Duyên hay nợ

Mèo hết hoang
Tôi để thức ăn ngay trong bếp, thử xem mấy con mèo hoang này dạn đến mức nào
nằm ngồi lổm nhổm ở sân sau
Nằm ngồi lổm nhổm ở sân sau

Mới năm giờ sáng, Nora, con mèo nhà đòi thức dậy, đòi ăn. Nó kiên nhẫn bước lên người tôi, nhồi như nhồi bột, bước qua bước lại, liếm tay, miệng kêu gừ gừ những tiếng nho nhỏ. Một hồi sau, tôi chịu thua, ngồi dậy đi cho nó ăn. Nora không ăn nhiều, thật ra nàng đòi ra ngoài vì biết đám mèo hoang đang ngồi chờ ở cửa sau.

Tôi mở đèn sân sau, nhìn ra, cả đàn mèo đang ngồi chờ. Nghe tiếng chân tôi (đàn mèo thính tai thính mũi kinh khủng) con mèo chân trắng đứng lên, hai chân chồm trên cánh cửa. Tôi lười ra sân, lấy cái đĩa to, cho thức ăn mèo vào, rồi mở toang cửa sau. Đây không phải là lần đầu, tôi làm nhiều lần rồi, đàn mèo, ít nhất là ba con dạn dĩ, thường vào ăn. Có hai con dạn nhất đi vòng vòng quanh bếp, đến bàn tôi ngồi viết, gần chỗ để thức ăn cho Nora. Thấy tôi đứng lên, hai con vụt chạy ra ngoài.

Có một hôm, cách hôm nay chắc cả tuần, tôi đứng bên hông nhà thấy Ginger đang ngoạm trong mồm một khối màu vàng, và cái khối màu vàng ấy (là con mèo con) biết rên khe khẽ. Thấy tôi chống nạnh ngó lườm lườm, nó ngần ngừ rồi chui xuống cái sàn gỗ nhà của Patty. Từ hôm cuối tháng Tám, Ginger đã sinh con lần thứ hai, tuy nhiên chỉ đến ăn thôi chứ chưa mang đám con đến. Chắc nó hiểu ý tôi, mày mà mang con đến bỏ đây cho tao nuôi là tao tóm cổ cả bọn mang đi giao cho Trung tâm quản lý thú hoang.

Năm con mèo, đợt sinh con đầu tiên của Ginger, nay đã to lớn như con mèo mẹ. Tôi đã phân biệt được hầu hết những con mèo này. Con mèo mặt có vệt trắng và bốn chân trắng. Con mèo mặt có vân, mắt có viền trắng, nhưng chân không trắng. Con mèo có vân khoang màu nâu sậm. Con mèo màu vàng mặt không có rằn, nhưng ngay cổ có chấm trắng. Một con mèo rằn vàng, mặt có vân, mắt có viền trắng, gần như sinh đôi với con thứ hai. Loại mèo sọc vàng này gần như toàn là mèo đực, tuy nhiên vẫn có ngoại lệ, bằng chứng là con mèo mẹ của chúng. Tôi biết có ít nhất là ba con đực. Con mèo vàng cổ có chấm trắng nhát hơn mấy con kia nên tôi không biết đó là mèo đực hay cái. Tôi đoán ít nhất là có một con cái vì Nora và cả con mèo mẹ Ginger có lần rượt đuổi một con mèo nào đó trong bọn. Mèo cái hay tấn công mèo cái. Nora chấp nhận đàn mèo hoang. Con mèo mặt trắng chân trắng thường đến gần Nora thậm chí kê mặt dụi vào nàng. Nàng có khi hoảng sợ thụt lùi, thường thì quay mặt sang chỗ khác, làm ngơ.

