Bốn ngày ở Houston

Không phải nơi tôi ở không có người Việt. Có nhiều nhưng tôi ít gặp (vì ít khi đến chỗ hội hè họp mặt) và không quen (vì kém giao tiếp). Trong bốn ngày ở Houston, tôi gặp rất nhiều người Việt. Ra đường thấy phố xá với rất nhiều cửa hàng của người Việt với những cái tên rất Việt của những năm trước 75 ở Sài Gòn, thí dụ như Phở Đa Kao. Cả đại gia đình của tôi ai cũng nhiều bạn, chỉ có tôi là ít bạn, hầu như không giữ được người bạn nào.

Lễ hóa tang của người anh tôi được chị tôi tổ chức trong chùa. Xong lễ người tham dự được mời ở lại dùng cơm chay. Vì lễ của anh tôi tổ chức cùng với nhiều gia đình khác nên bữa ăn có rất đông người. Toàn là người Việt. Chị tôi trước kia đi dạy học, nên bạn bè của chị nhiều người cũng làm nghề dạy học. Chị nhờ tôi chụp ảnh khách tham dự, nhưng tôi không quen chụp ảnh người nên tôi rất ngượng ngùng. Tôi giơ máy lên chụp chung, đứng xa xa, thì có một cô khách quay mặt đi chỗ khác. Chờ tôi bấm máy xong mới quay mặt lại làm tôi cụt hứng. Tôi chụp vội vàng vài tấm rồi thôi. Tàn tiệc chị tôi mới nhắc nhớ là tôi chụp khách mà không có chị lúc chị ngồi trong bàn tiệc. Giá mà chị nói là nhớ chụp ảnh chị chung với khách thì chắc là tôi không vô ý như thế.

Tôi ngồi chung bàn với vài người bạn của chị. Có một vài người đã hơn bảy mươi. Một chị ngồi đối diện với tôi đi với chồng, ông ấy ăn chay trường đã mấy năm. Hay thật, đàn ông mà không nhậu nhẹt lại ăn chay trường! Nghe nói trước kia ông làm Cảnh Sát. Bà làm nghề dạy, Tiểu học. Trong bữa ăn, tình cờ tôi nhìn thấy bàn tay của bà đeo cùng một ngón tay, ngón áp út, ba chiếc nhẫn hột xoàn. Một chiếc có hột xoàn rất to, loại tròn. Một chiếc gồm nhiều hạt nhỏ. Còn chiếc thứ ba thì tôi không nhớ kiểu. Chỉ nhớ ánh sáng từ cửa sổ chiếu vào ba chiếc nhẫn, hắt vào mắt tôi. Sáng lấp lánh. Tôi không nhớ bàn tay của bà có đẹp hay không, có béo ụ đến cỡ nào. Bà thuộc loại khá béo, mặt mày tô vẽ đủ thứ màu, chân mày đậm, môi đậm màu son đỏ ăn cả buổi vẫn còn màu, mí mắt chuốc mascara dày đậm. Bà nói chuyện vui vẻ, họat bát nhưng dễ thương nhã nhặn, vẫn còn phong cách của nhà giáo. Nghe nói bây giờ bà làm nghề dạy các cô học nail để lấy bằng hành nghề.

