Sống Thật

Ở đây ( New Jersey ), một ngày như mọi ngày.  Hay nói theo nhạc sĩ Việt Anh, mỗi ngày là một ngày không tên. 

Nhưng ngày hôm nay hơi khác đi một chút. 

Mỗi sáng tôi vào thành phố, đi làm bằng xe lửa.  Đi sớm về tối, phần lớn thì giờ trong ngày tôi luôn luôn bị bao vây trong bốn bức tường từ nhà đến sở, ít có dịp nhìn thấy trời xanh mây trắng.  Thiên nhiên muôn đời vẫn có mặt chung quanh; nhưng loài người hình như quá bận rộn chuyện chén cơm manh áo hay lợi danh nên chẳng ai buồn để ý đến.  Còn tôi tuy chen chúc mưu cầu chén cơm manh áo, có lẽ vì bẩm sinh hơi khùng, nên thay cho nỗi thèm khát được ngắm nhìn mây trắng trời xanh, tôi quan sát người chung quanh, đặc biệt là trên xe lửa, hôm nào tôi không ngủ quên.  Tôi muốn bắt chước các vị nhiếp ảnh viên và họa sĩ, họ chụp ảnh hay vẽ chân dung người mẫu; thay vì dùng phim ảnh hay sơn, ở đây tôi xin dùng chữ viết.  Một ngày nào đó nhìn lại may ra còn nhớ chuyện gì đã xảy ra trong đời sống hằng ngày của mình.

Con người là sản phẩm của thói quen.  Điều này khá đúng với những người thường xuyên đi xe lửa.  Ngày nào cũng thế, xe lửa vào nhà ga ngừng sau lằn mức cố định.  Người người sắp hàng lên toa xe lửa ngồi vào một chỗ cố định.  Khách đi xe lửa tự chọn chổ ngồi theo một công thức riêng, âm thầm và hình như vô thức.  Người ta chọn chổ ngồi nào tiện lợi nhất và thoải mái nhất.  Có người thích ngồi gần cửa để xuống xe nhanh hơn để còn bắt kịp một chuyến xe lửa khác đến một thành phố khác.  Có người sắp đặt để ngồi cạnh một người quen nhau trên xe lửa trở nên thân nhau và yêu nhau.  Có người thích ngồi cạnh cửa sổ để được hưởng chút xíu nắng vàng vốn hiêm hoi ở xứ nầy.  Vẫn bao nhiêu người, vẫn khuôn mặt ấy, vẫn cách ăn mặc ấy.  Những thay đổi vụn vặt mỗi ngày hình như quá ít hay quá nhỏ để có thể gây chú ý.

‎Người đi vào thành phố làm việc ăn mặc tuy khác nhau, nhưng nếu nhìn quen thì chúng ta sẽ nhận thấy họ đang mặc đồng phục.  Phái nam làm việc trong văn phòng thì mặc com lê màu sậm, áo sơ mi trắng hoặc xanh.  Trang phục của phái nữ tuy  có nhiều dạng hơn nhưng quanh đi quẩn lại cũng chỉ ngần ấy thời trang.  Họ càng theo đúng thời trang thì càng có vẻ của đồng phục. Nếu “mode” đang là micro skirt thì đi đâu cũng thấy váy mini cực ngắn.  Nếu thời trang đang thịnh hành loại quần trễ rốn thì đi đâu cũng thấy rốn phơi, thậm chí cả những cái rốn trên một vùng bụng đầy mỡ.  Buổi sáng sớm có nhiều khuôn mặt vẫn còn mệt mỏi ngái ngủ.  Mùa đông, mọi người đều mặc áo màu sậm trông giống như một đàn quạ đen di động.  Những người nói cười ong óng trên điện thoại di động nếu không phải là một cô gái mới lớn đang hớn hở vì những lời tán tỉnh thì phải là một anh da trắng sồn sồn có chừng chục người làm việc dưới quyền tha hồ cho ông xếp ra lệnh làm chuyện này chuyện kia.  Nếu người không chăm chú đọc tiểu thuyết thì người ta sẽ chăm chú gởi tin bằng điện thoại.  Nếu người ta không ngủ gục thì người ta yên lặng ngó bâng quơ.  Chắc là không ít những người tự hỏi những người kia nghĩ ngợi gì, làm gì tối hôm qua, có bao nhiêu yêu thương, và bao nhiêu buồn tủi? Tất cả mọi người đều có vẻ na ná  giống nhau như thể họ cùng là bánh mì lấy từ trong lò ra.  Những thay đổi vụn vặt màu sậm hơn hay nhạt hơn một chút vẫn không thể làm cho ổ bánh mì này khác với ổ bánh mì kia một cách rõ rệt.

