Ca cẩm một chút thời COVID-19

Ở đây, New Jersey, chưa thấy ai đeo khẩu trang cả, vậy mà tôi đi tìm mua khẩu trang từ hồi đầu tháng 1 đến cuối tháng 2 vẫn không có tiệm nào bán. Tiệm nào cũng bảo hết hàng. Đặt mua trên amazon, nó bảo tháng 2 giao hàng, loại khẩu trang ngăn bụi thôi chớ không phải loại ngừa bệnh, mà hết tháng 2 rồi vẫn chưa có. Ý là ở Mỹ chưa bộc phát bệnh dữ dội mà tình hình đã như thế. Đến chừng có lệnh giới nghiêm, ngăn sông cấm chợ thì không biết sẽ ra làm sao.

Khẩu trang có hiệu quả bao nhiêu phần trăm trong việc tránh bệnh? Tôi nghĩ người đeo để cho yên tâm, đỡ lo lắng, chứ hiệu quả không mấy cao.

Mấy ngày cuối ở Nhật tháng 11 năm 2019, trên xe buýt tôi về khách sạn, có một cô gái bị cảm nặng. Cô ngồi sát vào vách xe, đeo khẩu trang, nhắm mắt ngủ, thỉnh thoảng ho húng hắng. Chỉ nghe cô ho, cũng biết cô bị cảm nặng. Tôi ngồi gần cô, không đeo khẩu trang, và quên bẵng việc này cho đến vài hôm sau tôi bắt đầu bị cảm. Đầu tiên là cổ rát. Sau đó là chảy nước mũi như suối. Những viên thuốc loại giảm triệu chứng bị dị ứng ngăn nước mũi, ngăn ho, tôi uống vào chẳng ăn thua gì. Tôi biết chỉ bị cảm vì tôi không bị sốt. Tôi nghĩ mình bị lây cảm từ cô gái. Không biết có bao nhiêu người đã bị tôi lây hôm ấy. Mãi khi xuống xe buýt tôi mới thấy ở gần chỗ ông tài xế có để khẩu trang cho khách dùng miễn phí.

Ở đây, tự nhiên mình đeo khẩu trang chắc người ta sợ mình đã bị bệnh rồi. Và vì là người Á châu, tôi cũng sợ mình bị kỳ thị nhiều hơn khi người ta sợ mình là người mắc bệnh hay có liên hệ hoặc gần gũi với người bị bệnh.

Những người đã mua khẩu trang để dành, họ mua nhiều hay ít? Họ sẽ làm gì với mấy chục, trăm, hay ngàn cái khẩu trang này nếu không cần phải dùng đến?

Mặt sau cái đập ở hồ Surprise

Bạn nên chuẩn bị, ít nhất là thức ăn và nước uống. Nếu thiếu khẩu trang thì dùng khăn quàng. Không tìm được thuốc rửa tay khử trùng thì dùng nước nóng và xà phòng. Dĩ nhiên nên tránh chỗ đông người. Chúc tất cả mọi người bình an.

Tình trẻ tình già

Cô út của tôi, hồi Giáng sinh về, cài vào TV một số chương trình (hay ứng dụng) như Netflix, Hulu, National Geographic, YouTube, PBS. Với tôi nó là món quà rất thú vị và đó là nguyên nhân khiến tôi không thể viết một bài dài có đầu có đuôi. Thì giờ tôi dùng để tận hưởng phim ảnh và các chương trình nối tiếp (series – phim bộ nhiều tập) .

Tôi thường nghĩ rằng, làm gì có cái gọi là tình yêu. Nghĩ đi rồi nghĩ lại, mình già quá rồi nên không còn nhớ tình yêu nó ra làm sao, chứ người ta còn trẻ đang yêu hoặc đang đi tìm tình yêu, biểu không có tình yêu làm sao đồng ý cho được. Rồi lại tự hỏi, bây giờ người trẻ họ yêu làm sao? Và lúc nào thì các bạn trẻ biết là mình rơi vào cái hố hay cái bẫy tình yêu. A! Xin bạn tha lỗi cho cái giọng điệu tiêu cực này, chẳng qua là người Anh Mỹ cứ dùng chữ fall in love nên nó gợi cho tôi cái tưởng tượng, yêu là một sự vấp ngã, té vào, rơi vào. Mà vấp ngã thì chắc là đau.

