Nhật ký đọc 8

Tranh Hokusai, thơ Lý Bạch.

Lý Bạch ngắm thác nước ở Lu Sơn

Lâu rồi đọc quyển tranh Hokusai, tôi thấy quyển sách có đưa ra chủ đề “So sánh thơ Nhật và thơ Trung quốc” trong loạt tranh của Hokusai. Trong loạt bài này có bức tranh vẽ Lý Bạch đi ngắm thác nước ở núi Lu Sơn. Đây là bức tranh gỗ loại có kích thước 50.9 x 22.9 cm. Thi sĩ Lý Bạch được hai người hầu cận đỡ trong khi ông ngắm thác đến ngơ ngẩn cả người. Bức tranh được Hokusai bố cục táo bạo bằng cách chia bức tranh thành hai phần theo chiều thẳng đứng.

Kèm theo bức tranh có bài thơ của Lý Bạch, được Alfred Haft dịch ra tiếng Anh.

Censer Peak in the sunlight puffs clouds of purple haze,
as, seen afar, the waterfall hangs before the river.
The current leaps and tumbles sheer for three-thousand feet.
Or is that the Milky Way pouring from the heights of heaven?

Bản tiếng Hán Việt và bản dịch ra tiếng Việt tôi tìm thấy trong “Đường Thi Tuyển Dịch II” của ông Chi Điền Hoàng Duy Từ. Trang 88. Quyển này do ông Hoàng Tuấn Lộc xuất bản năm 1986 ở Hungtington Beach California.

Vọng Lư sơn bộc bố.
Nhật chiếu Hương-Lo sinh tử yên. 
Dao khan bộc bố quải tiền xuyên
Phi lưu trực há tam thiên xích
Nghi thị Ngân hà lạc cửu thiên

Nắng rọi Hương Lô khói tía bay,
Xa trông dòng thác trước sông này:
Nước bay thẳng xuống ba nghìn thước,
Tưởng dãy Ngân-hà tuột khỏi mây

Bản dịch của Tương Như

Nhật ký đọc 7

Susan Sontag “On Photography.”

Có thể nói đây là một bài luận dài.  Rất dài.  Mở đầu bà viết, ban đầu chỉ có ý định viết một bài tiểu luận, nhưng càng viết càng mở ra những điều muốn viết.  Bà bảo rằng chụp ảnh là mối đam mê của bà.  Điều kỳ lạ là toàn quyển sách hơn 200 trang về nhiếp ảnh, không có một tấm ảnh nào cả. Hoàn toàn không.  Tôi nghe tên bà.  Biết bà qua đời.  Nghe nhắc tên quyển sách về nhiếp ảnh này đã lâu.  Mãi đến bây giờ, sau mấy năm xách máy chụp ảnh, chụp đại, cứ giơ máy lên chụp, trăm tấm hư mới có một tấm coi được, tôi mới đọc quyển này.  Tôi không biết tôi tìm gì trong quyển sách, tôi đọc cũng như tôi chụp ảnh, cứ dấn thân mà đọc.  Bao giờ tôi cũng đọc mục lục trước, coi có tiểu đề nào hấp dẫn thì đọc trước.

Đây là một quyển sách bà Sontag đã ghi lại những ý nghĩ của bà về nhiếp ảnh; nguyên nhân, hậu quả, sự thể hiện của người chụp ảnh.  Bà hoàn toàn không nói gì đến kỹ thuật.  Điều này ngầm hiểu là mỗi người chụp ảnh đều phải biết cách dùng máy.

Có rất nhiều câu văn rất hay.  Tôi ghi lại chỉ một phần rất nhỏ.

“Sưu tập hình ảnh là sưu tập cả thế giới.” Tr. 3

“Chịu đựng là một chuyện, sống với những hình ảnh của sự chịu đựng lại là một chuyện khác.  Điều này không nhất thiết sẽ giúp cho lương tâm mình vững chắc hơn và làm tăng khả năng cảm thông với nhân loại.  Trái lại nó có thể hủy hoại cả hai, lương tâm và cảm thông.”  Tr. 20

Đoạn này làm tôi nghĩ đến tấm ảnh đoạt giải Pulitzer về một đứa bé bị đói lâu ngày sắp chết, có con kên kên gần đó đang chờ đứa bé chết đi để ăn thịt.  Người chụp được tấm ảnh biểu hiện giây phút này, được giải thưởng.  Về sau ông tự tử chết.  Không hẳn là tấm ảnh này đưa đến quyết định tự tử, mà là hậu chấn thương của những ngày săn tin chiến trường nhìn thấy đầy rẫy những thống khổ nhân loại và ghi lại những thống khổ này qua những tấm ảnh.

“Bộ môn nhiếp ảnh ngầm bảo rằng chúng ta hiểu biết về thế giới nếu chúng ta chấp nhận những gì chúng ta nhìn thấy trong những tấm ảnh mà máy ảnh ghi lại.  Nhưng điều này đi ngược lại sự hiểu biết, bởi vì sự hiểu biết bắt đầu từ việc không chấp nhận cái bề ngoài của thế giới mà chúng ta nhìn thấy.  Tất cả những cơ hội có thể giúp chúng ta hiểu biết bắt nguồn từ cái khả năng nói không.  Tóm lại, người ta không bao giờ hiểu biết tường tận một điều gì nếu chỉ nhìn từ một tấm ảnh.”  Tr. 23

Đoạn này làm tôi nhớ đến bức ảnh chụp tướng Loan đang bắn vào đầu một người Việt Cộng nằm vùng đã giết cả gia đình một người bạn của tướng Loan.  Bức ảnh đã làm tướng Loan thân bại danh liệt và gây ảnh hưởng xấu về hình ảnh của giới lãnh đạo Việt Nam Cộng Hòa.

Có nhiều đoạn rất hay nhưng tôi lười dịch nên tóm tắt ở đây.  Bà nói là không ai khám phá ra sự xấu xí trong hình ảnh.  Người ta khám phá ra vẻ đẹp.  Ngay cả bức tranh ghi lại sự xấu xí cũng là cái đẹp.  Tôi nghĩ đến những bức ảnh của những bà cụ ông cụ ở miền núi, răng rụng, da nhăn nheo vì nắng gió, đó là cái đẹp của những gì mà người ta thường cho là xấu xí.  

Người ta nghĩ người chụp ảnh chỉ là người ghi chép lại, một người cóp pi, chứ không phải là người sáng tạo, một nhà thơ.  Nhưng khi người ta nhận ra rằng cùng một sự vật, mỗi người chụp ảnh sẽ đưa ra cái nhìn khác nhau, những ghi nhận khác nhau.  Điều này chứng tỏ một tấm ảnh là cái nhìn của một cá nhân, không chỉ là ghi chép mà còn là sự đánh giá, và sáng tạo.

Cuối quyển sách bà Sontag còn sưu tập rất nhiều câu nói của các tác giả khác về nhiếp ảnh.  Tôi thấy có một đoạn của Paul Strand rất hợp với tôi.

“Ảnh của bạn chụp là sự ghi nhận cuộc sống của bạn, cho bất cứ người nào thật sự nhìn thấy.  Bạn có thể nhìn và bị ảnh hưởng bởi cách nhìn của người khác.  Bạn có thể sử dụng những cách nhìn này để tìm kiếm chính bản thân, nhưng cuối cùng rồi bạn cũng phải giải thoát bạn ra khỏi họ.”  Tr. 183

Và câu này.

“If I could tell the story in words, I wouldn’t need to lug a camera.”  Lewis Hines.  p. 185

“Nếu tôi có thể kể một câu chuyện chỉ cần dùng chữ nghĩa, tôi đã chẳng cần phải mang lòng thòng một cái máy chụp ảnh.”

Tôi dịch tàm tạm, dịch thoát để tôi hiểu, không theo đúng chân thiện mỹ đâu nha.  Bạn đừng chấp.  Nếu muốn chắc chắn, hãy tìm đọc nguyên bản. Và sau đây là những ghi nhận về cuộc sống của tôi.

Không biết có đúng tên hay không thấy trên mạng có người nói nó là chim bufflehead. Buổi sáng đi bộ dọc bờ sông thấy có con nửa chim nửa vịt, (có mỏ giống mỏ vịt nhưng biết bay) này.
Không mấy khi gặp hạc vờn nhau, tiếc là chỉ chụp được như thế thôi.
Chỉ trong vài giây suýt va vào nhau, mỗi con bay về một hướng khác nhau
Bên kia sông có cái tổ ó bạc đầu.

Nhật ký đọc 6

Đây là quyển sách tôi chỉ đọc có vài đoạn. “Stupid Things I Won’t Do When I Get Old” (Những việc ngu đần tôi sẽ không làm khi tôi già) của Steven Petrow viết chung với Roseanne Foley Henry. Ông dùng chữ ngu đần, tôi thấy nên dùng chữ silly, nếu ông có dụng ý viết một quyển sách để chế riễu nhẹ nhàng hay khuyến khích người ta sống theo ý muốn, làm cho cuộc sống sinh động và sự tồn tại của mình có ý nghĩa hơn.

Quyển sách có tựa đề rất hấp dẫn nhưng tôi chỉ đọc tóm tắt nội dung thấy tác giả chia ra ba nhóm tiểu đề. Thứ nhất là những việc tác giả không làm ngay bây giờ, chưa già (mấy). Thứ hai là những việc không làm sau khi già (về hưu hay gì đó tôi quên mất). Và thứ ba thì tôi hoàn toàn không nhớ mình đã đọc gì.

Ở phần thứ nhất, ông Petrow nói một trong những việc “ngu đần” ông không làm ngay bây giờ là ông sẽ không nhuộm tóc. Điều này nghe cũng được, dù tôi không thấy chuyện nhuộm tóc quan trọng (hay đáng sợ bị chế nhạo) đến mức phải nhắc đến đầu tiên. Chỉ trích việc nhuộm tóc là tự đặt mình ra giữa sân để bị người ta ném đá. Có lẽ việc nhuộm tóc, nếu có bị chỉ trích, thì đó là việc che dấu mình đã có tuổi, mình còn đỏm dáng điệu đà, và mình sợ bị chê. Nhưng người nào cũng có quyền sống theo ý thích của mình. Đâu có gì đáng chê trách nếu mình thích được có vẻ ngoài hình dáng trẻ hơn tuổi thật, và có màu tóc đen, hoặc đỏ, tím, hay xanh. Tôi thấy có nhiều cô gái trẻ măng nhuộm tóc bạch kim, người trẻ thì tóc bạc vẫn thấy trẻ. Ngay cả những người nhuộm tóc để che dấu tóc bạc, người ta vẫn biết là lục phủ ngũ tạng còn trẻ đến mức nào.

Quyển sách cũng nói thêm là khi già tác giả sẽ không làm những việc như: không chơi với bạn trẻ, không mặc quần áo kiểu trẻ, không làm những việc không hợp với số tuổi, và những việc đại loại như thế. Không làm cái không làm có nghĩa là làm. Ai già mà thích chơi với bạn trẻ, mặc quần áo kiểu trẻ, thích làm thích chơi những việc ngông cuồng của tuổi trẻ, thì cứ việc. Và ông sẽ không chừa hai khoảng trống sau dấu chấm câu để bắt đầu câu mới. Chỉ đọc đến đó là tôi ngưng vì tôi thấy quyển sách viết nhảm. (Chắc có nhiều bạn không để ý đến cách viết của người Mỹ. Dấu chấm câu được đặt ngay sau chữ không có khoảng cách. Sau đó có hai khoảng cách mới đến chữ của đầu câu sau). Đa số người Việt chỉ có một khoảng cách.

