tiết, hay vì được gần gũi với thiên nhiên. Dọc đường gặp một trận đánh nhau, không biết vì tranh giành người yêu, hay vì bảo vệ ranh giới, hoặc là một cuộc tỏ tình.

Ban đầu tôi thấy một con vạc xám, rồi có một con khác bay tới, lại thêm một con nữa. Rồi con số hai tiến đến gần con số một. Con số một bay đi. Còn lại hai con. Con số ba tiến đến gần con số hai và trận chiến bắt đầu.

Đối mặt

Hai con vạc như hai dũng sĩ ngước mặt chào nhau chuẩn bị nghênh chiến.

Hỗn chiến

Bắt đầu tấn công. Xáp lá cà.

Kẹp mỏ

Dìm kẻ địch xuống nước. Cả hai con đều ngụp lặn trong nước, con này cố dìm con kia. Đến đây thì tôi hết nghi ngờ là con vạc trống đang tỏ tình với vạc mái. Tại vì đánh nhau dữ dội quá.

Bỏ chạy

Kẻ yếu thế bỏ chạy. Tôi đứng xem mừng là không có con vạc nào bị chết.

Thấy vui vui thì chưng ảnh lên nhưng thật ra tôi có ý xấu hổ vì để tốc độ nhanh nhưng mà iso hơi thấp nên ảnh không được rõ nét lắm. Không có ý định đăng bài nhưng chợt nhìn thấy hôm nay là ngày 9 tháng 9, mà con số chín hình như là số hên.

Ngày mưa tháng 9

Trời đang mưa. Khi tôi thức dậy, trời chưa mưa. Tôi cho con mèo đen (Mun) và con mèo sọc vàng (Già) ăn. Lúc sau này Mun ở luôn sân sau nhà tôi. Ở suốt ngày không thấy bỏ đi đâu. Già thì đi đâu đó chừng vài tiếng đồng hồ, chỉ trở lại khi nào nó muốn, để ăn, hoặc nằm chơi mà không bị ai quấy rầy. Mun thỉnh thoảng lên cơn ganh tị, đánh Già nhè nhẹ. Già dường như quen bị bắt nạt, tránh ra, hoặc đi trốn trong cái thùng đặt dưới cái máy lạnh treo tường. Có hai con mèo sọc vàng giống nhau như sinh đôi thường đến ăn. Một con già, con kia trẻ. Mèo già lông dài hơn. Mun nằm sát vào tường ngay cửa sau để tránh mưa vì bên trên có mái hiên che. Sao mà nó ngu thế không chịu vào cái chòi dưới cái bàn sẽ được khô ráo hơn.

Dự báo thời tiết sẽ mưa suốt ngày hôm nay, mức độ mưa 100%. Năm nay ở NJ rất ít mưa không biết có được xem là hạn hán hay không? Nhà nước địa phương khuyên đừng phí nước nhưng chưa chính thức ra lệnh không được tưới cây. Cây cối sau nhà tôi và dọc đường trail đi bộ lá vàng rơi lả tả. Lá chết rơi nhiều đâu phải bởi mùa thu. Ông Tám bảo lá rơi nhiều có lẽ năm nay thu đến sớm.

Sau mấy tuần nóng liên tiếp, nhiệt độ cao nhất trong ngày có khi lên đến hơn 100 độ F. (điều này ít khi xảy ra ở NJ) rồi hạ xuống nhưng cũng mấp mé 100. Vài tuần sau có ngày nhiệt độ xuống dưới 90. Có một đôi ngày tôi cảm thấy mát có chút gió nhưng không thể nào nghĩ là thu đang về.

Mưa rả rích, đều đều. Nhiệt độ bên ngoài 73 F. Trong nhà 79 F. Tôi mở cửa sổ, cửa sau cho hơi mát lùa vào nhưng vẫn phải mở quạt trần vì cảm thấy nóng.

Trời không mưa, nước sông cạn tới đáy khiến tôi lo ngại. Nhà tôi dùng nước giếng nên nếu ít mưa giếng có thể cạn và sẽ rất phiền nếu thiếu nước. Hôm qua, rửa chén tôi thấy vòi nước chảy yếu hẳn đi. Tôi chạy xuống hầm nhà xem máy bơm nước giếng vào nhà có hoạt động bình thường không. Thấy không có gì lạ và nước chảy càng lúc có vẻ như càng yếu hơn. Tôi nghĩ là vôi đóng cặn trong vòi nước làm nghẹn đường nước chảy. Cuối cùng tôi mở cái đầu lọc nước ra để chùi rửa. Ngạc nhiên làm sao, đầu lọc nước toàn là cát và đá màu đen. Có những viên đá to hơn đầu lớn của cây tăm gấp hai ba lần. Úp ngược cái filter, cát đá nặng rơi ra cả vài chục viên, đủ chứa gần đầy cái filter chỉ lớn độ lóng tay đầu tiên của ngón trỏ. Sau đó nước chảy bình thường trở lại.

