Sáng Chủ Nhật rảnh quá cho nên…

Thử cái máy ảnh, ông Tám tặng lâu rồi nhưng chưa dùng, bây giờ lấy ra thử vài tấm Canon Rebel T7i, hơi nặng. Ở đây đang mùa hoa Kim Ngân (honeysuckles) và hoa dại màu trắng có nhụy vàng hay nhụy chấm đen, thơm ngát. Đi rừng, tôi đi trong hương hoa ngào ngạt, mỗi bước đi làm dấy động hương rừng.
Máy cũ, đi bộ thấy có con rùa bé xíu, chưa đầy ba ngón tay.
Và một đóa hoa diên vỹ tím nhìn hoa mà nhớ ông van Gogh.

Mấy hôm nay tôi đọc quyển thơ của ông Tô Thùy Yên nên muốn viết vài giòng cảm tạ. Cảm ơn nhà thơ Tô Thùy Yên đã viết nhiều bài thơ hay. Cảm ơn nhà thơ Trần Hoài Thư, đã mang về quyển thơ. Cám ơn gia đình và thân hữu của nhà thơ Tô Thùy Yên đã hào phóng tặng tập thơ có thủ bút của nhà thơ TTY. Cầu chúc nhà thơ Tô Thùy Yên vui chơi nơi cõi vĩnh hằng. Tôi hỏi xin tập thơ nhiều nơi, không ngờ lại nhận được từ tay của nhà thơ láng giềng Trần Hoài Thư. Tôi thật là may mắn.

Cuối tháng Năm, nhận ra đầu óc tôi phân tán, khó tập trung lâu vào đề tài gì, đọc cũng khó khăn. Tôi muốn tập cho mình đọc chậm lại, chú ý vào câu chữ hơn, bằng cách chép thơ. Tôi ra A. C. Moore mua cây bút và lọ mực loại dùng để viết chữ thảo đẹp (calligraphy). Mấy hôm rày tôi chép một số bài thơ hay, dĩ nhiên cũng chép lại nhiều bài thơ trong tập thơ TTY.

Sáng nay đọc bài Nỗi Đợi của ông Tô Thùy Yên. Bài thơ dài, rất hay nhưng tôi thích nhất hai đoạn.

[…]

Trời đất thì buồn như xác rỗng.
Ta thì như gió, tuyệt bơ vơ,
Trăm năm cửa khép hờ mưa nắng…
Mãi chẳng ai về qua gọi cho.


[…]
Hỏi ai, ai có là tri kỷ?
Ai có buồn chớp bể mưa nguồn?
Ta khóc, chẳng qua là khóc lại.
Lệ nào, ôi chẳng của tiền nhân
.

Đoạn thơ sau, khiến tôi nhớ mấy câu ca dao.

Đêm qua chớp bể, mưa nguồn
Hỏi người tri kỷ, có buồn hay chăng
.

Ông thầy Nhật Bản và món đồ chơi bằng gỗ kendama

Tôi gặp nó lần đầu tiên ở trong một cửa hàng nơi các tuyến xe du lịch đến Đế Thiên Đế Thích ngừng lại cho du khách trước là giải lao, sau là giải tỏa bầu tâm sự. Nó là cái đồ chơi bằng gỗ, trông giống như một cái dùi (hay cái chày) nho nhỏ, cột lủng lẳng vào đó một quả banh. Người Nhật gọi cái dùi (hay chày) này là ken, có nghĩa là cây kiếm. Còn những cái cốc (hay cái chung nhỏ) trên cây kiếm này là ozara. Quả banh là tama. Món đồ chơi này gọi là kendama, nó khiến tôi liên tưởng đến cái yo-yo khoảng thập niên 70 cho đến về sau nhiều người hay chơi. Nó như thế này đây. Ai hiểu được những chữ Nhật trên món đồ chơi này xin giải thích giúp. Cám ơn nhiều. Một người bạn trẻ tuổi đã dịch giúp tôi những chữ trên cái kendama. Cám ơn Lập Đông.

