Đi chơi vài hôm sẽ về

Đi chơi vài hôm sẽ về.  Ai có mừng lễ Độc Lập nướng thịt thì ăn dùm Hà nhé.  Ai chưa có connection với Hà thì xin làm ơn set up connection và connect với Hà nhé, cám ơn nhiều, bởi vì Hà sẽ set up blog chỉ cho người nào trong connection đọc blog thôi, để tránh phiền toái vụn vặt cho Hà và người đọc.  Sẽ đọc e-mail nếu có ai muốn nhắn nhẻ gì xin cứ e-mail.  Hà đi săn ảnh và săn materials để viết bài.

Đang research “phụng cầu hoàng” và “kiếm và cầm.”  Hấp dẫn không?

Chúc vui và sẽ "nhớ" (remember+miss) các bạn.

LắngTrong Tiếng Đêm

1
Ảnh hai chú nai con lang thang trước nhà.

Khi bóng tối bao trùm, thị giác tạm thời bị giới hạn.  Không còn nhìn thấy, Phạm Duy dùng khứu giác để diễn tả cái đẹp của đêm.  Trong bài hát Dạ Lai Hương ông viết, “đêm thơm như một dòng sữa lũ chúng em êm đềm rủ nhau ra trước nhà.  Hiu hiu hương từ ngàn xa bỗng quay về ngạt ngào bên hè ngoài trời khuya.”  Đâu cần nhìn chỉ cần hít vào một hơi thật sâu và thở ra thật nhẹ để lắng nghe mùi hương dịu dàng của hoa Dạ Lai.

Vũ Thành An dùng vị giác để nếm mùi vị của đêm như trong bài Không tên số 7.  Đêm của ông không mịt mù ma quái mà đi từ đắng qua ngọt.  Đêm có tác dụng hồi phục dưỡng nuôi: “Ngày tàn im lắng.  Yêu người làn tóc trắng. Tâm sự rồi đêm đắng.  Như lệ giờ mất nhau.  Đêm vỗ về nuôi nấng, đêm trao ngọt ngào hương phấn”  

Trịnh Công Sơn thì rắc rối khó hiểu hơn.  Trong đêm  ông bảo “thấy ta là thác đổ.  Tỉnh ra thấy ta còn nghe.” Ông mơ thấy ông là thác đổ hay ông mơ nghe tiếng thác đổ.  Ý tôi muốn nói, cất thị giác qua một bên thì ông nghe hay ông thấy, hay ông thấy ông nghe?

Trong một bài hát khác, một bài thật dài, có lẽ một đêm không ngủ được ông nằm suốt “đêm nghe gió tự tình, nghe đất trở mình vì mưa, nghe gió thở dài,”  Đó là những cái nghe cụ thể.  Ông nghe cả những âm thanh trừu tượng như “nghe tiếng khóc cười của bào thai, nghe tiếng ngậm ngùi, lăng miếu trùng vây, xa cách cuộc đời, hoang phế cạnh đây.”  Rồi ông nghe những chuyện đòi hỏi mức độ nhạy bén đặc biệt như “nghe gió than hoài, nghe lá đưa lời hàm oan, nghe thân xác mịt mùng, và nghe tiếng muôn trùng đẩy đưa.”

Phải là một nhà thơ đặc biệt mới có thể nghe nhiều như thế trong đêm.  Tôi vốn mang bệnh mất ngủ những đêm nằm thao thức tôi cũng lắng nghe như Đức Huy lắng nghe “giọt nước mắt nào, đổ trong bóng tối khi nằm lẩn trong bóng đêm, lắng trong bóng đêm, nghe nhịp đập con tim, những ân ái đã ngủ quên.”

Suốt tháng Sáu ngày nào cũng mưa.  Đêm qua đi ngủ tôi để cửa sổ, trời dường như sắp mưa, không khí nặng ẩm, gió thổi phe phẩy qua lá rì rào.  Thỉnh thoảng có tiếng chim kêu.  Tôi nghe tiếng côn trùng, không phải dế, không phải ve, nhưng nghe râm ran một thứ tiếng êm tai, đặc biệt không thể nhầm lẫn với thứ tiếng nào khác.  Tôi nhắm mắt bắt đầu lướt vào giấc ngủ, dường như tiếng đom đóm đang đáp nhẹ nhàng lên những cụm hoa kim ngân, như những cô tiên bé đang rải phấn bay lên những đóa hoa, để tất cả đều có thể bay bổng lên trời về xứ Neverland của Peter Pan.