Ở đầu quyển sách có vài câu trích dẫn thú vị.

“It is not true that people stop pursuing dreams because they grow old.  They grow old because they stop pursuing dreams.” – Gabriel Garcia Marquez

Không phải người ta ngừng theo đuổi những ước mơ vì người ta đã già. Họ trở nên già cả vì họ từ bỏ những ước mơ.”

How old would you be if you did not know how old you are? – Satchel Paige

Ông hay bà được bao nhiêu tuổi khi ông hay bà không biết số tuổi của mình?

Sau đó tôi đọc quyển Susan Sontag “On Photography.” Nhưng để ngày mai tôi sẽ viết Nhật Ký đọc 7. Hôm nay thì để đọc về thiền sư Thích Nhất Hạnh viên tịch.

Con cáo lang thang vào sân sau nhà tôi.

Update: ngày 23 tháng 1 năm 2022, 6:01am. Bài thơ Quế Trân Dã Thảo tặng.

Tóc Không Bạc.

Tóc có bạc nhưng tâm hồn vẫn trẻ,
Đó là diều cần nhất phải không em,
Sáng mai này em thức dậy sau đêm,
Nếu không ngủ tóc có vài gợn trắng!

Thì đừng nói rằng tại em đã già.
Nhuộm tóc đi níu thời gian chớ ngại,
Ở ngoài kia trời còn ửng nắng hồng.
Dù thời gian có đứng lại hay không.

Thân tặng Hải Hà.
DTQT.

Osage orange

Cũng là nhật ký đọc số 5.

Đêm qua, người ta thông báo đóng cửa, hay mở cửa trễ các cơ quan hành chánh, trường học, và công ty, vì có tuyết. Sáng nay thức giấc trời đục, mặt đất ướt mưa nhưng chưa có tuyết. Chừng 8 giờ sáng, nhìn ra sân thấy lấm tấm tuyết. Tôi mở cửa ra sân sau mang thức ăn cho mèo hoang thì thấy Mun đã đến, lông lốm đốm tuyết trắng. Thấy tôi Mun kêu lên um sùm, chắc phàn nàn cho ăn trễ. Vừa kêu vừa bỏ chạy, nhưng biết có thức ăn và tôi thì vô hại nên quay trở lại. Bọn mèo hoang có lẽ biết trời tuyết, thường ăn để dự trữ cho những ngày không đi tìm thức ăn được.

Trên đường đi bộ, ở nhiều nơi, tôi gặp một loại trái lạ, màu xanh lá cây non, có lẫn màu trắng, hay vàng rất nhạt, tùy theo cách nhận biết màu sắc của mỗi người. Tôi chưa hề cầm nó lên để biết nó nặng cỡ nào, da của nó có vẻ sần sùi vì có nhiều múi to hơn hạt nếp một chút, nhưng nếu chỉ sờ một múi nhỏ trên da thì mỗi múi có thể trơn láng. Một bức tranh (hay tấm ảnh) minh họa quí giá hơn ngàn chữ. Tôi có nhiều ảnh của trái này nhưng lười lục tìm ảnh cũ nên chỉ tìm được tấm này thôi. À, tôi dùng chữ múi, vì tôi không biết dùng chữ gì khác. Tôi đoán mỗi trái độ nửa kí là cùng.

Osage orange, monkey brain, hay hedge apple

Bên trong, ruột của nó khiến tôi liên tưởng đến trái bình bát, có khi so sánh nó với trái sa kê, nhưng nó không giống hẳn ruột trái bình bát, càng không giống với trái sa kê. Ruột nó hơi giống ruột bình bát, nhưng bình bát ruột hơi hồng, còn cam osage ruột trắng. Mỗi tép của ruột bình bát và ruột cam osage đều có hạt, nhưng tép của cam osage thì lép hơn. Nếu bạn tra wikipedia tiếng Anh sẽ thấy trái này. Wikipedia tiếng Việt cũng có nhưng rất ít chi tiết, và không có tên tiếng Việt. Gọi nó là osage orange vì có lẽ nó giống trái cam. Cam osage. Trái này cỡ chừng nắm tay người lớn, chắc cỡ người Mỹ, lớn hơn nắm tay tôi cỡ cái đầu của con khỉ, vì nó có nhiều lobe (không biết tiếng Việt chỉ những chỗ phồng ra) giống như lobe của bộ não nên gọi nó là óc khỉ, monkey brain. Cây của nó có nhiều nhánh gai, người ta trồng sát vào nhau để làm hàng rào. Trái của nó lớn hơn trái táo một chút, người ta gọi là táo hàng rào hàng giậu, hedge apple.

Tôi gặp trái này ở Duke Farms, Colonial Park, và dọc theo bờ kênh Delaware và Raritan Canal. Lúc đứng nhìn trái này ở Duke Farms, một người phụ nữ đi ngang nói cho tôi biết tên trái này. Monkey brain và osage orange. Cả hai tên đều dễ nhớ. Chữ osage làm tôi nghĩ đến cuốn phim August: Osage County do Meryl Streep đóng. Ở Mỹ có vài ba địa danh có cùng cái tên Osage County. Địa danh trong phim nói trên thuộc tiểu bang Oklahoma.

Trái này dù mang tên táo cam nhưng không ai ăn cả. Ngày xưa có lẽ người ta để cho ngựa đến gần hàng rào, phân chia ranh giới đất nhà và đất hàng xóm, ăn trái rụng. Vậy mà cũng có chỗ bán trái này. Người ta mua nó về để trang trí, vì màu xanh tươi mát của nó. Cam osage xuất hiện cả trong chương trình của Martha Stewart, một người nổi tiếng trên truyền hình, có cả show riêng của bà chuyên về nấu ăn, và trang trí nội thất. Tôi biết điều này qua quyển sách “The Book of Difficult Fruits” của Kate Lebo. Tò mò về trái cam osage, tôi thử tìm trong thư viện địa phương, thì bắt gặp quyển sách này.

Ở Wikipedia có bài khá đầy đủ, thỏa mãn óc tò mò của tôi, nhưng tôi muốn biết quyển sách nói về các loại trái cây nào khác ngoài trái cam osage. Quyển sách sắp tên các loại trái cây lạ, trái mọc hoang trong rừng, trái ít người ăn, khó ăn, hoặc không thể ăn được theo thứ tự mẫu tự abc. Và tôi gặp trái sầu riêng durian.

Những gì tác giả Lebo viết về trái sầu riêng thì chẳng có gì lạ với tôi. Đa số người ngoại quốc (và không ít người Việt hay gốc Việt) không thể thưởng thức trái sầu riêng vì mùi của nó. Người ta chê là hôi thúi. Những người ăn được thì lại rất thích mùi sầu riêng, bảo rằng thơm. Tôi ăn được, thích mùi, nhưng không thích đến độ bỏ ra mười đô la để mua nửa kí sầu riêng. Vị nó ngọt, thịt nó nhão, có hậu beo béo. Lebo cố so sánh nó với đủ thứ mùi như cheese mốc, kể cả hành, tỏi, không thấy nói đến cá ươn hay thịt ươn. Thật ra khó mà diễn tả mùi hương dù thơm hay hôi thối nếu người ta chưa từng trải qua, ngửi thấy mùi này. Mỗi mùi hương mỗi khác. Có những mùi tưởng như giống nhau, nhưng với người tinh tế họ vẫn nhận ra sự khác biệt của mùi hoa bưởi, hoa chanh, hoa cam.

Điều làm tôi thấy lạ lùng là bộ phận khứu giác của loài người lại có những cấu trúc đặc biệt, khiến cùng một mùi mà người thấy thơm, người thấy hôi thối. Hoặc là khi nó đậm đặc thì người ta bỏ chạy, nhưng khi pha loãng thì người ta bôi xịt thoa lên người. À tôi đang nghĩ đến mùi của con civet, chất tinh túy của nó người ta pha vào nước hoa Chanel 5 nếu tôi nhớ không lầm. Nếu tôi có lầm là lầm cái tên của nước hoa, chứ tôi chắc chắn là người ta có dùng chất dầu của con civet để làm nước hoa.

Trở lại với quyển sách Những loại trái cây lạ thường của Lebo, bà cho biết gỗ của cây cam osage rất cứng, có thể làm củi đốt, nhưng nhiều tàn. Gỗ của nó có thể được cắt lát mỏng và làm thành frisbee, một loại đĩa mỏng người ta ném và bắt để làm trò chơi. Lục trên internet thấy loại gỗ này có vân rất đẹp, người ta làm thành những món đồ trang trí rất tinh xảo như đĩa và bát để chưng trái cây, hoặc những hình điêu khắc khác.

Còn những loại trái khác nữa elderberry, gooseberry, có cả trái của bồ công anh. Lebo cũng chịu khó nếm, ăn sầu riêng. Bà (hay cô) cũng ăn thử chè, làm kem sầu riêng có kèm theo công thức. Tôi chỉ đọc kỹ phần cam osage và sầu riêng. Những loại trái cây khác thì để đó, lần khác sẽ đọc tiếp.

Trăng mùa đông

Cũng là nhật ký đọc số 4.

Đêm qua trời có trăng. Ánh trăng chiếu lên mặt đất phủ một lớp tuyết mỏng tạo thành một vẻ đẹp huyền hoặc. Tôi mở rèm cửa cho rộng ra để ánh sáng tràn vào, cái ánh sáng tuy dịu mắt nhưng khiến người ta cảm thấy rất lạnh. Tôi không thể chụp ảnh vẻ đẹp của ánh trăng trên tuyết. Công việc này đòi hỏi phải có một máy ảnh rất tốt có thể chụp ảnh trong điều kiện ít ánh sáng, phải sử dụng tripod, và phải ra ngoài trời lạnh. Tôi không đủ đam mê, bên cạnh không đủ tài để làm công việc này.

Buổi sáng thức dậy, trời ấm hơn. Sáng hôm qua chỉ có 6 độ F. (-14 độ C.). Sau nhà tuyết đã tan hết. Bầy chim blue jay đến ăn, con nào cũng mập ú. Có con bụng bè ra, có vẻ như mang quả trứng trong bụng. Nó nằm yên tĩnh trên cành cây thật lâu. Ở một nhánh cây khác có con chim robin cũng nằm yên tĩnh như thế. Thấy mặt đất phủ đầy lá trên đồi sau nhà có cái gì đó di động, nhìn kỹ thì thấy con opossum khá to lớn đang bò loanh quanh. Tôi tự nhủ, nếu cô em chồng của tôi mà nhìn thấy con opossum này chắc là cô sẽ chết giấc. Ngay cả tôi vốn dễ dãi với bề ngoài của thú vật cũng phải công nhận con opossum là con vật xấu xí. Ngó qua bên sân sau nhà Patti thì thấy có con cáo đang tìm thức ăn. Lúc trời còn mờ tối, bầy nai bảy con ăn cỏ ở sân trước chung quanh bụi trúc. tôi mở cửa sau để xem có con mèo nào đến xin ăn chưa thì nghe có tiếng nai sủa inh ỏi. Tiếng nai sủa nghe khá đáng sợ. Người ta nói nó sủa có thể để khẳng định lãnh thổ, và cũng có thể vì lạc đàn, lên tiếng để đồng loại có thể biết vị trí của nó.

