Ides of March

Ngày xưa người La Mã không gán một con số cho mỗi ngày, từ đầu cho đến cuối của một tháng. Họ đặt ra ba điểm cố định trong tháng. Noones để chỉ ngày thứ 5 hay thứ 7. Ides chỉ ngày thứ 13, tuy vậy trong các tháng Ba, Năm, Bảy, và Mười, Ides là ngày thứ 15. Kalends là ngày đầu tiên của tháng sau.

Như vậy, Ides of March là ngày 15 tháng Ba. Trong thời cổ xưa, người La Mã đặt lịch dựa vào ngày trăng tròn. Ides of March là ngày (thật ra là đêm) trăng tròn đầu tiên của năm mới. Ngày này được chọn là ngày để giải quyết, thanh toán nợ nần. Năm 44 BC, nó cũng là ngày đẫm máu. Julius Caesar, bị người bạn thân Brutus, lập mưu ám sát. Cùng nhúng tay vào việc sát nhân này có hơn sáu mươi người nghị sĩ của quốc hội La Mã. Caesar đang trên đà thành công, đánh thắng nhiều trận lớn, rất nổi tiếng. Brutus viện cớ sợ Caesar trở thành hoàng đế, người bá chủ và độc tài, nên tìm cách giết. Sợ dân chúng không thuận ý nên ngụy trang âm mưu sát nhân chiếm ngôi là tế thần.

Chẳng biết nhà làm phim Ides of March có dụng ý gì khi làm cuốn phim có tựa đề này. Cũng chẳng biết mỗi cuộc vận động tranh cử và bầu cử Tổng Thống có đầy những gay cấn phức tạp như vậy không? Có lẽ có, mức độ đậm nhạt khác nhau, và chi tiết hoàn toàn đa dạng. Có người thì sex và gái, có người thì gian lận với số phiếu, có người thì mua chuộc và hối lộ.

Hôm nay. Beware the Ides of March.

Trời đủ ấm để người ta ăn mặc mỏng manh, hoặc không mặc áo

Trên đường đi bộ tôi thấy một cô rất trẻ rất xinh, chỉ mặc có cái tube, và quần shorts chạy xe đạp.

Đầu Mùa Xuân

Liên tiếp mấy ngày trời rất ấm. Đi bộ hôm qua, chiều về lên xe thấy nhiệt độ lên hơn 70 độ F. (21 độ C.) Hoa xuyên tuyết nở rất nhiều nơi. Và lần đầu tiên trong năm 2021 tôi lại nhìn thấy rùa (khoảng tháng 11 hay 12 trời bắt đầu lạnh hung, loài rùa đồng loạt rủ nhau biến mất). Rùa kéo nhau lên những gốc cây gần bờ nằm sưởi nắng có chỗ hàng chục con chen chúc nhau. Ba tấm ảnh mùa xuân bắt đầu. Khuya nay, rạng ngày mai, đổi giờ và cả tuần nữa mới chính thức mùa xuân.

Không biết là hai mẹ con, hay cha con, chị em, anh em, bạn bè, hay lãnh đạo và người đi theo
Hoa rừng. Chẳng biết cây gì.
chim robin dấu hiệu của mùa xuân dù thật ra chúng xuất hiện quanh năm.

Ba con mèo và bà cụ

Tựa đề tấm ảnh là gì đây?

Đi bộ, ông Tám nhìn cái này. Có người nào bị nhốt trong bọng cây chìa tay ra kêu cứu? Hay chỉ vẫy gọi để chào người đi ngang.

Hai con mèo hoang, ông Mun và thằng Xám buổi sáng ngồi chờ thức ăn. Tôi nghe tiếng gầm gừ nên mang thức ăn ra. Rồi hai con mèo ngồi nghênh nhau, không con nào dám ăn. Vì sợ bị tấn công khi đang mãi ăn. Chuyện xảy ra nhiều lần. Tôi chia thức ăn thành hai phần để riêng ở hai chỗ khác nhau. Thường thì cả hai bỏ đi, lúc sau quay lại. Hôm trước thằng Xám nằm trên bức tường, chờ ông Mun ăn xong, bỏ đi, một lúc lâu sau mới đến ăn. Có một hôm, sáng sớm, đã thấy vết chân mèo đẫm máu đi vòng quanh trên cái sàn gỗ sơn màu xám. Chẳng biết con nào bị thương chảy máu.