Tôi chợt thức giấc, không biết ngủ đã bao lâu, sương rơi nặng hạt xuống lá thành những giọt nước chảy nhẹ nhàng, mơ hồ có tiếng nước nhỏ xuống cái máy lạnh nghe từng tiếng long tong thật khẽ.  Gió lướt qua cửa sổ thổi bay mấy tấm màn cửa mỏng màu trắng nghe lất phất, như tiếng tà áo lụa bay bay.  Tôi nghe bàn tay gió mân mê da trần lành lạnh.  Tôi lười lĩnh trở mình ngủ tiếp.

Tôi lại thức giấc, lần này thì gió rít chung quanh nhà.  Mơ hồ trong gió tôi nghe có tiếng kêu rên; cố định thần mắt vẫn nhắm, tôi cố gắng phân biệt tiếng gió rú, hay tiếng mèo hoang, hay tiếng những con coyote đang chuyển bụng đẻ con, hay tiếng khóc của ma nữ.  Chung quanh nhà tôi có vài con mèo hoang có thể có con mèo nào đó đang lên cơn động tình .  Hàng xóm nói có một con coyote đang có mang, bụng xệ xuống, làm ổ trên đồi; ông ta dọa mang súng BB ra bắn gia đình coyote mấy hôm nay.  Có thể đây là tiếng gió lướt qua những cái lồng đựng thức ăn nuôi chim tạo thành tiếng hú man dã.  Tôi kéo mền phủ kín đầu.  Tiếng màn cửa bay phần phật càng làm tôi khiếp đảm hơn. Tôi ngủ thiếp đi.

Tôi thức giấc.  Trời chưa sáng nhưng mưa đã tạnh, và tiếng chim vang trong rừng bao bọc căn nhà của tôi.  Có loại hót nghe như baby baby where are you.  Có loại hót nghe như em đây em đây.  Có con hót như về đây, thôi về nghe.  Chỉ lắng nghe thôi có hơn chục loại chim đang kêu nhau, tán tỉnh nhau, gấu ó nhau, dỗ dành nhau.  Tôi thử hỏi tiếng rên hú đêm qua là tiếng gì mà sao sáng nay êm đềm quá.

Theo lời thách của một blogger, viết một bài chỉ dùng thính giác.

Thức ăn và giấy tờ

Người đi xe lửa cần phải tôn trọng một số điều lệ của hãng xe lửa đặt ra.  Những điều lệ này được dán trên vách tường xe lửa, ở những nơi dễ thấy, ngắn, chữ to dễ đọc.  Không ăn uống trên xe lửa.  Không để chân lên ghế.  Không làm ồn.  Hãng xe lửa có đội cảnh sát riêng. Các ông soát vé xe lửa có quyền đuổi hành khách hay tóm cổ giao cho cảnh sát.  Họa hoằn lắm mới có người làm mất trật tự.  Tuy nhiên vi phạm điều lệ là chuyện thường.  Có người dùng điện thoại nói chuyện ong óng đến độ người ta phải than phiền với những người soát vé.  Tôi sợ phải ngồi gần những người dùng cell phone nhiều như thế.  Nếu ồn quá tôi thường nghe nhạc hay bỏ đi chỗ khác.  Còn một cái phiền nữa là ngồi gần những người thích ăn uống trên xe lửa.

