Núi Nam – thơ Nguyễn Thị Hải

Hôm nay xin mời các bạn đọc hai bài thơ của Nguyễn Thị Hải đăng ở Gió O. Núi Nam và Vị Thành Khúc, hai bài thơ cổ làm nền tảng cho đóa hoa sáng tác của Hải.

http://www.gio-o.com/NguyenThiHai/NguyenThiHaiNuiNam.htm

Tôi vốn yêu thích mấy câu thơ trong bài Vị Thành Khúc của Vương Duy từ ngày xưa còn bé.

Khuyến quân cánh tận nhất bôi tửu.
Tây xuất Dương Quan vô cố nhân.
Mời ai cạn chén nỗi niềm.
Dương Quan tiễn biệt khuất chìm dáng xưa.

Mất cái hướng Tây, xin lỗi bạn đọc vậy.

Vì có một số bạn không vào trang Gió O được, nên xin mời các bạn thử trang facebook của Gió O nhé. Nếu cũng không được thì tính sau.

Koi – thú tiêu khiển của người giàu

Bài đăng ở Gió O.
http://www.gio-o.com/NguyenThiHaiHa/HaiHaCaKoi.htm

Tùy theo cách viết, chữ Koi có hai nghĩa.

Koi.  Chữ Koi này, tiếng Anh là common carp, loại cá chép thông thường.  Chữ Koi mà chúng ta thường dùng để chỉ loại cá chép có vân hoa màu rực rỡ, theo tiếng Nhật viết một cách đầy đủ, là nishikigoi, có nghĩa là brocaded carp.

Nishikigoi viết theo cách kanji, như sau:

 Nishikigoi – cá chép có vân hoa nhiều màu

Còn một chữ Koi nữa, đồng âm khác nghĩa.

Chữ Koi này có nghĩa là tình yêu. 

Koi ban đầu là một nhóm cá chép xuất phát từ miền Trung châu Âu, và châu Á.  Vì dễ nuôi, mau lớn, sống lâu nên được nuôi để ăn thịt ở châu Á.  Chúng theo chân người Trung Hoa vào Nhật Bản khoảng chừng thập niên 1820.  Ban đầu Koi chưa có màu sắc.  Không ai biết người ta bắt đầu ghép giống tạo màu sắc cho Koi từ bao giờ nhưng vào năm 1914 ở một cuộc trưng bày cá Koi, ở Tokyo, loại cá này trở nên nổi tiếng và lan truyền khắp nơi trên thế giới.

Vào thập niên 1980 cá Koi chưa xuất hiện nhiều, người ta thỉnh thoảng gặp loại cá nhiều màu sắc này trong bồn cá của một vài nhà hàng Trung Hoa, hoặc phòng chữa răng của nha sĩ.  Trưng bày Koi ở những cơ sở thương mại là một cách chiêu dụ khách hàng rất hay.  Thực khách có cái để ngắm nhìn trong khi chờ thức ăn được mang ra. Các em nhỏ hiếu động có chuyện để làm, thí dụ như thôi miên và trò chuyện với đàn Koi, không chạy lung tung chỗ này chỗ nọ.  Cá, được tin là có tác dụng làm người xem cảm thấy dễ chịu và yên tĩnh hơn.  Chẳng những thế, người ta, nhất là người Trung Hoa và người Nhật Bản, tin rằng cá Koi là biểu tượng của giàu có và thịnh vượng.  Bên cạnh là biểu tượng của giàu có và thịnh vượng, Koi hiện nay là trò chơi, là thú tiêu khiển của những người giàu hay ít nhất là cũng phải có tiền, dư dả.

Giá của cá Koi có nhiều hạng.  Bạn có thể mua một con cá Koi dài chừng bốn inches (một tấc) với giá $10[1] hay $105/10con, hay $165/25con)[2].  Bạn có thể đến một trại chuyên nuôi cá Koi (koi farm) để mua giống Koi tốt hơn.  Hiện nay trên thế giới có rất nhiều trại nuôi cá Koi, tiểu bang New Jersey nơi tôi đang ở cũng có ít nhất là hai trại.  Giá một con cá Koi nuôi để dự thi có thể lên đến hai mươi ngàn.  Một con cá Koi, sau khi đoạt giải thưởng ở Tokyo năm 2017, trị giá trị 1 triệu 7 trăm ngàn đô la.[3]  Chữ[4] một người nuôi Koi để ngắm chứ không dự thi hay buôn bán, cho biết anh bỏ ra 10 ngàn đô la để mua năm (5) con cá Koi và 97 ngàn đô la để xây hồ nuôi cá.  Đúng là nghề chơi cũng lắm công phu.  

Nhưng nuôi Koi không còn chỉ là thú tiêu khiển nữa.  Ngày nay, nó là một cơ ngơi thương mại trị giá hằng chục triệu hay hơn.  Tôi không có tài liệu chắc chắn, nhưng nếu giải thưởng cho con cá Koi to nhất là một triệu bảy, thì cộng thêm những tổn phí để tạo nên giải thưởng “All-Japan Show for Nishikigoi” này chắc chắn là không ít.  All-Japan Show for Nishikigoi còn được gọi là ZNA viết tắt của Zen-Nippon Airinkai tính đến nay (tháng 9 năm 2019) đã 55 tuổi (thành lập vào năm 1964) thể theo báo mạng The Japan Times[5] của tác giả Edan Corkill đăng ngày 13 tháng 12 năm 2009.  