Ngày đi chùa Hương, xe đón tôi và ông Tám rất sớm. Sau đó đón thêm 5 người nữa. Nghe cậu hướng dẫn viên gọi tên một người trong nhóm là chị Huế. Cô này trẻ và đẹp. Tôi nhắm chừng cô ở khoảng tuổi cuối bốn mươi hay đầu năm mươi. Cùng đi với cô là bốn người Á châu ngoại quốc. Vốn có máu kỳ thị nhỏ nhen, tôi kêu thầm, thôi rồi Tám ơi. Đi chung với người Tàu coi bộ không khá. Khi biết ra họ là người Nhật, tôi mừng. Lên xe tôi chào họ bằng tiếng Anh, đa số đáp lại bằng câu Good morning. Trong bốn người này có một cặp vợ chồng tuổi độ ngũ tuần, một người lớn tuổi hơn, sang Việt Nam hằng năm để dạy môn kendama, và một cô gái còn khá trẻ độ hơn ba mươi. Huế giới thiệu tên của họ nhưng trí óc tôi già cả chậm chạp, nghe đó rồi quên đó. Họ khá yên lặng và thân thiện.

Cặp vợ chồng Nhật, theo lời Huế, ở trọ nhà Huế. Họ có nhà ở Nhật cho thuê, sang VN thuê nhà sống và đi chơi. Cô vợ có thể nói tiếng Việt, giọng Bắc, hình như không biết tiếng Anh. Ông chồng có thể nói tiếng Anh chút ít. Nếu tôi nói chậm rãi từng tiếng ông có thể hiểu và trả lời. Cô gái trẻ nói tiếng Anh giỏi hơn ông kia, nhưng vẫn còn khá ngập ngừng. Ông thầy dạy kendama có thể nghe tiếng Anh, nhưng nói không bằng người đàn ông có vợ và cô gái trẻ. Huế có thể nói tiếng Nhật trong phạm vi giao tiếp và đọc tiếng Nhật. Huế giải thích những chữ trên cái đồ chơi gỗ kendama nhưng tôi không ghi lại.

Những gì tôi biết về người Nhật, ngôn ngữ, và văn hóa, chỉ trong phạm vi sách vở và đặc biệt là văn học. Không thể chối cãi rằng, tôi đã tạo sẵn trong đầu óc mình một ít thành kiến về người Nhật. Đàn ông Nhật, cũng như đàn ông Việt, nghiêm khắc và gia trưởng. Tôi hình dung đàn ông Nhật qua các nhân vật trong truyện của Yasunari Kawabata, hay trong phim của Yasujiro Ozu. Ông thầy dạy Kendama khá nghiêm nghị. Cô gái trẻ là học trò của ông. Cặp vợ chồng kia có lẽ cũng là học trò của ông. Qua cung cách đối xử, nhẹ nhàng lễ độ nhưng vẫn nghiêm cẩn, tôi đoán ông phải bảy mươi. Nhưng dáng dấp của ông vẫn gọn gàng, nhanh nhẹn, vững vàng như người ở tuổi năm mươi.

Bữa ăn trưa ở dưới chân núi vào chùa Hương

Bữa ăn trưa, ông thầy dạy kendama ngồi đối diện với tôi. Bàn dài và kê sát vách. Tôi và ông Tám ngồi dựa tường còn ông thầy ngồi hàng ghế bên ngoài. Đôi vợ chồng Nhật ngồi xa hơn. Người vợ rời chỗ ngồi đến chỗ của ông thầy để xới cơm và săn sóc ông trong khi cô gái trẻ ngồi bên cạnh không làm thế. Tôi hơi ngạc nhiên vì khi tôi lúng túng trong việc gắp cá hay rau dính lủng lẳng, ông thầy giúp tôi đẩy thức ăn đến gần hơn, hay dùng đũa giữ chỗ thức ăn còn lại cho khỏi vướng đũa tôi.

