Hitchcock nghĩ về phô trương thân thể

Tôi đang đọc một quyển sách bao gồm các bài phỏng vấn của những đạo diễn tên tuổi hàng đầu trên thế giới. Hitchcock là một. Sáng nay đọc một đoạn phỏng vấn, do George Stevens, Jr. thực hiện ngày 3 tháng Hai, năm 1970, câu trả lời của Hitchcock, lúc ấy 71 tuổi, cho ta thấy quan điểm của ông khá bảo thủ. Tôi xin dịch câu trả lời của câu hỏi “What is your idea about what a heroine should be?” (Ông nghĩ một nhân vật nữ thì nên (hành động, cư xử, ứng xử) như thế nào?

Hitchcock nghĩ về sự phô trương thân thể của phụ nữ

“Trước nhất, phải nói là tôi chẳng bao giờ thích phụ nữ phô trương nét khêu gợi bốc lửa như đeo đồ trang sức rẻ tiền trên cổ. Tôi nghĩ để cho nó được khám phá thì hay hơn. Khám phá những đường nét gợi cảm của người phụ nữ thì thú vị hơn là bị buộc phải nhìn, như cái kiểu Marylin Monroe và những người tương tự. Theo tôi, điều ấy có vẻ tục tằn và lộ liễu thái quá. Tôi nghĩ sẽ thú vị hơn, khi chúng ta đang kể một câu chuyện rồi khám phá đường nét gợi cảm của phụ nữ, cho dù nàng có vẻ (kín đáo) giống như một cô giáo. Chuyện gì cũng có thể xảy ra với một người phụ nữ như thế ngay cả khi ở trên chiếc tắc xi.” Hết đoạn dịch.

Ý kiến riêng của tôi, bà Tám: Bạn biết ông Hitchcock rồi chứ. Ông là một nhà làm phim tài ba, danh tiếng lẫy lừng, nhưng nói thật ông không mấy đẹp dáng. Xem chừng ông cũng không mấy lịch lãm với phụ nữ. Nghe kể lại rằng những người diễn viên nữ đóng trong phim của ông rất sợ ông. Chỉ trong một đoạn văn ngắn, ông đã nhục mạ hai giới phụ nữ, những người bốc lửa, như Monroe và những người đứng đắn, như cô giáo.

 

Tình già, p. 2

Tôi học bốn buổi cách trồng và săn sóc hoa lan. Thứ Bảy vừa qua là buổi học cuối cùng. Trong lớp có một cặp vợ chồng đến từ Pennsylvania. Nghe thì xa, nhưng thật ra Penn. là tiểu bang giáp ranh với New Jersey. Tiếng là kế một bên, nhưng ông chồng nói lái xe đi gần hai tiếng đồng hồ. Lớp học bắt đầu lúc 9 giờ sáng. Có mặt trước 20 phút để được thầy dạy lái xe đưa đến nhà kính trồng lan. Đi bộ đến nhà kính chừng 15 phút nhưng lái xe đi đường vòng lâu hơn. Có nhiều người Mỹ không muốn hoặc không thể đi bộ lâu.

Cả hai vợ chồng đều trạc tuổi hơn sáu mươi, khỏe mạnh. Họ ôn hòa, điềm tĩnh, và không ăn mặc diêm dúa hay tỏ vẻ giàu có. Ông chồng nói đi vì bà vợ muốn đi học trồng lan. Còn ông, không ghét trồng lan cũng không hẳn là thích, đi vì không muốn vợ lái xe đường xa một mình. Vào lớp ông cũng tỏ vẻ hứng thú, chăm chú vào lời thầy, thỉnh thoảng thắc mắc hợp lý chứ không làm ra vẻ hiểu biết ta đây, không cằn nhằn hay lơ đãng, hay tệ hơn nữa là ngủ gục.

Vợ chồng già, họ không có cái vẻ gắn bó (muồi) mùi mẫn, nhưng nội cái việc ông lái xe hai giờ đồng hồ chở vợ đi học trồng lan và ngồi trong lớp hơn hai giờ đồng hồ thì thấy ông quan tâm chăm sóc vợ. Họ dọn nhà hai lần trong vòng mấy tháng mấy cây lan vì thế không khỏe khoắn cho lắm. Chẳng nhớ thầy và các học trò bàn tán gì nhưng ông chồng trêu bà vợ: “Giá mà lúc ấy anh biết thì sẽ mang giò lan ra bỏ ngoài lạnh cho nó héo.” Nhưng ngay lập tức ông cười bảo rằng: “Không. Anh không bao giờ làm như vậy. Anh chỉ đùa thôi.” Bà vợ cười hiền lành: “Em cũng biết anh không làm thế bao giờ.” Nhìn cách ông chồng trêu vợ, mình biết họ yêu thương nhau. Tôi biết có vài ông chồng Việt trêu vợ bằng cách bêu xấu bà vợ. Chỉ nhìn cách trêu (một hình thức nặng lời trá hình), mình biết vợ chồng không hòa thuận với nhau. Có những mối ác cảm họ giữ trong lòng, chờ dịp xì ra.