Trong khi hầu như tất cả mọi người đều giống như nhau, tôi lại thấy có một người rất khác.

Thông thường người ta ít khi nhớ mặt một người có nhan sắc và càng dễ quên hơn nếu nhan sắc thuộc loại trung bình. Người ta chỉ chú ý và nhớ những người có vẻ gì đặc biệt, như một cái sẹo to trên mặt chẳng hạn.  Tôi chú ý đến một người vì người này có vẻ rất đặc biệt.  Tôi nhìn mãi nhưng không thể phân biệt được người ấy là nam hay nữ.  Có một mùa hè nào đó tôi thấy một người đi nhanh vượt qua mặt tôi rồi bước lên xe lửa.  Tôi lục tục theo sau và ngồi cùng một toa.  Từ lúc này để cho tiện viết tôi xin đặt tên cho người này là Morgan, một cái tên được người Mỹ dùng cho cả nam lẫn nữ.  Tóc Morgan màu vàng, quăn loắn xoắn từng lọn to, dài chấm vai.  Mới nhìn trông giống như kiểu tóc của những chàng ngự lâm quân thời xưa.  Ở Mỹ không thể dựa vào mức độ dài của tóc mà đoán người ta là đàn ông hay đàn bà.  Có rất nhiều phụ nữ cắt tóc thật sát thật cao, ngắn hơn tóc đàn ông.  Và có rất nhiều đàn ông để tóc thật dài, ngang vai là chuyện thường, cột lại thành đuôi gà, tết thành bím, dài chấm lưng quần, hay quấn chung quanh đầu.  Tóc dài hay tóc ngắn, người ta vẫn có thể nhận ra giới tính của họ dễ dàng.  Nhưng Morgan thì không như thế.  Luôn luôn tôi thấy Morgan mặc áo sơ mi rất rộng.  Áo sơ mi của Morgan có khi bằng vải Oxford, có khi bằng lụa rất mềm.  Morgan không đeo cà vạt như đàn ông hay chuỗi như phụ nữ.  Tôi thường thấy Morgan đeo những sợi dây quấn vào những viên đá xanh màu turquoise mà những người đàn ông da đỏ ngày xưa hay đeo và bây giờ phụ nữ cũng yêu chuộng. Áo sơ mi rộng thường được cho vào trong quần.  Tuy không đánh phấn nhưng hình như có một chút son rất nhạt trên môi.  Vì áo rộng quá nên tôi không biết chắc là Morgan có ngực hay không.  Tuy nhiên tôi cũng xin thú nhận là có nhiều người đàn ông vì quá mập nên ngực to như ngực phụ nữ.  Nếu Morgan là đàn ông thì mảnh mai quá.  Nếu là phụ nữ thì lép quá.  Chẳng những ngực lép mà mông cũng lép.

Morgan luôn ngồi một mình, không nói chuyện với ai, chẳng nhìn ai, cũng chẳng chào ai.  Có người đi xe lửa chung chỉ cho tôi biết và nói Morgan làm việc cho một hãng bảo hiểm rất lớn có cơ quan chính nằm sát bên cạnh cơ quan của tôi.  Morgan luôn mang giày thấp, không phải kiểu giày đàn bà, bước rất dài tóc bay bay.  Tướng đi của đàn ông nhưng lại phảng phất vẻ đàn bà.  Giỏ xách đựng thức ăn trưa cồng kềnh màu sắc rực rỡ đầy nữ tính.  Đàn ông đi làm dù có mang theo thức ăn trưa cũng giản dị hơn ít khi xách thức ăn đùm đề.  Có lần tôi thấy Morgan cầm chai nước ngửa mặt lên trời tu như Lệnh Hồ Xung tu rượu, tôi cho là Morgan là đàn ông.  Nhưng hai cánh tay thon dài không có bắp thịt ẻo lả như đàn bà.

Một hôm gió thổi mạnh ép sát lần áo lụa mềm và mỏng vào thân người của Morgan để lộ bộ ngực nhỏ sau lần áo nịt.  Morgan là phụ nữ.  Tôi nói điều tôi vừa khám phá với một người đồng hành và được cho biết Morgan là một người đàn ông cải giống bằng phương pháp giải phẫu và sử dụng kích thích tố nữ để phát triển bộ ngực đàn bà.

Tôi sống ở đây đã nhiều năm.  Những năm đầu ngôn ngữ bất đồng, cùng với bản tính ít nói nên tôi cô độc, dường như thế (thời còn trẻ tôi nói quá nhiều nên về già không còn gì để nói).  Lâu dần người bản xứ chấp nhận sự có mặt của tôi, nói chuyện dễ dàng hơn.  Tôi lẫn vào đám đông, như con cắc kè biến màu da lẫn vào môi trường.  Người ta dường như chấp nhận sự khác biệt về màu da và giọng nói ngoại quốc của tôi.  Nhưng xã hội có những điều quái dị lắm.  Họ chấp nhận sự khác biệt của tôi nhưng không chấp nhận sự khác biệt của Morgan.