Người ta sẽ làm gì với con cá Koi bạc triệu này?  Cá Koi tuy đẹp nhưng không phải là một bức tranh.  Một bức tranh nổi tiếng, có thể mua để đầu tư.  Càng để lâu càng lên giá.  Bảo quản tốt và mua bảo hiểm cho bức tranh thì không sợ chỉ một sớm một chiều, hơn một triệu đô la biến thành không khí.  Cá Koi thì khác.  Koi tuy sống lâu, cũng chỉ đến vài chục năm.  Người mua con cá Koi bạc triệu này ắt phải có rất, nhấn mạnh, rất nhiều tiền, gấp nhiều lần hơn con số một triệu bảy, để có thể xem chuyện con cá quí giá của mình chết đi, trước khi mình có thể bán nó lại cho một anh tỉ phú khác, là chuyện được thua của một canh bạc.  Nghĩ cho cùng, so sánh một cách tương đối để làm ví dụ; khi người ta có mười ngàn, hay trăm ngàn, thì chuyện đánh mất một đồng quả là không đáng quan tâm.

Ngày nay, chúng ta có thể xem cá Koi ở rất nhiều nơi.  Rất nhiều tư nhân nuôi cá Koi, hồ xây ở trong nhà hay sau vườn.  Các công viên Nhật Bản ở Hoa Kỳ đều có hồ cá Koi.  Công viên Nhật Bản ở Hoa Kỳ hầu như tiểu bang nào cũng có.  Ở tiểu bang California có đến ba hay bốn công viên Nhật Bản rất rộng lớn và phong phú.  Vườn nào cũng có hồ cá Koi.  Năm 2018 tôi về Việt Nam chơi, ngạc nhiên thấy trong một quán cà phê ở Cần Giuộc có một hồ cá Koi đầy màu sắc và nước hồ thì trong suốt. 

Figure 1- Hồ Cá Koi của một quán cà phê ở Cần Giuộc (Lúc gửi bài cho Gió O tôi viết nhầm là Cần Giờ, ngại đòi chủ biên sửa bài mất thì giờ của chủ biên nên tôi sửa ở đây. Bạn đọc thông cảm nha)

Tháng Tám vừa qua, tôi đến chơi nhà một chị bạn ở Auburn.  Chị đưa chúng tôi đi xem một trại bán hoa kiểng ở đó.  Tấm ảnh dưới đây chụp đàn cá Koi trong hồ của trại hoa.  Đàn cá này có vẻ như rất gần gũi với loài người, hễ thấy bóng dáng người ở đâu là chúng bơi thật nhanh đến để chờ được cho ăn.

Figure 2 – Cá Koi trong hồ ở một trại bán hoa kiểng ở Auburn – California

Có lẽ vì thấy tôi chụp ảnh cá Koi, chị Khiêm đưa tôi đến nhà Chữ, bạn của chị, để xem hồ cá của ông ấy.  Ông Chữ có độ năm chục con cá Koi.  Ông rải thức ăn để cá trồi lên ăn cho chúng tôi xem.  Con cá yêu quí nhất của ông là loại cá Koi màu trắng có hoa vân đỏ, tiếng Nhật gọi là hokaku.  Có người vì yêu thích hokaku mà đặt cho danh hiệu The Queen of Koi – nữ hoàng của cá Koi.  Hokaku, tùy theo hoa vân người ta chia ra nhiều nhóm khác.  Loại hokaku có hoa vân đỏ trên môi, giống như môi son của các nàng kỹ nữ geisha là Kuchibeni có nghĩa là son (tô) môi.  Người Nhật không thích cái tên này vì cho rằng gợi nhớ đến kỹ nữ không phải là giới được kính trọng, nhưng người Mỹ lại rất thích, thấy vết son môi cá này rất đáng yêu.[6]

Figure 3 – Một góc hồ cá ở nhà ông Chữ đứng từ trong nhà chụp xuyên qua cửa kính.

Hồ cá của ông Chữ rất rộng lớn, rất tiếc vì tôi đã không ghi chép lại nên không còn nhớ kích thước, chỉ nhớ mang máng độ sâu của hồ là 6 feet.  Nhà của Chữ ở trên đồi cao.  Mặt trước của nhà có cùng độ cao với mặt đường bên ngoài, gần đỉnh cao nhất của con dốc.  Từ tầng thứ nhất xuống tầng hầm (basement) có thang máy.  Cửa tầng hầm mở ra phía chân đồi thoai thoải dốc.  Hồ cá ở tầng thứ nhất.  Để xây hồ cá ở phía sau căn nhà trên đồi, Chữ xây một khối bê tông dày 20 feet làm chân của hồ. Một phần của hồ được nối, ăn vào nền tảng của căn nhà để gánh bớt sức nặng của hồ, bao gồm vừa nước, vừa đá để làm thành hồ và các kiến trúc trang trí cho hồ.  Hệ thống máy bơm nước và không khí, lọc đãi và thải chất bợn nhơ được cất giữ trong một căn phòng riêng bên cạnh basement.  Ông Chữ cho biết, xây hồ sâu 6 feet là để cá Koi có thể phát triển đúng mức.  (Có chỗ tôi viết nhầm là 6 mét bạn đọc sửa giúp nhé.) Cá Koi có thể sống rất lâu (kỷ lục là hơn 200 năm nhưng không thể kiểm chứng con số này).  Con cá Koi lớn nhất thế giới “Big Girl” nặng 91 lbs (41kgs) và dài 48 inches (1.2m).[7]  Con cá to nhất của ông Chữ dài độ hai ba gang bàn tay, có lẽ nặng chừng 20 lbs.  Đứng trên bờ nhìn xuống nước thật khó ước lượng kích thước của cá.  Chụp vào trong ảnh thì nó càng lừa dối mắt của người hơn.  Xây hồ sâu 6 feet cũng để đề phòng những con chim to đến săn cá.  Để ngăn ngừa ông xây hàng rào cao chung quanh hồ.  Chim cần phải có một khoảng cách rộng để bay xà xuống, chộp cá, và cất cánh bay lên.  Nếu hồ cạn 2 feet, loại chim to như cò stork, hay con hạc (heron) có thể đậu xuống giữa hồ và bắt cá.  Thỉnh thoảng diều hâu, chim ó đậu trên cành cây cao chung quanh nhà rình săn cá, ông dùng súng BB bắn đuổi chúng đi.