Có hai con mèo dạn dĩ, chân trắng và khoang nâu, thích được vuốt ve, thường hay quấn quít vào chân tôi, để yên cho tôi nhấc bổng lên. Buổi sáng chúng chờ được cho ăn, nhìn thấy tôi, vài ba con nằm lăn dưới đất, ưỡn bụng ra, để yên cho tôi vuốt ve, gãi bụng. Những con này tôi có thể chộp cổ và mang đi giao cho … công an, nhưng tôi vẫn không nỡ. Mỗi lần nhìn chúng nằm ngoan ngoãn, xếp hai chân dưới ngực, hay mỗi lần chúng chồm lên cửa nhìn cái mũi hồng hồng, nét mặt ngây thơ, tôi không nỡ lợi dụng sự tin cậy của chúng mà bắt chúng rồi đưa vào chỗ chết. Nhưng tôi sẽ nuôi đàn mèo này đến bao giờ, và bao nhiêu con? Rồi tôi nhớ lại một bài blog thuộc loại tôn giáo, hay dạy dỗ người đời cách sống, thầm nghĩ “no good deeds go unpunished” dịch thoang thoáng theo kiểu người mình thì là “làm ơn mắc oán.”

Bài blog ấy nói như vầy. Có ông sư thấy hai con chim (ngỗng hay vịt trời gì đó) chưa thiên di, ông tội nghiệp cho chúng ăn. Một thời gian sau hằng trăm con chim cũng đến ăn. Vì có thức ăn nên chúng không chịu thiên di hay không tự tìm thức ăn nữa. Rồi ông sư đột ngột qua đời. Mùa đông năm ấy, đàn chim đói lăn ra chết hết. Bài blog quy trách nhiệm cho ông sư, lỗi của ông là nuôi chim mà không tính trước để đến nỗi giết chết hằng trăm con chim. Thật ra lỗi của ông là ông chết đột ngột; một cái lỗi mà ông không biết trước, không thể tránh và càng không cố ý. Và ông cũng không thể nào ngờ đến chết rồi cũng còn bị quy lỗi giết chim. Ông chỉ muốn cứu sống hai con chim chứ ông không hề dự tính sẽ giết chết hằng trăm con chim.

Còn tôi, khi mùa đông năm nay đến, những con mèo hoang này sẽ ra sao? Inky và Ginger, và trước nữa là Boyfriend đều có cách tự tồn trong mùa đông giá rét. Nhưng năm con mèo con này có lẽ đã phần nào mất đi bản năng hoang dã của chúng. Đến một lúc nào đó không còn kham lũ mèo hoang, tôi sẽ tóm cổ chúng giao cho Trung tâm quản lý thú hoang. Tôi phải chọn cách giết gián tiếp năm con bây giờ hay chờ năm sau chúng nhân lên thành hai mươi lăm con. Và tại sao phải là tôi? Hay con tôi? Tôi không muốn bị gán cho cái tội chỉ vì muốn cứu con mèo mẹ Ginger mà trở thành kẻ sát miêu, gián tiếp giết hại mấy chục (hay mấy trăm) con mèo. Thật ra kẻ đáng bị bắt giam là con mèo mẹ Ginger, một năm sinh hai lần. Mới một năm đã cho ra đời ít nhất là mười đứa con.

Ngày xưa người ta kiểm soát sự tăng trưởng số lượng của loài mèo như thế nào? Anh van Willem, tác giả quyển sách về tu học trong thiền viện, kể rằng: Thiền sinh có khi dìm lũ mèo con dưới nước cho chết. Người ngoại giáo đem mèo chó thả vào trong thiền viện khi không còn muốn nuôi. Chó lớn vật chết mèo con. Bà Doris Lessing, văn hào Nobel, kể rằng mẹ của bà trấn nước lũ mèo con cho chết. Khi bà qua đời, chỉ trong vòng mấy tháng số lượng mèo đã tăng lên bốn mươi mốt con. Cuối cùng bố của bà, với sự tiếp sức của bà, lùa bầy mèo vào trong nhà (chuồng to) nuôi súc vật. Bố bà bắn chết hết đàn mèo. Đi rừng, tôi thỉnh thoảng gặp một vài con mèo bị đem bỏ ở cửa vào đường đi rừng. Có nhiều con mèo sợ hãi chỗ lạ nằm im trên mặt đất, không biết làm gì đi đâu. Có lần tôi gặp con mèo gầy trơ xương, nhìn chúng tôi từ xa, mà trong túi tôi không có gì có thể ăn được.