Muốn biết người ta bắt đầu yêu như thế nào, tôi tìm trong phim. Phim cũ có nhiều nhưng có phần lạc điệu, còn phim mới thì đầy ra đó trên Netflix. Cứ mở ra là thấy “Crash Landing on You” (Lạc cánh tình đậu phải vai anh, hay lưng anh?) Dịch đại, tầm bậy tầm bạ bạn bỏ qua nha. Tôi xem thử nhưng không cảm thấy hấp dẫn nên thôi. Có nhiều bộ phim, ngó chừng chẳng có liên quan về tình yêu thì lại lôi cuốn tôi đủ để xem hết chương trình. “Midnight Diner” của Nhật. “Chocolate” và “My Love Holo” (Hàn). “Virgin River” của Mỹ.

“Midnight Diner” bao gồm những câu chuyện ngắn xảy ra trong khung cảnh một tiệm ăn của Nhật mở cửa từ nửa đêm đến bảy giờ sáng. Xem nhiều nhưng quên hết, chỉ nhớ có một câu chuyện về một cô gái nhan sắc trung bình, không được người săn đón yêu chìu vì vậy cô thường yêu một chiều. Cứ mỗi lần có người nào tử tế vui vẻ với cô một chút là cô yêu. Và cô đan áo len tặng người ta. Người ta này là anh sếp của cô. Tiếc một cái là anh sếp đã có người yêu, cô nàng ấy lại khá xinh xắn, anh chẳng thích màu áo nhưng cũng vị tình mặc cái áo một lần và nói (láo) là anh thích cái áo này. Người yêu của anh sếp vì ghen nên xé cái áo, đứt phần cánh tay. Anh sếp đưa cái áo cho một người đồng nghiệp, kể rõ câu chuyện, nhờ người đồng nghiệp (hay nhân viên dưới quyền) đem vứt cái áo đi. Anh đồng nghiệp lại đem lòng yêu cô gái nhan sắc trung bình từ lâu nhưng bản tính rụt rè nên không nói. Anh nhờ cô gái dạy anh đan cái khăn quàng cổ để anh tặng người yêu. Cuối cùng trải qua mấy đoạn phim, bao nhiêu ngộ nhận dở khóc dở cười, cả hai nhận ra tấm lòng của người kia. Không phải ai yêu cũng biết cách bày tỏ và người được yêu nhiều khi không nhận ra tình yêu chân thật dành cho mình bởi vì đầu óc và tâm hồn đã chứa nhiều data quá nên không còn chỗ trống.

“Chocolate” thoạt tiên tôi nghĩ là phim về thức ăn, kẹo bánh. Trong phim này thức ăn, chỉ là một phần nhỏ để chiêu dụ người xem. Nhân vật nam (chính) là bác sĩ giải phẫu óc, bị giáng chức, bị đày vào làm ở một hospice (nhà thương nơi chứa người bệnh nặng chờ chết). Nhân vật nữ là một cô gái nấu ăn cho nhà thương này. Họ gặp nhau từ lúc còn bé chừng mười hay mười hai tuổi, nhưng lâu ngày họ quên nhau. Cô bé được cậu bé tử tế đãi một bữa ăn ngon khiến cô nhớ mãi, và có lẽ yêu cậu bé từ lúc ấy. Anh bác sĩ nhận ra mình cứ quan tâm và lo lắng cho cô đầu bếp dù nghề nghiệp và đời sống của chàng đang hồi xui xẻo gặp nhiều tai họa rất gian nan. Từ lúc gặp nhau cho đến lúc cuối chương trình họ chính thức yêu nhau hình như kéo dài 16 tập phim, mỗi tập ngót nghét một giờ đồng hồ. Tình yêu kiểu soap opera của người Á châu xảy ra thật chậm chứ không đột nhoáng như các phim tình yêu của Mỹ. Ờ ờ, phim thì chỉ có 2 tiếng đồng hồ thôi nên phải làm cho lẹ.