Tôi hỏi, nhưng trước khi hỏi tôi dè dặt đặt giả thuyết: “Dĩ nhiên là anh không hề muốn bán, và sẽ không bao giờ bán cá, nhưng nếu vì một trường hợp nào đó, anh phải bán nó đi, thì với giá nào anh sẽ bán con cá Koi to nhất?”  Ông Chữ đắn đo một chút rồi trả lời.  “Hai chục ngàn.”  Ông xây cái hồ 97 ngàn, mua năm con cá Koi, mỗi con giá 2 ngàn thả vào hồ.  Nói sơ qua chuyện cái hồ để nhớ rằng, nghề chơi cũng lắm công phu.  Ông Chữ nói như đùa, mà rất thật.  “Có nhiều người rất giàu, rất nhiều tiền, nhưng không phải ai cũng dám bỏ ra hơn chín mươi ngàn để làm hồ nuôi cá.”  Thật vậy!

Figure 4 – Hồ cá Koi ở vườn Nhật Bản Austin, Texas

Đa số hồ trong các công viên thiết kế theo kiểu Nhật Bản đều có hồ nuôi cá Koi, và trong hồ có các loại thủy thảo như hoa súng hoa sen hay cỏ u ru.  Hồ cá trong tiệm cà phê ở Cần Giờ và hồ cá của ông Chữ không có các loại hoa cỏ mọc trong nước.  Ông Chữ cho biết nếu có hoa cỏ trong nước, cá sẽ núp dưới hoa cỏ để tự bảo vệ, và như thế sẽ khó ngắm cá hơn.  Cá Koi theo bản tính thường trầm mình dưới đáy, chỉ trồi lên trên mặt nước để tìm thức ăn. 

Cá Koi không thấy được nhắc nhở nhiều trong văn hóa Việt Nam.  Tranh ảnh thì thấy có cá vàng nhưng cá vàng tuy thưở xa xưa có cùng nguồn gốc cá chép nhưng bây giờ thì không còn cùng gia đình giòng họ với cá Koi.  Chuyện xưa tích cổ, cô Tấm có nuôi con cá bống mú, thường hát gọi cá bống mú lên ăn cơm.  Cá bống mú cũng có vân hoa nhưng không có màu như Koi.  Ca dao về cá thì có nhiều, cá thu, cá đối, cá hồng, cá diệc, nhưng chẳng thấy ai nhắc đến cá Koi.  Cá Koi có ăn thịt được không? Được, nhưng không ngon, nhất là mấy con cá bạc triệu. Không phải chỉ vì tiếc tiền nhưng mà một con cá sống cả chục năm, thịt của nó phải dai hơn.  Dù có rẻ hơn đi nữa thì chắc tôi cũng không thể nào đưa lên chảo một con cá trị giá 2 ngàn đồng, bằng với giá con cá ông Chữ đã mua.

Cá thu nấu với dưa hồng.  
Lơ mơ có kẻ mất chồng như chơi.
Con cá đối nằm trong cối đá.  
Con chim đa đa đậu nhánh đa đa.
Buổi chợ đông con cá hồng anh chê lạt.  
Buổi chợ tàn con tép bạc anh cũng mua.
Nước mắm ngon dầm con cá diệc,
Em có chồng mà không nói thiệt với qua.

Cá Koi theo chân người Trung Hoa vào Nhật Bản, và mang theo câu chuyện loài cá chép vượt thác đến cổng trời biến thành rồng.  Cá Koi trắng có đốm tròn đỏ trên đầu trông giống như lá cờ Nhật Bản.  Với sự tích vượt thác, cá Koi tượng trưng cho sự can đảm đương đầu với chướng ngại và kiên trì theo đuổi cho đến khi đạt đến mục tiêu, được so sánh với những nhà dũng sĩ samurai. 

Tôi đã nhắc sơ qua ở phần đầu bài tạp văn chữ Koi đồng âm nhưng khác nghĩa với cá Koi.  Chữ Koi có chữ “tâm”, có nghĩa là tình yêu.  Nhà văn Amélie Nothomb trong quyển tiểu thuyết tự thuật “Tokyo Fiancée” có nói về chữ Koi này.  Sarah Fay, trong bài điểm sách “Tokyo Fiancée” cho biết, Amelie Nothomb đã giải thích ý nghĩa của chữ Koi.  Trong khi chữ love-tình yêu có ý nghĩa nghiêm túc thì chữ koi gần với slang – tiếng lóng, có nghĩa là một thứ tình cảm hời hợt hơn, một thứ friends with benefits.  Hai người có thể có quan hệ tình dục với nhau mà không nghĩ đến chuyện lâu dài.  Một mối quan hệ gần với tình bạn tình đồng chí hơn là tình yêu lãng mạn của đôi lứa.[8]

Tokyo Fiancée có nghĩa là vị hôn phu người Tokyo, viết ra như thế thì hơi dài, tôi muốn dịch vắn tắt hơn là “Người Tình Tokyo,” (bắt chước bà Duras có quyển Người Tình Hiroshima), dù như thế thì không đủ nghĩa. Amelie, nhân vật nữ chính, bố mẹ là người Bỉ, sinh cô ra ở Tokyo, dọn về xứ lúc cô năm tuổi. Hai mươi tuổi, cô quay trở lại Tokyo để sống. Cô nhận dạy tiếng Pháp cho một chàng trai Nhật, dĩ nhiên là ở Tokyo, đẹp trai, con nhà giàu – rất giàu. Cậu học sinh yêu cô, đưa cô đi chơi khắp cùng Tokyo và tiếng Pháp của cậu ngày càng tinh tấn hơn. Cậu về thưa cha mẹ đòi cưới cô, và hai người đính hôn. Vào lúc ấy Nhật Bản bị cơn sóng thần (2011), bố mẹ Amelie bắt cô phải về, và hang xóm Nhật khuyên cô phải về. Amelie vào lúc ấy cũng nhận ra mình còn quá trẻ để nghĩ đến hôn nhân lâu dài. Cô phân vân không biết cả hai chỉ yêu một thứ thần tượng mà họ đã xây dựng trong họ từ bao năm nay. Cô xem Nhật Bản (văn hóa, ngôn ngữ) là thần tượng, và cô tượng trưng cho văn hóa và ngôn ngữ Pháp, trở thành một thứ thần tượng của Rinri, người tình Tokyo. (Đoạn này viết sau nha các bạn)