Morgan đơn độc lắm.  Không ai muốn đến ngồi cạnh cô.  Không ai chuyện vãn với cô.  Ai cũng lảng tránh cô bởi vì cô khác biệt quá. Phái nữ không nhìn nhận cô là đàn bà.  Với họ cô vẫn là đàn ông.  Phái nam cho rằng cô không còn là đàn ông nhưng vẫn không thể xem cô đàn bà.  Tại sao cô phải trả một giá rất đắt như thế?  Ngoài chuyện trả tiền công bác sĩ và tiền thuốc uống mỗi ngày, còn một giá đắt hơn tiền là bị xã hội ruồng rẫy loại trừ cô như thế.  Có lẽ muôn đời tôi không thể nào hiểu được cái thôi thúc trong lòng của một người đàn bà mang thân xác của một người đàn ông.  Có thể Morgan không thể tiên đoán là xã hội sẽ lảng tránh mình.  Hoặc là tuy sự chấp nhận của xã hội quan trọng nhưng nếu mình được sống thật với chính con người mà định mệnh xếp đặt cho mình thì có chấp nhận cũng chẳng vui sướng gì.

Gần đây tôi có đọc quyển Catfish và Mandala của Andrew Pham (Phạm Xuân An) trong đó nhân vật có một em gái tên Chi.  Thưở nhỏ Chi thường hay bị chế nhạo vì cô không giống các thiếu nữ bình thường.  Cô dùng vải quấn bộ ngực của mình để dấu bộ ngực và mặc quần áo nam để giả làm con trai.  Chi bỏ nhà đi giang hồ về sau giải phẫu và biến thành đàn ông lấy tên Minh.  Vì không tìm thấy hạnh phúc trong cuộc đời cuối cùng Minh (Chi) tự tử.  Suốt đời tôi không thể nào tưởng tượng được cái thôi thúc trong lòng của một người mang thân xác đàn ông nhưng có tâm hồn và ước muốn là đàn bà hay ngược lại, có thân xác phụ nữ nhưng tâm hồn là phái nam.  

Tôi chưa lần nào nói chuyện với Morgan, cũng không định có ngày sẽ trò chuyện với cô.  Thỉnh thoảng xe lửa chật chỗ tôi vẫn cố tránh không ngồi cạnh Morgan dù tôi không hề có ác cảm với cô ta.  Hôm nay Morgan đến ngồi cạnh tôi, trông cô cũng đầy vẻ miễn cưỡng vì không tìm được chỗ để ngồi một mình. 

Tôi tự hỏi, nếu như tôi không có cái may mắn được là con người tự nhiên của mình, sinh ra là phái  nữ, biết và chấp nhận mình là phụ nữ, liệu tôi có dám sống cuộc đời của Morgan hay Chi (Minh) không?  Không phải ai cũng dám sống thật với chính con người của mình khi biết là sống thật với chính mình sẽ bị xã hội tẩy chay hay nguyền rủa. Tôi thầm phục sự can đảm của Morgan đã dám thay đổi để sống với con người thật của cô, cho dù xã hội chỉ tán thành cái con người cũ, mà đối với cô chắc là không thật.

Lâu đài Smithsonian

6 5 42 1
3Ảnh bên ngoài và bên trong cùng một vài triển lãm.  Ảnh thứ ba đếm từ trên xuống dưới là một đống kho tàng được để ngay giữa gian phòng rộng.  Đó là một thứ kho tàng mà chúng ta thường được nhìn thấy trong phim ảnh, loại kho tàng của cướp biển hay trong động sâu mà Aladin vào để tìm cái đèn thần.  Đây là một lâu đài được xây theo kiểu Medieval Revival, bên trong có phảng phất những nét của kiến trúc Gothic.

Thơ rằng
“Nhớ ai như nhớ quê nhà
Nhớ sông nhớ nước… cách xa nghìn trùng”

Ai đó có nhớ gì thì nhớ, chớ nói nhớ sông tui tưởng nói mỉa tui đó nghe.

Hôm nay mệt quá nên đi ngủ sớm.  Good night, World.

