Nhạc Blues trong văn học Hoa Kỳ

Xin mời các bạn đọc bài này trên trang Gió O.

Nhạc Blues và ca dao Việt Nam phần 1

Nhạc Jazz phần 1.

Nhạc Jazz phần 2. 

nghệ sĩ thôi kèn

And far into the night he crooned that tune.
The stars went out and so did the moon.
the singer stopped playing and went to bed
While the Weary Blues echoed through his head.
He slept like a rock or a man that’s dead.

(Đoạn cuối cùng trích trong bài thơ The Weary Blues của Langston Hughes.)

Sâu lắng vào đêm, chàng cất giọng
Sao và trăng lặn tắt trong mây
Chàng ca sĩ ngừng ca rồi đi ngủ
Điệu Blues mỏi mòn âm vọng xoay
Chàng ngủ say quên cả đất trời
Như hòn đá hay như người đã chết.

Dấu vết nhạc Jazz trong văn học Hoa Kỳ, phần 3

Nhạc Jazz trong truyện của F. Scott Fitzgerald

Bên cạnh jazz, âm nhạc của Hoa Kỳ, Haruki Murakami còn ngưỡng mộ văn của Fitzgerald. Fitzgerald thuộc về “The Lost Generations,” cùng với Hemingway, Stein, Cole Porter (nhạc sĩ jazz chuyên về dương cầm), Josephine Baker (nghệ sĩ trình diễn) và rất nhiều nhạc sĩ jazz đã sang Paris vì nơi ấy cuộc sống ít đắt đỏ hơn cuộc sống ở Hoa Kỳ nhưng điều chính yếu là các nhạc sĩ jazz, phần lớn là nhạc sĩ da đen, cảm thấy họ có tự do sáng tác, tự do trình diễn và không bị kỳ thị như ở Hoa Kỳ. Louis Amstrong cũng từng sang Paris trình diễn. Nhạc jazz được các nhạc sĩ da đen đặc biệt yêu mến vì đây là lãnh vực mà họ tìm được sự tự do biểu hiện tính chất cá nhân qua sự trình diễn âm nhạc. Mỗi bản nhạc jazz là một cách biểu hiện hoàn toàn mang tính chất cá nhân.

The Great Gatsby (1925), Tales of the Jazz Age (1922), The Flappers and Philosophers (1921) là những tác phẩm của F. Scott Fitzgerald có liên quan đến nhạc Jazz. Cái ảnh hưởng của jazz trong tác phẩm của Gatsby không rõ rệt lắm. Ở truyện The Great Gatsby, lúc mở đầu buổi dạ hội thứ nhì, Gatsby mời Daisy và chồng của nàng đến dự, Fitzgerald viết:

Có tiếng bùm bùm của trống bass, và giọng của vị nhạc trưởng thình lình vang vọng ở vườn hoa. “Kính thưa quí vị,” ông nói. “Thể theo lời yêu cầu của ông Gatsby chúng tôi sẽ trình diễn tác phẩm của nhạc sĩ Tostoff, người đã gợi chú ý ở Carnegie Hall vào tháng Năm vừa qua. Nếu quí vị có đọc báo, quí vị ắt biết tin này nóng sốt biết dường nào. Ông ta mỉm cười nhạo báng, và nói thêm: “Thật là nóng hổi!” khiến cho mọi người cười vang. “Tên nhạc khúc này là,” ông ta nói thêm đầy mời mọc, “LỊCH SỬ JAZZ CỦA THẾ GIỚI của nhạc sĩ Vladimir Tostoff.”[1]