Có nghĩa là nước giếng đã cạn xuống nhiều nên máy bơm hút nước gần đáy hút luôn cả cát và đá.

Hy vọng sau cơn mưa hôm nay mực nước sẽ dâng cao hơn. Ngày còn đi làm, một người đồng nghiệp của tôi rất ghét mưa, vì mưa thì ông ta phải bị ướt trên đường đi bộ từ chỗ làm ra bến xe lửa. Còn tôi thì khi nghe ông ta bảo rằng, dự báo thời tiết hôm nay sẽ mưa, tôi luôn trả lời một chữ, good. Điều này làm ông ta phật ý, cho rằng tôi nghịch ý với ông ta. Ngay cả sau khi tôi giải thích tôi dùng nước giếng ông cũng không mấy hài lòng. Tôi biết vậy, chỉ nhún vai nghĩ thầm. “Kệ mẹ mày!”

Ảnh không liên quan gì đến bài. Lúc sau này nước sông cạn loài vạc xám kiếm ăn trên sông khá nhiều nên chụp được nhiều ảnh.

Hạ cánh
Bắt cá
Bước nhẹ
Khoan thai

Khoảnh khắc

Ó đầu bạc cất cánh

Năm 2016, nghe nói là cảnh sát Hà Lan và Pháp huấn luyện ó đầu bạc để bắt những chiếc drone hoạt động phi pháp. Ó to lớn và bay nhanh nên việc bắt giữ những chiếc máy bay con không người lái là chuyện dễ dàng.

Tôi vẫn theo dõi đôi ó ở Duke Farms. Ó con đã rời tổ, không còn thấy trở lại. Đôi ó thỉnh thoảng đến tổ rất sớm, mặt trời chưa lên. Bắt đầu săn sóc tổ, chỉnh đốn chỗ này chỗ kia có lẽ chuẩn bị cho những đứa con cho năm tới.

Con ong đang tiến đến gần đóa hoa

Hoa này là common evening-primrose, Oenothera biennis,

Bướm đang say sưa hút nhụy

Hoa này là purple loosestrife, tên khoa học là Lythrum salicaria.

Đang đi bất chợt nhìn thấy hoa e ấp trong bóng tối của bụi cây.

Trên mạng nói là hoa Phlox.

Ngày hôm qua nhìn thấy

Nhìn người và bị người nhìn

Chỉ đi sớm hơn một chút mà gặp rất nhiều nai. Đường trail này có một người (hay nhiều người) thường cho nai và ngỗng Canada ăn. Tôi có lần gặp một người đàn ông, xách một cái thùng có lá bắp cải và bông cải trắng rải dọc đường trail. Có lẽ cho nai ăn, nhưng mà không biết nai có ăn không. Chỉ thấy có vài con nai tương đối dạn dĩ, đứng nhìn như thể mong đợi thức ăn. Cũng ông này hay rải hạt bắp khô, có lẽ cho ngỗng Canada ăn. Không biết nai có ăn hạt bắp không. Nai khá cẩn thận, có thể nói là kén ăn. Chúng ăn những thứ quen thuộc với chúng, như lá non, dây leo non, cành non, nên nếu cho thức ăn lạ có thể chúng không ăn. Mấy con ngỗng Canada quen được cho ăn, nên có lúc tôi dừng chân đứng nhìn là bọn chúng bơi nhanh tới, leo lên bờ để tìm thức ăn, làm tôi cảm thấy xấu hổ vì đã phụ lòng chúng. Tôi nghĩ là chỗ này có đủ thức ăn cho ngỗng nên bọn chúng ở khá đông, và nhiều thêm hằng năm.

Một bầy vịt mái Mallard.

Mùa hè năm nay ít mưa, nước sông cạn thấy đáy. Tôi bắt gặp nhiều đàn vịt, chim nước, màu nâu. Có khi một con vịt mái dẫn một đàn tám hay chín con, khá lớn gần trưởng thành, màu nâu giống như vịt mẹ. Hôm qua gặp một đàn chắc cũng năm hay sáu chục con merganser bơi gấp rút trên sông vì sợ một đàn ba hay bốn con hạc xám đang bay gần đến để kiếm mồi. Trên dòng kênh thì có một đàn vịt mái Mallard. Riêng nhóm này thì năm con, còn mấy con nữa bơi rải rác xa hơn. Kênh được khóa lại nên giữ được nước sâu hơn.

