Hàng Rào Ngăn Thỏ

Năm 1859, Thomas Austin nhập cảng 24 loại thỏ và thả vào nông trại ở tiểu bang Victoria, hiện nay Melbourne là thủ đô và cũng là thành phố lớn nhất của tiểu bang này.  Ông tin là một châu Úc rộng như thế một ít thỏ không làm hại gì mà có thể mang thêm vẻ sinh động.  Năm 1894  thỏ lan tràn khắp Úc Châu, cắn phá mùa màng.  Sau thế chiến đệ nhất, miền Tây của Châu Úc bị dịch thỏ hoành hành, nông dân phải dựng hàng rào cá nhân và dùng mồi có thuốc độc để trừ thỏ.  Năm 1901, người ta dựng một hàng rào để ngăn chận sự lan truyền của thỏ.  Hàng rào này chạy theo hướng Bắc Nam, dài hơn 1,100 dặm, bắt đầu từ Wallal gần Eighty Mile Beach ở hướng Tây Bắc, đến bờ biển phía nam Jerdacuttup. 
 
Năm 1907, hàng rào số một được dựng xong từ Starvation Harbour đến gần Cape Kedraudren.  Hàng rào này còn có tên Barrier Fence, chưa dựng xong thì thỏ đã tràn qua.  Hàng rào số hai được dựng lên năm 1905 phía Tây của hàng rào số một, 723 dặm (một dặm tương đương 1.6 km).  Hàng rào thứ ba được dựng lên chạy theo hướng Đông Tây kết hợp với hàng rào một và hai thành hình chữ T. 

Trước khi Anh chiếm Úc Châu làm thuộc địa, đa số người sinh sống ở đây là thổ dân, được gọi chung là Aborigines, thuộc giòng họ người Torres Strait Islanders.  Lâu dần, một số ít người da trắng kết hợp với dân địa phương sinh ra một số trẻ em mang hai giòng máu.  Dân số thổ dân suy giảm trầm trọng do cuộc sống không mấy phát triển về mặt kinh tế và y tế.  Nạn dịch thỏ hoành hành do đó giới chính quyền thuộc địa tin là họ cần phải bảo vệ nhóm trẻ em có mang dòng máu người da trắng.  Họ bắt gom các trẻ em này vào trại tập trung, bắt dùng tiếng Anh, dạy nghề để làm việc phục dịch người da trắng. 

Hàng Rào Ngăn Thỏ là tên của một cuốn phim phát hành năm 2002 dựa vào quyển sách cùng tên của tác giả Doris Pilkington Garimara.  Doris thuật lại câu chuyện cuộc đời người mẹ của bà.  Câu chuyện xảy ra năm 1931, dưới sự cầm quyền của A. O. Neville người lãnh đạo chương trình bảo vệ trẻ em có nửa dòng máu trắng, Molly Craig (mẹ của Doris) cùng với người em gái tên Daisy Craig, và một người em họ tên Gracie Field, bị bắt đem về trại định cư dành cho người dân tộc.  Trại định cư này được gọi là Trại Định Cư Sông Moore. 

Molly dẫn Daisy và Gracie trốn khỏi trại tập trung.  Mặc dù Neville cho người tìm bắt về, trong nhóm người đi tìm có một người da đen rất có tài trong việc lùng bắt trẻ em trốn trại, Molly dùng trí thông minh của mình đánh lạc hướng họ và trốn thoát.  Không biết đường về nhưng Molly biết là hàng rào ngăn thỏ chạy ngang qua Jigalong làng ḿnh nên dẫn hai người em đi bộ dọc theo hàng rào để về.  Cuộc hành trình kéo dài 9 tuần, 1500 dặm đường, Molly và hai em sống sót nhờ đôi khi được sự giúp đở của một ít người đi rừng, đa số là ăn hay uống những gì cả ba người tìm được dọc đường gió bụi.   Neville đoán biết là cả ba sẽ lần theo hàng rào, và cho người phục sẵn, nhưng một phần vì những người này không đủ kiên nhẫn ở trong hoàn cảnh khắc nghiệt với cái nắng giết người trong sa mạc, một phần vì Molly rất khôn ngoan, và đôi khi may mắn, nên thoát.  Neville lại tung tin đồn thất thiệt là mẹ của Molly đã dọn về một làng khác có thể dùng xe lửa để đến làng ấy.  Gracie tin theo lời đồn đi về đường xe lửa nên bị bắt lại.  Molly dẫn em mình về làng, ngất xỉu dọc đường trong cái nắng sa mạc.  Nghe tiếng ó kêu trên trời, nhớ lại lời mẹ dặn là chim ó là thần nhân dẫn đường và bảo hộ mình.  Molly lần theo hướng chim về đến làng, gặp lại mẹ và bà.  Họ dẫn nhau vào trong núi sâu để trốn. 