“My love Holo” nói về một cô gái yêu một chàng đẹp trai lịch lãm, nhưng chàng trai ấy lại chỉ là một cái hologram. Cũng phải 10 tập phim thì họ mới chính thức làm một đôi tình nhân. Họ yêu nhau qua những chăm sóc, thăng trầm, giải cứu mạng sống của người yêu. Tôi quên hầu hết chi tiết, bạn phải xem thì mới thấy lúc nào người này ngã vào vòng yêu thương của người kia. Ở trong “Chocolate,” có một đoạn cô gái ngủ gật trên cái ghế ở bờ biển. Suốt đêm qua cô lái xe chở anh bác sĩ đi đám tang một người láng giềng cũ, một người mà anh yêu mến như cha. Anh bác sĩ đã ngồi xổm trên mặt cát, để cô gái dựa đầu vào ngực anh ngủ mấy tiếng đồng hồ. Khi đứng dậy chân anh tê phải đi khập khiễng. Tình yêu của người trẻ là như vậy đó.

Phim và các bộ phim của Hàn tràn ngập trên Netflix đủ thấy họ xâm nhập thị trường phim ảnh Anh Mỹ khá hùng mạnh. Họ được Oscar cho “Parasites” bây giờ nhưng họ đã thiết lập quan hệ và phát triển mối quan hệ này thật sâu đậm từ lâu.

Viết về tình trẻ nhiều rồi nên cũng phải nói qua một chút tình già, cho đúng với cái tựa đề đặt sẵn. Tối qua tôi xem Our Souls at Night, Jane Fonda và Robert Redford. Tôi thích Redford nhưng không ưa Fonda, giá mà thế Fonda bằng nữ diễn viên khác chắc tôi thích hơn. Fonda trong vai Addie, ông Redford đóng vai tên gì tôi không nhớ. Cả hai đều góa vợ góa chồng và có lẽ tuổi đã bảy mươi hay hơn. Một buổi tối, Addie đến nhà ông Redford, nói: “Chúng ta là láng giềng với nhau, tôi đề nghị mỗi đêm ông đến nhà tôi ngủ chung với tôi. Người già thường khó ngủ nhất là về đêm.” Trong khi ông Redford còn đang chưng hửng chưa biết trả lời làm sao thì bà nói tiếp: “Không phải chuyện sex siếc gì đâu. Chuyện đó tôi đã chịu thua lâu lắm rồi. Tôi chỉ muốn có người ngủ chung trò chuyện vậy thôi.” Và ông đồng ý. Ban ngày ông sống cuộc sống của ông. Ban đêm ông kể với bà chuyện ban ngày của ông. Và may mắn thay họ hợp chuyện với nhau, họ kể chuyện quá khứ, vui buồn, hạnh phúc lẫn bất hạnh, dần dần họ yêu nhau, và tình già cũng sex siếc này nọ chứ không hoàn toàn ăn chay.

Cả tình trẻ lẫn tình già, họ đều có điểm chung, là họ quan tâm săn sóc lẫn nhau, làm những việc mà người này biết là người kia thích, họ hợp chuyện với nhau, khen ngợi nhau. Họ có thể cùng nấu ăn với nhau mà không cãi nhau. Họ hợp nhau đến độ sự khác biệt hay khiếm khuyết của người này lại có thể là một sự hoàn tất của người kia,

Tình yêu, ai cũng bảo là khó giải thích, khó định nghĩa. Xem bao nhiêu phim thì cũng thấy đúng như vậy. Nói thì khó, nhưng nhìn vào thì biết họ yêu nhau.

