Chuyện Tình Kỳ Diệu

Tặng Trần Bích Thủy và phu quân Nguyễn Hồng Minh   

Nếu có ngày nào tôi trở thành nhà văn nổi tiếng, tôi xin được nổi tiếng là người viết về những tình yêu hạnh phúc; bởi vì viết về hạnh phúc của những người yêu nhau làm tôi thấy vui hơn là đọc những chuyện đầy hận thù, tranh chấp, nghi kỵ, nhỏ nhen.  Chuyện tình tôi sắp kể sau đây là chuyện tình có thật.  Tuy nhiên thể theo lời yêu cầu của người trong cuộc tên của nhân vật được thay thế băng những tên tưởng tượng.  

Trong chuyến đi chơi cuối tuần vừa qua tôi gặp một người bạn mới tên Trần Bích Thủy.  Khi mọi người ngồi trong nhà tán gẫu tôi và Thủy đi vòng quanh khu vườn chung quanh nhà của người bạn.  Khu vườn này rất rộng với nhiều loại hoa và có cả những cây ăn trái thuộc loại quí như lê Á châu và hồng dòn.  Cứ tưởng tượng cô chủ nhà tên Trúc, tôi nghe tiếng là đẹp nhưng hôm tôi đến thăm Trúc bận việc nên vắng nhà, sáng sớm đi dạo trong vườn cắt hoa tươi để trang trí trong nhà, có lẽ cô chủ nhà giống như một công chúa dạo vườn thượng uyển.  Sau khi tôi đã mê say chụp ảnh rất nhiều loại hoa đẹp chúng tôi ngồi ngoài vườn và tôi hỏi Thủy câu hỏi mà tôi thường dùng để giữa tôi và người đối diện không có khoảng cách im lặng tẻ nhạt.  Nếu người đối thoại của tôi lập gia đình rồi thì tôi hỏi “chị và anh nhờ duyên cơ nào mà gặp nhau rồi đi đến chỗ kết hôn?”  Và thỉnh thoảng tôi được nghe những chuyện tình hạnh phúc.  

Năm 1970, Thủy học đệ tam, tức là lớp mười, anh của Thủy tốt nghiệp khóa học ở quân trường Quang Trung.  Vì cha mẹ ở xa, Long Xuyên, nên Thủy ở Sài gòn trọ học.  Ba mẹ bảo Thủy đi dự lễ tốt nghiệp của người anh.  Thủy và một chị bạn lớn hơn Thủy vài ba tuổi cưỡi chiếc PC đến quân trường.  Sau khi dự lễ mãn khóa Thủy và chị bạn ra về dọc đường bị một nhóm lính hải quân đi theo tán tỉnh.  Thủy là người lái xe, vì bản tính e thẹn Thủy tìm đường lẩn tránh nhóm lính này.  Trong lúc lúng túng, Thủy sơ ý tông vào đụn cát và cả hai té xuống.  Cùng lúc ấy có một chiếc xe Jeep đi sau trờ tới và đụng cả hai người.  Thủy chỉ bị xây xát nhẹ trong khi chị bạn của Thủy bị thương nặng hơn máu me đầm đìa.  Ba anh lính hải quân chạy mất.  Cái xe Jeep cũng bỏ chạy luôn.  Cô bé mười sáu tuổi đứng đó hoảng sợ.  Tuy Thủy không kể nhưng tôi chắc nếu Thủy không khóc òa thì có lẽ cũng mếu máo vì đau và sợ.  

