Mặt thật và mặt nạ

Bài này dài quá nên tôi không định đưa lên blog vì sợ người đọc ngán. Tuy vậy tôi nghĩ đưa lên coi như để dành, rủi computer bị hư thì vẫn còn lưu lại đâu đó.

Tương quan giữa mặt nạ và mặt thật

Tác giả:  Nguyễn thị Hải Hà

Nếu không có COVID-19 có lẽ tôi không bao giờ đeo khẩu trang ra nơi công cộng.  Khẩu trang tiếng Anh là mask.  Tuy vậy, chữ mask còn được dùng để chỉ mặt nạ.  Khẩu trang được dùng để che miệng và mũi, trong thời dịch bệnh Covid, được dùng để bảo vệ cơ thể chống bệnh xâm nhập.  Mặt nạ có khi che hết khuôn mặt, như mặt nạ Guy Fawkes, có khi chỉ che ở vùng đôi mắt, như mặt nạ Zorro.  Mặt nạ Zorro còn có tên là Domino.

Lịch sử của mặt nạ

Mặt nạ xuất hiện từ bao giờ không ai biết rõ, có lẽ một thời gian ngắn sau khi có con người.  Mặt nạ xưa nhất được tìm thấy làm bằng đá, khoảng 7000 năm trước Công Nguyên, được cất giữ ở viện bảo tàng “Bible et Terre Sainte” (Paris), và Israel (Jerusalem).  Tuy vậy, có thể mặt nạ xuất hiện từ thời xưa hơn nữa, khoảng 30 ngàn cho đến 40 ngàn năm, nhưng vì vật dụng thô sơ, làm bằng đất đá, hay gỗ, nên không tồn tại.

Cách dùng phổ thông của mặt nạ

Thời cổ, mặt nạ được dùng trong các lễ nghi tôn giáo.  Mặt nạ còn được dùng để bảo vệ người đi săn, chơi thể thao, hoặc đấu gươm.  Trong những buổi lễ hội của Hy Lạp thời xưa, thí dụ như lễ BacchanaliaDyonius, người tham dự lễ hội được khuyến khích mang mặt nạ hóa trang.  Để tất cả mọi người được vui chơi thỏa thích, không phân biệt đẳng cấp, không lo sợ bị bắt phạt vì say rượu (và có những hành vi không đúng với giai cấp hay tục lệ) người dự tiệc được khuyến khích hay cho phép mang mặt nạ.  Từ năm 1268, ở lễ hội Carnival of Venice, tất cả mọi người ở đằng sau cái mặt nạ đều được xem là bình đẳng. 

Có rất nhiều cách dùng mặt nạ.  Trong phạm vi bài sưu tầm và tổng hợp này, tôi xin chỉ kể lại vài cách dùng mặt nạ trong truyện và phim ảnh.

Mặt nạ được dùng để trình diễn

Mặt nạ được dùng để trình diễn trong các vở kịch Nhật Bản, thí dụ như mặt nạ Noh.

Mặt nạ Noh (能面 nō-men or 面 omote) được đẽo từ gỗ cây tùng Nhật Bản.  Sau đó được sơn bằng màu của các chất nhuộm từ thiên nhiên như vỏ sò nghiền nát, đất, và đá.  Có khoảng 450 loại mặt nạ Noh dựa vào 60 khuôn mẫu, tất cả mặt nạ này đều có tên hoàn toàn khác nhau để dễ phân biệt.  Một số mặt nạ được xem như đại diện một số nhân vật nổi tiếng và được sử dụng thường xuyên trong nhiều vở kịch.  Và một số mặt nạ khác rất cá biệt chỉ được dùng trong một hay hai vở kịch thôi.  Mặt nạ Noh giúp phân biệt được giống phái, tuổi tác, giai cấp trong xã hội của nhân vật.  Mặt nạ Noh cũng giúp người xem phân biệt được nhân vật trình diễn là người hay thần thánh, ma quỉ, hay thú vật.  Chỉ có shite, diễn viên chính, đeo mặt nạ trong hầu hết các vở kịch.  Diễn viên tsure có thể cũng mang mặt nạ trong một số vở kịch để đóng vai nhân vật nữ.  Mặc dù mặt nạ che giấu nét mặt của diễn viên, dùng mặt nạ Noh không có nghĩa sự diễn tả bằng nét mặt hoàn toàn bị loại bỏ.  Diễn viên có thể dùng một số qui ước để bắt khán giả phải dùng trí tưởng tượng để nhìn thấy tâm trạng của nhân vật sau mặt nạ qua cách diễn tả và sự chuyển động của cơ thể.  Đôi khi diễn viên lợi dụng ánh sáng để truyền đạt cảm xúc, thí dụ như ngước mặt lên hướng về ánh đèn khiến gương mặt sáng lên có vẻ như vui cười, hay cúi mặt xuống khiến gương mặt tối đi giống như buồn bã hay cáu giận.

Mặt nạ Noh là kho tàng quí báu.  Nếu là của riêng của gia đình thì được dòng họ cất giữ hay thuộc về viện bảo tàng nếu là của công.  Tương truyền rằng cái mặt nạ Noh cổ xưa nhất được giấu kín thuộc về trường phái Konparu do chính Hoàng tử Shotoku (572-622) khắc tạc hơn một ngàn năm trước.  Người ta có thể không tin mặt nạ này do chính tay hoàng tử khắc, nhưng sự cổ xưa của nó được ghi lại trong quyển Style and the Flower của Zeami viết từ thế kỷ 14.  Một số mặt nạ của trường phái Konparu được cất giữ và thường xuyên triển lãm ở Viện Bảo Tàng Quốc Gia Tokyo.

Đoạn này được trích và lược dịch từ Wikipedia

Mặt nạ dùng để che dấu mặt thật

Trên căn bản, người ta đeo mặt nạ để che giấu mặt thật.  Có nhiều nguyên nhân khiến người ta phải che giấu mặt thật.  Thí dụ như mặt bị thương tích trở nên quá xấu xí, quá ghê rợn, khiến ai nhìn cũng sợ hãi.  Đó là trường hợp của nhân vật trong phim Phantom of the Opera (Bóng Ma Trong Nhạc Viện), dựa tiểu thuyết của nhà văn Pháp Gaston Leroux và nhạc kịch Andrew Lloyd Webber.  Phim do Joel Schumacher làm đạo diễn, phát hành năm 2004.  Truyện Bóng Ma Trong Nhạc Viện rất nổi tiếng và được chuyển thành phim, nhạc kịch, rất nhiều phiên bản, bởi nhiều tác giả.  Chỉ riêng hình thức phim, đã có khoảng nhất mười bản dành cho màn ảnh lớn và truyền hình.  Chưa kể kịch bản phát thanh trên radio, truyện, và kịch dành cho sân khấu.  Bài viết này giới hạn trong cuốn phim ca vũ nhạc của Joel Schumacher với Gerard Butler trong vai chính, bóng ma trong nhạc viện.  Đây là một chuyện tình tay ba giữa Christine, nữ ca sĩ opera; Raoul, một vị Tử tước trẻ tuổi đẹp trai; và Erik, bóng ma trong nhạc viện.

Erik, có một tuổi thơ bất hạnh.  Là người trình diễn trong gánh xiệc, Erik bị đánh đập đến độ trở nên xấu xí dị dạng.  Khi chống trả ông chủ gánh xiệc, Erik lỡ giết chết ông ta, và bị truy nã rất ngặt.  Erik được phu nhân Giry cứu đem giấu dưới hệ thống hầm mộ của nhà hát.  Hệ thống hầm mộ này có nhiều ngõ ngách phức tạp, thậm chí có cả một cái hồ rất lớn dẫn ra bên ngoài nhà hát.  Erik sống âm thầm trong nhạc viện, không hề xuất hiện trước công chúng; tuy vậy, dấu vết chàng xuất hiện nơi này nơi kia khiến mọi người nghĩ rằng Erik là bóng ma.  Christine là cô gái mồ côi, có giọng hát opera rất tốt, được Erik hướng dẫn và đào tạo tài năng, đến mức độ có thể thay giọng hát của ca sĩ chính nổi tiếng thời bấy giờ.  Erik là một người có tài năng thiên phú.  Ngoài việc có thể xây dựng sửa chữa kiến trúc, chàng còn có thể sáng tác nhạc và có giọng ca rất hay.  Tuy nhiên, Erik rất dữ tợn và khi không hài lòng với sự thô bạo của một diễn viên, Erik đã giết anh ta.  Điều này càng làm người ta sợ hãi bóng ma trong nhạc viện hơn.  Trong quá trình đào tạo Christine, Erik đem lòng yêu cô ca sĩ có giọng hát và gương mặt đẹp như thiên thần này.  Christine lại yêu Raoul, người bạn thời thơ ấu, giờ là người bảo trợ nhạc viện và Raoul cũng yêu ChristineErik vì lòng ghen đã suýt giết Raoul, nhưng cuối cùng vì yêu Christine nên tha cho Raoul rồi biến mất dưới hệ thống hầm mộ.  Vài chục năm sau, khi Raoul đi thăm mộ Christine vừa mới qua đời, ông nhìn thấy đóa hoa hồng màu vàng còn tươi thắm ở mộ Christine.  Loại hoa Erik thường tặng cho Christine ngày mới yêu nàng.

Trong bộ phim, Erik đã hát rằng, Christine là bộ mặt nạ của chàng.  Người ta nhìn thấy tài năng và tâm hồn của Erik đã truyền đạt bằng giọng hát của Christine.  Quả là một mối tình sâu đậm của ErikChistine là người duy nhất mà Erik đã yêu, và yêu suốt chiều dài cuộc đời bất hạnh của một bóng ma trong nhạc viện.

Đeo Mặt Nạ để biến thành người khác

Không những để che dấu mặt thật, mặt nạ có thể biến người đeo mặt nạ thành người khác, một người trẻ tuổi, đẹp trai, khiêu vũ điêu luyện mà người ta mơ ước.  Đó là trường hợp nhân vật không có tên, trong truyện ngắn The Mask của Guy de Maupassant[1].

Trong một buổi khiêu vũ hóa trang ở Elysee-Montmartre, giữa rừng người trẻ đẹp sang trọng, “có một người bộ tướng gầy gò, ăn mặc đỏm dáng, đeo cái mặt nạ sơn bóng loáng có bộ ria mép vàng, và bộ tóc giả dợn sóng.  Anh ta trông giống như một pho tượng bằng sáp trong Viện Bảo Tàng Grevin, hay giống như một bức tranh trào lộng vẽ một chàng trai duyên dáng trong tập ảnh thời trang.  Anh ta khiêu vũ một cách gắng gượng, sôi nổi nhưng rất vụng về nên trông khá buồn cười.  Anh ta có vẻ như đã lụt nghề khi cố bắt chước những bước khiêu vũ tân kỳ của những người bên cạnh: dường như anh ta bị chứng bệnh thấp khớp, chậm chạp như con chó Dane đang nô đùa với chó greyhound.  Những lời khen tặng giả vờ đầy chế nhạo lại càng làm anh ta hăng chí.  Trong lúc phấn khởi quá đáng anh ta múa may quay cuồng tíu tít lên, rồi vì quá trớn nên bất thình lình nhào đầu vào hàng người đang xem khiêu vũ.  Họ vẹt ra tránh đường cho anh ta, rồi tụm lại bao chung quanh thân hình bất động của người khiêu vũ đang nằm úp mặt xuống đất.”[2]

Người ta gọi bác sĩ, chữa anh ta tạm thời, và đưa anh ta về nhà.  Anh ta ở trong một khu nhà tồi tàn, tầng thứ tư của một chung cư.  Một bà cụ tóc bạc ra mở cửa.  Mặc dù bác sĩ lo ngại rằng anh ta vẫn đang mê man, nhưng bà cụ, có vẻ quá quen với chuyện xảy ra, bảo chồng bà chẳng hề gì đâu, chẳng qua ông ấy uống quá chén và bỏ bữa ăn tối để có thể khiêu vũ nhanh nhẹn hơn.  Vị bác sĩ ngạc nhiên hỏi thêm.

“Tại sao đã ngần ấy tuổi ông ấy lại khiêu vũ cuồng loạn như thế?”

Bà cụ nhún vai, và đỏ mặt vì cơn giận đang từ từ trồi lên.  Bà kêu:

“Tại sao à?  Bởi vì ông ấy muốn người ta nghĩ là ông ấy vẫn còn trẻ đằng sau cái mặt nạ; để đám đàn bà con gái vẫn nghĩ rằng ông ta là một gã trai sung sức và thì thầm những lời trăng hoa vào tai ông ta; để ông ta ve vuốt làn da nhơ nhớp đầy nước hoa và son phấn của họ.  Ồ, đó là một chuyện đổi chác tuyệt vời! Thật đáng buồn cho tôi trong suốt bốn mươi năm cuối đời này!”

Tuy giận ông chồng ham vui, bà vẫn rất yêu chồng.  Bà lau mặt và chải tóc cho chồng.  Mặt nạ tháo ra để lộ mái tóc trắng của ông.  Bà bào chữa cho ông, “giá mà quí vị nhìn thấy ông ấy hồi ông ấy hai mươi lăm tuổi.” Bà cụ quen với ông cụ trong một buổi khiêu vũ.  Mặc dù bản tính thích theo đuổi giai nhân của chồng làm bà rất đau lòng, bà không bao giờ than phiền.  Mỗi lần ông chinh phục được một người đẹp ông lại về nhà khoe với vợ như một con công khoe mấy cọng lông đuôi đẹp, cho đến lúc ông trở nên già nua, đàn bà không còn chú ý đến ông nữa.  Ông bỏ cả công ăn việc làm, thay đổi nghề, chọn những nghề có thể giúp ông tiếp xúc với phụ nữ (như nghề làm mũ cho phụ nữ) để được phụ nữ chú ý, cho đến khi ông khám phá rằng ông có thể đeo mặt nạ, che dấu vẻ già nua và tham dự các buổi khiêu vũ hóa trang.

“Giờ thì quí vị đã thấy việc ông ấy làm.  Cái thói quen này đã bám cứng ông ấy.  Ông phải trẻ trung; phải khiêu vũ với các bà các cô, những người thơm phưng phức mùi nước hoa và son phấn.  Tội nghiệp ông chồng già của tôi.”