Hàng Rào Ngăn Thỏ

Năm 1859, Thomas Austin nhập cảng 24 loại thỏ và thả vào nông trại ở tiểu bang Victoria, hiện nay Melbourne là thủ đô và cũng là thành phố lớn nhất của tiểu bang này.  Ông tin là một châu Úc rộng như thế một ít thỏ không làm hại gì mà có thể mang thêm vẻ sinh động.  Năm 1894  thỏ lan tràn khắp Úc Châu, cắn phá mùa màng.  Sau thế chiến đệ nhất, miền Tây của Châu Úc bị dịch thỏ hoành hành, nông dân phải dựng hàng rào cá nhân và dùng mồi có thuốc độc để trừ thỏ.  Năm 1901, người ta dựng một hàng rào để ngăn chận sự lan truyền của thỏ.  Hàng rào này chạy theo hướng Bắc Nam, dài hơn 1,100 dặm, bắt đầu từ Wallal gần Eighty Mile Beach ở hướng Tây Bắc, đến bờ biển phía nam Jerdacuttup. 
 
Năm 1907, hàng rào số một được dựng xong từ Starvation Harbour đến gần Cape Kedraudren.  Hàng rào này còn có tên Barrier Fence, chưa dựng xong thì thỏ đã tràn qua.  Hàng rào số hai được dựng lên năm 1905 phía Tây của hàng rào số một, 723 dặm (một dặm tương đương 1.6 km).  Hàng rào thứ ba được dựng lên chạy theo hướng Đông Tây kết hợp với hàng rào một và hai thành hình chữ T. 

Trước khi Anh chiếm Úc Châu làm thuộc địa, đa số người sinh sống ở đây là thổ dân, được gọi chung là Aborigines, thuộc giòng họ người Torres Strait Islanders.  Lâu dần, một số ít người da trắng kết hợp với dân địa phương sinh ra một số trẻ em mang hai giòng máu.  Dân số thổ dân suy giảm trầm trọng do cuộc sống không mấy phát triển về mặt kinh tế và y tế.  Nạn dịch thỏ hoành hành do đó giới chính quyền thuộc địa tin là họ cần phải bảo vệ nhóm trẻ em có mang dòng máu người da trắng.  Họ bắt gom các trẻ em này vào trại tập trung, bắt dùng tiếng Anh, dạy nghề để làm việc phục dịch người da trắng. 

Hàng Rào Ngăn Thỏ là tên của một cuốn phim phát hành năm 2002 dựa vào quyển sách cùng tên của tác giả Doris Pilkington Garimara.  Doris thuật lại câu chuyện cuộc đời người mẹ của bà.  Câu chuyện xảy ra năm 1931, dưới sự cầm quyền của A. O. Neville người lãnh đạo chương trình bảo vệ trẻ em có nửa dòng máu trắng, Molly Craig (mẹ của Doris) cùng với người em gái tên Daisy Craig, và một người em họ tên Gracie Field, bị bắt đem về trại định cư dành cho người dân tộc.  Trại định cư này được gọi là Trại Định Cư Sông Moore. 

Molly dẫn Daisy và Gracie trốn khỏi trại tập trung.  Mặc dù Neville cho người tìm bắt về, trong nhóm người đi tìm có một người da đen rất có tài trong việc lùng bắt trẻ em trốn trại, Molly dùng trí thông minh của mình đánh lạc hướng họ và trốn thoát.  Không biết đường về nhưng Molly biết là hàng rào ngăn thỏ chạy ngang qua Jigalong làng ḿnh nên dẫn hai người em đi bộ dọc theo hàng rào để về.  Cuộc hành trình kéo dài 9 tuần, 1500 dặm đường, Molly và hai em sống sót nhờ đôi khi được sự giúp đở của một ít người đi rừng, đa số là ăn hay uống những gì cả ba người tìm được dọc đường gió bụi.   Neville đoán biết là cả ba sẽ lần theo hàng rào, và cho người phục sẵn, nhưng một phần vì những người này không đủ kiên nhẫn ở trong hoàn cảnh khắc nghiệt với cái nắng giết người trong sa mạc, một phần vì Molly rất khôn ngoan, và đôi khi may mắn, nên thoát.  Neville lại tung tin đồn thất thiệt là mẹ của Molly đã dọn về một làng khác có thể dùng xe lửa để đến làng ấy.  Gracie tin theo lời đồn đi về đường xe lửa nên bị bắt lại.  Molly dẫn em mình về làng, ngất xỉu dọc đường trong cái nắng sa mạc.  Nghe tiếng ó kêu trên trời, nhớ lại lời mẹ dặn là chim ó là thần nhân dẫn đường và bảo hộ mình.  Molly lần theo hướng chim về đến làng, gặp lại mẹ và bà.  Họ dẫn nhau vào trong núi sâu để trốn. 

