Chung quanh phim The Shape of Water

Cuối cùng rồi tôi cũng xem được phim “The Shape of Water.” Có lẽ vì phim của đạo diễn danh tiếng Guillermo del Toro, lại được nhiều giải Oscars, nên tôi cảm thấy hơi ngỡ ngàng, vì phim không hay như tôi tưởng tượng. Come on! What do you expect? If the film were yours what you could (or would) have done to make it better? Tôi tự chế nhạo mình là một người ăn nói bố láo. Tuy nhiên tôi nhận ra cái thành kiến trong con người mình. Có lẽ giải Oscar và những bài điểm phim làm tôi có một ấn tượng nhất định, rằng phim phải thế này hay phải thế kia. Có lẽ phong trào #MeToo đã loại bớt những nhà đạo diễn, diễn viên, nhà sản xuất phim, ra khỏi giải Oscar, để tránh những đàm tiếu hay thưa kiện, thậm chí chửi bới tại chỗ và tận mặt người đáng bị chửi bới trong buổi lễ trao giải nên The “Shape of Water” trở thành trái táo độc nhất trong mắt người chọn giải thưởng?

Nếu không trao giải cho “The Shape of Water” thì trao giải cho ai, phim nào? Không biết, vì tôi chưa xem hết những phim được đề cử. Nhưng “The Shape of Water” không hay chỗ nào? Không. Tôi không nói nó không hay. Tôi chỉ nói là nó không hay như tôi tưởng tượng. Có lẽ vì tôi so sánh nó với “Pan’s Labyrinth,” truyện trong phim “Pan’s Labyrinth” phong phú hơn, lắt léo hơn, nhiều thể loại xung đột tình cảm, cá tính, phong tục hơn phim “The Shape of Water.”

“The Shape of Water” có những cái hay ngầm. Nhân vật trong phim là những người thuộc giai cấp đứng bên lề xã hội thượng lưu; họ là người nghèo (nhưng không hèn), thấp (nhưng không kém) trong xã hội, người tàn tật, câm (không điếc), người da màu, lao công lau dọn, họa sĩ nghèo, người đồng tính luyến ái, cho họ có cơ hội đứng lên nói thẳng vào mặt những ông chủ người da trắng độc tài xem người như cỏ rác.

Khúc phim quay dưới nước rất đẹp. Thủy quái merman được thiết kế rất cầu kỳ. Đạo diễn Guillermo del Toro muốn nhân vật thủy quái này như là một vị thần. Ông kết hợp Beauty and The Beast với the Mermaid. Cô con gái của Long Vương lên bờ tìm hoàng tử phải đánh đổi bằng tiếng nói và giọng hát của nàng còn The Beast trong phim này không biến thành hoàng tử chỉ mang nàng tiên cá trở về đáy sâu của biển.

Với tôi thích nhất là giọng nói của Giles ở đầu phim, bài hát, và mấy câu thơ ở cuối phim. Thấy Tống Mai chủ nhân Khung Cửa Hẹp đã đăng mấy câu trích dẫn trong phim:

“Unable to perceive the shape of You,
I find You all around me.
Your presence fills my eyes with Your love,
It humbles my heart,
For You are everywhere.”

Không thể hình dung ra hình dáng của Ngài,
Tôi tìm thấy Ngài khắp nơi, chung quanh tôi
Mắt tôi chứa đầy ắp tình yêu của Ngài
Trái tim tôi trở nên bé mọn,
Bởi vì tình yêu của Ngài thật quá bao la      

Guillermo del Toro đã so sánh, tình yêu cũng như nước, không có hình dạng cố định mà thay đổi hình dạng theo cái bình, hay bất cứ hình tướng nào sắc tướng nào chứa đựng nó. Vì muốn khán giả xem thủy quái như là Thần, hay Chúa, del Toro đã trích dẫn đoạn thơ của nhà thơ cổ Persian (Ba Tư hay Iran hiện nay). Đoạn thơ này trong tập thơ The Walled Garden of Truth.

Xin mời bạn nghe bài hát trong phim, tác giả là Alexandre Desplat Feat, giọng hát của Reneé Fleming.

You’ll never know
Just how much I miss you
You’ll never know
Just how much I care

Chàng sẽ không bao giờ biết
Nỗi nhớ của em
Chàng sẽ không bao giờ biết
Tấm lòng em  
  

And if I tried I still couldn’t hide
My love for you
You oughta know
For haven’t I told you so
A million or more times

Dù cố lắm em vẫn không thể giấu
Tình yêu  em dành cho chàng
Lẽ ra chàng phải biết
Em đã chẳng thố lộ bao nhiêu lần đó sao     

You went away and my heart went with you
I speak your name in my every prayer
If there is some other way to prove that I love you
I swear, I don’t know how

Chàng ra đi mang theo trái tim em
Em thầm gọi tên chàng hằng đêm qua những lời cầu nguyện
Nếu có cách nào để chứng minh tấm lòng của em
Em thề, thật là em không biết      

You’ll never know if you don’t know now

Chàng sẽ không bao giờ biết, nếu bây giờ chàng không biết.

You’ll never know
Just how much I miss you
You’ll never know
Just how much I care

Chàng sẽ không bao giờ biết
Nỗi nhớ của em
Chàng sẽ không bao giờ biết
Tấm lòng em

You said goodbye
Now storms in the sky
Refuse to shine
Take it from me, it’s no fun to be alone

Chàng nói lời giã từ
Trời trở nên bão tố
Nắng đi không trở lại
Hãy tin em, “làm người ở lại có bao giờ vui”  
   

With moonlight and memories
You went away and my heart went with you
I speak your name in my every prayer
If there is some other way to prove that I love you
I swear, I don’t know how

Kỷ niệm nào dưới bóng trăng xanh
Chàng ra đi mang theo trái tim em
Em thầm gọi tên chàng hằng đêm qua những lời cầu nguyện
Nếu có cách nào để chứng minh tấm lòng của em
Em thề, thật là em không biết

You’ll never know if you don’t know now

Chàng sẽ không bao giờ biết, nếu bây giờ chàng không biết.