Để cá Koi có màu đẹp các chuyên gia phải ghép nối, cấy giống của nhiều loại cá Koi có màu khác nhau, nhiều đời cá, rất lâu ngày mới thành tựu.  Mỗi con cá Koi có một số lượng tế bào màu sắc nhất định.  Theo thời gian, những tế bào màu sắc này có thể chết đi do đó trong tiến trình nuôi cá Koi, cá Koi có thể biến đổi màu.  Môi trường sống của cá cũng có thể làm cho cá đổi màu bằng cách mang những màu sắc tiềm ẩn trong tế bào xuất hiện hoặc trấn áp màu sắc hiện có.  Trong thiên nhiên, không phải chỉ Koi mới có nhiều màu sắc.  Trên chuyến tàu vượt biên, và cả khi ở đảo Bi Đông, tôi thấy có loại cá rất nhiều màu sắc khác nhau, có thể nói là cả bảy màu trên một con cá lớn hơn bàn tay một chút.  Tuy nhiên, vì không có bằng chứng, nên không thể cả quyết, vì sợ độc giả cho rằng mình nói láo. 

[1] https://koistory.com/blog/just-how-much-are-koi-fish

[2]Blue Ridge Live Koi Fish Butterfly Fin – Garden Pond, Aquarium and Tank, Healthy and Bio-Secure – Grade A

[3] https://www.youtube.com/watch?v=gGY2k39pebo

[4] Tên của tất cả mọi người trong bài đều được thay đổi.

[5] https://www.japantimes.co.jp/life/2009/12/13/lifestyle/the-colorful-lure-of-carp/#.XW_IaXdFxPY

[6] “The World of Koi” do Keith Holmes, Tony Pitham, và Nick Fletcher biên soạn.

[7] http://www.hanakokoi.com/

[8] https://www.nytimes.com/2009/01/03/arts/03iht-idbriefs3B.19053425.html?searchResultPosition=1

Nguyễn Thị Hải Hà

http://www.gio-o.com/NguyenThiHaiHa.html

© gio-o.com 2019

I want Only to Be a Worn-Down Stone

by Alain Mabanckou
Issue no. 229 (Summer 2019) The Paris Review

I want only to be a worn-down stone 
on the ruins of time,
a dolmen
raised above this forsaken graveyard’s 
terrain

—Translated from the French by Nancy Naomi Carlson

Đây là ảnh ngôi mộ đá dolmen, ảnh Wikipedia

Tôi chỉ muốn làm một hòn đá nhẵn mòn,
dấu tích của thời gian đổ nát,
bia mộ tôi, vài phiến đá sơ sài
trong nghĩa địa bỏ hoang

Chuyện xếp hàng ở Việt Nam

Tôi ít đi du lịch.  Lần về Việt Nam tháng Ba năm 2019 có nhiều chuyện hay, nhưng thú vị nhất vẫn là những người tôi đã gặp.  Có vài chuyện tốt và một chuyện không tốt mấy, tôi kể chuyện không tốt trước để dẹp nó sang một bên. Chuyện tốt có nhiều hơn xin hứa sẽ kể sau, kẻo bạn trách tôi không công bằng.

Chuyện người Việt Nam không thích xếp hàng ở Việt Nam thì xưa rồi, thay đổi nhiều rồi.  Ở phi trường Tân Sơn Nhất, Nội Bài, và phi trường Đà Nẵng, hầu như chín mươi chín phần trăm người ta xếp hàng đàng hoàng. Những người xếp hàng này có cả Việt Nam lẫn ngoại quốc, tôi nghe họ nói chuyện với nhau bằng tiếng Trung quốc, tiếng Pháp, hay tiếng Anh.  

Lúc xếp hàng ở phi trường Đà Nẵng để vào Sài Gòn tôi gặp một cô gái trẻ độ hơn hai mươi.  Tóc đen cắt ngắn uốn dợn sóng.  Cô khá cao độ 1 mét 65 hay hơn, lớn xương, màu da trắng ngà, khiến tôi tự hỏi không biết cô là người Nhật hay Hàn.  Cô đeo ba lô, mặc áo da màu đen, quần jean màu đen rách lỗ chỗ (rách một cách cố ý), mang giày ủng (boots) gót cao nhọn (stiletto) cũng màu đen.  Trông cách ăn mặc và trang điểm, cô giống như một ca sĩ nhạc rock hay một người ở nước ngoài về.  Mà trời ạ, tháng Ba ở Đà Nẵng chẳng khác gì Sài Gòn, trời nóng 35 hay 37 độ C. thế mà cô mặc tuyền đen lại có cả áo da kiểu blouson và cổ có quấn lơi cái khăn quàng như thể cô chuẩn bị đi New Zealand.  Cô đi từ phía sau tôi, vượt qua tôi, ngừng lại trò chuyện với người đứng trước tôi, bằng tiếng Việt.  Cô nói những chuyện giấy tờ, hỏi han cái gì đó về những chuyện nguyên tắc luật lệ hàng không.  Xong cô ngước mắt về phía các nhân viên điều hành có vẻ như cần phải hỏi cái gì đó quan trọng lắm.  Và cô cứ từ từ tiến tới về phía trước tôi, dừng lại hỏi một người nào đó dăm ba câu.  Chừng vài ba lần như thế chẳng bao lâu cô đã tiến đến chỗ người ta xét giấy tờ cho vào bên trong phi trường.