Doris cũng bị bắt đem vào trại tập trung sống một thời gian, chưa bao giờ nghe mẹ kể lại chuyện quá khứ của bà.  Có lần trong cuộc họp mặt gia đình bà nghe dì Daisy kể lại.  Một người trong họ xác nhận là chuyện có thật và đưa cả xấp hồ sơ tài liệu chứng minh.  Doris viết lại chuyện đời của mẹ và của mình trong bộ truyện gồm ba cuốn: Caprice, a Stockman's Daughter, Follow the Rabbit-Proof Fence, và Under the Wintamarra Tree.  

Đây là một cuốn phim rất cảm động, diễn viên không thuộc hàng danh tiếng trong làng phim ảnh Mỹ, không có cảnh khiêu dâm, không có giết người, không có bắn súng, không có chạy xe tông vào nhà hàng hay cao ốc, vậy mà vẫn làm mắt tôi dính cứng vào màn ảnh, và tôi cố ngăn không cho tiếng khóc của mình thoát ra khỏi môi.  Tôi nghĩ là tôi rất may khi tình cờ chọn cuốn phim này ở thư viện.  Tôi chưa hề nghe ai nói nhắc đến phim này, cũng chưa từng được đọc review về phim này.  Tôi nhận ra tên người đạo diễn.  Ông là người đạo diễn phim Người Mỹ Trầm Lặng (The Quiet American).  Có một diễn viên tôi không biết, nhưng nét mặt ông hơi hao hao giống Christopher Plummer, sau khi xem phim tôi mới biết đó là Kenneth Branagh.  Mặt ông có vẻ lạnh nhạt, khắc khổ, dễ gây ác cảm. 

Lúc người da trắng bắt ba cô bé bỏ lên xe hơi chạy đi, hai người đàn bà, mẹ của Molly và Daisy, và mẹ của Gracie nằm lăn trên đường để khóc.  Tiếng khóc của họ không phải là tiếng khóc, nó như một tiếng tru đau đớn thống thiết của người rừng, một nỗi đau mà không ngôn từ, nước mắt nào có thể diễn tả được.  Bà của Molly ngồi ở vệ đường, cầm cục đá nện vào đầu mình và nện mãi.  Đau lòng không thể nói hết. 

Người ta bảo vệ trẻ em hai giòng máu hay đó chỉ là một cách bắt người làm nô lệ trá hình?  Neville cho người chờ sẵn trong làng chỉ cần chờ Molly về tới là bắt lại.  Cho dù anh ta có súng nhưng với lòng quyết tâm bảo vệ con mình, mẹ Molly dù chỉ có một cây gậy chuốt nhọn đã làm người lính phải bỏ chạy. 

Người ta nói rằng loài người cần được thỏa mãn chuyện cần thiết như ăn ngủ trước.  Tình yêu và những cần thiết về tinh thần là thứ yếu.  Molly và câu chuyện Hàng Rào Ngăn Thỏ đã chứng minh ngược lại.  Molly đă đặt lòng yêu mẹ, yêu làng mạc, và yêu tự do lên trên những cần thiết cá nhân.

Nắng, Rượu, và Trăng

1Đi ngang một con phố thấy một hành lang tối và tĩnh lặng.  Tôi thèm có những khoảnh khắc thấy lòng mình tĩnh lặng trong bóng tối như thế.  Có ai biết chụp ảnh bên ngoài chính là chụp những phản ảnh trong lòng?

Sáng nay ngủ dậy muộn, nhìn ra cửa sổ thấy nắng xuyên qua lá màu ngọc thạch.  Thảo nào Hàn Mặc Tử đã từng buột miệng, vườn ai mướt quá xanh như ngọc.  Thật ra so màu lá với màu xanh của ngọc thạch vẫn chưa nói hết cái đẹp của màu lá non trong nắng.  Ước gì tôi có thể nắm bắt hình ảnh này qua cọ vẽ.  Có dịp nào xin người đến nơi tôi ở để vẽ màu lá non dùm tôi nhé.  Tôi mở cửa bước ra sân sau cây lá vẫn còn lướt thướt bởi cơn mưa chiều qua.  Mùi hoa black locust thơm lừng trong nắng sớm. Tôi có cảm tưởng tôi đang ở trong rừng cây cao với lên trời xanh và tiếng chim chuyền cành thật vui tai làm lòng mình nhẹ nhàng.  Ai đó bảo là nghe như Alice lạc vào xứ thần tiên.  Khách đến chơi nhà, tôi vẫn thích khoe rẻo rừng sau nhà bởi vì người ta có thể có nhiều thứ nhưng không phải ai cũng có một chút xíu thiên nhiên ngay bên cạnh.  Tôi là một người kỳ cục. Đi chơi xa bao nhiêu chỗ, cái mà tôi nhớ nhất ở Mariposa lại là mùi trái chín trong cái nắng nung người.