 

 

Anh ơi mùa xuân đến rồi đó

“Anh ơi mùa xuân đến rồi đó.” Tôi nghe như một nhân vật nữ của tôi thủ thỉ nói với một nhân vật khác, lúc tôi nằm trong giường nhìn ra cửa sổ. Nắng sớm rọi trên những nụ lá non chưa kịp biến thành màu xanh vẫn còn là những điểm lấm tấm đỏ mọc đầy trên ngọn cây.

Trời ấm dần. Hôm nay nhiệt độ lên cao nhất sẽ được 52 độ F (11 độ C.). Thứ Bảy và Chủ Nhật sẽ lên đến 15 độ C (60 độ F.) Ban đêm nước ở trong những chậu nhỏ để ngoài trời vẫn còn đông lại thành nước đá. Thấy bạn bè than trời Sài Gòn tháng Tư nóng quá mà thương. Giá mà tôi có thể san qua sớt lại để ai cũng thấy ấm áp hay mát mẻ dễ chịu.

Những lần đi rừng, tôi thấy cây ramp đã mọc lên xanh biếc. Ramp là một loại tỏi hay hành mọc hoang. Người ta đào củ non và lá non để làm gia vị. Loại này nếu thái thành sợi tráng trứng omelet rất được người Mỹ yêu chuộng. Người ta cũng trộn chung với các loại rau lá khác làm thành xà lách. Tôi thấy mùi của nó giống như củ kiệu.

Ngoài ramp, các loại hoa dại khác, chỗ nào có nắng là cỏ hoa mọc nhiều. Tôi thấy có một loại hoa nhỏ màu tím mọc ven theo lối đi. Hoa vàng cánh bóng loáng, thoạt nhìn tưởng hoa giả, làm bằng nhựa bóng. Hoa trắng gần giống như cúc cũng nở nhiều. Hoa dại luôn làm tôi nghĩ đến những người viết văn (hay làm thơ) chưa nổi tiếng, thầm lặng khoe màu sắc trong ánh sáng mặt trời.

Rừng vẫn hoang dại, trong cái vẻ lạnh lẽo khô khan, tôi nghe như đất bắt đầu thức giấc, cho cây cỏ trồi lên, sức sống trong cây khô bắt đầu chuyển mình. Đi đâu tôi cũng nghe tiếng chim rừng đối đáp với nhau. Ở một góc rừng có tiếng chim hót theo nhịp điệu đặc biệt, nghe như tiếng Morse Codes “lan lan lý, lan lý lan lan”. Và ở một góc rừng khác lập lại nhịp điệu này. Có thể loài chim đang tỏ tình với nhau. Tiếng hót càng lúc càng đến gần nhau hơn, có lẽ chàng và nàng nương theo tiếng hót mà tìm đến với nhau.

hoa trắng
Hoa dại trên đường hiking
vài đóa hoa đầu xuân mọc ở góc hàng rào sau nhà
Forsythia (hoa đầu xuân theo tự điển, hay mai Mỹ) mọc ở góc hàng rào sau nhà

 

Đọc Mùa Chinh Chiến Ấy và Dấu Binh Lửa

mùa chinh chiến

dấu binh lửa

Đọc “Mùa Chinh Chiến Ấy” của Đoàn Tuấn và “Dấu Binh Lửa” của Phan Nhật Nam.

“I hate war as only a soldier who has lived it can, only as one who has seen its brutality, its futility, and its stupidity.

“Tôi thù ghét chiến tranh chỉ như một anh quân nhân từng trải qua cuộc chiến tranh, chỉ như một người từng nhìn thấy sự tàn bạo, vô ích, và ngu xuẩn của nó.”

Dwight D. Eisenhower (1890-1969). Speech, Ottawa (Canada), 10 January 1946.

“The first casualty, when war comes, is truth.”

“Cái chết đầu tiên, khi chiến tranh đến, là sự thật.”

Hiram Johnson (1866-1945) California governor and U.S. senator.

Sinh năm 1960, Đoàn Tuấn tham gia chiến trường Kampuchia năm 1978, bộ đội tình nguyện. Phan Nhật Nam, lính Việt Nam Cộng Hòa, biết mùi khói lửa khi Đoàn Tuấn mới vừa ba tuổi. Khi Đoàn Tuấn đang sống chết ở núi rừng Kampuchia thì ông Phan Nhật Nam đang bị giam trong trại tù, chín lần chuyển trại từ Nam ra Bắc. Hai người ở hai chiến tuyến khác nhau, dưới hai chế độ đối nghịch nhau, sự khác biệt tưởng chừng đã đến mức tột cùng của hai thái cực, thế nhưng hồi ký chiến trường của họ lại có những điểm tương đồng.

Đoàn Tuấn bắt đầu “Mùa Chinh Chiến Ấy” bằng bài thơ dài của Lê Minh Quốc, nhà thơ và cũng là bạn đồng ngũ. Phan Nhật Nam cũng bắt đầu “Dấu Binh Lửa” bằng bài thơ, cũng dài, do chính ông sáng tác ba mươi năm sau khi đọc lại quyển hồi ký của chính ông viết, ở Mỹ. Nhờ bài thơ dài này mà tôi chú ý Phan Nhật Nam cũng quen thuộc với chiến trường Kampuchia.