Nora thì buổi sáng thường đánh thức tôi. Chẳng biết vì nàng đói, hay bản năng đi săn mồi sớm, hay vì biết thói quen của tôi. Nếu tôi không lên tiếng nó sẽ lấy chân vỗ vào tay tôi, có khi cào lên tóc tôi để đánh thức. Vẫn rất kén ăn, và rất béo.

Bà cụ, là tôi, đã được đi chích ngừa Covid-19 mũi thứ nhất. Cuộc chích ngừa được tiến hành như thế này. Đầu tiên tôi vào website của tiểu bang có cái link thông tin về chích ngừa. Tôi bấm vào link, điền vào cái đơn về thông tin cá nhân kể cả bảo hiểm y tế. Tôi nhận được thông báo đã nhận được đơn và bảo tôi chờ cho đến khi có thuốc và đến phiên. Tôi chờ. Khá lâu. Rồi tôi nhận được hẹn đi chích ngừa. Trong e-mail có cái code. Tôi printscreen và mang theo điện thoại đến chỗ chích ngừa.

Chỗ chích ngừa là một đại học cộng đồng, community college, của county. Khoảng sân rộng bao la, rất thích hợp để chích ngừa cho số đông người. Ban tổ chức hoạt động nhịp nhàng, hữu hiệu. Tôi lái xe, mặc áo ngắn tay, họ xác nhận thông tin bằng cách scan code trong điện thoại của tôi. Hoàn toàn không ra khỏi xe. Từ lúc vào sân cho đến lúc ra chích ngừa không đầy 15 phút. Tôi được bảo lái xe đến bãi đậu xe bên cạnh chờ 15 phút để xem có bị phản ứng thuốc hay không. Rồi ra về. Nhịp nhàng. Hữu hiệu. Nhanh chóng. Tổ chức chu đáo.

Tháng 4 sẽ chích mũi thứ hai. Cảm ơn nước Mỹ!

Ó bạc đầu

Bald Eagle

Ó thuộc loại đại bàng, cánh có thể dang rộng 7 ft., tên gọi chung cho các loại chim có thể săn mồi, trong đó có cả red-tailed hawk.  Ó có nhiều loại, khoảng 60.  Tuy vậy chỉ có hai loại thấy ở Bắc Mỹ.

Ó đầu bạc nổi tiếng nhanh và khỏe, có thể bắt và tha được mồi lớn, cỡ chừng một con nai con độ 5 hay 6 kg.  Ó cũng có thể tấn công con mồi to lớn hơn nó, rồi ăn thịt tại chỗ.  Thời xưa người ta hay gán cho chim ó tội bắt cóc, nhất là trẻ em.  John Tynemouth người ghi chép huyền thoại thế kỷ thứ 14 có ghi lại rằng vua Alfred đi săn nghe tiếng trẻ em khóc.  Lần theo tiếng khóc vua tìm thấy đứa bé trong tổ ó trên ngọn cây cao.  Ở Scotland vào thế kỷ thứ 17 tương truyền cũng có nhiều trường hợp trẻ em bị đại bàng bắt cóc.  Hannah Lamond có đứa con bị golden eagle (ó vàng) bắt cóc khi nàng đang gặt hái mùa màng.  Để cứu con, nàng phải trèo lên triền núi hiểm trở, không quản ngại nguy hiểm đến chết người.

Theo Wikipedia, huyền thoại Sumer (một phần thuộc miền Nam Iraq hôm nay) kể rằng vua Etana được chim ó tha lên thiên đàng.  Các nhà văn chuyên viết về huyền thoại như Lucan và Pliny the Elder bảo rằng chim ó có thể nhìn thẳng vào mặt trời.  Con ó nào nhìn mặt trời mà nhấp nháy mắt sẽ bị ó cha mẹ đẩy ra khỏi tổ. 