Tất cả mọi người chung quanh, cũng như tôi, đều nghi ngờ nhưng không cả quyết, rằng cô gái mánh mung để không phải xếp hàng.  Tự nhiên tôi cảm thấy tức giận.  Tức vì mình bị lừa bởi một cô gái khôn lỏi.  Tức vì cô làm thế là làm xấu hổ người Việt Nam, người ngoại quốc sẽ bảo rằng người Việt Nam thiếu văn hóa.  Nói cặn kẽ hơn là thiếu văn hóa xếp hàng.

Tôi nói vọng lên phía trước.  Này cô kia, cô mặc quần áo đen kia, cô làm như thế là không tốt.  Cô chẳng buồn nhìn đến tôi, nhưng khi nghe tiếng tôi quát tháo cô nhìn về hướng tôi và nhận ra là tôi đang nói đến cô.  Tôi không thường nói lớn tiếng vì hễ tôi nói lớn, cổ tôi bị đau.  Nhưng hôm ấy tôi lên giọng um sùm, chung quanh mọi người nhìn tôi với đôi mắt hiếu kỳ.  Không hiểu tại sao bà già này lên cơn.  Cô gái trả lời tôi.  “Nói tiếng ấy người ta chẳng hiểu gì đâu.”  Cô nói bằng tiếng Việt, giọng miền ngoài.  Còn tôi, trong lúc tức giận, đã dùng tiếng Anh theo phản xạ của một người sống ở Hoa Kỳ lâu năm, và làm việc chỉ toàn với người Mỹ.  Tôi cũng không nhận ra là tôi đang nói tiếng Anh.  Tôi nói bằng tiếng Việt, xuống giọng nhưng vẫn còn hậm hực.  “Cô vượt hàng đi lên trước như thế là không tốt.  Cô dùng cái khôn lỏi của cô để đánh lừa mọi người.  Không tốt. Không tốt chút nào cả!”  Cô nhún vai không trả lời.  Anh công an kiểm tra giấy tờ điềm nhiên đóng dấu vào giấy tờ của cô. Tôi nghĩ thầm lẽ ra anh ta phải bảo cô gái xuống phía dưới xếp hàng cho đàng hoàng chứ.   Về phần cô gái tôi muốn nói thêm, ăn mặc như Tây mà hành động chẳng Tây chút nào, nhưng kềm lại không nói.

Chung quanh tôi quang cảnh trở lại với những tiếng động bình thường.  Tiếng đẩy hành lý về phía trước.  Tiếng lê bước của giày dép.  Tiếng trò chuyện.  Cô gái đi nhanh hơn mọi người có lẽ 20 hay 30 phút.  Chẳng là bao so với những người có dư thì giờ, như tôi, vì về hưu rồi và đang đi chơi, có gì đâu mà gấp.  Chuyện cỏn con không có gì phải ầm ĩ.

Người Việt tránh xếp hàng, tìm cách vượt hàng để được lên phía trước đi cho nhanh chóng.  Người Tây phương họ rất thông minh nên họ học hỏi tật xấu rất nhanh.  Trong lúc đứng xếp hàng ở Đà Nẵng để lên máy bay vào Sài Gòn, có một nhóm người ngoại quốc cả đàn ông lẫn đàn bà ở phía sau tôi khá xa, nhưng vì những làn cho người đứng xếp hàng được căng dây theo hình “đường ruột” hay “chữ z” nên họ đứng hầu như song song nhưng quay mặt về phía sau tôi.  Họ nói chuyện với nhau bằng một ngôn ngữ tôi không nhận ra, có khi chêm tiếng Pháp hoặc tiếng Anh.  Như vậy có thể họ là người Đức, hay Hà Lan.  Một người phụ nữ to béo, tóc ngắn, người thấp, nói với bạn bằng tiếng Anh.  Nâng sợi dây ngăn lên, cả đám mình qua hàng bên này, cho nhanh.  Bà bạn ngần ngừ.  Bà phụ nữ to béo nói tiếp.  “Ai cũng làm như thế cả.  Không sao đâu.” 

Lần này thì tôi chẳng buồn lên tiếng.  Họ là người ngoại quốc đến chơi.  Mình sửa sai họ thì cũng có vẻ… không hiếu khách.  Mà họ nói cũng có phần đúng.  Ai cũng làm như thế cả.  Không phải tất cả mọi người đều làm thế.  Chín mươi chín phần trăm người Việt và người ngoại quốc đứng xếp hàng theo đúng thủ tục ngoài kia.  Chỉ có một phần trăm người Việt giở thói khôn lỏi và người Tây bắt chước.

À!  Tôi cũng nhận thấy có một số người đặc biệt, quan chức hay những nhà đại gia quan trọng, được miễn xếp hàng, cứ đi vào một lối riêng.  Không ai phiền trách gì cả.

Phải công nhận một điều, so với năm 1991 và 2005, người Việt mình xếp hàng một cách có ý thức hơn nhiều.

Một góc phi trường Đài Loan vào lúc năm giờ sáng
Bên trong bưu điện thành phố Sài Gòn

The Cannery Row

Hôm nay tôi xin mời bạn cùng tôi đến thăm The Cannery Row, một con phố rất nhỏ ở vùng ven biển Monterey thuộc tiểu bang California. Trước kia nó là con đường mang tên Ocean View, sau đổi thành tên Cannery Row để vinh danh John Steinbeck, người đã viết quyển sách The Cannery Row.


