Trên đường đi nhìn thấy

Cormorant (chim cốc)

A tired cormorant watches a cuckoo pass in the sky.
Tsukare u no miokuru sora ya hototogisu.
Chim cốc mỏi cánh, nhìn con chim cúc cu bay ngang trên bầu trời.
Trích trong On Haiku – Hiroaki Sato chương Issa and Hokusai, p. 112

Hawk (diều hâu)

Đang đi bộ, bỗng dưng con diều hâu sà cánh đậu trên cành cây ngay trước mặt. Người ta nói hay chẳng bằng hên.

Bald Eagle (ó bạc đầu)

Chữ bald dùng để chỉ bộ lông đầu màu trắng. Nhìn thấy hai con ó bạc đầu ở Kingston Lock, New Jersey. Ở đây có cái đập, chim cốc, blue heron, hải âu, ngỗng Canada tụ tập rất nhiều, nhất là chim cốc, tôi đếm thấy khoảng hơn hai mươi con.

Ngọn cây trong nắng sáng
Dọc theo bờ kênh Delaware and Raritan Canal, nhìn thấy hôm qua 24 tháng Mười 2021
Dọc bờ hồ Surprise Lake của Watchung Reservation từ tuần trước

This autumn –
Why am I growing old?
birds disappearing among clouds
Basho

Mùa thu này tự hỏi
Vì sao cảm thấy già
Chim trời xuôi cánh mỏi
Khuất nẻo cuối trời xa
Nguyễn thị Hải Hà dịch

Bọ nguyện cầu

Người Mỹ gọi nó là praying mantis. Tiếng Việt nó là con bọ ngựa. Nó có vẻ như chắp tay nguyện cầu.

Cầu thế giới bình an. Cầu cho mau hết dịch. Cầu mưa thuận gió hòa. Không một ai bị đói.

Sáng nay đọc báo thấy có người đi xe buýt ở thành phố New York. Bỗng dưng có con bọ praying mantis đậu vào người, nó bò xuống áo, xuống quyển sách của người đang đọc. Có người trên xe thấy con bọ thì sợ hãi nhưng người đàn ông bị con bọ đậu vào người nghĩ thầm, con bọ hiền lành thế này, có gì đâu mà sợ. Người đàn ông nghĩ nếu phủi con bọ ra khỏi xe, nó rớt xuống đường bị các xe khác cán chết tội nghiệp. Xe buýt đi ngang một khoảng vườn xanh mướt. Anh ta đến gần ông tài xế lái xe buýt ngỏ ý muốn xuống xe. Xe buýt không ngừng bất chợt giữa đường, chỉ ngừng ở trạm, nhưng anh giải thích anh muốn thả con bọ xuống chỗ có cỏ cây để nó có cơ hội còn sống mà tiếp tục cầu nguyện. Ông tài xế nguýt anh, nhưng cũng ngừng xe. Anh ta mang con bọ vẫn còn đang cầu nguyện trên quyển sách bước xuống xe lửa. Một ngày đẹp và vui của anh trong thành phố New York ồn ào náo nhiệt.

Hôm qua gặp câu thơ này.

The praying mantis places one hand on a temple bell.
Con bọ đặt một tay (nguyện cầu) trên chuông chùa
Tōrō ga katate agetari tsurigane ni

Trích trong On Haiku – Hiroaki Sato chương Issa and Hokusai, p. 120

Rùa

Rùa trên kênh Delaware and Raritan River

Năm nay số rùa trên kênh đào Delaware and Raritan River vắng đi nhiều. Rùa lên phơi nắng cũng không còn mấy con to lớn. Mùa thu năm ngoái người ta vét đáy một đoạn kênh và dẹp bớt mấy cây lớn ngã vào lòng kênh, có lẽ vì thế mà số rùa bị hao hụt nặng. Một số bỏ đi sang con sông, và một số khác chắc bị hút vào trong máy hút bùn. Một phần tôi đi xe đạp nhiều hơn đi bộ nên cơ hội chụp được ảnh rùa cũng ít đi. Rùa rất thính tai, hay nhìn được vừa xa vừa nhiều hướng, nên chỉ cần nghe tiếng chân, nhìn thoáng bóng người, là nhào xuống nước mất dạng.

Trang Tử trong một đoạn văn về cơn lụt mùa thu đã hỏi rằng:

“Hoàng tử nuôi một con rùa, cẩn thận nhốt vào lồng và cất trong đền thờ tổ tiên. Thử hỏi con rùa có muốn chết và được thờ phượng, hay là nó muốn được ngoáy đuôi vọc bùn?”

“Nó muốn được sống ngoáy đuôi vọc bùn đấy, thưa ngài.”

“Hãy trốn thoát đi!” Trang Tử nói. “Ta cũng muốn được tự do vùng vẫy trong bùn đấy thôi.”

Trẻ em Nhật thời xưa có thú vui cột dây vào con rùa rồi dắt đi chơi như người bây giờ dẫn chó đi dạo vậy. Tôi thấy ít nhất là trong hai bức tranh của danh họa Hokusai. Một bức là Waterwheel at Onden. Bức ảnh (của tấm tranh) này có trong bộ sưu tập của viện bảo tàng MET, vẽ hai người đàn ông đang vác lúa vào nhà máy xay (bằng sức chảy của nước) và hai người đàn bà đang bận bịu nhặt thóc bên máng nước chảy ra. Ở góc bên trái là cậu bé đang dắt một con rùa rất bé. Onden là một làng nhỏ chuyên nghề nông gần sông Shibuya có rất nhiều nhà máy xay dùng sức nước chảy. Làng này bây giờ là quận Harajuku và Jingumae của Tokyo. Còn bức tranh kia được dùng để vinh danh nhà thơ Harumichi no Tsuraki. Bức tranh vẽ một toán thợ đang xẻ gỗ. Bên tay phải của bức tranh là một người đàn bà đội một thùng gỗ, đi chân không, tay dắt đứa con. Thằng bé đang bận rộn lôi con rùa bé xíu đi theo nó. Trời đã sang thu, lá cây phong đỏ rơi đầy trên mặt nước. Cả hai bức tranh tôi đều kèm theo link, bạn đọc nếu tò mò muốn xem tranh có thể nhấn vào.

Người ta cũng bảo rằng loài rùa biết kêu. Chẳng biết tiếng rùa kêu như thế nào, khàn và trầm hay nỉ non như tiếng côn trùng?

Rùa ôm cây chờ nắng
Mây xám giăng đầy trời
Dòng kênh nước im vắng
Chỉ nghe lá thu rơi.

Thơ con rùa của Nguyễn thị Hải Hà. Viết xong ngày 23 tháng Mười 2021.

Tháng Mười

Ven hồ Lake Surprise trong Watchung Reservation

From “October”

I

October –
its plangency, its glow

as of words in
the poet’s mind,

as of God in
the saint’s

Robert Hayden

Từ “tháng Mười”

I

Tháng Mười –
âm vang, và sáng ngời

như lời thơ trong
tâm hồn thi sĩ

như Thượng Đế trong
tư tưởng vị Thánh

hai cây oak đỏ trên một khoảng đất trống ở bờ kênh Delaware và Raritan

tanka

autum.  a bonfire
of leaves, morning peels us toward
pomegranate festivals
and in the evening i bring
you soup cooled by my laughter

Sonia Sanchez

Bài thơ theo thể tanka

mùa thu,
màu lá như lửa cháy, buổi sáng đưa chúng ta
đến lễ hội mừng quả lựu*
và buổi chiều tôi sẽ mang
cho anh chén súp được làm nguội
bằng tiếng cười của tôi

*Lễ hội mừng quả lựu, lấy điển tích Demeter và Persephone để chỉ mùa thu.

Một loại lá và trái có màu vàng không biết tên. Ảnh chụp ở Kingston Lock

I saw old Autumn in the misty morn
Stand shadowless like silence, listening
To silence

Ode to Melancholy [1827], st.1  Thomas Hood 1799-1845

Tôi nhìn thấy mùa thu xưa trong buổi sáng mù sương
Đứng âm thầm không bóng, lắng nghe
Lời vô thanh.

Nguyễn thị Hải Hà dịch tất cả những đoạn thơ trong bài này
Thứ Hai 18 tháng Mười 2021

Đầu mùa thu

Đặt cái tựa đề bỗng nhớ mấy câu trong một bài hát cũ. Em lễ chùa này của hai ông họ Phạm. Phạm Thiên Thư và Phạm Duy. Thật ra bài hát bắt đầu là “đầu mùa xuân cùng em đi lễ,” nhưng cái đầu mù mờ lộn xộn của tôi cứ í ới, đầu mùa thu. Ờ thì bài hát cũng đi tới mùa thu, sau khi đi qua mùa xuân và mùa hạ. “Rồi mùa thu cùng em đi lễ. Có con chim đậu dưới gác chuông. Hòa lời ca vào làn sương sớm. Gió heo may rụng hết lá vàng.” Ngày xưa nghe hát thì cứ nghe, nhưng bây giờ ngồi gõ máy lại tự hỏi. Đi lễ chùa sao lại có gác chuông? Chuông chùa không để bên ngoài cũng không có gác chuông như nhà thờ, phải vậy không? Còn đầu mùa thu thì lá vàng đâu đã rụng hết, tuy cũng có gió heo may. Nói chơi vậy thôi, chuyện này không quan trọng. Tôi đặt tựa đề là đầu mùa thu vì có mấy tấm ảnh chụp đầu mùa thu. Cây lá chưa thật sự đổi màu. Chỉ lác đác đó đây vài chiếc lá vàng và lá đỏ.

Ảnh chụp một nhà kho trên một đoạn đường Columbia trail. Gần đây có một nhánh sông nhưng nước sông thấp hơn mặt nước hồ này. Đây là một cái hồ nhỏ, có thể là hồ nhân tạo. Tuy nhỏ nhưng đủ chỗ để làm một cái bến có cầu, và đậu kề bên là một chiếc thuyền bé tí. Đủ một hay hai chỗ ngồi, cho chủ nhân đi câu cá trong hồ. Và cá trong hồ cũng có thể là cá nuôi. Tôi thích cái nhà kho màu đỏ, vì màu đỏ bao giờ cũng thu hút mắt người chụp ảnh, và người xem ảnh.
Từ đường trail Columbia ngó ra một con đường nhỏ khác. Cây lá chỉ bắt đầu lác đác vàng. Tôi tự nhủ tuần sau trở lại chắc là lá sẽ có màu đẹp hơn, và thưa thớt hơn.
Hoa milkweed thường là hoa của mùa hè. Còn vài ba chùm sót lại

Mấy tấm ảnh trên là lá tôi nhìn thấy trên đường trail dọc theo kênh Delaware và Raritan.