Chim Ó thường là huy hiệu của hoàng gia và quốc gia.  Ó được xem là King of Birds (Vua của loài chim) đối chiếu với sư tử là King of Beasts (Vua của loài thú). Đây là con chim biểu tượng của Hoa Kỳ (national bird of the United States of America). Ảnh ó đầu bạc có trên dấu ấn (seal) của Hoa Kỳ.  Không chỉ có Hoa Kỳ chọn chim ó đầu bạc làm biểu tượng cho quốc gia, nhiều nước khác cũng xem chim ó đầu bạc là tượng trương cho bản sắc của dân tộc họ, thí dụ như Anh quốc và Đức Quốc Xã thời Hitler.  Ở Anh, sư tử là biểu tượng của kingdom, trong khi ó là biểu tượng của empire.  Một cách đơn giản và ngắn gọn (dĩ nhiên nhiều thiếu sót) kingdom là một vùng đất có vua cai trị.  Empire bao gồm nhiều kingdom.  Ó là biểu tượng rất phổ biến ở các nước thuộc châu Âu, thí dụ như Áo (Austria) vì có liên hệ đến Holy Roman Empire.  Ó, biểu tượng của Đế Quốc Giáo hoàng La Mã (tạm dịch), có hai đầu tượng trưng cho hai miền Đông và Tây.  Chim ó trên quốc huy của Kotka, Finland, chân tha cái mỏ neo và cây gậy có hai con rắn quấn vào nhau, dấu hiệu của y khoa.  Trong tôn giáo Hindu, thần Garuda, có mỏ và cánh của ó.  Người Moche thuộc Peru thờ chim ó và khắc tạc nhiều chim ó trong nghệ thuật của họ.

Chúa tể của các vị thần Hy Lạp, Zeus, cũng chọn chim ó đầu bạc làm thủ hạ của ông, mang thông điệp của ông đi giao cho các vị thần khác. Có một huyền thoại Hy Lạp bảo rằng, ó đầu bạc vốn cũng là một vị vua, bị Zeus ganh tị nên biến ông ta thành chim ó. Zeus có thể tự biến thành chim ó. Người ta kể rằng ông tự biến thành chim ó khi phải lòng Ganymede, một vị hoàng tử trẻ tuổi và rất đẹp trai. Zeus bắt cóc anh ta và biến anh ta thành người dâng rượu cho các vị thần của Zeus.

Zeus cũng cho chim ó đến trừng phạt Prometheus tội đã mang lửa cho loài người. Prometheus đã bị xiềng vào một tảng đá lớn và chim ó hằng ngày đến rỉa gan của Prometheus để ăn. Bởi vì Prometheus là thần, bất tử, nên mỗi ngày ông đều phải chịu đau đớn đến chết đi rồi sống lại. Sự đau đớn này tiếp diễn cho đến khi Hercules đến giết chim ó của Zeus và giải cứu Prometheus.

Năm 2016, có tin là Cảnh sát Dutch (Hòa Lan) đã kết hợp với quân đội Pháp nuôi luyện chim ó để nhận dạng và phá hủy các loại drones được thả bay bất hợp pháp. Drones là một loại máy bay nhỏ, điều khiển bằng vô tuyến, có thể dùng để chụp ảnh không phận của quân đội hay các nhà máy điện, gây nguy hiểm cho quốc gia.  Ó bay nhanh và khỏe có thể chộp bắt các máy bay drones và triệt hạ chúng dễ dàng. Bay nhanh từ 56 cho đến 70 km. một giờ. Khi lao xuống để bắt mồi tốc độ 120km/h cho đến 160 km/h.

Ảnh tôi chụp, gặp hên. Đang đi bộ nghe quạ kêu inh ỏi, thấy bọn chúng đậu chùm nhum trên một cây, ngó qua cây phía khác mắng chửi um sùm. Ngó theo hướng ấy thì gặp con ó đầu bạc này. Rất tiếc tôi đã thay ống kính, dùng ống kính 24mm – 200 mm. Lúc trước dùng ống kính 70mm – 300 mm bất tiện lúc chụp gần. Lần này thì không thể chụp xa đến độ mình muốn.

Chuyện mấy con ngỗng Canada

Cãi nhau trên mái nhà

Tên của loài ngỗng này là Canada, nhưng chúng nhận New Jersey làm quê hương chẳng biết từ thuở nào. Khi chúng nó bay trên cao thấy mảnh mai với cái cổ dài duyên dáng, nhưng nhìn gần thì con nào con nấy to ghê lắm. Cỡ 20 lbs là ít nhất (22 lbs là 10kg). Một con mèo già béo ú ụ như nàng Nora của tôi thì chỉ chừng 13 lbs thôi.