Một ngày đông nắng vàng ấm áp

Charcoal? Hay Chocolate?
Charlot

Đang giữa mùa đông, chưa hết tháng Hai, mà nắng vàng rực rỡ, trời ấm áp. Global warming? Hôm qua đi rừng, lúc nghỉ chân ăn trưa, tôi nói với một đôi ngồi bàn bên cạnh, có lẽ năm nay không có mùa đông, nhảy từ mùa thu sang mùa xuân. Họ cười đồng ý. Trận tuyết biến thành băng đóng trên cây ba bốn ngày không tan hồi bắt đầu mùa đông đã xa thăm thẳm trong trí nhớ. Nói vậy không có nghĩa là tôi phàn nàn. Nếu mùa đông ở New Jersey năm nào cũng như thế thì có lẽ không ai dọn đi Florida hay Texas để tránh tuyết giá của mùa đông. Nhưng mùa hè thì sao? Có lẽ mức độ nóng sẽ cao kỷ lục.

Mất hai con mèo, mèo Em và mèo Anh. Con mèo đen, Inky, lúc này cũng không thấy đến ăn. Con mèo mẹ Ginger có vẻ yếu ớt, già nua, và sợ hãi loài người nhiều hơn. Bao giờ thấy người nó cũng chạy trốn. Trước kia thì không đến nỗi như vậy. Mất hai con mèo hoang cũ thì lại được hai con mèo hoang mới, dù chuyện được hay mất này đều nằm ngoài ước muốn của tôi. Lúc sau này con mèo xám và con mèo Charlot đến ăn thường xuyên hơn. Con mèo xám, tùy theo ánh sáng có lúc thấy giống như màu sô cô la đậm, có lúc giống màu than nên tôi phân vân không biết đặt cho nó tên Charcoal hay Chocolate. Còn con mèo đen trắng có một bệt đen ở ngay lỗ mũi giống như bộ râu của anh hề Charlot nên tôi gọi nó là Charlot (Sạc Lô).

Những chuyện được hay mất, của riêng từng người, ai cũng có. Cái mình được ngày hôm nay biến thành cái mất mát của ngày sau. Bởi vậy, khi được, dù có mừng nhiều vui nhiều cũng nên nghĩ đến cũng ngần ấy thứ bị mất về sau để không phải buồn nhiều khổ đau nhiều. Có nhiều thứ mình có mà không quí, đến chừng thiếu mới biết nó quan trọng như thế nào. Hiện giờ, có được không khí trong lành để thở, được nước uống sạch, thức ăn tươi, ăn no mặc ấm, cũng là một sự giàu có mà có những khi, vào trường hợp đặc biệt, có nhiều tiền nhưng không mua được.

Thôi thì có gì hưởng nấy. Ai không thể du lịch thế giới thì ở nhà xem phim hay đọc một quyển thơ nho nhỏ ngăn ngắn để thấy đời vẫn còn nhiều niềm vui.

the sound of a water jar
cracking on this icy night
as I lie awake
Basho

Tiếng chum nước
Rạn nứt trong đêm giá băng
Khi tôi nằm thao thức

Một cây tựa vào cây thông. Khi gió thổi mạnh tiếng hai cây cọ xát vào nhau nghe kẽo kẹt đến rợn người.

Bella Ciao

Đây là một bài hát tôi tình cờ nghe được trong một cuốn phim. Mặc dù tôi chỉ mới xem phim này rất gần đây, nhưng tôi không còn nhớ nó ở phim nào. Chỉ nhớ là phim không có gì xuất sắc, ngoại trừ bản nhạc này nghe nhiều lần trong phim, có khi là giọng nữ, có khi giọng nam, khi rất chậm, khi bình thường. Bên cạnh cái giai điệu ngọt ngào, giọng hát của ai đó hát theo cách opera thật là “haunting” (quyến rũ đến ám ảnh, ma quái) Tôi không hiểu hết bài hát, vì nghe không rõ, chỉ nhớ có mấy chữ Bella Ciao. Tiếng Ý, Bella là người đẹp. Ciao là lời chào giã biệt. Tôi tìm được bài hát này ở thư viện địa phương, trong đĩa nhạc Songs of Resistance 1942 – 2018 và thật bất ngờ vì lời của bài hát thật hay, đầy tình cảm, rất mơ mộng. Tôi nhìn thấy trong lời ca, hình ảnh một chàng trai lãng mạn, và một cô gái ở làng quê. Anh chàng đi theo quân kháng chiến đến từ giã cô nàng. Lời ca là cuộc đối thoại của hai người với nhau. Dù cô gái gọi anh chàng là phát xít nhưng tôi nghĩ đây là một người kháng chiến địa phương, thậm chí có thể chống lại phát xít. Có thể tôi sai, nhưng tôi là người nghe, muốn hiểu thế nào thì hiểu. Partigiano dịch sang tiếng Anh là partisan. Partisan có nghĩa là người kháng chiến.