Doris cũng bị bắt đem vào trại tập trung sống một thời gian, chưa bao giờ nghe mẹ kể lại chuyện quá khứ của bà.  Có lần trong cuộc họp mặt gia đình bà nghe dì Daisy kể lại.  Một người trong họ xác nhận là chuyện có thật và đưa cả xấp hồ sơ tài liệu chứng minh.  Doris viết lại chuyện đời của mẹ và của mình trong bộ truyện gồm ba cuốn: Caprice, a Stockman's Daughter, Follow the Rabbit-Proof Fence, và Under the Wintamarra Tree.  

Đây là một cuốn phim rất cảm động, diễn viên không thuộc hàng danh tiếng trong làng phim ảnh Mỹ, không có cảnh khiêu dâm, không có giết người, không có bắn súng, không có chạy xe tông vào nhà hàng hay cao ốc, vậy mà vẫn làm mắt tôi dính cứng vào màn ảnh, và tôi cố ngăn không cho tiếng khóc của mình thoát ra khỏi môi.  Tôi nghĩ là tôi rất may khi tình cờ chọn cuốn phim này ở thư viện.  Tôi chưa hề nghe ai nói nhắc đến phim này, cũng chưa từng được đọc review về phim này.  Tôi nhận ra tên người đạo diễn.  Ông là người đạo diễn phim Người Mỹ Trầm Lặng (The Quiet American).  Có một diễn viên tôi không biết, nhưng nét mặt ông hơi hao hao giống Christopher Plummer, sau khi xem phim tôi mới biết đó là Kenneth Branagh.  Mặt ông có vẻ lạnh nhạt, khắc khổ, dễ gây ác cảm. 

Lúc người da trắng bắt ba cô bé bỏ lên xe hơi chạy đi, hai người đàn bà, mẹ của Molly và Daisy, và mẹ của Gracie nằm lăn trên đường để khóc.  Tiếng khóc của họ không phải là tiếng khóc, nó như một tiếng tru đau đớn thống thiết của người rừng, một nỗi đau mà không ngôn từ, nước mắt nào có thể diễn tả được.  Bà của Molly ngồi ở vệ đường, cầm cục đá nện vào đầu mình và nện mãi.  Đau lòng không thể nói hết. 

Người ta bảo vệ trẻ em hai giòng máu hay đó chỉ là một cách bắt người làm nô lệ trá hình?  Neville cho người chờ sẵn trong làng chỉ cần chờ Molly về tới là bắt lại.  Cho dù anh ta có súng nhưng với lòng quyết tâm bảo vệ con mình, mẹ Molly dù chỉ có một cây gậy chuốt nhọn đã làm người lính phải bỏ chạy. 

Người ta nói rằng loài người cần được thỏa mãn chuyện cần thiết như ăn ngủ trước.  Tình yêu và những cần thiết về tinh thần là thứ yếu.  Molly và câu chuyện Hàng Rào Ngăn Thỏ đã chứng minh ngược lại.  Molly đă đặt lòng yêu mẹ, yêu làng mạc, và yêu tự do lên trên những cần thiết cá nhân.

Nắng, Rượu, và Trăng

1Đi ngang một con phố thấy một hành lang tối và tĩnh lặng.  Tôi thèm có những khoảnh khắc thấy lòng mình tĩnh lặng trong bóng tối như thế.  Có ai biết chụp ảnh bên ngoài chính là chụp những phản ảnh trong lòng?

Sáng nay ngủ dậy muộn, nhìn ra cửa sổ thấy nắng xuyên qua lá màu ngọc thạch.  Thảo nào Hàn Mặc Tử đã từng buột miệng, vườn ai mướt quá xanh như ngọc.  Thật ra so màu lá với màu xanh của ngọc thạch vẫn chưa nói hết cái đẹp của màu lá non trong nắng.  Ước gì tôi có thể nắm bắt hình ảnh này qua cọ vẽ.  Có dịp nào xin người đến nơi tôi ở để vẽ màu lá non dùm tôi nhé.  Tôi mở cửa bước ra sân sau cây lá vẫn còn lướt thướt bởi cơn mưa chiều qua.  Mùi hoa black locust thơm lừng trong nắng sớm. Tôi có cảm tưởng tôi đang ở trong rừng cây cao với lên trời xanh và tiếng chim chuyền cành thật vui tai làm lòng mình nhẹ nhàng.  Ai đó bảo là nghe như Alice lạc vào xứ thần tiên.  Khách đến chơi nhà, tôi vẫn thích khoe rẻo rừng sau nhà bởi vì người ta có thể có nhiều thứ nhưng không phải ai cũng có một chút xíu thiên nhiên ngay bên cạnh.  Tôi là một người kỳ cục. Đi chơi xa bao nhiêu chỗ, cái mà tôi nhớ nhất ở Mariposa lại là mùi trái chín trong cái nắng nung người.