Lần nào đi bộ tôi cũng thấy nhiều đàn ngỗng bay ngang. Có khi đàn này nối tiếp đàn kia, mỗi đàn cả trăm, hay vài trăm con. Trên dòng kênh Delaware and Raritan ngỗng có khi tụ thành đàn năm bảy con, có khi chỉ một đôi. Trên dòng sông Millstone, ngỗng đậu đầy, hằng ngàn con. Thường thì chúng im lặng, nhưng khi chúng ồn ào thì cũng rất ồn ào. Ảnh hai con chim bên trên, chẳng biết chúng đang cãi nhau hay chỉ là những lời tình tự của mùa Xuân. Mùa này tỏ tình, cỡ tháng Tư hay tháng 5 đã thấy các bé ngỗng con được bố mẹ dẫn đi lang thang ở những đoạn đường trail vắng người.

Vươn vai

Ở một đoạn đường trail, từ hướng South Boundbrook Park đi về hướng Landings, ở chỗ kè đá nơi tôi chụp ảnh hoa xuyên tuyết (hay hoa điểm tuyết, còn gọi là Snowdrop) tôi thường thấy một đôi ngỗng. Tôi không dám chắc nhưng hình như loại ngỗng này thường ở với nhau suốt đời. Con ngỗng trong ảnh đang tắm táp chơi đùa vui vẻ lắm. Điểm làm tôi chú ý là cái bầu diều của nó, khi đang lặn ngụp dưới nước có vẻ to lắm, như một cái bong bóng nho nhỏ. Tuy vậy khi nó ưỡn người quạt đôi cánh thì cái bầu diều (ở cuối cuống cổ dài và bắt đầu cái ức) xẹp lại nhỏ đi, không còn gây ấn tượng nữa.

Trở lại với chuyện ngỗng Canada thường cặp đôi đến mãn đời. Tôi thỉnh thoảng thấy một con ngỗng lẻ bạn trôi trên dòng sông, tiếng kêu oang oác rất cô đơn. Đi một chút lại thấy một con ngỗng khác, lần này không ở trên sông mà ở trên kênh (con kênh Delaware và Raritan chảy song song với con sông, có khúc tên là Millstone, còn khúc khác thì nhập vào sông Raritan) cũng kêu oang oác vì lẻ bạn. Tôi tự hỏi sao con này không nhập bọn với con kia. Hỏi rồi tự trả lời, có lẽ cả hai con đều là chim trống hay đều là chim mái.

Sẵn đây mời các bạn nghe bài hát To Be By Your Side do Nick Cave hát. Đây là bài hát trích trong phim Winged Migration, hình như Nick Cave là tác giả. Bài hát nói về một con chim ở nơi xa, bay đường trường nhiều ngày đêm để về một điểm hẹn, ở lại qua đêm với con chim bạn, hôm sau lại lên đường. Không biết con chim trong bài là loại chim gì nhưng có lẽ là một loại chim thiên di, cứ đến mùa xuân thì tìm đường trở về nơi nó được sinh ra đời.

Bầu trời mùa xuân

Biết anh thích màu trời em đã bồi hồi chọn màu áo xanh. (Bảy Ngày Đợi Mong – Trần Thiện Thanh)

Màu áo xanh là màu tôi trót yêu (Thu Quyến Rũ – Đoàn Chuẩn Từ Linh)

Mùa này chim ngỗng Canada bay khắp nơi. Kêu inh ỏi một góc trời. Chỉ cần hai ba con cũng trở thành một cái chợ, a maddening crowd.

Quạ kêu nam đáo nữ phòng. Người dưng khác họ … (Ca dao)

Quạ là loài rất thông minh, có trí nhớ rất tốt. Cách đây chừng hai tuần tôi có xem một cuốn phim tài liệu (documentary) nói về chim quạ. Người ta nuôi một bầy chim quạ từ lúc mới ra đời, gắn sensory vào quạ rồi dùng máy theo dõi chim. Người ta làm một số thí nghiệm (test) để thử trí thông minh của quạ. Quạ có thể dùng một que ngắn để mở cửa lồng để thức ăn. Sau đó người ta làm khó hơn, khiến quạ phải dùng một que dài, khều cái que ngắn, rồi dùng que ngắn để mở cửa. Hơn nữa, người ta cột cái que dài ở một chỗ khác, quạ biết mở dây cột để lấy que dài, khều que ngắn, mở cửa lồng để thức ăn.