Khi ra về, tôi đi chung với chị tôi và hai bà bạn của chị. Không hiểu vì sao câu chuyện lại đi đến chỗ ba chiếc nhẫn kim cương của chị bạn tên Thật. Chắc là tại vì tôi trầm trồ ba chiếc nhẫn to. Chị Thái, bạn chị tôi, lên tiếng.
– Sao tôi chẳng bao giờ nhìn thấy nữ trang của người ta đeo nhỉ? Vào nhà người ta tôi cũng chẳng bao giờ để ý đến bàn ghế đồ đạc cả. Có người cứ than nhà tôi chưng bày sơ sài lắm, chẳng có đồ đạc gì cả. Tôi nghĩ ơ hay, tôi đến thăm có phải để nhìn ngắm đồ đạc của các bà các ông ấy đâu.
– Thì ngồi ở bàn ăn, mình lại ngồi đối diện, chị ấy dùng tay phải gắp thức ăn, nhẫn kim cương đeo ở ngón tay của bàn tay phải, mình nhìn và gắp thức ăn thì mình phải thấy kim cương trên ngón tay thôi. Chị Hậu, một người bạn khác của chị tôi, đáp lời.
Thật đúng như vậy, tôi là người hay quan sát, bản tính của những người đang học đòi viết văn, tôi nhớ nét mặt cách nói chuyện của chị Thật nhưng tôi không nhớ nữ trang trên tai hay trên cổ mà chỉ nhớ ba cái nhẫn kim cương trên ngón tay. Tôi không mê nữ trang. Tôi khá quê mùa cục mịch, tướng không sang nên kim cương càng to thì người ta càng nghĩ là đồ giả. Người sang, đeo đồ giả người ta tưởng thật. Người không sang, đeo đồ thật người ta tưởng giả. Coi như đó là điều may, càng ít ham mê càng giảm hệ lụy.

Chị tôi kể lại. Chị Thật mê kim cương từ hồi còn trẻ. Chị là cô giáo dạy con của chị tôi, cháu Q. Có lần chị than thở, buồn quá, chị mất một món nữ trang. Chị đoán có lẽ chị gói trong một miếng khăn giấy, mở ra mở vào rồi rơi mất trong lúc đi chợ. Mấy tháng sau chị tìm thấy món nữ trang này ở đâu đó trong nhà chị. Cháu Q. nói:
– Sao cô không nói sớm. Tội nghiệp con mấy tháng nay, kể từ hôm cô nói cô đánh rơi món nữ trang, ngày nào con cũng đi chợ mà không nhìn không mua gì cả vì mắt luôn luôn nhìn xuống đất.

Bốn ngày ở Houston, gặp nhiều người Việt, nghe nhiều chuyện vui để kể. Nghĩ cho cùng, có lẽ chúng ta đều mong muốn được chiêm ngưỡng, hay ngưỡng mộ. Có khác gì đâu giữa một người khoe nữ trang với một người khoe nhan sắc, hay khoe ảnh đẹp, khoe trí tuệ, khoe tài năng, khoe nghệ thuật, khoe tư tưởng. Tự trong lòng mỗi chúng ta đều có một khao khát thầm kín được người khác chú ý, yêu quí chúng ta vì một cái gì đó, được thể hiện qua một vật thể hữu hình hay trừu tượng. Có phải thế không?

 

Mấy tấm ảnh bị hư

Tôi thường bắt đầu buổi hiking vào lúc mười giờ sáng. Hơi trễ, tôi muốn đi sớm hơn nếu trời ấm và sáng nhưng ông Tám thì thích đi giờ này. Xong buổi hiking thường là ba giờ chiều, vì bốn giờ là trời bắt đầu sụp tối. Buổi chiều về ngang hồ Surprise thấy có đàn vịt đầu xanh. Tôi không định chụp ảnh vì đã mệt, hai bàn chân đau mỏi, nhưng thấy ông Tám đứng nhìn thì tiện đó chụp luôn. Vừa móc máy ảnh ra thì nghe đâu đó có một đoàn người đang đi đến. Khoảng đường này hẹp, um tùm, lại bị ngăn rào vì người ta đang xây một cái đập rất lớn để giữ nước hồ dành cho mùa khô. Tôi vội vàng nháy đại một phát cho xong, lẽ ra phải thong thả chụp vì nắng đang chiều nếu biết dùng đúng cách sẽ có ảnh đẹp. Tôi chụp mấy tấm, tấm sau xấu hơn tấm trước. Càng chụp càng xấu. Sáng nay thấy lười, không muốn viết gì. Thôi thì lựa mấy tấm ảnh bị hư ra đăng lên. Thật ra, ảnh hư lại có chuyện để tám hơn là ảnh đẹp.

