Rừng tàn thu

cỏ cattail trong frost
Cỏ cattail trên đồng khi bị sương giá
cuối thu với đàn vịt trên sông
Chơi đùa với bạn trên mặt hồ
Cô đơn
Lãng tử cô đơn
trên sông
Ba loại chim vịt sống hòa bình trên hồ
trái đẹp
Trái đẹp
bắt gặp chim đang ăn đấy nhé
Đang gắp trái hoang
Ăn trái lê dại
Ăn trái
đang nhìn
Nhìn ai?

Trời cuối thu rồi em ở đâu.
Nằm bên đất lạnh chắc em sầu. 

Bài thơ Gửi Người Dưới Mộ của Đinh Hùng còn dài nữa. Buồn. Liêu Trai. Bài thơ u ám quá tôi không muốn chép thêm. Nghĩ đến bài thơ này vì trời đã cuối thu, và cũng vì bà chị tôi ở Houston, chị vừa trở thành góa phụ hai tháng nay, đến nhà tôi chơi. Giá mà có thể đổi được chữ em thành chữ anh, để dùng bài thơ tưởng tượng đến tâm sự của chị. Continue reading Rừng tàn thu

Xin cho em còn một xe đạp

Thỉnh thoảng tôi gặp ở blog bạn chụp ảnh chiếc xe đạp được dùng để trang trí. Xe đạp dựng dưới cửa sổ, có lẳng hoa, có ánh sáng và bóng tối, nhất là những chiếc xe đạp ở một góc phố nhỏ miền quê ở châu Âu. Rất đẹp. Đáng yêu. Tôi đi một vòng phố nơi tôi làm việc, chụp ảnh xe đạp, không có cái đáng yêu, nét đẹp thanh nhã đầy nghệ thuật. Thì cuộc đời mà, không phải cái gì mình muốn cũng có được. Thôi thì có gì khoe nấy.

Nhớ một vài câu hát về xe đạp. Xin cho em còn một xe đạp. Xe xinh xinh để em đi học. Từng vòng từng vòng xe. Là vòng đời nhỏ bé. Đạp bằng bàn chân gót đỏ hoe.

Thấy rõ nhé. Ngay cả cái đẹp trong nghệ thuật, thi ca, âm nhạc, người ta cũng chuộng cái trẻ, cái đẹp cái giàu. Chỉ có mấy câu mà người đọc biết ngay đây phải là một cô học trò đẹp, và giàu. Nghèo thì chân lấm bùn, gót nứt nẻ làm sao có gót đỏ hoe.

 

Bốn ngày ở Houston

Không phải nơi tôi ở không có người Việt. Có nhiều nhưng tôi ít gặp (vì ít khi đến chỗ hội hè họp mặt) và không quen (vì kém giao tiếp). Trong bốn ngày ở Houston, tôi gặp rất nhiều người Việt. Ra đường thấy phố xá với rất nhiều cửa hàng của người Việt với những cái tên rất Việt của những năm trước 75 ở Sài Gòn, thí dụ như Phở Đa Kao. Cả đại gia đình của tôi ai cũng nhiều bạn, chỉ có tôi là ít bạn, hầu như không giữ được người bạn nào.

Lễ hóa tang của người anh tôi được chị tôi tổ chức trong chùa. Xong lễ người tham dự được mời ở lại dùng cơm chay. Vì lễ của anh tôi tổ chức cùng với nhiều gia đình khác nên bữa ăn có rất đông người. Toàn là người Việt. Chị tôi trước kia đi dạy học, nên bạn bè của chị nhiều người cũng làm nghề dạy học. Chị nhờ tôi chụp ảnh khách tham dự, nhưng tôi không quen chụp ảnh người nên tôi rất ngượng ngùng. Tôi giơ máy lên chụp chung, đứng xa xa, thì có một cô khách quay mặt đi chỗ khác. Chờ tôi bấm máy xong mới quay mặt lại làm tôi cụt hứng. Tôi chụp vội vàng vài tấm rồi thôi. Tàn tiệc chị tôi mới nhắc nhớ là tôi chụp khách mà không có chị lúc chị ngồi trong bàn tiệc. Giá mà chị nói là nhớ chụp ảnh chị chung với khách thì chắc là tôi không vô ý như thế.