Cùng đi chuyến xe lửa buổi sáng với tôi có một người phụ nữ người da trắng.  Cô trạc tuổi bốn mươi.  Người cô rất gầy, không phải kiểu gầy như cánh hạc về chốn xa xôi.  Cô ta gầy như những cành cây mùa đông đã trơ trụi lá. Đi xe lửa lâu năm riết rồi quen mặt dù không biết tên.  Hôm nào đi xe lửa không nhìn thấy cô ta tôi thường hay kín đáo tìm.  Tóc của cô tuy thắt bím nhưng rối bù.  Có vẻ như cô đi ngủ với cái bím và sáng thức dậy không chải đầu.  Cô ăn mặc màu sắc như chửi nhau và chửi rất to.  Vớ cao đến đầu gối, sọc ngang đủ màu rực rỡ.  Loại vớ người ta có thể nhìn thấy trên những hình nộm đứng trong tủ kính của tiêm bán quần áo mắc tiền Bennetton.  Nhìn có vẻ ngộ nghĩnh trên cặp chân dài của một cô bé Đại Hàn tóc tém mắt một mí, nhưng trên cặp chân xương xẩu của một người đàn bà tuổi bước vào thu coi hơi kỳ.  Cô hay mặc váy ngắn.  Mùa hè cô mặc áo dây mỏng như cọng mì xốc xếch nhăn nheo trên bộ ngực lép kẹp như một cái bàn ủi đồ.  Màu áo màu vớ màu váy mỗi thứ một màu khác nhau, hình vẽ, sọc, hoa, tất cả đều như cất tiếng hét “nhìn tôi đây này.”  Cứ mỗi khi nhìn cô tôi lại cố gắng đoán nghề nghiệp của cô.  Rất có thể cô là học viên môn vũ ở một nhà hát nào đó ở New York và khi đến đấy cô sẽ thay trang phục.

Trên tay cô xách nhiều túi.  Loại bao ni lông người ta dùng để chứa hàng ở siêu thị cho người đi chợ mang về.  Cô có vẻ vui vẻ, thân thiện, hay nói chuyện với người chung quanh.  Vì quá gầy nên cô có vẻ khắc khổ, mặt có nhiều nếp nhăn.  Chút son phấn nhạt làm mặt cô có vẻ dễ nhìn nếu cô ăn mặc tươm tất một chút có thể nói cô là một phụ nữ khá xinh.

Tôi ít khi ngồi gần cô theo thói quen.  Tuy nhiên sáng nay không có chỗ nên khi tôi ngồi vào ghế trong sát với cửa sổ, cô đến ngồi bên cạnh.  Sợ phải trả lời những câu nói vụn vặt tôi chúi đầu vào quyển The Noodle Maker của Ma Jian, lấy bút ra ghi chú đầy trang sách.  (Tôi có thói quen rất xấu là khi tôi đọc một quyển sách nào tôi ghi chú những suy nghĩ đầy trang.  Còn nếu tôi không thích quyển sách thì chỉ chừng vài chương là tôi bỏ cuộc và thường là không ghi chú gì cả).  Cô ngồi cạnh tôi khoảng 5 phút thấy tôi không ngẩng mặt lên, cô quay ra nói chuyện với một người đàn ông ngồi đằng sau lưng.  Được dăm ba câu, cô lấy lọ yogurt trong cái bao ny lông ra ăn.  Loay hoay tìm cái thìa, cô khom người xuống lục lọi trong cái bao.  Rồi cô ăn, nhăm nhi, nhắm nháp.  Cũng may là yogurt không có mùi tỏi hành.  Cô có vẻ như đói lắm nên ăn xong cô cứ vét cái lọ yougurt nghe xoèn xoẹt.  Cô liếm cả cái thìa. 

Cô lại lom khom cúi người xuống bỏ lọ yogurt không vào trong bao.  Tôi úp mặt vào trong sách mải mê (giả bộ).  Cô lại nói chuyện với người ngồi đằng sau chừng năm phút cô đi đến đầu toa xe lửa lấy nước uống.  Trở về chỗ ngồi cô đi nghiêng ngả theo nhịp xe lửa chạy.  Tôi sợ cô bắt chuyện với tôi nên càng đọc say mê hơn.  Xe lửa bỗng trở nên im ắng.  Tất cả mọi người nếu không đọc sách hay nghe nhạc thì họ nhắm mắt lim dim.  Người thiếu phụ này lấy một xấp giấy tờ có cột bằng một sơi dây thun từ trong một cái bao ny lông ra, đó là những chi phí về tiền điện hay nước hay tiền bác sĩ gì đó theo lời cô lẩm nhẩm một mình và cả tờ báo cũ của ngày hôm qua.  Được đâu chừng năm phút cô đứng lên đi lấy nước uống lần nữa.  Đống chi phiếu rớt xuống sàn xe lửa vung vãi tung tóe.

Viết theo lời thách của một blogger.  Đề tài thức ăn và giấy tờ.