Tại sao “no good deeds go unpunished?”

Mặt trắng chân trắng
Mặt trắng chân trắng

 

Hoài tình

Xin mời các bạn nghe bài “Hoài Tình” trích trong phim “Song Lang.” Người hát: Nghệ sĩ Phương Thủy.

Song Lang là một nhạc cụ (có người gọi là song loan) thường gặp trong bài vọng cổ, đệm nhịp vào cuối câu. Bài “Hoài Tình” không phải là bài vọng cổ. Hát theo điệu gì (phải Lưu Thủy Hành Vân không?) thì tôi đã quên tên, ai biết xin chỉ giúp. Tuy vậy bạn có thể nghe tiếng song lang ở trong các câu hát. Song lang còn có nghĩa là hai chàng trai là bạn với nhau trong phim (phải chăng?) .

song lan (hay song loan)

Ngày tưởng niệm

Đóa hồng tưởng niệm
Đóa hồng tưởng niệm

Đáng lẽ tôi viết bài này từ hôm qua nhưng mắc bận. Trễ một ngày nhưng trễ vẫn hơn là không có. Sau mười bảy năm, vết thương trong lòng người Mỹ vẫn chưa lành. Tuy vậy, sáng hôm qua không có tiếng chuông mặc niệm trong công ty tôi làm việc như mọi năm. Có lẽ, có thể xem đây là dấu hiệu dần dần thả lơi ra cái ý muốn phải nhớ, không được quên, nỗi căm giận và đau đớn. Chín giờ sáng, anh sếp trẻ kêu tôi vào họp, kiểm điểm quá trình làm việc lần cuối cùng. Phòng chúng tôi họp ngó sang World Trade Center, nơi mười bảy năm về trước tôi và các đồng nghiệp (văn phòng có cửa sổ) tận mắt chứng kiến hai cái máy bay đâm vào hai tòa nhà và sau đó hai tòa nhà sụp xuống, như hai chồng pancakes. Anh sếp trẻ cũng đồng ý là vết thương lòng của người Mỹ vẫn chưa lành.

Hai cái hố thẳm, từ hai tòa nhà bị sập, được làm thành hai cái hồ tưởng niệm. Chung quanh là bốn bức tường cao. Trên bờ tường có khắc tên những người thiệt mạng trong biến cố. Hoa được cắm lên tên người để tưởng niệm.

Hồ tưởng niệm
Hồ tưởng niệm. Bốn tường thành của hồ là bốn thác nước nhân tạo, lóng lánh khi phản chiếu ánh mặt trời

Khi tôi đến viếng Ground Zero, điểm đặc biệt tôi cảm nhận được là không khí trang nghiêm nhưng không ảm đạm thê lương, tuyệt nhiên không sót lại chút nào không khí đe dọa chết chóc. Tôi bùi ngùi nghĩ đến linh hồn của những người quá cố. Một buổi sáng đẹp trời đi làm và không bao giờ trở về.