Nguyen Hồng Minh lúc ấy đang là huấn luyện viên của trại Vương Mộng Hồng trong quân trường Quang Trung.  Đây là trại huấn luyện cho tân binh của quân chủng nhảy dù.  Lúc ấy anh giữ chức vụ Trung úy, đại đội trưởng của đại đội H.  Anh vừa dạy xong khóa học và chuẩn bị ra về.  Trên đường thấy tai nạn của hai cô gái và bất bình khi thấy thái độ vô trách nhiệm của những người liên quan, anh đuổi theo bắt chiếc xe Jeep phải quay trở lại để bồi thường thiệt hại chiếc xe PC của hai cô gái.  Anh cũng bế cô bạn của Thủy vào bệnh xá quân y gần đấy để chăm sóc vết thương.  Anh trao tấm danh thiếp cho cô bé mười sáu tuổi dặn nếu cần anh giúp đỡ gì cứ liên lạc với anh.  Nghĩa cử của anh đã gieo vào trái tim cô gái hạt mầm cảm mến và hạt mầm này dần dần nảy nở theo lứa tuổi mộng mơ trở thành một tình yêu thầm kín của tuổi học trò, cái tuổi “chỉ biết yêu thôi chả hiểu gì”. Thủy giữ liên lạc qua thư từ cho đến năm 1971, Thủy đánh bạo đến tìm anh Minh với ý định cảm ơn người đã giúp đỡ mình và chị bạn.  Cuộc gặp gỡ này dẫn theo cuộc gặp gỡ khác và cô nữ sinh trẻ tuổi này yêu anh say đắm.  Chỉ rất tiếc là anh đã lập gia đình.  Thỉnh thoảng anh đến thăm Thủy.  Tuy thầm yêu, Thủy chưa bao giờ vượt qua lễ giáo và anh Minh không hề tỏ ý lợi dụng.  Vào năm 1973 khi cuộc chiến trở nên sôi động, Minh đột nhiên mất tích, không thư từ liên lạc.  Thủy cho là anh chết trận và nếu như anh không chết trận sau năm 1975 rất có thể anh đã chết trong trại cải tạo.  Thủy tốt nghiệp đại học ngành kỹ sư Hóa Học có việc làm ổn định nhưng vẫn ở vậy không hề lập gia đình hay yêu thương người nào khác.  

Gần Tết năm 1992 Thủy nhận được một lá thiệp chúc Tết.  Thấy tên người gửi quen thuộc nhưng mãi một lúc sau Thủy mới nhận ra được đây là tên của người mình yêu hai mươi năm về trước.  Quá khứ đã bị chôn quá sâu nên lúc đầu Thủy không nhận ra ngay.  Với địa chỉ trên bức thiệp Thủy rủ một người bạn gái cùng đến nhà thăm Minh.  Thủy cũng muốn biết biến cố gì mà Minh vắng mặt bao nhiêu lâu và đời sống đã đãi ngộ anh như thế nào.  Minh cho biết năm 1975 anh đã lên chức Đại úy và anh bị đi tù cải tạo sáu năm.  Năm 1984 anh vượt biên bị bắt trở lại và bị thêm hai năm tù ở Côn Đảo.  Vợ anh không may đã qua đời sau cơn bạo bệnh cách đây đã hai năm.  Trước khi gửi lá thiệp chúc Tết anh xem như đây là thư từ biệt nếu như Thủy đã có gia đình.  Anh thường ngồi chờ Thủy đi ngang ở một quán cà phê gần đấy để xem Thủy có còn ở địa chỉ cũ hay không.  Anh nhận được giấy tờ cho anh được rời khỏi Việt Nam theo diện HO và sẽ ra đi trong vòng vài tháng.  Minh muốn đưa Thủy đi với anh.  Lý do trực tiếp và thực tế nhất là anh hy vọng cuộc sống ở nước ngoài sẽ tạo được cuộc sống tốt đẹp hơn nếu như Thủy không còn yêu anh.  Hai mươi năm không gặp nhưng tình yêu của cô nữ sinh trong phút chốc hồi sinh mãnh liệt.  