Tôi giặt đồ sắp xong. Quần áo đang sấy, chờ khô. Không biết làm gì, tôi mở quyển thơ Haiku IV: Autumn/Winter của R. H. Blyth ra đọc. Ở phần mục lục tôi thấy có thơ về ánh trăng trong mùa đông.

Trang 204 có bài thơ của Issa. “Mikazuki wa soru zo samusa wa saekaeru.”

The cressent moon
Is warp and bent
Keen is the cold.

Trăng khuyết
Bị uốn nắn bẻ cong
Lạnh thấu xương.

Và lời bình của R. H. Blyth. “The translation misses the onomatopoeia of the original. There is nothing in the verse to suggest it, but we can hardly avoid connecting the cold with the shape of the moon.” (Bản dịch thiếu chữ onomatopoeia trong nguyên tác. Thật ra trong câu thơ không có chữ nào ám chỉ chữ này, nhưng chúng ta khó tránh được ý nghĩ cái lạnh có liên quan đến hình dáng của mặt trăng).

Đêm qua trăng khá tròn. Không biết có đúng ngày rằm chưa, nhưng dầu trăng không khuyết ánh trăng trên tuyết vẫn lạnh vô cùng.

Trang 207 có bài thơ của Kikaku như sau:

The moon-lit snow
Is where life
Is to be thrown away.

Trăng chiếu ngời trên tuyết
Nơi mạng sống con người
Bị vứt đi.

Theo lời của R. H. Blyth, bài thơ này được viết trong đêm 14 tháng Mười Hai 1701, nói về 47 (ronins) hiệp sĩ “mồ côi” chủ, tấn công kẻ thù của họ là Kira Yoshinaka lúc ấy đang phục vụ Oishi Yoshio. Trong sự thanh khiết và tĩnh mịch của ánh trăng chiếu sáng ngời trên mặt đất phủ đầy tuyết, nhà thơ nhìn thấy thái độ bình tĩnh, gần như chán ngán, của các nhà võ sĩ đi ám sát kẻ thù. Kikaku (1660-1707) sống cùng thời nên biết đầu đuôi sự việc dẫn đến cuộc trả thù này.

Sau cuộc ám sát này, vị chúa Kira Yoshiraka thông cảm sự trung thành của 47 ronins nên không buộc họ phải chết như tội nhân, mà cho phép họ tự xử và cho người chôn cất tử tế.

Ảnh chụp chơi không liên hệ đến bài.

Peggy, người phụ nữ thú vị

Liên tiếp cả tuần nay trời rất lạnh. Hôm kia Jan. 11, 2022 nhiệt độ cao nhất là 21 F. thấp nhất là 11 F. (cỡ -7 C. và -12 C.). Tuyết vẫn còn đọng rải rác trên đồi và dọc theo đường dẫn vào nhà để xe. Trời có chút nắng. Tôi ở trong nhà không biết đã bao lâu. Ngày 28 tháng 12 năm ngoái (nghe xa xưa dễ sợ chưa) còn đi hiking. Ngày Jan. 2, 2022, qua nhà em út ông Tám ăn cơm. Như vậy là đúng mười ngày ở trong nhà, tôi chỉ ra ngoài sân để cho mèo ăn, chạy ra chạy vào chừng một phút. Hôm qua đỡ hơn, buổi chiều lên đến 34 F., cao hơn độ đông nước đá là mừng rồi. Tôi đi thư viện và đi chợ.

Tôi gặp bà ấy ở thư viện. Đây là lần thứ nhì. Bà cao lớn, tóc bạc, đầu búi tóc, nhìn sau lưng bà ấy có dáng dấp của Katherine Hepburn, lúc Hepburn đóng phim the Golden Pond với Henry Fonda. Tôi đến trước, chuẩn bị đưa sách vào máy ghi nhận sách mượn, thì bà bước vào, tay cầm quyển sách. Có vẻ như bà muốn trả sách. Tôi nhường cho bà đi trước, vì số sách tôi chuẩn bị mượn mang về khá nhiều. Dù computer ghi nhận sách rất nhanh, cũng phải mất thời gian. Bà mỉm cười tiến đến quầy của quản thủ thư viện. Lần trước cũng vậy, lần nầy cũng vậy. Bà trả sách nhưng hỏi dăm ba câu, có vẻ như cố kéo dài thời gian để được trò chuyện. Hai bên đối đáp qua lại vui vẻ, cười lớn. Tôi kiên nhẫn chờ.

Bà lui lại phía sau, để đến phiên tôi, nhưng có vẻ vẫn còn muốn nói chuyện với Glenda, nhân viên thư viện. Nhìn đống sách và phim tôi đang check out bằng computer, bà kêu lên, dĩ nhiên bà nói bằng tiếng Anh, ở đây tôi viết bằng tiếng Việt cho tiện.

“Trời đất! Bộ suốt ngày bà không có việc gì để làm hay sao?” Bà ấy hỏi.
“Tôi về hưu rồi nên có nhiều thì giờ. Đó là cái lợi của tuổi già.” Tôi mỉm cười trả lời.
“Tôi cũng về hưu rồi, nhưng tôi bận rộn lắm. Suốt ngày làm không hết việc.”
“Vâng! Nhưng đó là những công việc bà chọn để bận rộn.” Tôi nhấn mạnh chữ chọn.

Và nghĩ thầm. Nếu mình làm công việc mà mình yêu thích thì có cảm giác như mình hưởng thụ chứ không như làm việc. Thử bảo học sinh hay sinh viên, ngay cả sinh viên hậu đại học đang nghiên cứu làm luận án tiến sĩ, đọc một đống sách dày như đống sách tôi đang mượn, rồi hỏi họ xem đó có phải là việc làm nặng nhọc hay không. Tôi nghĩ thầm. Thật ra tôi không muốn làm gì khác hơn đọc sách và xem phim. Và tôi có quyền được sống như ý tôi muốn.

Đáng lẽ phải đứng cách xa tôi 6 ft. bà lại chồm tới gần tôi, như thể sự tò mò về một bà cụ người Việt với một đống vừa sách vừa phim (tất cả là 38 món) khiến bà nhột nhạt, cần phải hỏi thêm.

“Bà đọc gì? Xem gì?”
Tôi lấy vài cuốn phim đưa cho bà xem. Cuốn phim đầu tiên nói về múa ba lê.
“Trời ạ! Bà thích múa ba lê à? Bà có biết múa không?”
“Không! Nhưng tôi thích xem những câu chuyện được trình diễn bằng điệu múa.”

Người phụ nữ lại nhìn đống sách, có một tập truyện ngắn bao gồm các tác giả danh tiếng, như Hemingway, và Haruki Murakami. Bà nói vài câu về Heming-way, tác giả bà thích. Bà bảo rằng bà nên viết lại câu chuyện gặp gỡ với tôi và sách vở, có lẽ bà là người viết văn. Bà lại nói chuyện với Glenda là bà bận lắm nhưng hôm nào đó sẽ mượn thêm sách và phim. Tôi hỏi:

“Bà đã thử quyển nào của Murakami chưa? Nếu bà viết thì bà sẽ viết gì?”
“Ồ chưa. Tôi không biết đọc tên của ông ấy. À, có người bảo tôi nên viết những chuyện thường ngày của địa phương, người tôi gặp, và với giọng văn khôi hài. À! Bà có quyển photoshop kia kìa. Bà có biết dùng photoshop không? Tôi đáng lẽ nên dùng photoshop. Tôi là photographer. Tôi không thích chụp “weird stuff” tôi chỉ thích những bức ảnh đẹp, nice. Hỏi Glenda xem, tôi có nhiều bức ảnh rất đẹp.” Glenda công nhận.
“Vâng. Tôi có dùng photoshop, và tôi thích.”
“Thế bà có giỏi không?”
“Không giỏi mấy. Bà không cần phải giỏi để thích một cái gì đó.” Tôi nói tiếp. “Bà có thể ghi tên học miễn phí, online, với chương trình dạy photoshop của thư viện ở đây nè.”
“Ồ! Tôi sống trong cái xe của tôi. Và tôi bận lắm. Không phải được như bà suốt ngày chẳng phải làm gì đâu.”

Tôi đoán, nếu bà sống trong xe, có thể bà không có computer, hay không có internet. Không biết xe của bà là loại xe gì, có thể là loại xe to như cái nhà di động, chứ thời tiết này mà ở trong xe nhỏ không có sưởi ấm thì chắc chết. Trông cách ăn mặc của bà rất tươm tất không có vẻ homeless. Bà Glenda giới thiệu hai chúng tôi với nhau. Chúng tôi chính thức chào nhau. “Nice to meet you!” Bắt tay nhau. Và chia tay nhau.

Tôi nói tên tôi, Haiha. Bà vất vả nói tên tôi mãi vẫn không đúng. Bà Glenda thì nói tên tôi một cách dễ dàng và bà rất tự hào về việc này. Glenda nói cho tôi biết, bà ấy tên là Margaret, nhưng thường dùng tên Peggy.

Có lẽ cơn đại dịch này khiến Peggy ít được gặp bạn bè để trò chuyện nên bà phải đến thư viện để có người trao đổi ý nghĩ. Nói chuyện với bà xong, tôi tự hỏi, tại sao bà nghĩ người ta chỉ đọc sách xem phim vì người ta không có việc gì để làm. Có những người phải nhín thì giờ, chỉ bận rộn với những việc làm cần thiết, để thì giờ quí báu còn lại cho việc đọc sách (và xem phim) đó chứ. Bộ đọc sách không đủ quan trọng hay sao? Và tôi muốn nói, nhưng không nói, là tôi earn my rights trong đó có quyền không làm những việc chỉ để giữ cho mình luôn bận rộn. Tôi chọn, và được quyền, nằm è trên ghế sô pha, gác chân lên thành ghế, xem phim và đọc sách.

Nhật ký đọc 3

Tôi đọc quyển này trong hai buổi chiều, gián đoạn bởi cơm chiều. Kể từ khi ông được trao giải Nobel văn chương năm 2021 cho đến tuần vừa qua tôi mới mượn được sách ở thư viện. Lúc bắt đầu mượn thư viện chỉ có quyển này. Bây giờ thư viện có thêm hai quyển e-book khác.

Nhân vật chính của truyện tên là Yusuf. Bắt đầu truyện ở tuổi 12. Kết thúc truyện ở tuổi 18. Truyện xảy ra ở Tanzania, gần bờ biển miền Đông châu Phi vào thế kỷ 12. Văn của ông Abdulrazak Gurnah trong sáng, giản dị, và cách dùng chữ có vẻ Mỹ nhiều hơn Anh. Nhiều lần ông dùng câu “He ain’t your uncle.” Chữ ain’t hình như dùng nhiều trong văn viết của Mỹ hơn là của Anh. Tôi nói hình như vì tôi không chắc chắn.