Tuần trước đi D.C. gặp chị và cô bạn thân của chị.  Tôi chụp nhiều ảnh người và cảnh nhưng có lẽ vì cứ mãi chìu theo ý của mọi người tôi không chụp được tấm ảnh nào ăn ý.  Dường như lúc nào tôi cũng thèm được người thân lãng quên tôi đôi chút để tôi có thể tự do nắm bắt những ý nghĩ qua những hình ảnh tôi trông thấy.

Cô bạn thân của chị  hẳn là đã có một thời nhan sắc và cũng biết và khá tự hào mình là người có nhan sắc.  Đến bức tường tưởng niệm chiến tranh Việt Nam tôi nhờ hai người làm người mẫu cho tôi chụp hình.  Tôi đạo diễn hai người cúi mặt nhìn vào trong tường đá cẩm thạch đen, ngón tay dò theo tên khắc trên đá.  Tôi muốn hai người quì gối gục đầu vào bức tường hơi nghiêng mặt để ánh sáng có thể rọi vào tường tạo ra bóng người để tôi chụp bóng nhưng . . .  khổ một nỗi hai người không hiểu ý tôi muốn.  Cả hai không biết, và lỗi của tôi là đã chẳng biết giải thích, là tôi muốn chụp nỗi buồn của một người đang tưởng niệm những người đã khuất, và vì thế hai người cứ xoay mặt ra để hình phải thấy mặt người.

Văn thi sĩ có lẽ hay tìm cảm hứng qua men rượu và có lẽ cũng thích cái cảm giác bềnh bồng lâng lâng khi mới vừa uống.  Cái cảm giác ta bước đi trong men rượu chếnh choáng, đời vỡ tan một phiến môi mời cũng khá thi vị cho người đọc nhưng người viết có lẽ đầy đau khổ .  Wine hay rượu vang, còn được gọi là bồ đào, từ thưở nào đã nổi tiếng với bài thơ Đường Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi, dễ uống, ít say.  Và trích tiên Lý Bạch thưở nào đã nhào vào lòng sông để tìm trăng.  Cảm ơn bài thơ Say Trăng của Phạm Thiên Thư.

Ngày xưa trên bến mấy trăm năm
Có gã yêu trăng nhảy tự trầm
Hồn vẫn còn theo dòng nước bạc
Mò hoài chưa thấy bóng trăng ngâm.

Đọc thơ Việt Nam quen rồi có lẽ khó mà cảm được cái hay của thơ Mỹ.  Có lẽ cũng như đã quen với vẻ đẹp của phụ nữ Việt Nam thì khó mà thấy cái đẹp của một người phụ nữ Phi châu hay ở những bộ lạc trong rừng rậm Amazon.

“Mò hoài chưa thấy bóng trăng ngâm” nhất là chữ mò nghe thiếu chất thơ so với bài Khúc Thụy Du của Du Tử Lê.

Anh là chim bói cá
Em là bóng trăng ngà
Chỉ cách một mặt hồ
Mà muôn trùng chia xa

Hoàng Cầm đi tìm lá Diêu Bông hay chú chim bói cá của Du Tử Lê đi săn bóng trăng là hành động tuyệt vọng của người theo đuổi hạnh phúc.  Lá Diêu Bông có thể có thật trong một cõi không thật, hay có thể là một sản phẩm tưởng tượng trong cõi thật.  Bóng trăng ngà là một vật thể có thật nhưng quá xa tầm tay, và bóng trăng trên mặt hồ chỉ là ảnh.  Mà đã là ảnh thì dù có thật cho mấy thì tự bản chất của nó cũng đã là rất ảo.

Tôi nói cuội nói nhăng gì thế nhỉ.  Từ say rượu đến trăng và không biết phải kết thúc như thế nào.

Không ai trang điểm má đào
Cho ta say chết đêm nào đêm nay
Hàn Mặc Tử

Giờ này những người ở bên kia trời đang nghĩ gì, làm gì?