Sự cầu hôn của Minh bị ông bố vợ tương lai cự tuyệt mãnh liệt.  Ông cụ giận cô con gái vốn được ông cưng quý nhất nhà đến độ không ngó mặt, không ăn cơm chung bàn.  Tuy nhiên Thủy quyết liệt nếu không được làm vợ của Minh, Thủy thề sẽ không lấy bất cứ ai khác làm chồng.  Mẹ và các dì các chú xúm vào nói hộ cuối cùng ông cụ xiêu lòng.  Lý do ông không đồng ý tình yêu của Thủy chỉ vì ông biết là sau khi học tập trở về cuộc đời anh Minh không có tương lai nữa.  Tìm việc làm tự nuôi thân đã khó huống gì anh lại ở trong tình trạng gà trống nuôi con.  Việc anh dự định đưa Thủy sang Mỹ cũng không được ông cụ tán thành.  Ông cụ có quan niệm là Thủy có đời sống ổn định với cha mẹ anh em, có việc làm vững chắc dù không giàu cũng chẳng đến độ cần phải tha phương cầu thực.   

Chính quyền Mỹ không chấp nhận thay thế hồ sơ của người vợ quá cố của Minh bằng hồ sơ của Thủy.  Minh phải chọn lựa giữa việc đưa các con qua Mỹ trước trong khi chờ đợi hồ sơ của Thủy được duyệt xét.  Hay anh và gia đình phải ở lại chờ cho đến lúc hồ sơ của Thủy được chấp thuận.  Minh muốn ở lại chờ Thủy đi cùng, nhưng đứa con lớn của Minh đã đến tuổi phải đi nghĩa vụ vì thế Thủy khuyên anh nên đưa các con đi trước và Thủy sẽ hội ngộ với anh sau.  Năm 1992 ba tuần sau khi cưới Minh đưa các con qua Mỹ theo diện HO.  Bảy năm sau, hồ sơ của Thủy được chấp thuận và Thủy tái ngộ với Minh ở Hoa Kỳ.    

Đến đây có lẽ có người tự hỏi chuyện như thế này bình thường quá, giản dị quá, chẳng có gì mới lạ so với hằng hà sa số những chuyện tình nổi tiếng từ trước đến nay trong lịch sử hay văn học nghệ thuật.  Tôi vốn không chủ trương chuyện tình phải có kết cục bi thảm như Romeo và Juliette hay Anna Karenina thì mới là chuyện tình đáng chiêm ngưỡng.  Tôi thích chuyện tình này trước nhất bởi vì đây là một chuyện tình “có hậu.” Ngoài ra chuyện tình này có những điều kỳ diệu mà tôi xin được nêu ra như sau:  Hai anh chị Minh Thủy thật sự yêu nhau.  Trong bất kỳ xã hội nào, đặc biệt là xã hội chìm đắm trong chiến tranh như Việt Nam , cái chết và sự chia lìa tướt đoạt bao nhiêu hạnh phúc cá nhân chỉ trong nháy mắt.  Yêu và được yêu lại là một hạnh phúc và hạnh phúc tự nó đã mang tính chất kỳ diệu.  Có một bài hát tôi nghe trong phim Moulin Rouge (Nicole Kidman đóng nhưng tôi không biết chắc có phải do chính Nicole hát hay không) và gặp lại bài hát này qua giọng hát tuyệt vời của Celine Dion; tôi nhớ bài hát này bởi vì nó có những câu rất hay như những câu sau đây.  “The greatest thing, you’ll ever learn, is to love and be loved in return.”  (Xin tạm dịch, điều quan trọng nhất, vĩ đại nhất, mà bạn sẽ được học trong đời là biết yêu và tình yêu của bạn được đáp lại.)  Cuộc tình của anh Minh và Thủy có những sắp xếp thật tình cờ do bàn tay của định mệnh.  Nếu không có tai nạn xảy ra thì hai người đã chẳng gặp nhau.  Nếu anh Minh không còn sống sót sau những ngày tù tội, nếu Thủy đã lập gia đình, nếu vợ anh Minh không qua đời, nếu tình yêu ngây thơ nhưng chân thành không chinh phục được trái tim anh Trung úy nhảy dù hào hoa, nếu gia đình Thủy dời chỗ ở sau hơn hai mươi năm, và nếu hai người không quyết tâm tìm đến với nhau; chỉ cần một mắt xích trong chuỗi tình cờ này đứt đoạn, chuyện tình này không có một kết thúc hạnh phúc như thế.  Tính từ năm hai người xa nhau lần đầu 1973 cho đến khi hai người hội ngộ năm 1999 là 26 năm.  Thời gian đủ dài để cho một đôi tình nhân nên vợ chồng và có khi có cháu ngoại hoặc cháu nội.  Thời gian ấy cũng đủ dài cho người ta ly dị vài ba lần nếu tính theo thống kê của Mỹ là cứ hai đôi tình nhân thành vợ chồng thì có một đôi ly dị.  Anh Minh và Thủy đã mất bao nhiêu năm dài chờ đợi chỉ để được bên nhau.  