Con sông Raritan, mùa mưa nước chảy mạnh rất xiết. Để làm chậm dòng nước chảy và đáy sông đỡ xói mòn, người ta lập một số đập thấp để giảm vận tốc nước. Đập này nối liền từ bờ bên này sang bờ bên kia, có thể làm bằng những bao xi măng hoặc đá được bọc bằng dây thép. Đập này người ta gọi là weir. Ngoài việc chặn nước đỡ xói mòn, weir còn là một thứ đập nhân tạo để giúp cá đi ngược dòng về nguồn để sinh sản.

Trên khúc đường trail tôi đi bộ, có vài ba cái đập ngăn nước như thế. Có lẽ vì nước sông ít, nên cá bị mắc cạn, hoặc là mùa cá đi ngược dòng, mà chỉ chừng sáu cây số tôi gặp ít ra là bốn con hạc xám, có khi ba con đứng gần nhau. Chuyện này coi như khá hiếm vì hạc thường kiếm ăn riêng lẻ. Gặp người đi tới gần, dù cách cả mấy chục mét, bọn chúng bay hết, chỉ còn một con sót lại.

Blue heron đứng gần một cái đập thấp
Hoa goldenrod

Chuyện ngỗng Canada càng lúc càng đông, thì đôi khi có một kết thúc khá buồn. Hôm đi Urbana Champaigne thăm con gái út, nghe cô kể ở công viên gần đó, vì ngỗng Canada nhiều quá, phân ngỗng làm dơ bẩn công viên và nước hồ, người ta đã bắt đem giết vài trăm con ngỗng. Họ chỉ để lại một số ít chừng vài chục con.

Đen trắng đứng bên nhau

Chim cốc và hạc trắng

Đàn hạc trắng tám hay chín con gặp bữa trước, mấy hôm nay không thấy bay thành đàn nhưng vẫn còn một hay hai con thỉnh thoảng gặp trên sông. Nói vậy, nhưng không biết hai con này có phải là hai con trong bầy hạc mấy hôm trước hay không.

Khi hai con hạc trắng bay sà xuống đậu bên cạnh hai con chim cốc thường xuyên đậu ở khúc sông cạn tôi thấy hai con hạc nhỏ bé quá so với chim cốc. Hay nó là cò? Ở đầm nuôi dưỡng chim cuối tiểu bang New Jersey tôi có gặp loại chim người Mỹ gọi là egret. Tò mò mở Wikipedia đọc thêm thì thấy egret cũng thuộc loại heron. Chim cốc mà so với great blue heron rất là nhỏ bé, mà heron trắng lại nhỏ hơn cả chim cốc.

Giá mà loài người cũng có thể sống hòa bình với nhau như hai loại chim này.

Hạc hạ cánh

Rất tiếc ảnh vừa nhỏ vừa mờ. Con hạc trắng ở bên kia sông nên rất nhỏ, ống kính chụp không tới, mà chim bay thì càng khó hơn. Hạc đẹp lúc đang bay, đang cất cánh, nhưng nếu chụp được cảnh lúc hạc đang hạ cánh càng đẹp hơn, vì lúc đó cánh nó giang rộng, xòe ra như cánh quạt, và nó cũng chậm hơn lúc đang bay.

Nhớ câu thơ Tản Đà trong bài Tống Biệt. “Cái hạc bay lên vút tận trời.”

Thời tiết

Mùa hè năm nay nóng và số ngày nóng nhiều hơn năm ngoái. Năm ngoái không hề phải mở máy lạnh. Tôi nhớ có nói là nếu mùa hè năm nào cũng như năm nay (tức là năm ngoái) thì tuyệt quá. Chỉ có một vài ngày lên đến 95 độ F. Năm nay số ngày vượt qua con số 100 cũng nhiều lần, ít nhất là liên tiếp hai ngày, rồi xuống ở mức 98, 99 độ F. cả hai ba tuần liên tiếp. Dự báo thời tiết là ngày mai, nhiệt độ sẽ xuống dưới 90 độ F.

Đi thư viện, những người làm việc trong thư viện quen mặt tôi thường nói chuyện dăm ba câu. Có người hỏi mùa hè của bà có đẹp lắm không. Tôi trả lời khá tốt. Ngoại trừ dăm ba ngày nóng không chịu nổi. Thế là cả hai người có nhiệm vụ cho mượn sách đều lên tiếng than phiền về cái nóng. Một cậu trẻ tuổi bảo rằng rất ghét cái nóng của mùa hè. Cậu thở không nổi. Tôi đồng ý, nhưng nói thêm rằng, có mùa hè thì chúng ta sẽ quý mùa thu và mùa đông hơn. Cậu và bà đồng nghiệp của cậu gật đầu công nhận.