Tôi ngồi chung bàn với vài người bạn của chị. Có một vài người đã hơn bảy mươi. Một chị ngồi đối diện với tôi đi với chồng, ông ấy ăn chay trường đã mấy năm. Hay thật, đàn ông mà không nhậu nhẹt lại ăn chay trường! Nghe nói trước kia ông làm Cảnh Sát. Bà làm nghề dạy, Tiểu học. Trong bữa ăn, tình cờ tôi nhìn thấy bàn tay của bà đeo cùng một ngón tay, ngón áp út, ba chiếc nhẫn hột xoàn. Một chiếc có hột xoàn rất to, loại tròn. Một chiếc gồm nhiều hạt nhỏ. Còn chiếc thứ ba thì tôi không nhớ kiểu. Chỉ nhớ ánh sáng từ cửa sổ chiếu vào ba chiếc nhẫn, hắt vào mắt tôi. Sáng lấp lánh. Tôi không nhớ bàn tay của bà có đẹp hay không, có béo ụ đến cỡ nào. Bà thuộc loại khá béo, mặt mày tô vẽ đủ thứ màu, chân mày đậm, môi đậm màu son đỏ ăn cả buổi vẫn còn màu, mí mắt chuốc mascara dày đậm. Bà nói chuyện vui vẻ, họat bát nhưng dễ thương nhã nhặn, vẫn còn phong cách của nhà giáo. Nghe nói bây giờ bà làm nghề dạy các cô học nail để lấy bằng hành nghề.

Khi ra về, tôi đi chung với chị tôi và hai bà bạn của chị. Không hiểu vì sao câu chuyện lại đi đến chỗ ba chiếc nhẫn kim cương của chị bạn tên Thật. Chắc là tại vì tôi trầm trồ ba chiếc nhẫn to. Chị Thái, bạn chị tôi, lên tiếng.
– Sao tôi chẳng bao giờ nhìn thấy nữ trang của người ta đeo nhỉ? Vào nhà người ta tôi cũng chẳng bao giờ để ý đến bàn ghế đồ đạc cả. Có người cứ than nhà tôi chưng bày sơ sài lắm, chẳng có đồ đạc gì cả. Tôi nghĩ ơ hay, tôi đến thăm có phải để nhìn ngắm đồ đạc của các bà các ông ấy đâu.
– Thì ngồi ở bàn ăn, mình lại ngồi đối diện, chị ấy dùng tay phải gắp thức ăn, nhẫn kim cương đeo ở ngón tay của bàn tay phải, mình nhìn và gắp thức ăn thì mình phải thấy kim cương trên ngón tay thôi. Chị Hậu, một người bạn khác của chị tôi, đáp lời.
Thật đúng như vậy, tôi là người hay quan sát, bản tính của những người đang học đòi viết văn, tôi nhớ nét mặt cách nói chuyện của chị Thật nhưng tôi không nhớ nữ trang trên tai hay trên cổ mà chỉ nhớ ba cái nhẫn kim cương trên ngón tay. Tôi không mê nữ trang. Tôi khá quê mùa cục mịch, tướng không sang nên kim cương càng to thì người ta càng nghĩ là đồ giả. Người sang, đeo đồ giả người ta tưởng thật. Người không sang, đeo đồ thật người ta tưởng giả. Coi như đó là điều may, càng ít ham mê càng giảm hệ lụy.

Chị tôi kể lại. Chị Thật mê kim cương từ hồi còn trẻ. Chị là cô giáo dạy con của chị tôi, cháu Q. Có lần chị than thở, buồn quá, chị mất một món nữ trang. Chị đoán có lẽ chị gói trong một miếng khăn giấy, mở ra mở vào rồi rơi mất trong lúc đi chợ. Mấy tháng sau chị tìm thấy món nữ trang này ở đâu đó trong nhà chị. Cháu Q. nói:
– Sao cô không nói sớm. Tội nghiệp con mấy tháng nay, kể từ hôm cô nói cô đánh rơi món nữ trang, ngày nào con cũng đi chợ mà không nhìn không mua gì cả vì mắt luôn luôn nhìn xuống đất.