Quạ còn có thể nhớ mặt kẻ xấu nào đã làm hại loài quạ, như ném đá, hù dọa, giết quạ và các loại chim chóc khác. Người ta cho một người đeo mặt nạ đặc biệt, có màu sắc dễ nhận ra. Mỗi khi quạ thấy người này đều kêu lên để báo động với các bạn. Quạ có ít nhất là hai cách để trò chuyện đối đáp (communicate). Giữa loài quạ với nhau, lúc bình yên nó rù rì rủ rỉ, kêu tíu tít. Khi có nguy hiểm, chúng kêu quang quác, nghe như ác ác , cát cát. Hôm qua, ngồi nghỉ ăn trưa ở dọc bờ kênh tôi nghe hai con quạ đối đáp với nhau, không rù rì cũng không quang quác. Một con kêu như CO…À. Con kia đáp lại CO…Á. Một giọng trầm. Một giọng cao. Chẳng biết có phải một trống một mái, nam đáo nữ phòng hay không.

Thấy ngồ ngộ nên kể các bạn nghe, cho vui.

Nụ hoa mới chớm

Dường như xuân đang đến

Mấy hôm trước nói hết tuyết, biết là hơi sớm. Hôm nay nói dường như xuân đang đến, biết là cũng còn sớm lắm, nhưng thây kệ, cứ nói tướng lên như thế cho cảm thấy cuộc đời vui hơn. Thiệt là như vậy. Người ở xứ lạnh mong xuân, mong nắng. Niềm vui cuộc đời cũng chỉ giản dị đến thế thôi.

Tôi ngồi lẩn thẩn nhớ hai câu thơ, nghĩ là của cụ Bùi Giáng, nhưng bây giờ thì không chắc lắm, vì biết là mình hay nhớ sai. “Đêm nằm dưới lá trong cây. Bữa hôm nay mộng thấy ngày hôm qua.” Nhớ quàng nhớ xiên, từ chuyện nọ qua chuyện kia. Thật ra tôi muốn đặt tựa đề bài này là “bữa hôm nay kể chuyện ngày hôm qua.” Thay thế hai chữ mộng thấy bằng kể chuyện, nói vòng vo để đính chính mình mượn thơ Bùi Giáng, nếu không nói nguồn gốc cho rõ ràng thì mang tiếng đạo thơ. Mà nói ra rồi thì cũng e ngại bị chê là tầm chương trích cú, giả vờ như mình hay chữ, biết nhiều thơ.

Hôm nay nắng vàng rực rỡ, ngồi trong nhà mà nắng hắt từ ba cửa sổ, bên tay mặt là cửa sổ phòng khách, tay trái cửa sổ ngó ra sau rừng, sau lưng là cửa sổ ngó qua sân nhà bà Robyn. Trước mặt không có cửa sổ, ngó vào trong bếp thấy mấy cái muôi, spatula treo lòng thòng, nhà bếp tắt đèn chứ nếu ánh sáng mà từ trước mặt thì chói mắt khỏi viết luôn. Nắng rất to, nhưng trời rất lạnh. Sáng sớm cho thằng Xám ăn, trời lạnh cỡ 25 độ F. (-4 độ C.) gió vi vu thấy nó co ro ngồi chờ sẵn, thấy thương.

Mùa đông chắc chắn là khắc nghiệt với tất cả mọi loài, không chỉ với loài người. Hôm qua đi bộ con đường dọc bờ kênh Delaware và Raritan với ông Tám, tôi thấy hai bộ xương nai, vẫn còn màu đỏ tươi. Một bộ là của con nai con chết hồi tuần trước, bị tuyết lấp. Mấy hôm nay tuyết tan, xác con nai lộ ra. Có con thú nào đó đến rỉa gần hết, chỉ còn bộ xương sườn. Còn bộ xương kia thì ở xa hơn. Cũng là nai còn nhỏ, nhưng lớn hơn con nai con một chút. Đoán thế vì nhìn bộ xương sườn. Tội nghiệp cho hai con nai, nhưng cũng có loài thú nào đó, nhờ thế mà đỡ đói.