Quân tràn sóng lũ về phương Tây
Ôi Việt, Miên nào riêng thảm cảnh
Bên đường tượng Phật buồn chắp tay
Phật thấm xót đau đá vỡ nức [sic]
Oán hận rây mờ tán thốt nốt
Minot, Kompong rồi Snoul
Tây tiến râu tóc cùng xám nhợt
(Phan Nhật Nam, trang iii)

Đoàn Tuấn và Phan Nhật Nam chiến đấu với niềm tin là họ đang bảo vệ lãnh thổ và người dân của họ. Họ thương yêu bạn bè đồng ngũ, họ xót xa cho người già em bé cuộc sống vất vả với quê nghèo cày xới bởi đạn bom.

Phan Nhật Nam và Đoàn Tuấn thuộc về các quân đoàn thiện chiến tham gia những trận đánh đầy máu lửa và phải đương đầu với mìn bẫy của đối phương. Vào thời của ông Phan Nhật Nam, mìn bẫy của bộ đội Bắc Việt, mua của Trung Cộng tuy thô sơ, nhưng cũng gây thương tích đáng kể. Đến thời của Đoàn Tuấn, mìn của Kampuchia do Trung quốc chế tạo tinh vi hơn, sức công phá tàn bạo hơn và có chất độc. Lính bộ đội hễ trúng mìn của Khmer đỏ, dẫu chỉ thương tích nhẹ cũng chết vì chất độc. Phan Nhật Nam tuyên bố không sợ đánh trận nhưng sợ mìn giăng. Còn Đoàn Tuấn diễn tả sự căng thẳng hãi hùng của ba người, trong đó có Tuấn, phải vượt ngang bãi mìn do chính cả hai bên gài trên trên con đường độc nhất đến căn cứ. Đoạn đường rất ngắn chỉ chừng trăm mét mà họ phải mất ba tiếng đồng hồ để vượt qua. Người đi trước cách người đi sau năm mét. Điều đáng cảm động là cả ba người đã tranh với nhau, làm người đi đầu tiên, có nghĩa là giành cái chết về phần mình.

Cả hai quyển hồi ký đều nói về những người chỉ huy có tài và được thuộc cấp kính phục, những người lính rất đáng yêu chết trẻ, và những cái chết rất oái oăm. Có những người đi đánh trận bao nhiêu ngày không sao, lại chết lúc trên đường về hậu phương để đi đại học hay được phép về thăm nhà. Cả hai tác giả đều tin rằng có những người chỉ huy có tướng “sát quân” hễ dẫn quân đi là bị địch thủ tấn công. Lính của cả hai bên đều có cùng niềm tin dị đoan là hễ nhà bếp nấu cơm sống hoặc cơm khê là sẽ gặp địch tấn công và có người chết. Lính của cả hai bên đều sợ bị nhục hơn là sợ chết. Cả hai bên đều có những người bắn đến viên đạn cuối cùng rồi tự tử nhất định không để rơi vào tay đối phương. Tuy sống chết ở chiến trường, nhưng họ cũng có lòng nhân từ với những người đối phương họ chưa hề chạm mặt.

Cả Đoàn Tuấn và Phan Nhật Nam đều trải qua cơn khát đến suýt mất mạng trên đường hành quân. Một người đồng đội với Đoàn Tuấn, đã dùng súng tự tử vì không chịu nổi cơn khát. Chính tác giả sau cơn khát ba ngày cũng ngất xỉu trước khi được người tìm được nước mang đến cứu mạng (Đoàn Tuấn, trang 434 – 437). Phan Nhật Nam và đồng đội ở Bình Giả đói và khát hai ngày. Lính phải hút nước ở rễ cây, có người gặp cây độc đứng tìm mà chết.

Đầu gục xuống, súng vác trên vai, tôi thở không những bằng mũi mà cả bằng chiếc mồm há thật lớn, chiếc lưỡi căng phồng, nhức nhối và đôi môi khô không còn chút cảm giác. Tro rừng, đất bụi bám đầy mặt mũi, bay đầy vào mồm, không còn tí nước bọt nào để nhổ ra, tôi đưa tay vào mồm chà trên lưỡi từng tảng tro đen! Quốc lộ 15 đây rồi, có thửa ruộng nhỏ bên đường, tôi úp chiếc mặt vào giòng nước đục ngầu phủ lớp bùn non… Uống! Uống! Như loài thú hoang trên sa mạc. Ngày hôm nay mới mồng tám Tết.

Về đóng quân ở quận Đất Đỏ, trong vườn cây vú sữa xanh tươi bóng mát. Tôi căng võng đọc sách, cho lính đi mua gà về nhậu với rượu đế, ngà ngà say suốt ngày. Nắng như thêu hoa trên áo, những ngày thật bình yên. Nhưng đêm thì thao thức không ngủ được, những hôm trời trăng sáng đem lính đi phục kích nằm trong rừng tiêu, cây tiêu dưới bóng trăng lạnh trông như những bóng người khổng lồ. Vẻ đẹp của khu rừng chứa đầy bí ẩn kinh dị. […] (Phan Nhật Nam, trang 58 – 59)

Cả hai tác giả, Đoàn Tuấn và Phan Nhật Nam đều có tài tả người rất sắc bén. Chỉ cần vài câu thậm chí vài chữ là người đọc có thể hình dung được nhân vật mà tác giả đang đề cập. Hai người lính mà cũng là hai nhà văn này đều có những đoạn văn tuyệt đẹp. Phan Nhật Nam có nhắc đến chất lân tinh trong lá rừng. Trong đêm tối mù mịt để dễ nhận ra và theo kịp đồng đội, người lính đã lấy lá rừng gắn lên lưng áo của người đi trước mặt. Còn Đoàn Tuấn thì có nguyên một đoạn văn dài thật lãng mạn.