Bốn ngày ở Houston, gặp nhiều người Việt, nghe nhiều chuyện vui để kể. Nghĩ cho cùng, có lẽ chúng ta đều mong muốn được chiêm ngưỡng, hay ngưỡng mộ. Có khác gì đâu giữa một người khoe nữ trang với một người khoe nhan sắc, hay khoe ảnh đẹp, khoe trí tuệ, khoe tài năng, khoe nghệ thuật, khoe tư tưởng. Tự trong lòng mỗi chúng ta đều có một khao khát thầm kín được người khác chú ý, yêu quí chúng ta vì một cái gì đó, được thể hiện qua một vật thể hữu hình hay trừu tượng. Có phải thế không?

 

Đi tìm chiếc lá cuối cùng.

chiếc lá cuối cùng

Hôm trước đi rừng, thấy một người đàn ông đi ngược chiều. Chúng tôi chào hỏi nhau. Ông Mỹ này cao lớn, tóc tai râu ria rậm rạp. Ông nói thật là một ngày đẹp trời tuyệt vời để đi rừng. Ông đi không ba lô không gậy chống không có mang nước uống. Trong tay ông là cái máy ảnh có gắn sẵn lens. Tôi nói máy ảnh của ông tốt quá. Ông cười cám ơn và nói: “Tôi đi tìm chiếc lá cuối cùng.” Thảo nào ông đi có vẻ thơ thới, mắt ngước lên như nhìn trời, nhìn ngọn cây.

Tôi bắt chước ông cũng đi tìm chiếc lá cuối cùng, chụp nhiều tấm nhưng mờ, xấu ỉn. Tấm này cũng chẳng đẹp nhưng may là nó ngay tầm mắt.

Nói đến chiếc lá cuối cùng thì nhớ câu hát. “Đêm qua chưa mà trời sao vội sáng.” Lại nhớ thiên hạ cãi nhau vì có một ca sĩ đã hát “Đêm chưa qua mà trời sao vội sáng.” Ca sĩ bị chê là thiếu tâm hồn nghệ sĩ, thiếu khả năng hiểu câu thơ nên không phân biệt được nghĩa của hai chữ trong câu, chưa qua hay qua chưa. Chỉ đổi vị trí mà đổi ý của ca từ. Một câu ngầm nghĩa của câu hỏi, đầy bâng khuâng. Còn câu kia đầy tính xác định. Chắc là vì mùa hè, nên mặt trời lên nhanh. Bốn giờ sáng thì vẫn còn là đêm, nhưng đã thấy ánh mặt trời? Hay vì mình thức đêm lẽ ra phải thấy đêm dài, nàng thơ chưa đến mà trời đã sáng?

Theo bạn thì sao? Qua chưa hay chưa qua?

Bobby đi lạc

Bobby đi lạc

Tôi gọi điện thoại cho Cá Linh, thăm con gái út vì thấy nó buồn. Công việc khó khăn hơn cô nàng dự đoán, lại ở xa nhà, thiếu bạn. Con nhỏ này giống mẹ ở chỗ ít khi dùng điện thoại để nói chuyện nên con không gọi thăm mẹ thì mẹ gọi thăm con.

“Suýt tí nữa là nhà mình có một con chó để nuôi.”
“Nghĩa là sao? Tại sao lại suýt tí nữa?”

Tôi kể vắn tắt cho Cá Linh nghe. Chủ Nhật qua, như thường lệ tôi và bố cô đi rừng. Hai ngày cuối tuần mỗi ngày chúng tôi đi chừng khoảng năm tiếng đồng hồ.

Tùy theo hướng đi, chỗ chúng tôi dừng lại để nghỉ chân thường là hai trạm. Hôm ấy chúng tôi ngừng ở Sky Top Picnic Area. Tôi ngồi nghỉ không lâu thì có một nhóm ba người, trẻ, Á châu đến ngồi ở bàn bên kia, khá xa. Họ bày fast food ra ăn. Hai người ăn trước, gọi người thứ ba, là một phụ nữ chừng hơn ba mươi. Cô này đến ăn sau vì mãi trông chừng một cậu bé nào đó. Tôi nghe cô gọi Bobby, Bobby, đến đây. Tôi ngồi quay lưng về hướng cậu bé nên nhìn thấy người đàn bà mà không nhìn thấy Bobby. Ăn xong chúng tôi thu dọn và đi tiếp. Ông Tám đi trước, tôi đi sau. Lấn quấn bên chân ông Tám là con chó nhỏ màu trắng. Bobby là tên của con chó này đây, tôi đoán ra. Mặc cho mẹ Bobby kêu réo, Bobby cứ đeo theo ông Tám, ngửi tay ngửi chân, và chạy lon ton dẫn đường. Bobby ngừng chỗ này một chút, chỗ kia một chút, thỉnh thoảng nhấc chân lên tè vào gốc cây này gốc cây kia như để đánh dấu. Khi chạy trước ông Tám, khi chạy sau, khi chạy bên trái, lòn qua bên phải.