“Paradise” hay “Thiên Đường” xuất bản năm 1994 ở New York, được đề cử cho giải Booker. Có lẽ vì xuất bản ở New York nên giọng văn có âm hưởng Mỹ chăng? Tôi thường cho rằng các nhà văn châu Phi thường có cách viết của người Anh. À, chẳng hiểu duyên may làm sao mà tôi lại đọc khá nhiều nhà văn châu Phi. Chinua Achebe, Chimamanda Ngozi Adichie, và bây giờ là Abdulrazak Gurnah. Cả ba tác giả này tuy là người châu Phi nhưng đều viết bằng tiếng Anh. Nhân vật Yusuf không khỏi khiến tôi nghĩ đến Ugwu trong quyển Half of a Yellow Sun của Adichie. Cả hai có một điểm chung là phải rời gia đình đi “ở đợ” khi còn bé. Bố Yusuf vì thiếu nợ một thương nhân giàu có không trả nổi nên gửi con đến ông lái buôn này, trước là làm con tin, sau là giúp việc, với hy vọng trừ nợ. Yusuf gọi ông chủ là chú (hay bác) nhưng thường bị Khalil, một người giúp việc khác cũng có thân phận trừ nợ như Yusuf, nhắc nhở rằng. “Mày phải gọi ông ấy là ông chủ (seyyid). Ông ấy không phải là chú của mày.” Nhắc như thế để Yusuf đừng tưởng bở mà quên đi cái thân phận tôi tớ của cậu bé.

Ông chủ vốn có nhiều tôi tớ nên đem Yusuf gửi cho một người lái buôn khác. Thay đổi chỗ ở, Yusuf được nhìn thấy những thay đổi của châu Phi vào thế kỷ thứ 12. Và mấy ông chủ lái buôn này cũng không tàn ác hay khắc nghiệt. Yusuf được học kinh Koran. Cậu bé nhờ có bề ngoài đẹp trai, và biết cách cư xử nên được lòng chủ.

Khi Yusuf lớn dần theo số tuổi, uncle Aziz, người chủ đầu tiên, mang Yusuf theo trên đường buôn bán. Aziz dẫn đoàn tùy tùng tiến sâu vào nội địa Phi châu, hướng về phía Congo. Mua ngà voi, da thú, và bán vải vóc, dụng cụ nông nghiệp, cuộc hành trình đường bộ này qua những thôn làng, bộ lạc. Có khi bị các lãnh tụ bộ lạc cướp mất hàng hóa. Yusuf, nhờ tướng mạo đẹp đẽ, tính tình điềm đạm, dễ gây lòng tin với các lãnh đạo bộ lạc (thậm chí làm con tin), giúp cho cuộc thương lượng dễ dàng hơn, nên được Aziz mến chuộng.

Vợ của Aziz, Zulekha, rất yêu mến, thậm chí si mê, tướng mạo Yusuf nhưng hắn lại phải lòng Amina, em gái của Khalil. Amina, cũng là một người giúp việc, để trừ nợ, từ khi 7 tuổi. Amina hầu Zulekha cho đến mười mấy tuổi (tôi nhớ là 16 tuổi khi đọc, nhưng bây giờ thì không chắc, có thể chỉ 12 hay 13 tuổi theo thói quen người châu Phi vào thế kỷ 12) thì trở thành vợ của Aziz. Cả Khalil và Amina đều được bãi bỏ số nợ, nhưng Khalil vẫn ở lại để giúp việc cho Aziz. Bố của Yusuf ở làng quê qua đời, mẹ của Yusuf cũng rời nhà đi đâu mất. Khi Yusuf được Aziz bãi bỏ nợ thì quân đội Đức bắt đầu đến Tazania thiết lập hệ thống cầm quyền cai trị.

Vào thế kỷ 12, Tanzania chưa trải qua chế độ thực dân. Yusuf, ở vị trí người giúp việc, quan sát các ông chủ, cho người đọc thấy tình hình chính trị của Tanzania nói riêng và Congo Phi Châu nói chung, dưới sự cầm quyền của những người giàu có doanh nhân hay địa chủ, Ả Rập và Ấn Độ, rồi sau đó là người Đức. Đức bắt đầu chiếm đất của người châu Phi lộ liễu hơn. Người dân bản xứ lúc bây giờ chưa có nhiều súng. Vài khẩu súng Aziz mua để bảo vệ đoàn tùy tùng trong lúc đi buôn bị người Đức tịch thu.

Truyện cho thấy, vào thế kỷ 12, chuyện đưa con đi giúp việc trừ nợ, một hình thức của mua bán nô lệ xảy ra rất bình thường. Nhiều khi người chức sắc trong làng, do nghèo đói thiếu ăn, có thể gom một số người làng, cả người lớn lẫn trẻ em, giao cho lái buôn, để những người này bị bán đi làm “nô lệ” ở nơi khác. Những người nô lệ này có khi được hết nợ và được trả tự do. Nhưng vì họ không còn người thân, không có nơi để trở về, họ vẫn ở lại với chủ.

Mzee Hamdani, người làm vườn của Aziz, được bà chủ Zulekha trả tự do, nhưng vẫn ở lại làm vườn. Khi Yusuf hỏi ông ta vì sao đã được trả tự do mà không nhận sự tự do này thì Mzee Hamdani trả lời:

“They offered me freedom as a gift. She did. Who told her she had to offer? I know the freedom you are talking about. I had that freedom the moment I was born. When these people say you belong to me, I own you, it is like the passing of the rain, or the setting of the sun at the end of the day. The following morning the sun will rise again whether they like it or not. The same with freedom. They can lock you up, put you in chains, abuse all your small longings, but freedom is not something they can take away. When they have finished with you, they are still as far away from owning you as they were on the day you were born. Do you understand me? This is the work I have been given to do, what can that one in there offer me that is freer than that?”

“Yusuf thought it was the talk of an old man. No doubt there was wisdom in it, but it was a wisdom of endurance and impotence, admirable in its way perhaps, but not while the bullies are still sitting on you and releasing their foul gases on you. He kept silent, but he saw that he had saddened the old man, who had never spoken so many words to him before, and now probably wished he had not.”

Hai đoạn văn trích từ trang 223-4.

Nhật ký đọc 2

Hoa hibicus khô đọng tuyết

Cách đây không lâu, tôi đọc thấy tin một nhà văn nữ da đen qua đời. Tên của bà là bell hooks, đặc biệt không viết hoa. Ở Mỹ có nhiều nhà văn quá. Nhiều nhà văn xuất bản rất nhiều sách nhưng không được chú ý. Người đọc bình thường không phải nhà văn chuyên nghiệp, như tôi, chỉ biết đến tên các nhà văn này lúc họ qua đời, khi các tờ báo lớn nhắc đến tên họ. Thí dụ như bà bell hooks. Bà sinh năm 1952, thọ 69 tuổi. Bà được nhiều người biết đến với quyển “Feminism is for everybody: passionate politics.” Bà bell hooks còn vài cuốn cũng viết về feminism. Quyển này có ở thư viện gần nhà tôi. Tuy vậy tôi lại mượn thư viện một quyển khác “remembered rapture – the writer at work.”

Có lẽ tôi vẫn mang tâm trạng mình là người viết không chuyên, lúc nào cũng muốn tìm hiểu thêm về việc viết, nên những quyển sách viết về writing luôn luôn làm tôi chú ý. Đáng lẽ tôi chưa bắt đầu đọc quyển này, nhưng thư viện gửi email đòi tôi phải mang trả quyển sách này trong vòng hai ngày, vì có người muốn đọc. Chắc cũng là một nhà văn mắc nghẹn nào đó.

Đây là một quyển sách dễ đọc. Bởi vì sách về sự viết văn, người đọc, đọc cho biết, không phải nghiền ngẫm nhiều. Tôi tin là, để học viết người ta chỉ cần viết. Bắt đầu viết. Chữ sau đi sau chữ trước, viết thành bài, thành sách, cho đến khi hết ý, hay hết muốn viết. Đơn giản như Hemingway đã bảo, chỉ viết thôi.

Tôi đọc lướt qua, gặp vài câu văn hay, trích lại. Chừng nào siêng sẽ dịch.

remembered rapture the writer at work – bell hooks

mở đầu sách:

words have weight –
you bear with me
the weight of my words
suffering whatever pain
this burden causes you
in silence –

i bow to you

Rosa bell and Veodis Watkins

Chữ nghĩa có sức nặng –
Bạn hãy ráng chịu đựng
sức nặng chữ nghĩa của tôi
khổ sở với những đau đớn
chữ nghĩa của tôi đã gây ra cho bạn
trong thầm lặng

Tôi cúi đầu trước bạn

. . . when I ask you to write more books, I am urging you to do what will be for your good and for the good of the world at large – Virgina Woolf

Khi tôi yêu cầu bạn viết thêm nhiều quyển sách nữa, tôi thúc giục bạn làm công việc ấy vì lợi ích cho chính bạn và cũng vì lợi ích cho nhiều người khác.

p. 3 writing from darkness

“No light neccessary,” granddaddy would say.  “There is light in darkness, you just have to find it.” 

“Không cần phải có ánh sáng,” ông tôi nói. “Có ánh sáng trong bóng tối, cháu chỉ cần tìm thấy nó.”

p. 13 women who write too much

There are writers who write for fame.  And there are writers who write because we need to make sense of the world we live in: writing is a way to clarify, to interpret, to reinvent.  We may want our work to be recognized, but that is not the reason we write.  We do not write because we must; we alsways have a choice.  We write because language is the way we keep a hold on life.

Có nhà văn viết để được nổi tiếng. Và có nhà văn viết để hiểu biết cái thế giới mà chúng tôi đang sống: viết là một cách làm sáng nghĩa, phiên dịch, và tái tạo. Chúng tôi có thể muốn tác phẩm của chúng tôi được chú ý, nhưng đó không phải là lý do mà chúng tôi viết. Chúng tôi không viết vì bị bắt buộc; chúng tôi luôn có sự chọn lựa. Chúng tôi viết bởi vì ngôn ngữ là một cách chúng tôi dùng để giữ gìn cuộc sống.

p. 57 writing without labels

Writing the truth of what we know is the essence of all great and good literature.

Viết về sự thật mà chúng ta biết là điểu căn bản cho tất cả tác phẩm văn chương hay và xuất sắc.

Every writer dreams of writing compelling work that will be read, understood, and appreciated.  Many writers do not dream of publication or of writing a best seller.  Most do not imagine ever making money from their work.

Mỗi nhà văn đều mơ ước được viết một tác phẩm độc đáo và tác phẩm này sẽ được đọc, hiểu, và quí trọng. Nhiều nhà văn không có mơ ước được xuất bản hay có một quyển sách bán chạy. Phần lớn họ không bao giờ tưởng tượng sẽ kiếm được tiền từ tác phẩm của họ.

Những chữ in nghiêng là bản dịch của Nguyễn Thị Hải Hà

Nhật ký đọc 1

Không phải điểm sách, giới thiệu, hay phê bình. Tôi chỉ muốn ghi lại vài hàng về những gì tôi đọc trong ngày, hay trong tuần, mà tôi thấy đáng chú ý.

Mấy hôm trước thấy có tin Joan Didion qua đời. Dù bà rất nổi tiếng nhưng tôi không nhớ đã đọc tác phẩm nào của bà. Tuy vậy trong số phim mà bà viết hay viết chung với người khác, tôi thấy có ba tựa đề tôi biết và thích. “Up close and personal,” “True Confessions,” và “A Star is born.” Phim đầu, có Robert Redford và Michelle Pfeiffer khá cảm động. Phim thứ hai có Robert DeNiro và Robert Duvall, có chiều sâu, khiến người xem suy nghĩ. Phim thứ ba tôi xem bản phim cũ không phải phim có Cooper và cô ca sĩ hay làm chuyện ngược đời. Joan Didion có một câu trích dẫn tôi đọc một lần là nhớ ngay và thỉnh thoảng tự nhắc mình vì sao mình viết. “We told ourselves stories in order to live.” Bà dùng câu này để mở đầu bài phóng sự “The White Album.”