Một đêm trời mưa dầm dề. Tôi và Thuận, hai võng mắc nối tiếp. Tôi giả vờ ngủ. Dưới chân chúng tôi cơ man là lân tinh, lấp lánh như dải Ngân Hà. Trời mưa. Nước từ đỉnh rừng cứ lặng lẽ rơi xuống qua những tầng lá cao thấp, tạo thành bản nhạc rả rích, thầm thì trong không gian sẫm tối. Hình như đêm càng tối, ánh lân tinh càng sáng. Thuận mới lên, còn mê mẩn ánh lân tinh. Tôi thấy Thuận lọ mọ đi nhặt từng chiếc lá đầy ánh sáng. Hắn soi lên xem có gì bí ẩn trong đó. Thứ ánh sáng ma mị, diệu kỳ. Nếu đây không phải là Anlong Veng, thì có lẽ chúng tôi nghĩ mình đang ở một xứ sở thần tiên nào đó. Tôi thấy Thuân ép từng chiếc lá vào trong cuốn sổ. Lại nhớ chuyện Thuận kể. Khi còn đi học, có những đêm mải chơi, về không kịp học bài, bọn hắn đi hái những chiếc lá thuộc bài, về ép vào trang sách, đúng chỗ có bài cần học. Sáng hôm sau, thầy hỏi bài, dù không học, nhưng nhất định trả lời được. Ôi! Tuổi học trò của học sinh miền Trung lãng mạn bao nhiêu! Sao những đứa học trò đang có những kỷ niệm vàng ngọc như vậy, lại phải giã từ sách bút, để cầm cây súng đến đồn trú nơi biên ải xa lạ này? Sáng ra, tôi để ý, thấy Thuận mở sổ. Hắn nhìn những chiếc lá tuyệt diệu đêm qua. Hỡi ôi! Chẳng còn thứ ánh sáng nào đọng lại. Chỉ còn là những chiếc lá bẩn thỉu, nhôm nhem, đầy dấu giày, đầy bùn đất. Thuận lặng lẽ vứt đi. 

Có gì khác nhau giữa đêm và ngày? Giữa ánh sáng ảo và ánh sáng thật? Giữa lãng mạn và thực tế? Giữa những gì ta ước mong và đối diện? Có điều gì mất trong Thuận không? Có điều gì giữ lại trong Thuận không? (Đoàn Tuấn, trang 201)

Đoạn văn này làm tôi liên tưởng đến một đoạn trong phim Avatar khi hai nhân vật trong phim đi trong rừng đêm, rừng tỏa ánh sáng theo từng bước chân của họ.

Đọc Mùa Chinh Chiến Ấy, tôi tìm được vài chi tiết giúp tôi hiểu biết thêm về chiến tranh Việt Nam. Vài đồng đội của Đoàn Tuấn, trong khi trò chuyện đã cho biết súng AK dùng tốt hơn súng M-15 hay M-16 của Mỹ vì loại súng này hay bị kẹt đạn. Tôi đã nghe kể điều này nhưng qua hồi ức chiến tranh của Đoàn Tuấn, chi tiết này càng đáng tin hơn. Bạn đọc sẽ dễ có cảm tình với quyển hồi ức của Đoàn Tuấn dù bạn là người của chế độ cũ. Bởi vì toàn quyển sách, mỗi lần nhắc đến người của chế độ cũ, quân đội cũ, Đoàn Tuấn đều dùng lời lẽ trang nhã và kính trọng họ như người anh, người đi trước. Bạn đồng ngũ của Đoàn Tuấn rất yêu thích nhạc vàng. Thỉnh thoảng người đọc sẽ nghe được những câu hát từ những anh lính trẻ. Thêm một chi tiết làm tôi có cảm tình với quyển sách của Đoàn Tuấn, là tác giả và các bạn đồng ngũ không gọi nhau là đồng chí. Họ dùng chữ đồng hương. Chúng ta có thể bất đồng chí hướng nhưng cùng sinh ra trên một dải quê hương.

Đọc Dấu Binh Lửa, tôi biết thêm quan niệm của ông Phan Nhật Nam về nghệ thuật viết văn. Hồi ức (hay hồi ký) thường bị phê bình, “Chỉ ghi chép những sự kiện thiếu tính chất sáng tạo.” Phan Nhật Nam tỏ ý bất bình. Ông lý luận: “Nhưng thế nào là sáng tạo? Thử nhìn vào các tiểu thuyết có rất nhiều “sáng tạo tính”, tiểu thuyết có mang một chữ “Fiction”rõ ràng như tiểu thuyết của người Mỹ, những cuốn sách ngất ngây quyến rũ có thể đọc một hơi từ đầu đến cuối. Trong đó nếu ta không gặp được những vật “ngoài đường” thì ít nhất cũng là khuôn mặt ao ước vì nỗi cao đẹp hay tội lỗi hấp dẫn của nó. Những “người tiểu thuyết” này đã tung hoành trong chuỗi hiện tượng sống động và rất “có thật”. Có thật. Tôi nắm giữ cán dao chủ động này để nhắc nhở: Hãy cứ viết, sáng tạo hay không cũng không ra khỏi đời sống. Viết đi. (Phan Nhật Nam, trang 210)

Ngoài những điểm chung đã nêu bên trên, hai ông Phan Nhật Nam và Đoàn Tuấn có thêm một điểm nữa, đó là cả hai đều may mắn sống còn để viết lại hồi ức của họ. Tôi không thể nào nêu ra tất cả điểm hay của hai quyển hồi ký này. Bạn hãy đọc đi, đọc và khóc và cười và tưởng tượng và đau xót với từng câu chuyện và từng nhân vật. Đọc để thương máu và thân thể của bao nhiêu người đã chôn vùi trên mảnh đất quê hương của chúng ta. Hãy tưởng nhớ và đừng lãng phí sự hy sinh của những người quá cố.