Không biết ngày còn là lính thiên thần mũ đỏ anh có “rằn ri” không chứ lần đầu tiên gặp anh Minh, tôi thấy dáng dấp anh nhỏ nhắn, anh có làn da rám nắng rất đẹp, thái độ yên tĩnh, điềm đạm, vui vẻ, bặt thiệp, và đặc biệt anh có nét mặt rất nhân hậu.  

Sự kết hợp hài hòa, giữa định mệnh và tình yêu son sắt của hai người (tình yêu này là động cơ giúp họ không đầu hàng những khó khăn của định mệnh) là một điều kỳ diệu.  Một hạnh phúc tuy có vẻ giản dị, bình thường, và nhỏ nhoi nhưng đủ làm chúng ta ấm lòng và vững tin là cuộc đời vẫn có nhiều chuyện diệu kỳ tươi đẹp ở chung quanh.  Nếu chú ý tìm chúng ta sẽ nhìn thấy. 

Kiếm

Tám đi Washington D.C. nhân mùa lễ Độc lập của Hoa Kỳ rất vui.  Dự định tìm tài liệu về Phượng và Hoàng, Kiếm và Cầm.  Kiếm thì chỉ thấy một bộ gươm của thời Tây Ban Nha xưa, mới vừa chụp xong tấm ảnh thì bị người bảo vệ cho biết đây là triễn lãm đặc biệt nên không được phép chụp hình.  Cầm thì thấy vài bộ đàn vĩ cầm của Stradivari nhưng không được phép chụp hình.

Còn chưa biết viết gì thì nhà văn Đặng Đình Túy đã viết một bài rất hay về Phượng Cầu Hoàng.   Tám chưa có xin phép ông thầy Túy nhưng cứ post lên đây để các bạn thưởng thức.  chừng nào thầy rầy thì mình lấy xuống.  Mình hay có tật làm trước xin phép sau.  Vào viện bảo tàng mà chờ cho phép mới chụp hình thì chẳng bao giờ sẽ có hình mà xem.  Cứ lén thấy không ai để ý thì cứ chụp thôi.

Xin giới thiệu bài của thầy Túy bằng một cái post sau cái post này, như thế có nghĩa là bài của thầy sẽ ở bên trên.  Xin mời.

Ngày mai sẽ đăng bài về chuyện tình của một người lính nhảy dù.  Tác giả:  Bà Tám

Đi chơi vài hôm sẽ về

Đi chơi vài hôm sẽ về.  Ai có mừng lễ Độc Lập nướng thịt thì ăn dùm Hà nhé.  Ai chưa có connection với Hà thì xin làm ơn set up connection và connect với Hà nhé, cám ơn nhiều, bởi vì Hà sẽ set up blog chỉ cho người nào trong connection đọc blog thôi, để tránh phiền toái vụn vặt cho Hà và người đọc.  Sẽ đọc e-mail nếu có ai muốn nhắn nhẻ gì xin cứ e-mail.  Hà đi săn ảnh và săn materials để viết bài.

Đang research “phụng cầu hoàng” và “kiếm và cầm.”  Hấp dẫn không?

Chúc vui và sẽ "nhớ" (remember+miss) các bạn.

LắngTrong Tiếng Đêm

1
Ảnh hai chú nai con lang thang trước nhà.