Mấy hôm nay trời lạnh, buổi tối chừng bốn mươi lăm độ F. (khoảng 7 hay 8 độ C.), lá khô và hạt sồi bắt đầu rụng. Tôi quét sân, quét driveway, mỗi lần quét chừng nửa tiếng hay một giờ đồng hồ (ít ra là tôi thấy lâu như vậy). Có một ngày đang quét lá bà Robin, hàng xóm lái xe đi ngang, hẹn tôi đi ăn trưa. Đang cần có bạn tôi vui vẻ nhận lời. Hẹn nhau đi ngày thứ Sáu.

IMG_1638

IMG_1627

Robin chở tôi đến nhà hàng gần đó, cách chừng năm phút lái xe. Chồng bà, Steve, qua đời hồi tháng 12 năm ngoái. Bà nói: “Mới đó mà đã một năm.” Tôi nói: “Chắc bà nhớ ông lắm.” Bà nói: “Tôi nhớ ông ghê lắm.” Nhà hàng bà đưa tôi đến là nơi hai vợ chồng bà thường đến ăn, cứ vài ba tuần một lần. Steve là lính cảnh sát. Robin làm việc trong nhà hàng và khách sạn. Bà lãnh lương khá cao nên không thể nhận tiền hưu của Steve khi ông qua đời. Mỗi lần nhắc đến Steve, mắt bà long lanh, ngấn nước. Bà nói: “Tôi yêu ông ấy lắm. Ngày ông còn sống tôi không thế nào chịu được nếu mất ông. Nếu ông ấy mà hẹn hò đi chơi với người đàn bà nào khác thì tôi sẽ giết ông ấy. Tôi không chịu được. Tôi yêu ông, nhưng tôi sẽ giết ông.” Bà nói giết, một cách nói thôi, chứ người bà tôi không nghĩ sẽ giết người. Steve và Robin, rất đẹp đôi. Tính đến ngày Steve qua đời họ lấy nhau đã hơn bốn mươi năm.

Cái trêu nhẹ nhàng của ông học chung lớp trồng lan, và lời than nhớ chồng của bà Robin, làm tôi nhớ lại một chi tiết trong phim “Bridges of Madison County.” Khi biết chắc là không thể tiếp tục mối tình của hai người, Francesca tặng Robert Kincaid cái mặt dây chuyền hình thánh giá, món quà hộ mệnh của người cô hay dì tặng cho nàng lúc còn bé và nàng đeo suốt đời. Nàng mong món quà sẽ hộ mệnh cho chàng như đã hộ mệnh cho nàng. Robert cầm cái thánh giá có khắc tên Francesca đưa lên môi hôn. Một cử chỉ nhỏ nhặt nhưng tôi nhìn thấy sự trìu mến, quí trọng món quà nhỏ của Robert dành cho Francesca. Gần đất xa trời, tôi chưa có dịp nào nhìn thấy sự trìu mến, yêu dấu, trong những cử chỉ nhỏ nhặt của các đấng lang quân trong vòng bạn bè và người thân.

Người già, tình già, dù không còn bồng bột sôi nổi, nhưng nếu người ta thật sự còn yêu quí nhau, người ta có cách để bày tỏ bằng những cử chỉ nhỏ nhặt hay bằng những săn sóc tinh tế trong cuộc sống hằng ngày.

Lan cattleya và nhà văn Proust

Luigi Berliocchi, tác giả quyển “The Orchid in Lore and Legend” (Hoa lan trong truyền thuyết và huyền thoại), viết: “Nếu loài hoa lan không hiện diện trên cõi đời này, có lẽ, nhà văn Marcel Proust phải sáng tạo hay sáng chế ra loài hoa này.”