Ảnh chụp được là ảnh xem rồi quên. Có những tấm ảnh tôi không chụp được nhưng về nhà vẫn nhớ mãi. Đường Columbia trail đi qua những thành phố nhỏ khá xinh. Nhưng cũng có một vài đoạn đường không mấy tươm tất. Tôi đi ngang một ngôi nhà, sân của nhà khá lộn xộn bê bối. Tôi thấy có con mèo mướp màu vàng cam đang ngủ gục giữa đống đồ phế thải. Loài mèo khi ngủ gục cũng có vẻ đáng yêu. Cái mõm của nó cắm xuống mặt đất. Trên đường về tôi gặp lại con mèo ấy đang băng qua đường nhìn nó gầy còm đi không vững, chẳng biết đau yếu hay đói khát đã bao lâu rồi. À, trên một chiếc xe đậu ngoài đường cạnh căn nhà có một người đàn ông ngồi trong xe như chờ đợi ai. Lần đi lần về tôi đều thấy ông ta ngồi trong chiếc xe chở đủ thứ bề bộn. Tôi đoán cái xe trở thành cái nhà tạm bợ của ông ấy. Có lẽ ông lo thân ông chẳng xong nên đâu còn tâm trí mà nghĩ đến chuyện săn sóc con mèo. Tôi chỉ biết nói thầm. Tội nghiệp. Cho con mèo nhiều hơn.

Columbia Trail

Spillway gần Canal Park bị hư hại nặng trong cơn bão Ida

Tôi muốn nói về Columbia Trail, nhưng trước hết để tôi nhắc sơ qua về đường trail dọc theo kênh Delaware và Raritan. Ảnh bên trên chụp vào ngày 20 tháng Chín cho thấy một bên bờ spillway bị hư hại nặng. Đây là một trong những spillway phiền toái nhất cho tôi, mỗi lần đến chỗ này là tôi phải xuống xe đạp dẫn bộ. Đa số người ta đều có thể ngồi xe đạp chạy xuống chạy lên nhưng tôi thì không muốn làm như vậy. Cố gắng thì cũng được nhưng tôi muốn bảo vệ cái đầu gối để có thể đi xe đạp lâu dài hơn.

Spillway đã được sửa chữa. Ảnh chụp vào ngày 3 tháng Mười 2021

Chỉ trong vài tuần người ta đã sửa xong spillway. Tuy vậy toàn bộ con đường dọc bờ kênh này vẫn còn hư hại nhiều. Đoạn đường từ Canal Park đi ngược lên hướng New Brunswick tôi không thể đạp xe được vì đá lởm chởm, nếu không nhiều đá thì sỏi và cát cũng rất dày. Liên tiếp mấy hôm tôi cất xe đạp đi bộ, nhưng cái gót chân bị đau đi bộ nhiều lại đau hơn. Do đó, tôi tìm một chỗ khác có thể đi xe đạp tương đương với chiều dài mà tôi thường đi.

Có một chỗ, hơi xa hơn đường trail D&R một chút, có chiều dài 15 miles, cách nhà tôi chừng 25 miles, đó là đường Columbia Trail. Đường này, trước kia là đường xe lửa, người ta biến nó thành đường trail. Đặc tính chung của D&R trail (trước kia là towpath, đường dùng để kéo phà) và đường xe lửa Columbia là tương đối phẳng, sự chênh lệch độ cao thấp không nhiều, do đó rất tiện lợi cho người đi xe đạp.

Đi ngang nông trại Serenity Hill Farm trong những ngày đầu thu ảm đạm

Tôi đã tưởng đường D&R là chỗ đi bộ hay đi xe đạp đẹp nhất, tiện lợi nhất, được chăm sóc chu đáo nhất. Tuy thế, Columbia Trail lại có phần hơn. Đường trail rất rộng, trải đá xanh nhuyễn, dễ đi. Chúng tôi bắt đầu ở High Bridge, đạp xe tôi phải dùng gear nhỏ vì cảm thấy độ dốc. Đoạn về khỏi phải đạp, chỉ để nó chạy tự nhiên mà cũng không cần phải thắng. Hôm qua, 6 tháng Mười 2021, trời không nắng, đường trail nhiều bóng cây nên khá âm u. Ở những chỗ quang đãng một chút có thể nhìn thấy cây lá đã bắt đầu đổi màu.

Mỗi đường trail có một đặc tính khác nhau. Dọc đường Columbia Trail người ta để rất nhiều đồ chơi, hình tượng, những ngôi nhà nho nhỏ giống như lồng chim. Luôn luôn song song với đường trail có một nhánh sông, con suối, dòng nước, thậm chí có cả một hẻm vực không sâu lắm nhưng có lẽ cũng đủ gây thương tích hay chết người nếu bị ngã. Chúng tôi đi qua một vài chỗ mang di tích lịch sử, một vài thị trấn nhỏ khá cổ kính, nhìn rất yên bình, thậm chí mang những nét trong truyện cổ tích, thần tiên. Một vài ngôi nhà đẹp như tranh của Thomas Kinkade.

Cảm giác của tôi lần đầu tiên khi đi đường trail này là tôi sẽ trở lại nhiều lần. Ít nhất là cho đến khi đường D&R được sửa xong.

Một vài chiếc lá vừa đổi màu, nhìn ngược nắng
Vách núi Yellowstone

Ảnh bên trên thì chẳng dính dáng với D&R Trail hay Columbia Trail. Mấy hôm nay xem ảnh cũ của chuyến đi từ đầu tháng Chín tôi vẫn còn ngây ngất nên lôi ra đăng tiếp.

Tuần vừa qua

Tranh trên gỗ

Bức tranh ở nhà cô em út, treo từ lâu lắm rồi, giờ mới chụp. Tranh treo không nghiêng, tại tôi đứng ở một góc xéo với bức tranh.

Lưỡi lan

Cũng ở nhà cô em út, chụp tấm ảnh hoa lan ở gần cửa sổ. Trời nhá nhem tối. Nhà cô có nhiều hoa. Chụp bằng phone. Lan hồ điệp trắng.

Bờ kè chỗ thoát nước bị thiệt hại sau cơn bão Ida

Cơn bão Ida đến Louisiana vào tuần cuối tháng Tám. Cái đuôi của nó, đã giảm sức mạnh rất nhiều, quất vào New Jersey ngày 1 tháng Chín, tôi không nhớ chắc. Chỗ tôi ở mưa nhiều, mưa liên tiếp hai ngày, điện thoại báo động khẩn cấp nước ngập liên tục tuy nhiên tôi không bị mất điện, không bị ngập nước, nước không tràn vào basement nên tôi cứ điềm nhiên, coi như một cơn mưa lớn bình thường. Ngày 3 tháng Chín tôi đi bộ ở Watchung Reservation, thấy con đường đi ngang trại nuôi ngựa bị nước lũ tràn xói mòn, hư hại khá nặng. Con đường này làm bằng đất, cát, mùn cưa nên cứ mỗi trận mưa lớn là hư, người ta phải sửa. Tôi không chụp tấm ảnh nào. Thiệt hại nhân mạng ở Louisiana rất thấp, trong khi số người chết vì lụt ở New Jersey lại rất cao, hai mươi lăm hay hai mươi sáu người. Điều này về sau tôi mới biết. Thiệt hại ở New Jersey và New York đủ để Tổng Thống làm một chuyến ủy lạo ở miền Đông Bắc này.

Từ khi từ Yellowstone về tôi đi bộ hai lần, mỗi lần cách nhau cả tuần. Con đường ven bờ kênh Delaware và Raritan bị thiệt hại nặng nề. Con đường hiking, thật ra là con đê ngăn nước. Cứ cách một vài mile người ta lại làm một cái spillway khá kiên cố. Spillway là chỗ thoát nước. Khi nước trong kênh bị dâng cao quá mức ấn định nước sẽ tràn qua spillway và chảy ra sông song song với con kênh. Xây bằng đá tảng, có tường sắt chôn bên dưới, mặt spillway phẳng, tất cả những cây cỏ bụi rậm đều bị cắt sạch để nước thoát và không vướng rác. Nước kênh đào này cũng được dùng làm nước uống cho các thành phố lân cận.

Từ chỗ tôi đậu xe, khoảng 5 mile đi bộ hướng về đại học Rutgers New Brunswick và 3 mile hướng về nhà thờ Pillar, hầu như spillway nào cũng bị thiệt hại nặng. Sức nước chảy làm lở đất và bật cả đá tảng. Hư hại nhất là cái spillway cách Canal Park chừng chưa đầy 1 mile. Chỗ này, có một bờ tường rùa hay nằm phơi nắng, đi bộ ngang nhìn thấy mấy con rùa gần như ngang tầm mắt. Hai bên bờ cao thoai thoải, mặt đường đi sâu xuống gần ngang với mặt sông. Mặt nước kênh cao hơn mặt nước sông chắc cũng phải ba mét. Chỗ này, mỗi lần đi xe đạp ngang tôi phải xuống xe dắt bộ vì sợ ngã. Người có kinh nghiệm đi xe đạp, chân khỏe có thể đạp lên dốc không mấy khó.

Vậy mà sau cơn bão, nó bị thiệt hại đến mức độ này.

Bờ kè thoát nước bị thiệt hại sau cơn bão Ida
Một cánh hoa tươi thắm sau bão tố
Đồng cỏ ở Yellowstone vào đầu mùa thu.

Vài thứ nhỏ bé trong Yellowstone

Sự khác nhau về địa lý, đánh mạnh vào tầm nhìn của du khách đến Yellowstone lần đầu, có lẽ là núi. Nhiều núi quá, núi cao và to hơn tất cả các núi ở New Jersey. Còn nhiều thứ khác nữa, như geysers chẳng hạn. Tôi có để ý tìm nhưng không thấy các loại chim lớn như great blue heron. Dọc theo các con sông như Madison và Gibbon tôi thấy có một loại chim nhỏ, bay thành từng đàn cỡ chục con, theo đội hình chữ V bay sà thấp gần mặt nước. Loại chim này nhỏ hơn ngỗng Canada. Loại chim lớn nhất, trong một tuần tôi ở Yellowstone là con quạ. Ở bãi đậu xe một vài nơi, Canyon Village, West Yellowstone, Mammoth Hot Springs, tôi thấy có quạ, mỗi lần thấy chỉ một con rất to. Có lẽ lâu ngày, dụ được thức ăn của du khách, con quạ này rất dạn dĩ, đi lò dò len lỏi gần các xe, không có vẻ sợ hãi. Khác với đường trail dọc theo kênh D&R, quạ nhỏ hơn bay thành từng đàn, thường ở tít trên những ngọn cây cao.

Ở Yellowstone, thuộc Montana và Wyoming, câu cá kiểu fly fishing rất thịnh hành. Không biết có nhiều cá không mà sao không thấy các loại chim lớn. Buổi chiều ngấp nghé đi đường hiking Beaver Pond trail tôi gặp vài con chim nhỏ, bay sà trên bãi cát. Có con lẫn vào màu cát nhìn không thấy, thậm chí ống kính thâu ảnh tự động thấy bãi cát rõ hơn con chim. Tôi nhận ra con chim nhờ cái đuôi đen và con mắt đen. Đây có lẽ là chim mái. Con chim trống có màu xanh biếc ở xa hơn nhưng nhìn thấy rõ hơn.