Trên chuyến đò vào chùa Hương, ông Tám hỏi chuyện chị chèo đò. Tuổi độ năm mươi, trông chị gầy gò khắc khổ. Chị kiếm được lợi tức nhiều hơn người đàn ông chèo thuyền ở Tam Cốc vì du khách đến chùa Hương đông hơn. Ở chùa Hương người ta chèo bằng tay chứ không chèo bằng chân như ở Tam Cốc. Nói chung, người chèo thuyền khá vất vả, 4 km chèo vào và 4 km chèo ra chỉ hưởng được một món tiền nhỏ nhoi. Ở Tam Cốc, phải là dân địa phương mới được tham gia chèo thuyền chở du khách. Còn ở chùa Hương người chèo thuyền có thể là dân nơi khác đến. Lợi tức cho người chèo thuyền địa phương vì thế bị chia bớt đi. Người chèo thuyền cũng trông vào số tiền hoa hồng (còn gọi là tiền “boa” hay tiền “típ” du khách tặng để cảm ơn công chèo. Du khách được hướng dẫn viên nhắc nhở tặng tiền “boa”, vì công người ta chèo cực nhọc. Du khách nghĩ thầm, công chèo thì đã được ban quản lý du lịch địa phương trả lương rồi, có ai chèo không ăn lương bao giờ. Tiền hoa hồng là do lòng hào phóng của du khách; không nên và không thể đòi được tặng quà. Chị chèo thuyền cho biết nếu ban Quản Lý biết người chèo thuyền được du khách tặng tiền, người chèo thuyền sẽ phải chia số tiền này. Du khách được khuyến khích số tiền tặng là hai đô la rưỡi (hay năm đô la tôi không nhớ chắc chắn số tiền này) mỗi đầu người. Để tránh cho chị chèo thuyền phải chia số tiền của chị, ông Tám lặng lẽ tặng tiền boa phần của hai chúng tôi.

Trong khi ông Tám trò chuyện với chị chèo thuyền thì tôi trò chuyện với mấy người Nhật đi chung đoàn. Tôi hâm mộ văn học và điện ảnh của người Nhật đã từ lâu. Có lẽ vì tôi tìm thấy nhiều điểm tương đồng với các nhân vật Nhật qua cách miêu tả của các nhà văn và nhà làm phim Nhật. Và cũng vì tôi kính trọng sự tự chủ và sức vươn lên ra khỏi thảm họa hay nghịch cảnh của dân Nhật. Có lẽ, đa số người Nhật thuộc giới trung niên, học tiếng Anh bằng cách đọc sách, và với các giáo viên người Nhật tuy biết tiếng Anh nhưng ít giao thiệp trực tiếp với Anh Mỹ nên cách phát âm tiếng Anh của họ rất khác với tiếng Anh tôi thường nghe ở người Mỹ và người Anh. Và dĩ nhiên họ cũng thấy tiếng Anh của tôi rất khó hiểu. Nói chuyện với họ tôi nói thật chậm và cố gắng phát âm cho thật rõ ràng. Tôi cũng lắng tai nghe cẩn thận. Và trong cách đối thoại này tôi kể với ông thầy, một ít điều tôi chú ý về văn học và điện ảnh Nhật. Tôi nhắc tên một vài nhà văn, nhà thơ, đạo diễn Nhật nổi tiếng mà tôi đã đọc. Basho, Murakami, Kawabata, Ozu, và Kurosawa. Ông thầy nghe, thỉnh thoảng gật đầu, như hiểu tôi đang muốn nói gì.

Nhóm người Nhật đễ dễ nhận ra nhau trong đám đông, mỗi người đội một cái mũ màu xanh lá cây. Ông thầy dạy môn kendama ở bên phải mặc áo xanh mang giày đỏ. Cả hai đang nhìn bản đồ dẫn vào Nam Thiên Đệ Nhất Động.

Cô gái trẻ người Nhật và người đàn bà (người vợ) tuỗi ngũ tuần, đi chung đoàn

Cậu hướng dẫn viên, cô Huế, và bốn người Nhật đi cáp treo xuống còn tôi và ông Tám đi bộ. Tôi và ông Tám được dành cho bốn mươi lăm phút. Khi chúng tôi đi bộ xuống thì ông thầy đang biểu diễn kendama. Chẳng mấy chốc, ông đã quyến rũ được một đám đông vây quanh ông, xem ông tung quả banh gỗ cột lủng lẳng vào cái chày, và hứng quả banh cho lọt vào những cái cốc khắc sẵn vào cái chày của món đồ chơi bằng gỗ. Nhìn thấy cái nhún nhẩy nhịp nhàng của ông trong lúc tung hứng quả banh, tôi không khỏi buột miệng, à đây là một cuộc tập thể dục thú vị. Vừa tung hứng, ông vừa lẩm nhẩm hát một bài tiếng Nhật, có lẽ một bài ca dao hay đồng dao.