Có nghĩa là, trên con đường chúng tôi đi bộ, có những loài thú ăn thịt, chúng tôi chưa bao giờ gặp, và sẽ hiếm khi có dịp gặp. Những con thú ăn thịt chỉ xuất hiện vào ban đêm. Ngay cả trên cánh rừng sau nhà tôi, thỉnh thoảng tôi gặp cáo và có một vài con chưa bao giờ gặp, và không biết tên. Và có nghĩa là, ngoài kia, trong cuộc đời, trong thiên nhiên, cuộc tấn công đẫm máu, giành thức ăn, giành cuộc sống, luôn luôn tiếp diễn. Đời là một trường tranh đấu không ngừng. Nhiều lúc đang đi, nhìn xuống chân thấy lông chim vương vãi trên mặt đất, biết là có một con chim nào đó vừa mất mạng. Tội nghiệp. Những con chim bé bỏng hiền lành, thua cuộc, trở thành miếng ăn của những con chim to lớn, dữ dằn, nhưng cũng không kém phần đẹp đẽ như diều hâu, ó, và chim cắt (falcon).

Cuộc đời, luôn luôn là chỗ để (ít nhất là) hai khuynh hướng trái ngược nhau hiện diện. Kẻ đi săn đi giết. Người đi giúp đỡ, dưỡng nuôi. Hôm qua hôm kia gì đó, xem Netflix về những cuộc đi săn, có người đã nói rằng, họ đi săn vì họ yêu thiên nhiên, yêu đất đai và những con thú sống trên đất đai này. Tôi nghe nghịch lý nhưng sẽ không nói sâu về đề tài này, chỉ viết điểm này ở đây để suy nghĩ. Và cũng trong một buổi đi bộ ở Duke Farms tôi gặp cái này.

Tổ chim nhân tạo.

Cái này, là tổ chim nhân tạo. Mở cái cửa gỗ ra, bên trong là tổ chim. Có người nào đó, đã làm những cái tổ nhân tạo này để giúp các loài chim bị mất nơi làm tổ. Còn cái vòng kim loại quấn chung quanh cái trụ gỗ là để đề phòng các loại rắn, chuột có thể leo lên cây và chui vào cái lổ nhỏ bên trên mà tấn công chim hoặc ăn trứng chim. Sáng nay thấy nhà thơ Nguyễn thị Hải đăng một cái link có người đi đặt tổ cứu chim lam nên tôi nhớ ra cái tổ này tôi chụp mấy hôm trước. Ở vùng tôi ở, tổ chim này có lẽ là để giúp loại chim goldfinch, dịch là hoàng oanh hay hoàng yến gì đó, không chắc. Nếu không thì cũng là loại eastern bluebird, loại này to hơn goldfinch một chút, màu sắc không kém phần rực rỡ.

Chồi non

Sở dĩ tôi nghĩ xuân đang về, là bởi vì nhìn thấy từ trong tuyết, những mầm xanh đã xuất hiện. Hoa gì đây, sớm thế này chắc phải là crocus, hay daffodils. Mầm này to quá nên chắc không phải là snowdrops.

Những hôm nhiều tuyết, gió mạnh, tôi không gặp con hạc nào. Tuy vậy hôm qua nhiều lần hạc bay trước mặt nhưng không chụp ảnh kịp. Hôm đi bộ ở Duke Farms thì gặp ông già cô độc này.

Chim bay về núi tối rồi

Hết Tuyết

Ngủ một chân

Hồi còn nhỏ, ở Việt Nam, nhà tôi có nuôi gà vịt. Tôi thường thấy gà vịt ngủ chỉ đứng một chân. Bây giờ ở Hoa Kỳ, những lần đi bộ tôi gặp chim hạc (great blue heron và sandhill crane) và ngỗng cũng ngủ đứng một chân. Ảnh này chụp hôm 24 tháng 2 năm 2021, mặt đất đóng đầy tuyết, mỗi bước lún đến cả hai tấc. Liên tiếp hai ba hôm nay, trời ấm hơn độ đông nước đá, có nắng suốt ngày, nên tuyết tan. Hôm nay mưa, nhiệt độ ngoài trời chừng 2 độ C. và có thể lên đến 10 độ C. Tuyết ở sân trước nhà tôi tan gần hết, để lộ mặt đất. Bởi vậy tôi hy vọng là đã hết mùa tuyết năm 2021. Hy vọng này có thể nói là quá sớm, bởi vì chưa hết tháng Hai. Qua đến tháng Ba có thể có tuyết nhưng sẽ không đóng lâu trên mặt đất. Cứ hy vọng như thế cho đỡ buồn, cái buồn của người sống trên xứ tuyết.