Ha! Có người bảo:

Nếu ta nhấm rượu hồng đào,
Cho dù say chết, như vào bồng lai

Memorial Day

Người ta đánh giết lẫn nhau.  Người thì mưu bá đồ vương.  Người thì giàu nhờ bán vũ khí.  Còn có người thì vì nước vong thân, được có tên trên vách tường tưởng niệm, hay cả trăm người được một ngôi sao vàng tượng trưng cho công ơn của mình.  Còn có người thì được nghỉ ngày thứ Hai vì là lễ tưởng niệm những anh hùng chết vì tổ quốc của họ và làm cho kẻ thù của họ chết vì tổ quốc của kẻ thù của họ.

Hình thứ nhất là 4000 ngôi sao vàng tượng trưng cho 400,000 quân nhân Mỹ đã hy sinh trong thế chiến thứ hai. 

Hình thứ hai là bức tường ghi tên 58,000 quân nhân Mỹ đã chết trong chiến tranh Việt Nam.  Nếu có thể làm bức tường để tưởng niệm quân nhân của quân đội Việt Nam Cộng Hòa bức tường này phải 8 lần dài hơn.  Bức tường tưởng niệm chiến tranh Việt Nam lần nào cũng tạo cảm xúc thật mạnh mỗi khi người xem nhìn khách viếng cúi đầu lom khom tìm tên thân nhân.  Lần nào tôi có dịp đi ngang nhìn thấy vẫn mủi lòng ứa nước mắt.  Giá mà người ta đừng đánh giết nhau, thì có lẽ người ta sẽ xây những đài kỷ niệm có đầy hình ảnh ca ngợi tình yêu nghệ thuật hay cái đẹp của đất trời.

Bức hình chót là một phần trong tượng đài tưởng niệm thế chiến thứ hai.  Mỗi trụ là một tiểu bang hay một quốc gia trong vòng bảo hộ của Mỹ đã tham gia cuộc chiến.

Hôm nay nhà tôi có party, gà nướng, sườn nướng, ăn ngoài trời.  Cả ngày nắng đẹp, chiều trời đổ cho một trận mưa to nên dọn vào ăn trong nhà.  Rất vui.  Chưa đầy một phần ba ly wine mà đã thấy "một chiều ngồi say, một đời thật nhẹ."

Good night, World.

 

Bông trời bay trắng cả rừng cây

4
3
2
1

Sáng ngủ dậy trễ.  Nằm nghe chim hót quanh nhà.  Tôi ở trong ngõ cụt trên một con dốc chừng 15 độ.  Không đi quen, chỉ cần lên dốc một lần là đã thở hào hển.  Tôi đi chậm 6 lần xuống và 6 lần lên mất khoảng một giờ đồng hồ, tổng cộng chừng 4 cây số.  Hôm nay đẹp trời, vòng cuối cùng tôi xách máy chụp ảnh theo và đây là những cái tôi nhìn thấy trên đường đi.

Trước loạt bài về bướm tôi có post một bài thơ có tiêu đề Rhodora.  Hàng xóm nhà tôi có nhiều nhà trồng loại hoa này.  Hoa nở thành chùm tròn màu tím rực rất bắt mắt.  Trước nhà Joey có cây gì đó tôi không biết tên lá giống như lá me xanh nõn.  Cây tuliptree còn có tên là angle-leaf tree trước nhà của Danny ra hoa màu xanh lá cây giữa tâm hoa có màu cam.  Bên hông nhà của Patti có cây red maple (phong đỏ) màu đỏ quanh năm nhưng mùa thu lá đỏ rực rỡ hơn.  Hình chụp lúc gió mạnh cây đang chuyển động nên có vẻ mờ.  Cây black locust ra hoa trắng từng chùm lên tận ngọn cây.