Đoạn đường từ Sky Top Picnic Area sang Nature Trail Science Center đang lúc xuống dốc, tương đối dễ đi, cây cối không chằng chịt lắm, có khá nhiều cây thông cao. Mẹ Bobby đi theo vài bước cứ gọi Bobby comeback nhưng nó chẳng buồn đếm xỉa tiếng mẹ gọi mà cứ tung tăng chạy theo ông Tám. Bobby hoàn toàn chẳng chú ý đến tôi đi phía sau. Thỉnh thoảng Bobby chạy ngược hướng về phía tôi, tôi đoán nó sẽ chạy về với mẹ, nhưng không, nó lại đánh vòng, đuổi theo ông Tám. Ai nuôi chó thì cũng biết, cứ trông cái dáng của một con chó con chạy thật nhanh, đuôi cong tai cụp, dễ thương lắm.

Cuối con dốc qua khỏi rừng thông, con đường mòn rẽ tay mặt. Quẹo tay trái sẽ dẫn ra đường lớn. Quẹo một nhánh khác cỡ 45 độ bên trái thì sẽ dẫn về Felt Village. Đến đây tôi vẫn không thấy đám người đi tìm Bobby. Tôi đâm ra lo ngại. Bobby chạy về hướng Felt Village. Nếu nó đi lạc, nó sẽ khó mà tìm lối về, bởi vì nó chỉ là con chó con, chưa phát triển đủ khả năng săn hay đánh hơi đường về. Ông Tám tỉnh bơ dấn bước. Tôi ngồi xuống, đưa tay ra gọi con chó. Bobby Bobby come here. Bobby đã chạy khá xa sang hướng Felt Village nhưng nghe tiếng tôi và không nhìn thấy ông Tám nên chạy ngược lại. Nó không ngừng ở chỗ tôi mà lại chạy quấn bước ông Tám. Tôi nói.

“Mình mang con chó trở lại cho ba người đó đi. Chứ nếu nó đi lạc trong rừng này thì chỉ có chết. Trời lạnh rồi.”
“Chó của người ta thì để người ta lo. Đường mình đi thì đi. Sao lại lo chuyện của người. Chó của họ mà họ chẳng đi tìm, chẳng chạy theo thì thôi.”

Tôi không đồng ý với ông Tám, nhưng không nói gì. Chúng tôi lẳng lặng đi. Bobby tung tăng chạy theo dường như thấy cuộc đi chơi rất thú vị. Thỉnh thoảng tôi bế nó lên vì sợ nó mỏi. Ở cổ Bobby có tấm lắc có số điện thoại số vùng (area code) khác số vùng của tôi cũng như khu vực hiking.

“Có số điện thoại của chủ nó, mình gọi họ đi.” Tôi nói.
“Dù gì cũng phải đến Nature Science Center, đến đó rồi gọi họ đến nhận con chó. Ở đây giữa rừng có gọi họ cũng chẳng biết đường mà đến.”

Bobby bé lắm, nhỏ hơn cả Nora của tôi. Khi tôi bế nó lên tay nó liếm mặt liếm tay tôi, cũng không có vẻ gì đòi xuống đất. Tôi bế nó đi một chút thì thả nó xuống. Nó tung tăng chạy theo ông Tám, thỉnh thoảng ngừng, cào lá, ngửi, đào bới, phục người như rình, tôi kiên nhẫn đứng chờ. Thỉnh thoảng gọi nó nhắc chừng nó đi theo sợ nó lạc vào rừng. Bobby chỉ chạy theo đường mòn chứ không nhào vào bụi rặm như tôi lo ngại. Ông Tám nói, thấy nó khôn chưa, nó biết đường mòn mà.