Marcel Proust, (1854 – 1900), nhà văn Pháp, nổi tiếng với “In Search for Lost Time” (Đi tìm thời gian đã mất). Ông thích nhất là loại hoa lan Cattleya labiata. Người ta bảo rằng vẻ đẹp gợi cảm nhưng mau tàn, quyến rủ nhưng e thẹn, rạng rỡ nhưng mong manh, là biểu tượng cho nhân vật của ông. Cattleya là biểu tượng cho Odette de Crécy trong “Un Amour de Swann.”

Odette là một phụ nữ tuyệt đẹp, nhưng nàng ngu dại, vô cảm, và đặc biệt là nàng có trái tim trắc nết. Trước khi lấy chồng nàng là kỹ nữ. Charles Swann là người giàu có, trí thức, và nhân hậu. Sau khi lấy chồng Odette vẫn tiếp tục qua lại với đàn ông. Sự lang chạ của Odette khiến bạn bè của Charles Swann dần dần xa lánh chàng.

Odette cài hoa lan trên tóc, trên ngực, vò xé hoa lan và phủ cánh hoa lên khắp người nàng. Ngày Charles Swann tỏ tình và chinh phục trái tim Odette, hương lan bay tỏa, phủ vây hai người. Mùi hương lan trở thành kỷ niệm và là dấu hiệu tình yêu nồng nàn của hai người.

Trong một truyện khác, “Sodom et Gomorrhe” Proust dùng hoa lan để diễn tả ánh nhìn, cử chỉ, và bày tỏ tình cảm giữa hai nhân vật Baron the Charlus và Jupien. Proust bày tỏ mối tình say đắm giữa hai người đồng tính luyến ái bằng đôi mắt của nhà thiên nhiên học và nhờ thế thoát khỏi sự phán xét đạo đức của người đọc lúc bấy giờ.

Tôi không có ảnh của Cattleya labiata, tìm trên mạng không khó, nhưng mất công dẫn nguồn. Tôi dùng một tấm ảnh cùng loại cattleya nhưng khác họ.

lan cattleya màu cam và hồng
Pink Cattleya

Rất tiếc tôi quên chụp ảnh cái tên riêng của hoa này. Người không sành về lan vẫn có thể nhận diện cattleya bằng cái lưỡi hoa có viền như đăng ten và hai cánh hoa bên cạnh (tạo thành hình tam giác) cũng có hình dáng gần giống với lưỡi hoa.

Không có nhạc Việt về hoa lan nên mời bạn nghe bản nhạc “Orchid in the moonlight” do ban nhạc The Platters trình bày. Nếu kèm lời nhạc và bản dịch thì hơi dài, sợ bạn đọc chán, nên tôi sẽ làm thành hai bài. Tôi thích bài hát này vì nó rất là thơ mộng. Và đặc biệt nó lại là một bài Tango. Xin mời bạn thưởng thức.

Hoa lan trong ánh nguyệt

 

Orchids in the Moonlight

Hoa lan trong ánh nguyệt

The Platters

When orchids bloom in the moonlight
And lovers vow to be true
I still can dream in the moonlight
Of one dear night that we knew

Khi lan nở dưới trăng
Những người yêu nhau nguyện thề chân thật
Tôi mơ màng trong ánh trăng (nhớ về)
Một đêm xưa.

When orchids fade in the dawning
They speak of tears and good-bye
Though my dreams are shattered
Like the petals scattered
Still my love can never die.

Khi nhận ra rằng lan sẽ tàn 
Hoa thở than những lời chia ly đầy nước mắt
Dù ước mơ của tôi vỡ nát
Như cánh hoa tan tác
Tình yêu của tôi không bao giờ phai tàn

There is peace in the twilight
When the day is through
But the shadows that fall
Only seem to recall
All my longing for you

Có bình yên lúc chiều rơi
Và ngày dần tàn
Nhưng bóng tối dâng tràn
Chỉ tăng thêm
nỗi nhớ chàng

There is a dream in the moonbeams
Upon the sea of blue
But the moonbeams that fall
Only seem to recall
Love is all, love is you

Giấc mơ nào lung linh trong ánh trăng
Giữa biển ánh sáng ngời xanh
Nhưng ánh nguyệt rơi
Chỉ gợi nhớ thêm
Tình yêu là tất cả,
Tình yêu chính là anh

 

 

 

 

Bỏ cuộc chơi

Hôm nay tôi mời các bạn nghe bài hát “Leaving the table” của Leonard Cohen do chính tác giả trình bày.  Ông Cohen hát bài này với giọng hát buồn nản, mệt mỏi. Ông diễn tả tâm trạng một người thua cuộc và rút lui khỏi sòng bài, biểu tượng của một cuộc tình, hay nới rộng hơn chút nữa, cuộc đời. Tôi mời bạn nghe nguyên bài, nhưng thật ra chỉ có hai câu ám ảnh tôi suốt mấy năm nay, trong khi tôi ước muốn về hưu. Tôi rời bỏ sòng bài đây. Tôi bỏ cuộc chơi.