Black locust là một loại cây dại dáng dấp tầm thường.  Chung quanh nhà tôi và dọc theo con đường trước nhà có rất nhiều cây cao to, dễ đến 30 mét hay cao hơn.  Lúc ra khỏi nhà thấy hoa rụng trắng đường và trong gió phảng phất hương thơm.  Từ bấy lâu nay tôi không để ý là black locust có hoa lại càng không biết là hoa này thơm đến thế.  Thơm như mùi dạ lý hương, rất ngọt ngào nhưng dịu dàng hơn dạ lý.  Tôi cũng không biết maple có hoa và càng ngạc nhiên khi khám phá hoa của maple màu xanh lá cây.  Tôi thường chú ý đến hoa màu xanh lá cây và xanh màu blue (da trời).  Thường thì chúng ta chỉ nhìn thấy những gì chúng ta biết.  Thấy những điều mình không biết, may ra, có thể giúp mình biết những điều mình không thấy.  Đi trên xác hoa và bao bọc giữa hương hoa bát ngát như mùi hương của đất trời tôi không khỏi liên tưởng đến một bài thơ của Phạm Công Thiện

Mười năm qua gió thổi đồi tây
Tôi long đong theo bóng chim gầy
Một sớm em về ru giấc ngủ
Bông trời bay trắng cả rừng cây

Gió thổi đồi tây hay đồi đông
Hiu hắt quê hương bến cỏ hồng
Trong mơ em vẫn còn bên cửa
Tôi đứng trên đồi mây trổ bông

Tôi ước gì tôi có thể đổi câu chót của đoạn thứ nhì thành ra “hương trời giăng kín cả đồi đông” cho đúng với tâm trạng của tôi. Mất ngủ vài đêm óc tôi như sệt lại quánh lại.  Lời ai chúc an lành ngủ ngon may ra có thể mang cho tôi giấc mơ ngoan.

Good night, World!

BƯỚM – Phần cuối

567

Mariposa trong nắng chiều

Năm 2007 từ Vịnh San Francisco tôi cùng với gia đình đến viếng Yosemite National Park.  Trên đường đi chúng tôi dừng chân nghỉ đêm ở một thị trấn nhỏ có cái tên rất đẹp, Mariposa.  Đây là thành phố được xem là cái nôi lịch sử của tiểu bang California, được thành lập từ khi người Hoa Kỳ chiếm lấn đất của người địa phương vào năm 1805.  Mariposa, một thị trấn rất nhỏ nằm ở hướng Tây của dãy núi Sierra, phía Bắc của Fresno, phía Đông của Merced, và Đông Nam của Stockton.  Dân số khoảng chừng 1373 người trên diện tích 3.2 dặm vuông, dựa vào thống kê năm 2000.

Thị trấn này rất nhỏ và rất vắng.  Từ xa lộ 140 nếu lái xe nhanh một chút du khách có thể không ngờ là đã ra khỏi ranh giới thị trấn.  Vì thành lập từ thời “cơn sốt vàng” nên thị trấn này có hai viện bảo tàng triển lãm những cổ vật trong lịch sử của công cuộc khai thác vàng và những ngôi nhà xưa cũ mà những ai hay xem phim cao bồi viễn chinh có Charles Bronson hay Henry Fonda vào cuối thập niên 60 đầu thập niên 70 hay chương trình truyền hình như Wild Wild West có lẽ đã có dịp nhìn thấy.  Khách sạn tôi ở nằm trên một con dốc cao.  Để đi ăn tối chúng tôi thả bộ xuống con dốc đến một nhà hàng Tàu, đi ngang vài ba cái nhà thờ rất cổ, và khám phá là ở nơi đây số nhà hàng Mễ nhiều hơn nhà hàng Tàu và nhà hàng Mỹ.  Thị trấn này tôi mới đi ngang lần dầu tiên tuy nhiên tôi lại thấy có cái gì đó rất quen thuộc mà tôi cứ thắc mắc tự hỏi không biết tại sao thấy quen thuộc. Thị trấn này sống nhờ vào du khách tạm nghỉ qua đêm trước khi vào Yosemite village.  Phố xá vắng vẻ buồn tênh.  Trên đường có một trạm xe buýt không thấy người.  Nếu tôi là một cô gái trẻ sống trong thị trấn này chắc là tôi cuốn gói bỏ đi.  Còn nếu tôi là một thanh niên từ xứ lạ đến đây chắc chắn khi nhìn thấy một cô gái xinh xắn sống trong thị trấn này tôi sẽ mang ơn may mà có em đời còn dễ thương.  Khi quay về khách sạn tôi chợt nhận ra vì sao tôi thấy thị trấn này đầy vẻ quen thuộc.  Thị trấn bé xíu đi dăm phút đã về chốn cũ ở cao nguyên nên phố núi cao phố núi trời gần.  Phố núi cây xanh trời thấp thật buồn.  Anh khách lạ đi lên đi xuống.  Thị trấn cao nguyên cây xanh trời gần làm tôi liên tưởng đến một thị trấn Pleiku nơi tôi chưa hề có dịp đặt chân đến mà chỉ biết qua bài thơ của Vũ Hữu Định.  Ở giữa lòng Mariposa của Hoa Kỳ tôi bỗng mơ mộng đến một thị trấn mà tôi chỉ biết qua bài thơ của một thi sĩ đáng yêu.  Và tôi, mang số phận của loài bướm thiên di, một ngày nào đó sẽ quay trở về quê hương để đi tìm một thành phố chỉ biết tên nhưng chưa gặp mặt.