Thư Anna gửi từ New Jersey

New Jersey, ngày… tháng… năm

Ông An thân mến, 

Anna rất vui nhận được thư ông. Xin chia buồn việc ông bị thất lạc hành lý. Anna không dám cười sự bất hạnh của ông, dẫu sao ông cũng là ông chủ của Anna. Người làm việc phải luôn luôn kính trọng ông chủ nếu muốn được giữ công việc lâu dài. Anna cũng hân hạnh được làm bạn nhỏ. Thế từ giờ trở đi Anna đổi chữ ông thành chữ bạn lớn được chứ nhỉ? 

Căn nhà của ông thật tốt, không có gì rắc rối xảy ra. Ban đầu Anna thấy hơi lạ lạ vì nó vừa hẹp vừa dài, chiều dài của hai toa tàu ghép lại. Nước vẫn chảy, sưởi vẫn ấm. Thành phố vừa có hai cơn bão tuyết rất dày, nhiều nhà bị mất điện mất sưởi, nhưng căn nhà của ông may mắn được thoát nạn. Thật là xui cho ông, Provence nổi tiếng khí hậu ôn hòa, mát mẻ, nắng quanh năm. Bây giờ đã là mùa xuân rồi thế mà vẫn có mistral. Nghe nói mistral có thể xuất hiện quanh năm ở vùng Grasse và Provence. Có lẽ nó là cái thung lũng giữa hai rặng núi cao nên gió thổi thành luồng như gió thổi luồn qua hai building? Hỏi thế vì Anna không rành chuyện khí tượng và thời tiết lắm. 

Luật sư Vinh, hướng dẫn Anna làm giấy tờ chuyển tiền trợ cấp của May sang cho Anna quản lý. Món tiền này, đối với Anna khá lớn, trước kia chồng của Anna lãnh vì anh ấy biết tiếng Anh nên khi làm giấy tờ khai báo anh ấy giữ hết tiền. Đáng lẽ khi Anna dọn ra khỏi nhà anh ấy phải đưa tiền số tiền ấy cho Anna để nuôi con, nhưng anh ta tham lam giữ hết. Khi món tiền được êm thấm sang tay Anna, chồng của Anna đã nổi giận đùng đùng. Cuộc ly dị của Anna đang hồi gay cấn. Hiện nay anh vung tiền thuê một công ty luật nổi tiếng về những trường hợp ly dị. Anh ta đang đòi tòa phải bắt Anna phải trả tiền alimony và cả tiền thuê luật sư của anh ta. 

Bé May rất thích trường học mới, nơi đây cháu có nhiều bạn mới quen. May thích ăn trưa ở trường và bữa ăn được miễn phí. Cháu rất thích Nora, luôn luôn muốn mang Nora vào giường ngủ chung, nhưng Nora không chịu. Từ ngày ông đi du lịch, Anna với May trở thành bạn mới của Nora, nhưng nàng vẫn giữ vẻ lạnh lùng không chịu làm thân. Khoảng một tuần nay, Nora đổi thái độ trở nên sợ hãi vô cớ. Nora tìm chỗ tối, nấp trong góc kẹt để trốn May và Anna. Điều đáng lo ngại là Nora bỏ ăn. Nora nhảy lên ngăn tủ trên cao gần chạm mái nhà, nơi có để nhiều quần áo vật dụng của ông, a, quên, bạn lớn. Mỗi buổi sáng Anna phải nhấc ghế, mang thức ăn đến tận chỗ Nora trốn, dâng lên nàng và dỗ dành mãi. Nora vẫn không chịu ăn. Buổi chiều Anna cũng làm như vậy, có khi Nora liếm láp một hai miếng rồi thôi. Sợ Nora làm vệ sinh ngay trên nóc tủ, Anna bế Nora xuống và mang nàng đến hộp cát. Chỉ trong chốc lát, Nora hớt hãi chạy vào, lại nhảy lên ngăn kệ rồi cố thủ ở đó. Thú thật, ngoài bé May, Anna chưa hề chăm sóc “ai” đến mức độ gần như hầu hạ như vậy. Anna nghĩ Nora trở thành cô chủ của mình, như thể Nora là bạn gái hay em gái của ông vậy. Cô chủ kênh kệu lạnh nhạt hay Nora phản ứng như thế chỉ vì nhớ người bạn lớn của nàng?

Anna rất lo lắng. Mới hôm qua, Nora tự cào cấu trầy mặt, trầy tai, đến chảy máu, bứt đứt cả mấy cọng ria mép. Nora tự cắn chân tay, và lưng đến chảy máu như thể có gì đó làm nàng khó chịu, ngứa ngáy hay nhột nhạt khắp người. Nora có bề gì Anna không biết phải giải thích thế nào với ông. Bé May nhất định Anna phải đưa Nora đi bác sĩ. Con bé đích thân gọi điện thoại làm hẹn và Anna phải đưa cháu với Nora đến gặp bác sĩ thú y. Tiền bác sĩ thú y khá đắt, hai lần cộng lại hơn ngàn đồng. Anna giữ hóa đơn ở đây để trình ông xem. Lưng của Nora bị cào tróc lông cả mấy chỗ. Anna chưa bao giờ cắt móng mèo, nhưng nghĩ rằng có lẽ móng của Nora ra dài gây ngứa ngáy và càng tự cào cấu nhiều hơn. 