Tôi chọn quyển The Next American Essay do John D’Agata biên tập vì có một bài essay của bà Didion. “The White Album” khá dài. Chữ essay ở đây không có nghĩa là một bài tiểu luận viết theo lối nghiên cứu, có cấu trúc chặt chẽ. The White Album gần giống như một bài phóng sự, viết về ban nhạc The Doors. Những trang đầu bà kể về quá khứ của bà, có một thời gian bà bị bệnh tâm thần rất nặng. Joan Didion là một trong những người đầu tiên đã lên tiếng, cho rằng năm người bị kết án xâm phạm tình dục người phụ nữ chạy bộ trong Central Park bị hàm oan.

Tôi cũng mang về một quyển rất dày, tổng hợp nhiều bài essay của bà Didion. Để đó từ từ tôi sẽ đọc tới. Cũng trong quyển The Next American Essay, tôi chú ý đến một bài essay khác của Anne Carson. Bài “Kinds of Water.” Tôi chú ý đến bài này vì hai điểm chính. Đây là một bài travel writing, bút ký về du lịch, hay du hành ký, thể loại tôi rất ưa chuộng. Bà viết theo hình thức nhật ký. Ngày nào, bà đi đâu. Đặc biệt, ở mỗi đoạn ngắn sau tiêu đề địa danh và ngày tháng, bà có một đoạn văn ngắn hay một bài haiku. Tôi chưa tìm hiểu tất cả các tác giả bà Carson trích đoạn nhưng một số tên tác giả của haiku là người Nhật. Tôi thấy có Tanizaki, Basho, Zeami và Mitsune tôi biết chắc chắn là người Nhật. Văn Nhật và thơ haiku cũng là thể loại tôi ưa thích. Bà Carson kể lại chuyến hành hương đến Santiago, trung tâm hành hương của Spain trong bài “Kinds of Water.” Bài dài 35 trang nhưng tôi đọc không chán, thật sự bị cuốn hút với suy nghĩ của bà.

Có vẻ như những đoạn văn hay thơ bà Carson trích dẫn, đặt ở đầu mỗi đoạn nhật ký du hành, là đoạn văn bà thích và có thể nó khiến bà suy nghĩ, nhưng không nhất thiết có liên hệ với đoạn nhật ký du hành bà viết trong ngày hôm ấy.

Trang 185. Buergete. 22nd of June

unmoved the melons
don’t seem to recall
a drop
of last night’s downpour
– SODO

Những quả dưa không nhúc nhích
như không nhớ
dù chỉ một giọt
của cơn mưa ào ạt đêm qua
[…]

Pilgrims were people who figured things out as they walked. On the road you can think forward, you can think back, you can make a list to remember to tell those at home.

Người hành hương là người khám phá và hiểu thấu sự việc trong lúc họ đi bộ. Trên đường, bạn có thể suy nghĩ đến phía trước, có thể suy nghĩ về phía sau, có thể làm một danh sách những chuyện dọc đường để nhớ khi về nhà sẽ kể.

Cách dùng chữ và nội dung khiến tôi nghĩ Sodo là nhà thơ Nhật, nhưng tôi không biết chắc.

p. 195. Castrogeriz – 4th of July

I will gaze at the moon
and cleanse my heart
– ZEAMI

Tôi sẽ nhìn vầng trăng
và tẩy trần tâm tôi

[…]
Pilgrim is like a Noh play. Each one has the same structure, a question mark.

Cuộc hành hương cũng giống như vở kịch Noh. Mỗi bên đều có cấu trúc, đều có dấu hỏi.

p. 216. Compostela – 26th of July

The eye you see isn’t
an eye because you see it
it’s an eye because it sees you
– MACHADO

Con mắt bạn nhìn thấy không phải
Là con mắt vì bạn nhìn thấy nó
Nó là con mắt bởi vì nó nhìn thấy bạn

[…]

How is a pilgrim like a Noh play? His end is not the point. And yet it is indispensible, to the honor and to the shame.

Cuộc hành hương giống như vở kịch Noh như thế nào chứ? Sự kết thúc của (người hành hương/tác giả vở kịch) không phải là điểm chính. Tuy vậy, vẫn cần thiết phải có nó (sự kết thúc), cho cả điều vinh hạnh lẫn điều nhục nhã.

p. 218. Finisterre.

a dried salmon
a pilgrim’s gauntness
both in the coldest season
– BASHO

Cá hồi khô khan
Người hành hương cằn cỗi
Cả hai đều ở trong thời tiết lạnh nhất

Pilgrims were people who carried little. They carried it balanced on their heart.

Người hành hương không mang nhiều hành trang. Họ mang hành trang chỉ vừa phải trong tâm tư của họ.

Phần viết nghiêng là bản dịch của Nguyễn thị Hải Hà.

Tuyết đầu mùa

Tuyết đóng ở bụi cây sau nhà.
Ngọn cây nhà hàng xóm
Bụi trúc trước cửa ảnh chụp bằng điện thoại.
Tuyết phủ lên cành trúc,
lá trúc như những cái thìa mỏng,
múc kem vanila

Năm giờ sáng thức giấc, nhìn ra mành cửa sổ vẫn còn đóng kín, tôi thấy trời sáng rực; nhưng cái ánh sáng này đáng lẽ trắng, lại có màu hơi hồng, như thể đèn màu của Giáng sinh phản chiếu lên mặt tuyết. Tôi nghĩ, chẳng lẽ có tuyết hay sao. Mở hé rèm cửa sổ nhìn ra ngoài, quả thật có tuyết. Chẳng biết rơi lúc nào từ đêm qua mà đã thấy tuyết đọng trên mặt đất dày hơn một tấc. Mấy hôm nay trời khá lạnh, đến độ tôi không muốn ra ngoài.

Tuyết đầu mùa trắng mịn
Mùi củi đốt lò sưởi láng giềng
Thơm dịu dàng sân nhà.

Mưa mùa đông

Viết là mưa mùa đông, nhưng trong đầu cứ nghĩ đến câu hát mưa đầu sông, mưa cuối sông. Từ câu hát tôi lại nghĩ lan man đến Tương giang đầu, Tương giang vỹ. Rồi lại nghĩ sang hai câu thơ của Kinh Kha lúc đứng bên bờ sông Dịch. Thế mới biết, cơn mưa hay gợi những nỗi niềm, gặp nhau rồi chia tay, từ cuộc sống đến cái chết.

Ảnh chụp vào cuối năm 2021, trong một buổi đi rừng, sau cơn mưa

To wake, alive, in this world,
What happiness!
Winter rain.
– Shoha

Thức giấc thấy mình còn
sống trên đời, thật hạnh phúc thay
dù mưa đông giá lạnh.

Liên tiếp hai ba tuần nay, đặc biệt là mấy ngày liên tiếp, mưa rả rích suốt ngày. Cũng may là trời chưa lạnh dưới độ đông nước đá. Vì nếu lạnh nhiều, tuyết chắc cũng dày đến cả mét. Mùa đông mà mưa thì cảnh vật thê lương ảm đạm lắm. Người không muốn vận động hay ra đường. Chỉ muốn trùm mền ngủ, đọc sách, hay xem tivi. Trời không nắng hay gợi nỗi buồn, nhiều khi chỉ buồn vẩn vơ. Vậy mà nhà thơ Shoha không thấy buồn, lại còn kêu lên hạnh phúc. Vậy mới biết, hạnh phúc phát xuất từ bên trong, dù cho bầu trời có đọng nước thì nhà thơ cũng không lấy làm phiền những cơn mưa giá lạnh.

Nhà thơ Roka lại nói khác.

The winter rain dyes
The letters on the grave-stone:
Sadness.
– Roka

Mưa mùa đông nhuộm kín
Những hàng chữ khắc trên bia mộ
Đầy ăm ắp nỗi buồn.

Ngày cuối năm

Hôm nay ở nhà, không đi bộ. Trời xám xịt tưởng như sắp có mưa hay có tuyết rơi đến nơi. Trời lạnh. Hôm nay nói chuyện hôm qua, coi như hôm qua là ngày cuối năm đi rừng. Hôm qua thời tiết cũng như hôm nay. Sợ trời mưa tôi không mang máy ảnh. Để rồi sau đó tiếc hùi hụi.

Hôm trước làm cái bảng liệt kê những điều mình thích nhiều nhất tôi có kể nhìn thấy mấy con sandhill cranes (sếu sandhill) ở trên cánh đồng bắp.

Sandhill cranes trên bờ đê bao quanh nhà thờ Pillar chụp ngày 20 tháng Mười Hai 2020

Lục trong computer, thấy tấm ảnh chụp sếu sandhill, một bầy sáu con, bên cạnh cánh đồng trồng bắp, chụp ngày 20 tháng 12 năm 2020. Hôm đó lúc bắt đầu đi thì trời âm u nhưng đi được hơn một giờ đồng hồ thì tuyết rơi nhẹ. Mấy con sếu đầu có đốm đỏ, lông màu xám nhạt, có vẻ nhởn nhơ như khiêu vũ.

Tôi nghĩ đây có lẽ là một thứ duyên may, chỉ đến một lần. Đàn chim xuôi nam, ngừng ở ruộng bắp ăn cho no, tích trữ năng lượng rồi bay về miền nắng ấm. Chắc gì sang năm còn gặp lại. Loại chim, có lẽ con nào cũng xinh đẹp, nhưng đặc biệt các loại sếu, hạc, càng xinh đẹp hơn, graceful (ẻo lả, mềm mại, thanh lịch) hơn. Gớm, chỉ có một chữ graceful mà tôi cho rằng nó bao gồm cả bao nhiêu tĩnh từ để miêu tả sự duyên dáng.

Vậy mà cái duyên may này lại đến lần thứ hai. Sếu sandhill trong chuyến ‘hành hương’ về miền nắng ấm, lại ghé nơi nầy để lấy thức ăn. Tiếc là lần này tôi không mang máy ảnh.

Ảnh chụp bằng điện thoại chỉ được như thế này.

Ảnh chụp ngày 30 tháng Mười Hai 2021

Một năm trôi qua, cuộc sống của tôi không mấy khác những ngày chưa có bệnh dịch. Vẫn ít tiếp xúc, hầu như không có khách, ngoại trừ người trong gia đình. Báo New York Times đăng ngày hôm qua số người mới bị nhiễm bệnh là 580 ngàn. Con số kỷ lục của hai ngày kỷ lục liên tiếp nhau. Cứ như thế này chẳng biết bao giờ chúng ta mới có thể đi lại như bình thường.

Mong cho những điều tối tăm xấu xí trôi qua và những điều tươi đẹp tốt lành sẽ đến với chúng ta trong năm mới.

Eastern Blue bird

Chim này khi bay sẽ nhìn thấy cái lưng và cánh của nó màu xanh biếc.

Vẫn còn hạc xám nhưng loại rùa đã biến đâu mất từ lâu.

Rừng mùa đông

Kỵ mã cho ngựa đi dạo chung quanh trại nuôi ngựa

Hình ảnh một cô gái cưỡi ngựa luôn làm tôi cảm phục. Nó gợi trong lòng tôi chút gì đó vừa hào hùng vừa lãng mạn. Làm tôi nhớ đến những câu hát trong bài Kẻ Ở (Nguyễn Đình Tiên, Cung Tiến).

Ngựa chị dừng bên thác trong veo.
Lòng chị buồn như nắng qua đèo.
Nơi đây lá giạt vương chân ngựa
Hươu chạy quay đầu theo ngó theo.

