Lan man vài phim hay

Tôi xem và xem lại ba phim có kết cuộc giống nhau. “Love Story – Chuyện Tình,” “Sweet November – Tháng Mười Một Ngọt Ngào,” và “Autumn in New York – Mùa Thu ở New York.” Một tình yêu rất lãng mạn, say đắm, nhưng hạnh phúc bị tan vỡ nửa chừng vì người con gái mang trọng bệnh rồi qua đời. Chuyện Tình từ khi ra đời đến nay đã được nhiều quốc gia trên thế giới phóng tác.

Nếu bạn đang lập danh sách 100 phim hay của riêng bạn, tôi xin đề nghị (nếu bạn chưa có phim này trong danh sách) phim Wuthering Heights – Đỉnh Gió Hú. Phim này có nhiều kịch bản, tôi thích phim năm 1939 do Laurence Olivier đóng vai Heathcliff. Tôi hay nói về truyện và phim xưa, thường nhắc đến Anna Karenina và Gone With The Wind – Cuốn Theo Chiều Gió, không hiểu sao tôi không có dịp nhắc đến Đỉnh Gió Hú, một truyện tôi thích có thể nói là hơn cả Jane Eyre, Anna Karenina, và Gone With The Wind.

Tôi nhận ra khuynh hướng đọc của tôi, tôi thích loại truyện và phim, ngoài khuynh hướng cổ điển, còn thể hiện khía cạnh tăm tối và bản chất độc ác của con người. Có lẽ vì thế mà tôi bị cuốn hút vào quyển Wuthering Heights.

Mỗi khi nhắc đến chị em bà Brontë (để giản dị tôi chỉ dùng chữ é) người ta thường nhắc đến bà Charlotte Bronté với quyển Jane Eyre (thật ra bà còn vài cuốn nữa), Emily với Wuthering Heights, và người em út Jane làm thơ nhưng chưa nổi tiếng bằng hai người chị. Cả ba người con gái họ Bronté đều chết trẻ. Charlotte ở tuổi hơn bốn mươi, Emily hơn ba mươi, và Jane chỉ mới hai mươi sáu. Tôi không nhớ Charlotte chết vì bệnh gì, còn Emily và Jane chết vị bệnh lao phổi. Thật là đáng kinh ngạc và khâm phục, một người con gái gia cảnh nghèo khó, bệnh hoạn, yếu đuối như Emily lại có thể sáng tạo ra một tác phẩm đào sâu về khía cạnh tối tăm đầy thù hận và cũng đầy yêu thương với một tình yêu vượt ra ngoài cuộc sống vói đến cõi chết của Heathcliff và Cathy Earshaw trong Wuthering Heights.

Cũng như phim Chuyện Tình, Đỉnh Gió Hú có hằng chục bản khác nhau trên toàn thế giới. Tôi có xem một phim kịch bản khác của Đỉnh Gió Hú (1992) do Ralph Fiennes và Juliette Binoche đóng, thật là vô cùng thất vọng.

Còn hai phim tôi xem đã lâu, nhưng chưa biết tôi muốn làm gì viết gì. “The Lake House – Căn Nhà Trên Hồ” tôi ước gì có thể đọc được truyện bằng tiếng Hàn, hay bản dịch từ tiếng Hàn sang tiếng Anh hoặc tiếng Việt. “Stage Beauty – Mỹ Nhân (Trên) Sân Khấu” tôi mở ngoặc đóng ngoặc chữ (trên) vì nghĩ là chữ trên hơi thừa, nhưng giữ nó để nghe êm tai hơn thì có lẽ lúc nào đó siêng siêng một chút sẽ viết giới thiệu. Phải viết tựa đề của phim vào đây để khi quên còn có chỗ nhắc cho mình nhớ.

Đỉnh Gió Hú (1939) do Charles McArthur và Ben Hetch viết phim bản. Stage Beauty là phim kịch bản của Jeffrey Hatcher. Có lẽ bạn sẽ không thích lắm vì đối thoại trong phim giống như đối thoại trên sân khấu của kịch. Có người nghĩ là lối đối thoại cứng, màu mè lên gân, (cường điệu) nhưng nó rất văn chương, đầy ẩn ý, đòi người xem phải suy nghĩ và thấy thấm thía. Với người không thích kiểu đối thoại này, có thể họ sẽ bị ngủ quên. Nhưng tôi thích lối phim có thoại kịch như thế. Bạn sẽ tìm thấy đối thoại như thế trong các phim xưa như “Cat on a Hot Tin Roof” hay “Street Car Named Desire” chẳng hạn.

Xem Đỉnh Gió Hú, tôi nhận ra tôi chưa hề biết yêu (như những nhân vật chính trong phim) là gì, và thú thật, tôi cũng không muốn yêu hay được yêu giống như họ. Dữ dội quá. Khốc liệt quá. Đôi khi không cần yêu nhiều, yêu nhàn nhạt thôi, chỉ cần đối xử tử tế với nhau, cũng đủ sống chung mấy chục năm.