Bạn lớn đi chơi, Anna không muốn kể chuyện không hay, sợ làm bạn lớn mất vui. Tuy nhiên Anna sợ nếu có gì xảy ra đột ngột ông lại trách Anna đã không nói từ đầu. Xin đừng nghĩ Anna xử tệ với Nora. Anna rất thông cảm và thương mến Nora. Nora hiểu cảm giác tức bực và tuyệt vọng của một người (giống như bị câm và điếc) không thể giải thích những nỗi đau đớn hay triệu chứng bệnh của chính mình. Nếu có người hiểu được sự khó khăn của Nora, người đó phải là Anna. 

Mong hãng hàng không tìm ra hành lý của bạn lớn sớm sớm. Anna có vài thắc mắc, ông tìm kiếm gì và tìm thấy gì trong chuyến du hành vào những nơi nổi tiếng này? Ông ở Provence nhưng chỉ kể chuyện Grasse. Hai địa danh này có gì khác nhau hay giống nhau? Cảm giác của bạn lớn khi ở một nơi nổi tiếng như vậy? Ở nước ngoài bạn lớn có nhớ nhà không? Nhớ nhà thì nhớ những gì? 

Anna thích viết thư tay, nhưng mạn phép dùng email vì Anna muốn hỏi một vài câu quan trọng và muốn biết câu trả lời càng sớm càng tốt về chuyện chữa trị cho Nora. Ông An muốn Nora được chữa trị đến mức độ nào? Nếu như bệnh của Nora mỗi ngày trở nên trầm trọng thì Anna phải làm gì?Bao nhiêu tiền thì là giới hạn chữa bệnh cho Nora? Bao giờ thì cần phải nhắc nhở bạn lớn trở về để tính chuyện mai sau cho cô bạn nhỏ Nora? 

Không biết nói gì để làm bạn lớn vui. Mong là thư sau sẽ được nghe chuyện hay đường xa của bạn lớn. Anna cũng thấy khó hiểu là tại sao phải  “đêm về thắp nến làm thơ” nghe không thực tế chút nào cả. Có lẽ ánh nến lung linh khi mờ khi tỏ khiến tình cảm của người ta trở nên mơ màng hơn chăng? Anna thấy mỗi lần ngồi bên lò sưởi hay bếp lửa trại trong lòng cũng dấy lên chút bâng khuâng nhẹ nhàng. Đó là lúc còn trẻ, mười tám đôi mươi thôi, chứ tâm hồn Anna đã trở nên dày dạn chai đá mất rồi. Bây giờ chỉ nghĩ đến chuyện nuôi con cho con đi học và đối phó với anh chồng cũ trời ơi đất hỡi này.

Thân mến,

 

Anna

 

Tái bút: Có một người phụ nữ, người da trắng,  tên là Andrea, đến tìm ông. Bà hỏi Anna là ai, làm gì trong nhà của ông An. Anna có thể hiểu được nhờ nhìn cách phát âm trên môi của bà, nhưng Anna phải giải thích bằng cách viết chữ. Rằng Anna là quản gia của ông. Bà có để lại địa chỉ và số điện thoại. Bà ấy có vẻ phật ý là Nora không được chính tay ông chăm sóc. Bà Andrea bảo ông phải gọi bà để thu xếp chỗ ở cho Nora.

Bài điểm sách “Mùa Chinh Chiến Ấy” (tác giả Đoàn Tuấn) của nhà thơ Võ Thị Như Mai.

Như Mai và tôi quen nhau qua blog. Mai gửi bài này nhằm vào lúc tôi mới vừa đọc xong quyển sách hôm qua. Tôi có xóa vài chữ Mai khen tôi rộng rãi quá làm tôi thấy mình không xứng. Xin mời các bạn đọc bài điểm sách của Võ Thị Như Mai.

Continue reading Bài điểm sách “Mùa Chinh Chiến Ấy” (tác giả Đoàn Tuấn) của nhà thơ Võ Thị Như Mai.

Rắc rối

Không phải April Fool đâu nha.

Đầu tiên Window kêu tôi update. Tôi vâng lời. Sau đó computer không thể khởi động lại. Computer bảo tôi để computer tự sửa.

Tôi bị mất Chrome, internet browser, mà tôi lại không có Firefox hay Internet browser dự phòng. Tìm cách tự sửa trên internet dùng tablet (tôi vẫn có internet connection) chỉ không có browser. Tôi mày mò cả ngày trời, tìm cách download Chrome vào computer bằng tablet hay ipad như người ta chỉ dẫn trên internet, có khi rối rắm không hiểu người ta nói gì. Có khi theo đúng lời chỉ dẫn vẫn không được kết quả.

Muốn copy Firefox vào flash key qua computer của ông Tám nhưng ông vắng nhà. Khi ông về, tôi download Firefox vào key, dùng nó để computer connect với internet và download Chrome và lần này thêm Firefox để đề phòng vào computer.

Tôi lại nhận được window updates. Lại update, lại không thể khởi động, lại mất internet browser. Và lại thêm một ngày computer đau ốm làm tôi cũng đau ốm theo.

Tôi muốn dùng backup and restore nhưng computer lại báo là có một cái file bị hư hay bị phá. Tối qua tôi đã create a system image. Tôi muốn create a system repair disc nhưng đã khuya quá ông Tám đi ngủ rồi mà tôi không có sẵn disk trống, không biết ông Tám có hay không. Sáng nay nếu trong nhà không có sẵn disk trống tôi sẽ đi mua và create a system image. Sau đó sẽ restore computer như trạng thái lúc mới mang ở tiệm về.

Sáng nay computer lại báo trong vòng mười phút sẽ tự động update một cái file rất quan trọng mặc kệ tôi có muốn hay không.