Mặt nạ dùng để che dấu sự thật về tông tích của vị vua Pháp

Có một tù nhân người Pháp (1640 – 19 November 1703) dù đang bị giam biệt lập, trong nhà tù nổi tiếng là kiên cố vẫn phải đeo mặt nạ.  Trước ông ta bị giam ở Bastille và sau đó dời đến Fortress the Pignerol (Italy).  Đây là hai nhà tù nổi tiếng kiên cố dành cho các tội nhân nguy hiểm đang chờ ngày hành quyết.  Không ai biết mặt tù nhân này.  Ông ta bị bắt phải mang mặt nạ bằng nhung đen suốt 34 năm ở trong tù.  Đây là một nhân vật có thật trong lịch sử.  Khi chết, tù nhân này mang tên Marchioly.  Có rất nhiều bút mực kể lại câu chuyện người tù mang mặt nạ này.  Đầu tiên là nhà văn Voltaire, người đã đưa ra giả thuyết tù nhân này là người anh sinh đôi, nhưng không được chính thức công nhận,  của hoàng đế Louis XIV (1643 – 1715) nước Pháp.  Voltaire, trong quyển  Questions sur l’Encyclopédie (1771) xuất bản lần thứ nhì đã viết (sai lầm) mặt nạ của người tù làm bằng sắt. 

Vào cuối thập niên 1840, Alexandre Dumas trong quyển tiểu thuyết The Vicomte of Bragelonne: Ten Years Later, chương nói về hiệp sĩ D’Artagnan, đã lập lại một số chi tiết trong truyện của Voltaire, người tù nhân này đeo mặt nạ bằng sắt, và là anh sinh đôi không được thừa nhận của Hoàng đế Louis XIV.

Dựa vào tiểu thuyết của Dumas, có gần chục phiên bản kịch và phim.  Gần đây nhất là phim The Man in the Iron Mask (1998), Người Đeo Mặt Nạ Sắt, của đạo diễn Randall Wallace.  Phim này có nhiều diễn viên nổi tiếng, Jeremy Irons – Aramis, John Malkovich – Athos, Gérard Depardieu – Porthos, và Gabriel Byrne –  D’Artagnan.  Đặc biệt Leonardo DiCaprio lúc ấy còn rất trẻ (sinh năm 1974) đã được đóng hai vai, người tù và Hoàng đế Louis XIV.  Trong phim này, cái mặt nạ của người tù chẳng những làm bằng sắt mà còn có khóa phía sau.  Để người tù có thể ăn, người ta mở khóa và nhấc mặt nạ ra khỏi đầu người tù.  Râu tóc của người tù mọc dài ra phía sau cái mặt nạ quấn quanh đầu người tù, biến ông ta thành một người dị dạng.

Cốt truyện trong phim như sau.  Nước Pháp vào thời Hoàng đế Louis XIV đang có chiến tranh với Dutch.  Hoàng đế sống xa xỉ, dân chúng lầm than nên âm mưu đảo chánh.  Ba chàng ngự lâm đã rời bỏ quân ngũ bảo vệ vua, chỉ D’Artagnan còn ở lại làm thủ lĩnh đoàn ngự lâm quân.  Hoàng đế Louis XIV manh tâm chiếm đoạt Christine, nên giết chết Raoul.  Raoul là người yêu của Christine và cũng là con trai của Athos, một trong ba chàng ngự lâm quân nổi tiếng (trong truyện của Dumas)Aramis, cựu ngự lâm quân, giờ là nhà tu, lập mưu ám sát Louis XIV không thành công nhưng có dịp gặp lại D’Artagnan,D’Artagnan cho biết người tù đeo mặt nạ bằng sắt trong ngục Bastille là người anh song sinh của Louis.  Khi ra đời, vua cha cho rằng một nước không thể có hai vua, họ sẽ tranh giành ngôi báu và đưa đất nước vào chỗ chiến tranh.  Người anh của Louis XIV đáng lẽ bị giết nhưng D’Artagnan đã tìm cách cứu, lén nuôi, và sau đó bị đưa vào tù.  Louis XIV ngày càng truy hoan trụy lạc, dân Pháp nổi loạn đòi truất phế nhà vua. D’Artagnan và ba chàng cựu ngự lâm quân đem người anh ở trong tù về làm vua, và Louis XIV phải thế chỗ người tù.  Vì hai giống nhau như đúc nên người tù phải bị đeo mặt nạ để giấu tông tích thật.  Lệnh ban rằng người tù phải được tiếp đãi tử tế, không thua gì nhà giàu bên ngoài tù, và được chu cấp tiền để có thể thuê người hầu cận và mua những thứ cần thiết.  Tuy nhiên vì không ai được đến thăm người ta tước đoạt dần số tiền chu cấp cho người tù.  Người anh của Louis XIV là một vị vua tốt và đưa nước Pháp trở lại tình trạng hòa bình.

Trong phim có một đoạn, người tù trong lúc theo ba chàng cựu ngự lâm quân vượt ngục, đã nói “I wear the mask, it doesn’t wear me” dịch là “ta đeo mặt nạ, mặt nạ không đeo ta.”  Chữ đeo dùng trong phim (wear) tôi nghĩ mang ý nghĩa kiểm soát hay làm chủ (control).  Câu nói này cho thấy quan điểm của người làm phim về tương quan của mặt nạ và người dùng nó.  Một người mang mặt nạ để che dấu tông tích thật, hay mang một tông tích mới.  Người mang mặt nạ và con người đằng sau cái mặt nạ là hai con người khác nhau.  Người thật và người mang mặt nạ lâu dài có thể thay đổi vị trí của nhau.  Vua giả có thể biến thành vua thật.

Biến mặt thật thành mặt nạ.

Thông thường, người ta dùng mặt nạ để che dấu bộ mặt thật hay con người thật.  Đạo diễn Phùng Tiểu Cương (Feng Xiaogang) nghĩ khác.  Trong phim The Banquet (khi xuất hiện ở Hoa Kỳ phim được đổi tên thành Legend of the Black Scorpion) ông dùng mặt nạ để bàn về nghệ thuật trình diễn.  Đóng kịch.

Hai nhân vật chính, hoàng tử Wu Luan (Vũ Luân) và Little Wan (Uyển Nhi) bạn với nhau từ thuở bé đã thầm yêu nhau.  Hoàng đế (cha của Vũ Luân) cưới Uyển Nhi làm vợ khiến Uyển Nhi từ người yêu thành mẹ kế của Vũ Luân.  Đau buồn, Vũ Luân vào rừng học nhạc và luyện kiếm.  Chú của Vũ Luân, giết anh, chiếm ngôi và đoạt vợ.  Uyển Nhi chuẩn bị trở thành hoàng hậu lần thứ nhì.  Biết Hoàng đế Li âm mưu giết Vũ Luân, Uyển Nhi vời chàng về cung, với mục đích tìm cách bảo vệ chàng.  Vũ Luân trong buổi trình diễn ra mắt Hoàng đế, đã trình diễn một màn múa có đeo mặt nạ, với âm mưu thích khách, nhưng không thành công.  Vũ Luân thoát chết nhờ sự che chở của Uyển Nhi.  Sau đó Uyển Nhi tra hỏi Vũ Luân.

  • Tại sao anh có thể thua thảm hại như thế?
  • Em nghĩ là anh thua ư?
  • Em hy vọng anh sẽ biểu diễn khá hơn trong buổi lễ đăng quang của em.  Nhưng tại sao anh lại mang mặt nạ trong lúc biểu diễn?
  • Mặt nạ sẽ giúp cho diễn viên đạt đến mức độ cao nhất trong nghệ thuật trình diễn.  Không có mặt nạ, bao nhiêu hạnh phúc, thù hận, nuối tiếc, hay vui mừng đều hiện ra trên mặt.  Ẩn đằng sau cái mặt nạ, một người nghệ sĩ đại tài bắt buộc phải dùng hết tài năng của mình để có thể chuyên chở đến khán giả những cảm xúc phức tạp nhất và sâu kín nhất.  
  • Nói như vậy thì anh có thể nhìn thấy gì trên khuôn mặt đơn giản, không có mặt nạ của em?
  • Sáu phần kiêu ngạo, ba phần bất an, và một phần tội lỗi khi nghĩ đến người chồng quá cố. 
  • Anh lầm.  Đó là sự thất vọng – thất vọng vì anh.  Em không thể nhờ vào anh để thực hiện mộng ước của em.  Em chỉ có thể cầu xin ơn trời nhủ lòng thương mà bảo vệ cho chúng ta.  Anh không có khả năng trình diễn dù chỉ là màn kịch đơn giản nhất.  Những đau buồn, giận hờn, cay đắng, lo lắng cho tương lai bấp bênh của anh đều hiện rõ ai cũng nhìn thấy.  Anh đã để cho nguy hiểm theo đuổi anh khắp nơi.  Anh nghĩ rằng ẩn núp đằng sau cái mặt nạ thì có thể thăng hoa nghệ thuật trình diễn của anh sao?  Nghệ thuật, ở mức độ cao nhất của trình diễn, là phải biến khuôn mặt thật của anh thành cái mặt nạ.

Uyển Nhi là người biến mặt thật thành mặt nạ trong suốt tuổi thanh xuân của nàng.  Cái mặt nạ của người làm hoàng hậu lần thứ nhất, làm mẹ kế, làm hoàng hậu lần thứ hai, làm kẻ âm mưu đầu độc người chồng thứ nhì, để trả thù và cũng để chiếm đoạt ngôi hoàng đế.

Không phải người nào biến mặt thật thành mặt nạ cũng có âm mưu thâm độc, giết hại người khác.  Có khi người ta làm thế chỉ để tự bảo vệ mình, như trường hợp Kochan, nhân vật trong “Confessions of a mask” của Yukio Mishima.

Kochan là một người đồng tính luyến ái.  Trong thời kỳ sau thế chiến thứ Hai, nước Nhật còn rất bảo thủ về vấn đề tính dục, để không bị phát hiện khuynh hướng ái tình của mình, Kochan đã giả vờ, mình cũng thích bạn gái như bao nhiêu cậu trai khác.  Trong sự cố gắng che dấu khuynh hướng tình dục, Kochan có lúc đã lầm tưởng mình thật tình yêu cô bạn gái Sonoko

“Sự ‘đóng kịch’ của tôi đã chấm dứt khi tôi biến nó thành bản tính tự nhiên của tôi, tôi tự nhủ mình như thế.  Nó không còn là đóng kịch nữa.  Tôi biết rằng việc tôi giả vờ bình thường (có khuynh hướng tình dục giống như mọi người) đã làm han rỉ hao mòn sự bình thường tôi từng có.  Tôi chấm dứt sự đóng kịch này bằng cách tự bảo mình, nhay đi nhay lại, bất quá đây chỉ là sự giả vờ của cái bình thường mà thôi. Nói một cách khác, tôi trở thành tuýp người không thể tin tưởng vào bất cứ thứ gì, ngoại trừ cái giả mạo.  Nhưng nếu đây là suy nghĩ thành thật, thì việc tôi xem chuyện Sonoko yêu mến tôi chỉ là chuyện giả vờ có thể chẳng có gì quan trọng mà chỉ là cái mặt nạ để tôi che giấu ước muốn thật sự của tôi, đó là tôi thật sự yêu nàng.  Có lẽ tôi là loại người không thể hành động ngược lại với bản chất của mình, và cũng có thể là tôi thật sự yêu nàng…”

Chuyện không đơn giản thế.  Sonoko bị tổn thương nặng nề bởi vì cô yêu một người không thật sự yêu cô.  Sonoko đã lãng phí tuổi thanh xuân để chờ Kochan.[3]

Mặt Thật Giống Như Mặt Nạ

Thông thường, người ta cố gắng làm cho mặt nạ giống như mặt người thật.  Có một trường hợp, mặt thật nhưng vì quá khác thường nên người ta lầm tưởng là mặt nạ.  Tôi muốn nhắc đến trường hợp phim Mask (1985) do Peter Bogdanovich làm đạo diễn.  Phim nói về một cậu bé Roy Dennis bị bệnh craniodiaphyseal dysplasia khiến cho xương sọ không phát triển bình thường biến khuôn mặt của cậu méo mó.  Người ta thường hiểu lầm là cậu bé đeo mặt nạ.  Bị trêu chọc, kỳ thị, và luôn luôn đau đớn vì chứng bệnh hành hạ, nhưng cậu bé rất thông minh, học rất giỏi và cậu đã khéo léo chinh phục tình cảm mọi người.  Cậu bé qua đời trong lúc còn rất trẻ mang theo nỗi thương tiếc của mọi người yêu mến cậu.

Một trường hợp khác, mặt thật trông giống như mặt nạ được nhà văn Yasunari Kawabata nhắc đến hai lần trong quyển truyện Snow Country (Xứ Tuyết)[4]

“Yoko đứng bất động, sững sờ nhìn Komako.  Khuôn mặt nàng, giống như cái mặt nạ, mang một vẻ thành thật tuyệt đối, đến độ không thể nào biết được là nàng đang giận dữ, kinh ngạc, hay đau đớn.  Dường như, đó là một khuôn mặt tinh khiết phi thường và đơn giản tột độ đối với Shimamura.” trang 82.

Shimamura là một anh nhà giàu đang tìm vui với geisha KomakoShimamura tìm cách rời bỏ Komako, và nàng geisha đang nôn ọe vì say rượu túy lúy.  Giữa YokoKomako có sự căng thẳng ngầm vì Komako ghen tị với Yoko.  Trước khi Komako trở thành geisha, nàng đính hôn với Yukio, và về ở với mẹ của Yukio (vốn là cô giáo dạy âm nhạc cho Komako) để giúp cô giáo trả nợ tiền thuốc men cho YukioYukio lại sống chung với Yoko như một đôi vợ chồng.  Shimamura tuy đang có Komako nhưng luôn tơ tưởng đến giọng nói du dương và vẻ đẹp của Yoko, ngay từ đầu khi ông gặp nàng trên toa xe lửa trên đường đến Xứ Tuyết.