Bên trong the oculus
Bên trong the Oculus

Toàn cảnh Ground Zero và The Oculus rất quang đãng. Ở bên trong the Oculus tôi có cảm giác như mình lạc vào một hành tinh lạ, như thể mình đang ở trong một cuốn phim về khoa học viễn tưởng. Từ xa, the Oculus trông giống như một con ó trắng vươn cánh chuẩn bị bay lên không trung. Tôi có cảm tưởng người Mỹ đang nói với những kẻ khủng bố rằng, “sự khủng bố không thể tiêu diệt được người Mỹ. ‘Chúng tôi’ (người Mỹ) sẽ xây dựng lại, như loài phoenix tái sinh từ tro tàn, trở thành tốt đẹp hơn, tươi trẻ hơn, và hùng mạnh hơn.”

cái cánh của con ó oculus
Một bên cánh của con ó trắng Oculus
một trong những bức tường trang trí ở khuôn viên ground zero
Hai du khách trước bức tường trang trí trong khuôn viên Ground Zero
người ngồi trên những đám mây
Người ngồi trên những đám mây

Oculus, trong bài này, là chữ dùng để tượng trưng cho Trung Tâm Thương Mại Thế Giới cùng với ga xe lửa xe điện ngầm của Port Authority thuộc thành phố New York. Oculus còn có nghĩa là cái khoảng trống ở giữa trần nhà hình nửa bán cầu của các dinh thự cổ xưa, hay cái khoảng trống hình tròn khắc vào tường được dùng như cửa sổ. Công dụng của oculus là ngoài khía cạnh mỹ thuật còn là nơi cho ánh sáng soi vào các tòa nhà.

Vài tấm ảnh vụn vặt đánh dấu ngày qua

Sắp đá chồng lên nhau
Đi rừng thấy người nào xếp đá chồng lên tảng đá có sẵn.
đàn vịt bên hồ
Đàn vịt bên hồ
hoa lan nở đóa đầu tiên
Hôm đi học lớp lan, thầy tặng một giò lan, đem về nuôi, nở đóa đầu tiên
bướm đậu trên cành milkweed
Rình mãi được một chàng
Đôi bạn
Thì may làm sao lại có thêm một chàng, nên gọi là đôi bạn

Có lẽ bạn sẽ hỏi vì sao lại là hai chàng, tôi sẽ trả lời vì hoa tượng trưng cho phái nữ và vì thế bướm sẽ tượng trưng cho phái nam. Và vì tôi cũng nghĩ đến phim “Song Lang.” Hai chàng trong phim chỉ là hai người bạn tri kỷ tri âm chứ không là người yêu. Nghe nói rằng đạo diễn Léon Le đã cưỡng lại đề nghị cho hai nhân vật yêu nhau để đưa lên tột đỉnh của bi kịch. Đó là một sự cưỡng ý mang tính nghệ thuật, không đi đến một kết thúc như mọi người tiên đoán và mong đợi. Nhưng nếu hai nhân vật không yêu nhau thì đâu cần thiết phải cho hai nhân vật ấy là gay? Có phải, cho nhân vật mang giới tính đồng tính là để dẫn dắt người đọc đặt sự mong đợi (expectation) vào một chiều hướng khác để tạo sự vỡ lẽ ở cuối phim.

 

Đi chung tuyến đường xe lửa

hàng ghế trên xe lửa

Hôm nọ, sắp bước vào trạm xe lửa địa phương, nơi tôi đón xe vào thành phố làm việc, tôi gặp người đàn bà đi xe lửa chung nhưng chưa hề nói chuyện. Biết mặt nhưng không biết tên. Sau mấy mươi năm đi xe lửa gặp mặt, tôi nhận ra nhan sắc bà phai tàn. Tôi nhìn thấy sự phai tàn của tôi bằng nhan sắc của bà. Nhìn thấy bà, nhớ lại câu chuyện trên xe lửa cách đây vài tuần.

Hôm ấy trên đường về. Xe lửa đến sớm, đậu sẵn trên ga trong thành phố Newark. Tôi đến sau, vào ngồi hàng ghế phía trước hàng ghế của bà. Bà mặc cái áo màu bạc hà xanh nhạt.