Nhắc đến chữ xứ tuyết, tôi lại nhớ đến quyển truyện của ông Yasunari Kawabata. Tôi đọc một số truyện của ông trong đó có ba truyện ông viết có bối cảnh là tuyết. Truyện dài nhất là “Xứ Tuyết” (Snow Country) được dịch giả Edward Seidensticker, người dịch nhiều tác phẩm của Kawabata, khen là tác phẩm hay nhất. Truyện không dài lắm, có thể xem là novella. Còn hai truyện kia là truyện ngắn. “First Snow on Fuji” (Tuyết đầu mùa trên Phú Sĩ Sơn) in trong tuyển tập truyện ngắn cùng tựa đề do Michael Emmerich dịch và “Snow” (Tuyết) trong tuyển tập “Palm-of-the-Hand” (Lòng Bàn Tay) có hai dịch giả Lane Dunlop và J. Martin Holman. Riêng truyện ngắn “Snow” là do Lane Dunlop dịch.

“Tuyết đầu mùa trên Phú Sĩ Sơn” hầu như chẳng chú trọng gì đến tuyết. Truyện nói về hai người đã từng yêu nhau. Utako có thai với Jiro, nhưng đứa con bị cha mẹ Utako bắt phải đem cho và phải đoạn tuyệt với Jiro. Utako lập gia đình, có hai con, vừa mới ly dị thì tình cờ gặp lại Jiro ở trạm xe lửa. Hai người đi chung chuyến xe lửa đến Hakone, nơi có suối nước nóng. Jiro cho biết đứa con của hai người bị đem cho, về sau chết. Trên chuyến xe lửa Jiro chú ý đến tuyết vừa mới rơi đợt đầu tiên trên núi Phú Sĩ nhưng Utako không để ý vì mãi nghĩ đến chuyện xưa của hai người. Cho đến khi chia tay, nàng mới để ý là lớp tuyết cũng chẳng có gì đáng chú ý. Tôi định dùng chữ núi Fuji nhưng vì hồi xưa ở VN, người ta dùng chữ Phú Sĩ Sơn nghe cũng hay hay nên bây giờ lập lại từ này để… hoài cổ.

Tuyết trong truyện ngắn “Snow” chỉ là tuyết trong tưởng tượng. Hằng năm ông Noda Sankichi thuê một căn phòng trong một khách sạn cao nhiều tầng ở Tokyo. Ông gọi khách sạn này là Dream Hotel (Khách sạn Mơ). Và căn phòng ông thuê trong khách sạn ông đặt tên là Snow Room (Phòng Tuyết). Liên tiếp từ buổi chiều ngày đầu năm cho đến buổi sáng ngày thứ ba ông ở trong phòng tuyết để suy nghĩ và tưởng tượng về tuyết. Ông khép rèm, nhắm mắt, và khi ông “tịnh” đủ lâu thì tuyết sẽ xuất hiện trên tường, những đóa hoa tuyết to như hoa mẫu đơn, và bố ông sẽ xuất hiện, đặt ông lên vai vì ông sẽ biến trở lại thành một đứa bé bốn năm tuổi để ngắm tuyết. Rồi sau đó, tuyết sẽ xuất hiện trên những cánh chim, và ông nghe từ trên lưng chim tiếng vọng của những người tình trong quá khứ.

Xứ Tuyết là câu chuyện giữa Shimamura và nàng geisha Komako ở vùng suối nước nóng onsen Yuzawa. Shimamura là một người giàu có, do thừa hưởng gia tài. Tôi không biết chắc số tuổi nhưng đoán ông khoảng năm mươi. Komako còn trẻ, 19 tuổi, nhưng bị Shimamura cho là già trước tuổi. Với son phấn ông đoán Komako chừng 22 tuổi. Geisha, ai cũng bảo không làm điếm, không đi khách. Tuy vậy, geisha ở vùng núi cao, nhiều tuyết, có người cũng thỉnh thoảng vén rào. Không thể nói mối quan hệ giữa hai nhân vật là tình yêu. Shimamura thích Komako vì cô nàng trẻ, rất sạch sẽ, (viết đến đây thì tôi lại nhớ đến họa sĩ Andrew Wyeth, đã nghĩ về cô người mẫu khỏa thân Helga, rất sạch sẽ), hiểu biết về kịch kabuki, và vui chuyện. Komako thì đang cần một nhà giàu bảo trợ nàng nên quyết tâm chinh phục Shimamura. Có lẽ trong quá trình chinh phục này nàng đâm ra yêu ông nhà giàu, hay chỉ tưởng tượng là mình yêu.