Đây là một công ty địa ốc nổi tiếng ở Monterey. Giá tiền đất ở vùng này khoảng chừng $400/square foot tương đương với $4000/mét vuông

John Steinbeck sinh ngày 27 tháng Hai năm 1902 mất ngày 20 tháng Chạp năm 1968. Ông là đại văn hào của Hoa Kỳ, được giải Nobel Văn chương năm 1962. Những tác phẩm của ông mà tôi đã đọc là The Red Pony, East of Eden, Of Mice and Men, The Grapes of Wrath. Những tác phẩm này được làm thành phim và tôi cũng đã xem. Một số truyện ngắn của ông tôi đã đọc nhưng bây giờ chỉ còn nhớ một vài truyện thí dụ như The Chrysanthemumthe Pearl. Tôi thấy tác phẩm quan trọng nhất của ông Steinbeck là quyển The Grapes of Wrath.

Một góc nhìn ven biển Monterey

Monterey là vùng biển đẹp. Hằng năm có khoảng bốn, năm triệu người đến chơi, xem. Càng nổi tiếng hơn vì đây là quê hương của Steinbeck. Nhà văn này sinh ra ở Salinas, cách Monterey chừng một giờ lái xe. Cách đây vài năm, hình như 2016, tôi có đến National Steinbeck Center, nằm trong Salinas, để xem triển lãm toàn bộ tác phẩm của ông Steinbeck. Năm nay ông Tám thuê nhà trọ cũng ở Salinas cách National Steinbeck Center chỉ độ ba miles, và lái xe đưa tôi đến Monterey. Cùng là Salinas, nhưng chỗ tôi ở trọ có lẽ ở giáp ranh giữa ngoại ô và thành phố nên chỉ cần lái xe một chút xíu là đã có vẻ nông thôn với những cánh đồng artichoke xanh mướt mắt.

Một góc phố Monterey nơi có phòng chưng tranh của Thomas Kinkade. Bạn nào yêu thích tranh chắc biết tên họa sĩ Thomas Kinkade. Tranh của ông đặc biệt với màu sắc và ánh sáng tỏa ra từ bên trong, nhất là tranh vẽ những ngôi nhà cottage trong mùa lễ Giáng sinh.

Tôi đến vào một ngày gần cuối hè, nắng giữa trưa rất chói chang. Thành phố Monterey có hơi hướm châu Âu, với những bức tường màu vàng nhạt và màu hoa đỏ thắm. Đây đó một góc vườn mà chỗ tôi đứng nhìn có vẻ như tôi đang đứng trong một bức tranh của Monet.

Góc vườn giống từa tựa bức tranh Sainte Adresse của Claude Monet

The Cannery Row xuất bản năm 1945 nói về cuộc sống của những người sống ở Monterey vào lúc Đại Khủng Hoảng Kinh Tế. Trong Monterey có một phố toàn là những nhà máy đóng hộp cá mòi (sardine), vì vậy có tên là Cannery Row. Lúc đến nơi này tôi đọc chưa xong quyển The Cannery Row, ngồi trên máy bay tôi đọc một cách chắp vá nên không nhớ rành mạch, tên của những nhân vật được thể hiện qua bức tượng điêu khắc này. Ngồi trên cao nhất là tác giả John Steinbeck. Bốn người bên dưới là bốn nhân vật đã được đổi tên, nhưng dựa vào bốn người có thật đã góp phần xây dựng thành phố này vào những buổi đầu tiên nghèo khó.

Ngồi phía dưới gần sát bệ là nhà hải dương sinh vật học (marine biologist). Trong truyện the Cannery Row được gọi tắt là “Doc” dựa trên nhân vật có thật là Ed Ricketts.

Ed Ricketts là bạn thân lâu năm của văn hào Steinbeck. Hai ông thường đi chung với nhau vài ngày, những lúc Ed Ricketts đi săn lùng những con thú biển và cả ếch nhái để làm thí nghiệm (và bán cho những người hiếu kỳ muốn tìm hiểu hay nuôi những con vật sống trong biển cả), và John Steinbeck muốn tạm dừng bút để nghỉ ngơi. Ed Ricketts có ảnh hưởng sâu đậm đến sự nghiệp văn chương của John Steinbeck. Sau cái chết của Ricketts, Steinbeck mất đi sự sung mãn trong văn chương.

Bó hoa cắm trong tay bức tượng của Ed Ricketts
John Steinbeck
Biển Monterey với những con chim, hay vịt biển bơi và đậu trên hòn đá.
Một góc biển gần Cannery Row. Nơi đây vào thập niên đầu những năm 1900 cá mòi (sardines) theo sóng vào trắng bạc cả bờ biển. Theo chiến tranh thứ Hai, số hộp cá mòi được sản xuất tăng đến một triệu bốn trăm ngàn một năm. Sau năm 1945, nhu cầu tiêu thụ cá hộp giảm dần và số lượng cá mòi tấp vào bờ bỗng nhiên biến mất.

Đứng ở góc biển này, tôi ngửi thấy mùi cá mòi. Nói thật đấy nhé, tôi biết chắc chắn là tôi ngửi thấy mùi cá mòi chứ không phải tôi tưởng tượng đâu. Đang đứng phía trên chỗ gần mấy bức tượng, ông Tám cao hứng muốn xuống để được nhúng tay vào nước biển. Nói thế nhưng khi đến tận nơi ông nói rằng đó chỉ là một cách nói tượng trưng. Tảo đỏ trôi dạt lên bờ, khô biến thành màu nâu.

Một ngôi nhà cổ ở phố Cannery Row
Ở góc này, tôi có thể nhận ra hai nhân vật trong quyển Cannery Row. Ông già người Tàu làm chủ tiệm chạp phô Lee Chong, và cô gái ngồi bên trên (tôi đoán) là nhân vật Dora. Tôi không nhớ ra người phụ nữ có xách đôi giày là ai trong truyện Cannery Row

Lee Chong là chủ tiệm chạp phô. Tiệm của ông tuy nhỏ nhưng có đủ thứ cần dùng cho người dân trong vùng. Người dân ở đây thường là những người làm việc cho xưởng đóng cá hộp. Họ thường khi mua chịu, mua trước chờ lãnh lương trả sau, nghe sao giống người mình hồi trước năm 75 quá. Có người nợ nhiều không trả nổi, hoặc không muốn trả, ông Lee Chong chẳng nói gì chỉ ngừng không bán chịu. Ông biết trước sau gì những người trong vùng cũng phải trả nợ cho ông bằng cách này hay cách khác vì họ không thể mua hang ở nơi nào khác.