Khi bóng tối bao trùm, thị giác tạm thời bị giới hạn.  Không còn nhìn thấy, Phạm Duy dùng khứu giác để diễn tả cái đẹp của đêm.  Trong bài hát Dạ Lai Hương ông viết, “đêm thơm như một dòng sữa lũ chúng em êm đềm rủ nhau ra trước nhà.  Hiu hiu hương từ ngàn xa bỗng quay về ngạt ngào bên hè ngoài trời khuya.”  Đâu cần nhìn chỉ cần hít vào một hơi thật sâu và thở ra thật nhẹ để lắng nghe mùi hương dịu dàng của hoa Dạ Lai.

Vũ Thành An dùng vị giác để nếm mùi vị của đêm như trong bài Không tên số 7.  Đêm của ông không mịt mù ma quái mà đi từ đắng qua ngọt.  Đêm có tác dụng hồi phục dưỡng nuôi: “Ngày tàn im lắng.  Yêu người làn tóc trắng. Tâm sự rồi đêm đắng.  Như lệ giờ mất nhau.  Đêm vỗ về nuôi nấng, đêm trao ngọt ngào hương phấn”  

Trịnh Công Sơn thì rắc rối khó hiểu hơn.  Trong đêm  ông bảo “thấy ta là thác đổ.  Tỉnh ra thấy ta còn nghe.” Ông mơ thấy ông là thác đổ hay ông mơ nghe tiếng thác đổ.  Ý tôi muốn nói, cất thị giác qua một bên thì ông nghe hay ông thấy, hay ông thấy ông nghe?

Trong một bài hát khác, một bài thật dài, có lẽ một đêm không ngủ được ông nằm suốt “đêm nghe gió tự tình, nghe đất trở mình vì mưa, nghe gió thở dài,”  Đó là những cái nghe cụ thể.  Ông nghe cả những âm thanh trừu tượng như “nghe tiếng khóc cười của bào thai, nghe tiếng ngậm ngùi, lăng miếu trùng vây, xa cách cuộc đời, hoang phế cạnh đây.”  Rồi ông nghe những chuyện đòi hỏi mức độ nhạy bén đặc biệt như “nghe gió than hoài, nghe lá đưa lời hàm oan, nghe thân xác mịt mùng, và nghe tiếng muôn trùng đẩy đưa.”

Phải là một nhà thơ đặc biệt mới có thể nghe nhiều như thế trong đêm.  Tôi vốn mang bệnh mất ngủ những đêm nằm thao thức tôi cũng lắng nghe như Đức Huy lắng nghe “giọt nước mắt nào, đổ trong bóng tối khi nằm lẩn trong bóng đêm, lắng trong bóng đêm, nghe nhịp đập con tim, những ân ái đã ngủ quên.”

Suốt tháng Sáu ngày nào cũng mưa.  Đêm qua đi ngủ tôi để cửa sổ, trời dường như sắp mưa, không khí nặng ẩm, gió thổi phe phẩy qua lá rì rào.  Thỉnh thoảng có tiếng chim kêu.  Tôi nghe tiếng côn trùng, không phải dế, không phải ve, nhưng nghe râm ran một thứ tiếng êm tai, đặc biệt không thể nhầm lẫn với thứ tiếng nào khác.  Tôi nhắm mắt bắt đầu lướt vào giấc ngủ, dường như tiếng đom đóm đang đáp nhẹ nhàng lên những cụm hoa kim ngân, như những cô tiên bé đang rải phấn bay lên những đóa hoa, để tất cả đều có thể bay bổng lên trời về xứ Neverland của Peter Pan.

Tôi chợt thức giấc, không biết ngủ đã bao lâu, sương rơi nặng hạt xuống lá thành những giọt nước chảy nhẹ nhàng, mơ hồ có tiếng nước nhỏ xuống cái máy lạnh nghe từng tiếng long tong thật khẽ.  Gió lướt qua cửa sổ thổi bay mấy tấm màn cửa mỏng màu trắng nghe lất phất, như tiếng tà áo lụa bay bay.  Tôi nghe bàn tay gió mân mê da trần lành lạnh.  Tôi lười lĩnh trở mình ngủ tiếp.