Con chim có màu hòa lẫn với màu đất cát
Không nhớ chắc tên loại hoa này, purple bell, hay blue Virginia bell.

Có nhiều thứ khác nhau rõ rệt giữa Yellowstone và New Jersey. Tuy nhiên cũng có vài ba thứ có vẻ đồng dạng, nhưng không rõ ràng lắm. Loại hoa này, hay một thứ hoa tương tự tôi nhìn thấy ở New Jersey. Nắng lóa trên cát trắng nên tôi chụp ảnh nào cũng lóa, không rõ. Dùng photoshop chỉnh ánh sáng nên nó có vẻ như màu không thật lắm.

Sheepeater cliff

Tôi chưa hề gặp loại đá này ở New Jersey. Các chất phún thạch của núi lửa, khi khô lại có dạng hình ống. Kè đá này được đặt tên theo một bộ lạc người Shoshone Indian(s) bản địa, nguyên chữ của nó là Tukudeka. Những người Shoshone Indian này thường đặt bẫy bắt cừu, loại có sừng to uốn cong rất đẹp, bighorn sheep, vì thế có tên là sheepeater. Tôi gắn cái link để bạn xem ảnh ở Wikipedia. Chất phún thạch của những cột đá này là basalt lava, đã xuất hiện từ 500 ngàn năm trước. Sheepeater là một trong những thắng cảnh của Yellowstone, được nhắc đến trong các quyển guide book, và có tên trên bản đồ. Người ta gắn một cái bảng trên đường, quẹo xe vào một quảng ngắn là đến. Đây là một chỗ có thể dừng chân để ăn picnic. Gần đó có con suối rộng, trời nhuốm thu lá chuyển màu vàng, suối chảy róc rách, rất nên thơ.

Loại hoa vàng tôi không biết tên. Loại hoa tím trông giống thistle. Có một loại thistle gọi là milk thistle, VN dịch là cây kế sữa. Thoạt trông thì hoa của hai loại cây này giống nhau, chỉ khác màu, nhưng nhìn kỹ thì lá cây khác nhau.

Ở Yellowstone, có một loại cây thistle được đặt tên Evert thistle. Có một rặng núi cũng được đặt tên Evert gần Mammoth Hot Springs. Evert là tên của một nhà thám hiểm. Tôi không biết cây thistle ở New Jersey hoa màu tím, đẹp rất thơm, có khác với Evert thistle hay không nhưng cây thistle ở Yellowstone cùng màu, nhưng khô cằn hơn. Tuy vậy rễ của nó có chất bổ, có thể ăn được, và loại rễ cây này đã giúp nuôi sống Truman Evert khi ông đi lạc trong Yellowstone 37 ngày vào tháng 9 năm 1870.

Truman Evert, 54 tuổi, tax inspector, ở trong đoàn thám hiểm Washburn-Langford- Doane, bị lạc đoàn ở bờ hồ phía Nam của Yellowstone Lake. Tháng 9 trên núi cao trời đã có tuyết. Thoạt tiên ông không mấy sợ hãi, nhưng khi ông xuống ngựa leo lên chỗ cao hơn để tìm đường, thì ngựa ông vụt bỏ chạy, mang theo tất cả hành lý và lương thực. Trên người ông chỉ còn con dao nhỏ bằng cây bút, cái ống kính nhìn xa, loại nhỏ của người xem kịch opera. Ông tìm ra mấy cái geyser, ngủ gần cho ấm, nhưng khi ngủ quên thì tay đụng gần miệng hố nên bị phỏng khá nặng. Không có thức ăn, ông nhổ mấy bụi cây thistle, thấy rễ ăn được, “khá ngon.” Ông dùng kính opera để tụ ánh sáng mặt trời rồi nhóm lửa (một cách nhóm lửa của hướng đạo sinh lưu truyền cho đến ngày nay). Và ông phải bện cỏ để giữ lửa trong lúc di chuyển. Ba mươi bảy ngày sau, người ta tìm thấy ông bò lê lết trên con đường chính, không giày, bị frostbite, gầy trơ xương, tinh thần khủng hoảng đến độ hóa điên. Chỉ cần chậm vài ba tiếng đồng hồ là chắc là ông không thể sống được. Trong bài bút ký ông kể lại sau khi thoát chết, là trong lúc chờ xe cứu thương đến chở ông về thành phố (thời ấy người ta đi xe ngựa), có một người đi rừng đến gặp ông trong trạm cứu hộ, cho ông uống mỡ gấu được thắng cho thành dầu. Ông uống chừng một hay hai pint và mọi thương tích trên người lành lặn trong vòng vài tiếng đồng hồ. Ông trở lại khỏe mạnh như cũ.

Hoa này thì NJ cũng có
Trái này thì mới gặp lần đầu
Đang đi bỗng con bướm này sà xuống ngay trước mặt
Hoa này không lạ lắm, búp của nó giống trái đậu bắp, nhưng hoa khác với loại hoa thấy ở NJ.
Chắc cũng chỉ là một loại aster thôi.

Vài tấm ảnh

Chuyến đi Yellowstone National Park đa số ảnh tôi chụp đều bị hư, xấu, do chỉnh máy không đúng nhiều ánh sáng quá, ít ánh sáng quá, thậm chí ảnh nào cũng mờ mờ như có hơi nước, chắc là ống kính bị dơ. Buổi sáng, những cánh đồng cỏ rộng (meadow) nhìn thật xa cũng thấy nhiều geysers bốc khói. Và geysers thì khói mịt mù vì hơi nước nóng trong không khí lạnh. Buổi sáng và buổi tối trời khá lạnh. Buổi trưa thì nóng cỡ 80 độ F. hay hơn, đủ để bạn cảm thấy nóng như mùa hè. Du khách mặt quần ngắn áo không tay rất nhiều. Trời khô lắm, khiến tôi khát nước cả ngày dù uống nhiều nước. Người không thấy đổ mồ hôi. Hai ba ngày gội đầu một lần cũng không cảm thấy khó chịu.

Yellowstone ở vùng núi cao, từ hơn 5 ngàn ft. đến hơn 8 ngàn ft, chỉ riêng vùng khá bằng phẳng dành cho du khách. Người ở đồng bằng hay gần biển, như tôi, lên cao nhất là chừng 100 ft. so với mực nước biển, có thể cảm nhận được sự thay đổi của độ cao. Người ta báo trước là do ở trên cao không khí bị loãng đi, du khách có thể bị bệnh núi, mountain sickness, như mỏi mệt, nhức đầu, chóng mặt. Trong hai ba ngày đầu tôi bị nhức đầu, nhẹ nhàng âm ỉ, trước khi đi ngủ tôi uống viên thuốc nhức đầu. Sau đó thì quen.

Nhà trọ Historic Madison. Ảnh này không phải của tôi, tôi lấy trong một email quảng cáo. Nhà làm bằng thân gỗ tròn (log), bên trong toàn gỗ bóng. Nhà vệ sinh ở cuối hành lang, mỗi bước đi nghe kẽo kẹt khiến tôi phải nhón gót, và không muốn mang giày. Phòng tắm cũng riêng ra, phải có chìa khóa mới mở được cửa phòng tắm, cứ mỗi lần đi tắm là tôi lại quên cái gì đó, có khi là khăn lau, có khi thì chìa khóa, có khi trở lại phòng hai ba lần vì quên cái này cái kia. Gọi là historic vì ngày xưa có ông nào đó nổi tiếng lắm đã ở đây. Tôi có đọc nhưng quên, bây giờ lười tìm tài liệu. Nhà trọ này đã 109 tuổi.
Cây thông trên geyser basin

Ảnh chụp ở một geyser basin nào đó không nhớ. Có vẻ như geyser basin nào cũng giống nhau, đất đá vôi trắng, cát trắng lóe mắt. Cây thông hình như có thể chịu được sự khắc nghiệt của đất đai ở đây. Chỗ nào cũng mọc được. Mùi lưu huỳnh (sulfur) bốc ra từ các geyser thum thủm, nhiều lần tôi cảm thấy đắng miệng và đắng trong cổ. Điều này làm người xem cũng cảm thấy ngại, không biết về lâu dài có ảnh hưởng đến sức khỏe hay không.

Thác Yellowstone đi xuống phần cuối của thác bên dưới, dọc theo con sông. Nắng lóe, nhìn đâu cũng thấy như mờ mờ hơi nước.
Một phần của sông Yellowstone
một chỗ trên sông Yellowstone nước bớt chảy xiết
Một đàn caribou đi trên đồng cỏ. Nhìn cũng như nai (deer), nhưng du khách chung quanh bảo là caribou, hay reindeer, chứ không phải nai. Chúng khác nhau ra làm sao, có lẽ phải tìm hiểu sâu hơn mới có thể phân biệt được.
Khúc cây nhìn thấy ở West Thumb Geyser. Màu sắc ở đầu khúc cây là màu của một số geysers chung quanh.
Ở Yellowstone tôi thấy có quạ. Đi lẻ loi chứ không thành đàn. Và con quạ nào cũng rất to. Một con quạ lang thang trong đồng cỏ.

Montana đất rộng người thưa. Phía bắc giáp Canada. Phía tây giáp Idaho tiểu bang này giống như cái chìa khóa dựng ngược. Đông giáp với North Dakota và South Dakota. Nam giáp với Wyoming và Idaho. Tiểu bang này có diện tích rộng đứng hàng thứ Tư trên nước Mỹ, sau Alaska, Texas, và California (tôi không nhớ thứ tự nhất nhì ba này có đúng không, nên xin cáo lỗi).

Đừng nghĩ là tiểu bang nào cũng giống nhau. Tôi chưa đi nhiều, nhưng mỗi nơi tôi đi qua địa lý và văn hóa khác nhau rõ rệt, ngay cả đối với người không mấy lịch lãm trong du lịch. Tôi đang nghĩ đến California và Montana hai chỗ mà tôi chỉ mới đi ngang, ở California vài lần, vài thành phố và công viên quốc gia, vài tuần lễ, còn ở Montana/Wyoming chỉ mới một tuần một chỗ. Càng đi càng thấy những hình ảnh thú vị muốn khám phá tìm hiểu thêm về đất đai và người ở đó. Ở California, hình ảnh đầu tiên đập vào mắt tôi là các cây palm, kế đến là các ngôi nhà có kiến trúc của người Tây Ban Nha. Ở Montana và Wyoming là cây thông, rừng thông bạt ngàn. Đi ngang Bozeman và Big Sky City của Montana, chưa đến Gardiner hay Billings nên chưa biết kiến trúc nổi bật của hai thành phố này.

Phim A River Runs Through It lấy Montana (Robert Redford làm đạo diễn với diễn viên Brad Pitt, Tom Skerritt, Gordon-Levitt,) làm bối cảnh. Wyoming thì có phim An Unfinished Life, còn đang chiếu ở Netflix. Phim này Robert Redford và Norman Freeman, Jennifer Lopez đóng vai chính. JL đóng phim ok, chủ yếu là hai ông già gạo cội. Cô bé Becca Gardner và Camryn Manheim cũng rất hay, ít nhất cũng diễn trọn vai trò. Cả hai phim cho thấy một phần đời sống đồng quê của các tiểu bang thuộc phía Bắc và trung tâm nước Mỹ.