Dora là một người làm chủ tiệm bán rượu và bán niềm vui. Nàng có một số đông các cô gái làm việc dưới quyền. Khi được yêu cầu các cô này cũng góp sức làm việc xã hội.

Căn nhà tôi ở trọ ở Salinas
Mấy cái hoa trong vườn chủ nhà trọ ở Salinas
Ruộng rau cải ở Salinas, ở xa không biết người ta trồng gì, đa số là cải kale, artichoke (ạc-ti-sô) , hoặc là cải xà lách (lettuce). Thường là trên những cánh đồng xanh ngát này, ít khi nhìn thấy người, nhưng ở Salinas tôi thấy người thu hoạch rất nhiều. Họ làm việc có hệ thống, nhiều máy móc, xe cộ vào đến tận nơi để chở những thùng rau cải đi phân phối.

Nóng quá, mùa hạ ơi.

Chỗ tôi ở trọ có nuôi hai con mèo. Con mèo trắng nhỏ hơn Nora một chút. Con mèo đốm giống như màu đồi mồi to như Nora. Em đồi mồi chỉ có ba chân thôi nên em đi khập khiễng trông rất đáng thương.

Vợ chồng người chủ nhà trọ dặn tôi cẩn thận khi ra vào nhớ đừng để hai em mèo cưng ra ngoài cửa trước. Tối qua, không hiểu bằng cách nào em mèo lẻn vào phòng tôi núp dưới giường mà tôi không biết. Nửa đêm gần sáng, tôi nghe có tiếng nhảy nhẹ nhàng lên giường tôi. Tôi tự cho là mình nằm mơ hay nghĩ lầm, có thể là cái chăn trải giường bị tuột xuống đất. Chập sau tôi cảm thấy có bước chân nhẹ nhàng lên người tôi. Cái cảm giác quen thuộc mỗi lần Nora muốn đánh thức tôi. Ngồi dậy tôi thấy em mèo trắng nhảy xuống khỏi giường và ra cửa ngồi chờ. Tôi mở cửa, em lẻn ra khỏi phòng. Sau đó tôi thấy em đồi mồi nằm thườn người trên nền sàn gỗ trước cửa phòng tắm, có vẻ như mệt mỏi vì nóng bức. Tôi vuốt ve em và khi tôi đụng đến chỗ chân cụt, em ngồi dậy có vẻ như không bằng lòng. Tôi ngừng lại và trở vào phòng.

Từ cửa sổ phòng tôi nhìn thấy đường xuyên bang I80, chạy ngang Vallejo, xe vận tải hạng nặng chạy hầu như suốt đêm. Phòng trọ không có máy lạnh, thời tiết nóng hơn tôi dự đoán, mà tôi còn phải ở đây thêm bốn đêm nữa. Nghe dự đoán thời tiết bảo rằng ngày mai sẽ xuống dưới 90 độ F. Liên tiếp mấy hôm nay, ngày nào cũng hơn 100 độ F. Hai em mèo nằm không buồn nhúc nhích.

Hôm nay, sau khi đi xem viện bảo tàng nhà văn Jack London, còn dư vài tiếng đồng hồ tôi vào thư viện thành phố Sonoma trốn nóng. Post bài này xong sẽ đọc vài truyện ngắn của nhà văn Jack London.

Mèo hoang biết khống chế người

Chuẩn bị đi chơi xa tôi tìm người giúp cho mấy con mèo hoang ăn. Nora thì sẽ mang sang nhà cô em của ông Tám gửi nhờ mấy người cháu chăm sóc. Nora với các cháu đã quen nhau và mến nhau. Trước kia chú em rể mỗi ngày sang cho mèo ăn. Lần này chú ấy bị đau đầu gối không thể đi lại nhiều nhất là vào nhà tôi driveway (đường chạy vào nhà cất xe) con dốc rất cao. Lần đi Việt Nam ông Tám đặt cái máy cứ đến giờ là thả thức ăn ra, mỗi ngày máy thả thức ăn hai lần. Cách này chỉ dùng được một thời gian ngắn sau đó tụi racoon phá máy bứt tung hết dây điện. Ông Tám đã tìm nhiều cách bảo vệ cho máy đừng bị phá hư để đám thú hoang (kể cả racoon, ground hog) có thức ăn. Không thành công.

Tôi sang nhà hàng xóm, bên trái nếu đứng bên trong nhìn ra cửa, tìm P. Chúng tôi ở cạnh nhau đã bao nhiêu năm đây là lần thứ hai tôi vào nhà P. Lần đầu tôi thay mặt Ách Cơ, lúc ấy nhận giữ cậu bé J. một buổi cho vợ chồng P. đi đâu đó. Ách Cơ bận gì đó ở trường nên tôi trông chừng cho J. ăn trưa độ một giờ đồng hồ sau đó trả công việc lại cho Ách Cơ.