Tôi lại thức giấc, lần này thì gió rít chung quanh nhà.  Mơ hồ trong gió tôi nghe có tiếng kêu rên; cố định thần mắt vẫn nhắm, tôi cố gắng phân biệt tiếng gió rú, hay tiếng mèo hoang, hay tiếng những con coyote đang chuyển bụng đẻ con, hay tiếng khóc của ma nữ.  Chung quanh nhà tôi có vài con mèo hoang có thể có con mèo nào đó đang lên cơn động tình .  Hàng xóm nói có một con coyote đang có mang, bụng xệ xuống, làm ổ trên đồi; ông ta dọa mang súng BB ra bắn gia đình coyote mấy hôm nay.  Có thể đây là tiếng gió lướt qua những cái lồng đựng thức ăn nuôi chim tạo thành tiếng hú man dã.  Tôi kéo mền phủ kín đầu.  Tiếng màn cửa bay phần phật càng làm tôi khiếp đảm hơn. Tôi ngủ thiếp đi.

Tôi thức giấc.  Trời chưa sáng nhưng mưa đã tạnh, và tiếng chim vang trong rừng bao bọc căn nhà của tôi.  Có loại hót nghe như baby baby where are you.  Có loại hót nghe như em đây em đây.  Có con hót như về đây, thôi về nghe.  Chỉ lắng nghe thôi có hơn chục loại chim đang kêu nhau, tán tỉnh nhau, gấu ó nhau, dỗ dành nhau.  Tôi thử hỏi tiếng rên hú đêm qua là tiếng gì mà sao sáng nay êm đềm quá.

Theo lời thách của một blogger, viết một bài chỉ dùng thính giác.

Thức ăn và giấy tờ

Người đi xe lửa cần phải tôn trọng một số điều lệ của hãng xe lửa đặt ra.  Những điều lệ này được dán trên vách tường xe lửa, ở những nơi dễ thấy, ngắn, chữ to dễ đọc.  Không ăn uống trên xe lửa.  Không để chân lên ghế.  Không làm ồn.  Hãng xe lửa có đội cảnh sát riêng. Các ông soát vé xe lửa có quyền đuổi hành khách hay tóm cổ giao cho cảnh sát.  Họa hoằn lắm mới có người làm mất trật tự.  Tuy nhiên vi phạm điều lệ là chuyện thường.  Có người dùng điện thoại nói chuyện ong óng đến độ người ta phải than phiền với những người soát vé.  Tôi sợ phải ngồi gần những người dùng cell phone nhiều như thế.  Nếu ồn quá tôi thường nghe nhạc hay bỏ đi chỗ khác.  Còn một cái phiền nữa là ngồi gần những người thích ăn uống trên xe lửa.

Cùng đi chuyến xe lửa buổi sáng với tôi có một người phụ nữ người da trắng.  Cô trạc tuổi bốn mươi.  Người cô rất gầy, không phải kiểu gầy như cánh hạc về chốn xa xôi.  Cô ta gầy như những cành cây mùa đông đã trơ trụi lá. Đi xe lửa lâu năm riết rồi quen mặt dù không biết tên.  Hôm nào đi xe lửa không nhìn thấy cô ta tôi thường hay kín đáo tìm.  Tóc của cô tuy thắt bím nhưng rối bù.  Có vẻ như cô đi ngủ với cái bím và sáng thức dậy không chải đầu.  Cô ăn mặc màu sắc như chửi nhau và chửi rất to.  Vớ cao đến đầu gối, sọc ngang đủ màu rực rỡ.  Loại vớ người ta có thể nhìn thấy trên những hình nộm đứng trong tủ kính của tiêm bán quần áo mắc tiền Bennetton.  Nhìn có vẻ ngộ nghĩnh trên cặp chân dài của một cô bé Đại Hàn tóc tém mắt một mí, nhưng trên cặp chân xương xẩu của một người đàn bà tuổi bước vào thu coi hơi kỳ.  Cô hay mặc váy ngắn.  Mùa hè cô mặc áo dây mỏng như cọng mì xốc xếch nhăn nheo trên bộ ngực lép kẹp như một cái bàn ủi đồ.  Màu áo màu vớ màu váy mỗi thứ một màu khác nhau, hình vẽ, sọc, hoa, tất cả đều như cất tiếng hét “nhìn tôi đây này.”  Cứ mỗi khi nhìn cô tôi lại cố gắng đoán nghề nghiệp của cô.  Rất có thể cô là học viên môn vũ ở một nhà hát nào đó ở New York và khi đến đấy cô sẽ thay trang phục.