Purple Mountain

Có thể nói, điểm thú vị nhất của chuyến đi Yellowstone National Park là buổi hiking núi Purple Mountain. Chỗ tôi ở trọ (số 1). Núi không xa vị trí số 6 trên bản đồ, vừa qua khỏi Madison Junction. Đây chỉ là một ngọn núi nhỏ trong vô số núi ở Wyoming. Đường trail này được nhắc đến trong quyển guide book của Frommer, nhưng Lonely Planet bỏ qua. Ông quản gia nhà trọ Historic Madison đã bảo chúng tôi, hễ thấy người ta dựng bảng thì nên ghé vào xem, thế nào cũng có điều đáng chú ý, bởi vì không dưng người ta dựng bảng mà không để làm gì.

Thật ra tôi đi tìm một đường trail khiêm tốn hơn, Harlequin Lake Trail, vì nghe nói ở cuối đường có một cái hồ đầy hoa súng lilly, nhưng tìm không ra dù lái xe ngang qua cái bảng chỉ đường vào hai ba lần. Có lẽ đường trail nhỏ quá, xe chạy nhanh không nhìn thấy. Đến ngày 8 tháng Chín thì chúng tôi đã đi hết những chỗ trong công viên nằm trong danh sách đi xem. Trong công viên còn vô số những địa điểm mà chúng tôi bỏ qua, vì sức đi có hạn.

Bản đồ chỉ đường lên núi Purple cùng với những lời căn dặn cẩn thận coi chừng gặp gấu

Ngày 9 tháng Chín tôi đề nghị ông Tám đi hiking. Đường trail Purple Mountain có vẻ dễ đi, sách nói chỉ đi vào rồi đi trở ra, không có những đường trail khác cắt ngang, không sợ lạc. Chiều dài trung bình 3 miles vào (4.8km) và 3 miles ra, tổng cộng 6miles. Ở NJ chúng tôi vừa đi vừa về chiều dài 10 miles thì 6 miles không đáng sợ. Điều đáng chú ý là sách nói độ cao, elevation gain, sẽ là 1500 ft. Có sách nói 1600 ft. nhưng để không phô trương, tôi dùng con số 1500 ft. Tương đương 500 mét chiều cao. Ông Tám tự lượng sức, bảo là với ông thì không sao. Tôi hơi lo ngại cho sức khỏe của tôi. Mới mấy tuần trước đây bị heat cramp đã hết hồn. Tuy sợ nhưng tôi vẫn muốn thử. Tự nhủ mình, đi chậm, nghỉ ngơi thường xuyên, thì sẽ không sao. Nếu đi nửa chừng đi không nổi thì đi xuống, có gì đâu mà sợ. Tuy nhủ thầm như thế nhưng tôi cũng không muốn bỏ cuộc.

Đoạn đường ban đầu, nhiều cây, ít ánh sáng, đường rộng rãi. Trên cao đường hẹp lại chỉ vừa một người đi. Tôi sợ ngã nên không chụp ảnh

Ban đầu tôi phải hít thở sâu, lỗ tai lùng bùng, nhưng được một lúc thấy người nhẹ nhõm trở lại. Người ta làm đường thoai thoải, dốc không cao lắm, cứ từ từ đi. Ước tính của Frommer cuộc hành trình dài từ 3 tiếng đồng hồ cho đến 5 tiếng tùy theo đi nhanh hay chậm. Có nhiều cô gái đi xong bảo là trẻ con cũng có thể đi được. Ờ nhưng trẻ con cỡ 7 tuổi trở lên thường khỏe hơn người già, bạn biết không?

Chuẩn bị vào đường trail, tôi thấy một cô gái, bảng số xe ở Utah, có nghĩa là cô lái xe một mình đến hiking ở đây. Tóc vàng, cao ráo, mảnh mai, nhìn sau lưng đã thấy xinh. Đi độ nửa đường thấy chiều ngược lại có một người khá cao, không phải là cô gái gặp ở đầu đường trail. Người này quấn khăn, trùm đầu, che mặt kín mít, lại vác ba lô cuốc xuổng nặng nề. Ông Tám bảo là đàn ông, tôi không nhìn kỹ nhưng có lẽ phải là đàn ông. Không hiểu vì sao vác xẻng, có lẽ anh ta cắm trại trên đỉnh núi chăng? Giá mà làm gan, hỏi anh ta, và tất cả những người mình gặp trên đường hiking, cho phép mình chụp tấm ảnh về nhà có chuyện để kể.

Khi chúng tôi đến gần cuối đường trail thì gặp cô gái, gặp lúc bắt đầu vào trail, đi trở ra. Một cô gái rất xinh đẹp, cô không có vẻ gì mệt mỏi. Khi tôi hỏi chúng tôi đi sắp đến chỗ chưa cô trả lời, ông bà đến rất gần rồi và chúc chúng tôi một ngày vui vẻ.

Trên cao nhìn xuống, nơi sông Madison và sông Gibbon gặp nhau.

Lên đến trên đỉnh thì sẽ nhìn thấy quang cảnh dưới chân núi, nơi hai con sông Gibbon và Madison gặp nhau. Cuối đường trail người ta có gắn một cái hộp nhỏ. Ai muốn viết gì thì viết vào một mảnh giấy nhỏ, mở nắp, bỏ vào hộp. Cô Sheryl Strayed đã viết những câu danh ngôn của vài tác giả nổi tiếng kèm với tên của cô cho vào các trail logs dọc theo đường Pacific Crest Trail.

Cuối đường có cái trail log

Đến đây tôi phải đính chính, chúng tôi đi đến cuối đường trail nhưng không có nghĩa là chúng tôi đi đến đỉnh núi Purple. Núi cao hơn 8000 ft. Độ cao tôi đi từ điểm đến so với điểm bắt đầu tính theo chiều thẳng đứng chỉ có 1500 ft. Người ta chỉ làm đường đến đó mà thôi. Trên đường đi xuống chúng tôi gặp người ta lác đác đi lên. Tất cả số người đi lên Purple Mountain tôi gặp ngày hôm ấy, kể cả hai chúng tôi là 13 người. Vì là ngày trong tuần, tôi đã đoán là chỉ có hai chúng tôi thôi, nhưng nhiều người đi hơn tôi tưởng.

Đường lên Purple Mountain dễ đi hơn đường lên chùa Hương. Đường lên chùa Hương làm bằng đá tảng, bạn phải bước một bước khá cao, nhấc cái khối thân thể của mình lên khá nặng nề, mau mệt. Chuyến đi này, gợi tôi nhớ một bài học cũ. Đường dẫu dài, chỉ cần bắt đầu bằng một bước nhỏ, rồi thêm bước nữa, bước sau để lên bước trước, cứ kiên nhẫn đi rồi sẽ đến.

Chúng tôi nhặt hai nhánh cây khô làm gậy hiking.

Chúng tôi chấm dứt cuộc hiking 4 giờ 30 phút, coi như cũng thuộc hàng không quá tệ. Với tôi, điều quan trọng là tôi vượt qua được những sợ hãi nhỏ bé của cá nhân. Cuối con đường tôi không thấy mệt, mà lại thấy khỏe, vui, hừng chí. Có lẽ nhờ không khí trong lành, và nhờ tôi hít sâu thở mạnh nên nở phổi chăng.

Đường đi lên núi mùi thông thơm ngát. Chung quanh toàn là thông, thỉnh thoảng tôi gặp một con chipmunk gầy gò nhỏ xíu, có lẽ nơi này không có nhiều thức ăn cho chúng. Có một đôi nơi tôi ngửi thấy mùi hoa trâm ổi nhưng không biết hoa gì mọc ở đâu. Thỉnh thoảng nghe tiếng quạ kêu lẻ loi. Ngoài ra chỉ có tiếng gió xuyên qua ngọn thông êm dịu. Mười một người chúng tôi gặp trên đường leo núi Purple Mountain đa số là đàn ông. Ngoài một cô gái tóc vàng xinh xắn đi trước chúng tôi khoảng mười phút và chúng tôi gặp lại cô khi cô đang đi xuống còn chúng tôi tiếp tục đi lên, chúng tôi còn gặp một phụ nữ tuổi trạc tứ tuần đi với cậu con trai độ mười hai hay mười ba tuổi. Còn hai cặp người da trắng, một cặp còn trẻ độ chưa đến ba mươi, một cặp lớn tuổi hơn có lẽ cỡ 60. Người đàn ông tóc hoa râm nói đùa, “Mấy con gấu đi đâu hết rồi?” “À, chúng tôi rượt đuổi chúng đi mất hết rồi. Ông bà cứ an tâm mà đi.” Tôi trả lời. Tôi nghe tiếng ông cười xòa, vui vẻ.

Old Faithful

Old Faithful geyser

Thật ra tôi muốn đặt tựa đề là Grand Prismatic Springs, Old Faithful, và West Thumb Geyser nhưng nó dài quá nên chỉ dùng một chữ thôi.

Bản đồ giao thông trong công viên quốc gia Yellowstone

Ngày 8 tháng 9, 2021, chúng tôi đến Madison Junction (số 6) thay vì quẹo trái như mọi ngày, lần này quẹo phải, hướng đến số 5. Hành trình bao gồm ba chỗ: Grand Prismatic Springs, Old Faithful và West Thumb geysers.

Trên đường đi gặp một đàn bison ăn trên đồng cỏ.

Chuyến đi này khá bất ngờ. Tôi tưởng là chuẩn bị bây giờ đến mùa xuân năm 2022 sẽ đi. Hỏi ông Tám có muốn đi chơi đâu không vì đã chích ngừa rồi. Ông bảo National Parks. Cái park nào? Yellowstone. Địa điểm nào trong Yellowstone? Old Faithful và West Thumb. Tại sao hai chỗ này? Ông kể, hồi xưa còn bé học English for Today người ta có nói đến hai chỗ này. Hằng năm cả triệu người đến xem, và cái geyser phun nước đều đặn cứ 60 phút một lần, mỗi ngày, như một người chung thủy, cứ đến hẹn lại lên. Vì thế được đặt tên Old Faithful. Tưởng nói chuyện khơi khơi vậy thôi ai dè ông đặt vé máy bay, đặt phòng trọ, thuê xe, và chỉ trong một hai tuần chúng tôi lên đường. Tôi cứ sợ phải đặt phòng trước cả năm hay sáu tháng, vì nghe nói chỗ này đông du khách lắm. Hằng năm cả 4 triệu người đến xem.

Geyser này được đặt tên đầu tiên, từ năm 1870. Ghi nhận từ năm 2000, mạch nước phun đều đặn với khoảng cách từ 44 phút cho đến 120 phút. (Theo Wikipedia).