Vụn vặt mấy ngày qua

mèo bố xuất hiện
Mèo bố

Tôi đoán, đây là con mèo bố của lứa mèo con, Củ Gừng sinh lần thứ nhất. Tôi gặp chàng nhiều lần, nhưng đây là lần đầu tiên tôi có thể chụp ảnh. Tôi đoán nó là con mèo được nuôi trong nhà của một trong những ngôi nhà đồ sộ trên đồi. Nó dạn dĩ và dường như đang đi tìm đối tượng để yêu.  Hai anh em Củ Gừng con là mèo Anh (sọc nâu nhạt có chấm trắng trên cổ) và mèo Út, khoang nâu đậm hơn, nhỏ con hơn mèo Anh. Cả mèo Anh lẫn mèo Út đều to lớn, hơn mẹ. Nora nghênh ngang xù lông cổ chống đối con mèo lạ, nhưng chỉ được một hồi rồi rút lui. Xem chừng từ nay anh chàng to béo mèo bố này phải chịu đói tình vì Nora và Củ Gừng đã được triệt sản. Còn mèo Anh, mèo Út, và Inkie là mèo đực và cũng triệt sản luôn.

đạp trên lá vàng khô
Đạp trên lá vàng khô
Nhìn gì đây
Nàng nhìn tôi ngơ ngác như dò hỏi, bà là ai?

Hôm trước tôi hứa hẹn mùa thu về là có con nai vàng ngơ ngác, đạp trên lá vàng khô. Thì đây, giữ đúng lời. Nai thường đến sân trước hay sân sau nhà tôi để ăn lá. Rất khó chụp ảnh đàn nai vì chúng thường đến sáng sớm hay chiều tối không đủ ánh sáng để chụp ảnh. Và chúng lại rất nhát hễ thấy bóng người là chạy tán loạn rất nhanh. Hôm nay hên, chụp vội vàng được hai con nai. Cả hai đều có sừng.

Đôi Giày Tango

Sáng hôm sau về nhà, loay hoay một hồi không mở được cửa nàng nhận ra cửa đã thay ổ khóa.  Trên thềm là phong thư của chồng nàng.  Nội dung ngắn gọn.  “Anh đã nộp đơn. Mọi liên lạc hay điều đình, đều phải qua luật sư của anh.”  Nàng thấy chếnh choáng như thể men rượu đêm qua còn sót lại.  Dù biết rằng chuyện sẽ đến mức này nhưng đây là cách cư xử rất tệ.  Không thể nói bằng lời với nhau à?  Phân nửa tài sản này cũng của nàng đấy chứ.  Tất cả chỉ vì chuyện nàng đi học nhảy Tango.

Nàng không ngờ nàng đoạt giải nhất cuộc thi Tango hạng nhập môn. Cuộc thi thật dễ dàng, quá sức tưởng tượng của nàng. Nàng không bị vấp ngã, rách áo, quên bài, lỗi nhịp như nàng hằng lo sợ. Nàng nhẹ nhàng bay lướt trên sân khấu, buông người vào vòng tay của Vũ, và thả hồn theo tiếng nhạc Tango. When the marimba rythm starts to play. Dance with me. Make me sway… .  Hết bản nhạc này đến bản nhạc khác. Nàng bước như mơ trong ánh đèn rực rỡ và tiếng vỗ tay cuồng nhiệt của khán giả. Sau cơn mơ là cơn say. Say vì rượu sâm banh rót tràn lan, hay vì cơn giao hoan với Vũ? Sau mấy tháng tập luyện, những bước chân nồng cháy quyện vào nhau, cơ thể hai người quá quen thuộc ở vùng ngực và hông, cuộc giao hoan diễn ra như một sự đồng điệu của thể xác, và thăng hoa của nghệ thuật. Người ta nói không sai. Tango là cách biểu lộ theo chiều đứng những khao khát của chiều nằm. Đêm qua nàng ở lại với Vũ trong căn gác của trường. Chỗ này trước kia của Bianca, cô giáo chuyên dạy trẻ em môn “Tap” dancing.

Nàng ngồi xuống bậc thềm duỗi dài đôi chân nhìn đôi giày khiêu vũ lấp lánh trong nắng. Từ khi có đôi giày hình như nàng chẳng hề rời nó. Đôi giày như giúp nàng tăng sinh lực, khỏe ra và trẻ hơn. Nàng tự hỏi. “Mình đoạt giải khiêu vũ bởi vì mình thật sự có tài, hay nhờ đôi giày?” Lời ông chủ tiệm giày trở lại với nàng. “Mỗi đôi giày có định mệnh của nó. Và nó sẽ thay đổi định mệnh của bất cứ người nào nó chọn.”

Đó là một buổi chiều cuối tháng Năm, trời mùa xuân ấm áp, khiến nàng thèm dạo phố. Nàng đến một thương xá mới mở, không chủ ý mua gì, chỉ ngắm nhìn hàng hóa trưng bày trong các tủ kính. Một hành lang của thương xá nhiều gian hàng chưa được thuê nên khá vắng vẻ. Ở cuối hành lang có một tiệm bán giày cả nam lẫn nữ. Trong khung kính là những đôi giày đủ màu đủ kiểu. Via Spigel da cá sấu, đế bằng, mũi nhọn. Louboutine với cái mặt dưới của giày, nơi đặt bàn chân, làm bằng da màu đỏ. Màu đỏ chẳng để làm gì cả ngoại trừ cho người ta biết đây là loại giày đắt tiền. Manolo Blanik với những kiểu giày thật lạ chẳng đôi nào giống đôi nào. Chỉ cần nhìn gót giàyBlanik là biết ngay tên thương hiệu bởi vì nó được đẽo vuốt bằng lòng yêu mến của người thợ làm giày. Mặt trước hiệu giày là tường kính trong, sau tường kính là khoảng rộng để trưng bày hàng, trên cái bệ trắng có thể tự xoay chung quanh tâm điểm của nó là một đôi giày làm bằng tơ, rất mỏng màu da người, có đính cườm, kim tuyến lóng lánh. Cách bày hàng khiến nàng có cảm tưởng những đôi giày hiệu danh tiếng kia chỉ là hàng phụ thuộc, như những nàng cung phi chầu chực bên nàng công chúa là đôi giày tơ. Nhìn một chập, nàng có cảm giác đôi giày bay lên, như có cánh. Đôi giày cúi mũi giày xuống rồi ngẩng lên ba lần, như thể chào nàng. Nàng chớp mắt đã thấy đôi giày đáp xuống kệ, yên tĩnh. Không có dấu hiệu nào chứng tỏ nó vừa cất cánh bay. Nàng nhìn lầm chăng?