Bạn đừng tưởng tôi đang ngựa lạc rừng hoang nha. Tôi đang đi dọc theo bờ kênh D&R, song song với đường xe ô tô. Đường làng, xe chạy chậm thôi nhưng vẫn có đường xe chạy. Và cũng có hươu nai ngóng cổ nhìn người đi dọc theo bờ kênh.

Chắc nai đang thắc mắc sao họ không giống mình

Bây giờ trời đã khá lạnh so với sức chịu đựng của người già; tuy vậy cuối tháng 12 mà trời chưa có tuyết (dù ngày nào cũng mưa, hoặc âm u không có nắng) thì có thể nói là vẫn còn may lắm rồi, kêu ca gì nữa. Cây lá rụng hết, cảnh vật trở nên trơ trụi, ảm đạm, như làm tăng thêm cái lạnh. Nhưng nhờ cây lá rụng hết mà tôi có thể nhìn thấy bên kia bờ kênh có những nông trại, và trại nuôi ngựa. Đó là lý do mà tôi thường gặp những bãi phân ngựa khổng lồ dọc theo đường đi bộ. Theo đúng nguyên tắc là người nào dẫn chó đi thì phải hốt phân chó. Người nào cưỡi ngựa thì phải hốt phân ngựa. Nhưng ai có thể bắt buộc người ta tuân thủ những nguyên tắc này chứ?

Trở lại với bài hát Kẻ Ở. Bạn có thắc mắc là tại sao nhân vật trong bài thơ lại là người phụ nữ, cỡi ngựa băng rừng núi để đi đâu, làm gì, tại sao lại nhắn gửi với người em cũng là một cô gái? “Quê chị về xa mù dặm xa.” Cô gái đang trở về nhà chồng, xa rời nhà cha mẹ ruột? Nếu về nhà chồng sao lại hỏi em mình có gửi gì không? Phải chăng nàng mang tâm sự giống như người trong Lỡ Bước Sang Ngang của Nguyễn Bính:

Cậy em em ở lại nhà,
Vườn dâu em đốn mẹ già em thương.

Đam Mê tiếng Việt – Lê Thị Huệ

Bảng hiệu của Gió O gồm 4 dàn trải. Sáng tạo, Trí Huệ, Đam Mê, và Thách Đố.  

Có lẽ cái đam mê chính của chúng tôi là đam mê Tiếng Việt.

Một nòng cốt thúc đẩy sự hiện hữu  của Gió O, là niềm đam mê Tiếng Việt.

Khi đã gọi tên là đam mê thì chúng ta không cưỡng lại được. Tựa như đàn ông đàn bà nhìn nhau đã mê nhau rồi thì không cách chi dứt được. Chúng tôi mê tiếng Việt quá đỗi. Có người mê cờ bạc, mê stocks, còn chúng tôi thì mê những con chữ những lời nói bằng tiếng Việt.

Vì mê tiếng Việt, nên  trước khi làm cái điều mà nhiều nhà yêu nước gọi là  bổn phận bảo tồn tiếng Việt, chúng tôi chọn viết tiếng Việt .

Ngôn ngữ mạnh hơn đời sống. Ngôn ngữ cho chúng tôi 2 đời sống. Một đời sống thực và một đời sống trong ngôn ngữ. Với may mắn này, các tác phẩm mới chào đời trên Gió O. Sự sáng tạo của chúng tôi để lại cho đời những tác phẩm. Một trăm năm sau, đời sống này có thể xóa đi, nhưng tác phẩm sẽ còn lại. Thế nên chúng tôi say đắm, mê mẩn,  tri âm với Tiếng Việt.

Đọc toàn bài, link ở đây.

Wood duck

Wood duck còn được gọi là Carolina duck

Thông thường, người Việt sẽ gọi wood duck là vịt gỗ. Nó còn có tên là vịt Carolina. Tôi mạn phép đặt cho nó cái tên vịt ngũ sắc. Chẳng biết nó có đủ năm màu hay không, và chỉ có con trống mới có nhiều màu. Con mái màu đen có đốm trắng, vằn trắng. Cũng đẹp nhưng không rực rỡ bằng. Nó chẳng làm bằng gỗ, nhưng có lẽ nhiều màu sắc giống như vịt gỗ được sơn màu nên người ta gọi là vịt gỗ, phải vậy không? Wikipedia có ảnh rõ, rất đẹp, nhưng tôi dùng ảnh tôi chụp, vì nó là của tôi.

Nghe người đi bộ trên đường nói nhìn thấy loại vịt ngũ sắc, trên dòng sông dọc theo đường tôi đi bộ, đã lâu nhưng mãi đến hôm qua tôi mới chụp được ảnh. Loại này nhỏ bé, nhát sợ loài người nên thường ở dọc theo bờ bên kia, khó nhìn thấy, khó nhận dạng. Ống kính 300 mm chỉ chụp được ngần ấy. Thật ra tôi chụp ảnh con hạc xám, thấy có mấy con vịt nâu nâu đen đen tưởng là mallard duck, về nhà mở ảnh ra xem bằng computer mới thấy. Tôi cắt cho ảnh gần lại nên thấy to hơn, và dùng photoshop làm rõ hơn một chút, chứ ảnh tôi chụp bị lốm đốm (grainy) khá mờ.

Loại này thường ăn thức ăn nổi trên mặt nước nhiều hơn chúi đầu lặn xuống nước để tìm thức ăn. Đó là lý do bọn chúng tụ chung quanh cái cống to, dẫn nước mưa từ thành phố chảy ra sông. Dòng nước chảy mạnh đẩy thức ăn lên mặt nước nhiều hơn. Loại vịt này ăn tạp, cá tôm rong cải, và hạt, do đó được liệt vào hàng omnivore.

Gọi là vịt nhưng nó cũng là chim. Thích đẻ trứng trong bọng cây, lại hay đẻ nhầm vào tổ láng giềng. Mỗi chim mái có thể đẻ đến 15 trứng. Nếu đẻ nhầm vào tổ láng giềng, tổ có thể có đến 30 trứng. Trứng ấp chừng 30 ngày. Trứng nở rồi vịt con tự động ra miệng hang, thường là bọng cây, nhảy xuống, và ngay lập tức biết tự kiếm ăn. Chim, hay vịt mẹ thường làm tổ trong bọng cây de ra mé nước để vịt con có thể nhảy xuống nước mà không bị nguy hiểm. Wikipedia nói như vậy.

Nhỏ út nấu ăn

Tôi xin phép tham gia các bà mẹ trên mạng làm cái chuyện gọi là khoe con. Nhỏ út hồi ở nhà chỉ biết nấu những món đơn giản như chiên trứng và nấu mì gói. Vậy mà bây giờ cô nấu bò kho, thịt kho trứng. Xem chừng cô nấu bò kho ngon hơn tôi nấu. Ảnh lấy trên FB của cô út.

Con mèo tam thể tên là Sandwich.

My favorite things

Hôm qua tôi đăng bài hát “My Favorite Things” do Leslie Odom Jr. một ca sĩ da màu có giọng ca cao vút và trong trẻo đang nổi tiếng trong vòng vài năm nay. Tôi biết bài hát này từ trong phim “The Sound of Music” qua giọng hát của Julie Andrews trong vai Maria. Nhân vật Maria đang học tu ở tu viện nữ, sau lấy chồng mang họ là Von Trapp.

Những thứ Maria yêu thích gồm có: Giọt mưa trên hoa hồng và râu của những bé mèo con. Những cái ấm nấu nước bằng đồng sáng loáng và đôi găng tay bằng len. Những gói hàng hay quà được bao bằng giấy màu nâu có cột giây. Ngựa pony màu trắng ngà. Táo bọc đường giòn rụm. Chuông treo cửa, chuông gắn trên xe kéo bằng ngựa, hoặc xe trượt tuyết, và thịt chiên ăn với mì. Những con ngỗng trời bay với mặt trăng trên đôi cánh. Những cô bé mặc áo trắng với thắt lưng bằng lụa sa tanh màu xanh. Những đóa hoa tuyết đọng trên mũi và lông mi. Màu xám bạc của mùa đông dần tan loãng rồi biến thành mùa xuân. Mỗi khi bị chó cắn (hay mèo cào) hay ong chích, Maria nghĩ đến những thứ này để bớt đau hay vơi buồn.

Tôi cũng viết vội những thứ tôi yêu thích, không theo thứ tự gì cả, chỉ nhớ đâu ghi lại đấy. Đây là những thứ có khi tôi gặp hằng ngày, có một vài thứ xảy ra bất chợt và tôi biết sẽ khó có dịp gặp lại lần thứ nhì. Tôi ghi lại ở đây, may ra về sau còn nhớ. Còn bạn, những thứ bạn yêu mến là gì? Sao không viết lại, chép xuống, để dành cho ngày sau.

  1. Đi xem phim với các con vào dịp Giáng sinh.
  2. Được các con nấu ăn vào ngày sinh nhật.
  3. Nhìn thấy sandhill cranes đứng ở cánh đồng bắp vào mùa đông trên đường hiking.
  4. Nằm trên giường của bệnh viện chờ khám bệnh được đắp hai lần chăn nóng.
  5. Tình cờ, không biết trước, xem được một cuốn phim, hoặc đọc một truyện hay.  Đọc xong, xem xong, thấy tiếc nuối.
  6. Chợt nhận ra rằng mình được người đọc quí mến xem như bạn.
  7. Nhìn thấy gia đình ngỗng Canada, vịt Mallard, chim merganser trên đường hiking.  Đặc biệt nhìn thấy vịt con, chim con, và ngỗng con vào mùa xuân.
  8. Thức ăn dư từ ngày hôm trước còn đủ ăn hôm nay không phải nấu thức ăn mới.
  9. Nhìn đàn mèo con chơi đùa với nhau.  Nhìn mèo mẹ săn sóc và bảo vệ mèo con.
  10.  Nhìn rùa đào hang để đẻ trứng.
  11.  Bắt gặp thú hoang đến ăn thức ăn dành cho mèo hoang.
  12.  Nhìn thấy nai đang lặng lẽ mình.
  13.  Chụp được ảnh chim đang bay.
  14.  Nghe một bài hát hay, chưa nghe lần nào.
  15.  Lá mùa thu, hoa mùa xuân, cây mùa đông, nước (hồ sông biển) mùa hè.
My Favorite Things – Julie Andrews

Con Búp Bê – Edna O’Brien

Lời người dịch. Hằng năm tôi thường chọn một truyện về Giáng sinh để dịch. Tôi để ý truyện này vì nhận ra nhân vật trong truyện không chỉ bị chiếm đoạt con búp bê, cô bị mất cả lòng tin vào những người chung quanh. Cô mang nỗi căm ghét suốt đời và nó khiến cô trở thành một người khó tính, thậm chí hơi khắc nghiệt. Có lẽ những mất mát đầu đời người ta nên xem nó như một cuộc thua lỗ và bỏ qua để có thể sống vui với những ngày còn lại – Nguyễn thị Hải Hà

Link từ Gió O. Con Búp Bê

Mỗi mùa lễ Giáng Sinh tôi đều nhận được một con búp bê, quà của một người hầu như không quen biết.  Cô ấy là bạn của mẹ tôi.  Mặc dù cô ấy và mẹ tôi rất ít gặp nhau, chỉ một đôi lần tình cờ gặp nhau ở đám tang của ai đó, cô ấy vẫn giữ thói quen tặng búp bê cho tôi.  Búp bê thường đến vào một buổi chiều trong tuần trước lễ Giáng sinh, và nó làm tăng thêm niềm vui của những ngày đầy bận rộn và náo nhiệt.  Chúng tôi làm món thịt nhồi khoai tây, bánh nướng nhân thịt, bánh trifle cứ mỗi lớp trái cây phủ kem là một lớp bánh giống như bánh bông lan.  Chúng tôi treo chung quanh cửa sổ lá đông thanh (holly) có kèm dây kim tuyến, và có cảm tưởng là những may mắn bất ngờ sẽ rơi xuống chúng tôi.