Khi chụp ảnh tôi nhớ mấy câu hát trong bài Sương Thu của Văn Phụng. “Chiều về trên sông vắng, thấp thoáng bóng đôi cò trắng.” Có bóng cò, nhưng không có đôi, mà chỉ có một con cò lẻ loi, mà bạn HN ví là ông già câu cá cô độc, và một đàn vịt đầu xanh. Dọc theo hồ này rất nhiều cây cỏ đuôi mèo đã biến thành màu nâu, sắp sửa nứt và nở thành những sợi bông tơ rồi rụng. Tôi thích loại cỏ này, nhìn giống cái hot dog xiên trên cây que. Trông nó có cái gì đó, quạnh quẽ nhưng mạnh mẽ, có thể hứng chịu nắng gió mưa sương.đàn vịt đầu xanh trên hồ Suprisechiều về trên sông vắngthâp thoang cò trăngtrái sycamore

Hy vọng đây là trận tuyết cuối mùa Đông

rừng sau nhà kho
Cái nhà kho này sẽ là nơi tôi ngồi viết văn sau ngày tôi về hưu (từ đầu tháng 9/2018 đến cuối tháng 12/2018). Đây là cái mốc mà tôi chờ đợi đã vài năm nay.
rừng tuyết
Trước ngày ông Tám đi Texas tôi nói thế nào cũng có tuyết trong tuần lễ ông đi. Ông trấn an: tháng Ba rồi, mùa xuân rồi, không đến nỗi nào. Tôi trả lời, cũng một câu mà mấy chục năm nay tôi vẫn dùng: Có một năm ngày 20 tháng Tư trời tuyết, hoa đã nở đầy bị trận tuyết rụng hết trơn, mộc lan và đào tơi tả trên mặt đất. Và đúng như tôi tiên đoán, hôm qua, đúng vào ngày bắt đầu mùa xuân, tuyết rơi. Tuyết thường rơi những khi ông Tám vắng nhà. Ông như một loại chim, đoán hơi gió tuyết và thiên di về miền nắng ấm. Tối qua, cô út dặn tôi, sáng mẹ đánh thức con để con giúp dọn tuyết. Ông nhà tôi thương hại tôi già cả yếu ớt, thường bảo tôi vào nhà đi để đó ông làm.

Tuyết bắt đầu rơi độ chừng lúc mười giờ sáng hôm qua. Tuyết ướt, bám trên cành dày đặc, tạo thành những hình thù đẹp mắt. Mấy tấm ảnh trên không phải ảnh chụp tuyết hôm qua mà chụp từ hồi đầu tháng Ba, cũng tuyết ướt, tương tự như hôm qua. Sáng nay thấy lớp tuyết không dày lắm độ chừng 2 hay 3 inches. Chung quanh nhà tôi cảnh đẹp như cảnh thần tiên, hay trong phim ảnh. Narnia cũng chỉ đẹp đến thế thôi. Tôi thích đứng ở cửa sổ ngắm tuyết đóng trên rừng cây sau nhà. Thỉnh thoảng một cụm tuyết rơi khi có một vài con chim chuyền cành. Đôi khi một cơn gió mạnh, tuyết đóng trên cây rơi lả tả như những cơn bụi tuyết làm tôi nghĩ đến hình ảnh chim quạ rũ bụi tuyết xuống đầu của Robert Frost (Dust of Snow) hay giữa núi rừng trắng xóa im lìm chỉ có đôi mắt màu đen và liếc láy của con quạ trong bài thơ của Wallace Stevens (Thirteen Ways of Looking at a Black Bird).

Bây giờ

Nhà hàng xóm Rừng sau nhà phủ tuyết

Từ hôm qua đã nghe tuyết đến. Cô út buổi tối về cho biết trường đóng cửa hôm nay. Cơ quan tôi gửi thông báo là vẫn mở cửa như thường lệ nhưng tôi xin nghỉ từ hôm qua nói thòng thêm là nếu trời nhiều tuyết.