Ở Shimamura, người đọc dễ nhận thấy ông không nhầm lẫn tình yêu. Với ông quan hệ với nàng nghệ nhân chỉ là giải trí và khoái lạc. Ông có vợ. Trên chuyến xe lửa đến vùng xứ tuyết ông gặp một phụ nữ trẻ có đôi mắt đẹp và giọng nói hay. Giọng nói hay, du dương đến độ ông cảm nhận được sự cô đơn trong giọng nói. Cô gái ấy tên là Yuko. Nàng đưa một người đàn ông, còn trẻ nhưng yếu đuối bệnh tật về xứ tuyết. Người đàn ông ấy là Yukio có mối quan hệ khá phức tạp với cả Yuko và Komako. Đôi mắt và giọng nói của Yuko đã ảnh hưởng rất nhiều đến quan hệ của Shimamura với Komako.

Yukio và Komako là bạn thời niên thiếu. Người ta đồn là hai người đã đính hôn nhưng Komako bảo là mẹ của Yukio có bàn đến chuyện đính hôn cho hai người nhưng không tiến hành. Mẹ của Yukio đã dạy nhạc cho Komako để nàng trở thành geisha, nên khi bà giáo dạy nhạc đau yếu, Komako về ở chung với cô giáo, làm việc để trả nợ cho anh con trai mắc nợ vì đau yếu. Yukio, quan hệ với Yuko không rõ ràng, có vẻ như là tình nhân với nhau, hay là vợ chồng không chính thức. Khi Yuko đưa Yukio về xứ tuyết Yuzawa (để chết) thì tình trạng khó xử xảy ra. Shimamura ngấm ngầm yêu thích Yuko càng làm tổn thương Komako.

Tuyết trong quyển này thì nhiều lắm, dày lắm. Chiều dày của tuyết có thể từ 7ft đến 15ft. Hoa tuyết thì to như hoa mẫu đơn. Người đọc dễ yêu thích truyện của Kawabata, vì ông khéo léo mang văn hóa mỹ thuật của Nhật vào tác phẩm. Trong Thousand Cranes (Ngàn Cánh Hạc) ông nói về trà đạo và gốm sứ. Trong Beauty and Sadness (Cái Đẹp và Nỗi Buồn) ông nói về vườn thiền. Trong Snow Country (Xứ Tuyết) ông nói về cuộc đời geisha ở vùng núi non tỉnh lẻ. Đặc biệt trong Xứ Tuyết ông nói về một loại vải người ta bện, dệt, phơi và nhuộm trong tuyết. Chijimi.

Hầu hết trong các tác phẩm của Kawabata mà tôi đã đọc qua, nhân vật nam không hề yêu say mê. Họ nếu có yêu thì chỉ yêu một cách hờ hững, tỉnh táo. Các nhân vật nữ chính của ông đều quằn quại với tình yêu của họ, thậm chí đi đến chỗ tự tử. Trong Xứ Tuyết cũng vậy, tôi thương hại cho nàng Komako dù rất có thể cô nàng cũng chẳng yêu thương gì ông Shimamura. Chỉ là một sự chinh phục, một cuộc gây dựng business không thành công.

Hồ Băng

Lang thang

Em nai này vẫn còn thơ dại lắm. Đi theo bố mẹ kiếm ăn, ngang qua cánh rừng sau nhà tôi.

Deer walk upon our mountains, and the quail
Whistle about us their spontaneous cries;
Sweet berries ripen in the wilderness;
And, in the isolation of the sky,
At evening, casual flocks of pigeons make
Abiguous undulations as they sink,
Downward to darkness, on extended wings.

Trích đoạn chót trong bài Sunday Morning của Wallach Stevens