Người bán hàng bước ra, bắt tay nàng. Thay vì buông tay, ông nhẹ nhàng lật ngửa lòng bàn tay của ông, nâng đầu mấy ngón tay nàng, dẫn nàng vào trong tiệm. Ông mặc áo đuôi tôm và đeo găng tay trắng như người sắp đi dự dạ hội. Có lẽ ông là chủ tiệm chứ không phải là người làm thuê.

“Tôi muốn thử đôi giày tơ, màu da người đang chưng trên kệ.” Ông cụ đi ra khung kính trưng bày nhìn kiểu giày rồi trở vào nói:

“Tôi e rằng không thể chìu ý cô. Đó là đôi giày duy nhất tiệm của tôi còn lại. Chỉ để làm kiểu chưng chứ không bán. Tuy nhiên nếu cô muốn tôi xin lấy nó ra cho cô thử. Đôi giày ấy bé lắm, số 5B, ít khi vừa chân ai. Thường thường phụ nữ mang giày số 6 rưỡi hay 7B.”

“Số 5B thì có thể vừa chân tôi đó ông.”

Ông cụ mời nàng ngồi xuống ghế, quì bên cạnh, nâng đôi bàn chân nàng lên, tháo đôi giày cũ, và mang đôi giày mới lấy từ tủ kính vào chân nàng. Đôi giày làm bằng lụa, tẩm hồ keo có vẻ cứng cáp, nhưng khi mang vào nó êm và mềm như da trẻ con. Tùy theo góc nhìn và ánh đèn, đôi giày thay đổi màu, màu da trần, hồng đào, và màu rượu sâm banh. Nàng đứng lên thử giày, đi vài bước. Ông cụ nhìn nàng mỉm cười.

“Cô thích đôi giày này vì cô là vũ công tango?”

“Thưa không. Tôi hành nghề kế toán. Tại sao ông hỏi thế?”

“Vì đây là kiểu giày Tango. Mũi giày bọc gần hết các đầu ngón chân để bảo vệ ngón chân. Gót cao vừa phải để vũ công di chuyển dễ dàng và lâu mỏi. Có dây buộc vào cổ chân để giày khỏi tuột chân và làm tôn vẻ đẹp của cổ chân.”

Đôi giày ôm khít khao chân nàng. Với nàng, tìm được đôi giày vừa khít là một điều khá lý tưởng, ít khi xảy ra. Bên cạnh việc nàng có đôi bàn chân hơi nhỏ hơn bình thường, bàn chân trái của nàng lại nhỏ hơn bàn chân phải một số nên ít khi nàng được mua đôi giày vừa ý. Hễ vừa chân mặt thì chân trái hơi rộng. Đôi giày kiểu hơi lạ, không giống như giày người ta sản xuất hàng loạt bán trên thị trường. Nó như được làm bằng tay, tỉ mỉ, để tặng riêng cho chủ nhân.

“Tại sao cô chọn đôi giày này? Nó có gì đặc biệt khiến cô chú ý đến nó?”

“Tôi nói điều này sợ ông cho là tôi có bệnh ảo tưởng, hay tệ hơn nữa ông sẽ bảo là tôi điên. Đôi giày bay lên và cúi đầu ba lần như chào tôi.”

“Như thế thì nó đã chọn cô làm chủ của nó rồi. Tôi hành nghề bán giày lâu năm. Đã từng nghe truyền thuyết giày chọn người. Thường thường người ta chọn giày. Nhưng thỉnh thoảng có những đôi giày đặc biệt, có định mệnh riêng và chúng sẽ chọn người mang giày. Chúng sẽ thay đổi cuộc đời người mang chúng.”

“Thay đổi như thế nào vậy ông? Tốt hơn hay xấu hơn?”

“Có khi tốt hơn, có khi xấu hơn, có khi vừa xấu vừa tốt.”

“Thí dụ như?”

“Đôi giày có thể giúp người ta thành công trong một lĩnh vực mà họ không biết họ có năng khiếu trong lĩnh vực ấy. Cô đã chẳng từng nghe nói là cứ cho một cô gái đẹp một đôi giày thật tốt cô ấy sẽ thay đổi thế giới hay sao?”

“Còn xấu thì như thế nào?”

Ông lão mỉm cười. Giọng của ông có vẻ như nói đùa, trêu nàng.