Chập sau, có một phụ nữ trẻ tuổi độ bốn mươi lăm, xinh, ăn mặc đẹp, váy ngắn áo ôm sát người lên xe. Nàng ngồi hàng ghế sát cầu thang, nơi đặc biệt có hai hàng ghế đối diện với nhau dành cho những người đi cùng nhóm đủ chỗ cho năm người ngồi. Nàng ngồi một mình, để đồ đạc lỉnh kỉnh trên ghế trống chung quanh. Vừa lên xe là nàng móc điện thoại ra và bắt đầu ra rả nói. Vừa nói vừa khoa tay, điểm điểm vào không khí, như thể nàng nói chuyện với một người nào đó ngay trước mặt nàng. Hình như nàng đang điều hành công việc gì đó. Nội dung thì chẳng thấy có gì quan trọng, người ở đầu bên kia điện thoại cũng chẳng phải nhân viên của nàng. Hình như đó là một buổi tiệc, hay một buổi giới thiệu hàng bán ở nhà, gì gì đó chẳng phải chuyện quan trọng đến độ phải điều binh khiển tướng trên toa xe lửa.

Một vài người lên sau, ngồi gần nàng, được chừng một phút, lắc đầu, đứng dậy bỏ đi sang toa khác. Tôi ngồi đó, ráng chịu, bực bội, lấy headphones, loại bao cả lỗ tai, trùm lên tai nghe nhạc. Vẫn còn nghe tiếng nói ra rả của nàng.

Người phụ nữ áo màu bạc hà, đứng dậy đến gần nàng. Xin nàng dịu giọng nói nhỏ một chút. Phải nói thật là bà mặc áo bạc hà nhìn có vẻ khá dữ dằn, không phải thuộc loại người mà người ta có thể khoát tay xua đi, hay tảng lờ không thèm để ý, cũng chẳng dám nói, chuyện gì liên can đến bà mà bà lên tiếng. Người phụ nữ váy ngắn cũng chẳng sợ. Bảo rằng: “Đây không phải là toa người ta cần phải giữ im lặng.” Người đàn bà áo màu bạc hà không lùi bước, nói: “Nhưng chỗ công cộng, không phải ai cũng muốn nghe chuyện của người khác. Xin bà nói nhỏ lại, chúng tôi cảm thấy phiền.” Người đàn bà váy ngắn, nói nhỏ lại, tí xíu, và tiếp tục câu chuyện của bà, vừa hết câu chuyện này, bấm máy gọi người khác nói tiếp.

Xe lửa lăn bánh. Tôi đắm chìm vào mấy bản nhạc tôi nghe không còn để ý đến người đàn bà ấy nữa. Khi bà xuống xe lửa gần nửa tiếng sau, trên tay vẫn còn cái điện thoại. Không nói, nhưng tôi thầm cảm ơn bà mặc áo màu xanh bạc hà. Tôi cũng tự hỏi nếu người nói ra rả vào điện thoại là một người đàn ông to lớn dữ dằn thì bà mặc áo màu xanh bạc hà có dám bảo ông ta nói nhỏ đi không.

Đi chung đường xe lửa không có nghĩa đồng hành. Mỗi người là một chuyến độc hành. Đi bên cạnh nhau nhưng không bao giờ gần gũi với nhau.

Bản nhạc jazz cuối cùng

Gần đến ngày về hưu, tôi nhìn những chuyện xảy ra chung quanh tôi bằng ánh nhìn từ giã. Cái gì cũng khiến tôi nghĩ, đây là cái cuối cùng. Thí dụ như đi ngang qua hành lang dẫn từ nhà ga xe lửa đến thư viện bỏ túi để đem tặng những quyển sách của tôi đọc xong, thấy chương trình nhạc jazz người ta tổ chức vào ngày thứ Tư đầu tiên trong tháng, tôi nghĩ đây là buổi nhạc jazz cuối cùng trong thành phố nơi tôi làm việc ba mươi năm. Vì nghĩ thế nên tôi dùng điện thoại quay một đoạn nhạc, để đánh dấu.