Tôi thích thú dùng máy chụp ảnh quay một đoạn phim ngắn ông thầy biểu diễn kendama. Sau khi tôi tắt máy và vỗ tay khen ngợi ông, ông đưa cái kendama cho tôi và nói “for you.” Tôi rất ngạc nhiên, thích thú nhận món quà, cảm ơn rối rít. Thích thú vì bất ngờ và sung sướng vì tôi là người duy nhất được quà. Cảm thấy mình thật hân hạnh. Có lẽ tôi nên bắt đầu tập chơi kendama như là một hình thức luyện cho mắt nhanh tay lẹ và tập thể dục nhẹ nhàng.

Khi về đến bến, chị chèo đò hớt hãi rượt theo đoàn người Nhật để đòi tiền hoa hồng. Đoàn người Nhật cương quyết không tặng tiền hoa hồng, vì người Nhật không có thói quen tặng tiền típ trong khi phục vụ hay mua bán. Họ bảo rằng họ đã cho tiền típ trong tổng số tiền họ trả cho dịch vụ du lịch. Chị chèo đò phải đòi từ những người tổ chức du lịch, và đại diện cho tổ chức dịch vụ du lịch là cậu hướng dẫn viên. Hành động của chị chèo thuyền có thể bị xem là kém tế nhị hay quá thô lỗ thậm chí tham lam. Nhưng, chuyện cho tiền hoa hồng có phải là trách nhiệm không, và trách nhiệm đó là của ai? Người Nhật rất tự trọng và hào phóng. Họ có cái lý của họ. Và người Việt (ban quản lý du lịch địa phương, tổ chức hướng dẫn du lịch, hay du khách?) nên đối xử cho công khai, rõ ràng, công bằng và lịch thiệp với những người chèo thuyền này.

Đoạn phim ông thầy đang biểu diễn Kendama

Trên đường về, tôi hỏi Huế cách cám ơn bằng tiếng Nhật và tên của ông thầy. Trước khi đoàn người Nhật xuống xe, tôi ngồi ở băng ghế phía trước đứng lên (thật may mắn cho người thấp đứng trong xe không đến nỗi khó khăn) chắp tay trước ngực nói “Mr. Hiromu Imada, Arigato!” Thưa ông Hiromu Imada, cám ơn ông. Cả nhóm người Nhật vỗ tay. Bạn thấy đó, biết được một ngôn ngữ khác, dù chỉ là một lời cám ơn cũng giúp cho tôi được hoan hỉ đón nhận. Món quà Kendama vẫn còn ngự trên kệ sách và tôi đã một vài lần tập chơi. Chưa giỏi nhưng tôi sẽ cố gắng.

Đi chùa Hương

Hôm trước bắt đầu kể về chuyến đi chùa Hương, ngang cây cầu bắc ngang sông Đáy, tôi cà kê chuyện “sông Đáy chậm nguồn ra Phủ Quốc” mà tôi nói sai thành Phú Quốc. Nhờ các bạn hiểu biết chỉ giúp tôi “ngộ” ra trường hợp của tôi cũng giống như chuyện ngày xưa “Hoàng Khuyển ngọa tri tâm” bị sửa cho sai thành ra ngọa tri âm (hay tọa tri âm? Xin bỏ qua cho cái trí nhớ mù mờ của tôi). Thật ra tôi đã từng gặp câu hát “Sông Đáy chậm nguồn ra Phủ Quốc” nhưng tôi cho rằng chữ Phủ Quốc là do lỗi đánh máy sai chứ tôi không biết đó là tên ngắn của Phủ Quốc Oai. Nếu học Địa Lý thời tiểu học đàng hoàng thì không sai như thế. Nhưng chuyện qua rồi thôi hôm nay bạn cho tôi kể nốt chuyến đi chùa Hương của tôi.

Tôi làm một chuyến du lịch mấy tuần lễ ở miền Bắc mà không đọc cho hiểu biết thêm những nơi mình sẽ đến. Biết là thiếu sót nhưng tự an ủi là chẳng hề gì, những gì mình gặp trên đường đi sẽ mới mẻ không có hình ảnh nào trong trí nhớ để so sánh và vì thế càng thú vị hơn. Tôi không ngờ, tuy đi chùa Hương lần đầu nhưng hình ảnh về Chùa Hương đã in sâu trong óc tôi qua bài thơ Đi Chùa Hương của thi sĩ Nguyễn Nhược Pháp.

Xem chừng, cảnh chùa Hương vẫn còn giống như lời cô bé mười lăm tuổi đã tả trong bài thơ viết từ năm 1934. Chỉ khác một đôi điều mà thôi.