Trong phim Reminiscence, tôi mới xem hôm qua, có nói về thời tiết ở Miami tuy nhiên có lẽ họ hơi nhấn mạnh, hay nói thêm, khiến có vẻ quá đáng. Vì nóng quá, nên người ta đa số chỉ hoạt động vào ban đêm, ban ngày, người ta rút vào trong nhà, mở máy lạnh, để trốn nóng. Thành phố trở nên vắng vẻ như thành phố chết. Khi tôi đến chơi thăm bà chị ở Texas, tôi thấy siêu thị mở cửa rất sớm. Chị ấy đi chợ lúc bảy giờ sáng chợ đã bắt đầu có người vào ra. Hôm kia tôi đi chợ vào giữa trưa, đứng ở bãi đậu xe hơi nóng hắt lên khiến tôi có cảm giác như muốn ngã nhưng chỉ thoáng qua rồi thôi. Lúc ấy chưa phải là lúc nóng nhất trong ngày, và nhiệt độ cao nhất người ta bảo rằng chỉ đến 99 độ F.. Lên xe về nhà, tôi nghĩ thầm, như vầy có lẽ mình cũng có thể chịu được cái nóng của Texas.

cái nấm mọc lên từ lớp đá sỏi

Con mèo đen, tôi thường gọi là Inkie hay ông Mun, đến ăn hình như năm 2018 hay có thể sớm hơn. Nhưng gần đây nó ở luôn ngay trên sân sau nhà tôi. Tôi dậy sớm đã thấy nó nằm ngay trên sàn gỗ. Trước khi đi ngủ cũng thấy nó nằm ở đó. Có vẻ như nó ngủ giữa trời chứ không ẩn núp vào bất cứ chỗ nào. Nó chỉ chạy vào bụi rậm để trốn một cái gì đó tạm thời, thí dụ như tôi bất chợt mở cửa bước ra ngoài. Nếu tôi mang thức ăn, mà không nhìn thấy nó thì nó lên tiếng cho tôi biết nó có mặt. Mỗi lần tôi mở cửa cho Nora ra ngoài thì nó mừng rỡ chạy đến đón Nora. Cả hai con mèo chào nhau, nhưng nếu Mun tỏ vẻ thân cận hơn mức có thể chịu được thì Nora xô ra, thậm chí đánh Mun. Và Mun thì bước xa ra vài bước rồi nằm lăn xuống sàn gỗ ưỡn bụng ra vẻ thân thiện và tin cậy.

Có khi tôi chậm cho ăn, nó kêu. Tiếng kêu của nó không to, chỉ thều thào như bị tắt nghẹn, nhưng tôi vẫn sợ hàng xóm phiền. Có ngày nào đó họ sẽ than phiền với trung tâm kiểm soát thú hoang và lúc đó thì mèo hoang trong đó có Xám và hai con mèo sọc vàng đều bị bắt hết. Con mèo sọc vàng, hay bị đổ ghèn mắt, không sợ và bỏ chạy khi tôi mang thức ăn ra. Cho nó ăn, tôi lấy tay rờ đầu nó, nó để yên không chống lại. Có thể nó là một trong năm con mèo mà con mèo mẹ Củ Gừng sinh ra, sau đó bị trung tâm kiểm soát thú hoang bắt mang đi. Tuy nhiên, con này không bị cắt một bên tai, hễ đã qua tay nhóm kiểm soát thú hoang thì người ta sẽ cắt một góc ở bên lỗ tai để làm dấu. Lần ấy, cô nàng trong nhóm kiểm soát thú hoang đã kể lại có một bà cụ than phiền là cụ không thể nuôi nổi số mèo đã lên đến 27 con trong nhà của cụ nữa. Một trong những việc làm được xem là nhân đạo là người ta bắt mèo, chích thuốc ngừa bệnh dại, triệt sản, rồi thả ra ở một chỗ nào đó, nếu có thể thì gần nông trại để chúng bắt chuột. Tuy vậy vẫn có con mèo nào đó trốn thoát, và vì vậy số mèo hoang vẫn còn. Cũng có thể hai con mèo sọc vàng, giống nhau như hệt, của một nhà nào đó nuôi rồi chán nên đuổi ra ngoài, do đó chúng ít sợ người nhất là khi được cho ăn. Hai con mèo này ăn nhiều lắm, ăn lâu và ăn ngấu nghiến, như đói lâu ngày. Cả hai con đều gầy bụng thóp lại, nhưng thuộc giống mèo lớn con. Ông Mun thì nhỏ con, tuy đã ít nhất là năm tuổi (theo tuổi người), nhưng vóc dáng chỉ bằng phân nửa Nora. Bà lão Nora lúc này to béo và bệ vệ đến độ ít khi rượt đuổi mấy con mèo lạ, và nếu chạy thì cũng không chạy xa.