Thật ra không có gì để cảm động đến bi lụy. Tôi không mê nhạc jazz cho lắm, nghe cho biết, để khi người ta nói mình biết người ta nói cái gì. Hình như tôi chẳng mê cái gì, hoặc là cái gì tôi cũng mê như nhau. Nhạc jazz thì có nhiều, thậm chí trong computer của tôi nghe không hết. Còn thích nữa thì mượn ở thư viện về nghe. Khi chưa đến lúc lìa đời thì chuyện xảy ra ngày hôm nay không chắc đã chuyện cuối cùng. Bởi vì sau khi về hưu tôi vẫn có thể đáp xe lửa vào thành phố đi chơi, nghe nhạc, dạo chợ lộ thiên bán nông phẩm, mỏi chân đáp xe lửa đi về. Nhưng, tôi biết, tôi rất lười đi, do đó có thể vẫn nghe nhạc nhưng không siêng đến độ vào thành phố nghe trình diễn nhạc sống như thế này.

Cứ mỗi đầu tháng, ngày thứ Tư, người ta mời một ban nhạc jazz đến trình diễn. Ban nhạc này thường có thu CD để ra mắt khán thính giả, và nhạc của họ thường được trình tấu trên đài phát thanh địa phương.

 

Mannequin – Nàng nộm

Tác giả: Esther M. Garcia
Dịch giả (ra tiếng Anh): Chris N. Brown
Nguyễn thị Hải Hà dịch ra tiếng Việt

A man looks at the mannequin
desires its face and its body
doesn’t matter that its mind is empty
he just want to possess it.

Gã đàn ông nhìn nàng nộm
thèm thuồng khuôn mặt và thân hình nàng
chẳng hề gì nếu đầu óc nàng rỗng tuênh
gã chỉ muốn nàng thuộc vào tay gã 

He buy the mannequin
loves her entire body
covers her in flowers, in kisses
and from his mouth come vipers
that joyfully enter
the ear of the doll.

Gã mua nàng nộm
yêu cả thân hình nàng
bao phủ người nàng bằng hoa, và những nụ hôn
từ mồm gã lũ rắn độc bò ra
chúng vui vẻ chui vào
tai của con búp bê.

Now the mannequin wakes up hearing him,
the doll turns into a woman
to endure semen,
venom,
in her mouth;
to endure the wounds
in her synthetic skin.

Giờ đây nàng nộm thức tỉnh và nghe tiếng nói của gã,
con búp bê biến thành người đàn bà
chịu đựng tinh dịch,
nọc độc,
trong mồm nàng;
chịu đựng những vết thương
trên làn da nhựa của nàng.

The man gets fed up with her presence
treats her like a slum whore,
the mannequin cries wax tears,
the man mocks her as she leaves.

Gã đàn ông đâm chán sự hiện diện của nàng
xem nàng như một con đĩ rạc,
nàng nộm rơi những giọt lệ sáp,
gã đàn ông chế nhạo nàng khi nàng bỏ đi

The poor mannequin rests now
in the dumpster,
her silicon heart
is disassembled inside;
those ancient kisses,
of that guy,
are now
taking apart the body

Nàng nộm đáng thương giờ được nghỉ ngơi
trong thùng rác,
trái tim bằng chất silicon của nàng
tan rã từ bên trong;
và những nụ hôn thiên cổ,
của gã đàn ông ấy,
giờ đây
phá tan nát thân thể nàng.


Esther M. Garcia (Cd. Juárez, 1987) là nhà văn, phóng viên, và nhiếp ảnh gia. Cô tốt nghiệp Văn chương Spanish ở đại học Autonomous University of Coahuila. Cô được trao tặng giải National Short Story Prize Criaturas de la noche năm 2008, xuất bản tập thơ La Doncella Negra (2010), và tập truyện ngắn Las Tijeras de Átropos (2011). Một số truyện ngắn khác được chọn đăng trong tuyển tập Los Nuevos Románticos. Các bài báo của cô xuất hiện ở các tờ báo và nhiều tạp chí.