Thầy me ra đi đò,
Thuyền mấp mênh bên bờ.
Em nhìn sông nước chảy
Đưa cánh buồm lô nhô.

Bây giờ thì không thấy ai dùng thuyền buồm. Từ ngoài bến, theo dòng suối Yến để vào chùa Hương Tích khoảng 4 km, người ta chỉ chèo tay thôi.

Chàng ngồi bên me em,
Me hỏi chuyện làm quen:
“Thưa thầy đi chùa ạ?
Thuyền đông, giời ôi chen!”

Lúc vào cũng như lúc ra bao giờ cũng đông đúc gần như chen nhau

Chàng thưa: “Vâng, thuyền đông!”
Rồi ngắm giời mênh mông,
Xa xa mờ núi biếc,
Phơn phớt áng mây hồng.

Xa xa mờ núi biếc, dãy núi mang hình dáng 99 con voi quay đầu về chùa Hương Tích, chỉ trừ một con bất tuân

Dòng sông nước đục lờ.
Ngâm nga chàng đọc thơ.

Nước suối Yến từ xưa đến giờ vẫn đục màu phù sa

Réo rắt suối đưa quanh,
Ven bờ, ngọn núi xanh,
Nhịp cầu xa nho nhỏ:
Cảnh đẹp gần như tranh

Nhịp cầu xa nho nhỏ. Tôi nghĩ cầu ngày xưa, năm 1934 có lẽ là cầu gỗ giờ được thay thế bằng cầu sắt.
Cảnh đẹp gần như tranh

Sau núi Oản, Gà, Xôi,
Bao nhiêu là khỉ ngồi.
Tới núi con Voi phục,
Có đủ cả đầu đuôi.

Con voi phục. Truyện xưa kể rằng 99 con voi hướng đầu về chùa Hương Tích để chầu bà Chúa Ba, nhưng có một con voi bướng bỉnh quay đầu về hướng khác. Con voi vì thế bị phạt bằng cách bị chặt đứt khúc sau từ phần đuôi .
Núi Mâm Xôi
Núi Oản
Dãy núi Ngũ Nhạc (năm cái chuông) còn gọi là núi Rồng

Chùa lấp sau rừng cây.
(Thuyền ta đi một ngày)
Lên cửa chùa em thấy
Hơn một trăm ăn mày.


Bây giờ chùa không còn ở trong rừng cây và tôi cũng không gặp người ăn mày nào cả.

Đường mây đá cheo veo,
Hoa đỏ, tím, vàng leo.

Thấy hoa gạo nở ở nhiều nơi và hoa ly chưng bày chung quanh chùa, không thấy các hoa leo nở tím vàng

Ô! Chùa trong đây rồi!
Động thẳm bóng xanh ngời.
Gấm thêu trần thạch nhũ,
Ngọc nhuốm hương trầm rơi

Chùa Thiên Trù (bếp nhà giời)
Trên vách đá có khắc hàng chữ tên chùa Hương Tích do chúa Trịnh Sâm ban cho “Nam Thiên Đệ Nhất Động”
Thạch nhũ có hình dáng của Đường Tăng và đệ tử đi thỉnh kinh
Đường đây kia lên giời

Vẫn giòng suối Yến nước đục, vẫn thuyền và người chen chúc nhau, nhưng điểm khác biệt rõ ràng nhất giữa chùa Hương ngày xưa và bây giờ là người ta không còn đi từng bậc thang làm bằng đá vừa đi vừa niệm “Nam vô A-Di-Đà” mà đi bằng cáp treo. Khách thập phương chỉ đi một đoạn đường dốc, độ trăm bước rồi thoải mái ngồi cáp treo mà “lên giời.”

Đến Cáp Treo Chùa Hương
Từ cáp treo nhìn xuống. Chỗ ngày xưa là đường mòn quanh đèo lên núi để đến chùa giờ người ta mở hàng quán buôn bán, che mái bít kín hết. Thỉnh thoảng có những nơi hở mái ra người đứng phía dưới nhìn lên thấy một khoảng trời và những sợi dây cáp.