“Ánh sáng mờ nhạt hơn cả ánh trăng thượng tuần trong tháng, tuy vậy dòng Ngân Hà sáng hơn cả lúc trăng tròn.  Trong cái ánh sáng mơ hồ không để lại bóng tối nào trên mặt đất, mặt của Komako nổi lên như cái mặt nạ cũ. Kỳ lạ làm sao, ngay cả trong cái mặt nạ cũng nên có mùi hương của người đàn bà.” trang 168.

The Death Mask

Tự ban đầu, death mask là mặt nạ được đúc từ mặt người chết.  Có lẽ thời xưa, để giữ lại nét mặt của người thân trước khi họ trở thành cát bụi, người ta dùng đất sét hay thạch cao đắp lên mặt người chết làm khuôn.  Cái mặt nạ vì thế thường giống như mặt người chết.  Mặt nạ này có thể được chôn theo người chết, do đó còn có tên là funeral mask, có khi được giữ lại để thờ.  Sau đó, người ta nhận ra rằng, người ta có thể làm mặt nạ bằng khuôn mặt của người đang sống.  Loại mặt nạ này có thể dùng để tôn kính thần tượng hay lãnh tụ khi họ còn tại chức.  Chữ death mask vì vậy nếu dịch đơn giản là mặt nạ chết thì sẽ không đầy đủ ý nghĩa nhưng tôi xin phép dùng như thế cho ngắn gọn.

Mặt nạ chết có nguồn gốc rất lâu đời, nổi tiếng nhất (có lẽ) là mặt nạ chết của Agamemnon.  Đây là mặt nạ làm bằng vàng ròng được chưng bày ở National Archaeological Museum of Athens.  Năm 1876, nhà khảo cổ Heinrich Schliemann tìm thấy nó trong mộ và che trên mặt một bộ thi hài.  Ông nghĩ rằng đó là hài cốt của Agamemnon, vua của nước Mycenae, thủ lãnh đoàn quân cuốc chiến tranh Trojan War trong quyển trường thi Iliad của Homer (1600 B.C.).  Tuy vậy các nhà khảo cổ học ngày nay cho rằng mặt nạ này có từ trước thời Trojan khoảng 400 năm.  Mặt nạ vàng này được chiêm ngưỡng nhiều đến độ có người đã bảo rằng đây là Mona Lisa thời tiền sử.

Nhà văn Yasunari Kawabata đã quan sát, khuôn mặt của hai người đàn bà đẹp, có lúc giống như mặt nạ.  Ông cũng có một truyện ngắn tựa đề Death Mask[5].  Cả hai nhân vật chính trong truyện, người đàn ông cũng là người kể chuyện, và người đàn bà ông nói đến đều không được tác giả đặt tên.  Người phụ nữ này có lẽ ở trong giới nghệ sĩ trình diễn.  Nàng tự biết mình đẹp.  Ngay cả lúc sắp chết vẫn có thể khuynh đảo người ái mộ.  Người đàn ông biết nàng có nhiều tình nhân, nhưng có lẽ ông là người tình cuối cùng, vì nàng sắp chết. 

“Anh ủ hai bàn chân em giùm.  Chúng cô đơn quá em chịu không nổi.”

Đôi bàn chân trần làm người đàn ông cảm thấy xao xuyến.  Mỹ nhân đầy nữ tính.

“Anh nghĩ có điều gì thiếu sót trong cuộc tình của chúng ta, nên chúng ta không còn ghen tuông nữa.  Nhưng khi em chết rồi thì có thể những chuyện làm anh ghen sẽ xuất hiện.  Từ một nơi nào đó.”

Nói xong, nàng lìa đời.

Một nam diễn viên của một kịch viện mới thành lập đến nhà quàn.  Anh ta trang điểm khiến thi hài nàng trở nên đẹp lộng lẫy, giống như người đàn bà thời anh ta bắt đầu yêu.  Sau đó, một họa sĩ đến trát thạch cao lên mặt nàng để làm một cái mặt nạ.  Dường như vì ghen tuông, anh họa sĩ đã bóp nghẹt sự sống của cái thi hài đầy son phấn mới đây.  Người đàn ông kể chuyện thấy, cảm giác vinh quang chiến thắng mọi tình địch, vì người đẹp đã chết trong vòng tay của ông, cũng không còn.

Cái mặt nạ chết của người phụ nữ đẹp trông không giống đàn ông cũng chẳng giống đàn bà.  Người đàn ông thấy thất vọng.  Ông ta nghĩ cái mặt nạ chết ít ra cũng phải có chút nữ tính bởi vì người yêu của ông tràn đầy nữ tính.

“Cả cuộc đời nàng là một vở kịch bi thương về niềm vui được làm đàn bà.  Cho đến lúc thở hơi cuối cùng, nàng luôn luôn là một người đàn bà có quá nhiều nữ tính.” Ông ta chìa tay ra, có cảm giác như thể một cơn ác mộng vừa tan biến.  “Nếu cuối cùng, nàng đã thoát khỏi cái bi kịch này, thì chúng ta có thể bắt tay, ngay bây giờ và ngay ở đây, trước cái mặt nạ chết mà chúng ta không thể phân biệt được đây là khuôn mặt của một người đàn ông hay một người đàn bà.

Qua cái mặt nạ chết, Kawabata cho người đọc nhìn thấy sự vô thường của đời người.  Ngay cả cái nữ tính của người đẹp, một thời khuynh đảo đàn ông, cũng không ghi lại được bằng mặt nạ.

Mặt nạ chết khiến tôi nhớ đến cái mặt nạ màu đỏ của Tử Thần.

The Masque of the Red Death

Đây là một truyện ngắn của Edgar Allan Poe (1809-1849) xuất bản năm 1842.  Vương quốc của hoàng tử Prospero đang trải qua cơn đại dịch.  Cơn dịch này theo lời miêu tả của Poe thì nó có triệu chứng giống như bệnh Ebola của thời bây giờ.  Bệnh nhân bị sốt, nhức đầu, sau đó thất khiếu bị chảy máu.  Để chạy trốn cơn đại dịch đang giết hại vô số người, hoàng tử Prospero ra lệnh cho mời họ hàng thân thích, quan lại, vương tôn công tử, hầu cận giúp việc, tập hợp lại trong lâu đài của hoàng tử để sống cách ly.  Những người được mời là những người có thể phục vụ ông hoàng và guồng máy của triều đình trong một thời gian dài.  Sau đó hoàng tử cho đóng cửa thành, nội bất xuất, ngoại bất nhập. 

Triều đình sống như thế được vài tháng thì hoàng tử cảm thấy buồn chán, ngài ra lệnh tổ chức đại tiệc, có dạ vũ hóa trang.  Lâu đài rộng lớn của hoàng tử được chia ra 7 khu vực, mỗi khu vực có một hành lang rất dài dẫn đến 7 cung điện nhỏ hơn.  Mỗi hành lang và cung điện được trang trí bằng một gam màu chủ đạo.  Xanh trời, tím, xanh lục, cam, trắng, và đen.  Mỗi cung điện đều có cửa sổ bằng kính cùng màu với thảm, màn, và cờ phiến.  Duy chỉ có cung điện màu đen thì kính cửa sổ không cùng với màu chủ đạo mà lại mang màu đỏ huyết dụ.  Cung điện này, đặc biệt không có đèn đuốc như các cung điện khác.  Các bức màn phủ từ trần xuống nền nhà làm bằng nhung gấm đen tuyền.  Giữa điện có một bộ lư ba chân, bên trong lư lửa đang cháy.  Ánh lửa lập lòe chiếu lên trên các vật dụng bằng vàng và cửa sổ kính màu huyết dụ tạo thành những hình ảnh ma quái.  Ở giữa điện có cái đồng hồ con lắc khổng lồ.  Tiếng vận chuyển máy móc của đồng hồ và tiếng chuông điểm giờ tạo thành bản nhạc, âm thanh rất vang dội và kỳ quái khiến người nghe cảm thấy bất an.  Lệnh của hoàng tử là những người tham dự buổi dạ vũ phải hóa trang cho thật lạ, càng kỳ quặc càng tốt.

Nhạc luân vũ rộn ràng, nhưng khi tiếng nhạc tạm ngưng, và tiếng chuông đồng hồ vừa dứt điểm, cả cung điện rơi vào sự im lặng vô biên thì mọi người phát hiện ra một nhân vật kỳ lạ.  Đó là một người rất cao và rất gầy.  Y phục là cái áo choàng màu đỏ như máu phủ từ trên đầu xuống dưới dân.  Trên mặt cũng đeo một cái mặt nạ màu đỏ chỉ chừa đôi chân mày rất rậm.  Cách trang phục và đặc biệt màu đỏ nhắc nhở đến cơn đại dịch làm Hoàng tử cảm thấy bị nhạo báng.  Nổi giận, ông ra lệnh bắt kẻ mặc áo choàng đỏ và mang mặt nạ đỏ đến trước mặt để ông xử tội.  Tuy vậy không ai dám đến gần kẻ áo đỏ.  Hắn đi đến đâu, người ta vẹt ra đến đấy.  Hắn thong thả bỏ đi, lúc ấy Hoàng tử đang đứng ở cung điện màu xanh, ngang chỗ Hoàng tử đứng và tiến về cung điện màu đen.  Sau vài phút, Hoàng tử hoàn hồn nhận ra sự sợ hãi của mình, ông rút kiếm rượt theo kẻ mặc áo choàng đỏ và đeo mặt nạ đỏ.

Cây gươm chưa kịp chạm đến kẻ áo đỏ thì hoàng tử Prospero đã ngã vật ra mà chết.  Binh tướng lao vào cung điện màu đen cùng lượt ập vào để bắt cho kẻ áo đỏ lúc ấy hắn vẫn đứng uy nghi, yên lặng bên cạnh cái đồng hồ quả lắc khổng lồ.  Bọn quân sĩ đưa tay lột cái mặt nạ màu đỏ thì nhận ra rằng đằng sau cái mặt nạ ấy chỉ là một khoảng không. 

“Giờ đây người ta nhận ra sự hiện diện của Tử Thần Đỏ.  Người đến như kẻ trộm trong bóng đêm. Những người tham dự buổi dạ vũ đêm ấy lần lượt ngã xuống, trong các cung điện dính đầy máu xuất ra từ thân thể họ, chết trong tư thế đầy tuyệt vọng.  Cái đồng hồ quả lắc khổng lồ cũng thở hơi cuối cùng sau khi điểm giờ một cách vui vẻ.  Ngọn lửa trong bộ lư ba chân cũng tàn lụi đi.  Bóng tối, sự tan rữa của máu thịt và Tử Thần Đỏ hoàn toàn thống trị lâu đài.”[6]

Người phía sau mặt nạ và người mang căn cước mặt nạ

Lệ thường, chúng ta cho rằng người mang mặt nạ có căn cước khác với người đằng sau cái mặt nạ.  Thí dụ như, đối với người xem phim khi chưa biết tông tích Người dơi Batman, thì Batman Bruce Wayne là hai người khác nhau.  Tương tự, Người Nhện và Peter Parker.  Chúng ta cũng phân biệt, người thật và người đeo mặt nạ.  Người giao tiếp với xã hội không đeo mặt nạ là người thật.  Người dơi và người nhện là người đeo mặt nạ. 

Có một câu nói, hay đó là một bài thơ haiku tôi không chắc lắm, của ông Basho: 

“Year by year, the monkey’s mask reveals the monkey”[7]

Có nghĩa là lâu ngày, con vượn đeo cái mặt nạ sẽ để lộ nó là con vượn.  Vì con vượn quên cảnh giác, quên là nó mang một cái căn cước khác nên trở lại với bản chất ban đầu, con người thật của nó?

Oscar Wilde cũng có một câu gần giống như vậy.

Man is least himself when he talks in his own person. Give him a mask, and he will tell you the truth.”Oscar Wilde

Tạm dịch là: – Con người ít thật thà khi tự nói về bản thân.  Cho anh ta đeo một cái mặt nạ, và anh ta sẽ nói sự thật.

Có một trường hợp ngược lại.  Một người diễn viên đóng vai vua một thời gian, nhập vai, đã suy nghĩ, quyết định, cư xử như thể mình là vua thật. 

Phim Masquerade (Giả Dạng) của Nam Hàn do đạo diễn Choo Chang-min thực hiện.  Phim rất nổi tiếng và được nhiều giải thưởng.  Vua Hàn Gwang-hae vào triều đại Joseon lo sợ bị kẻ địch ám sát, nên bảo vị tướng trung thành Heo Gyun tìm một người đóng vai thay thế nhà vua.  Ông quan tìm được một anh diễn viên hài, có diện mạo rất giống vua đem về thế chỗ.  Ông dạy anh diễn viên các cư xử, đàm thoại, lễ tân và anh diễn viên làm rất được việc.  Ông vua thật là người ích kỷ, tàn ác, ngược đãi người chung quanh ai cũng sợ và ghét.  Anh diễn viên, tuy làm vua giả nhưng rất tốt, thật lòng yêu nước thương dân nên ai cũng quí mến.  Vua thật bị trúng độc, không chết nhưng phải chữa bệnh một thời gian dài.  Triều đình thì thối nát, quan lại lũng đoạn hèn nhát, một số quan kết hợp với nhau âm mưu soán ngôi vua.  Anh vua giả được lệnh là không nói nhiều, chỉ ừ hử vâng dạ trước một số luật dâng lên cho anh ký thay thế nhà vua.  Tuy nhiên anh lại cư xử như mình là một vị vua thật, một đấng minh quân, nhất quyết ra lệnh ngược lại để chống kẻ địch xâm lăng nước nhà.  Vì (trên danh nghĩa) mạo danh vua nên khi vua thật trở lại ngôi, anh có thể mang tội chết.  Nhưng vì cách cư xử như một đấng minh quân, nên quan tổng thái giám cảm động, xin vua tha tội và đưa anh đi về một miền quê khác sống yên bình.  Câu chuyện phim có phần nào tương tự với phim Người mang mặt nạ sắt của Randall Wallace dựa vào truyện của Dumas.