“Cô còn nhớ câu chuyện đôi huyết hài của Andersen không? Đôi giày nhảy múa liên tục đến độ chân cô gái ứa máu vẫn không ngừng. Đến khi cô gái kiệt sức, để cứu mạng sống của cô, người ta phải chặt chân cô lấy đôi giày ra. Lại có đôi giày mang số phận ngoại tình; nó xui khiến người mang nó, phạm tội. Vào cái thời đàn bà ngoại tình sẽ bị xử tử, nàng bị cho vào bao bố cùng với đá tảng rồi đẩy xuống sông.” Ông cụ xoa tay, cười xòa. “Ơ! Sao tôi lại kể cho cô nghe những chuyện nhảm nhí thế này. Làm cô sợ hãi có lẽ chẳng dám mua giày nữa. Đó chỉ là những câu chuyện hoang đường. Cô đừng sợ nhé.”

“Ông kể chuyện rất duyên dáng, xin ông đừng lo ngại, tôi không dễ tin và nhát gan đến thế đâu. Cứ tạm tin là có những đôi giày có khả năng thay đổi bản tính hay số phận của con người, nếu người ta cởi chúng ra không chịu mang nữa thì sao? Ném đôi giày đi? Hay nếu đôi giày trở nên cũ và hư, thì sao? Định mệnh, nếu có thể bị thay đổi vì một đôi giày, dễ dàng như thế, khi không dùng đôi giày nữa thì sự thay đổi ấy có dừng lại không? Hay chuyển sang hướng khác? Vả lại phụ nữ, nhất là phụ nữ, không chỉ có một đôi giày, cả chục đôi là thường. Định mệnh chủ nhân của những đôi giày sẽ như thế nào nếu mỗi đôi giày có một định mệnh khác nhau?”

“Cuộc đời của mỗi đôi giày thì không mấy lâu. Một vài tháng hoặc là một vài năm thôi. Vả lại số giày có thể chọn người để thực hiện định mệnh của chúng thì không nhiều. Do đó sẽ không có trường hợp một người có nhiều đôi giày với định mệnh khác nhau.” Ông cụ mỉm cười, trả lời.

“Tôi vẫn muốn mua đôi giày này nếu ông đồng ý bán.” Ngần ngừ một chút nàng nói thêm, kèm theo nụ cười tinh nghịch. “Cho dù ông bảo rằng đôi giày này có số phận bị chồng bỏ tôi vẫn muốn làm chủ nó. À không, muốn nó làm chủ tôi.”

“Nếu cô thích đôi giày đến độ không sợ bị tan vỡ hạnh phúc, tôi xin tặng nó cho cô. Ngay từ lúc cô nhìn nó từ ngoài cửa tiệm, tôi đã biết là nó thuộc về cô. Không mấy người có đôi bàn chân Cinderella như cô. Thêm vào đó, đôi giày đã chọn cô. Cô hãy mang nó, dù đi làm hay đi đâu cũng thế. Một đôi giày đẹp có thể giúp cô trở nên tự tin và thành công hơn. Nếu đôi giày này hư rách trước khi cô chán nó, tôi sẽ tặng cô một đôi giày khác giống hệt như đôi giày này. Cô phải hứa là dẫu có bề nào cô sẽ chẳng trách tôi.” Ông cụ nói, không cười, nhưng chính cái vẻ tỉnh táo này lại càng khiến cho nàng nghĩ rằng ông có duyên. Nàng dợm cởi đôi giày. Ông cụ ngăn nàng lại. Ông lặng lẽ cho đôi giày cũ của nàng vào trong túi giấy. Ông cụ dìu nàng ra khỏi cửa tiệm. Nàng ngỡ ngàng, bước đi như thể bị đôi giày dẫn đường. Ngoái đầu nhìn, cửa tiệm đã tắt đèn. Nàng cố gắng nhìn tên bảng hiệu, không còn rõ nét.

Đi đâu nàng cũng được khen. Đôi giày đẹp khiến nàng vui đến độ không còn muốn mang đôi giày nào khác. Từ khi có đôi giày, trong đầu nàng luôn luôn vang vọng những bài hát trước kia nàng thỉnh thoảng nghe nhưng không chú ý. “Bài Tango hôm nào. Bước em Tango lẻ loi…” “Đàn đã khơi rồi, trong lúc đêm tàn rơi. Đàn khóc ai hoài cho héo hoa lòng tôi…” Tiếng nhạc trong đầu khiến người nàng bức rứt, muốn di động, muốn chạy, muốn nhún nhảy theo điệu nhạc.

* * *

Vài ngày sau đó, đang lái xe mà đầu óc cứ tơ tưởng tiếng nhạc tango, Quê chạy quá lố con ngõ vào nhà. Đường một chiều nên Quê phải đánh vòng khá xa để quay trở lại. Quê lại quẹo nhầm đường, đi ngang một thương xá nhỏ, thấy có trường dạy khiêu vũ. Thầy dạy khiêu vũ lại là Vũ, bạn cũ không chung lớp nhưng chung trường từ thời trung học. Có một dạo đôi bên cùng thích nhau nhưng không nói ra. Vũ nhìn đôi giày của nàng, khen đôi giày đặc biệt như thể có người nào đó làm giày để tặng riêng cho nàng. Chàng nói: “Đôi giày khởi nghiệp.”