Chỉ mang chữ jazz vào truyện thì không thể nói là chịu ảnh hưởng của nhạc jazz. Flapper cũng là một danh từ thường dùng trong thời kỳ nhạc jazz, dùng để chỉ một kiểu mẫu của phụ nữ theo thời trang Âu châu, tóc ngắn kiểu pompei (bom bê), đội mũ nồi, váy ngắn ngang tầm đầu gối, trang điểm đậm, thích nhạc jazz, hút thuốc, lái xe, xem nhẹ quan hệ tình dục, không quan trọng chuyện hôn nhân. Tóm lại, là những cô gái mệnh danh là yêu cuồng sống vội. Truyện của Fitzgerald, nếu có ảnh hưởng của nhạc jazz, thì đó là những truyện miêu tả đời sống xã hội với những cuộc hôn nhân phù phiếm, cách sống xa hoa, như chính cuộc hôn nhân của F. Scott với cô vợ Zelda. Truyện ngắn The Offshore Pirate trong tuyển tập The Tales of the Jazz Age tôi thấy có chút ít hơi hướm của nhạc jazz, blues thì đúng hơn. Truyện nói về một cô gái trẻ và đẹp đang ở trên một du thuyền. Gia đình cô chuẩn bị mai mối gả cưới cô cho một chàng trai con nhà giàu nào đó nhưng cô muốn bỏ trốn. Cô muốn tự tìm cho mình một anh chồng phiêu lưu và lãng mạn. Giữa lúc cô đang nghĩ ngợi thì thuyền của cô gặp một chiếc thuyền nhỏ hơn. Những người chèo thuyền là người da đen, và họ hát những câu hát rất hay khi họ chèo thuyền. Thuyền họ song song và cặp sát thuyền cô. Người trưởng toán là một anh chàng trẻ tuổi khá đẹp trai, dĩ nhiên là da trắng, tuyên bố anh ta là trưởng đoàn hải tặc và họ chiếm thuyền của cô. Chuyện rất thơ mộng và kết cuộc rất đẹp nên chẳng có gì đáng để nói, ngoại trừ đoàn hải tặc này vốn là một ban nhạc jazz.

Từ phía dưới bỗng dưng vọng lên giọng hát trầm trầm. Nhóm người da đen đã tụ tập lại trên khoang tàu và giọng hát của họ to dần lên một điệu nhạc khắc khoải hòa quyện nỗi buồn phiền bay về hướng mặt trăng. Ardita nghe như bị mê hoặc.

Ồ xuống đây-

Ồ xuống đây,

Mạ muốn lôi tôi xuống khỏi dòng ngân hà,

Ồ xuống đây,

Cha bảo rằng để ma-a-a-ai

Nhưng mạ cương quyết bữa nay

Vâng – mạ nói bữa nay thì bữa nay![2]


[1]Fitzgerald, Francis Scott. The Great Gatsby (Kindle Locations 666-671). Feedbooks.

[2] Fitzgerald, F. Scott. Jazz Age Stories – Edited with an introduction and explanatory notes by Patrick O’Donnell, New York: Penguin Books, 1998. p. 17

Bài ca Blues (buồn) của Sonny

All I know about music is that not many people ever really hear it. And even then, on the rare occasions when something opens within, and the music enters, what we mainly hear, or hear corroborated, are personal, private, vanishing evocations. But the man who creates the music is hearing something else, is dealing with the roar rising from the void and imposing order on it as it hits the air. What is evoked in him, then, is of another order, more terrible because it has no words, and triumphant, too, for that same reason. And his triumph, when he triumphs, is ours.

James Baldwin – Trích từ tác phẩm Sonny’s Blues (Bài Ca Buồn của Sonny)

Tất cả những điều tôi hiểu biết về âm nhạc là không mấy người thật sự nghe nhạc. Ngay cả những lúc thật hiếm hoi, khi lòng chúng ta mở cửa, cho âm nhạc đi vào, những điều chủ yếu chúng ta nghe, hoặc nghe để phụ họa, là những điều rất riêng tư, những ký ức đã và đang biến mất. Nhưng người nhạc sĩ sáng tạo ra âm nhạc thì lại nghe cái gì đó rất khác, anh ấy phải đối phó với cái tiếng gào thét đang dâng lên trong hố thẳm của tâm hồn và thiết lập trật tự trên cái tiếng gào thét ấy khi nó xuất hiện. Cái đã trổi dậy bên trong anh ấy, lại nằm ở một trạng thái trật tự khác, càng đáng khiếp hãi hơn vì nó không có lời nói, rồi cũng vì không có lời nói mà nó thắng thế. Và sự thắng cuộc của người nhạc sĩ, khi anh ấy thật sự thắng, cũng là sự thắng cuộc của chúng ta.