Người Spanish khi khai phá Mariposa đã nhìn thấy một đàn bướm rất to tụ tập ở thung lũng gần con suối dưới chân rặng núi Sierra.  Hằng năm vào tháng Năm, dân địa phương tổ chức liên hoan có diễn hành chào mừng đàn bướm Monarch quay lại sau khi chúng thiên di đến Mexico để trốn lạnh. Mariposa là chữ Spanish có nghĩa là Bướm.

Để kết thúc bài viết xin chúc bạn đọc được nhiều hạnh phúc. Nhà văn Nathaniel Hawthorne đã so sánh “Hạnh phúc giống như là một cánh bướm, khi bị theo đuổi, luôn luôn nằm ngoài tầm tay với của bạn, nhưng khi bạn ngồi yên, nó có thể nhẹ nhàng đáp lên người của bạn.”

BƯỚM (3)

Người Nhật và người Trung Hoa tin bướm là linh hồn của người kể cả người còn sống hay đang hấp hối.  Người Hy Lạp thời cổ xưa cho rằng bướm là biểu tượng của linh hồn người chết.  Chữ bướm trong thời đại Hy Lạp cổ xưa là chữ “Psyche”, được dịch ra là “linh hồn”.  “Psyche” hay “linh hồn” cũng là tên một người phụ nữ.  Nàng là người yêu của Eros, thần ái tình trong huyền thoại Hy Lạp.  Eros cũng chính là Cupid, thần ái tình của huyền thoại La Mã.  Trong các bức tranh về cặp tình nhân này, người ta thường cho bướm vây quanh họ.  

Thần Eros là con trai của Aphrodite và Hermes.  Vị thần này chọn một người dương thế làm vợ với điều kiện nàng không được phép nhìn thấy mặt của Eros và vị thần này chỉ đến thăm vợ vào ban đêm.  Những đêm họ gặp nhau là những đêm hạnh phúc ngất ngây đầy đam mê; thế nhưng Psyche lại lo lắng là chồng của nàng chỉ là một con quái vật mặt mũi xấu xí hung tợn.  Psyche thổ lộ với chị của nàng và vâng theo lời xúi giục của chị, Psyche giấu một con dao và nến trong giường trước khi Eros đến thăm nàng.  Sau khi chồng ngủ mê, Psyche lén đốt nến lên và ngắm nghía khuôn mặt của chồng.  Nàng ngạc nhiên khi thấy chông không phải là một con quái vật ghê tớm như nàng tưởng tượng.  Trái lại đây là một thanh niên có gương mặt rất đẹp chỉ có điều khác thường là trên lưng anh có đôi cánh như loài bướm.  Vì bất cẩn nàng đánh rơi vài giọt nến  lên mặt thần Eros làm Eros tỉnh giấc.  Tức giận vợ đã chẳng tuân lời Eros vĩnh viễn xa rời người vợ thế nhân này.

Bướm là tượng trưng của tự do hay là niềm mơ ước được tự do.  Henri Charrière, người bị án tù chung thân khổ sai vì những hành động phạm pháp trầm trọng.  Muốn tự do ông ta đã tìm cách vượt ngục rất nhiều lần và vì thế được đặt cho biệt danh Papillon, tiếng Pháp có nghĩa là bướm.  Lần cuối cùng, ông vượt thoát một trại tù rất hiểm nghèo là đảo hoang ở giữa biển khơi.  Thành công, ông viết hồi ký có tựa đề là Papillon.

Tình yêu chân chính thường vượt qua những định kiến của xã hội chẳng hạn như tình yêu của con bướm trên cành cây olive là một chuyện thần tiên cổ tích của Đức được Folke Tegetthoff, một tác giả danh tiếng người Đức kể lại.  Bướm ngày còn là con sâu sống trên cành olive.  Cả hai đều không thể nhìn thấy mặt nhau vì cây olive bị mù còn con bướm thì vì nằm trong kén nên không thể nhin thấy thế giới bên ngoài.  Cùng mang mặc cảm xấu xí  và cùng thèm muốn được yêu thương, nên cả hai đã lừa dối lẫn nhau và khen nhan sắc của nhau.  Khi con sâu chuyển mình trở thành bướm, nhờ thoát xác nên nó có thể nhìn thấy.  Cây olive lo lắng là con bướm khi nhìn thấy hình dáng của nó sẽ không còn yêu thích và sẽ bay đi nhưng trái lại con bướm đã rất yêu cây olive và ở lại.