Mặt nạ có nhiều hình thức. Dù để tôn thờ, thực dụng, trình diễn, hay vui chơi, chúng đều giữ vai trò quan trọng trong lịch sử loài người.  Mặt nạ cho phép người đeo mặt nạ được thay đổi bản sắc, biến thành một con người khác.  Mặt nạ cũng giúp người ta nhận ra bản sắc thật của họ.  Mặt nạ giúp người ta trốn tránh pháp luật.  Mặt nạ cũng có thể giúp người ta xử sự công lý khi pháp luật không đưa công lý đến với mọi người.  Đa số các nền văn hóa trên thế giới đều dùng mặt nạ.  Tôi chưa nói đến trường hợp người ta mang mặt nạ để ăn cướp.  Nhiều quá không thể ghép chung vào bài này.  Xin hẹn dịp khác nếu người đọc không chán

Viết xong ngày 20 tháng Ba năm 2021

Nguyễn thị Hải Hà


[1] De Maupassant, Guy.  The Mask.  The Necklace and Other Stories, pp. 214-20. ©2004 Ann Arbor Media Group, LLC, Border Classics, MI

[2] Những chữ in nghiêng là của Nguyễn thị Hải Hà dịch từ nguyên tác.

[3] page 153.  “Confessions of a Mask”  Yukio Mishia, translated by Meredith Weatherby. ©1958 by New Directions Publishing Corporation.

[4] Yasunari Kawabata. Snow Country. ©Alfred A. Knopf, Inc. 1984

[5] Yasunari Kawabata, Palm-of-the-Hand Stories, © 1988 trs. by Lane Dunlop and J. Martin Holman, © Hite Kawabata. Farrar, Straus and Giroux, New York. p. 164-6.

[6] “The Masque of the Red Death” trích trong tuyển tập  In the Shadow of the Master, classic tales by Edgar Allen Poe, do Michael Connelly biên soạn, trang 228. ©2009 by Mystery Writers of America, Inc.  Harper Collins Book, NY.

[7] https://quotes.yourdictionary.com/author/matsuo-basho/1437

Màu xanh lá cây

Mùa này chung quanh nhà tôi màu sắc rất đẹp. Khí trời trong trẻo, bầu trời xanh màu blue nhạt. Bảy hay tám cây Eastern Redbud nở màu tím, tím nhạt, hay hồng nhạt. Mấy cây dogwood trổ hoa trắng ngà, nhụy màu xanh lá cây. Cây (tôi tưởng là cherry) crabapple vẫn còn lác đác hoa trắng xen trong lá xanh. Dưới đất cỏ đầy hoa tím (violet) và trắng. Đặc biệt là màu xanh lá cây của các bụi rậm, lá non của cây sồi cây phong, hoa và trái non của cây sồi cây phong. Màu xanh non, sáng lóng lánh, khiến tôi nghĩ đến chữ biếc.

Khi em đến nằm ngoan trên cỏ biếc (Kỳ Diệu – Nguyên Sa)

Mùa xuân là mùa của cỏ non. Thơ xưa, từ Kiều của Nguyễn Du đến Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu đều nhắc đến màu xanh của lá cây, của cỏ non.

Cỏ non xanh rợn chân trời. Cành lê trắng điểm một vài bông hoa (Kiều – Nguyễn Du)

Phương thảo thê thê Anh Vũ châu (Hoàng hạc lâu – Thôi Hiệu)
Bãi xa Anh Vũ xanh dày cỏ non (Tản Đà dịch)

Và một câu thơ nói về cỏ xanh của mùa xuân trong bài thơ nói về cái hay, đẹp, tuyệt diệu của bốn mùa hầu như ai cũng biết (nhưng tôi không biết tên tác giả)

Xuân du phương thảo địa. Mùa xuân đi chơi vùng cỏ thơm.

Còn nhiều câu thơ ca tụng vẻ đẹp của màu xanh lá cây. Hàn Mặc Tử với “Sóng cỏ non xanh gợn tới trời” “vườn ai mướt quá xanh như ngọc.” Xuân Diệu với:

Nụ Cười Xuân
Tóc liễu buông xanh quá mỹ miều
Bên màu hoa mới thắm như kêu; 
Nỗi gì âu yếm qua không khí, 
Như thoảng đưa mùi hương mến yêu. 
(Xuân Diệu) 

Đọc câu thơ của Hàn Mặc Tử ví màu xanh lá cây với màu ngọc, theo bạn ở đây là ngọc gì? Tôi nghĩ đến Emerald, tên một loài ngọc và cũng là tên của một thành phố tưởng tượng trong phim “The Wizard of Oz”. Cái thành phố xanh biếc, cái gì cũng màu xanh lá cây kể cả nước uống lemonade, cô bé Dorothy đến để tìm người giúp cô trở về quê nhà.

Hoa cây phong
Cỏ và hoa bloodroots vàng
Virginia bluebells
Con đường xanh phủ đầy hoa cây phong
Một mình soi bóng
Trái cây phong còn non
Đọt cây ở phía sau shopping mall trên đồi Warren
Lá phong non
Lá dogwood

Mặt nạ trong Carnaval của Murakami

Tôi viết xong bài “Tương quan của mặt thật và mặt nạ” vài tuần thì được đọc bài “Carnaval,” trong tuyển tập truyện ngắn mới phát hành, có tựa đề “First Person Singular” của Haruki Murakami. Trong truyện “Carnaval” có một đoạn ngắn nhắc đến mặt nạ.

“All of us, more or less, wear masks. Because without masks we can’t survive in this violent world. Beneath an evil-spirit mask lies the natural face of an angel, beneath an angel’s mask lies the face of an evil spirit. It’s impossible to have just one or the other. That’s who we are. And that’s Carnaval. Schumann was able to see the many faces of humanity – the masks and the real faces – because he himself was a deeply divided soul, a person who lived in the stiffling gap in between the two.”

. . .

Perhaps what she really wanted to say was an ugly mask and a beautiful face beneath it – a beautiful mask and an ugly face. This thought struck me at the time. Maybe she was really talking about some aspect of herself.

For some people, the mask might become so tightly stuck that they can’t remove it,” I said.

“Though no one can ever see it.”

She shook her head. “There must be people who can. Surely there must be, somewhere.”

“Yes,” she said quietly. “Maybe that’s true.” She gave a faint smile. “But even if a mask gets stuck and can’t be removed, that doesn’t change the fact that beneath it, the real face remains.”

Dưới đây là bản dịch của Nguyễn Thị Hải Hà. Bạn đọc thông cảm nếu thấy bản dịch vụng về. Tôi dịch để giúp một số bạn không đọc thạo tiếng Anh.

Tất cả chúng ta, dù nhiều hay ít, đều mang mặt nạ.  Bởi vì không có mặt nạ thì chúng tha không thể sống còn trong thế giới bạo động này.  Bên dưới lớp mặt nạ ác quỷ là bộ mặt tự nhiên của thiên thần, bên dưới lớp mặt nạ thiên thần là bộ mặt của ác quỷ.  Không thể nào chỉ có bộ mặt này mà không có bộ mặt kia.  Bản chất của chúng ta là như thế.  Đó cũng là tính chất bộ nhạc kịch Carnaval của Schumann.  Ông ấy có khả năng nhìn thấy nhiều bộ mặt của nhân loại – mặt nạ và mặt thật – bởi vì ông ấy có một tâm hồn bị phân cách rất sâu xa, là một người sống trong cái khoảng cách cứng ngắc và chật chội giữa hai bộ mặt, mặt thật và mặt nạ.

. . .

Có lẽ điều cô ấy thật sự muốn nói là cái mặt nạ xấu xí đi đôi với khuôn mặt xinh đẹp nằm bên dưới cái mặt nạ, và ngược lại, một cái mặt nạ xinh đẹp đi với khuôn mặt xấu xí.

“Với một số người, mặt nạ có thể bị dính chặt đến độ họ không thể tháo nó ra,” Tôi (nhân vật xưng tôi trong truyện Carnaval) nói.

Ý nghĩ này đeo đẳng tôi lúc ấy.  Có lẽ cô ấy đang nói đến một vài khía cạnh về tính tình của cô ấy.

“Vâng,” cô nói nhỏ nhẹ.  “Có lẽ đúng như vậy.”  Cô thoáng mỉm cười.  “Nhưng, nếu như cái mặt nạ dính chặt quá đến độ không thể tháo ra, điều này vẫn không thể thay đổi một sự thật là đằng sau lớp mặt nạ, cái mặt thật thì vẫn là mặt thật.”

“Mặc dù không ai có thể nhìn thấy nó bao giờ.”

Cô lắc đầu.  “Sẽ có người nhìn thấy.  Chắc chắn là sẽ có, ở đâu đó.”

Cũng giống như tuyển tập truyện ngắn của Haruki Murakami trước đây, chỉ vài ngày sau khi sách chính thức phát hành thì tôi nhận được sách thư viện cho mượn. Trước khi sách về thì tên tôi sắp hàng thứ nhì trong số danh sách người chờ được mượn sách, nhưng có lẽ vì thư viện mua nhiều quyển nên người thứ nhất và người thứ nhì đều nhận được sách cùng một lúc.

Tuyển tập truyện ngắn này rất hay. Hầu như truyện nào cũng để lại một ấn tượng tốt, khiến tôi không khỏi gật gù công nhận ông là nhà viết truyện tài hoa. Cách viết truyện hoang đường (fantasy) của Murakami rất đặc sắc, tôi dám bạo gan quả quyết ông là một trong những nhà văn viết truyện hoang đường hay nhất trên thế giới hiện nay.

Tôi trích một hai đoạn trong truyện Carnaval vì nó có liên quan đến mặt nạ, coi như để dành, vì không kịp để ghép vào bài sưu tầm và tổng hợp đã viết xong. Thật ra, truyện mà tôi thích nhất trong tuyển tập truyện ngắn này là truyện “Charlie Parker Plays Bossa Nova.” Không thích nó nhất vì nội dung của truyện mà vì cách dựng truyện hoang đường của tác giả.

Nhân vật xưng Tôi, (khiến người đọc nghĩ nhân vật là Murakami, trong bài này tôi sẽ dùng Murakami thay vì nhân vật tôi nghe dài dòng) bịa ra một câu chuyện. Đó là một bài review về một đĩa nhạc Charlie Parker trình diễn nhạc jazz theo phong cách Bossa Nova. Murakami gọi Parker bằng nickname Bird. Bài review nhạc được viết vào thời điểm 1963, mà Bird đã chết (hay biến mất) vào năm 1955. Murakami bịa cả buổi trình diễn được thu vào đĩa nhựa có tựa đề, Charlie Parker Plays Bossa Nova. Đĩa nhạc có 2 mặt. Mặt A có bài đầu tiên tựa đề là “Corcovado.” Murakami bịa hay quá nên bài được trả tiền, dù ông chủ báo nhận ra đây là bài review hoàn toàn bịa.

Nhiều năm sau, Murakami, trong một buổi tối lang thang lạc vào một tiệm bán đĩa nhạc thì thấy đĩa nhạc “Charlie Parker Plays Bossa Nova.” Murakami nghĩ thầm bài review mình viết là chuyện bịa vậy thì có lẽ sau đó có người dựa vào truyện bịa làm ra đĩa nhạc này. Giá đĩa nhạc hơi đắt nên Murakami không mua tối hôm ấy. Sáng hôm sau, Murakami trở lại tiệm bán đĩa nhạc thì tìm không ra đĩa nhạc. Người chủ tiệm cả quyết ông ta không có đĩa nhạc mang tên như vậy bao giờ.

Nhiều năm sau nữa, Murakami nằm mơ thấy Bird trình diễn bản “Corcovado” chỉ riêng cho mỗi mình Murakami nghe. Bird bảo rằng để cảm ơn Murakami đã “cho” Bird được trình diễn Corcovado sau khi Bird đã chết. Trong lúc xem Bird trình diễn Corcovado, Murakami ngửi thấy mùi cà phê và biết mình đang nằm mơ.

Ngoài sự hiểu biết vừa sâu vừa rộng về âm nhạc, jazz cũng như cổ điển Tây phương, khiến truyện hấp dẫn, cái cách Murakami biến chuyện bịa thành chuyện thật, và từ thật thành không thật, thật thành mơ, mơ như thật làm tôi không thể ngừng nửa chừng. Vẫn chủ đề cũ nhưng đọc vẫn còn quyến rũ như mới đọc lần đầu. Ngoài ra, thỉnh thoảng tôi thấy vài câu hay ở những truyện ngắn khác.

“Your brain is made to think about difficult things. To help you get to a point where you understand something that you didn’t understand at first. And that becomes the cream of your life. The rest is boring and worthless.” (Cream)

“Loving someone is like having a mental illness that’s not covered by health insurance.” (On a Stone Pillow)

Để người ta tưởng mình còn trẻ

Trích đoạn trong Tương quan giữa mặt nạ và mặt thật. Bài này đã lên trang Gió O. Bài khá dài. Ở đây tôi chỉ đăng phần mở đầu và một phần nhỏ lược thuật và dịch từ The Mask của Guy de Maupassant.

Tác giả:  Nguyễn thị Hải Hà

Nếu không có COVID-19 có lẽ tôi không bao giờ đeo khẩu trang ra nơi công cộng.  Khẩu trang tiếng Anh là mask.  Tuy vậy, chữ mask còn được dùng để chỉ mặt nạ.  Khẩu trang được dùng để che miệng và mũi, trong thời dịch bệnh Covid, được dùng để bảo vệ cơ thể chống bệnh xâm nhập.  Mặt nạ có khi che hết khuôn mặt, như mặt nạ Guy Fawkes, có khi chỉ che ở vùng đôi mắt, như mặt nạ Zorro.  Mặt nạ Zorro còn có tên là Domino.

Lịch sử của mặt nạ

Mặt nạ xuất hiện từ bao giờ không ai biết rõ, có lẽ một thời gian ngắn sau khi có con người.  Mặt nạ xưa nhất được tìm thấy làm bằng đá, khoảng 7000 năm trước Công Nguyên, được cất giữ ở viện bảo tàng “Bible et Terre Sainte” (Paris), và Israel (Jerusalem).  Tuy vậy, có thể mặt nạ xuất hiện từ thời xưa hơn nữa, khoảng 30 ngàn cho đến 40 ngàn năm, nhưng vì vật dụng thô sơ, làm bằng đất đá, hay gỗ, nên không tồn tại.