Tuần trước đi D.C. gặp chị và cô bạn thân của chị.  Tôi chụp nhiều ảnh người và cảnh nhưng có lẽ vì cứ mãi chìu theo ý của mọi người tôi không chụp được tấm ảnh nào ăn ý.  Dường như lúc nào tôi cũng thèm được người thân lãng quên tôi đôi chút để tôi có thể tự do nắm bắt những ý nghĩ qua những hình ảnh tôi trông thấy.

Cô bạn thân của chị  hẳn là đã có một thời nhan sắc và cũng biết và khá tự hào mình là người có nhan sắc.  Đến bức tường tưởng niệm chiến tranh Việt Nam tôi nhờ hai người làm người mẫu cho tôi chụp hình.  Tôi đạo diễn hai người cúi mặt nhìn vào trong tường đá cẩm thạch đen, ngón tay dò theo tên khắc trên đá.  Tôi muốn hai người quì gối gục đầu vào bức tường hơi nghiêng mặt để ánh sáng có thể rọi vào tường tạo ra bóng người để tôi chụp bóng nhưng . . .  khổ một nỗi hai người không hiểu ý tôi muốn.  Cả hai không biết, và lỗi của tôi là đã chẳng biết giải thích, là tôi muốn chụp nỗi buồn của một người đang tưởng niệm những người đã khuất, và vì thế hai người cứ xoay mặt ra để hình phải thấy mặt người.

Văn thi sĩ có lẽ hay tìm cảm hứng qua men rượu và có lẽ cũng thích cái cảm giác bềnh bồng lâng lâng khi mới vừa uống.  Cái cảm giác ta bước đi trong men rượu chếnh choáng, đời vỡ tan một phiến môi mời cũng khá thi vị cho người đọc nhưng người viết có lẽ đầy đau khổ .  Wine hay rượu vang, còn được gọi là bồ đào, từ thưở nào đã nổi tiếng với bài thơ Đường Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi, dễ uống, ít say.  Và trích tiên Lý Bạch thưở nào đã nhào vào lòng sông để tìm trăng.  Cảm ơn bài thơ Say Trăng của Phạm Thiên Thư.

Ngày xưa trên bến mấy trăm năm
Có gã yêu trăng nhảy tự trầm
Hồn vẫn còn theo dòng nước bạc
Mò hoài chưa thấy bóng trăng ngâm.

Đọc thơ Việt Nam quen rồi có lẽ khó mà cảm được cái hay của thơ Mỹ.  Có lẽ cũng như đã quen với vẻ đẹp của phụ nữ Việt Nam thì khó mà thấy cái đẹp của một người phụ nữ Phi châu hay ở những bộ lạc trong rừng rậm Amazon.

“Mò hoài chưa thấy bóng trăng ngâm” nhất là chữ mò nghe thiếu chất thơ so với bài Khúc Thụy Du của Du Tử Lê.

Anh là chim bói cá
Em là bóng trăng ngà
Chỉ cách một mặt hồ
Mà muôn trùng chia xa

Hoàng Cầm đi tìm lá Diêu Bông hay chú chim bói cá của Du Tử Lê đi săn bóng trăng là hành động tuyệt vọng của người theo đuổi hạnh phúc.  Lá Diêu Bông có thể có thật trong một cõi không thật, hay có thể là một sản phẩm tưởng tượng trong cõi thật.  Bóng trăng ngà là một vật thể có thật nhưng quá xa tầm tay, và bóng trăng trên mặt hồ chỉ là ảnh.  Mà đã là ảnh thì dù có thật cho mấy thì tự bản chất của nó cũng đã là rất ảo.

Tôi nói cuội nói nhăng gì thế nhỉ.  Từ say rượu đến trăng và không biết phải kết thúc như thế nào.

Không ai trang điểm má đào
Cho ta say chết đêm nào đêm nay
Hàn Mặc Tử

Giờ này những người ở bên kia trời đang nghĩ gì, làm gì?

Ha! Có người bảo:

Nếu ta nhấm rượu hồng đào,
Cho dù say chết, như vào bồng lai

Memorial Day

Người ta đánh giết lẫn nhau.  Người thì mưu bá đồ vương.  Người thì giàu nhờ bán vũ khí.  Còn có người thì vì nước vong thân, được có tên trên vách tường tưởng niệm, hay cả trăm người được một ngôi sao vàng tượng trưng cho công ơn của mình.  Còn có người thì được nghỉ ngày thứ Hai vì là lễ tưởng niệm những anh hùng chết vì tổ quốc của họ và làm cho kẻ thù của họ chết vì tổ quốc của kẻ thù của họ.