Bella Ciao
Italian traditional; Arranged by Marc Ribot & Tom Waits; Translated by Marc Ribot

One fine morning / woke up early
Bella ciao, bella ciao, goodbye beautiful
One fine morning / woke up early
To find a fascist at my door

Một buổi sáng đẹp trời / thức dậy sớm
Bella ciao, bella ciao, giã từ người xinh đẹp
Một buổi sáng đẹp trời / thức dậy sớm
Thấy một tên phát xít ở ngoài cửa

Oh partigiano, please take me with you
Bella ciao, bella ciao, goodbye beautiful
Oh partigiano, please take me with you
I am not afraid now anymore

Ồ partigiano cho em đi với anh
Bella ciao, bella ciao, giã từ người xinh đẹp
Ồ partigiano cho em đi với anh
Giờ đây em không còn sợ hãi nữa

And if I die a partigiano
Bella ciao, bella ciao, goodbye beautiful
Please bury me up on that mountain
In the shadow of a flower

Và nếu anh có chết làm kẻ partigiano
Bella ciao, bella ciao, giã từ người xinh đẹp
Hãy chôn anh trên ngọn núi kia
Dưới bóng của một đóa hoa

So all the people, people passing
Bella ciao, bella ciao, goodbye beautiful
All the people, people passing
Can say: what a beautiful flower

Để cho tất cả mọi người, những người đi ngang qua
Bella ciao, bella ciao, giã từ người xinh đẹp
Tất cả mọi người, những người đi ngang qua
Có thể nói rằng: đóa hoa đẹp làm sao

This is the flower / of the partisan
Bella ciao, bella ciao, goodbye beautiful
This is the flower / of the partisan
Who died for freedom

Đây là đóa hoa / của người partisan
Bella ciao, bella ciao, giã từ người xinh đẹp
Đây là đóa hoa / của người partisan
Kẻ đã chết vì tự do

Mất mèo

Nó biến mất đã mười ngày. Ngày thứ Bảy tuần trước trời có tuyết lất phất. Nó đứng ở cửa sau kêu nghêu ngao um sùm. Tôi mở cửa ra vuốt ve nó một hồi, muốn ôm nó vào nhà nhưng nó chạy tuột đi. Dạo sau này tôi nắm chùm da ở cổ nó nhấc bổng nó lên để nó không thể dùng móng chân bấu xuống đất, trì lại, rồi ôm nó vào lòng ủ cho nó ấm. Chưa đầy một phút là nó kêu lên một tiếng rất áo não, khiến tôi động lòng phải thả nó ra. Tôi cho nó ăn thức ăn mềm, nhưng loại mới mua không có mùi cá hồi quen thuộc nên nó không muốn ăn. Buổi tối hôm đó, trời ngưng tuyết, thức ăn khô vẫn còn, nhưng nó vẫn đến đứng trước cửa kêu, như muốn đòi vào. Tôi mở cửa ra mời nó vào nhưng nó lại bỏ đi. Tôi vuốt đầu nó như thường lệ rồi quay vào đóng cửa.

Mấy hôm sau tôi vẫn để thức ăn cho bọn chúng nó nhưng không để ý vì mải mê xem phim. Rồi tôi nhận ra đã ba bốn hôm tôi không nghe nó kêu ở ngoài cửa, cũng không thấy nó nhảy lên cái máy lạnh ngồi ngó vào cửa sổ. Con mèo này khôn và khá dạn dĩ, bỗng dưng không thấy nó đến, tôi để ý ngóng tìm. Trời khá ấm nên tôi đi rừng thường hơn. Buổi chiều về thấy con mèo xám và con mèo đen chờ được cho ăn. Buổi sáng sớm cũng thấy con mèo đen và con mèo xám, nhưng không thấy nó. Nó là con mèo vàng sọc nâu. Tôi đặt cho nó là con mèo Anh, nhưng lúc sau này ông Tám gọi nó là con mèo Con, để phân biệt với con mèo Mẹ, Củ Gừng hay Ginger.