Cách dùng phổ thông của mặt nạ

Thời cổ, mặt nạ được dùng trong các lễ nghi tôn giáo.  Mặt nạ còn được dùng để bảo vệ người đi săn, chơi thể thao, hoặc đấu gươm.  Trong những buổi lễ hội của Hy Lạp thời xưa, thí dụ như lễ BacchanaliaDyonius, người tham dự lễ hội được khuyến khích mang mặt nạ hóa trang.  Để tất cả mọi người được vui chơi thỏa thích, không phân biệt đẳng cấp, không lo sợ bị bắt phạt vì say rượu (và có những hành vi không đúng với giai cấp hay tục lệ) người dự tiệc được khuyến khích hay cho phép mang mặt nạ.  Từ năm 1268, ở lễ hội Carnival of Venice, tất cả mọi người ở đằng sau cái mặt nạ đều được xem là bình đẳng. 

Có rất nhiều cách dùng mặt nạ.  Trong phạm vi bài sưu tầm và tổng hợp này, tôi xin chỉ kể lại vài cách dùng mặt nạ trong truyện và phim ảnh.

Đeo Mặt Nạ để biến thành người khác

Không những để che dấu mặt thật, mặt nạ có thể biến người đeo mặt nạ thành người khác, một người trẻ tuổi, đẹp trai, khiêu vũ điêu luyện mà người ta mơ ước.  Đó là trường hợp nhân vật không có tên, trong truyện ngắn The Mask của Guy de Maupassant[1].

Trong một buổi khiêu vũ hóa trang ở Elysee-Montmartre, giữa rừng người trẻ đẹp sang trọng, “có một người bộ tướng gầy gò, ăn mặc đỏm dáng, đeo cái mặt nạ sơn bóng loáng có bộ ria mép vàng, và bộ tóc giả dợn sóng.  Anh ta trông giống như một pho tượng bằng sáp trong Viện Bảo Tàng Grevin, hay giống như một bức tranh trào lộng vẽ một chàng trai duyên dáng trong tập ảnh thời trang.  Anh ta khiêu vũ một cách gắng gượng, sôi nổi nhưng rất vụng về nên trông khá buồn cười.  Anh ta có vẻ như đã lụt nghề khi cố bắt chước những bước khiêu vũ tân kỳ của những người bên cạnh: dường như anh ta bị chứng bệnh thấp khớp, chậm chạp như con chó Dane đang nô đùa với chó greyhound.  Những lời khen tặng giả vờ đầy chế nhạo lại càng làm anh ta hăng chí.  Trong lúc phấn khởi quá đáng anh ta múa may quay cuồng tíu tít lên, rồi vì quá trớn nên bất thình lình nhào đầu vào hàng người đang xem khiêu vũ.  Họ vẹt ra tránh đường cho anh ta, rồi tụm lại bao chung quanh thân hình bất động của người khiêu vũ đang nằm úp mặt xuống đất.”[2]

Người ta gọi bác sĩ, chữa anh ta tạm thời, và đưa anh ta về nhà.  Anh ta ở trong một khu nhà tồi tàn, tầng thứ tư của một chung cư.  Một bà cụ tóc bạc ra mở cửa.  Mặc dù bác sĩ lo ngại rằng anh ta vẫn đang mê man, nhưng bà cụ, có vẻ quá quen với chuyện xảy ra, bảo chồng bà chẳng hề gì đâu, chẳng qua ông ấy uống quá chén và bỏ bữa ăn tối để có thể khiêu vũ nhanh nhẹn hơn.  Vị bác sĩ ngạc nhiên hỏi thêm.

“Tại sao đã ngần ấy tuổi ông ấy lại khiêu vũ cuồng loạn như thế?”

Bà cụ nhún vai, và đỏ mặt vì cơn giận đang từ từ trồi lên.  Bà kêu:

“Tại sao à?  Bởi vì ông ấy muốn người ta nghĩ là ông ấy vẫn còn trẻ đằng sau cái mặt nạ; để đám đàn bà con gái vẫn nghĩ rằng ông ta là một gã trai sung sức và thì thầm những lời trăng hoa vào tai ông ta; để ông ta ve vuốt làn da nhơ nhớp đầy nước hoa và son phấn của họ.  Ồ, đó là một chuyện đổi chác tuyệt vời! Thật đáng buồn cho tôi trong suốt bốn mươi năm cuối đời này!”

Tuy giận ông chồng ham vui, bà vẫn rất yêu chồng.  Bà lau mặt và chải tóc cho chồng.  Mặt nạ tháo ra để lộ mái tóc trắng của ông.  Bà bào chữa cho ông, “giá mà quí vị nhìn thấy ông ấy hồi ông ấy hai mươi lăm tuổi.” Bà cụ quen với ông cụ trong một buổi khiêu vũ.  Mặc dù bản tính thích theo đuổi giai nhân của chồng làm bà rất đau lòng, bà không bao giờ than phiền.  Mỗi lần ông chinh phục được một người đẹp ông lại về nhà khoe với vợ như một con công khoe mấy cọng lông đuôi đẹp, cho đến lúc ông trở nên già nua, đàn bà không còn chú ý đến ông nữa.  Ông bỏ cả công ăn việc làm, thay đổi nghề, chọn những nghề có thể giúp ông tiếp xúc với phụ nữ (như nghề làm mũ cho phụ nữ) để được phụ nữ chú ý, cho đến khi ông khám phá rằng ông có thể đeo mặt nạ, che dấu vẻ già nua và tham dự các buổi khiêu vũ hóa trang.

“Giờ thì quí vị đã thấy việc ông ấy làm.  Cái thói quen này đã bám cứng ông ấy.  Ông phải trẻ trung; phải khiêu vũ với các bà các cô, những người thơm phưng phức mùi nước hoa và son phấn.  Tội nghiệp ông chồng già của tôi.”


[1] De Maupassant, Guy.  The Mask.  The Necklace and Other Stories, pp. 214-20. ©2004 Ann Arbor Media Group, LLC, Border Classics, MI

[2] Những chữ in nghiêng là của Nguyễn thị Hải Hà dịch từ nguyên tác.

Đường Xanh

Người về một bóng trên đường vắng. (Thơ Tô Thùy Yên)

Hai bên đường hoa dại nở đầy

To see a World in a Grain of Sand
And a Heaven in a Wild Flower
Hold Infinity in the palm of your hand
And Eternity in an hour
William  Blake, ‘Auguries of Innocence’
Nhìn thấy Vũ Trụ trong một Hạt Cát
Và Thiên đường trong đóa Hoa Mọc Hoang
Nắm Vô Tận trong lòng bàn tay
Và gom Thiên Thu lại trong một giờ
Nguyễn thị Hải Hà dịch

Trích in “Seven Flowers and how they shaped our world” Jennifer Potter

Mùa ngỗng ấp trứng

New Jersey đang có những ngày đẹp nhất trong năm. Bạn hãy tin tôi khi tôi nói rằng cảnh bên ngoài đẹp hơn những bức ảnh tôi chụp bởi vì tôi không đủ tài thu vào tấm ảnh ánh nắng xiên xiên, và mắt người luôn luôn tài ba hơn mắt của máy ảnh biết cách nhận vào chỗ này và lọc ra chỗ khác, nhìn thấy độ sâu khác nhau trong khi mắt ảnh chỉ thấy một mặt phẳng lì.

Mùa này có gì? Hoa dogwood trắng nở nhiều. Sau nhà tôi cũng có vài cây dogwood mọc hoang. Hoa nhỏ hơn bình thường, nhìn xa như những cái chung uống rượu bé tí. Eastern redbud cũng nở chi chít kín cả cây, lúc mới ra hoa màu tím sậm, xong tím nhạt, rồi hồng nhạt. Chưa nở trắng đâu, phải chờ lúc gần tàn. Mỗi nụ hoa bé bé như hạt đậu màu tím nhạt sang hồng nhạt. Redbug thì tôi cũng có chừng 5 hay 6 cây, tự mọc, mùa này nhìn chung quanh, nhà mình và nhà hàng xóm hoa redbug nở tím rịm e ấp phía sau các cây khác, hay sau chái nhà, trông rất xinh xắn.

Người Mỹ say mê hoa anh đào (Nhật) nên xem thường hoa địa phương. Dogwood và eastern redbug có thể tự lớn vì hợp nắng gió không cần phải chăm sóc nhiều. Anh đào rũ coi vậy chứ không dễ trồng. Nhà bà chị chồng mua hai cây đem về trồng lần lượt chết cả hai. Cứ đem trồng dogwood và eastern redbug gần nhau, và thật nhiều, mỗi lần đến mùa hoa nở cũng ấn tượng lắm. Mỗi hoa có nét đẹp riêng. Dogwood hồng cho người xem cảm giác thong thả rộng rãi, như thể loài hoa cho nhau khoảng cách cá nhân, để không cảm thấy bị lấn áp, chen chúc, đến không thể cựa quậy như hoa anh đào kép. Chả trách ông Collingwood đã dùng chữ vulgar để chỉ trích hoa Kanzan.

Eastern redbud
Dogwood còn gọi là hanamizuki (tiếng Nhật) nghĩa là cây đáp lễ
Cherry

Mùa này cũng là mùa ngỗng Canada ấp trứng. Dọc bờ kênh Delaware and Raritan Canal, từ Canal Park đến Landing dài khoảng 5 mile(s) (8km) tôi đếm có khoảng 5 con ngỗng đang ấp trứng. Loài ngỗng này rất hay. Chúng thường hay đi một cặp nếu không đi nguyên bầy. Trong hai con có một con “nói” nhiều hơn, không phải nói rủ rỉ rù rì, mà là kiểu la mắng, cổ vươn ra nằm song song với mặt đất, mồm tía lia không ngừng. Con kia làm thinh, đang ăn thì cứ ăn, đang đi thì cứ đi, dường như nó đã bị điếc từ lâu. Loài ngỗng này tôi không đoán được con nào là trống con nào là mái. Có khi thấy một con có cổ mập hơn cổ con kia, tôi đoán bừa, con cổ mập là con mái, vì nó ăn nhiều, dự trữ để đẻ trứng. Trong hai con có một con dữ hơn, nếu người đến gần nó sẽ đe dọa, tấn công, kêu khè khè. Nếu một con ngỗng khác đến gần nó sẽ nghênh chiến. Tôi đoán đó là ngỗng trống. Loài ngỗng Canada này trống mái đều có màu như nhau.

Khi ngỗng mái ấp trứng, ngỗng trống luôn luôn ở gần đó. Mỗi khi thấy một con ngỗng ngồi đứng có vẻ đơn lẻ, tôi tìm chung quanh, không gần lắm chừng mười hay hai mươi mét, trên bờ kênh bên kia, chỗ loài người không thể đến gần, thế nào cũng có con ngỗng mái đang ấp trứng. Tôi nhớ đọc đâu đó là ngỗng trống thỉnh thoảng cũng ấp trứng để ngỗng mái đi ăn. Nhìn chúng, tôi khâm phục tạo hóa xếp đặt, loài vật cũng biết cách giữ gìn nòi giống, bảo vệ gia đình.

Mỗi con ngỗng đẻ chừng 3 hay 5 trứng. Hễ đẻ ở đâu thì nhận chỗ đó làm quê hương. Đi kiếm ăn ở chỗ xa lạ nhưng đến mùa là bay về chỗ sinh ra để sinh con. Trong phim Fly Away Home, người ta có thể vì muốn gây ấn tượng mạnh với độc giả nên để cô bé tìm thấy trứng ngỗng bị bỏ rơi (vì mẹ ngỗng sợ cây ngã đè bay đi, hay đã bị chết) đem về ấp nở ra độ 15 con. Phải ba hay năm cái ổ ngỗng mới có nhiều trứng như thế. Cô đem ấp ngỗng nở thành con, về sau thuê người, thuê máy bay dạy đàn ngỗng bay để đi tìm thức ăn, hằng năm đàn ngỗng trở về quê thăm “má” của chúng.

Hình như tôi đã kể rồi, già nên hay quên nói chuyện gì cứ nói hoài, lập đi lập lại câu chuyện cũ.

Người Ai Cập thời cổ xưa nuôi ngỗng để ăn thịt và cũng để tế thần.  Đặc biệt là thờ thần Geb, chúa tể của trần gian và âm cung.  Ông là cha của Isis.  Gan ngỗng là món ăn ngon, delicacy. Dân Tây nuôi ngỗng vỗ thật béo chỉ để thu hoạch gan ngỗng làm món ăn ngon cho đời thưởng thức. Thời chưa có bút, ống lông ngỗng được chuốt nhọn làm bút lông.  Ống lông ngỗng được luyện cho cứng rắn bằng cách nhúng vào tro nóng hay nước sôi.  Lông ngỗng, lớp lông mao mềm bên trong lớp lông vũ cứng còn gọi là down, được dùng để dồn vào gối, mền, nệm hay áo ấm. Mền down là loại mền đắt tiền.

Thời La Mã cổ xưa, ngỗng được dùng làm quà tế nữ thần Juno, vợ của Jupiter. Juno được xem là vị thần bảo vệ thủ phủ La Mã.  Năm 390 trước Công Nguyên, La Mã bị Gauls xâm lấn.  Dân trong thành đã bỏ chạy trước, chỉ còn một nhóm nhỏ ở lại giữ thành.  Quân Gauls bao vây thành và một đêm kia lẻn vào thành. Đoàn quân khéo léo, nhẹ nhàng nên quân lính và đàn chó trong thành không phát giác được.  Tuy vậy, đàn ngỗng nghe tiếng động kêu quang quác, rồi khè khè (tiếng kêu khi chúng tấn công), và quạt cánh thật mạnh, đánh thức Marcuas Manlius trưởng đoàn quân trong thành.  Ông ta hất đẩy quân giặc (đang trèo vào thành) xuống vực thẳm.  Thành phố cuối cùng được giải thoát.  Hơn 450 năm sau, Pliny (nhà văn chuyên viết huyền thoại) cho biết vị thủ lãnh của thành phố đã ra lệnh mọi người phải cho đàn ngỗng, lễ tế Juno, luôn luôn được cho ăn đầy đủ.