Không hiểu nghĩa chữ hear corroborated. Ai biết chỉ dùm, tôi cám ơn.

Dấu vết nhạc Jazz trong văn học Hoa Kỳ, phần 2

Sơ lược về lịch sử nhạc Jazz.

Jelly Roll Morton, một nhạc sĩ jazz nổi tiếng, năm 1938, đã tuyên bố trong chương trình “Believe it or Not” của Robert Ripley, ông ta là người sáng lập ra nhạc jazz từ năm 1902.[1] Mặc dù cho rằng Morton nói phóng đại, nhiều người cùng thời, trong đó có Louis Amstrong,[2] công nhận sự hiện diện của những ban nhạc jazz ở thành phố New Orleans vào năm 1906, trong các khu phố đèn đỏ. Vào những năm đầu của thế kỷ hai mươi, nhạc jazz bị xem là sa đọa và thấp hèn. Đó là loại nhạc của loài quỷ sứ. Jazz luôn đi kèm với tình dục, rượu, và các loại ma túy (Jazz, Sex, và Drug). Phim “Chicago” cho khán giả nhìn thấy phần nào bộ mặt sa đọa đầy dục vọng của thời kỳ vàng son của nền nhạc Jazz ở Chicago. Sự phát triển mạnh mẽ của nhạc jazz ở Chicago đã khiến các nhạc sĩ ở New Orleans di cư từ Nam lên Bắc để sinh sống bằng âm nhạc.

Theo Bill Messenger, trong quyển sách audio “Elements of Jazz,” nhạc jazz là sự kết hợp của ragtime với nhạc blues dân ca cổ truyền. Loại nhạc blues này của những người nô lệ da đen, khi làm việc trong các đồn điền, đốn gỗ, hái bông, hay xây dựng đường rầy xe lửa, họ hát hò đối đáp với nhau để giúp vui quên mệt. Lời hát của họ thường rất đơn giản, phô bày cảm xúc nhất thời. Nhạc cụ của blues cổ truyền rất đơn giản gồm có trống, đàn banjo, mandolin, hay những nhịp vỗ tay. Trong đồn điền khi có tiệc, người ta thường tổ chức cuộc thi cakewalk. Như cái tên của cuộc thi, cái bánh là phần thưởng để ở một cái bàn nào đó. Người dự thi, sắp hàng đi đến nơi đặt cái bánh, trong tiếng nhạc. Ai đi hay nhất, đẹp nhất sẽ được thưởng cái bánh.[3] Loại nhạc dùng cho những buổi cakewalk ban đầu là ragtime. Ragtime là biến thể của nhạc du nhập từ châu Âu. Rag là biến thể của chữ ragg, biến đổi của nhịp điệu cho đến khi nó thành một bản nhạc mới. Bill Messenger, đưa thí dụ, thay vì đánh nhịp 1, 2, 3, 4, người ta nuốt mất một nhịp 2 hay 3, hay kết hợp 2 với 3 thành một nhịp. Cách biến đổi này còn gọi là syncopation. Người ta có thể dựa vào những bản nhạc cổ điển chính thống và phổ biến rồi biến đổi chúng thành những bản nhạc khác hẳn bằng phương pháp syncopation. Ragtime là lấy theo tên của bản nhạc “Maple Leaf Rag” của nhạc sĩ Scott Joplin, một nhạc sĩ da đen, nhà rất nghèo. Bố của Scott Joplin có được cây đàn piano và Joplin học nhạc với một vị mục sư người da trắng trong làng. Được đào tạo bằng nhạc cổ điển Tây phương nên ông rất hổ thẹn không dám sáng tác nhạc ragtime. Mãi khi ông trưởng thành mới bắt đầu sáng tác ragtime và sau đó ông mê mải sáng tác không ngừng. Nói ragtime nghe có vẻ xa lạ, nhưng nếu bạn ở Hoa Kỳ và từng nghe tiếng nhạc phát ra từ những xe bán kem dạo, rất có thể bạn đã từng nghe một bản ragtime.[4]