Hồ nước nóng nhỏ ở gần Prismatic Springs có màu sắc tương tự nhưng nhỏ hơn

Tôi đến Grand Prismatic Springs lúc còn sớm. Buổi sáng ở Yellowstone rất lạnh. Vì lạnh nên khói mù mịt che lấp tất cả hồ nước nóng và màu sắc. Chỉ nhìn thấy khói và khói. Grand Prismatic Springs màu sắc lộng lẫy nhưng mình phải ở vị trí cao và xa hơn mới nhìn thấy hồ, bởi vì hồ khá rộng. Tôi đứng gần và ngang tầm với mặt hồ nên chỉ thấy một lằn nước phẳng bốc khói và đất chung quanh màu sắt rỉ sét. Đi ngang một cái hồ khác nhỏ hơn nhiều nhưng màu sắc gần giống như vậy nên tôi chụp ảnh thế vào.

Với du khách, nếu đã xem Norris Geysers thì sẽ có cảm giác mọi geysers khác không còn lạ lẫm thu hút nữa. Thật ra chúng đều có đặc điểm riêng. Cũng giống như bạn xem những cuộc thi hoa hậu, hay xem trình diễn thời trang, các cô gái trình diễn đều đẹp cả. Xem một show rồi sẽ cảm thấy show thứ nhì cũng vậy mà thôi. Nhưng Old Faithful và West Thumb thì khác. Khác vì đó là trí nhớ, kỷ niệm thời thơ ấu của ông Tám. Tôi hoàn toàn không biết hai chỗ geysers này vì hồi đó tôi không có học English for Today.

Tôi đến cũng sớm, còn hơn tiếng đồng hồ thì bà cụ Old Faithful mới xuất hiện. Chúng tôi đi vòng vòng mấy cái boardwalk cho đến khi ông Tám bảo vào xem Old Faithful Inn. Đó là một tòa nhà cổ, xây cất toàn bằng gỗ tròn, cao ba hay bốn tầng, rất đẹp được dùng làm khách sạn cho du khách muốn ở đêm trong công viên. Dĩ nhiên là giá cao hơn các khách sạn bên ngoài công viên. Giá một đêm ở khách sạnh Old Faithful Inn từ 160 USD đến 260 USD. Người ta cho xem du khách vào xem đến tầng thứ hai thoải mái. Nhiều người ngồi lố nhố ở ban công chờ Old Faithful xuất hiện. Mua hai cây kem chúng tôi ra ngoài băng ghế trước tòa nhà ngồi ăn. Suýt tí nữa không nhìn thấy Old Faithful vì chỗ ngồi ăn kem bị khuất. Chỉ khi nhìn theo hướng nhìn của người ngồi trên ban công của khách sạn, và khi thấy một cô gái tay che mắt nói một mình, ồ kia kìa, bà ấy xuất hiện rồi, tôi nhận ra nên xách máy chạy ra hướng ấy, bấm đại vài phát. May là mạch nước phun cũng vài phút thỏa lòng mong đợi của du khách. Họ ngồi trên boardwalk chung quanh bà cụ rất đông.

Old Faithful phun nước ở phía sau. Vòi nước lúc này không còn mạnh nữa, và người ta xem xong đã bắt đầu bỏ đi.

Cũng là hệ thống mạch nước phun, nhưng West Thumb nằm ven bờ hồ Yellowstone Lake nên có nhiều điểm khác biệt thú vị.

Một mạch nước phun mấp mé bờ hồ

Có những mạch phun giống hình núi lửa, nằm ven bờ hồ, có khi mặt nước hồ dâng cao, các hình núi lửa này chìm dưới mặt nước.

Boardwalk đi vòng quanh West Thumb basin, một số mạch nước nóng đang bốc khói như những núi lửa nho nhỏ.
Một góc của hồ Yellowstone Lake.

Mammoth Hot Springs

Bản đồ Yellowstone

Trước khi vào công viên, bạn sẽ được phát cho một bản đồ đơn giản như thế này. Bạn có thể nhận được bản đồ này ở khách sạn bạn ở, hay một trong những tiệm bán hàng cho du khách bên ngoài công viên. Các con số màu đỏ là do tôi thêm vào. Số 1 là nơi tôi ở trọ, West Yellowstone. Như đã nói, hệ thống đường giao thông trong công viên có hình số 8. Số 4 là điểm phía Bắc của công viên. Mammoth Hot Springs nằm ở chỗ này. Qua khỏi chỗ số 4, là đến Gardiner, một thị trấn nằm ngoài công viên. Ở địa điểm phía Bắc có cái cổng Roosevelt Arc. Tôi muốn đến chỗ này, chẳng để làm gì ngoài chụp tấm ảnh kỷ niệm. Ông Tám đồng ý, nhưng khi đến Mammoth Hot Springs, đứng ở Albright Visitor Center ngắm chung quanh, tôi thấy rùng mình, đổi ý không muốn đến Gardiner nữa. Đường đi chung quanh đèo hiểm trở quá, làm tôi ngán. Chỉ có một tấm ảnh mà phải lái xe đường đèo, 5 miles đi thì phải có 5 miles về. Sợ quá nên thôi. Phải nói, lái xe từ West Yellowstone đến Norris Geysers đi ngang thác Gibbon đường đi ngoằn ngèo sát cạnh đèo lên đồi xuống dốc tôi đã ớn rồi, nhưng chẳng thấm gì so với đi ngang mấy đỉnh núi như Bunsen Peak, Sepulcher, và Mount Evert để đến Mammoth Hot Springs.

Mammoth Hot Springs nhìn từ Albright Visitor Center

Đến nơi nào tôi cũng thích vào xem những trung tâm cung cấp tin tức phổ thông cho du khách. Albright Visitor Center rất đẹp, hiện đại, sang trọng. Một trong những tiện nghi cho du khách là được dùng phòng vệ sinh sạch sẽ. Nghĩ cũng buồn cười. Chúng ta thích thăm viếng những nơi còn hoang dã, chưa bị du khách tàn phá, nhưng lại thèm nhớ được dùng phòng vệ sinh hiện đại. Ai nói gì thì nói chứ tôi vẫn không quen được cái thú “nhất quận công, nhì đi đồng.”

Canary Springs một trong những hồ nước nóng trong hệ thống Mammoth Hot Springs. Nhìn xa hơn, là dãy núi Mount Everts (tôi đoán thế, không đúng thì sai)

Mammoth Hot Springs là một hệ thống suối nước nóng chảy trên địa bàn khá phẳng (so với mấy ngọn núi chớm chở chung quanh) có nhiều chất đá vôi. Người ta làm con đường boardwalk bằng gỗ hay plastic để du khách có thể đi vòng quanh địa bàn này để ngắm hệ thống suối nước nóng. Chất vôi từ nước suối nóng đọng lại tạo thành những hình thù lạ mắt. Nếu để ý chi tiết, vì thích chụp ảnh, bạn sẽ thấy những hồ nước nóng này khác nhau ở hình dáng và màu sắc. Với người vội vã hoặc dễ chán, họ sẽ thấy cái nào cũng giống nhau. Đi hết địa bàn chiều dài cũng phải vài cây số, và lên cao đến đỉnh của suối nước nóng (upper terrace) cũng vài trăm feet. Không phải chỗ nào xe lăn cũng đến được. Bạn cần có sức khỏe khá tốt để có thể đến đỉnh cao nhất của địa bàn này.

Nơi có nhiều chất sắt, đá vôi nhuộm màu sắt rỉ sét.
Một con chim đang tắm mê tơi trong suối nước.

Mammoth Hot Springs hay Norris Geysers luôn gieo cho tôi cảm tưởng là nước rất độc, nhiều chất vôi, nhiều kim loại, sinh vật bình thường khó sống ở những chỗ này. Do đó, tôi khá ngạc nhiên khi thấy có vài con chim tắm mê mải ở vũng nước này. Không biết tắm xong, uống nước xong nó có bị ngộ độc lăn quay ra ở một nơi nào khác hay không. Tôi lại nghĩ, chỗ này hay thật, nhưng VN cũng có những chỗ tương tự hay không kém chút nào, còn có phần hơn nữa. Nếu ở đây chất vôi trong nước phun ra đọng thành núi, thì ở VN chất vôi được nước mang đi, đục khoét thành những hang động sâu thẳm, hoặc tích tụ thành những thạch nhũ hình thù lạ mắt tôi nhìn thấy ở trong hang Chùa Hương, Kẻ Gỗ, v.v…

Ở Mammoth Hot Springs, sau khi lên đến đỉnh, trên đường đi xuống chúng tôi gặp rất nhiều người Việt Nam. Người mình vui lắm, đi đâu cũng nói chuyện lớn tiếng nên nghe tiếng Việt lồng lộng. Ông Tám trò chuyện, biết là nhóm này đi rất đông, mười tám người, đi làm mấy xe. Vào Yellowstone bạn không có phương tiện giao thông công cộng phải tự lái xe đi vì nơi nào cũng xa. Không xa đến độ đi không tới, nhưng xa đủ để phải lái xe. Có người đi xe đạp, nhưng thú thật, tôi nể phục những người này ghê gớm, đạp xe đường núi chắc phải là vận động viên thứ thiệt.

Buổi trưa, tìm chỗ ăn trưa, chúng tôi gặp một người phụ nữ Á châu. Bà rất tử tế thấy chúng tôi ngó quanh tìm bàn, bà ngoắc chúng tôi, chỉ đến ngồi cạnh vì bà ăn xong sắp đi. Tôi nhìn bảng tên thấy là tên là Kelly Kim.
“Ông bà gốc gác quốc gia nào?” Bà hỏi.
“Việt Nam.” Tôi vui vẻ trả lời.
“Còn bà là người Korea?”
“Nam Hàn.” Bà nhấn mạnh.
Một điểm tôi chú ý, là những người từng sống ở các quốc gia bị chia làm hai mảnh, một bên theo chế độ Cộng Sản, một bên không, thí dụ như Việt Nam, Hàn Quốc, Trung Quốc, mỗi khi tự giới thiệu họ đều nhấn mạnh là họ ở phần đất không Cộng Sản. Rồi để rõ ràng hơn, bà nói bằng tiếng Anh đứt quãng, vấp váp, bà ở San Francisco đã nhiều năm. Tôi cũng nói chúng tôi ở New Jersey. Nhóm người Mỹ bàn bên cạnh đang trò chuyện rôm rả, nhưng từ khi chúng tôi và bà Kelly nói chuyện họ bỗng im bặt. Có lẽ họ cũng tò mò hóng chuyện cái đám Á châu ngồi bên cạnh. Hoặc là tôi vì trò chuyện nên không nghe tiếng họ nói nữa chăng.

Hymen Terrace và Liberty Cap

Lúc bắt đầu lên đồi, từ Lower Terrace đi lần lên Upper Terrace, một người đàn ông đang đẩy xe chở một đứa bé, hỏi đường một phụ nữ người da trắng đang đi xuống. “Bà có nhìn thấy Hymen Terrace bên trên ấy không?” Bà ấy ngẩn người một hồi rồi nói không. Tôi nghĩ nếu có chắc bà cũng không nhớ, vì mỗi cái hồ nước nóng dù nhỏ cũng được đặt cho một cái tên, làm sao nhớ cho hết. Tôi lại nghĩ chữ Hyman viết với chữ a chứ không phải chữ e.