Sau bữa ăn trưa tôi biết mình không đủ sức đi bộ lên chùa nên cùng với mọi người dùng cáp treo. Cái bao tử nặng trĩu đè lên đôi chân và chèn máu lên trái tim khiến tôi nhấc chân lên không nổi. Mà những bậc thang đá leo lên, bước xuống lại rất cao cho những bà già thấp bé như tôi. Mọi người dùng cáp treo để xuống nhưng tôi và ông Tám đi bộ xuống. Dọc đường ông mua hai cây gậy trúc để trợ giúp chúng tôi đi cho khỏi ngã. Khi xuống đến chân núi, chúng tôi dựng hai cây gậy trúc ven đường để có ai cần thì dùng. Dọc đường ông Tám bắt chuyện với vài bà cụ tuổi chừng tám mươi, đi bộ xuống (và có người đi lên). Các cụ ở Phú Thọ và các vùng lân cận. Đi chung đoàn, các cụ rủ nhau mặc đồ màu tím. Dọc đường tôi gặp nhiều người mặc đồ nâu sồng nhưng không thấy ai niệm “Nam vô A Di Đà” như trong bài thơ.

Bánh củ mài , ăn khá ngon. Khoai mài, giống như củ khoai từ được bào đánh nhuyễn thành bột cho thêm sữa. Khi cho vào máy xay nhuyễn người ta tăng độ nóng làm chín bột nên khi ra khỏi máy, bột biến thành bánh ăn liền lại chỗ còn nóng và giòn.
Cả đoàn, vắng bóng tôi vì tôi đang núp phía sau máy ảnh. Cậu hướng dẫn viên đội cái mũ rơm tua rua, nói tiếng Anh không có accent, như thể cậu là dân Mỹ, hay sinh ra ở Mỹ. Hỏi cậu học ở đâu, cậu bảo cậu tự học bằng cách đọc manga và xem phim nhiều.
Cái điếu khổng lồ, hút một viên bi thuốc lào trả ba ngàn đồng

Cứ nhìn ảnh nơi đặt cái điếu cày khổng lồ, bạn có thể hình dung đây là hình ảnh chung suốt con đường lên xuống chùa Hương. Người ta chiếm chỗ để làm gian hàng buôn bán quà cáp cho người đi lễ. Che chắn khắp nơi, vì lợi nhuận cá nhân mà vô tình che lấp cảnh quan tầm mắt của người đến xem chùa Hương vì yêu thích cảnh thiên nhiên của chùa. Đằng sau những tấm bạt là rừng cây xanh ngút mắt, non xanh núi biếc chập chùng, hoa gạo tháng Ba nở đỏ thắm khắp nơi. Thế mà người xem chẳng thấy gì ngoài những tấm bạt và các đồ hàng quà sản xuất hằng loạt có lẽ nhập từ Trung quốc.

Cua rạm, ốc, và rùa. Có một loại côn trùng được gọi là ngọc đá, người ta bảo có thể nuôi chơi , cho ăn bã chè (xác trà). Nhìn kỹ đó là những con cuốn chiếu khổng lồ, không biết chúng sống bao nhiêu năm để có thể trở nên to lớn như thế.
Động Hương Tích, có vài người trong đoàn mặc quần áo tím
Đường vào chùa
Đường xuống động Hương Tích
Chị lái đò đang giơ điện thoại chụp ảnh

Bài thơ Đi Chùa Hương của Nguyễn Nhược Pháp kể chuyện một cô bé mười lăm tuổi, xinh đẹp, cùng bố mẹ đi lễ chùa. Xem chừng, những điều người ta nguyện cầu khi đi lễ chùa 85 năm trước so với bây giờ cũng chẳng khác bao nhiêu. Cô bé mười lăm, đẹp như trăng rằm, nhìn thấy văn nhân, đã biết “em tìm hơi thở chàng.” Ngày nay, mười lăm tuổi mơ ước lấy chồng thì quá sớm. Tôi tự nhủ mình không nên khắt khe vì thời ấy người ta đã tính chuyện cưới xin từ lúc “nữ thập tam, nam thập lục.” Thế nhưng dù mười lăm hay hai mươi lăm, thì cái mơ ước của các thiếu nữ lên chùa Hương vẫn không thay đổi. “Em cầu mong trời phật. Sao cho em lấy chàng.”