I’m leaving the table
I’m out of the game
I don’t know the people
In your picture frame

Tôi rời bỏ bàn, chỗ ngồi
Tôi bỏ cuộc chơi (đánh bạc)
Tôi không quen biết với những người
Trong khung ảnh của em.

If I ever loved you, oh no, no
It’s a crying shame
If I ever loved you
If I knew your name

Nếu tôi từng yêu em, ồ không đâu, không
Đó là một tiếng kêu đầy xấu hổ
Nếu tôi từng yêu em
Nếu tôi biết tên em    

You don’t need a lawyer
I’m not making a claim
You don’t need to surrender
I’m not taking aim

Em không cần phải thuê luật sư đâu
Tôi không thưa kiện gì cả
Em cũng không cần phải đầu hàng
Tôi không ngắm để bắn em  

I don’t need a lover, no, no, no
The wretched beast is tame
I don’t need a lover
So blow out the flame

Tôi không cần có người yêu, không, không đâu em
Con quái thú khốn khổ giờ đã trở nên thuần tánh
Tôi không cần có người yêu
Vì thế hãy thổi tắt ngọn lửa (giận dữ hay say mê) đi  

There’s nobody missing
There is no reward
Little by little
We’re cutting the cord

Chẳng có ai bị mất tích
Vì thế sẽ không có giải thưởng nào
Từng chút và từng chút
Chúng ta cắt đứt sợi dây (quen biết hay tình cảm)     

We’re spending the treasure, oh no, no
That love cannot afford
I know you can feel it
The sweetness restored

Chúng ta đang tiêu phí cái kho tàng, ồ không không,
Mà tình yêu không có đủ để trả giá
Tôi biết em có thể cảm nhận được rằng
Mối liên hệ ngọt ngào được tái lập  

I don’t need a reason
For what I became
I’ve got these excuses
They’re tired and they’re lame

Tôi không cần phải có một lý do nào cả
Để giải thích cho cái con người mà tôi trở thành
Tôi có những lời biện hộ này đó chứ
Nhưng mà chúng rất nhàm chán và không đủ để thuyết phục     

I don’t need a pardon, no no, no no, no
There’s no one left to blame
I’m leaving the table
I’m out of the game
I’m leaving the table
I’m out of the game

Tôi không cần được tha lỗi, không, không không
Chẳng có ai còn ở lại để lãnh tội
Tôi rời bỏ bàn, chỗ ngồi
Tôi bỏ cuộc chơi.
Tôi rời bỏ bàn, chỗ ngồi
Tôi bỏ cuộc chơi.

 

Về hưu rồi làm gì?

Thật là sung sướng, vì về hưu rồi không phải làm gì cả. Hôm nào không mưa tôi đi bộ vòng quanh hồ Watchung gần nhà, đi năm vòng khoảng hai giờ đồng hồ, vừa đi vừa nghe đọc sách. Hổm rày nghe được ba bốn quyển sách rồi, trong đó có quyển “When Breath Becomes Air.” Không biết dịch giả nào dịch ra cái tựa rất êm tai, nghe như thơ vậy. “Khi Hơi Thở Hóa Thinh Không.” Quyển này rất hay. Bạn nào vớ được thì nên đọc nha. Tôi nghe rồi lại muốn mượn quyển sách về đọc và ghi lại những bài thơ nổi tiếng về sự sống chết mà tác giả đã nhắc đến trong quyển sách.

ông già cô độc đứng cô độc
Ông già cô độc đứng cô độc
cất cánh
Thấy có người đến gần ông già cô độc cất cánh
blue heron
Blue Heron đứng gần bờ của hồ Watchung
lũ chúng ta lạc loài năm bảy đứa
Lũ chúng ta lạc loài dăm bảy đứa
chuyện ba người
Chuyện ba người
trang điểm
Trang điểm
không biết tên
Không tên vì không biết tên
cũng chỉ là chàng không tên
Vẫn là chàng không tên

Trong tất cả 13 con mèo bị Trung Tâm Nuôi Giữ Thú Hoang đến bắt đi, có bốn con bị trả về sau khi chích ngừa và triệt sản. Mr. Mun, Mèo mẹ Củ Gừng, và hai Củ gừng con bây giờ to hơn mèo mẹ. Cả bốn con vẫn còn sợ hãi, nhưng đã đến ăn đều đặn. Kết thúc xem chừng có hậu.