Ngỗng đang ấp trứng dưới chân cầu bên trong cái bánh xe răng cưa khổng lồ, một bộ phận trong bộ máy quay cầu, nay không còn dùng nữa. Chỗ này gần khu chung cư, nhiều người tò mò đến xem nhưng may mắn là không ai phá hoại tổ, lấy trứng.
Một cặp ngỗng. Ngỗng trống luôn ở gần để bảo vệ gia đình lúc vợ đang ấp trứng

Đào hoa y cựu tiếu đông phong

Sáng nay ngồi đọc câu trả lời comment của Tống Mai (khungcuahep.com), tôi bỗng nhớ lại thời mới quen Mai trên blog. Bao giờ đấy nhỉ? Đã lâu để tôi quên chúng tôi “biết” nhau từ lúc nào, nhưng cũng dường như mới đâu như hồi tháng trước hay năm trước. Mới quen nên chưa có dịp gặp nhau. Bạn hỏi tôi, làm thế nào để có thể nguôi ngoai. Tôi bí. Không có câu trả lời. Có lẽ Thượng Đế thương tình cho mỗi người một chút khả năng lãng quên hay nguôi ngoai. Ngài rải từ trời cao xuống. Loài người xòe đôi bàn tay hứng lấy, có người dính được nhiều, có người được ít.

Hồi đó tôi nhớ có viết “Đào hoa y cựu tiếu đông phong.” Ngài Nguyễn Du dịch là “Hoa đào năm trước còn cười gió đông.” Tôi tưởng gió mùa đông nhưng Mai chỉnh là gió hướng đông là gió mùa xuân. Năm nay thêm một mùa hoa đào, đã có gió xuân. Mấy hôm nay mưa dầm, trời lạnh, ẩm ướt. Gió xuân nhưng vẫn còn hơi hướm mùa đông. Làm tôi nhớ đến một câu hát, hình như trong bài vọng cổ nào đó. “Ngọn gió đông ơi đừng thổi nữa. Lòng tôi lạnh lắm gió đông ơi.” (À tôi nhớ ra rồi, đây là một câu trong bài Tình Anh Bán Chiếu). Bạn đừng cười tôi quê mùa, mỗi lần tôi nghĩ đến một câu hát, tôi lại nhớ đến một câu vọng cổ. Tôi cũng không ngờ tôi nhớ vọng cổ nhiều như vậy. Bài hát thì vọng cổ. Thơ thì ca dao. Trong khi các bản nhạc Tây phương tôi không nhớ được mấy câu. Hôm qua ngồi nghĩ mãi vì nhớ mang máng có câu hát “rất khó mà chết khi ngoài kia chim hót vang lừng trong bầu trời.” Dùng google tìm thì ra bài “Seasons in the Sun” có những câu như thế này:

Goodbye my friend, it’s hard to die
When all the birds are singing in the sky
Now that the spring is in the air…

Tại vì câu mùa xuân về tràn đầy không gian mà tôi nhớ đến đoạn nhạc này. Và thêm một lần nữa lại tự nhủ, nghĩ đến cái chết trong lúc mùa xuân về phơi phới trong trời đất, quả là một điều đáng buồn. Quá xá buồn.

Mùa Xuân, hoa anh đào, làm tôi nghĩ đến Nhật Bản. Chắc có một lần nào đó tôi phải sang Nhật để ngắm anh đào nở ở xứ Nhật, chứ anh đào nở có khắp nơi ở Mỹ, nếu chỉ ngắm hoa cần gì phải đi cho xa. Branch Brook Park của New Jersey có hơn bốn ngàn cây. Hôm Thứ Bảy vừa qua 10 tháng Tư năm 2021, chúng tôi đi xem hoa đào ở Branch Brook Park. Dân Mỹ quả là không sợ Covid-19, công viên đông nghẹt người. Nếu bạn muốn có cơ hội chụp một hai tấm ảnh đẹp đừng đến những nơi có đông người như thế này. Khó mà có một tấm ảnh quang cảnh rộng vì người ta phủ kín khắp nơi. Có thể nói (lộng ngôn một chút) người nhiều hơn hoa. Tôi chụp được vài tấm, không ưng ý, nhưng để ghi nhớ mùa màng. Kẻo có lúc lại than phiền “một hôm thức dậy mùa vừa đi qua.”

Nói chuyện đi sang Nhật ngắm hoa nở, tôi lại nghĩ phải đi nhanh lên, kẻo có lúc lại hối tiếc như một nhân vật trong cuốn phim Cherry Blossoms. Phim ngoại quốc, nói tiếng Đức phụ đề Anh ngữ. Nhân vật chính là Rudi, một nhân viên đã đến tuổi về hưu. Vợ của ông tên là Trudi, người rất yêu văn hóa Nhật, đặc biệt là múa Butoh. Trudi biết chồng bị bệnh nan y (nhưng ông chồng không biết) nên muốn hai vợ chồng đi thăm các con. Hai người có đứa con trai làm việc ở Nhật.

Trudi gần gũi với các con, nhưng Rudi thì không. Với ông, chỉ cần có bà vợ là đã đủ. Trong khi thăm đứa con đầu (có vợ và con), cô con gái lesbian có partner, thì Trudi chết trong lúc ngủ. Sau đó, với trái tim tan nát, Rudi thực hiện nguyện vọng được đi xem nước Nhật, khi hoa anh đào nở, của người vợ vừa mới qua đời. Ông cố gắng nối tình thân với cậu con trai ở Nhật một cách khó khăn. Tình cờ ông làm quen với một nữ nghệ sĩ múa Butoh ở đường phố, 18 tuổi. Cô gái sống không nhà, ở trong một túp lều trong làng dành riêng cho người không nhà. Cô đưa ông đi thăm núi Phú sĩ, trình diễn và giải thích Butoh cho ông hiểu biết. Rồi ông qua đời trong lúc ở Nhật, có sự chăm sóc của cô gái nghệ sĩ đường phố. Cô cũng hướng dẫn người con trai trong việc hỏa táng thi hài Rudi. Cô gái Nhật, đã giúp Rudi trong những ngày cuối cùng, đỡ đau khổ với cái chết của vợ ở một xứ sở hoàn toàn xa lạ với ông.

Mùa xuân sang có hoa anh đào

Hôm trước tôi lẩn thẩn tự hỏi, giá như không có lịch, không ai nói cho biết lúc nào là Lập Xuân, làm sao mình biết là mùa xuân về. Ở nơi tôi ở có bốn mùa rõ rệt, được miêu tả gần giống như bài thơ Hán Việt.

Xuân du phương thảo địa.  
Hạ thưởng lục hà trì.
Thu ẩm hoàng hoa tửu
Đông ngâm bạch tuyết thi

Nói thì như vậy. Nhưng lúc trời bắt đầu chuyển mùa cũng khó phân biệt. Người sống gần thiên nhiên, có thể nhìn thấy sự thay đổi của thời tiết. Trước nhất là băng giá bắt đầu tan, lúc này đường đi trong rừng rất nhiều bùn. Mưa to mùa hạ và mùa thu không gây bùn trên đường đi, nhưng tuyết và băng giá tan tạo thành những đoạn đường bùn lầy khá dài, vì nước đọng và không thể rút xuống đất, vì bên trong lòng đất, băng giá vẫn còn. Một số băng giá trồi lên mặt đất vì thể tích dãn nở ra.

Tiếp theo là loài tree frogs bắt đầu hòa tấu thành bản nhạc inh ỏi ở các ao trước kia bị đóng băng, nay ao hồ đã có nước. Loại tree frogs này rất nhỏ nhưng có thể chịu được lạnh giỏi hơn nhiều loài khác.

Sau đó là hoa nở. Bên mình có câu hát: “Mùa xuân sang có hoa anh đào. Màu hoa tôi trót yêu từ lâu. Lòng bâng khuâng nhớ ai năm nào, hẹn hò nhau dưới hoa anh đào mình nói chuyện ngày sau.” Ngày xưa tôi không hề biết hoa anh đào ra làm sao, có màu gì, vì có lẽ phải lên tận Đà Lạt mới nhìn thấy màu hoa. Ở đây, New Jersey, cũng có hoa anh đào, rất nhiều loại, chủ yếu là trắng và hồng. Màu hồng thì có loại đậm và nhạt.

Hôm qua ông Tám chở tôi đi chích ngừa Covid-19 mũi thứ hai. Dọc đường thấy hoa nở trắng hai bên đường đi. Ra bên ngoài hơi xa thành phố, có những thửa rừng, cây mọc chi chít, và hoa nở cũng chi chít trên cành. Nhìn từ xa, thấy rừng hoa trắng, đồi hoa trắng, vườn hoa trắng, góc phố, lề đường hoa trắng. Tên hoa theo tiếng Việt là hoa anh đào, người Mỹ gọi là cây cherry. Loại cherry này khác với cherry blossoms, bắt nguồn từ Nhật. Loại anh đào địa phương này mọc khắp nơi, lên nhanh và rất mạnh. Vỏ cây màu xám, bóng hơn các loại vỏ cây khác, nhìn dễ phân biệt, hoa màu trắng, nhụy hồng. Nghe nói loại cây cherry này gỗ chắc, đem chụm làm củi cháy đầm và lâu tàn. Trước nhà và sau nhà tôi, trong rừng cũng có vài cây, nở hoa trắng rất thơm. Trái của nó, giống như loại trái cherry bán trong chợ, tuy nhiên rất nhỏ. Chim rất thích ăn loại trái này. Tôi chưa ăn lần nào nên không biết mùi vị ra làm sao. Trái tuốt trên cao, khó hái. Mùa hè chúng rụng trên sân, càng lúc càng thấy ít đi, có lẽ vì cây già cỗi, hoặc có khi mưa ít, trái gió trở trời.

Hoa của cây cherry mọc hoang, đang mùa hoa nở ở New Jersey

Loại hoa anh đào mọc hoang này trông khá giống với Taihaku, loại anh đào địa phương của Nhật Bản, mà ông Collingwood Ingram đã mất nhiều công sức để gây dựng lại sau khi chúng gần như tuyệt chủng. Taihaku mọc riêng lẻ từng cái. Mỗi búp chừng hai cái hoa, có cuống hoa riêng. Tôi nói khá giống vì thật tình không biết nhiều về hoa anh đào. Tôi so tấm ảnh hoa tôi chụp, với ảnh hoa ông Ingram vẽ, đăng trong quyển “The Sakura Obsession” của tác giả Nako Abe (trang 77 thấy khá giống).

Collingwood Ingram là người Anh, sinh năm 1880 và sống lâu đến 100 tuổi. Ông được đặt cho biệt danh là “Cherry” vì công cuộc cứu vãn cây anh đào trở thành một say mê, ám ảnh (obsession) suốt đời của ông. Sang Nhật chơi năm 1902, rồi 1907, ông phải lòng cây anh đào sakura. Ông mang về Anh cả trăm cây và làm thành một khu vườn anh đào. Năm 1926, trở lại Nhật, ông đau lòng nhận ra anh đào không còn nhiều loại như trước. Người ta cấy (clone) một loại hoa mới, và các loại hoa trước kia dần dần mai một. Đặc biệt, loại Taihaku ông gọi là “Great White Cherry” hoàn toàn tuyệt giống. Ở quê nhà, vườn hoa anh đào của ông vẫn sung mãn. Ông cắt nhánh, cắm vào củ khoai tây, gây giống Taihaku, và gửi trở lại Nhật Bản bằng Trans-Siberian Express. Từ đó cho đến vài thập niên sau, ông trở nên nhà thực vật học (không chuyên nghiệp) gửi mẩu hoa anh đào do ông trồng đi khắp thế giới, trong đó có Auckland, New Zealand cho đến Washington D.C.

Trong khi cả thế giới, bây giờ cũng như thập niên hai mươi, say mê loại hoa đào cánh kép Kanzan, được người Nhật tạo giống, Ingram lại không ưa. Kanzan cánh kép, nở thành từng chùm, sung mãn, lúc lỉu, có bao nhiêu sinh lực đều tỏa ra hết trong chùm hoa. Ông chê trách nó “It flaunts its finery with nauseating frequency.” Và “The eye quickly becomes tired of the agressive beauty of these cherries.” Rằng loại hoa này phô trương quá, nở nhiều đến chóng mặt. Nhãn quan người ta dễ trở nên mệt mỏi với vẻ đẹp hung hăng của loại hoa này. Kanzan có nhiều trên mạng. Vài năm trước tôi có chụp ảnh Kanzan ở vườn bách thảo Brooklyn, nếu tìm thấy tôi sẽ cho lên.

Đây có lẽ là loại Kanzan

Hoa anh đào đẹp. Nhìn ở góc vườn, trước nhà, bên phố đều đẹp. Nhưng đẹp nhất, ý kiến chủ quan của tôi, là ta phải đến một nơi có kiến trúc thật nguy nga, vĩ đại, hay một cảnh thiên nhiên rộng lớn như thành phố Washington D. C. có hàng đào ven bờ sông Potomac, chung quanh điện Lincoln, các viện bảo tàng, mỗi viện bảo tàng chiếm nguyên một block đường, những cội hoa anh đào thật cao hoa dày đặc người đứng dưới gốc không nhìn thấy nắng, hoa rụng thành lớp thảm màu trắng, hồng ngã sang tím nhạt vì héo, thì sẽ thấy tâm hồn rúng động. Thiệt mà.

Chỉ độ một tuần thôi là hoa rụng hết. Chả trách các ông nhà thơ Nhật làm thơ haiku khi các cánh hoa đào rơi bay vào trong sà lách và súp của các ông. Chả trách người ta ví sự phù du của hoa giống như cuộc đời của geisha và samurai. Càng không trách nhà thơ mơ ước được chết dưới cội đào.

Let me die
Underneath the blossoms
In the spring
Around the day 
Of the full moon

Saigyō, 1118-1190

Xin cho tôi chết
Bên dưới tán hoa
Vào mùa xuân
Trong ngày 
Trăng rằm

Nguyễn thị Hải Hà dịch 


Bài thơ này trích trong "The Sakura Obsession" của Naoko Abe, trang mở đầu.
Hoa trắng bên cầu. Đây không phải là hoa anh đào, mà là magnolia trắng, hương thơm ngan ngát.