BƯỚM 2

34Cánh bướm xanh này thuộc họ Morpho thường thấy ở Mexico (Mễ Tây Cơ), phía Bắc của Argentina (Á Căn Đình), hay phía Nam của Brazil (Ba Tây) là một trong những loại bướm nổi tiếng đẹp nhất trên thế giới.  Màu xanh óng ả của cánh bướm không phải được cấu tạo bởi sắc tố mà do bởi nhiễu xạ và sự kết hợp của những làn sóng của ánh sáng.  Hình sau là Gaudy commodore (Precis octavia, Nymphalidae) minh họa loại bướm vào mùa mưa.  Lúc trời khô bướm màu nâu sậm hơn.

Monarch (Danaus plexippus) còn gọi là milkweed butterfly nổi tiếng là loại bướm thiên di.  Vào tháng Tám chúng bay về miền Nam như Mexico hay cư trú ở miền Nam nước Hoa Kỳ như Pacific Grove Santa Cruz.  Chúng quay trở lại miền Bắc nước Mỹ vào mùa Xuân.  Chúng thường xuyên trở lại nơi chúng đã cư ngụ dù đã trải qua mấy đời bướm.  Đây là một chủ đề mà các nhà khoa học vẫn còn đang nghiên cứu.  Loại bướm này rất thích milkweed và butterfly bush.

Người Trung Hoa tin rằng bướm bay từng đôi là biểu hiện của tình yêu. Chắc là mọi người đều nhớ câu chuyện tình của Lương Sơn Bá và Chúc Anh Đài.  Khi Lương Sơn Bá đã chết vì lao phổi, Chúc Anh Đài đến trước mộ người yêu than khóc.  Trời bỗng nổi cơn giông bão, sét đánh vỡ mộ của Lương Sơn Bá ra làm đôi.  Khi Chúc Anh Đài bước vào mộ thì mộ khép lại. Sau đó người ta thấy có một đôi bướm trắng từ trong mộ bay ra.  Ngoài ra truyện cổ Trung Hoa có kể rằng: Trang Chu người sống ở Tống, tác giả bộ Nam Hoa Kinh, quan niệm vạn vật vũ trụ là một khối, không có lớn nhỏ, sang hèn, phải trái, vì tất cả chỉ là tương đối.  Triết lý của ông là hãy để cho con người tuyệt đối được tự do và bình đẳng.  Ông quan niệm sở dĩ xã hội xáo trộn vì nhân loại bị bó buộc trong khuôn khổ luật lệ và không được phát triển tự nhiên theo bản chất của mỗi người.  Có lần ông nằm mơ thấy mình hóa bướm đi chu du khắp thiên hạ không màng chuyện thế nhân.  Khi tỉnh giấc thấy mình là người ông hoang mang tự hỏi không biết mình nằm mơ hóa thành bướm hay bướm hóa thành mình.

Người Nhật xem bướm là biểu tượng của linh hồn của người ta không kể là người sống, hấp hối, hay đã khuất.  Một trong những điều dị đoan của người Nhật là nếu có một cánh bướm bay vào đậu ở phòng dành cho khách và đậu sau mành trúc, người yêu quí nhất của chủ nhà sẽ đến thăm.  Đa số những điềm dị đoan từ bướm đều là điềm không hay.  Khi Taira no Masakado, một địa chủ giàu có thuộc dòng hiệp sĩ đang bí mật tổ chức lật đổ chính quyền, thủ đô của Kyoto bị bướm tràn ngập đến độ dân cư sợ hãi cho là điềm xấu đến với Nhật Bản.