Hình thứ nhất là 4000 ngôi sao vàng tượng trưng cho 400,000 quân nhân Mỹ đã hy sinh trong thế chiến thứ hai. 

Hình thứ hai là bức tường ghi tên 58,000 quân nhân Mỹ đã chết trong chiến tranh Việt Nam.  Nếu có thể làm bức tường để tưởng niệm quân nhân của quân đội Việt Nam Cộng Hòa bức tường này phải 8 lần dài hơn.  Bức tường tưởng niệm chiến tranh Việt Nam lần nào cũng tạo cảm xúc thật mạnh mỗi khi người xem nhìn khách viếng cúi đầu lom khom tìm tên thân nhân.  Lần nào tôi có dịp đi ngang nhìn thấy vẫn mủi lòng ứa nước mắt.  Giá mà người ta đừng đánh giết nhau, thì có lẽ người ta sẽ xây những đài kỷ niệm có đầy hình ảnh ca ngợi tình yêu nghệ thuật hay cái đẹp của đất trời.

Bức hình chót là một phần trong tượng đài tưởng niệm thế chiến thứ hai.  Mỗi trụ là một tiểu bang hay một quốc gia trong vòng bảo hộ của Mỹ đã tham gia cuộc chiến.

Hôm nay nhà tôi có party, gà nướng, sườn nướng, ăn ngoài trời.  Cả ngày nắng đẹp, chiều trời đổ cho một trận mưa to nên dọn vào ăn trong nhà.  Rất vui.  Chưa đầy một phần ba ly wine mà đã thấy "một chiều ngồi say, một đời thật nhẹ."

Good night, World.

 

Bông trời bay trắng cả rừng cây

4 3 2 1

Sáng ngủ dậy trễ.  Nằm nghe chim hót quanh nhà.  Tôi ở trong ngõ cụt trên một con dốc chừng 15 độ.  Không đi quen, chỉ cần lên dốc một lần là đã thở hào hển.  Tôi đi chậm 6 lần xuống và 6 lần lên mất khoảng một giờ đồng hồ, tổng cộng chừng 4 cây số.  Hôm nay đẹp trời, vòng cuối cùng tôi xách máy chụp ảnh theo và đây là những cái tôi nhìn thấy trên đường đi.

Trước loạt bài về bướm tôi có post một bài thơ có tiêu đề Rhodora.  Hàng xóm nhà tôi có nhiều nhà trồng loại hoa này.  Hoa nở thành chùm tròn màu tím rực rất bắt mắt.  Trước nhà Joey có cây gì đó tôi không biết tên lá giống như lá me xanh nõn.  Câp maple (phong) trước nhà của Danny ra hoa màu xanh lá cây giữa tâm hoa có màu cam.  Bên hông nhà của Patti có cây red maple (phong đỏ) màu đỏ quanh năm nhưng mùa thu lá đỏ rực rỡ hơn.  Hình chụp lúc gió mạnh cây đang chuyển động nên có vẻ mờ.  Cây black locust ra hoa trắng từng chùm lên tận ngọn cây.

Black locust là một loại cây dại dáng dấp tầm thường.  Chung quanh nhà tôi và dọc theo con đường trước nhà có rất nhiều cây cao to, dễ đến 30 mét hay cao hơn.  Lúc ra khỏi nhà thấy hoa rụng trắng đường và trong gió phảng phất hương thơm.  Từ bấy lâu nay tôi không để ý là black locust có hoa lại càng không biết là hoa này thơm đến thế.  Thơm như mùi dạ lý hương, rất ngọt ngào nhưng dịu dàng hơn dạ lý.  Tôi cũng không biết maple có hoa và càng ngạc nhiên khi khám phá hoa của maple màu xanh lá cây.  Tôi thường chú ý đến hoa màu xanh lá cây và xanh màu blue (da trời).  Thường thì chúng ta chỉ nhìn thấy những gì chúng ta biết.  Thấy những điều mình không biết, may ra, có thể giúp mình biết những điều mình không thấy.  Đi trên xác hoa và bao bọc giữa hương hoa bát ngát như mùi hương của đất trời tôi không khỏi liên tưởng đến một bài thơ của Phạm Công Thiện

Mười năm qua gió thổi đồi tây
Tôi long đong theo bóng chim gầy
Một sớm em về ru giấc ngủ
Bông trời bay trắng cả rừng cây

Gió thổi đồi tây hay đồi đông
Hiu hắt quê hương bến cỏ hồng
Trong mơ em vẫn còn bên cửa
Tôi đứng trên đồi mây trổ bông

Tôi ước gì tôi có thể đổi câu chót của đoạn thứ nhì thành ra “hương trời giăng kín cả đồi đông” cho đúng với tâm trạng của tôi. Mất ngủ vài đêm óc tôi như sệt lại quánh lại.  Lời ai chúc an lành ngủ ngon may ra có thể mang cho tôi giấc mơ ngoan.