Liberty Cap là một cột đá rất to, to đủ để thấy hai con caribou nằm dưới chân cột đá nhỏ như hai món đồ chơi. Cái cột đá này trông giống như linga của người Chàm xưa. Xuống dưới chân Lower Terrace, tôi đi vòng vòng cốt ý đi tìm Mammoth Chapel. Không gặp cái nhà nguyện nhưng lại thấy bảng chỉ đi hiking đến Beaver Pond, đường đi chỉ có 0.5 miles. Thật ra con đường dài 5 miles nhưng có ai đó đã viết số 0 và dấu chấm trước con số 5. Tôi và ông Tám muốn thử, nhưng thấy con đường này dính vào một cái trail khác dài hơn nên thôi. Tôi cẩn thận, sợ mình lạc vào cái trail dài hơn lại không biết lối ra, trời thì đã bắt đầu vào chiều.

Trở ra chúng tôi gặp Hymen Terrace. Tôi không nhớ nhưng ông Tám thì nhớ cái anh chàng đã hỏi đường lúc nãy. Tôi biết, nhưng sợ mình hiểu sai nên hỏi. Hymen là gì? Màng trinh. Tại sao người ta lại đặt tên của một cái hồ nước có chất vôi như vậy? Nghe không được thanh tao cho lắm. Mãi cho đến khi tôi nhìn thấy cái ngọn của Liberty Cap như xuyên qua Hymen Terrace tôi mới lẩn thẩn nghĩ rằng, à thì ra thế. Nhưng không biết mình ngộ ra như thế có đúng không. Hay chỉ tại vì mình có đầu óc không sạch sẽ?

Hôm qua Tống Mai có nhắc đến Roaring Mountain. Trên đường đi đến Mammoth Hot Springs tôi có đi ngang Roaring Mountain, một dãy núi đá vôi bốc khói trắng chói chang trong nắng.

Roaring Mountain

Grand Canyon of the Yellowstone

Grand Canyon of the Yellowstone The Upper Falls

Cái tên dài như thế là để phân biệt với Grand Canyon của tiểu bang Arizona. Grand Canyon of the Yellowstone có hai con thác. Thác bên trên là the Upper Falls có chiều cao 109 ft. Thác bên dưới the Lower Falls có chiều cao 308 ft. Ảnh trên tôi đứng ở bờ phía bắc (North Rim Drive) chụp thác bên trên.

Có thể nói điểm đặc biệt nhất của công viên này, với tôi, là cái hẻm vực có hai con thác nói trên. Tại sao nó lại quan trọng hơn cả mấy cái geysers (chỉ với tôi thôi)? Tôi cũng không biết rõ lắm, có lẽ vì tâm lý của người ít khi được thấy núi và thác chăng? Geyser tôi chỉ gặp lần đầu, còn thác thì đôi lần. Gần chỗ tôi ở có thác Niagara, mạnh hơn, to lớn hơn nhưng thác của Yellowstone lại quyến rũ hơn, có lẽ là nhờ nhìn thấy hẻm vực. Con sông Yellowstone ở nguồn thác nước chảy mạnh, chảy xiết, không hiểu sao lại gợi tôi nhớ đến con sông Nho Quế ở VN. Sông Nho Quế nước xanh hơn, chảy chậm hơn (có lẽ ở cái khúc sông tôi nhìn thấy). Đi chơi ở Mỹ, đôi khi tôi cũng thầm so sánh, ở bên mình cũng có. Nghĩ rồi lại cười thầm. VN đâu có phải là của mình sao lại dám bảo là bên mình.

Đi chơi ở Yellowstone có điểm lợi là ngoại trừ bạn trả 35 đồng US cho cả chiếc xe có thể vào trong công viên cả bảy ngày, bạn không phải trả một lệ phí nào khác cho các thắng cảnh trong công viên. Cả công viên cũng không khai thác thương mại quá đáng như thác Canada. Chỉ để vào xem miệng thác Niagara chúng tôi đã phải trả số tiền khoảng 30 đồng US. Đường đi rất dễ đi, chỉ dẫn rõ ràng. Đường lái xe rộng rãi, qua những đoạn đường đèo quanh co chớm chở đỡ nguy hiểm rất nhiều. Nếu bạn trên 65 tuổi bạn có thể mua một cái thẻ 80 đồng US dùng cho đến khi trăm tuổi già vào tất cả các National Parks của Hoa Kỳ mà không phải trả thêm lệ phí vào cửa.

Miệng thác dưới nhìn từ bờ phía Bắc

Bên cạnh con sông, cái thác, đá của hẻm vực cũng rất đẹp, thu hút người xem. Tôi rất thích những ngọn núi đá như bay bổng lên trời của Trung quốc. Mấy cái núi đẹp đến nỗi người ta đưa vào phim Avatar. Ở hai bên bờ vực của Yellowstone, nhất là đứng ở bờ phía Nam (South Rim Drive) sẽ nhìn thấy rất rõ. Không cần phải qua bên Trung quốc, xem đá ở đây cũng thỏa mắt nhìn.

Một trong những cụm đá bên bờ vực trông giống như một gia đình có cha mẹ và đứa con

Ở cuối sông Yellowstone hai bờ vực cao như núi, có đá màu vàng, nghe nói phản chiếu ánh dương buổi chiều rất đẹp. Ngày xưa thổ dân nhìn thấy màu đá vàng nên gọi là yellowstone. Người Pháp dùng lại chữ của thổ dân và từ đó về công viên mang tên này.

Bờ vực của sông Yellowstone
Thêm một triền núi đá

Hẻm vực này có chiều dài 20 miles tương đương 32 km, vách đá gần 1200 ft. tương đương 366 mét. Sự thay đổi hình dáng của hẻm vực tiếp diễn hằng ngày. Sông chảy xiết hơn, đáy sông sâu hơn, bề rộng vẫn nới rộng thêm.

Norris Geysers

Chúng tôi đến Yellowstone National Park (YNP) vào buổi chiều ngày 4 tháng 9, 2021. Nhà trọ Historic Madison Hostel ở West Yellowstone. Cả 96% diện tích YNP nằm trong tiểu bang Wyoming, 3% giáp ranh Montana, 1% nằm cạnh Idaho. Đường giao thông trong công viên được thiết kế theo hình số 8. Chỗ tôi ở, West Yellowstone nằm ở cạnh bên trái ngay chỗ thắt của hình số 8, tiện đường đi đến hầu hết các thắng cảnh trong công viên. Sáng hôm sau chúng tôi đến nơi gần nhất là Norris Geysers. Con đường từ phi trường Bozeman đến West Yellowstone dọc theo con sông Gallatin đẹp lộng lẫy như trong phim “A River Runs Through It.”

Không nhớ tên rặng núi này. Đứng ở trên đồi Norris Geyser Basin nhìn thấy rặng núi mờ mờ trong sương.

Trước khi đi tôi chẳng hề biết geyser là gì. Wikipedia tiếng Việt có một bài khá đầy đủ chi tiết về geyser, còn gọi là mạch nước phun. Ở Norris có mạch Steamboat Geyser, phun nước lên cao nhất của công viên, nhưng tùy lúc. Lúc tôi đến thì cũng thấy mạch nước phun, nó phun khá thường xuyên, nhưng chỉ cao độ 20 ft. thôi. Kỷ lục phun nước cao của nó là 300 ft. Bạn cứ tính 3 ft. tương đương 1 mét. Norris Geysers cổ nhất, và nhiều acid nhất trong tất cả geysers của Yellowstone.

Norris Geyser basin

Tấm ảnh bên trên tôi chụp lúc mới vào basin. Cả một vùng rộng lớn màu trắng, nhìn ra xa có những vùng khói trắng bốc lên nghi ngút, tôi không khỏi nghĩ đến sự điêu tàn của chiến tranh. Hoặc là mình lạc đến một hành tinh hoang vu nào đó không có sự sống. Tuy nhiên, giúp tôi thoát khỏi ý nghĩ vùng đất điêu tàn vì chiến tranh hay cảnh tượng hoang vu của hành tinh chết, là du khách đến xem. Vì là ngày trước Labor Day nên vẫn còn khá đông du khách, nhìn đâu cũng thấy người, all walks of life, đầy đủ mọi thành phần, đẳng cấp của cuộc đời. Già trẻ, cao thấp, khỏe yếu đều có mặt nơi đây.

Emerald Spring

Nước trong, nhưng có nhiều màu khác nhau tùy theo độ nước nóng và chất acid. Khi nhiệt độ của nước lên đến 140 độ F. đất chung quanh hồ nước sẽ có màu đỏ và cam tùy theo vi sinh trong nước.

Echinus acidic geyser

Nếu bạn cũng như tôi, ở thành phố, tuy gần biển nhưng chẳng mấy khi đến biển, công viên này (YNP) sẽ gây ấn tượng rất mạnh, vì nhìn đâu cũng thấy núi cao, và rất nhiều thác. Trên đường đến Norris Geyser Basin, chúng tôi đi ngang thác Gibbon. Cái chữ gibbon tự nó đã có chất quyến rũ tôi. Nếu bạn cũng như tôi thỉnh thoảng đọc thơ Đường và thơ haiku thì bạn sẽ rất quen với chữ gibbon là con vượn. Chữ gibbon luôn gợi trong tôi tiếng vượn hú buồn bã trên núi cao làm sưng tấy nỗi đau của những người ly hương. Ngạc nhiên là ở Mỹ chẳng mấy khi có vượn, dù loài vượn cũng có thể sống ở những nơi tuyết lạnh. Nơi đây phần lớn là rừng thông. Thông mọc khắp nơi từ trên núi cao đến ven thác, cạnh bờ sông.

Thác Gibbon chỉ là một thác nhỏ. Tuy vậy cũng được nhiều du khách chiếu cố. Người ta làm hàng rào dọc theo triền núi du khách có thể dừng xe vào bãi đậu và đi dọc theo con sông Gibbon để ngắm thác.

Thác Gibbon
Không nhớ chắc vì quên không ghi lại tên của geyser. Có thể đây là Steamboat Geyser

Thác Firehole

Thác Firehole Falls

Buổi sáng trước khi rời Yellowstone National Park, chúng tôi có vài tiếng đồng hồ rảnh rang. Chẳng có gì hay hơn là trở lại công viên quốc gia Yellowstone xem một vài chỗ mà chúng tôi bỏ qua vì những nơi này có vẻ nhỏ bé mờ nhạt so với những chỗ khác nổi tiếng hơn. Thác này chiều cao chỉ độ bốn mươi ft. (hơn 12 m.) và bề ngang chỗ hẹp nhất chỉ độ 150 ft. (45m.) thôi. Trong công viên này có rất nhiều thác, so với các thác nổi tiếng hơn thì thác này chẳng thấm vào đâu.