Mỗi năm, con búp bê mỗi xinh đẹp hơn, quyến rủ hơn, quần áo lộng lẫy hơn.  Không phải chỉ có búp bê nam mà còn có búp bê nữ nữa.  Có năm, búp bê là một anh kỵ mã mặc quần áo màu đỏ thắm và màu vàng hoa nghệ tươi.  Có năm, là chú bé đánh trống người Hà Lan mặc áo nhung màu đỏ rượu vang.  Có năm, búp bê mặc váy xòe dài phủ gót chân, có thể nhắm mắt và mở mắt, một “cô gái” có vẻ đẹp mong manh dễ vỡ khiến tôi e ngại mỗi khi chị tôi hay em tôi cầm búp bê lên chơi và cố lúc lắc làm cho mắt búp bê nhấp nháy.  Mắt của búp bê giống như hạt cườm và những đóa hoa màu xanh nho nhỏ, một bên có màu sắc thu hút hồn, còn bên kia làm bằng thủy tinh bóng nhẵn.  Búp bê được đặt tên là Rosalind.

Chị và em tôi, dĩ nhiên, rất ganh tị nên cứ lải nhải than phiền, thật là bất công quá khi tôi được quà búp bê, còn các cô ấy chỉ được mấy đôi tất bằng nỉ dạ màu sắc rất đơn điệu, may ra bên trong có vài món đồ thực dụng như bút chì, sách cóp pi, vài viên kẹo caramel hay miếng kẹo licorice hình cái ống điếu.  Mỗi búp bê đều được đặt cho một cái tên, có được một chỗ để cư ngụ, ở góc nhà hay chỗ nào đó có khi là ở trong cái hộp đựng bánh bích quy.  Mỗi búp bê đều có một vài câu đối thoại dành cho nó, những câu văn đầy âu yếm, hoặc có khi là những lời răn dạy nghiêm khắc.  Búp bê được dành cho một khoản thời gian đặc biệt để hưởng không khí trong lành – thí dụ như được mang ra bày gần cửa sổ, hoặc để phơi trên bãi cỏ (chơi rồi quên đi).  Tôi không yêu thích đặc biệt búp bê nào cả cho đến khi tôi nhận được búp bê thứ bảy.  Với tôi, đây là hiện thân của một công chúa bằng xương bằng thịt.  Búp bê này cũng có thể nhắm mắt mở mắt, nhưng đặc biệt là cô nàng này khá to lớn, mặc áo màu xanh nhạt, có áo khoác bên ngoài, mũ cũng xanh nhạt, và mang đôi giày trẻ em màu trắng.  Các chị của tôi cũng khoái cô búp bê này chẳng kém gì tôi.  Cô có vẻ thu hút rất huyền bí.  Chúng tôi đồng ý với nhau là cô rất giống người thật, nếu được khuyến khích dạy dỗ cô nàng có thể nói chuyện được đấy.  Mái tóc vàng óng của cô mềm như tơ, cổ tay nhỏ nhắn của cô có thể vung vẩy, đôi mi đen mượt và ánh nhìn say đắm của cô khiến chúng tôi nghĩ rằng không những cô là một búp bê sinh động mà còn có linh hồn và nhận biết sự hiện diện của chúng tôi.  Những cuộc trò chuyện của chúng tôi với cô thường rất gay cấn và chúng tôi luôn lỡ mồm thố lộ những chuyện làm chúng tôi có thể bị trách mắng.

Trong trường có một bà giáo không ưa tôi mà tôi chẳng hiểu tại sao.  Tôi thích bài học, luôn luôn nộp bài đầu tiên, luôn luôn đến lớp sớm, nhóm lò sưởi cho lớp học, cào tro, luôn luôn chuẩn bị sẵn một thúng củi và cỏ khô để nhóm lửa trước khi bà giáo đến.  Thật ra, chính sự cố gắng làm cô bé học trò ngoan ngoãn của tôi lại làm cho bà giáo phật ý và cô luôn châm biếm tôi về cái tính “tốt lắm ngoan lắm” này.  Bà giáo trêu ghẹo tôi từ cái áo lạnh, sợi dây giày, đến cái kẹp tóc.  Để các bạn tôi có dịp cười, cô gọi tôi là “nó” như thể tôi là một món đồ dùng.  Bà giáo nói, “Vớ của nó có lỗ,” hay là “Nó không có một cái áo khoác coi cho được mắt,” hay là “Quyển sách của nó có vết lem.”  Tôi tin chắc là bà giáo ghét tôi.  Nếu trong một buổi kiểm tra bài, tôi được điểm cao nhất – và tôi thường xuyên được như thế – bà giáo sẽ đọc điểm của tất cả các bạn trong lớp trước, và điểm của tôi sau chót.  Bà nói “chúng ta đều biết ai là kẻ học gạo chăm chỉ nhất” như thể tôi là đứa học trò kém nhất lớp vậy.  Nếu trong buổi học nấu ăn tôi làm bánh bột chiên và mời bà một miếng bà sẽ nhăn mặt như thể tôi mời bà ớt hiểm hay khổ qua vậy.  Có lần bà bảo một đứa học trò to nhất lớp đưa cho tôi viên thuốc xổ mà bảo rằng đó là kẹo trái cây rồi chế nhạo tôi khi tôi cứ phải ra vào phòng vệ sinh suốt ngày.  Thật là một cực hình cho tôi.  Nếu thầy giám thị khen tôi bà sẽ bảo rằng tôi tuy rất thông minh, nhưng không nhạy bén trong việc ứng xử với đời sống.  Mà cũng thật là ngược ngạo vì bà đối xử với chị và em của tôi rất tử tế.  Thỉnh thoảng bà cũng gửi lời thăm hỏi mẹ tôi có khỏe không, hay bảo lúc nào bà sẽ gửi cho mẹ tôi một ít mứt ở nhà làm, có khi là một ổ bánh.  Tôi thường cầu nguyện với ơn trên là đến một lúc nào đó bà giáo sẽ tự vấn lương tâm và nhận ra là bà đã cư xử rất tệ bạc với tôi mà sửa chữa lại.

Rồi có một ngày, lời cầu nguyện của tôi dường như được đáp ứng.  Đó là một ngày tháng Mười Một, đám con gái chúng tôi đã để dành đủ tiền để mua đồ mừng lễ Giáng Sinh.  Chúng tôi biết chợ bán gà Tây sắp mở cửa, sau đó là tiệm bán thịt heo muối, và kẹo bánh sẽ trưng bày đầy ở các cửa hàng bán thực phẩm và tạp hóa.  Bà giáo nói vì chúng tôi học các bài giáo lý rất giỏi, bà sẽ mang tượng Chúa Hài Đồng ra để trình diễn ở buổi kịch trong trường.  Chúng tôi sẽ phải làm cái nôi, chất rơm mới vào nôi, và trưng bày các tượng khác.  Có bạn nói nếu cô búp bê của tôi được diễn, nó có thể sẽ là đức Mẹ Đồng Trinh đẹp nhất.  Một vài bạn đã theo tôi về nhà và được nhìn cô búp bê cất trong cái hộp viền bạc.  Ngày hôm sau tôi mang cô búp bê vào trường.  Mọi học sinh trong lớp đều vươn cổ nhìn khi bà giáo mở nắp hộp sơn mài màu đen để mang cô búp bê ra.

“Trông cũng tạm được,” bà giáo nói và bảo một học sinh khác đem cất cô búp bê vào tủ chứa dụng cụ nấu ăn, bảo rằng khi nào cần hãy mang ra.  Tôi có chút ngậm ngùi khi phải chia tay búp bê, nhưng rất vinh hạnh là búp bê sẽ được tham dự vào vở kịch của trường, và sẽ được chú ý nhiều nhất.  Tôi may cho búp bê một chiếc áo choàng mềm mại màu xanh với tấm mạng mỏng phủ lên trên, và cái kẹp cài áo lấp lánh như kim cương.  Nàng như một nàng tiên của ánh trăng, rạng ngời, ngay cả trong những ngày đen tối ẩm ướt.  Cái tủ chứa dụng cụ nấu ăn thật là nơi trú ngụ không xứng đáng với nàng.  Nhưng tôi biết phải làm sao đây?

Vở kịch bị trải qua một tình huống khá xui xẻo.  Người anh họ của bà giáo, tên Milo, đã say rượu và làm những trò lố lăng.  Hắn ta gọi các nữ sinh đến gần đống lửa trại, giả vờ trò chuyện để sờ mó bắp chân, và cù phía sau đầu gối của các cô.  Hắn gọi tôi đến và hỏi tôi có thích hắn không.  Hai cậu con trai của bà giáo cũng đến xem kịch, nhưng một người bỏ về nửa chừng.  Người ở lại là người rất kỳ cục, thường cười um sùm khi không có lý do gì phải cười, và mặc dù anh ta đã hơn hai mươi tuổi anh vẫn gọi bà giáo là “má mi.”  Anh ta có mái tóc đỏ chạch, và cái nhìn chăm bẳm.  Hầu hết suốt vở kịch, các diễn viên bé tí đều lỡ quên lời đối thoại, ngơ ngơ ngác ngác không biết phải làm gì.  Người nhắc tuồng thì nhắc trễ khiến người nói sau hiểu lầm nên nói lời đối thoại dành cho người nói trước.  Người nhắc tuồng đứng ở sau tấm màn trên khán đài nhưng nói to đến độ người ở ngoài đường cũng nghe.  Vở kịch là một thất bại thật thảm hại.  Chỉ có nàng búp bê của tôi là một nhân vật sáng chói và tất cả mọi người đều khen ngợi nàng.

Sau vở kịch có buổi tiệc đãi bánh và nước trà.  Bà giáo của tôi trò chuyện với các bà mẹ đến xem kịch.  Mẹ tôi không đến được vì mẹ tôi có bệnh nhát, bà sợ đám đông; ngay cả lễ nhà thờ ngày Chủ Nhật Mẹ cũng lánh mặt, thế nhưng Mẹ vẫn tin là Chúa sẽ giúp Mẹ thoát khỏi bị chóng mặt và ngộp thở.  Sau khi mọi người ra về và chúng tôi dọn dẹp sạch sẽ, tôi đến gặp bà giáo.  Thật ngạc nhiên vì bà tặng cho tôi một nụ cười rất thành thật.  Bà cám ơn tôi đã cho cô búp bê tham dự vở kịch, và không thể nào chối cãi được là búp bê đã cứu vãn vở kịch.  Nhưng, khi tôi cầm lấy búp bê thì bà giáo lấy cây thước quất mạnh vào tay tôi và bật cười ha hả.