Ginger, đầu mùa Xuân năm 2018, tha đến sân sau nhà tôi năm con mèo sọc vàng, mẹ và con giống nhau y hệt. Tuy vậy nhìn lâu tôi có thể phân biệt chúng nhờ vào sọc và những đốm đặc biệt. Ba con lớn nhất, mạnh nhất, thân thiện nhất, và đẹp nhất Trung Tâm Kiểm Soát thú hoang, mang về cơ quan để cho người ta nuôi. Hai con mèo nhỏ hơn, khờ hơn, ít đẹp hơn, sau khi chích thuốc ngừa và triệt sản người ta thả chúng trở lại cánh rừng sau nhà tôi. Hai con chơi với nhau rất vui, cắn vật, rượt đuổi, đi đâu cũng hai đứa với nhau. Khi mèo Em biến mất, mèo Anh buồn thấy rõ. Về sau nó kết thân với ông Mun Inky thấy cũng đỡ lẻ loi.

Mèo Anh và mèo Em. Mèo em có đốm nâu, mèo Anh có sọc nâu và cổ có đốm trắng.

Tháng Ba (2019) tôi đi xa một tháng, nhờ cậu bé bên cạnh nhà mỗi ngày cho mèo ăn. Khi về thấy mấy con mèo, mèo Mun, mèo Mẹ, mèo Anh vẫn khỏe mạnh, béo tốt. Tuy vậy con mèo Em biến mất. Vì không còn mèo Em, nên lẽ ra phải gọi là mèo Con nhưng tôi quen gọi nó là mèo Anh. Buổi sáng sau ngày tôi về, mở cửa sân sau thấy mèo Mun và mèo Anh đã chờ ăn. Mèo Anh chạy đến kêu rất to, vẻ vừa mừng rỡ lại vừa sợ hãi. Tôi không biết nó sợ gì, có con gì bắt mất mèo Em? Tôi vẫn nhủ thầm con mèo Em rất thân thiện, thường hay dựa sát vào người tôi mỗi lúc tôi cho chúng ăn. Có lẽ có người nào đó bắt nó đem về nuôi.

Không biết đám mèo hoang này sống ở đâu, ngủ ở đâu. Chúng chỉ đến ăn rồi sau đó biến đi đâu mất. Mùa đông, chúng vẫn sống sót sau những ngày tuyết rơi, và đêm thì xuống đến độ âm. Mèo Anh tôi bắt gặp nhiều lần nó nằm trên đống lá khô lim dim ngủ mặc cho tuyết rơi lả tả trên đầu. Nhiều lần tôi dụ nó vào nhà, nhưng nó chỉ vào đến bậc cửa, đứng nửa trong nửa ngoài và sau đó tháo lui, bỏ chạy. Mèo Anh là con mèo duy nhất Nora kết bạn thân thiện. Hễ biết mèo Anh bên ngoài là Nora đòi ra ngoài. Hai con mèo, một nàng già (mèo 11 tuổi tương đương người 60 tuổi) một chàng trẻ (mèo chừng hai tuổi, tương đương người 25 tuổi) đón chào nhau bằng cách cọ cổ, ngoắt đuôi, ngửi nhau. Cho đến khi mèo Anh hăng hái quá thì Nora dùng chân trước đánh nhẹ vào đầu hắn, hoặc đẩy nhẹ ra. Và dường như mèo Anh nhường nhịn (hay sợ hãi) tất cả mấy con mèo khác, như mèo Mẹ, mèo Mun, mèo Xám, và mèo Mập. Mỗi lần bị mèo Xám tranh ăn, mèo Anh ngồi tránh sang một bên, kêu than nhưng không dám đánh lại.