Scott Joplin qua đời năm 1917, đánh dấu cái chết của ragtime và sự ra đời của nhạc jazz. Điệu khiêu vũ swing cũng bắt đầu vào thời kỳ này. Nhạc jazz được trình diễn để giúp vui khách trên những chuyến tàu trên sông Mississippi đi từ New Orleans đến thành phố Chicago. Các ban nhạc jazz trình diễn trên các chuyến tàu đển phục vụ khách đi thuyền. Cũng trong năm 1917, máy thâu đĩa nhạc được sáng chế, và những bản nhạc với nốt nhạc được in ra trên giấy. Một ban nhạc jazz mà các nhạc công đều là người da trắng lấy tên là Original Dixieland Jass Band bắt đầu thâu đĩa nhạc đầu tiên, càng làm nhạc khiêu vũ swing trở thành cơn sốt của thời đại. Năm 1920, theo sử gia James Lincoln Collier, nhạc jazz trở thành loại nhạc ai cũng thích cũng biết và người ta bắt chước nhạc jazz, sáng tác và trình diễn khắp nơi.[5]

Những năm đầu của thập niên hai mươi, nhạc jazz luôn luôn ở giữa cuộc dằng co của hai phái. Một xem jazz là nhạc nghệ thuật; bên kia xem thường giá trị của jazz cho đó chỉ là nhạc giải trí. Năm 1922, Fitzgerald đưa một xấp bản thảo cho Mã Perskin. Theo Bill Mesenger, Fitzgerald không biết đặt tựa đề là gì nên gọi đại là Tales of the Jazz Age. Cái tên Jazz Age xuất phát từ Fitzgerald góp phần thay đổi địa vị của Jazz trong mắt các nhà phê bình nghệ thuật. Năm 1924, Paul Whiteman đưa ban nhạc jazz vào trình diễn ở thính phòng Aeolian Hall của thành phố New York. Nhạc jazz được sáng tác và trình diễn với cấu trúc và hòa hợp của giàn nhạc giao hưởng. Nhiều nhạc sĩ tài hoa gia nhập giàn nhạc của Paul Whiteman trong đó có Bix Beiderbecke. Năm 1928, Beiderbecke nổi tiếng với sự trình diễn thành công bản nhạc Concerto in F của nhạc sĩ Gershwin. Cuộc đời của Beiderbecke được Dorothy Baker tiểu thuyết hóa trong tác phẩm “Young Man with a Horn” và tác phẩm này được dựng thành phim.

Sự thành công rực rỡ của Louis Amstrong khiến giới âm nhạc chú ý đến những nhạc sĩ jazz người da đen nhiều hơn. Duke Ellington là một trong những nhạc sĩ thành công này. Jazz phát triển huy hoàng từ năm 1917 cho đến năm 1929 thì vỡ tan theo bong bóng của thị trường chứng khoán. Nền kinh tế suy sụp khiến các ban nhạc jazz phải giải tán.

Giữa thập niên ba mươi, thế hệ trẻ lớn lên và tìm kiếm dấu ấn âm nhạc của họ. Benny Goodman, người của thế hệ mới, được mệnh danh là ông Hoàng của nhạc Jazz. Năm 1938, Goodman đưa giàn nhạc jazz của ông đến trình diễn ở nhạc viện Carnegie Hall, một trong những nhạc viện danh giá nhất Hoa Kỳ và thế giới.