Ảnh trên đây là thác Firehole Falls. Ông Tám hỏi tôi vì sao người ta gọi là firehole làm tôi cũng ngớ người ra. Trong mấy cuốn sách guide book người ta có nói về địa danh này nhưng không thấy giải thích. Tiếng lóng, firehole nói về tình trạng ăn nhiều thức ăn cay quá nên khi bài tiết người ta cảm thấy nóng như bị cháy bỏng. Sông Firehole do những người săn thú thời xưa nhìn thấy những hố nước bốc hơi như những hố lửa cháy nên đặt tên là Firehole.

Thác Firehole Falls là một phần của con sông Firehole, nằm trong công viên quốc gia Yellowstone, thuộc tiểu bang Wyoming. Con sông này chảy qua địa bàn có nhiệt độ cao, một trong những tính chất của núi lửa ngầm, có nhiều khe thoát hơi nóng kết hợp với sông suối tạo thành sông và suối nước nóng. Dọc theo con sông này, có nhiều chỗ dòng nước nóng hòa với sông (nước lạnh) Gibbon và Firehole tạo thành những chỗ nước ấm có thể tắm được. Buổi sáng sớm đi ngang, thấy những chỗ tắm nổi tiếng đông người đều đã bị treo bảng, quây hàng rào ngăn cấm không cho người tắm nữa. Chẳng biết từ bao giờ và chẳng hiểu vì sao, tôi chỉ có thể đoán có lẽ là đã hết mùa hè.

Ở Yellowstone, ban ngày giữa trưa trời khá nóng, nhiệt độ lên đến 82 độ F. Tuy nhiên sáng sớm và chiều tối nhiệt độ khá thấp, có hôm chừng ba mươi mấy độ F. hơn nhiệt độ đông thành nước đá một chút thôi. Nhiệt độ này có thể nguy hiểm cho người tắm.

Sông Firehole nước chảy xiết, theo thời gian tạo thành vực thẳm với hai bên bờ đá dựng, tạo nên ba thác nước, Kepler Cascades, Firehole Falls, và Cascades of the Firehole. Tôi cũng mù mờ giữa Firehole Falls và Cascades of the Firehole nhưng nhận ra tấm ảnh tôi chụp là Firehole Falls là nhờ cái mõm đá nhô ra giống như trong ảnh của Wikipedia, trang này có hầu hết các bài viết khá chi tiết về các thắng cảnh trong The Yellowstone National Park. Bạn nào thích mục travel writing có thể tham khảo thêm, cùng với các bài tiếng Anh còn có thêm phần tiếng Việt.

Nước sông có nhiều chất kim loại có thể gây độc hại cho con người như boron và arsenic. Trước kia không có cá nhưng năm 1890 người ta có thả cá rainbow trout ở đầu nguồn từ đó chúng sinh sôi nhiều hơn và ngày nay cá nhiều đến độ chỗ này nổi tiếng với dân sành đi câu. Bên cạnh cá trout còn có một loại ốc New Zealand mud snail. Loại ốc bùn New Zealand sinh sôi rất nhanh đang trở nên một loại thủy vật xâm lăng gây hại cho môi trường sống của các thủy vật địa phương.

Hố nước nóng, một trong cỡ 500 geysers của Yellowstone National Park.

Tôi không nhớ cái hố nước nóng này nằm chính xác ở đâu. Có thể nó là một trong chùm Upper Geyser Basin trên đường đến Fairy Falls Trail. Đi trên đường thấy người ta đứng lố nhố xem nên chúng tôi cũng ghé lại. Tôi chụp vội vàng một tấm vì phải canh giờ để ra phi trường. Ở phía sâu một chút thấy người ta đi bộ trên boardwarlk quanh co rất đông.

Nói về một nơi chưa đến

Hoa Kỳ có 63 National Parks. Nhiều lần nghe nhắc đến Yellowstone National Park, rừng thuộc đẳng cấp quốc gia, tôi tò mò tìm hiểu thêm. Đây là rừng quốc gia đầu tiên thành lập vào ngày 1 tháng Ba năm 1872. Tổng thống Grant ký sắc lệnh.

Rừng này thuộc tiểu bang Wyoming, nằm ở một góc nhỏ phía Tây Bắc. Giáp ranh với Montana và Idaho. Ken Burns và Dayton Duncan làm một cuốn phim tài liệu nhiều tập về hơn 60 cánh rừng này. Họ cũng in ra một tập sách dày cỡ 2 kg. với rất nhiều hình ảnh đẹp lộng lẫy. Vì họ là những người làm phim nên tôi nghĩ họ sẽ có nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp đi theo để chụp ảnh. Nhưng không phải vậy. Có nhiều tấm ảnh độc đáo họ dùng là của một nhiếp ảnh gia người Việt. Lương Quang Tuấn.

Ông Tuấn là người đã đi hết 62 rừng cấp quốc gia của Hoa Kỳ. Tự ông cũng xuất bản một quyển sách bao gồm những hình ảnh trác tuyệt của hơn sáu mươi cánh rừng này. Quyển sách khổ rộng, tôi đoán 17×11. Quyển này có lẽ nặng 3kg. Quyển sách tựa đề “Treasured Lands – A Photographic Odyssey Through America’s National Parks” Dayton Duncan viết lời bạt. http://www.treasuredlandsbook.com/

Đúng là một kỳ công. Để đi hết số rừng này, không biết ông Tuấn mất bao nhiêu năm? Nếu mỗi năm đi 4 rừng, coi như cứ ba tháng đi một rừng, thì ông phải mất 15 năm.

Quyển sách của Duncan và Burns tôi mượn ở thư viện. Mấy bức ảnh ở gần cuối trang đã bị người nào đó đánh cắp mất rồi. Té ra dân đọc sách cũng không phải ai cũng lương thiện 🙂

Người Mỹ dùng chữ park thường được dịch là công viên. Tôi chọn chữ rừng vì hình ảnh của công viên dường như nhỏ bé quá so với mấy cái park này. Rồi tôi lại thấy người Mỹ còn có national forest, đúng là rừng to lớn rậm rạp hơn, thuộc hàng quốc gia quản lý. Thôi thì dùng chữ công viên quốc gia vậy.

Không biết người ta dùng tiêu chuẩn gì để phân biệt đẳng cấp. Mỗi tiểu bang đều có state park(s) nhưng chỉ có một số ít biểu bang có national parks. California có 7 hay 8 national parks, Utah có hình như 9 cái, trong khi New Jersey không có cái nào. National parks gần New Jersey có Acadia, và Shenandoah. Nói là gần nhưng cũng phải lái xe ít nhất là 5 tiếng đồng hồ.

Tracks và Wild

Tôi thường hay có những câu tự hỏi. Tại sao người già thích đi du lịch. Khoan đã, đừng vội vàng phản đối nha, các cô bạn trẻ của tôi. Tôi biết. Người trẻ đi du lịch rất nhiều. Đi xa, đi những chỗ khó đi khó đến, những chỗ nguy hiểm, đòi hỏi thể lực tốt. Nhưng số người già đi du lịch cũng rất nhiều. Tại sao? Có nhiều câu trả lời. Tại vì họ có thời gian (về hưu rồi) có sức khỏe, và có tiền (dành dụm suốt đời). Càng đi họ càng muốn đi. Có người bảo rằng, người trẻ đi để tìm kiếm chính họ, còn người già đi để đánh mất họ. Khi không còn phải quan tâm đến nhan sắc, cố gắng gây ấn tượng với ai đó trong xã hội, không ai quan tâm đến họ vì họ giàu hay nghèo, thí dụ thế, đi du lịch là một cách để tự xóa cái tôi của mình đi. Đi du lịch cũng là một cách đổi mới chính mình bằng có thêm hiểu biết. Đi du lịch là một cách để học hỏi về văn hóa, hòa nhập vào vẻ đẹp của thiên nhiên. Hoặc, nói như người Mỹ, “because I can.” Tôi rất thích câu trả lời tự tin đến ngang ngược này. Tôi làm điều gì đó, nói khơi khơi, chỉ vì tôi thích, có cơ hội, có điều kiện hay là khả năng. Cần gì phải có lý do.

Một câu tự hỏi khác, tại sao người ta thích đi du lịch một mình? Hỏi thì tự tìm câu trả lời. Bạn sẽ ngạc nhiên giống tôi, là người ta đi du lịch một mình rất nhiều, vì tôi có rất nhiều sách vở nói về du lịch một mình trong tay. Hôm nay, tôi chỉ giới hạn vào hai trường hợp. Tracks, quyển sách của Robyn Davidson, tác giả Úc, vượt sa mạc từ Glen Helen, gần như chính giữa châu Úc đến bờ biển Hamlin Pool. Có nhiều con số, nhưng tác giả quyển Tracks nói con đường tác giả đi dài 1,700 miles. Và Wild, của Cheryl Strayed người Mỹ, đi Pacific Crest Trail, bắt đầu ở Mojave gần Los Angeles đến cầu Bridge of the Gods nơi giáp ranh của tiểu bang Oregon và Washington. Tôi không nhớ rõ chiều dài chặng đường tác giả đi, chỉ nhớ là hơn 1,100 miles. Pacific Crest Trail còn dài hơn nữa, đoạn đường ở Mexico và Canada, Sheryl không đi.

Đính chính một chút, cả Robyn Davidson và Sheryl Strayed đều đi bộ, đi một mình đúng với nghĩa đi một mình hầu hết chặng đường (à, Robyn có con chó rất khôn ngoan tên Diggity), nhưng chủ yếu họ hiking hơn là thưởng ngoạn cảnh đẹp như du khách.

Mẹ của Robyn tự tử chết lúc Robyn 11 tuổi. Cô có em nhưng tứ tán khắp nơi. Bố tàn nhẫn hay đánh đập. Mẹ của Sheryl chết vì bệnh cancer, lúc Sheryl chưa học xong đại học. Bố ruột của Sheryl nghiện rượu bê tha. Bố dượng của Sheryl nhỏ tuổi hơn mẹ của Sheryl rất nhiều, nên giống như anh của đám con riêng của vợ hơn là bố. Mẹ Sheryl qua đời, ít lâu sau bố dượng mang người vợ mới về. Sheryl và mấy đứa em tản lạc khắp nơi.

Cả hai tác giả, sau khi mẹ mất, đều thất lạc phương hướng, cuộc đời trôi giạt. Robyn làm hết nghề này đến nghề khác, không nghề nào vững vàng, có thể giúp cô có cuộc sống hài lòng. Sheryl rơi vào sự thác loạn của dục vọng và ma túy. Cả hai chọn hiking đường dài vào chốn hoang dã, trước nhất là để được cô độc (to be alone), có nghĩa là tránh xa loài người. Tại sao lại cần cô độc? Để trả lời câu hỏi này, bạn có thể viết thành một bài luận dài dăm ba trang, và mỗi người sẽ có cách trả lời khác nhau. Nhưng chúng ta có thể đoán một cách đơn giản, nhiều khi tách rời xã hội, xa lánh mọi người, là cơ hội để chúng ta dưỡng thương, để tự chữa lành những nội thương tâm lý, hoặc là, để có cơ hội suy nghĩ, để được nghe chính sự suy nghĩ của chúng ta.