Tôi có cảm tưởng là tôi càng chụp ảnh càng tệ đi, muốn đổ thừa tại máy ảnh nhưng có thể vì hai nguyên nhân. Một, trời lạnh tôi lười, không muốn ở ngoài trời lâu nên cứ đưa máy lên chụp đại cho thấy hiện trường rồi chuồn vào nhà nên ảnh không rõ. Hai, xem nhiều ảnh đẹp quá nên thấy ảnh mình không thể so bì.

Nhưng mà, so với những tay nhiếp ảnh gia giỏi ở những nơi không có tuyết, mình có ảnh tuyết trong khi người ta không có, hì hì. Ai có tức thì tức đi. 🙂

Sau nhà tôi cảnh đẹp như phim huyền thoại. Mỗi ngày đi làm, nhìn ra cửa sổ xe lửa chỉ thấy màu trắng xóa vùn vụt chạy theo xe lửa. Đi ngang một cánh rừng trắng bao quanh cái hồ trắng, giữa hồ là đàn chim đậu lúc nhúc, tôi cứ nghĩ giá mình có thể chụp những tấm ảnh mình nhìn thấy, và ảnh thật rõ thật đẹp, thật bao la nhưng cũng thật chi tiết.

Đành chịu thua, không phải cái gì mình ao ước cũng có được. Nhớ đến hai chữ wabi sabi. Những cái đẹp phù du và bất toàn.

Leo núi ở gần nhà

Tuần trước tôi đi hiking ở gần nhà. Chỗ ấy tên là Watchung Reservation. Mới vào cái trail thì gặp ngay một con chim rất to, chẳng biết là chim gì, đoán đại là heron. Tưởng là con chim mù nhưng khi về nhà zoom ảnh thật to thì thấy chim có mắt mở hẳn hoi. (Edit: đây là black-crowned night-heron, xem ảnh của quyển Field Guide to the Birds of North America – National Geographic 4th edition page 56 – 57)

Trên đường đi gặp một toán thanh niên thiếu nữ có dẫn theo hai con chó. Con chó màu trắng như tuyết cứ lẽo đẽo đi theo chúng tôi. Cô chủ của nó mỉm cười nói là con chó của tôi thích hai ông bà nên cứ đi theo. Con chó rất xinh, giống cái, tôi nghe chủ nó gọi nó Pattie. Dù đi rất gần chúng tôi nhưng nó không bao giờ nhìn thẳng vào chúng tôi, hễ tôi quay lại nhìn nó thì nó nhìn hướng khác như thể nó biết mắc cỡ, trông rất đáng yêu.

Chúng tôi đi quanh một cái hồ cạn nước. Thấy trên bản đồ của trail nói là hồ Surprise. Trên hồ có một đàn vịt đầu xanh khá đông. Có những chỗ quanh co rất gần với đường xe chạy. Watchung Reservation không có nhiều đỉnh cao. Có một chỗ cao nhất có độ cao chừng 500 feet. Chưa đi hết vòng của cái trail nên có thể sẽ trở lại đi cho hết 10 miles. Chỗ này rất gần nhà, lái xe chừng 15 phút hay 20 phút là đến nơi.

Nói thêm: Hôm trước sang blog bạn thấy giới thiệu một ca nhạc sĩ tên là Leonard Cohen. Nghe bản nhạc bạn giới thiệu rồi tôi lục trên you tube thấy có bài hát A Thousand Kisses Deep. Tôi thích the melodies và cái giọng hát rất khàn đục của ca sĩ. Lyrics của bài hát này nói về cuộc sống khá sa đọa nhưng lại biểu lộ phảng phất nét cứu chuộc (redemption) rất an ủi tâm hồn. Mời các bạn nghe bài đã post ở blog trước.