Trên tay cô xách nhiều túi.  Loại bao ni lông người ta dùng để chứa hàng ở siêu thị cho người đi chợ mang về.  Cô có vẻ vui vẻ, thân thiện, hay nói chuyện với người chung quanh.  Vì quá gầy nên cô có vẻ khắc khổ, mặt có nhiều nếp nhăn.  Chút son phấn nhạt làm mặt cô có vẻ dễ nhìn nếu cô ăn mặc tươm tất một chút có thể nói cô là một phụ nữ khá xinh.

Tôi ít khi ngồi gần cô theo thói quen.  Tuy nhiên sáng nay không có chỗ nên khi tôi ngồi vào ghế trong sát với cửa sổ, cô đến ngồi bên cạnh.  Sợ phải trả lời những câu nói vụn vặt tôi chúi đầu vào quyển The Noodle Maker của Ma Jian, lấy bút ra ghi chú đầy trang sách.  (Tôi có thói quen rất xấu là khi tôi đọc một quyển sách nào tôi ghi chú những suy nghĩ đầy trang.  Còn nếu tôi không thích quyển sách thì chỉ chừng vài chương là tôi bỏ cuộc và thường là không ghi chú gì cả).  Cô ngồi cạnh tôi khoảng 5 phút thấy tôi không ngẩng mặt lên, cô quay ra nói chuyện với một người đàn ông ngồi đằng sau lưng.  Được dăm ba câu, cô lấy lọ yogurt trong cái bao ny lông ra ăn.  Loay hoay tìm cái thìa, cô khom người xuống lục lọi trong cái bao.  Rồi cô ăn, nhăm nhi, nhắm nháp.  Cũng may là yogurt không có mùi tỏi hành.  Cô có vẻ như đói lắm nên ăn xong cô cứ vét cái lọ yougurt nghe xoèn xoẹt.  Cô liếm cả cái thìa. 

Cô lại lom khom cúi người xuống bỏ lọ yogurt không vào trong bao.  Tôi úp mặt vào trong sách mải mê (giả bộ).  Cô lại nói chuyện với người ngồi đằng sau chừng năm phút cô đi đến đầu toa xe lửa lấy nước uống.  Trở về chỗ ngồi cô đi nghiêng ngả theo nhịp xe lửa chạy.  Tôi sợ cô bắt chuyện với tôi nên càng đọc say mê hơn.  Xe lửa bỗng trở nên im ắng.  Tất cả mọi người nếu không đọc sách hay nghe nhạc thì họ nhắm mắt lim dim.  Người thiếu phụ này lấy một xấp giấy tờ có cột bằng một sơi dây thun từ trong một cái bao ny lông ra, đó là những chi phí về tiền điện hay nước hay tiền bác sĩ gì đó theo lời cô lẩm nhẩm một mình và cả tờ báo cũ của ngày hôm qua.  Được đâu chừng năm phút cô đứng lên đi lấy nước uống lần nữa.  Đống chi phiếu rớt xuống sàn xe lửa vung vãi tung tóe.

Viết theo lời thách của một blogger.  Đề tài thức ăn và giấy tờ.