Sau đó computer tự khởi động, và tôi ngồi gõ entry này. Ba ngày nay tôi upset đến độ có cảm giác như phát bệnh hay nổi cơn điên khùng. Mỗi lần install window updates nó kéo dài cả tiếng đồng hồ. Bây giờ tôi lại ngại đến độ không muốn shut down computer sợ nó không sống lại được.

Hôm kia, tôi gọi tiệm sửa computer. Anh kỹ thuật viên bảo anh bận cho đến thứ Ba mới có thể sửa được, nhưng mà anh ấp úng ú ớ qua điện thoại làm tôi phát nghi. Tôi có cái tật rất xấu là không tin bác sĩ, tiệm sửa xe, hay tiệm sửa computer. Cứ nghĩ người ta sẽ bóc lột đàn bà khờ khạo như tôi. Tối qua tôi đòi mua computer mới. Cái này cũ quá rồi. Từ hồi năm nào không nhớ.

 

Phân chất mùi hương

Provence, Ngày … tháng … năm…

Anna thân mến,

Tôi phân vân không biết nên xưng hô như thế nào cho phải phép. Gọi bằng cô có vẻ xa cách quá tôi không vừa ý, vì tôi muốn Anna là bạn của tôi. Người bạn nhỏ tuổi hơn tôi nên gọi là bạn nhỏ, nghe được lắm phải không. Thư này trước là thăm Anna và bé May, sau đó để hỏi thăm Nora có làm phiền Anna lắm không.

Tôi đang ở Provence, chắc Anna cũng đã nhìn thấy con dấu trên phong bì thư. Kể cô nghe chuyện này tôi đoán rằng cô sẽ cười tôi vụng về. Tôi đến Provence chỉ với một bộ đồ đang mặc và cái ba lô trên lưng. Hành lý của tôi chẳng biết thất lạc nơi nào. Công ty đường rây hứa sẽ tìm giúp tôi nhưng không biết đến khi nào. Thật là dặm ngàn nước thẳm non xa …

Tôi định bụng sáng hôm sau sẽ đi ra phố mua một ít đồ dùng. Tuy nhiên, trời chưa sáng thì nổi gió và càng lúc gió càng mạnh. Gió khan thôi, không mưa. Gió thổi tôi bay va vào cổng, lăn quay, không thể đứng dậy vì gió đè tôi xuống. Phải thật lâu tôi mới có thể vin vào tường đứng dậy và lần vào trong phòng. Gió ban ngày, kéo dài đã bốn ngày, chỉ tạm ngưng vào ban đêm. Dân địa phương gọi gió này là mistral. Gió khiến tất cả mọi thứ chung quanh đều như phát ra tiếng hú, tiếng rít. Loại gió này có thể làm tôi nổi cơn điên. Ông chủ nhà trọ kể rằng có những vụ án xảy ra vào lúc mistral, người ta đổ thừa tại mistral khiến người ta không kiểm soát được hành động, và vì thế được tha bổng. Ông Tê, chủ quán “Bed & Breakfast” này là người Việt. Ông bảo rằng thời gian của mistral thường kéo dài ba, sáu, hay chín ngày. Gió đã bốn ngày thì nếu đúng như lời ông nói sẽ còn ít nhất là hai ngày nữa, mà tôi không thể ra phố để mua sắm. Ông Tê thương hại cho tôi mượn quần áo của cậu con trai cả, chưa lập gia đình nhưng đã dọn ra riêng.

Đời sống của cô lúc này như thế nào? May có thích trường học mới không? Căn nhà của tôi có gây khó khăn gì cho cô không? Nora bây giờ chắc đã yêu cô và bé May, quên hẳn tôi, người đàn ông xa cách rồi. Tôi nhớ Nora. Mỗi buổi sáng khi tôi đi làm nàng ngồi trên đầu tấm nệm của ghế sô pha nhìn theo như đưa tiễn tôi. Buổi chiều nghe tiếng khi tôi mở khóa cửa là nàng đon đả chạy ra ngồi chờ ngay cửa.

Có lẽ cô thắc mắc tại sao lại là Provence, sao không đến Paris trước nhất như hầu hết tất cả mọi người. Tôi đã đến Paris đó chứ, gọi số điện thoại cũ của một người bà con xa, không thấy ai trả lời. Tôi ngồi ở phòng chờ của một công ty đường rây rồi do mệt mỏi tôi ngủ quên. Tôi thật không ngờ một người như tôi, một đêm chỉ có thể ngủ chừng bốn hay năm tiếng, ngay cả bước chân mèo cũng có thể đánh thức tôi, lại có thể ngủ ngồi ở một nhà ga, và ngủ thật say đến độ người ta lấy mất hành lý cũng không hay. Khi tỉnh giấc thì tôi chỉ còn cái ba lô đeo trên lưng. Cũng may tôi còn giấy tờ tùy thân và một ít tiền. Tôi mua vé xe lửa đến Grasse, nhưng cuối cùng lại đến Provence.

Tôi chọn Grasse, vì tôi đã mơ mộng về nó rất lâu sau khi tôi đọc quyển “Nước hoa: Câu chuyện của một kẻ giết người.” “Perfume: Story of a Murderer.”  Tôi đã tặng quyển sách cho thư viện bỏ túi gần công ty, nhưng đĩa phim vẫn còn đâu đó trong nhà.