Từ Picnic Area đến Trail Center đi bộ thong thả chừng một giờ đồng hồ. Tôi đi được nửa giờ thì nghe tiếng gọi la hét um sùm. Một người đàn ông Mỹ có con chó chạy xổng vào rừng. Ông tìm không thấy, kêu réo um sùm. Hỏi chúng tôi có nhìn thấy con chó con màu đen không. Con chó tên Molly. Chó khi vào rừng thường hay xổng chạy mất. Không hiểu tại sao, vì mùi rừng đánh thức bản năng săn bắn hoang dã hay vì nhiều người nhiều chó qua lại trên đường mòn làm tràn ngập khả năng đánh hơi của chó? Một lúc sau tôi nghe có tiếng chân phía sau, nhìn lại thấy hai người có vẻ là vợ chồng rất trẻ có dẫn một con chó loại pitbull cao lớn có dây xích cổ. Tôi nói với hai người.

“Ông bà giữ dùm con chó của ông bà. Phía trước có con chó nhỏ tôi sợ con chó của ông bà quật chết con chó nhỏ ấy.”
“Vâng. Vâng. Không sao đâu, con chó của chúng tôi thân thiện lắm.”
Nói thế nhưng họ cũng giữ chặt dây xích. Bobby nhảy bổ lại sủa con chó pitbull inh ỏi. Hai vợ chồng mỉm cười. Cả hai người đều rất trẻ, tuổi hơn ba mươi. Người chồng cao lớn như dân chơi football.
“Con chó không phải của chúng tôi. Nó bỏ rơi chủ của nó và chạy theo chúng tôi cả tiếng đồng hồ.”
“Thế à? Tôi cứ tưởng con chó là của ông bà.”

Cô vợ đưa dây xích chó cho anh chồng giữ. Cúi xuống bế Bobby lên tay, giọng cô trìu mến.
“Con đi lạc đấy à?”

Cô rút điện thoại ra, gọi số điện thoại đeo trên cổ Bobby, rồi bảo chúng tôi.

“Ông bà có thể đi trước, chúng tôi sẽ lo cho Bobby.” Cô nói.
“Dự tính của ông bà như thế nào?” Tôi hỏi.
“Chúng tôi sẽ mang nó đến Trail Center và chủ của Bobby sẽ đến đón.”

Chúng tôi đi, họ cũng đi. Cô vợ dắt con chó lớn. Anh chồng bế Bobby như bế một đứa con. Trông cái cách họ quán xuyến chuyện con chó tôi thấy cảm động. Hai người rất trẻ, có lòng nhân, thương thú vật. Họ biết ngay họ cần phải làm gì, và chẳng ngại ngần phải làm những công việc nằm ngoài kế hoạch của một ngày Chủ Nhật.  Họ đi rồi tôi tự hỏi mình. Họ mang con chó đến Trail Center, cũng cùng đường với mình, tại sao mình không làm chuyện này.

“Thấy chưa. Họ cũng làm đúng như anh nghĩ.” Ông Tám nói.

Chắc chắn là tôi không bao giờ có thể bỏ Bobby trong rừng. Tôi có nghĩ đến chuyện gọi người chủ của Bobby nhưng bản tính của tôi rất ngại tiếp xúc với người không quen. Tôi sợ, nếu như họ cố tình bỏ Bobby vào rừng vì không muốn nuôi nữa, họ sẽ không trả lời điện thoại, hoặc trả lời mà không nhận đó là con chó của họ. Tôi sẽ làm gì với con chó? Khi tôi bế Bobby lên tay, nó liếm má tôi, tôi đã có ý nghĩ là giữ con chó để nuôi, đúng là một thứ tà tâm.

“Tưởng là có duyên nợ với con chó nhưng té ra không có.” Tôi nói.
“Nợ nhiều hơn duyên.” Ông Tám nói.

Đã nhiều lần tôi nhìn thấy tôi mê mẩn nhìn những con chó nhỏ. Nora sẽ phản ứng như thế nào nếu tôi mang Bobby về. Tôi muốn đi chơi mà không ai trông chừng Nora, nếu có thêm Bobby thì sao. Bốn giờ sáng Nora đánh thức tôi, cho Nora ăn, cho Boyfriend ăn. Rồi tôi phải dẫn Bobby đi đồng. Khi bế Bobby trên tay, một chút xíu là tôi bảo tôi phải thả Bobby xuống đất. Nó chỉ cần hôn tôi vài ba cái là tôi sẽ phải lòng nó và tôi sẽ trở thành một bà già ăn trộm chó.