“Đừng có tưởng là tôi sẽ cho em mang nó về.  Tôi phải lòng cô ấy rồi… con bọ bé bỏng của tôi,” bà giáo nói và gõ nhẹ vào má của búp bê.  Về nhà, tôi lồng lộn lên vì tức giận.  Mẹ tôi nói có lẽ bà giáo nói đùa thôi và sẽ mang trả lại trong một hay hai ngày sắp tới.  Bố tôi nói nếu bà giáo không trả, bà ấy phải đối đáp với bố tôi, nếu không trả sẽ có chuyện rầy rà cho bà ấy lắm đấy.  Ngày trôi qua, lễ Giáng sinh đến rồi đi, chẳng những bà không trả mà còn mang cô búp bê về nhà chưng trong tủ kính bên cạnh bộ đồ pha trà và các đồ trang trí.  Mỗi lần đi ngang cửa sổ nhà bà giáo, tôi đều nhìn vào.  Tôi không thể nhìn thấy búp bê vì tủ kính được đặt trong góc khuất, nhưng tôi biết búp bê ở đâu vì cô người làm của bà giáo tên Lizzie nói cho tôi biết.  Tôi dựa trán vào cửa sổ, gọi búp bê, nói rằng tôi rất nhớ nàng và đang lập mưu để giải cứu nàng.

Tất cả mọi người đều cho rằng đó là một hành động sai trái và xấu xa, nhưng không ai dám bảo gì với bà giáo, bởi vì thật ra không ai muốn đối phó với bà.  Ai cũng sợ bà giáo cả.  Bà có miệng lưỡi rất sắc sảo dữ dằn, và mọi người chung quanh tôi đều rất dị đoan.  Họ cho rằng bà giáo có thể mang đến bộ não cho học trò, đó là sự hiểu biết và trí thông minh, vậy thì bà giáo cũng có thể lấy đi, như lấy cái kềm, gắp đi bộ não của học sinh, rồi giữ trong những lọ nước muối như mấy bộ não trong phòng thí nghiệm vậy.  Không ai dám nói năng gì và lâu ngày tôi cũng đâm ra chấp nhận, chuyện nó là như thế.  Có lần tôi lấy hết can đảm đòi bà giáo trả búp bê lại cho tôi, bà chỉ nói tôi là một cô bé không biết kính trọng người lớn.  Từ đó tôi không nhìn vào cửa sổ nhà bà giáo nữa.  Tôi băng qua đường khi đi ngang chỗ ấy.  Tôi cũng không trò chuyện với Lizzie nữa để tránh không phải tình cờ nghe chị ấy nói chuyện về cô búp bê vì điều này có thể làm tôi điên tiết lên.

Có một lần, tôi bị sai mang đến nhà bà giáo một gói thịt heo và thấy bà cùng với cậu con trai kỳ quặc đang ngồi bên lò sưởi.  Cả hai đều kéo tất xuống để sưởi ấm.  Mồ hôi loang loáng hình chữ Z trên da họ.  Bà giáo hỏi tôi có muốn vào nhà để ngắm búp bê không, nhưng tôi từ chối.  Lúc ấy tôi đang chuẩn bị đi học xa và tôi biết là sẽ không bao giờ quan tâm về bà giáo nữa.  Tôi sẽ quên bà giáo, quên cô búp bê, và hầu hết những chuyện đã xảy ra.  Hay ít ra, tôi có thể nghĩ đến nó mà không còn thấy khó chịu.

Năm tháng trôi qua.  Tất cả mọi sự vật và mọi người đều thay đổi.  Những người quen biết, dù vắng mặt, cũng dần dần biến thành người mới, vì thế mỗi người đối với chúng ta là tổng hợp của nhiều người khác nhau.  Hậu quả cũng giống như mở một cái hộp, bên trong là một cái hộp khác và sự thật cất trong hộp hoàn toàn bị dấu kín.

Bà giáo chết một cách chậm chạp và đau đớn, ngày càng héo gầy, mỏng như sợi chỉ, vì bệnh ung thư.  Bà cố gắng chống chọi với cái chết, bảo rằng bà chưa đến số chết.  Tôi nghe kể về số tiền bà giáo để lại và những lời trăn trối của bà nhưng trong lòng tôi không thấy chút cảm động nào cả.  Tôi không còn cảm thấy giận dữ và cũng không có chút thất vọng nào.  Tôi không còn quan tâm đến bà giáo nữa.  Tôi chạy trốn những người trong cuộc.  Tôi đã rời bỏ quê cũ.  Hiện nay tôi sống trong thành phố.  Tôi là một người có nếp sống đô thị văn minh.  Nhiều người đến nhà tôi, đủ thứ giai cấp, họ đến để ca hát nhảy múa, để thi thố lời lẽ.  Họ sáng chế ra đủ thứ loại nhà hát tư nhân để chúng tôi có thể diễn kịch chung với nhau.  Tôi cũng đóng góp một phần trong các vở kịch ấy.  Nhiệm vụ của tôi là mở cửa chào đón họ, làm cho họ bớt căng thẳng, mua chuộc họ bằng thức ăn và nước uống, rồi âm thầm chán họ, lặng lẽ xa cách họ.  Cũng giống như họ, tôi mỉm cười, rồi lảng ra xa.  Cũng như họ tôi hút thuốc, uống rượu, để gợi lên một sự thích thú, hoặc là một sự rong chơi vui vẻ trong ảo tưởng.  Đây không phải là những điều tôi vun trồng.  Chúng nó tự phát triển, như một cái hạt mầm hít thở trong bóng tối.  Vì thế, tôi xa cách những người đang ở gần tôi, và tôi cũng xa cách những người tôi bỏ lại sau lưng.  Ban đêm tôi hưởng thụ sự xa cách này.  Buổi sáng, tôi sờ cái bàn, hay tách trà để biết chắc rằng đó là cái bàn hay tách trà, và tôi trò chuyện với cái bàn hay tách trà.  Tôi tưới nước những đóa hoa, và tôi trò chuyện với những đóa hoa, và cây trong rừng, và khói đốt gỗ.  Những người bạn mới của tôi rất hiền hòa, nhưng cũng giống như tôi, tất cả đều cố ý che dấu ý nghĩ thật.  Ít người dám công nhận là chúng ta được hình thành từ những nỗi ám ảnh, đã và đang rượt đuổi chúng ta.  Có lẽ điều đó làm chúng ta lúng túng và hổ thẹn.

Tôi trở về chốn cũ.  Bổn phận thúc đẩy tôi quay lại chốn cũ để thăm viếng thân nhân, và tôi thi hành bổn phận như mọi người mong muốn.  Tôi phải gọi điện thoại cho con trai của bà giáo.  Anh ta là người có nhiệm vụ chôn cất người dì của tôi.  Tôi đến để trả tiền chôn cất.  Vợ anh ta, một người tôi biết đầu óc không mấy bình thường, mở cửa cho tôi vào nhà giữa tràng cười rổn rảng.  Chị ta nói chị ta luôn luôn nghĩ rằng tôi có mái tóc đen tuyền.  Chị ta chạy trên hành lang, vừa chạy vừa gọi tên chồng.  Anh ta tên là Denis.  Anh ta bắt tay tôi một cách nghiêm trang, hỏi tôi muốn đặt vòng hoa như thế nào, vòng hoa hình trái tim, hay hình tròn, hay hình thập tự giá.  Tôi bảo tùy ý anh ta lựa chọn.  Và đằng kia, trong cái tủ chật ních những đồ bát đĩa sứ, có cô búp bê bị chiếm đoạt của tôi.  Nếu búp bê có thể già đi, thì chắc chắn cô búp bê của tôi đã bị già đi rất nhiều.  Xám xịt và bị đóng mốc, cái áo đầm và tấm áo choàng ngày xưa giờ giống như cái khăn liệm, và tôi nghĩ, nếu tôi cầm búp bê lên, có lẽ cô ấy sẽ tan rã. 

“Ôi chà, mẹ tôi yêu con búp bê này lắm,” anh ta nói như có ý ngầm bảo là bà ấy cũng yêu tôi nữa đấy.  Nếu anh nói thẳng ra điều này, chắc chắn tôi sẽ cãi lại.  Tôi đã già hơn xưa, vì thế tôi biết tỏng rằng bà ấy chiếm đoạt cô búp bê vì tính tình kỳ quái lẫn điên rồ, vì lòng tham lam và ghen tị.  Bởi vì bà hành động như vậy nên trời khiến tôi được sống một cuộc đời rất xa nơi họ ở, tôi được đi nhiều nơi mà bà giáo chẳng bao giờ có cơ hội đến dù chỉ một lần.  Cảm nhận được sự lạnh lùng của tôi, anh ta khoác lác rằng anh ta chẳng hề cho con của anh ta chơi búp bê, như thể anh ngụ ý rằng cô búp bê là một món đồ được tôn thờ, một kho tàng quí báu.  Anh mang ra chai rượu brandy, nheo mắt như mời tôi, nghĩ là tôi sẽ nhận lời.  Tôi từ chối.

Sau đó, tôi có cảm giác như ngã bệnh.  Tôi cảm thấy buồn nôn vì trước kia đã yêu mến cô búp bê nhiều quá, vì đã để cho họ đối xử không phải với tôi, và vì bây giờ lại trở nên lạnh lùng, không còn quan tâm bất cứ người nào nữa cả.  Tôi rời khỏi nhà anh ta một cách đột ngột làm anh ta khó hiểu.  Rồi anh làm một chuyện không được tán thành, là anh ta đã hôn tôi.  Có lẽ anh ta đoán rằng, đối với tôi, đó là một điều tôi mong đợi.  Cái hôn ấy được dùng để bày tỏ lòng thương tiếc, chia buồn với cái chết của dì tôi.  Mặt anh ta có cái mùi chua của cái khăn bẩn anh ta đã lau mặt trước khi anh ta ra đón tôi.  Cái hôn như bị nhân cách hóa thành một người vụng về.  Tôi thấy tội nghiệp cho anh ta, nhưng tôi không thể ở lại, tôi không thể cùng với anh ta hoài niệm quá khứ, và tôi cũng không thể giả vờ mình là người đàn bà dễ dàng chấp nhận cái hôn của người lạ mà anh ta đã lầm tưởng.

Tôi đi loanh quanh, những nơi ngày xưa tôi đã từng đi qua; sáng trưa và chiều tối, có điều gì đó đã biến tôi thành một người cau có và khốn khổ mà tôi không biết là cái gì.  Không phải là cái chết của dì tôi mà là cái cảm giác ray rứt của người nghĩ rằng mình chưa hề được sống.  Tôi chỉ biết rằng trong quá khứ của tôi, tất cả những vì sao trên trời kia đều độc nhất và tuyệt vời, đến bây giờ chúng vẫn vậy.  Những ngôi sao này như một cây cầu, một sự mời mọc dẫn tôi đến cửa thiên đàng, một ngày nào đó tôi sẽ chạm đến và hòa nhập vào cái vinh quang của những vì sao này.  Tôi sẽ quên đi cuộc đời hiện nay độc ác và ngu xuẩn, cái cuộc đời mà người ta không còn nhớ đến việc chia sẻ và dâng tặng.

Ngày mai. . . tôi thầm nghĩ; ngày mai tôi sẽ rời khỏi chỗ này, và nhận ra rằng tôi chưa hề đánh mất cái mong ước trốn đi, hay là niềm hy vọng, một thói quen rất bền bĩ của tôi.   

New Jersey.  Nguyễn thị Hải Hà dịch xong ngày 27 tháng 11 năm 2021

Năm nay cũng có người trang trí cây thông dọc theo đường trail nhưng các tượng trang trí không nhiều cũng không đẹp bằng năm ngoái