Rút Súng Cùng Một Lúc

rút súng cùng một lúc
Vác máy lang thang chụp hình, bắt gặp anh chàng này đang lén chụp mình nên mình chụp lại.  Giống như hai người rút súng cùng một lúc.  Anh ta chụp ảnh nhà nghề.  Còn mình chụp ảnh nhà . . . không nghề.

Chợ Lộ Thiên

1

Mất điện hôm qua là vì có một cái generator phát nổ và bốc cháy.  Sau khi bị cúp điện tôi đi bộ và có chụp được mấy tấm ảnh cảnh sát và xe chữa lửa đậu đầy đường, thấy có khói bốc lên từ xa xa.

Hôm nay đi bộ thấy trong công viên Washington trước thư viện của thành phố Newark đã có tổ chức chợ ngoài trời.  Chụp tấm hình mấy quả cà chua trông ngon mắt quá.

Bá Nha mất Tử Kỳ

Ngày hôm nay lại mất điện.  Tôi được cho về lúc 1:30 giờ chiều.  Hơn nửa tiếng ngồi chờ xe lửa tôi đọc quyển Newsweek.  Thấy tựa đề The Reluctant Poet Laureate (Thi Hào Bất Đắc Dĩ ).  Thấy tấm hình một người già cắt tóc ngắn.  Thấy cái tên quen quen mà không nhớ ra.  Mãi một hồi chợt nhận ra đây là nữ thi sĩ Kay Ryan.  Bà cắt tóc ngắn quá làm tôi cứ ngỡ là đàn ông.  Ryan là thi hào vinh danh của Mỹ năm ngoái và năm nay.  Tôi vốn không có kiến thức về thơ, thỉnh thoảng đọc nhưng phải cố gắng lắm mới hiểu đại khái một bài thơ vì thế tôi không có ý định viết bài về bà.  Tôi nghĩ khó mà tìm ra một điểm liên hệ của một nữ thi hào đồng tính luyến ái Mỹ, với độc giả Việt Nam, như tôi chẳng hạn.  Tuy nhiên đọc hết bài báo viết về bà tôi thấy cảm động.

Người bạn đời của bà Kay Ryan là bà Carol Adair mới qua đời hồi tháng Giêng.  Bà Adair là người khuyến khích động viên bà Ryan từ lúc bà mới bắt đầu làm thơ và không ai nhận in thơ của bà.  Tính của bà Ryan rất khép kín và hay lẩn tránh mọi người và điều này là điều rất mâu thuẫn cho những ai muốn thành nhà thơ hay nhà văn bởi vì một nhu cầu rất căn bản là người viết văn làm thơ bao giờ cũng cần có người đọc mình.  Sau đây là một đoạn ngắn tôi thích vì đã có lần nói chuyện với một người bạn lớn (thật ra phải nói là bậc thầy) văn nghệ về chuyện Bá Nha và Tử Kỳ.

“Sau nhiều năm lưỡng lự giữa cái muốn được người ta chú ý đến mình và muốn lẩn tránh mọi người – muốn viết nhưng lại chống chọi lại ước muốn của mình, muốn xuất bản nhưng lại sợ phải đương đầu với thế sự, muốn có nhiều độc giả hơn nhưng lại không muốn nhượng bộ thỏa thuận – bà không biết chắc chắn là mình có ham muốn thành công không.  Bây giờ số độc giả của bà đã có đông hơn, nhưng Adair đã qua đời – và Adair mới là người độc giả quan trọng.  Nói cho cùng thi ca chỉ cần có sự tha thiết quan tâm của hai người: người viết và người đọc.”

Và đây là bài thơ bà Ryan đã ai điếu người bạn đời của bà.  Độc giả lý tưởng không phải là cả thế giới, “không phải là những nhóm người rải rác,/không phải hằng tá người từ/ một miền duy nhất…”

Ideal Audience

Just
one free citizen –
may be not alive
now even – who
will know with
exquisite gloom
that only we two
ever found this room

Độc giả lý tưởng
chỉ là
một công dân tự do –
có thể không còn sống trên đời
ngay cả bây giờ – người
sẽ biết với
nỗi buồn đặc biệt sâu đậm
chỉ có hai chúng ta
đã tìm thấy căn phòng này.

Bài thơ làm tôi buồn.