Quê học chỉ mỗi điệu tango với những cách biểu diễn khác nhau. Tango Argentina, Milonga, American ballroom, Canyengue. Vũ đề nghị nàng cắt tóc ngắn, kiểu pompei, hiên tóc phủ trán cắt thật thẳng, hơi trên chân mày một chút, như cách một làn chỉ mỏng. Phía trước, nhìn nghiêng từ phía gò má, tóc dài hơi quá cằm một chút tạo thành một đường xéo hướng lên trên gáy. Phía sau tóc vừa phủ chân gáy không che cổ. Quê trang điểm kỹ hơn. Son môi đỏ. Tóc đen nhánh. Vẽ chân mày, dặm lông mi đen đậm. Ai cũng bảo Quê thoát xác. Lớp mỡ bụng biến mất. Lưng thẳng. Cằm ngước. Vai ngang. Cổ chân thon. Dáng đi của mèo rừng. Khớp xương của Quê bỗng dưng hết đau nhức. Mắt nàng không còn đeo đôi kính cận dày cui. Khiêu vũ, sự năng động vận chuyển khiến nàng trẻ lại.  Đồng thời Quê cũng nhận ra sự thay đổi ở chồng nàng. Mùi mồ hôi của Quyền sao đậm thế, anh không tắm mỗi ngày? Anh ăn mặc nhếch nhác trông giống như anh thợ sửa ống nước. Tóc của anh sao bóng nhẫy, không gội đầu mấy ngày rồi?

Quyền không tán thành việc nàng học khiêu vũ nên luôn luôn gắt gỏng. Bản tính của Quyền vốn khó khăn, hay phê bình chê bai, bây giờ càng tệ hơn. Đến giờ ăn không chịu ngồi vào bàn, nếu không mời thì Quyền cứ ngồi đọc báo. Ngồi vào bàn rồi, không chịu cầm đũa nếu vợ không đưa tận tay. “Canh nêm nhạt quá.” “Nước mắm mặn quá.” “Em già rồi mà không nên nết, cứ đêm này đêm khác ngả ngớn đú đởn với đàn ông.” “Đàn bà, mọi đam mê đều trở nên lố bịch.” “Em làm sang làm dáng cho đến mấy chân em cũng vẫn dính phèn.”

Quê cãi lại. “Khiêu vũ là một nghệ thuật cũng là môn thể thao.” “Không phải ai khiêu vũ cũng mê trai.” “Em chịu trách nhiệm tài chính trong gia đình đồng đều với anh. Em nấu ăn giặt giũ rửa chén y như những người phụ nữ ở nhà nội trợ. Nếu anh có thể đánh quần vợt một tuần ba lần thì tại sao em không được quyền học khiêu vũ khi anh ở ngoài sân banh?”

Dĩ nhiên, Quê không phải là người mê tín dị đoan có thể tin lời ông cụ bán giày, một đôi giày có thể làm chủ và thay đổi định mệnh của người mang chúng. Tuy nhiên, từ khi có đôi giày, chỉ trong vòng mấy tháng mà cuộc đời nàng có nhiều thay đổi không ngờ. Xin nghỉ hưu sớm để có thể dành trọn thì giờ và sức lực tập luyện Tango. Một ngày sau khi được giải thưởng khiêu vũ Tango thì bị chồng ly dị và đuổi khỏi nhà. Quê thấy ngỡ ngàng đôi chút nhưng ngậm ngùi thì không. Cuộc hôn nhân của nàng đã nhạt nhẽo từ trước khi nàng phát hiện mối đam mê của nàng với Tango. Nàng không biết chắc, có phải vì không có hạnh phúc mà nàng đến với Tango? Hay Tango là giọt nước làm tràn ly dẫn đến ly dị? Thay vì buồn phiền, nàng cảm thấy nhẹ nhõm trong lòng. Phải chăng quyết định của Quyền, ly dị và đuổi nàng ra khỏi nhà, là giải pháp ngắn nhất và giản dị nhất mà từ lâu nàng thầm ước?

“Quê có thể ở tạm căn gác của trường.”

“Thế Bianca thì sao?”

Nhiều lần đến lớp học khiêu vũ Quê gặp Bianca đứng trên gác bên cửa sổ. Nét mặt buồn, mắt hướng xa xăm. Người bà toát ra một vẻ cô độc lặng lẽ. Bà đứng bên trong trường khiêu vũ nhìn ra bên ngoài đường phố như tìm kiếm và tiếc nuối một điều gì đã mất. Quê đứng bên ngoài đường phố nhìn vào bên trong trường khiêu vũ như tìm kiếm một cái gì đó nàng khao khát nhưng chưa có. Ly dị chồng từ hồi còn trẻ, bà dành hết cả cuộc đời cho khiêu vũ “Táp” (tap dancing). “Bianca bị đột quị qua đời từ tuần trước. Anh không muốn Quê xao lãng tâm trí trước ngày dự thi nên không nói cho Quê biết.”

* * *

Bianca có một đôi giày khiêu vũ “Táp”. Đôi giày cũng kín mũi và có quai ở cổ chân, màu vàng kim, bên dưới đế có gắn hai miếng kim loại. Bà đặt đôi giày ngay ngắn trên một cái kệ giống như bệ thờ. Dưới gót giày là tấm thiệp có hàng chữ “Đôi giày khởi nghiệp.” Quê nhớ, ngày đầu tiên nhìn thấy đôi giày của nàng, Vũ cũng nói như thế. Thế nào nàng cũng phải hỏi Vũ. Chữ nghiệp chàng dùng đi đôi với chữ nghề, hay nó liên quan đến định mệnh, như trong nghiệp chướng.