Con bò húc

The Charging Bull
Charging Bull của Wall Street

Con bò mộng trong tư thế chuẩn bị phóng tới, tấn công, là biểu tượng của khu vực tài chính và buôn bán chứng khoán ở đường Wall (Street). Dù biết chữ street là đường phố nhưng chỉ dùng chữ đường Wall hay phố Wall thôi, bỗng thấy có vẻ trơ trọi, thiếu thiếu cái gì đó. Người ta nói nó tượng trưng cho một sự lạc quan mạnh mẽ trong việc buôn bán để trở nên thịnh vượng. Nó cũng nói lên một sự bấp bênh, không ai có thể đoán trước được mức độ bền vững của sự hưng thịnh trong việc mua bán chứng khoán.

Tác giả của con bò này là Arturo Di Monica. Con bò được làm bằng đồng, cao 3.4m, dài 4.9m, nặng 3,200 kg. Một tác phẩm trong phong trào Guerilla Art. Guerilla Art, tôi muốn dịch là Nghệ Thuật của phong trào dùng phương pháp du kích, nhưng tôi sợ bị hiểu lầm với nghệ thuật đánh du kích của quân đội, dù ý nghĩa của nó có phần tương tự. Guerilla art mượn ý tưởng của nghệ thuật vẽ trên tường và đường phố (graffiti), không quan trọng tác phẩm được cấu tạo bằng chất liệu gì, miễn là nó có thể gợi chú ý và hy vọng có thể thay đổi quan niệm của người xem tác phẩm. Tác phẩm của nghệ thuật đường phố cũng như nghệ thuật của phong trào dùng phương pháp du kích có thể được xây dựng hoặc sáng tác ở những nơi chốn, công cộng hay tư nhân, nhưng không (hay chưa) được sự đồng ý của người sở hữu những nơi chốn ấy. (Đánh nhanh, đánh lén, rút lẹ, như đánh du kích vậy)

Con bò lần đầu tiên được dựng trên đất của New York Stock Exchange (Sở Giao Dịch Chứng Khoán New York) dĩ nhiên là không có sự đồng ý của chủ nhân. Sau đó tác phẩm bị tịch thu. Tuy nhiên, vì người qua kẻ lại du lịch ở New York thích tác phẩm này quá nên người ta phản đối đến độ con bò được dựng ở một nơi gần đó.

sờ dế bò
Sờ dế bò. Để làm gì? Dị đoan là sẽ trúng mối mua được stock tăng giá mấy trăm lần một năm để trở thành triệu phú chăng?

Một trong những cái bất hạnh của người đến New York để du lịch là nó quá đông đúc chật chội. Mỗi ngày có hằng ngàn người đến để chụp ảnh với con bò. Thật khó mà chụp được ảnh con bò mà không có người bu quanh. Bạn đừng ngạc nhiên vì có rất nhiều người, cả những cô gái trẻ trung xinh đẹp, đều chui xuống mà sờ dế bò. Chẳng có ai xấu hổ hay ngượng ngùng gì cả.

Three Fearless Girls
Three Fearless Girls.

Đối diện với con bò hung hãn sắp lao đầu đến để tấn công là pho tượng bằng đồng của một cô bé. Tượng có tên là The Fearless Girl (Cô bé không sợ hãi) của tác giả Kristen Visbal.  Di Monica không vừa ý, bảo rằng bức tượng “cô bé không sợ hãi” làm giảm vẻ đẹp của bức tượng “con bò húc” nên ông đi kiện. Chẳng biết kết quả vụ kiện như thế nào, đã được xử chưa, nhưng hồi tháng Tám tôi đến chỗ của hai bức tượng thì thấy cô bé và con bò vẫn nghênh ngang nhìn nhau, bất phân thắng bại.

Thấy có hai cô bé du khách có cùng chiều cao với bức tượng, tôi xin phép bố mẹ hai cô cho làm người mẫu.

Ghi chú: Kaoh Hmin Neugyn định nghĩa “Nghệ thuật Du kích”(Guerrila Art) là một thể thức nghệ thuật phong trào trường phái thần tốc, linh hoạt. Còn được xem là Nghệ Thuật Bất Định vì nó không bị hạn chế bởi môi trường trưng bày và mỹ nghệ.