Magnolia

Và ba bài thơ. Thơ của Hạnh, viết tặng Chuyện Bâng Quơ sau khi đọc “Mở Nắp Hầm”

Súng bốc khói
Máu loang ghe nhỏ
Tan hoác người


Cố hương nứt rạn
Nổi trôi sóng sánh
Mù thẳm trời người



Mắt tròn căng
Ngực thanh tân
Vầy vò lũ thú hoang

Ai lên xứ hoa đào

Nếu không có lịch, làm sao bạn biết lúc nào là mùa xuân?

Ai Lên Xứ Hoa Đào – Ánh Tuyết hát
Bài thơ Hoa Đào, nhạc sĩ Hoàng Nguyên, ca sĩ Ngọc Long
Cánh Hoa Yêu – Trường Vũ hát
Ảnh 1. Hàng cây đào ở Walmart.
Ảnh 2. Lựa ra một nhánh ở hàng đào.
Ảnh 3. Cây đào nhà bên cạnh. Đây là loại anh đào rũ (weeping cherry). Những nhánh đào mọc thành dây như một bức rèm hoa. Loại hoa này rất thơm.
Ảnh 4. Lựa ra một vài đóa hoa trong bức rèm.
Ảnh 5. Một sợi dây hoa.

Hoa vàng một đóa

Hoa Vàng Mấy Độ – TCS Thùy Dương hát

Hoa thủy tiên, còn gọi là daffodil hay narcissus. Hoa mọc hoang ở một góc trong rừng, góc khuất hơi khó vào, nhưng nắng chiếu sáng.

Hoa forsylthia, mọc hoang ở hàng rào sau nhà.

Cũng là hoa thủy tiên. Đứng rửa chén trong bếp nhìn lên đồi, tuy là đất nhà nhưng từ hồi về ở đến nay chưa hề đặt chân lên. Nai, gà lôi, cáo, và nhiều loại thú khác như mèo hoang, skunk, ground hog đều thấy lang thang ở chỗ này. Thỉnh thoảng có con thú lạ không biết tên, chưa từng gặp trong sách. Chưa hề thấy hoa, nhưng bỗng dưng có một đóa lạc loài. Nhìn mặt hoa như mặt người.
Hoa bloodroots, vì rễ của nó màu cam. Mọc hoang rất nhiều ở hai bên bờ kênh D&R. Không phải dandelion (bồ công anh) đâu nhé.

Em tôi buồn ngủ buồn nghê

Đang đi, bỗng dưng tôi nhìn xuống đất, và tôi nhìn thấy em. Em nằm bên vệ cỏ nhưng nếu không để ý, xe đạp có thể cán lên và người đi bộ, như tôi, có thể đạp lên em. Em nhỏ xíu, chưa đầy cái nắm tay, tưởng chừng một đứa bé cũng có thể bóp em dẹp lép. Tôi kêu lên. “Chắc nó chết rồi. Tội nghiệp chưa.” Tôi định bỏ đi nhưng tò mò, đến gần, lấy một cái que con nho nhỏ gần đấy, đụng vào em. Không nhúc nhích. Tôi đụng mạnh hơn. Đẩy em mạnh hơn. Thì em mở mắt ra. Bước một bước. Nhìn chung quanh, vẻ ngái ngủ, như hỏi, what’s going on, old woman?

Rồi em rúc vào trong cánh, ngủ tiếp.

Tôi tiếp tục đẩy em, phá em, để em phải thức giấc, tránh đường, kẻo người ta đạp chết. Em lại mở mắt. Ngủ tiếp. Lần này không rúc vào cánh nữa, mà chìa cái mỏ màu đỏ tươi ra, như để thở.

Tôi lại phá rối em. Lần này thì em bay vụt qua bên kia bờ kênh. Tôi mừng. Tưởng em bị thương tích không bay được nữa.

Em tôi buồn ngủ buồn nghê.

Những tấm ảnh làm vui mình

Merganser

Trên facebook tôi được một người quen, gắn vào tôi cái thẻ mang tên “Cho Vui.” Điều lệ của trò chơi này là trong 10 ngày, mỗi ngày gắn thẻ cho một người, đăng một tấm ảnh lên facebook. Ảnh lấy chủ đề làm cho vui. Không cần giải thích, không cần theo thứ tự. Tôi vốn không mấy thích chuyện tag này, vì nó có vẻ như một thứ quảng cáo, hay một cách xúi giục, sai bảo, người khác làm theo ý mình, tạo thành một phong trào, hay một chuỗi người này liên hệ với người kia. Cái kiểu chain mail quảng cáo. Người tham gia trò chơi không để ý là mình bị sai khiến. Thường thì chẳng hại gì, nhưng nó khiến bạn nằm trong một danh sách của người nào đó, với một dụng ý nào đó. Có thể bạn vô tình giúp người ta quảng cáo, hay trở nên nổi tiếng.

Người gắn thẻ cho tôi là người ở cùng phòng với tôi trong lúc đi làm việc tình nguyện cho phái đoàn Habitat For Humanity ở Việt Nam năm 2019. Cô rất trẻ trung và dễ thương. Sau chuyến đi cùng với tôi cô còn đi chuyến khác nữa để giúp xây dựng chuồng nuôi thú vật và nhà vệ sinh cho một vùng nông thôn hẻo lánh ở VN.

Sau khi cô gắn thẻ thì tôi nhận ra, tấm ảnh nào tôi chụp cũng làm tôi vui. Từ chim ngỗng rùa đến cây khô bụi trúc khóm hoa. Tôi cũng nhận ra tôi thích chụp ảnh hơn là viết văn. Tôi không ngại đăng lên một tấm ảnh xấu, không vừa ý. Nhưng tôi rất ngại viết một bài không hay. Mà viết xong rồi thì thấy chẳng có bài nào vừa ý cả.

Tấm ảnh trên đây, đúng là không vừa ý, vì chim thì mờ, nước thì rõ. Tuy vậy nó làm tôi vui, vì thấy mấy con chim (hay vịt) chơi đùa rất vui. Đây là mấy con merganser. Tôi không biết chắc là có đúng tên hay không, vì tôi lật mấy cuốn sách về chim xem hình và đoán nó là merganser. Loại này mỏ chim nhưng chân vịt. Có thể bơi, bay, và lặn dưới nước để săn mồi. Chúng cất cánh rất bất thình lình. Thường đi thành bầy, có khi hai con cho đến 7 hoặc 8 con. Hai con trong ảnh là chim mái, chim trống có ngực trắng và cái đầu màu xanh biếc, trông gần giống như mallard duck, nhưng mallard duck có cái mỏ vịt, còn merganser có mỏ chim.

Hai chị merganser(s) đáp xuống mặt nước để lại mấy cụm nước phía sau. Bạn thấy chúng có vẻ vui không?

Hawk

Thêm một tấm ảnh làm tôi vui.

Tôi sẽ không tag ai cả nhưng nếu bạn muốn đăng một (hay nhiều) tấm ảnh vì nó làm bạn vui thì xin mời.

Vụn vặt

Đi bộ dọc bờ kênh D&R, khoảng đường đến Amwell Rd., gần Colonial park, có cái ao cạn. Cây khô chưa hồi sinh sau mùa đông, chẳng có gì đặc biệt, vậy mà nghe tôi nghe tiếng kêu tưng bừng, ríu rít như tiếng chim non, tiếng vịt con, hay tiếng côn trùng gì đó rất đặc biệt. Nhìn thì chẳng thấy gì. Tôi lấy ống kính camera nhìn vào trong đám cây khô có chen lẫn lau sậy, thấy có vài đốm đen màu nâu, nhỏ hơn nắm tay, lờ mờ, không nhận ra hình thù gì cả. Vậy mà tiếng to thật to. Gọi là khúc nhạc đồng quê, ao cạn, đồng hoang, hay nhạc rừng khô? Bạn nghe thử nhé. Bạn nào có kinh nghiệm xin cho biết đó là tiếng của con gì.

Người ta bảo rằng beggar can’t choose, nghĩa là kẻ ăn mày thì không thể chọn lựa, đòi cái này cái khác. Ấy vậy mà mấy con mèo hoang lúc này cũng đòi được ăn ngon. Ông Mun và thằng Xám, hôm nào đói lắm thì đến chờ từ sáng sớm để được cho ăn. Cả hai con đều thích ăn thịt gà hầm mềm. Cho thêm tí nước gà thì bao giờ chúng cũng vét hết nước gà rồi mới ăn thức ăn khô. Hôm nào không có thịt gà, cả hai con nhìn thức ăn khô và thức ăn mềm, liếm láp qua loa rồi bỏ đi. Tiểu thư Nora kén ăn từ trước đến giờ đã đành, giờ cả hai con mèo hoang cũng vậy.

Qua khỏi Amwell Rd., con đường cắt ngang bờ kênh D&R đi một khoảng độ 1/2 mile (800m) có một cái ao nhỏ. Mùa hè ao này đầy bèo. Hè năm 2020 chúng tôi thường gặp một con hạc xám (great blue heron) chỗ này. Đã mấy tháng nay chúng tôi không đi ngang chỗ này. Hôm 23 tháng 3 đạp xe ngang. Bận đi không gặp nhưng bận về thấy có con hạc xám còn tơ. Thoạt tiên nhìn thấy mấy con rùa đậu dài dài trên thân cây, rồi thấy nó, màu xám đậm. Nó đứng nhìn chăm chăm xuống mặt đất, chẳng biết nhìn gì, có lẽ nhìn mấy con rùa, hay chờ cá ốc cua gì đó bò ngang là mổ lấy thức ăn.

Chờ một hồi rất lâu không thấy nó bay đi nên thôi, chụp đỡ hạc xám đang đậu. Mảnh mai, chân dài, cổ dài, thuộc loại người đẹp.

Hải âu

Có một hôm đi bộ, chúng tôi ngồi nghỉ ăn trưa. Con hải âu từ xa bay đến. Ban đầu nó chỉ là cái chấm nhỏ, đảo qua đảo lại, vụt lên vụt xuống. Nhìn nó một hồi, tôi đoán nó nhìn thấy thức ăn của chúng tôi, và tôi e ngại nó sẽ nhào xuống cướp thức ăn. Nhưng hải âu đã không làm như tôi đoán. Chập sau nó bay đi, không biết vì nó không thích thức ăn của tôi, hôm đó có potato chips, hay đó không phải là ý định của nó. Cũng có thể nó nhát gan, không dám cướp thức ăn của con người?

Ở bờ biển gần nhà, mùa hè thỉnh thoảng chúng tôi đi chơi, hải âu rất dạn dĩ vì quen với loài người. Người đi biển hay cho hải âu ăn bằng thức ăn họ mang theo. Riết rồi quen, bọn chúng dám cướp thức ăn của người.

Để ý tôi thấy, hải âu xuất hiện nhiều nơi, khá xa biển. Nhà tôi ở cách biển gần một giờ lái xe, tuy vậy hải âu đậu trên mặt hồ đóng băng (mùa đông) gần nhà khá đông, gần cả trăm con. Chỗ tôi làm việc, còn xa biển hơn nữa, ngó ra cửa sổ tôi thường thấy hải âu. Ít nhất là một con đậu trên cột đèn. Đậu rất thường xuyên đến độ tôi xem nó là bạn của tôi. Có một con hải âu khác thường, chẳng hiểu tai nạn làm sao mà nó bị mất một chân. Tôi biết chim thường hay đứng một chân, còn chân kia rút vào trong cánh để nghỉ ngơi hay ủ ấm. Tuy vậy con chim này bị mất một chân. Chân kia chỉ còn một khúc ngắn.

Ảnh chụp lâu lắm rồi, xuyên qua cửa sổ nhìn xuống bãi đậu xe của công ty bảo hiểm y tế bên cạnh tòa nhà tôi làm việc

Hải âu là loại chim cỡ trung bình, như chim quạ. Tôi chưa hề thấy hải âu khi còn là chim non nên không biết nó màu gì. Hải âu thường màu trắng, hoặc hơi xám. Hải âu vùng tôi ở, mỏ chim có một vòng màu nâu đậm chung quanh như đeo chiếc nhẫn. Nhiều người có thiện cảm với hải âu, hơn quạ, có lẽ một phần vì chúng màu trắng. Trong văn, truyện gần đây, có một truyện dành cho trẻ em, nhưng người lớn đọc cũng thích. Truyện nói về một con hải âu đã nuôi một con mèo và dạy cho nó biết bay.

Hải âu hiền hay dữ? Cái mỏ của nó thật nhọn, cứng, và rất sắc bén. Hải âu săn cá làm thức ăn, nhưng cũng ăn các loại thức ăn khác, hạt, trái, kể cả thức ăn của loài người. Hải âu có thể sống thành từng đoàn, nhưng có thể sống lẻ tẻ một vài con trong đất liền (xa biển). Loài người chúng ta, đa số có lẽ nghĩ rằng hải âu hiền vì thế chúng thường xuất hiện một cách rất thơ mộng trong truyện, phim, và bài hát. Những cánh chim lao chao, chấp chới trên mặt nước. Tôi nghĩ đến Hải Âu Phi Xứ (của Quỳnh Dao, phải không?)

Tuy vậy trong phim The Birds của Hitchcock, và phim The Lighthouse (2019, Robert Eggers đạo diễn, Willem Dafoe và Robert Pattinson là diễn viên chính) dựa vào truyện ngắn viết dang dở của Edgar Allan Poe thì hải âu rất đáng sợ. Trong phim The Birds của Hitchcock, hải âu đi từng đoàn rất đông, tấn công người, mổ rỉa rói vào những bộ phận hiểm yếu của con người cho đến khi nạn nhân chết đi. Còn trong phim The Lighthouse, tuy chỉ có một con nhưng nó trước nhất là báo điềm dữ và sau đó tấn công người chăm sóc hải đăng.

Hải âu trong vở kịch Seagull của Anton Chekhov thì hiền lành, tượng trưng cho một cô gái đẹp, cuộc đời bị hủy hoại dưới tay kẻ đi săn.