Vào thời kỳ thế chiến thứ Hai, các ban nhạc jazz lớn lại thêm một lần yểu mệnh. Charlie “Bird” Parker, nhạc sĩ saxophone, người luôn tin tưởng ông là nhạc sĩ của nghệ thuật, thích nhạc cổ điển và rất muốn học sáng tác nhạc. Tuy nhiên, bạc phúc, ông nghiện bạch phiến và qua đời ở tuổi 34 năm 1955. Cùng thời với Parker là Thelonious Monk (dương cầm), Miles Davis (trumpet), và John Coltrane (saxophone). Đây là những tên tuổi lừng danh của nền nhạc jazz được nhiều người trên thế giới yêu mến trong đó có nhà văn lừng danh Murakami. Tất cả những chi tiết nói trên tôi tóm tắt dựa vào bài tiểu luận Jazz của Terry Teachout.[6]

Trở lại với Bill Messenger, tiến trình hình thành và phát triển của nhạc jazz được ông thuyết trình qua những tiểu đề của quyển sách Elements of Jazz. Đầu tiên là nhạc blues dân ca cổ truyền ở đồn điền, kết hợp với nhạc châu Âu thành ragtime, ragtime phát triển rồi suy tàn, nhạc jazz trở nên hưng thịnh, blues biến hình và phát triển đặc biệt qua các giọng ca nữ, nhạc swing ra đời phát triển như một cơn bão, đến Boogie Woogie, đến những ban nhạc blues lớn, nhạc be bop là một hình thức chống lại sự thịnh hành của swing, sau đó đến sự phát triển jazz hiện đại từ thập niên năm mươi cho đến thập niên chín mươi. Tuy ngày nay nhạc jazz hiện đại vẫn còn có khán giả, blues biến thành fusion và rock’n’roll.

Xin mời bạn đọc toàn phần ở Gió O. Jazz trong văn học Hoa Kỳ.


[1] Teachout, Terry. “Jazz.” The Wilson Quarterly (1976-), Vol. 12, No. 3 (Summer, 1988), pp 66-76, http://www.jstor.org/stable/40257338, Tham khảo ngày: 19-07-2015.

[2] Louis Amstrong là một thiên tài của nền nhạc. Ông có tài trình diễn kèn đồng, và có giọng hát trầm và khàn. Ông khuếch động sáng tạo trong trình tấu độc diễn bằng syncopation, nhạc trưởng của hai ban nhạc jazz nổi tiếng Hot Five và Hot Seven.

[3] https://www.youtube.com/watch?v=GCsptiarrzw

hoặc là https://www.youtube.com/watch?v=BkXQX1C9VWo

[4] Messenger, Bill. “Elements of Jazz – From Cakewalk to fusion.” CD book. Springfield, VA: Teaching Co., 1998.

[5] Tương tự Terry Teachout.

[6] Terry Teachout là nhà phê bình nhạc jazz của báo Kansas City Star (1977–83). Ông cũng là nhà tư vấn về các bộ môn âm nhạc nghệ thuật của Time-Life Records Giants of Jazz. Ông sử dụng đàn bass và dương cầm.

Dấu vết nhạc Jazz trong văn học Hoa Kỳ, phần 1

Ảnh hưởng của nhạc Jazz đối với nhà văn Haruki Murakami

Haruki Murakami, nhà văn Nhật Bản rất được độc giả Việt Nam yêu chuộng, đã mở một quán nhạc jazz trước khi trở thành nhà văn. Theo Murakami, nhạc jazz có sức ảnh hưởng sâu đậm đến sự phát triển tài năng của ông. Ông viết văn hay là nhờ ông nghe và yêu thích nhạc jazz.

Dù là âm nhạc hay truyện, điều căn bản là nhịp điệu. Văn phong của bạn cần phải có nhịp điệu vững vàng, tự nhiên, và đều đặn, nếu không thì độc giả sẽ không tiếp tục đọc tác phẩm của bạn. Tôi học sự quan trọng của nhịp điệu trong âm nhạc – và căn bản là ở nhạc jazz.[1]