Trong quyển Memoirs of a Geisha (Hồi ký của Kỹ Nữ) của Arthur Golden có một đoạn như sau:  Hai chị em của Chiyo bàn nhau bỏ trốn trà viện.  Người chị trốn thoát nhưng không thể mang Chiyo theo.   Sau hai ba ngày chờ chị nhưng không biết tin, Chiyo đi giặt giẻ lau.  Lúc ấy có một con bướm bay chập chờn và đến đậu trên tay của Chiyo rồi chết đi.  Cho là đây là điềm của trời phật báo cho Chiyo biết vận mệnh của mình, Chiyo gói bướm vào một miếng giẻ cô bé đã giặt và dấu trong một cái hốc dưới nền nhà.   Một năm sau, Chiyo bắt đầu dậy thì và trở nên xinh đẹp.  Vì xinh đẹp nên cô bị Hatsumomo, một người kỹ nữ nổi tiếng mà Chiyo đang hầu hạ để học nghề làm geisha, lo sợ là nhan sắc của Chiyo sẽ lấn át mình nên đối xử với Chiyo rất khắc nghiệt.  Rất muốn thoát khỏi cuộc sống khốn khổ này Chiyo cầu nguyện ơn trên ban cho mình một dấu hiệu để định hướng tương lai của mình và Chiyo chợt nhớ đến cánh bướm mà cô đã đem chôn.  Khi Chiyo trở lại nơi cô đã chôn xác bướm, và mở mảnh vải mà cô đã dùng để trang liệm cánh bướm này, Chiyo ngạc nhiên là cánh bướm vẫn còn nguyên vẹn hình dáng và màu sắc.  Màu bướm gợi Chiyo nhớ đến màu áo mà mẹ cô đã mặc mỗi khi tối tối đi chơi bài với hàng xóm.  Cuộc đời của Chiyo thay đổi như một dòng suối chảy xiết trong những năm vừa qua trong khi cánh bướm như một hòn đá không hề thay đổi sắc diện.  Chiyo sờ cánh bướm thì chúng vỡ vụn.  Lúc ấy cha mẹ của Chiyo đã qua đời, còn chị của Chiyo không biết lưu lạc phương nào, Chiyo quyết định xem như quá khứ của mình đã chết. Cũng ngày hôm ấy Chiyo gặp Chairman (Giám đốc) của một công ty lớn, về sau trở thành người Chiyo yêu đến hết cuộc đời.
Nhắc đến bướm trong văn học và nghệ thuật không thể nào không nói đến vở nhạc kịch Madame Butterfly của Giacomo Puccini.  Puccini viết vở nhạc kịch này năm 1904 dựa vào một truyện ngắn và một truyện dài.  Truyện ngắn Madame Butterfly của John Luther Long viết năm 1898 và David Belasco chuyển thành kịch nói.  Truyện dài Madame Chrysanthème của Piere Loti ra đời vào năm 1887.  Tuy nhiên theo một học giả người Hoa Kỳ, Arthur Groos, cho rằng vở nhạc kịch này được dựa vào một chuyện có thật xảy ra ở Nagasaki vào những năm đầu của thập niên 1890.  Vở kịch này có ảnh hưởng rộng lớn đến nhiều vở nhạc kịch viết sau này trong đó có Miss Saigon.  Vở nhạc kịch này nói về một người geisha tên là Cio Cio San có nghĩa là Madame Butterfly hay tạm dịch là tiểu thư Bướm, đã ký hợp đồng phục vụ cho một Trung Úy Hải Quân Hoa Kỳ tên là Pinkerton.  Hợp đồng được ký 999 năm nhưng mỗi tháng có thể tái hợp đồng.  Pinkerton ái mộ vẻ đẹp ngây thơ trong trắng của Cio Cio San.  Nàng như một cánh bướm bay chập chờn và đáp xuống cành hoa duyên dáng nhẹ nhàng.  Pinkerton nhất quyết phải chiếm đoạt nàng cho dù có phải làm hỏng cánh của nàng tiên bướm.  Tuy nhiên, thật lòng ông ta chỉ muốn chăn gối tạm thời với nàng Bướm cho đến khi ông ta chính thức thành hôn với một người vợ Mỹ. Pinkerton về Mỹ ba năm không biết là Cio Cio San đã có mang với ông một bé trai.  Cuộc sống của Cio Cio San bắt �
�ầu túng hụt và có người mai mối giúp cho nàng được kết hợp với hoàng tử  Yamadori nhưng Cio Cio San cương quyết từ chối.  Nàng tin chắc là Pinkerton sẽ cưới nàng làm vợ chính thức khi biết nàng đã mang cho ông một con trai.  Cio Cio San thà chết chứ không muốn trở về với nghề geisha. Pinkerton trở lại Nagasaki có mang theo người vợ Mỹ.  Khi Cio Cio San biết Pinkerton đã cưới vợ nàng đồng ý hy sinh giao đứa con cho Pinkerton đem về Mỹ nuôi nấng.  Để bảo vệ danh dự của mình nàng tự tử bằng thanh gươm mà ngày xưa bố nàng đã dùng để tự tử khi bảo vệ danh dự của ông.