Jean-Baptiste Grenouille đến Grasse bằng đường bộ. Vào cái thời Grenouille, Grasse là chỗ thuộc da làm áo choàng, giày ủng, và găng tay thời trang. Vì hoàng hậu không thích mùi da thuộc nên người ta tìm cách tẩm nước hoa vào găng tay cho bà và các mệnh phụ quyền quí. Từ nhu cầu làm thơm găng tay, Grasse biến thành thủ đô của nghệ thuật nước hoa trên toàn thế giới. Những cánh đồng hoa oải hương tím ngát là hình ảnh thơ mộng lung linh của Grasse. Ngày nay, muốn tìm xem đồng hoa oải hương người ta phải đến Provence vì Grasse không còn đất để trồng hoa nữa. Tôi thích Grasse không phải chỉ vì hoa và nước hoa. Tôi thích nó vì nơi đây có nhân vật Grenouille. Tôi thấy Grenouille là kẻ đáng thương, hơn thế nữa, anh ta còn là một nghệ sĩ. Tôi không bênh vực hành động giết người, dù chỉ một người, chứ đừng nói là giết đến 25 cô trinh nữ đẹp nhất thành phố. Nhưng xin Anna hãy cho tôi cơ hội giải thích hành vi sát nhân của Grenouille.

Trên lý thuyết, nghệ thuật làm nước hoa có thể giản dị hóa như sau. Nguyên liệu làm nước hoa có thể chia thành ba nhóm (chord). Mỗi nhóm có bốn nguyên liệu (note). Vâng, tương tự một cung hợp âm có bốn nốt nhạc. Nhóm đầu tiên (head chord) chứa những loại nguyên liệu mà mùi thơm có thể phát giác ngay lập tức. Loại mùi thơm này mau tàn, tan biến trong vòng mười lăm phút hay nửa tiếng. Nhóm giữa (heart chord) chứa các loại nguyên liệu có mùi thơm ngầm, khó phát hiện hơn, lâu tàn hơn, có thể thơm trong vài giờ hay cả ngày. Nhóm nền tảng (base chord) gồm những chất có thể tỏa mùi hương lâu dài, thậm chí cả tuần hay cả tháng. Người ta bảo rằng, nếu có người tìm được một nguyên liệu có mùi hơn mạnh hơn, không những mạnh hơn, lâu tàn hơn, mà còn có thể kết hợp cả mười hai mùi hương kia thành một mùi hương duy nhất thì người ấy sẽ chế tạo được một loại nước hoa tỏa hương lâu dài, từ đời này sang đời khác. Thật là người ta tốn nhiều công để làm công việc ai đem phân chất một mùi hương.

Grenouille suốt đời không được yêu thương, chủ tâm đi tìm một loại nước hoa người dùng nó sẽ được yêu thương đến mức tôn sùng như thần tượng. Muốn có loại nước hoa đặc biệt, vượt trội hơn hẳn các loại nước hoa đời thường, Grenouille tăng số nguyên liệu của mỗi nhóm lên gấp đôi.Tôi nghĩ, số nguyên liệu tuy nhân đôi, nhưng cường độ của mùi hương làm tăng cường độ say mê của con người không nhân đôi mà tăng mười lần như độ Richter động đất.

Grenouille là nghệ sĩ. Mùi hương là tác phẩm độc nhất vô nhị, một nỗi ám ảnh không rời, quan trọng hơn cả sự sống và cái chết, của anh ta. Anh ta mất ăn mất ngủ trong quá trình tạo ra tác phẩm. Thậm chí, anh ngã bệnh vì thất vọng khi ông chủ Baldini, bảo rằng không có cách nào để giữ được mùi hương. Khổ nỗi vật liệu sáng tạo của anh ta lại là mùi hương của các cô trinh nữ. Thật ra anh ta không muốn giết người. Anh ta chỉ cần rút mùi thơm tự nhiên của các nàng toát ra theo làn da và mái tóc nhưng chẳng ai cho phép anh ta làm chuyện ấy mà lại xem hành động của anh ta là điên rồ và các cô trở nên sợ hãi. Ôi, nhưng mà tôi lảm nhảm chuyện không đâu, không khéo Anna lại bảo tôi khùng điên ca ngợi chuyện giết chóc.

Tôi đoán đến đây thì Anna lại thắc mắc, tại sao đi du lịch mà không kể chuyện du lịch lại ngồi đây viết một lá thư dài như thế này.

Số là, gió mạnh nên có một số dây điện bị rơi ảnh hưởng đến chỗ tôi đang ở trọ. Tối nay lặng gió, ông Tê đốt một loại đèn dầu khá to và đủ sáng để tôi có thể đọc sách. Tôi chẳng biết làm gì và cũng không có ai để chuyện trò nên tôi tìm Anna để tâm sự. Tôi mỏi mắt quá vì không quen ánh đèn dầu. Nghĩ thầm sao ngày xưa người ta có thể đọc sách bằng ánh sáng của đom đóm. Chắc là người ta bịa. Thậm chí có người bảo rằng “đêm về thắp nến làm thơ” tuy thơ mộng nhưng cũng khó tin, thơ chưa làm nên câu mà chắc là phải đổi cặp kính lão.

Tôi sẽ ở lại đây một vài tuần. Đây là địa chỉ tạm thời. Nếu cần liên lạc cô có thể gửi thư đến địa chỉ này. Còn đây là địa chỉ e-mail của tôi, anqle04@yahoo.com.

Thăm cô và bé Mây.

An

nhìn qua cán xẻng xúc tuyết
Trận tuyết lần thứ tư, cả bốn lần tuyết rơi chỉ trong vòng ba tuần lễ.  Nhìn qua lỗ trống của cán xẻng xúc tuyết

Ảnh chẳng liên quan đến lá thư. Đăng lên để nếu bạn thấy bài dài không muốn đọc thì xem ảnh. Ảnh không đẹp lắm nên càng dễ bình luận. Thư từ New Jersey sang Pháp thì chỉ độ một tuần. Nên tuần sau bạn sẽ có thư hồi đáp của Anna.