Tuy vậy, phụ nữ làm một cuộc hành trình đơn độc vào nơi nguy hiểm, luôn là câu hỏi đầu tiên nên cả hai đều giải thích qua tác phẩm.

Robyn viết, “cảm thấy chán ngán với những điều lập lại trong đời mình, những cố gắng nửa vời, những kết quả dang dở, hết việc làm này đến việc làm khác, hết học cái này đến học cái khác; tôi chán cái tự mình chiêu đãi những mặc cảm tự ti, tự cho mình hèn kém, một thứ bệnh tật của thế hệ chúng tôi, phái nữ của tôi, và giai cấp của tôi.”

“Tôi quyết định làm một điều mà ngay lúc ấy tôi không thể giải thích suôn sẻ. Tôi chọn lựa điều muốn làm chỉ thuần là bản năng, rồi sau đó mới tìm ra ý nghĩa cho nó. Cuộc hành trình này không bao giờ, trong ý nghĩ tôi, là một cuộc phiêu lưu để chứng mình một điều gì đó. Tôi thấy điều khó khăn nhất là sự quyết định hành động, mọi sự sau đó chỉ cần cố gắng kiên trì. Sự sợ hãi chỉ là con cọp giấy mà thôi. Người ta có thể làm bất cứ điều gì người ta thật sự muốn làm, như thay đổi việc làm, dọn nhà đến ở nơi khác, ly dị người hôn phối, hay bất cứ điều gì người ta cần phải hành động để thay đổi và tự lèo lái cuộc đời mình. Phương pháp thực hiện và diễn tiến đưa đến kết quả, tự chúng đã là phần thưởng.” Trang 38 của Tracks. Nguyễn thị Hải Hà dịch thoát ý.

Sheryl gặp Albert ở một trạm dừng chân trên Pacific Crest Trail. Albert, 52 tuổi, là người có kinh nghiệm hiking đường dài. Ông giúp Sheryl loại bỏ hành lý không cần thiết cho nhẹ bớt đi, và lúc chọn lựa đồ, ông hỏi cô vì sao làm chuyến đi này. Sheryl viết,

“Cháu muốn thổ lộ với bác – tại sao cháu quyết định hiking PCT? Cháu ly dị chồng. Cháu có gia đình, mới đây cháu ly dị, và khoảng bốn năm trước mẹ cháu chết – Mẹ cháu chỉ mới 45 tuổi, bất ngờ bị ung thư, rồi chết. Thời kỳ này cháu bị khủng hoảng trầm trọng và cháu trở nên sai lầm, đi chệch hướng. Vì vây . . . ” Ông nhìn tôi, mắt mở to hơn. “Cháu nghĩ đến nơi hoang vắng này sẽ giúp cháu tìm thấy trọng tâm của đời mình. Tôi xoa hai tay như vò nát một cái gì đó, vô hình, không tìm ra lời để nói, hơi ngạc nhiên khi thấy lời nói nghiêng ngã tuôn chạy ra khỏi mồm. Wild, trang 115. Nguyễn thị Hải Hà dịch thoát ý.

Những đoạn văn trích từ quyển Tracks và Wild cho độc giả thấy lý do vì sao họ làm một chuyến đi bộ đường dài một mình vào nơi hoang dã cô tịch. Đó là những điều họ nói ra. Người đọc có thể nhận ra những lý do khác họ không nói, không muốn nói, hay không thể nói.

Cả Tracks và Wild đều được làm thành phim. Tôi xem phim Wild với cô con gái út. Phim có nhiều cảnh trần truồng, khá thô tục khiến tôi cảm thấy ngượng khi đi xem với con. Tracks ít sex, kín đáo hơn. Cảnh trong phim Wild rừng núi hồ ở Mỹ màu sắc hơn. Tracks vì diễn viên đi qua sa mạc Úc, đường dài toàn màu đất đỏ. Người Úc dùng chữ tracks, người Mỹ dùng chữ trail. Tracks của Robyn Davidson là đường mòn, không được đánh dấu kỹ càng, có nơi mất dấu, nên khó đi hơn. Pacific Crest Trail mới thành lập, vẫn được tiếp tục bổ sung, sửa chữa, trang bị. Đây là một trong những con đường xuyên rừng núi khá đông người đi. Qua hai quyển sách, đường Pacific Crest Trail, có lẽ an toàn hơn và dễ đi hơn.

Trong Wild, Sheryl cũng gặp ít nhất là một phụ nữ đi một mình trên PCT. Lý do? Người ấy nói, muốn tìm một cái gì đó ở nội tâm của mình. Cả hai phim đều cho thấy, phụ nữ khi cô độc vượt ngàn dặm đường, họ thường được chú ý, giúp đỡ hơn là đàn ông.

Xem phim, khán giả có thể tưởng lầm là cả hai cô gái, Robyn và Sheryl, bốc đồng, khờ khạo hay điên rồ, hoặc muốn được chú ý tìm cách để nổi tiếng khi làm một chuyến đường dài tự đày đọa mình như thế. Tôi không nghĩ thế.

Tôi thấy cả hai đều có khuynh hướng viết văn, tìm một chủ đề lạ và hấp dẫn, đủ làm cho mình say mê để viết, và độc giả sẽ thích. Cả hai đều chuẩn bị cuộc hành trình khá kỹ lưỡng. Robyn đã bỏ ra cả năm trời đi học cách huấn luyện lạc đà, dùng lạc đà để chuyên chở hành lý của nàng. Tại sao lại là lạc đà, vì con đường Robyn đi xuyên qua sa mạc, không dành cho xe ô tô, không có chỗ đổ xăng. Muốn đổ xăng phải đi ra khỏi đường mòn. Cả hai đều có bạn bè, người thân, giúp chuyển đồ tiếp tế đến những trạm tiếp vận. Chuyến đi được chuẩn bị kỹ càng do đó đỡ nguy hiểm hơn, tuy vậy vẫn có những bất trắc không lường trước được.

À, Robyn trong Tracks có súng để tự bảo vệ. Cô nàng bắn chết vài con lạc đà đực đang thời kỳ kiếm vợ, có thể xông vào bất cứ thứ gì nó gặp, mà đoàn lạc đà của Robyn thì con dẫn đầu lại là lạc đà cái, nên rất nguy hiểm. Robyn có con chó rất khôn ngoan. Khi con chó chết tôi khóc rưng rức theo tác giả. Đoạn văn Sheryl tả đang ngủ cô có cảm tưởng như hàng ngàn bàn tay li ti chạy nhảy trên thân người của cô cũng làm tôi cảm thấy rờn rợn. Trong phim có chiếu thoáng qua cảnh những con tree frogs leo lên trên mền ngủ của Sheryl nhưng nhanh quá không đủ làm người xem cảm thấy cảm giác lạnh lẽo rờn rợn của những bàn tay cóc trên da người. Trong Wild cũng có cảnh bắn ngựa nhưng chỉ là hồi tưởng của Sheryl.

Cả hai cuốn sách đều hấp dẫn, người đọc sẽ gặp nhiều ý nghĩ đáng suy ngẫm. Robyn Davidson viết Tracks khi đang tuổi ba mươi. Khi bắt đầu chuyến đi bà chưa nổi tiếng nhưng cũng quen biết nhiều người trong giới viết văn. Bà được Rick Smolan nhiếp ảnh gia của National Geographic Magazine giới thiệu nên được đặc san này đài thọ chuyến đi. Số tiền nhỏ, tượng trưng thôi, chừng 4 ngàn đô la, nhưng cũng giúp Robyn khá nhiều. (Hình như số tiền National Geographic Magazine dành cho chuyến vượt sa mạc của Robyn lớn hơn nhiều chứ không phải chỉ 4 ngàn, nhưng Rick Smolan được toàn quyền quyết định chi tiêu và ông ấy chỉ bỏ ra 4 ngàn để giúp Robyn tổ chức chuyến đi. Số tiền còn lại ông dùng để làm gì? Tôi đoán, để đài thọ những chuyến đi chụp ảnh khác). Khi Robyn viết quyển Tracks bà ở chung nhà với Doris Lessing (vâng, đúng là nhà văn được giải Nobel). Và có một thời gian bà sống chung với Salman Rushdie (lại thêm một nhà văn nổi tiếng trên thế giới). Sheryl đã từng giữ một cột báo chuyên giải đáp tâm tình tư vấn và xuất bản những bài báo này trong quyển “Tiny Beautiful Things: Advice on Love and Life from Dear Sugar Torch.”

Chuyến đi đường dài đã thay đổi cuộc đời của mỗi tác giả theo chiều hướng tốt đẹp hơn. Nhất là trong Wild, từ thác loạn tình cảm Sheryl đã tự tiết chế, người đọc nhận ra được sự phân vân giữa cái cám dỗ và dừng lại của người viết. Rất thú vị. Tracks xuất bản năm 1980. Wild, xuất bản năm 2012. Những chi tiết đồng dạng giữa hai quyển sách làm tôi không tránh khỏi cái ý nghĩ tác giả của Wild chịu sự ảnh hưởng của Tracks.

Điểm đặc biệt, rất quan trọng của quyển Tracks tôi để cuối bài mới nói đến. Robyn Davidson miêu tả cuộc sống của thổ dân Aborigines rất chi tiết. Người Aborigines bị chiếm đất, ngày càng bị đẩy vào những vùng đất khô cằn không thể canh tác, không được tiếp cận học vấn dễ dàng, vì thế đời sống của họ ngày càng nghèo khó kiệt quệ. Chính phủ Úc đã cắt giảm ngân phí tài trợ thổ dân khiến cuộc sống của họ ngày càng khó khăn, bệnh tật không có nơi chữa trị. Nền văn hóa của họ ngày càng bị xóa mờ. Không chỉ là một cuộc phiêu lưu tìm kiếm bản thân, Robyn Davidson đã thực hiện một chức năng nghiêm chỉnh của nhà văn, là nói lên tiếng nói của những người bị bóp nghẹt. Bà Davidson đã biểu lộ rất nhiều thiện cảm với người thổ dân Úc. Họ đã giúp đỡ bà rất nhiều trong chuyến đi. Vì bà phải đi ngang vùng đất cấm, vùng đất thờ phượng tổ tiên của người Aborigines nên cần phải có một trưởng lão đi với bà. Eddie, vị trưởng lão tuy không biết nhiều tiếng Anh nhưng trở nên một người bạn rất thân của Robyn, đã dắt Robyn đi bộ 200 miles qua vùng cấm địa. Thỉnh thoảng ông được cưỡi lạc đà nhưng hình như không thích lắm.

Xin nói thêm là quyển sách của Robyn xuất bản năm 80, do đó tình trạng của người Aborigines đến nay chắc hẳn là đã được chính phủ Úc tài trợ khá hơn xưa rất nhiều.