Good night, World!

BƯỚM – Phần cuối

567

Mariposa trong nắng chiều

Năm 2007 từ Vịnh San Francisco tôi cùng với gia đình đến viếng Yosemite National Park.  Trên đường đi chúng tôi dừng chân nghỉ đêm ở một thị trấn nhỏ có cái tên rất đẹp, Mariposa.  Đây là thành phố được xem là cái nôi lịch sử của tiểu bang California, được thành lập từ khi người Hoa Kỳ chiếm lấn đất của người địa phương vào năm 1805.  Mariposa, một thị trấn rất nhỏ nằm ở hướng Tây của dãy núi Sierra, phía Bắc của Fresno, phía Đông của Merced, và Đông Nam của Stockton.  Dân số khoảng chừng 1373 người trên diện tích 3.2 dặm vuông, dựa vào thống kê năm 2000.

Thị trấn này rất nhỏ và rất vắng.  Từ xa lộ 140 nếu lái xe nhanh một chút du khách có thể không ngờ là đã ra khỏi ranh giới thị trấn.  Vì thành lập từ thời “cơn sốt vàng” nên thị trấn này có hai viện bảo tàng triển lãm những cổ vật trong lịch sử của công cuộc khai thác vàng và những ngôi nhà xưa cũ mà những ai hay xem phim cao bồi viễn chinh có Charles Bronson hay Henry Fonda vào cuối thập niên 60 đầu thập niên 70 hay chương trình truyền hình như Wild Wild West có lẽ đã có dịp nhìn thấy.  Khách sạn tôi ở nằm trên một con dốc cao.  Để đi ăn tối chúng tôi thả bộ xuống con dốc đến một nhà hàng Tàu, đi ngang vài ba cái nhà thờ rất cổ, và khám phá là ở nơi đây số nhà hàng Mễ nhiều hơn nhà hàng Tàu và nhà hàng Mỹ.  Thị trấn này tôi mới đi ngang lần dầu tiên tuy nhiên tôi lại thấy có cái gì đó rất quen thuộc mà tôi cứ thắc mắc tự hỏi không biết tại sao thấy quen thuộc. Thị trấn này sống nhờ vào du khách tạm nghỉ qua đêm trước khi vào Yosemite village.  Phố xá vắng vẻ buồn tênh.  Trên đường có một trạm xe buýt không thấy người.  Nếu tôi là một cô gái trẻ sống trong thị trấn này chắc là tôi cuốn gói bỏ đi.  Còn nếu tôi là một thanh niên từ xứ lạ đến đây chắc chắn khi nhìn thấy một cô gái xinh xắn sống trong thị trấn này tôi sẽ mang ơn may mà có em đời còn dễ thương.  Khi quay về khách sạn tôi chợt nhận ra vì sao tôi thấy thị trấn này đầy vẻ quen thuộc.  Thị trấn bé xíu đi dăm phút đã về chốn cũ ở cao nguyên nên phố núi cao phố núi trời gần.  Phố núi cây xanh trời thấp thật buồn.  Anh khách lạ đi lên đi xuống.  Thị trấn cao nguyên cây xanh trời gần làm tôi liên tưởng đến một thị trấn Pleiku nơi tôi chưa hề có dịp đặt chân đến mà chỉ biết qua bài thơ của Vũ Hữu Định.  Ở giữa lòng Mariposa của Hoa Kỳ tôi bỗng mơ mộng đến một thị trấn mà tôi chỉ biết qua bài thơ của một thi sĩ đáng yêu.  Và tôi, mang số phận của loài bướm thiên di, một ngày nào đó sẽ quay trở về quê hương để đi tìm một thành phố chỉ biết tên nhưng chưa gặp mặt.

Người Spanish khi khai phá Mariposa đã nhìn thấy một đàn bướm rất to tụ tập ở thung lũng gần con suối dưới chân rặng núi Sierra.  Hằng năm vào tháng Năm, dân địa phương tổ chức liên hoan có diễn hành chào mừng đàn bướm Monarch quay lại sau khi chúng thiên di đến Mexico để trốn lạnh. Mariposa là chữ Spanish có nghĩa là Bướm.

Để kết thúc bài viết xin chúc bạn đọc được nhiều hạnh phúc. Nhà văn Nathaniel Hawthorne đã so sánh “Hạnh phúc giống như là một cánh bướm, khi bị theo đuổi, luôn luôn nằm ngoài tầm tay với của bạn, nhưng khi bạn ngồi yên, nó có thể nhẹ nhàng đáp lên người của bạn.”