Quê đến đứng bên cửa sổ. Trong đầu nàng vẫn vang dội điệu nhạc tango “I can hear the sound of violin, long before it begins… .” Mùa lễ Tạ ơn bắt đầu. Năm nay tuyết rơi sớm. Soi bóng mình qua cửa kính, nàng thấy mình hao hao giống Bianca.

Nguyễn thị Hải Hà

Một buổi đi rừng

vương miện của alien
Vương miện của người ngoài hành tinh

Hôm qua tôi đi rừng. Trời không lạnh mấy, chừng 5 độ C. (khoảng 43 độ F.) Mùa đông lại ngày thường trong tuần, rừng rất vắng. Đi cả mấy tiếng đồng hồ chẳng gặp ai.

Đến một nơi khá rộng rãi thấy hai người lui cui với hàng bụi rậm dọc theo đường mòn. Một nam một nữ. Người đàn ông mặc áo khoác ngắn, không dày lắm. Người đàn bà mặc áo khoác dài, và dày. Thấy chúng tôi đến gần ông lên tiếng:

“Ông bà có biết chúng tôi đang làm gì không?”

“Ah! Tôi cũng đang tự thắc mắc đây.” Tôi vừa nói vừa cười.

Ông chỉ vào một cái cây không lá, mọc thẳng, trông như một ngón tay chỉ lên trời, màu nâu nhạt, chỉ có điều là ngón tay này dài đến chừng hơn hai mét. Giải thích:

“Đây là cây azalea Nhật Bản. Có nhiều loại azaleas, Nhật Bản, Hàn quốc. Đây là loại thảo mộc ngoại lai, xâm lấn môi trường rất mạnh. Chúng tôi cắt bỏ chúng để chúng không tận diệt cây cỏ nguồn gốc địa phương.”

“Làm thế nào mà chúng có mặt ở nơi đây?” Tôi tò mò hỏi trống không. Nghĩ thầm ai mà đem cây của Nhật ra ngoài rừng của người Mỹ trồng để làm gì.

Người đàn bà, khoảng sáu mươi, tóc bạc, hồng hào, ăn mặc khá đẹp, có vẻ như đi phố hơn là làm việc trong rừng, trả lời câu hỏi của tôi:

“Chim rừng ăn hạt của cây. Ăn chỗ này rồi bay đi chỗ khác. Phân của chúng rơi rớt khắp nơi mang theo hạt còn sót trong phân. Cứ thế mà cây mọc khắp nơi.”

Chung quanh, dưới chân hai người là kéo cắt cây, loại kéo to, có thể cắt được cả những thân cây to bằng cổ tay tôi. Họ có cả cưa bằng tay nhưng rất cứng và bén. Cây azalea Nhật Bản, quả thật mọc khá nhiều, có vẻ như rễ luồn dưới đất, gặp chỗ thuận tiện là trồi lên, thẳng thóm khỏe mạnh. Nói là nhiều, một khoảng túm tụm dăm ba cây azaleas Nhật Bản, nhưng so với vô số cây địa phương, cả một rừng bạt ngàn kia thì một nhóm cây thật chẳng là bao.

“Loại này mùa xuân cho hoa khá đẹp.” Tôi nói bâng quơ.

“Đúng vậy. Hoa của chúng rất đẹp nhưng chúng làm hại các loài cây cối địa phương khác.” Người đàn ông nói.

Sau khi cắt cây, họ dùng một loại dung dịch thuốc diệt cỏ có pha màu xanh bôi lên chỗ cắt gốc cây gần sát mặt đất để tận diệt, giết cả rễ, để đánh dấu là họ đã ra tay tàn sát kẻ xâm lấn. Đây là rừng hoang, cây cỏ dại mọc um tùm. Mùa xuân mùa hè hoa rừng nở thơm ngát. Nhiều chỗ có cây dâu dại, loại trái dâu mâm xôi, dâu tằm. Um tùm như thế nhưng trời lạnh hung là chúng biến mất hết, tàn rụi hết.

Tôi nhớ khi đi vườn Bách Thảo ở New York, thấy người ta có cả một khu rừng nhỏ để trồng riêng đủ thứ loại azaleas Nhật Bản, Hàn quốc, Trung quốc. Còn ở đây người ta tìm giết chúng. Cũng chỉ là cây mọc hoang, tại sao người ta phải giết loại cây (họ tin là) có nguồn gốc nước ngoài, để cho loại cây địa phương được phát triển? Cứ để chúng sống tự nhiên thì đâu có hại gì. Rừng hoang chứ có phải trại trồng cây ăn trái đâu mà sợ. Họ có vẻ như là những người yêu cây cỏ, và họ tin là họ đã làm việc thiện để bảo vệ cây cỏ của xứ họ. Thoạt tiên nghe thì cũng phải chăng, bình thường. Nhưng có thật như thế là bình thường và phải chăng?