Nghe tiếng P. ở trong nhà nhưng mãi rất lâu nàng mới mở cửa. P. giải thích vì nàng đang bận học cho kỳ thi lấy bằng hành nghề. P. làm gì đó trong lĩnh vực Đông Y/ Thuốc Bắc/Thuốc Nam gì đó nàng giải thích tôi chỉ hiểu mù mờ. Tôi xin phép P. cho cậu con út của nàng giúp cho mấy con mèo hoang ăn, một thứ việc làm mùa hè cho những cậu bé chưa đến tuổi lái xe và chưa được phép làm việc nặng nhọc. Cậu bé J. ngày nào phải có người trông chừng cho ăn, giờ đã cao hơn tôi một cái đầu (và thêm một cái cổ nữa chứ). Tôi và J. bắt tay nhau. Hợp đồng làm việc là mỗi ngày cho mèo ăn một lần, thức ăn tôi đưa, tiền công là 50 đồng một tuần. Ông Tám bình luận, khơi khơi vậy thôi không có ý trách móc gì, tiền công và tiền thức ăn nuôi mấy con mèo hoang độ 60 đồng một tuần. So ra đó là một số tiền khá lớn ở VN. Một sự phí phạm chăng? Tôi không đành lòng để mấy con mèo hoang bị đói, và có thể chết. Biết làm sao đây? Mình đang ở Mỹ mà, phải chịu tốn kém của cuộc sống ở Mỹ thôi, đâu có thể so sánh với VN. Bảo vệ hay duy trì sự sống của thú vật hoang có là một lãng phí hay không? Tôi nghĩ là không, trong cái sức nhỏ bé của tôi, duy trì được sự sống của những con thú nhỏ bé là điều tôi muốn làm và có khả năng làm. Có thể đây là một việc làm vô ích, tốn kém mà không sinh lợi, nhưng tôi có cảm tình với lũ mèo hoang. Chúng luôn luôn dấy động trong tôi một thứ tình gì đó khó tả, nửa như thương hại, nửa như thương mến, một chút gì đó “hình như là tình yêu” (haha, nói cho có vẻ lâm ly một chút, sến súa một chút, bạn đừng cười, hình như biểu lộ tình cảm nào cũng có vẻ lâm ly sến súa, với loài mèo hoang thì càng tệ hơn).

Nora năm nay là 10 tuổi có thể 11 vì tôi không nhớ chắc nàng sinh năm 2008 hay 2009. Tính theo tuổi người thì nàng được 60 hay 64 tuổi. Bệ vệ, lười biếng và tính nàng khá lạnh nhạt. Lúc sau này nàng hay cắn tôi. Thỉnh thoảng lại cắn vào chân và tay tôi, cạp nhẹ nhẹ rồi thả ra, không hiểu là một cách bày tỏ cảm tình hay giận tôi chậm cho ăn. Nàng kén ăn thậm tệ, chỉ ăn thức ăn mềm có mùi cá hồi. Thỉnh thoảng đòi ăn một chút thức ăn của người, thịt gà hay thịt sườn ram, không ăn nhiều nhưng muốn thử.

Mèo Anh thì hơn một tuổi. Chàng sinh ra đâu từ tháng 4 năm 2018 lúc tôi vắng nhà, đi chơi ở Canada về lúc tháng Năm thì mẹ chàng đã tha từ nơi nào đó về sân nhà tôi. Năm đầu tiên của mèo được tính là 15 tuổi của người. Mèo Anh vẫn còn cái nét thiếu niên, mỗi lần tôi mở cửa sau là chàng lơn tơn chạy đến, người dong dỏng, nét mặt ngây thơ. Mỗi lần gặp Nora là nhanh nhẹn chạy đến cọ cái cổ của chàng vào cổ Nora. Một hai lần Nora để yên. Tôi yên lặng ngắm xem bọn mèo phản ứng ra sao. Nếu mèo Anh cứ tiếp tục xấn xổ thì Nora dùng tay (chân trước) tát nhẹ một cái, kiểu quơ tay đẩy ra hay vuốt đầu, chứ không tát và giương móng vuốt. Mèo Anh đối với ông Mun cũng như thế, thân thiện và kính nể. Bao giờ cũng bị ông Mun tranh ăn đuổi đi. Nếu mèo Anh “necking” (cọ cổ) ông Mun thì ông cũng lấy tay tát nhẹ, đẩy đi như Nora đã làm vậy.

Mèo Anh biết là sẽ được cho ăn riêng, thức ăn của Nora, nên cứ nấn ná, chờ ông Mun đi khỏi (và ông Tám không để ý 🙂 ) thì sẽ được ăn thêm. Buổi tối trước khi đi ngủ, hay sáng sớm mới thức dậy, mèo Anh cà rà gần cửa sổ nơi tôi ngồi đọc hay viết, kêu nghêu ngao gợi sự chú ý của tôi, dĩ nhiên chỉ đòi thức ăn ngon thôi.

Ông Mun nhận ra rằng thằng bé này được chiêu đãi đặc biệt, nên sáng sớm hoặc chiều tối, ông canh me gần đó, lẩn trong bóng tối tôi không nhìn thấy. Hễ thấy mèo Anh được cho ăn riêng và tôi đã vào nhà là ông đến đuổi mèo Anh đi. Rồi ông cũng kêu gào ầm ĩ nếu tôi không cho thức ăn ngon.

Ai bảo loài mèo không khôn ngoan. Chúng biết khống chế hay điều khiển một bà già đó chứ. Mấy con mèo, lúc ngồi xếp hàng trước cửa, mặt ngẩng lên nhìn vào ô cửa kính có vẻ như đang xin xỏ chờ đợi loài người cho ăn, luôn luôn làm tôi nhớ đến số phận của tôi cũng một thời chờ đợi xin xỏ sự cứu giúp của tha nhân. Năm 1963 nhà tôi ở Hãng Phân Vĩnh Hội bị cháy, má tôi và tôi từng xếp hàng chờ nhu yếu phẩm, chờ được phát thức ăn, quần áo cứu trợ. Năm 1980 tôi xếp hàng chờ lãnh nhu yếu phẩm thức ăn nước uống từ Ban Cao Ủy Tị Nạn ở Bidong Mã Lai. Có lẽ tôi thương bọn mèo hoang này cũng là tự thương mình một thời khốn khó, ngẫm ra thì mình có một thời chẳng hơn gì đám mèo hoang.