Năm 1964, Murakami lần đầu tiên đi xem nhạc jazz ở Kobe. Buổi xem nhạc sống này để lại ấn tượng rất sâu đậm trong tâm hồn ông. Murakami bảo rằng văn phong của ông ảnh hưởng sâu đậm bởi “repeated freewheeling riffs”[2] của Charlie Parker cũng như vẻ thanh thoát trong văn phong của F. Scott Fitzgerald. Fitzgerald là nhà văn nổi tiếng cùng thời kỳ vàng son của nền âm nhạc jazz, suốt thập niên 1920, đặc biệt với tác phẩm The Great Gatsby. Tác phẩm này được Murakami nhắc đến trong “Rừng Na Uy,” quyển sách đầu tiên đưa ông đến đài danh vọng. Murakami bảo rằng ông dùng sự đổi mới của nhạc sĩ Miles Davis làm khuôn mẫu  cho cách viết văn và tìm cách sáng tạo ra những ý tưởng mới từ những ý tưởng cũ như cách trình diễn dương cầm của nhạc sĩ Thelonious Monk.[3] Charlie Parker, Miles Davis, và Thelonious Monk đều là những danh tài của nền nhạc jazz Hoa Kỳ.

Murakami cho thấy ảnh hưởng của nhạc jazz đối với một nhà văn Nhật Bản. Thế thì, có lẽ nhạc jazz cũng ảnh hưởng đến văn học Hoa Kỳ? Để cảm nhận thêm sâu sắc cái hay trong văn của Murakami, hiểu biết thêm về jazz, có lẽ, cũng là điều có ích? Người dịch truyện của Murakami có cần phải biết nhạc jazz để lột tả cho hết văn phong của Murakami? Nhưng dẫu nhạc jazz chẳng có tác động gì đến văn học, hiểu biết thêm về jazz, một nét văn hóa đặc thù của Hoa Kỳ, cũng có ít nhiều thú vị. Trước khi tìm hiểu ảnh hưởng của nhạc jazz trong nền văn học Hoa Kỳ đương đại tôi xin phép được tóm tắt về tiến trình phát triển của nhạc jazz ở Hoa Kỳ.


Chú thích.

[1] Murakami, Haruki. “Jazz Messenger.”, The New York Times [ New York], 08 July, 2007, http://www.nytimes.com/2007/07/08/books/review/Murakami-t.html?_r=1&

[2] Riff là một từ chuyên môn dùng trong âm nhạc, jazz và rock, để chỉ sự lập lại của nhịp điệu, hay một số nốt nhạc, với một chút thay đổi của một nốt nhạc trong một nhóm nốt nhạc hay bỏ một nhịp (của trống hay bass) trong một chuỗi nhịp điệu.

[3] Tương tự như footnote Haruki Murakami [1].

Tìm thì sẽ gặp

tranh tường
Ban Nhạc Jazz
saxophonist
Nhạc sĩ saxophone
nhạc sĩ dương cầm và kèn trumpet
nhạc sĩ dương cầm và kèn trumpet

Khi tôi bắt đầu chú ý đến jazz thì đi đâu tôi cũng bắt gặp những nét văn hóa đặc thù của jazz. Nhiều khi nhìn cái trước mắt thì không thấy, nhưng nếu thật sự kiếm tìm, thì sẽ gặp. Xem hay đọc ngay cả chơi đùa cũng có nhân duyên của nó.

Đây là tranh ghép bằng những viên gạch men bóng (mosiac). Bức tường có bức tranh này ở trong nhà ga xe lửa ở thành phố tôi đang làm việc. Người phụ trách việc mời họa sĩ, chọn tranh, v.v… vừa mới về hưu trong tháng Tám. Trước khi bà về hưu tình cờ tôi gặp bà trong thang máy, chào hỏi dăm câu, bà hỏi tôi việc làm như thế nào. Tôi trả lời hanging in there. Bà hỏi bao lâu tôi nói ba năm. Bà cười bảo rằng bà chỉ cần hangin’ 40 ngày. Tôi chúc mừng bà với một chút ganh tị. Nhìn bức tranh tôi nghĩ đến thành quả của bà, mang cái đẹp đến cho mọi người chiêm ngưỡng. Biết bao nhiêu người qua nơi ấy mỗi ngày, có mấy người để ý đến bức tranh. Tôi nghĩ, người ở Hoa Kỳ mà không chú ý đến nhạc jazz thì cũng là một mất mát về văn hóa Hoa Kỳ.