Đi suốt dòng suối Yến, bạn sẽ gặp vô số những chiếc thuyền bán hàng như thế này. Thuyền lớn có mui che, thuyền nhỏ thì chỉ bán mía ghim lạc rang. Những nơi nhiều du khách tham quan thì buôn bán đắt hàng, giúp đỡ người địa phương nâng cao mức thu nhập. Cái tốt luôn luôn đi kèm những tật xấu mà nếu không có biện pháp xử lý tốt sẽ tổn hại đến cảnh quan chùa Hương rất nhiều. Một trong những tật xấu đó là tật xả rác của du khách. Tôi tận mắt nhìn thấy một cô gái trẻ ăn mặc ăn mặc diêm dúa, nhìn tôi không đoán được là người Việt, Hàn, hay Trung quốc. Cô mua mía ghim ăn và nhả xác mía vào ngay trong nước. Tôi tự hỏi dưới lòng suối Yến này có bao nhiêu vỏ chai và lon nhôm. Xử lý rác thải vào trong suối là nhiệm vụ của ai? Nhắc nhở du khách giữ sạch sẽ cho môi trường là nhiệm vụ của ai? Trong dịp đến Đế Thiên Đế Thích, một người du khách ngoại quốc sờ lên tường đá trong đền. Anh chàng hướng dẫn viên của tôi ngay lập tức nhắc nhở người du khách. Có lẽ người Cambodia được giáo dục, bảo vệ kho tàng văn hóa là nhiệm vu chung của tất cả mọi người Cambodia. Có lẽ người VN nên học hỏi điều này để bảo vệ thiên nhiên và văn hóa Việt Nam.

Chuyến đi tình nguyện phần cuối cùng

14 ngày với 14 người Mỹ đi làm việc tình nguyện cho Habitat for Humanity

Bài đăng ở Gió O. http://www.gio-o.com/NguyenThiHaiHa/NguyenThiHaiHa14Ngay4.htm

Phần 1, Phần 2, Phần 3

Một đôi khi bực bội

Chúng tôi có 14 ngày làm việc rất may mắn, vì khi xong việc tất cả mọi người đều an toàn.  Hoàn toàn không có mâu thuẩn nội bộ hay bất hòa với người địa phương.  Cả đoàn Habitat, những người thợ chính, và thợ phụ đã làm việc với nhau trong tinh thần hợp tác hòa đồng.  Chúng tôi rất vui vẻ thân mật với nhau.  Sau vài ngày làm việc, trở ngại ngôn ngữ không còn rõ rệt, chỉ vài động từ “tu quơ” là hai bên đều hiểu ý nhau.

Tai nạn có xảy ra nhưng không có thiệt hại.  Tôi ngã một lần.  Ông Ken ngã một lần.  Eric đứng trên giàn xây dựng, bước lên một miếng gỗ bị gãy nên ngã từ giàn cao xuống.  Cũng may anh còn trẻ, nhanh nhẹn lộn mèo rồi đáp xuống bằng chân nên không bị thương tích. 

Có một buổi chiều sau khi làm việc xong, Ken và Brandon muốn gửi bưu thiếp từ Việt Nam về Mỹ.  Bưu thiếp đã mua xong, đề địa chỉ, chỉ cần tài xế ngừng ở bưu điện chính để Ken và Brandon gửi đi.  Brandon muốn gửi độ một chục bưu thiếp.  Ken gửi ba chục cái.  Ken đã hỏi bưu điện chi nhánh giá của một bưu thiếp, chừng 23 ngàn đồng (tôi không nhớ chính xác giá tem). Ông có tem đủ dán cho mười cái bưu thiếp, bây giờ ông cần tem cho hai mươi bưu thiếp còn lại chưa viết địa chỉ xong cất ở khách sạn.

Một cô nhân viên ở bưu điện chính nói (sai) giá tem gửi đi ngoại quốc là 14 ngàn đồng (không nhớ chính xác).  Brandon mua tem dán vào và đưa xấp bưu thiếp cho cô nhân viên.  Bưu điện buổi chiều khá đông, người ra vào tấp nập, có chừng ba bốn cô nhân viên và một chị có vẻ như trưởng phòng.  Brandon ra xe ngồi chờ còn tôi ở lại giúp ông Ken.  Ông gửi mười bưu thiếp đã dán sẵn tem, nhiều hơn 14 ngàn, dư tiền tem thì không sao.  Xếp hàng chờ mua tem hơi lâu nên tôi nói ông ra xe trước, tôi cầm tiền đứng chờ.  Sau khi ông ra khỏi bưu điện lên xe, một cô nhân viên khác bảo rằng:

“Tiền tem gửi đi Mỹ giá cũ là 14 ngàn đồng, nhưng đã lên giá cách đây không lâu (một tuần hay một tháng gì đó tôi không nhớ chính xác).  Hiện nay là 23 ngàn đồng.”