Thế còn người ta, liệu có người sẽ bảo vệ nguồn lợi, sự sống còn của người bản xứ ,và tìm cách loại bỏ, những người đến từ xứ khác, càng lúc càng đông chen chỗ sống trên xứ họ? Và như thế có công bằng không? Tại sao tôi lại có ý nghĩ so sánh giữa người và cây khi thấy người ta cắt cây ngoại lai ở trong rừng? Tôi là người nước ngoài tự ví mình như cây cỏ ngoại lai, đến không được mời, phát triển tốt đâm ra có vẻ chen lấn giành giật cuộc sống của người bản địa.

Còn bạn, bạn có nhìn thấy người ta tìm cách loại bỏ người gốc ngoại quốc đến làm việc trong công ty của người bản xứ? Khi họ downsize, người gốc nước ngoài thường bị cho rơi trước người bản xứ?

Loài người của chúng ta có khi khá bất công mà không nhận ra. Có một bà đi tìm bắt giết chim swallow bởi vì loại này mỏ cứng, cưỡi lên lưng rồi mổ rỉa óc của những con chim blue jays nhiều màu sắc và đẹp hơn.

Tại sao người ta có quyền quyết định dân này, loại cây này, loại chim này phải bị diệt bỏ để dành đất sống cho giống dân khác, loài cây khác, loài chim khác?

Nhiều khi cho mèo hoang ăn, chúng ăn không hết, racoon và opossum đến ăn. Ông Tám có ý không thích những con thú rừng hoang này. Nhưng nghĩ cho cùng, tại sao mình thấy thương hại những con mèo hoang mà không muốn bố thí cho mấy con thú kia ăn?

Tại sao?

bông cỏ khô
Hoa khô của cỏ dại

 

Những thành phố tí hon

một góc nhìn thành phố New York ban đêm
Một đoạn High-Line của thành phố New York, nhìn từ trên cao phía bên kia sông Hudson (tức là New Jersey)

Cứ theo ánh nhìn, ắt có bạn sẽ đoán là tầm nhìn từ trên trời, trên trực thăng, chứ nếu từ bên kia sông Hudson nhìn qua New Jersey, với mắt người bình thường làm gì thấy được như thế. Thôi tôi nói dối đã đủ rồi. Ảnh bạn đang nhìn là mẩu thu nhỏ được trưng bày trong phòng triển lãm.

High Line là một đoạn đường xe lửa bỏ hoang. Người ta sửa sang lại, biến nó thành một công viên ở trên đoạn đường sắt. Đây là nơi vui chơi khá lý tưởng vào lúc mùa xuân cho đến mùa thu, nhiều thứ cây và hoa địa phương được trồng dọc theo đường High Line bên cạnh một số kỳ hoa dị thảo. Tôi có một hai bài viết về High Line với hình ảnh (nay đã không còn vì computer bị hư cách đây vài tuần).

Khi bạn đứng bên các hình mẩu thu nhỏ (model) bạn sẽ có cảm tưởng mình là người khổng lồ. Chắc chắn các bạn ở tuổi tôi còn nhớ chuyến du hành của Gulliver lạc vào xứ tí hon, ngày xưa tôi đọc say mê các truyện du hành như thế. Cùng với Chuyến du hành của Gulliver lạc vào xứ người tí hon, có Vòng quanh thế giới 80 ngày, Hai chục ngàn dặm dưới đáy biển, v. v… .

Nếu bạn quên rồi thì để tôi nhắc lại vài chi tiết. Gulliver lạc vào xứ Lilliput. Khát nước phải uống hai ba thùng tô nô (loại thùng gỗ hình trụ dùng để chứa rượu). Dân xứ này cao chừng 6 inches (độ một tấc rưỡi). Khi họ sợ hãi người khổng lồ, cung tên họ bắn như kim chích. Bánh mì phải hai ba ổ thì mới vừa một miếng đưa vào miệng của Gulliver.

Hôm Lễ Tạ Ơn, tôi và cô con út vào thành phố New York đi xem phòng triễn lãm Gulliver’s Gate. Giá vé khá đắt để xem những hình mẩu tí hon này. Tôi thấy giá tiền quá cao so với cuộc triển lãm. Giá vào các viện bảo tàng danh tiếng ở New York vẫn còn rẻ hơn. Các hình mẩu, thoạt xem thấy có vẻ tinh vi, nhưng tôi không biết với tỉ lệ là bao nhiêu và có theo đúng với tỉ lệ hay không.

Vào đây, bạn sẽ nhìn được năm châu bốn bể, những thành phố lớn của Pháp (Paris và tháp Eiffel), Anh (London với Big Ben và cầu Tower Bridge), Nga (Kremlin và nhà thờ các ngôi giáo đường các ngôi điện có mái củ hành), Trung quốc (Cấm thành, nơi quay phim Kungfu), Ấn Độ (tòa nhà đá cẩm thạch trắng Taj Mahal). Một thiếu sót lớn lao là không có Nhật Bản (dù con tàu cao tốc bullet train được thiết kế với đường xe lửa chạy vòng quanh các nước Á châu)

đấu võ trên ngọn cây
Phim trường Trung quốc, diễn viên đóng phim đánh võ bay trên ngọn cây

Rất tiếc loạt ảnh kỳ này tôi chụp dở quá nên không có ảnh, một phần vì tối, một phần vì tôi đi với con tôi, sợ chụp ảnh nhiều rề rà cũng kỳ, làm phiền con. Tôi đã không xem kỹ phần thành phố New York nhất là cầu Brooklyn làm khá công phu. Định quay trở lại nhưng vừa lúc ấy đói bụng quá nên hai mẹ con đi kiếm thức ăn. Sau đó là trời đã tối. Hôm ấy lạnh nhiều và trời mùa đông bốn giờ đã thấy hoàng hôn).