Mèo Xám, cứ mỗi lần nhìn con mèo này, vẻ bẽn lẽn duyên dáng của nó thường làm tôi nghĩ đến mấy nhân vật mèo trong vở nhạc kịch Cats.
Mèo Mun, bây giờ là con mèo hoang đến ăn lâu năm nhất. Từ lúc nó xuất hiện, con mèo Boyfriend biến mất. Tôi tưởng Boyfriend đã chết nhưng rất lâu về sau, mấy tháng hay một năm lại thấy nó đi ngang, đứng nhìn thoáng qua rồi tiếp tục đi lên đồi.
Mèo Mẹ Ginger đẻ hai lứa đều mang đến sân sau nhà tôi. Tất cả mấy con mèo hoang đều ngán sợ mèo Mẹ. Hễ mèo Mẹ đến là nàng được ăn trước, các con mèo kia đều phải ngồi chờ nó ăn xong rồi bỏ đi thì mới được ăn.
Mèo Mập có lẽ là bố của mèo Anh và mèo Em

Mèo Xám chỉ mới đến ăn hồi tháng 11 sau khi tôi đi xa nguyên tháng 10 vẫn nhờ chú bé láng giềng cho mèo ăn. Từ một hai tháng nay thỉnh thoảng có con mèo sọc vàng mặt có vân trắng, giống như một trong ba con mèo Trung Tâm Kiểm Soát Thú Hoang mang về cơ quan, và một con mèo trắng đen, có đốm đen ở mũi trông giống như anh hề Charlot, đến ngồi ngó ở phía xa.

Hôm kia, đang ngồi ở bàn viết, tôi nghe tiếng mèo kêu ở cửa sau, mở cửa ra thì thấy cái mình màu vàng sọc nâu vừa biến mất xuống cái deck. Vì nhìn phía sau tôi không dám chắc đó là mèo Anh hay Ginger. Ginger thì không bao giờ kêu thành tiếng, chỉ có mèo Anh là kêu to thôi. Mèo Anh thì không chạy trốn tôi như vậy. Nó luôn luôn đến đưa đầu cho tôi xoa để được ăn. Tôi vội vàng mang thức ăn mềm có mùi cá hồi ra để sân sau với hy vọng nếu đó là mèo Anh thì nó sẽ quay trở lại ăn. Chập sau tôi nhìn từ cửa sổ thì thấy đó là con mèo lạ, mặt có vằn trắng gần giống như con mèo này.

mèo này đã cho Trung Tâm Kiểm Soát thú hoang

Tôi lo sợ có gì không hay xảy đến với con mèo Anh. Dạo sau này có con cáo hay lẩn quẩn chung quanh, và báo đăng loại chó rừng coyotes thường về săn vào ban đêm. Mèo Anh khá to nên chồn cáo muốn bắt nó thì không dễ. Coyotes thì không thể leo cây như mèo. Mà mèo Anh thì leo cả lên mái nhà của cái shed giống như con mèo Xám leo lên hôm kia.

Mèo xám leo lên nóc của cái shed, mèo Anh trước kia cũng làm như thế

Tôi thích cho mấy con mèo hoang ăn ngon. Giáng sinh, New Year, Tết, tôi đều cho bọn mèo hoang ăn một bữa ăn đặc biệt là thức ăn mềm. Thức ăn bằng hạt thì cho ăn nhiều mỗi ngày, no đến độ còn thừa cho opossums hay raccoons ăn. Tôi thích nhìn mấy con mèo ăn ngấu nghiến, vừa ăn vừa gầm gừ với đồng bọn vì sợ bị tranh ăn. Mỗi lần cho ăn ngon là tôi phải ngồi để canh cho Mèo Anh ăn gần hết mới vào nhà, vì nó không bao giờ biết chống trả mỗi khi mấy con mèo kia giành thức ăn của nó, sau khi ăn hết phần của bọn chúng.