Nữ diễn viên Irina Arkadin, nhan sắc bắt đầu phai tàn, có người yêu là nhà văn Boris Trigorin. Irina đưa Boris về nông trại của người anh của nàng để nghỉ hè. Irina có đứa con trai tên Konstantin Treplev. Chàng tuổi trẻ này yêu một cô gái tên Nina Zarechnaiy. Nina ôm mộng làm diễn viên, muốn thoát khỏi đời sống đơn điệu ở nông thôn, và ngay lập tức bị thu hút bởi sự nổi tiếng của nhà văn Boris. Điều này khiến Konstantin trở nên ghen tức. Một hôm, Nina chèo thuyền đưa Boris đi ngắm cảnh, Konstantin nổi giận bắn chết một con chim hải âu, và ném xác hải âu trước mặt Nina. Boris mở sổ hí hoáy ghi vào. Khi Nina thắc mắc nhà văn viết gì, Boris giải thích:

“Đây là một đề tài thú vị để viết thành một truyện ngắn. Bờ hồ, và cô gái trẻ sống suốt đời ở đó. Một cô gái giống như em vậy. Nàng yêu hồ cũng như hải âu. Nàng có hạnh phúc và tự do như hải âu. Thế rồi có một người đàn ông xuất hiện. Ông ta phá vỡ cuộc đời nàng vì ông ta chẳng có chuyện gì hay ho tốt đẹp để làm. Phá tan nát cuộc đời nàng, cũng giống như con hải âu này.”

Nina về sau trốn nhà đi theo nhà văn Boris. Đoạn văn này khiến tôi nghĩ đến mối tình và khát vọng sống một cuộc đời mới của Nina, rồi tôi nghĩ đến mấy câu thơ:

Thuở ấy lòng tôi phơi phới quá.
Hồn trinh nguyên vẹn một làn hương.
Nhưng người nghệ sĩ từ đâu lại
Êm ái trao tôi một vết thương
Hai sắc hoa ti gôn – TTKH

Suy nghĩ chuyện viết văn

Đôi khi xem một phim kinh dị đầy bạo động, tưởng chẳng có liên quan gì, nhưng lại khiến mình nghĩ đến chuyện viết văn.

Cách đây hai hôm, tôi xem phim Velvet Buzzsaw, xem không chủ ý, chỉ bấm hết phim này sang phim khác trên Netflix, cuối cùng xem phim này vì thấy có John Malkovich và René Russo. Đây là phim nói về giới mua bán tranh vẽ, có chút chế nhạo các nhà đầu nậu nghệ thuật sáng tạo, và rất nhiều cảnh bạo động đầy máu me. Tôi không ưa phim máu me nhưng không tìm thấy phim nào vừa ý cả nên nghĩ rằng thôi xem phim này để được xem tranh.

Họa sĩ vô danh, Vetril Dease, qua đời để lại số lượng tác phẩm đồ sộ không người thừa kế. Ông ta muốn tiêu hủy toàn bộ tác phẩm nhưng chưa thực hiện được thì đã chết. Một số người kiếm sống bằng nghề phê bình hội họa, đầu nậu mua bán, tổ chức triển lãm, đã lấy được số tranh (một cách bất hợp pháp). Tất cả mọi người có kinh nghiệm về tranh đều công nhận Dease là một thiên tài và chắc chắn sẽ là nguồn tài lợi rất lớn. Tranh của ông có sức thu hút đặc biệt rất kinh dị, có lẽ vì chúng được vẽ bằng máu (theo đúng nghĩa đen, họa sĩ đã dùng máu để vẽ màu đen và màu đỏ trong tranh) và nỗi thống hận của người họa sĩ suốt đời bị ngược đãi, hành hạ. Giới đầu nậu hội họa giành giật với nhau. Và tất cả những người hưởng lợi từ tranh của Dease đều lần lượt chết một cách thảm khốc.

Tôi tóm tắt vài hàng về phim để các bạn chưa xem phim biết nội dung. Thật ra tôi chỉ muốn nhắc đến vài điểm tôi chú ý vì liên tưởng từ việc sáng tác tranh đến việc viết văn.

Morf (diễn viên Jake Gyllenhaal) là chuyên gia phê bình tranh rất nổi tiếng. Rhodora (Rene Russo), chủ nhân phòng triển lãm Haze, tâng bốc rằng phê bình của Morf quan trọng như phán quyết của Thượng Đế vậy. Morf trong lúc xem một tác phẩm được trưng bày trong phòng triển lãm đã bảo rằng, “no originality, no courage,…” Còn một chữ nữa, hình như là boring, nhưng tôi không nhớ chắc chắn. Tôi hiểu đại khái như thế này, nhà phê bình tranh có ý nói là, một tác phẩm nếu không có bản sắc cá nhân (độc đáo) và không dám bộc lộ, thì nhàm chán lắm, không đáng được chú ý.

Piers (John Malkovich), một họa sĩ được Rhodora chưng tranh trong phòng triển lãm của bà suốt 17 năm, nhưng mười năm sau không có tác phẩm nào có giá trị. Rhodora muốn bỏ Piers ra, nhưng tử tế, vì cùng là họa sĩ như nhau (Rhodora có thời làm họa sĩ và theo trình diễn trong ban nhạc Velvet Buzzsaw) giả vờ như Piers bỏ phòng tranh của bà để theo người khác. Bà gọi Piers đến nhà, đưa cho Piers bài thơ của Polly Anna đã qua đời năm 1983, bà giữ lại bài thơ khi thu dọn căn nhà và tranh ảnh của người quá cố. Piers bị bệnh nghiện rượu. Giới sáng tạo đôi khi dùng rượu và chất kích thích để cởi bỏ những xiềng xích vô hình, những thứ người ta nghĩ là giam cầm sức sáng tạo.

Dependency murders creativity
Creativity plays with the unknown.
No strategies exist
that can enclose the endless realm
of the new
only trust in yourself
can carry you past your fears
and the already known
Polly Anna, 1983

Nghiện ngập giết chết sáng tạo
Sáng tạo chơi đùa với sự không biết (vô thức)
Không kế hoạch hiện hữu nào
có thể bao trùm toàn thể sự bao la
của những điều mới (chưa biết)
chỉ nên tin vào chính bản thân
có thể đưa bạn ra khỏi nỗi sợ hãi của bạn
và những điều (ý thức) đã biết

Sau khi Piers đọc xong bài thơ, Rhodora nói thêm:

Bạn sợ gì? Chúng ta biết nhau từ lâu. Tôi không còn vẽ nữa, nhưng tôi biết như thế này. Hãy bỏ hết đi, cả cái thế giới hội họa này. Hãy tìm một nơi vắng vẻ, đến căn nhà cạnh bờ biển của tôi, ở đó và vẽ cho đến khi nào bạn chỉ vẽ riêng cho bạn thôi.

Piers nghe lời. Sau đó thì mọi người có liên quan trong việc hưởng lợi bằng tranh của Dease đều chết. Chỉ có Piers và Coco, cô bé 22 tuổi làm thư ký kiêm mua cà phê cho các đấng quyền lực đầu nậu tranh, là còn sống.

Qua phim này, tôi nhìn thấy vài quan niệm về sự sáng tạo (của người làm phim), tuy nói về hội họa nhưng có thể áp dụng cho người viết văn. Điều khiến một tác phẩm được chú ý là sự độc đáo của tác giả. Viết văn đòi hỏi sự can đảm, dám bộc lộ tư tưởng. Bộc lộ có nghĩa là phơi ra điểm yếu, những vết thương chưa lành, nỗi đau, sự xấu hổ, nhục nhã nào đó đã gặm nhắm tâm hồn người viết. Sáng tác có kết quả tốt khi nào tác phẩm đó chỉ để thỏa mãn tâm hồn người sáng tạo.

Tóm lại, người viết nên đóng cửa, xuống mạng, và chăm chỉ viết cho đến khi nào chết rồi thì (may ra) tác phẩm sẽ được chú ý, sách bán đắt, và người viết trở thành nhà văn. Chưa làm được điều đó thì viết để cho mình vui là dễ thực hiện nhất.

Ảnh chẳng liên quan đến bài viết. Chụp được ảnh con hawk có cặp mắt to tròn ngộ nghĩnh quá nên đăng chơi.

Ides of March

Ngày xưa người La Mã không gán một con số cho mỗi ngày, từ đầu cho đến cuối của một tháng. Họ đặt ra ba điểm cố định trong tháng. Noones để chỉ ngày thứ 5 hay thứ 7. Ides chỉ ngày thứ 13, tuy vậy trong các tháng Ba, Năm, Bảy, và Mười, Ides là ngày thứ 15. Kalends là ngày đầu tiên của tháng sau.

Như vậy, Ides of March là ngày 15 tháng Ba. Trong thời cổ xưa, người La Mã đặt lịch dựa vào ngày trăng tròn. Ides of March là ngày (thật ra là đêm) trăng tròn đầu tiên của năm mới. Ngày này được chọn là ngày để giải quyết, thanh toán nợ nần. Năm 44 BC, nó cũng là ngày đẫm máu. Julius Caesar, bị người bạn thân Brutus, lập mưu ám sát. Cùng nhúng tay vào việc sát nhân này có hơn sáu mươi người nghị sĩ của quốc hội La Mã. Caesar đang trên đà thành công, đánh thắng nhiều trận lớn, rất nổi tiếng. Brutus viện cớ sợ Caesar trở thành hoàng đế, người bá chủ và độc tài, nên tìm cách giết. Sợ dân chúng không thuận ý nên ngụy trang âm mưu sát nhân chiếm ngôi là tế thần.

Chẳng biết nhà làm phim Ides of March có dụng ý gì khi làm cuốn phim có tựa đề này. Cũng chẳng biết mỗi cuộc vận động tranh cử và bầu cử Tổng Thống có đầy những gay cấn phức tạp như vậy không? Có lẽ có, mức độ đậm nhạt khác nhau, và chi tiết hoàn toàn đa dạng. Có người thì sex và gái, có người thì gian lận với số phiếu, có người thì mua chuộc và hối lộ.

Hôm nay. Beware the Ides of March.

Trời đủ ấm để người ta ăn mặc mỏng manh, hoặc không mặc áo

Trên đường đi bộ tôi thấy một cô rất trẻ rất xinh, chỉ mặc có cái tube, và quần shorts chạy xe đạp.

Đầu Mùa Xuân

Liên tiếp mấy ngày trời rất ấm. Đi bộ hôm qua, chiều về lên xe thấy nhiệt độ lên hơn 70 độ F. (21 độ C.) Hoa xuyên tuyết nở rất nhiều nơi. Và lần đầu tiên trong năm 2021 tôi lại nhìn thấy rùa (khoảng tháng 11 hay 12 trời bắt đầu lạnh hung, loài rùa đồng loạt rủ nhau biến mất). Rùa kéo nhau lên những gốc cây gần bờ nằm sưởi nắng có chỗ hàng chục con chen chúc nhau. Ba tấm ảnh mùa xuân bắt đầu. Khuya nay, rạng ngày mai, đổi giờ và cả tuần nữa mới chính thức mùa xuân.

Không biết là hai mẹ con, hay cha con, chị em, anh em, bạn bè, hay lãnh đạo và người đi theo
Hoa rừng. Chẳng biết cây gì.
chim robin dấu hiệu của mùa xuân dù thật ra chúng xuất hiện quanh năm.

Ba con mèo và bà cụ

Tựa đề tấm ảnh là gì đây?

Đi bộ, ông Tám nhìn cái này. Có người nào bị nhốt trong bọng cây chìa tay ra kêu cứu? Hay chỉ vẫy gọi để chào người đi ngang.

Hai con mèo hoang, ông Mun và thằng Xám buổi sáng ngồi chờ thức ăn. Tôi nghe tiếng gầm gừ nên mang thức ăn ra. Rồi hai con mèo ngồi nghênh nhau, không con nào dám ăn. Vì sợ bị tấn công khi đang mãi ăn. Chuyện xảy ra nhiều lần. Tôi chia thức ăn thành hai phần để riêng ở hai chỗ khác nhau. Thường thì cả hai bỏ đi, lúc sau quay lại. Hôm trước thằng Xám nằm trên bức tường, chờ ông Mun ăn xong, bỏ đi, một lúc lâu sau mới đến ăn. Có một hôm, sáng sớm, đã thấy vết chân mèo đẫm máu đi vòng quanh trên cái sàn gỗ sơn màu xám. Chẳng biết con nào bị thương chảy máu.

Nora thì buổi sáng thường đánh thức tôi. Chẳng biết vì nàng đói, hay bản năng đi săn mồi sớm, hay vì biết thói quen của tôi. Nếu tôi không lên tiếng nó sẽ lấy chân vỗ vào tay tôi, có khi cào lên tóc tôi để đánh thức. Vẫn rất kén ăn, và rất béo.

Bà cụ, là tôi, đã được đi chích ngừa Covid-19 mũi thứ nhất. Cuộc chích ngừa được tiến hành như thế này. Đầu tiên tôi vào website của tiểu bang có cái link thông tin về chích ngừa. Tôi bấm vào link, điền vào cái đơn về thông tin cá nhân kể cả bảo hiểm y tế. Tôi nhận được thông báo đã nhận được đơn và bảo tôi chờ cho đến khi có thuốc và đến phiên. Tôi chờ. Khá lâu. Rồi tôi nhận được hẹn đi chích ngừa. Trong e-mail có cái code. Tôi printscreen và mang theo điện thoại đến chỗ chích ngừa.

Chỗ chích ngừa là một đại học cộng đồng, community college, của county. Khoảng sân rộng bao la, rất thích hợp để chích ngừa cho số đông người. Ban tổ chức hoạt động nhịp nhàng, hữu hiệu. Tôi lái xe, mặc áo ngắn tay, họ xác nhận thông tin bằng cách scan code trong điện thoại của tôi. Hoàn toàn không ra khỏi xe. Từ lúc vào sân cho đến lúc ra chích ngừa không đầy 15 phút. Tôi được bảo lái xe đến bãi đậu xe bên cạnh chờ 15 phút để xem có bị phản ứng thuốc hay không. Rồi ra về. Nhịp nhàng. Hữu hiệu. Nhanh chóng. Tổ chức chu đáo.

Tháng 4 sẽ chích mũi thứ hai. Cảm ơn nước Mỹ!