Hẹn trở lại nơi này một ngày gần đây.

Sáng hôm nay

ảnh sóc chụp từ bàn viết qua hai lớp kính và lưới cửa sổ
Ảnh sóc chụp từ bàn viết xuyên qua hai lớp kính và lưới của cửa sổ

This Morning – Jane Kenyon

The barn bears the weight
of the first heavy snow
without complaint.

Chuồng gia súc chịu sức nặng
của cơn bão tuyết đầu mùa
không than
 thở 

White breath of cows
rises in the tie-up, a man
wearing a frayed winter jacket
reaches for his milking stool
in the dark.

Hơi thở trắng đục của mấy con bò
bay lên từ nơi cột gia súc, người đàn ông
mặc áo khoác mùa đông đã sờn
lấy cái ghế thấp để ngồi vắt sữa
trong bóng tối. 

The cows have gone into the ground,
and the man,
his wife beside him now.

Đàn bò đã ra đồng,
và người đàn ông
vợ anh đang ở bên cạnh

A nuthatch drops
to the ground, feeding
on sunflower seed and bits of bread
I scattered on the snow

Chim sẻ tuyết bay xà
xuống mặt đất, ăn
hạt hướng dương và mảnh vụn bánh mì
tôi rải trên mặt tuyết 

The cats doze near the stove,
They lift their heads
as the plow goes down the road,
making the house
tremble as it passes.

Mấy con mèo lim dim gần bếp lò
Chúng ngẩng đầu nhìn
khi cái máy cày đi trên đường,
khiến căn nhà
rung rinh khi nó đi ngang.

Giấc Mơ

Sáng nay, cô út lên đường trở lại Urbana-Champaign. Chuyến bay lúc bảy giờ, nên bố cô đưa ra phi trường lúc năm giờ. Cô dậy lúc bốn giờ rưỡi sáng, trong nửa tiếng chúng tôi kể chuyện giấc mơ. Tôi kể giấc mơ của tôi trước.

Tôi đi ghi tên học một lớp Anh ngữ. Đó là một trường đại học cộng đồng. Trời đang mưa nên cảnh vật toàn màu xám. Quang cảnh đường đi rất lạ, không có nét gì giống nơi tôi đang sống. Tôi đi con đường tắt qua những cổng ngăn với cầu thang gỗ nhiều tầng. Nước ngập nhiều nơi lấp xấp dưới chân tôi. Đi bộ khá xa mà chưa đến trường, nhìn phía trước mặt chỉ thấy con đường xa tắp nhưng tôi chỉ quẹo phải ở một góc đường thì thấy trường trước mặt. Trường to, rộng, đẹp, rất đông học sinh. Tôi đã đóng tiền học và mang theo copy của cái check đóng tiền học. Tôi hỏi những người làm việc ở đó tòa nhà nào phòng nào là lớp học của tôi. Không ai biết. Tôi lớ ngớ giữa những dãy nhà to rộng không biết chỗ nào là lớp của mình. Tôi chợt phát hiện là cái túi xách loại tote bag có sách vở và tiền bạc của tôi bị biến mất. Tôi càng bối rối hơn vì mất hết tiền ở chỗ lạ mà vẫn chưa đến lớp học. Tôi đi tìm lanh quanh lạc ra khỏi trường khi trở lại được chỗ cũ thì sân trường trở nên vắng lặng. Tôi thấy cái túi xách của tôi bị quẳng ở một góc nhưng bây giờ thì trống rỗng. Tôi không biết sách học của mình là quyển gì. Có một cô bé xinh xắn người Á châu đến gần bảo rằng: “Bà có thể mượn sách của Minh.” Minh là cháu gọi tôi bằng mợ đã tốt nghiệp Thạc sĩ từ mấy năm trước. Cô nói tiếp: “Minh mang về nhà hai cuốn sách, (tên tác giả Việt nghe rất trang trọng trong giấc mơ nhưng bây giờ tôi không nhớ).” Tôi nằm mơ, nghe và nói toàn tiếng Anh.

Cô út kể giấc mơ của cô.

Con thấy con đi ra đường mà quên mặc quần áo. Con biết ngay là con đang nằm mơ. Con tự bảo mình trong giấc mơ. “Mi đang nằm mơ. Mi là một cô gái chính chắn và trưởng thành. Mi không có lý do gì mà ra đường lại quên mặc quần áo.” Rồi con tự ra lệnh cho mình trong giấc mơ. Dùng ý chí của mình khiến mình nhảy vọt lên trên đầu của tòa nhà. Con thành công trong việc làm này. Rồi con lại dùng ý chí của mình, vẽ quần áo cho mình để không còn bị trần truồng. Điều này con lại không thành công. Con có thể dùng ý chí của mình, trong giấc mơ, hoàn thành nhiều việc, tuy nhiên vẫn không thể biến hóa cho mình thoát khỏi cảm giác bị trần truồng giữa đám đông vào lúc ban ngày.

Đến đây thì cô lên đường. Chúng tôi ôm nhau. Hẹn gặp lại lúc Giáng Sinh.

Tối qua bạn có nằm mơ không? Giấc mơ có kỳ dị không?