Nếu tôi biết số phận của mèo Anh ngắn ngủi đến thế tôi đã bắt nó mang vào nhà mặc cho nó chống cự và kêu la suốt đêm. Thế là mấy ngày nay tôi cứ tự trách mình đã chẳng quả quyết hơn một chút để giữ mạng sống của nó lâu dài hơn. Nó chẳng là gì của mình, vậy mà sao tôi cứ nghe lòng mình thổn thức như vừa đánh mất một cái gì mà tôi yêu quí lắm.

Vườn đền Heian Jingu

Heian Jingu là đền thờ Thần Giáo (Shinto Shrine), được phong tặng danh hiệu “Tài sản Văn hóa Quan trọng” của Nhật Bản. Theo Wikipedia, kiến trúc đền Heian lập lại theo khuôn mẫu của Chodo-in, hoàng cung thời cổ xưa.

Heian torii là cổng đền mới nhất và lớn nhất Kyoto
Outen-mon, cổng ngoài của Heian Jingu. Đây là kiểu kiến trúc nijumon, cổng có hai tầng mái và có lan can ở tầng thứ hai
Gian giữa, cũng là tòa nhà chính của đền Heian, mô phỏng theo Kyoto Imperial Palace (hoàng cung Kyoto)

Heian Jingu được xây cất vào năm 1895 để kỷ niệm 1100 năm thành lập Kyoto, tưởng niệm hoàng đế Kammu, vị hoàng đế đầu tiên của Kyoto (năm 794) và hoàng đế Komei (1831-1867) phụ hoàng của Meiji Emperor (Minh Trị Thiên Hoàng). Dự định sẽ xây cất đền theo kích thước Chyodo-in nhưng vì sơ sót mua không đủ đất để xây cất nên đền Heian chỉ được 5/8 chiều dài kích thước ban đầu. Đây là kiến trúc chịu ảnh hưởng bởi quan niệm thẩm mỹ của Trung quốc, điển hình là mái ngói xanh, rường cột sơn màu đỏ, và tường trắng. Kiến trúc của Thần Giáo thời cổ xưa ảnh hưởng quan niệm thiền màu sắc giản dị hơn. Kiến trúc sư của Heian Jingu là Ito Chuta. Năm 1976, đền và các tòa nhà chung quanh đều bị cháy rụi. Chùa được xây cất lại bằng tiền thập phương cúng dường. Vào xem chùa thì miễn phí nhưng để xem vườn của đền Heian, du khách sẽ trả một lệ phí tượng trưng.

Vườn của đền Heian bao gồm bốn vườn nhỏ bao chung quanh đền ở các hướng Nam, Tây, chính giữa, và Đông. Vườn do Ogawa Jihei (1860-1933) thiết kế. Điểm nổi bật nhất của khu vườn này là hồ Byakko-ike có khoảng hai ngàn cả cây lẫn hoa, gồm hai trăm loại khác nhau.

Hồ Soryu-ike ở vườn chính giữa. Trong hồ có một con đường làm bằng những cây cột/trụ bằng đá lấy từ những trụ cột còn thừa của hai cây cầu nổi tiếng trong Kyoto, đó là cầu Sanjo Ohashi và Gojo Ohashi. Con đường trụ đá này có tên là Garyu-kyo có nghĩa là đuôi rồng.

Ông Tám đang cưỡi đuôi rồng. Phông nền là quán trà. Chúng tôi ghé quán gọi bánh và trà xanh. Quen uống trà khô của Tàu nên trà xanh hơi lạ miệng. Nó không chát như trà Tàu nhưng sau khi nuốt cũng không có cái hậu ngọt.
Món này của tôi, bánh đậu đỏ khá ngon.
Không nhớ vị của món này, hình như là món mặn

Tôi đến nơi này hơi muộn. Trước đó vài ngày có lễ hội Jidai Matsuuri rất quan trọng. Đây là đền thờ rất được nhiều người đến xem. Các bậc cha mẹ đến đây để cầu những điều tốt đẹp cho con cháu vào lúc 3, 5, hay 7 tuổi. Đôi lứa hôn nhân đến đây để cầu được hạnh phúc.

Soryuro – Castle in the corner dùng cái tên đăng ở Wikipedia nhưng ảnh là của tôi chụp. Ảnh không được sắc nét, tại chụp dở.