Jazz, Haruki Murakami, và the Great Gatsby

Hôm nọ tôi tuyên bố sẽ viết một blog về nhạc jazz trong văn học rồi tôi im luôn từ hôm đó đến nay, giống như mình hứa lèo hứa cuội. Thật ra từ hôm đó đến nay tôi đọc rất nhiều sách liên quan đến jazz rồi như bị trói trong đống chỉ rối rắm tôi chưa tìm được lối ra. Jazz thì mông lung rộng lớn, nhiều thời kỳ, nhiều thể loại. Trong jazz có ragtime, swing, blues, modern jazz. Ảnh hưởng đến văn học thì ảnh hưởng cách nào? Đem jazz vào làm bối cảnh? Viết về cuộc đời nhạc sĩ jazz, hay biến nhạc sĩ jazz thành nhân vật? Dùng âm thanh và nhịp điệu của jazz làm nền tảng cho âm thanh và nhịp điệu của tác phẩm? Haruki Murakami bảo rằng ông nghe trong đầu ông âm thanh cuồn cuộn tung xoáy chừng như dòng nhạc này cũng muốn trào ra theo văn của ông. Trong một bài báo trên the New York Times (The Jazz Messenger) ông nói đến sự đồng dạng của nhạc jazz với viết văn, cả hai thể loại này đều cần có một nhịp điệu tự nhiên, dễ dàng, đều đặn. Chữ nghĩa được sắp xếp sao cho phù hợp nhịp nhàng, cần phải biết du di biến đổi chứ không nhất thiết phải tuân theo một qui luật bất di bất dịch (free improvisation). Ông cho là văn phong của ông bắt nguồn từ nhạc jazz. Nói như vậy thì khi bạn đọc văn của Murakami bạn có nghe được nhạc jazz tuôn trào ra không? Chắc chắn là không! Khi bạn đọc một tác phẩm của Murakami mới xuất bản gần đây, Tsukuru và nhạc khúc hành hương, bạn có nghe nhạc cổ điển Tây phương luân lưu vần vũ trong trí tưởng không? Đó là điều tác giả muốn độc giả cảm nhận, còn độc giả có thể cảm nhận cho đúng với ý muốn của tác giả hay không thì đó là chuyện khác.

Nói đến nhạc jazz của người Mỹ da đen mà lại bắt đầu với một nhà văn Nhật, người tuyên bố là văn phong của ông ảnh hưởng bởi nhạc jazz thì có lẽ bạn thấy sự lan truyền mạnh mẽ của nhạc jazz từ Tây sang Đông. Chắc chắn là nhạc jazz rất phổ biến ở Nhật bởi vì trong những cuộn phim xưa của Nhật từ năm 1948 đến năm 1956 tôi thấy dấu vết nhạc jazz. Trong tuần lễ thứ hai của chương trình nhạc “Jazz in the Garden” tổ chức ở thành phố Newark, New Jersey, nhạc sĩ jazz biễu diễn đàn organ hôm ấy là một người Nhật, bà Akiko. Bà được đào tạo ở Nhật nhưng sau đó sang Hoa Kỳ để sống vì có lẽ một phần ở Hoa Kỳ có nhiều điều kiện để bà phát huy tài năng hơn.

Nhắc đến sự ảnh hưởng của nhạc jazz đối với Murakami thì tôi nghĩ ngay đến quyển The Great Gatsby của F. Scott Fitzgerald vì Murakami nhắc đến quyển này trong “Rừng Na Uy” tác phẩm nổi tiếng của ông. Fitzgerald là nhà văn sống ngay trong thời kỳ vàng son của nhạc jazz. Ông có một số truyện ngắn xuất bản với tựa đề The Jazz Tales bán rất chạy. Bên cạnh cái tên có liên quan đến jazz, tập truyện ngắn này chịu ảnh hưởng bởi jazz như thế nào và đến mức độ nào? Vào đầu cho đến cuối thập niên hai mươi, jazz rất thịnh hành, là một phong trào ảnh hưởng đến thời trang (the flapper) và rượu (bath tube gin).

Chưa viết xong.