Kể Cá Linh nghe, một chút điểm tô cho một ngày Chủ Nhật yên lặng.

Ăn, đọc, xem, nghĩ

Ăn gì để không chết? Ăn gì rồi cũng chết!

Thú thật, tôi là người luôn luôn bị ám ảnh bởi cái chết. Từ nhỏ đến giờ tôi chết hụt mấy lần. Kể từ sau khi vượt biên, ám ảnh về cái chết dường như nặng nề hơn. Tôi biết mạng sống con người mong manh lắm, nằm ngoài tầm kiểm soát của mình. Tuy nhiên không phải lúc nào chết cũng dễ. Có vài người tôi biết mỗi buổi sáng thức giấc vẫn than thầm mình vẫn còn sống à. Tôi cho là sau chuyến vượt biên, mỗi ngày còn sống là một ngày bonus; vì vậy, tôi cố gắng tận hưởng cuộc sống của mình trong giới hạn tôi có thể hưởng thụ. Nghĩ đến cái chết là bởi vì gần đây tôi đọc thấy bản tổng kết của WHO cho biết những món ăn có thể gây ung thư như hot dog, sausage, v. v… Tôi thấy upset tí tí. Tôi không thường ăn hot dog. Năm khi mười họa cả năm ăn hot dog chừng một hai lần, mỗi khi đang đi ngoài đường, đói bụng, thèm ăn mà không muốn vào quán. Lần nào ăn thì tôi cũng rất enjoy. Thêm vào nỗi khó chịu khi biết ăn hot dog có thể gây ung thư, là biết có hai hay ba phần trăm DNA của con người. Ngày xưa, người ta gọi cái xúc xích là hot dog là vì khi phân tích nội dung của xúc xích người ta thấy có thịt chó. Làm sao mà DNA của người lọt vào hot dog, người ta đổ mồ hôi, chảy nước mắt, nhổ nước miếng, hay tệ hơn nữa như tè vào đó? Chẳng lẽ khi người ta băm vằm thịt bằng máy người ta bị rớt ngón tay, cánh tay vào. Hay tệ hơn nữa có người bị giết và thủ tiêu vào trong đó? Tôi ớn quá từ nay không dám ăn hot dog hay sausage nữa. Mà sausage (dồi Ý) nấu theo kiểu Ý, chung với ớt ngọt (bell pepper), củ hành tây, sốt cà, ăn rất ngon nhé. Món này thì cả năm tôi cũng chỉ ăn một hai lần là cùng. Hay là kiêng ăn thịt luôn. Kiêng gì nổi. Hôm thứ Ba đi tập tài chí dù đã ăn trưa, ngang qua cửa hàng hamburger mới mở nướng bằng than bốc mùi thơm phứt tôi đã phải phấn đấu với mình là no rồi đừng có ham ăn mà mau chết.

Đọc gì lúc sau này. Game of Thrones vừa đọc vừa nghe đọc được hơn phân nửa quyển số một. Nghe nguyên bộ Shakespeare về bi kịch hài kịch lịch sử do một giáo sư trường Darthmouth College dạy, nghe hai lần mà chẳng nhớ gì hết vì nghe trong lúc lái xe đi làm, đầu óc lơ đãng. Tò mò đọc về kiếm Excalibur, Arthur, đọc vun vặt mấy quyển sách giáo khoa về văn học, truyện ngắn. Quyển The Story and Its Writer do Ann Charters biên soạn rất hay. Bạn nào muốn tìm hiểu thêm về cách viết truyện ngắn do chính tác giả nói về tác phẩm của họ thì quyển này rất tuyệt, rất có ích. Dĩ nhiên không ai có thể dạy ai viết, như dạy ai cách làm tình. Đọc và nhận xét có thể rút ra nhiều kinh nghiệm viết có thể dùng cho chính mình. Điều đầu tiên mỗi người viết phải tự hỏi, mình muốn viết cái gì, mình có chuyện gì để kể. Tôi đọc xong quyển Moviemakers’ Master Class, trong đó các nhà đạo diễn “dạy” cách làm phim. Ngạc nhiên dành cho các bạn, có bài dạy của đạo diễn Vương Gia Vệ nói về phim In the Mood for Love. Người ta nói rằng sau khi xem phim này bạn sẽ ngạc nhiên là phim vẫn hay dù không có cốt truyện. Tôi đang đọc quyển sách của David Bellos, “Is That the Fish in Your Ear?” gặp một trang về dịch thơ rất thú vị để lúc khác sẽ nói.

Xem gì mấy tuần nay, nhiều quá không biết đâu mà kể. Đang tò mò về phim thể loại fantasy và kiếm tôi xem bộ phim Merlin. Tối qua xem xong Ex Machina. Phim này cùng thể loại với “Her.” Đối thoại khá trí thức, thứ trí thức của những người làm khoa học kỹ thuật, tôi không hiểu họ thật sự muốn nói gì, những điều họ nói có vẻ khoa học nhưng tôi không biết nó có dựa trên sự thật và nếu có thì bao nhiêu phần trăm hay đó chỉ là chữ to lớn nhưng không có ý nghĩa.

Nghĩ gì? Không nghĩ gì hết. Tôi nhồi nhét đủ thứ linh tinh vụn vặt vào cái đầu nhỏ bé và già cả của tôi. Mọi suy nghĩ cảm nhận đều bị nhận chìm trong một mớ hổ lốn tin tức, chi tiết. Tôi thèm có một thời gian yên tĩnh trong tư tưởng.

Nhặt nhạnh

Có một đêm trời lạnh, Nora nhảy lên giường của tôi, chen vào giữa, rúc vào trong chăn, dúi đầu vào người tôi. Tôi để yên, chập sau cô nàng ngáy rù rù. Tôi phải che cô nàng, sợ ông Tám trở mình đè lên con mèo, tuy khá béo, nhưng với tôi vẫn bé nhỏ như một đứa trẻ. Tôi nghĩ đến con mèo hoang Boyfriend. Trời lạnh như thế này không biết nó trú ẩn ở đâu.

Nghĩ cho cùng, mọi chuyện xảy ra trên đời như là một sắp xếp tình cờ. Tình cờ mình sinh ra ở đâu, môi trường nào đó, may mắn nào đó mà tồn tại, giàu nghèo, đói no, … . Cũng là kiếp mèo mà một thì sung sướng ấm áp như Nora tin cậy loài người, một đói lạnh như Boyfriend lúc nào cũng sợ hãi trốn chạy. Sáng hôm qua, tôi thấy chén thức ăn tôi mới châm đầy lúc 6 giờ sáng, để Boyfriend có đói thì đến ăn, đã bị một con Racoon ăn sạch sành sanh. Racoon rất dạn và dữ, có thể tấn công loài người, trong khi những con thú khác như ground hog thì hiền lành và nhút nhát hơn. Tôi cũng thấy mấy con blue jay thường hay đến ăn thức ăn còn thừa của Boyfriend.

Buổi sáng trước khi đi làm tôi thường cho Boyfriend ăn, nhưng không muốn thức ăn bị racoon ăn chận. Lại tự hỏi chúng đều là thú vật, tại sao mình cho mèo hoang ăn, cho nai ăn, mà lại không muốn cho racoon ăn? Tại sao có một bà Mỹ nào đó đánh bẫy bắt hết mấy con chim sẻ mỏ cứng đem giết, với lý do chim này giết một loại chim khác có màu lông đẹp, mà không nghĩ bà làm như thế là đi ngược lại với thiên nhiên. Một người đem thức ăn cho sóc và chipmunk nhưng lại đánh bẫy mấy con chuột rừng, sao không nghĩ chuột rừng cũng là thú vật và sóc với chipmunk cũng cùng họ hàng với chuột thôi.

Nhiều khi thuận lòng mình thì ngược lại với thiên nhiên. Tôi đã lỡ cho mèo hoang ăn, tức là tôi cũng đã có phần nào đó làm hư hại khả năng kiếm ăn của con mèo. Nếu một ngày nào đó tôi không thể tiếp tục cho mèo hoang ăn được thì có phải là tôi cũng có phần nào giết hại nó không?

Người ta đang lo chuyện lớn của xã hội; trẻ em bị bỏ rơi giết hại hằng ngày. Tôi già cả bé mọn chỉ có thể nghĩ đến những điều bé mọn chung quanh tôi, như sự no ấm của hai con mèo.