“Vậy thì bán cho tôi tem 20 con tem 9 ngàn đồng.”  Tôi hỏi mua tem cho ông Ken vì ông đã mua tem giá 14 ngàn.

Cô nhân viên cho biết không có tem chín ngàn, chỉ có tem bốn ngàn và tem bốn ngàn rưỡi.  Như thế thì gửi một bưu thiếp đi cô sẽ du di bớt cho năm trăm đồng chỉ vì cô không có đủ tem. Cô đếm đủ số tem cho hai loại, tính tiền, và tôi trả tiền.  Nhưng mấy cái bưu thiếp của Brandon đã đưa cho cô nhân viên bưu điện còn thiếu tem.  Tôi không muốn những cái bưu thiếp của anh không thể rời Việt Nam hoặc không đến tay người nhận ở Hoa Kỳ vì thiếu tem.  Thế thì bán cho tôi hai loại tem 4 ngàn đồng và 4 ngàn năm trăm đồng, mỗi loại mười con.  Bưu thiếp nhỏ không có chỗ để dán tất cả tem, các cô nhân viên phải cho bưu thiếp vào một cái bao nhựa trong, dán tem bên ngoài bao nhựa, mở bao ra cho bưu thiếp vào, thấm nước lên tem, dán lên mười cái bao nhựa mất khá nhiều thì giờ và cạn nguồn kiên nhẫn của các cô nhân viên, của tôi và của đoàn tình nguyện ngồi ngoài chờ ngoài xe.

Về sau tôi mới biết trong đoàn chúng tôi có người bị đau bụng đi tiêu chảy, và có người nhịn đi tiểu đã mấy giờ đồng hồ trước đó. 

Họ đã thay đổi tôi như thế nào

Chuyến đi làm việc tình nguyện cho Habitat thay đổi sự suy nghĩ của tôi rất nhiều.  Nó giúp tôi nhận ra những thành kiến lỗi thời trong tôi.

Connie thay đổi cái định nghĩa người lãnh đạo (leader) trong tôi.  Trong một lần trò chuyện Connie cho biết đã từng giải phẫu tim (open heart surgery), thay xương chậu (hip replacement), gãy xương chân vì bị ngã vào mùa đông người ta phải gắn thép hỗ trợ ống xương chân.  Ai bảo một phụ nữ ngoài bảy mươi, thương tích đầy người từ tim đến xương chậu, đến ống xương chân, không thể làm lãnh đạo của một đoàn tình nguyện?

Nelly, Jen, và Mary, đặc biệt là Mary, làm thay đổi cái định nghĩa sức mạnh (strength) của phái nữ trong tôi.  Cả ba cô gái này làm việc nặng nhọc không thua gì các đấng nam nhi trong đoàn.

Mary thay đổi định nghĩa cái đẹp của người con gái Á châu trong tôi.  Jen và Nelly có dáng dấp mảnh mai.  Jen có mái tóc dài tuyệt đẹp, và một thân hình cân đối không thua gì các nữ diễn viên điện ảnh hay các pho tượng nữ thần Hy Lạp.  Nelly dịu dàng, hòa nhã, nhỏ nhẹ.  Ở cô toát ra một vẻ ngọt ngào thường thấy ở phụ nữ Á châu.  Mary khác hẳn Jen và Nelly.  Khuôn mặt cô có nét Á Đông của người Hạ Uy Di, nụ cười rất tươi tắn.  Mary không dữ dằn hay thô thiển, nhưng cái vẻ mạnh bạo bộc trực rất nam tính của Mary làm tôi hơi e dè.  Tôi có cảm tưởng Mary sẽ không nhường nhịn bất cứ một lời nói nào xúc phạm đến cô và những người cô yêu mến (ngay cả khi vô tình).  Chỉ một thời gian ngắn tôi nhận ra cô là người rất nhân hậu, luôn luôn muốn săn sóc sức khỏe người chung quanh (bản tính của một bác sĩ). Cô nhận lãnh và thực hiện công việc giao phó cho cô với thái độ của một quân nhân.  Làm tròn và làm nhiều hơn nếu cần.

Tôi khâm phục Mary và Jen, hai cô gái trẻ thành công trong lãnh vực các cô tự chọn.  Họ công nhận mình là người đồng tính luyến ái và chính thức kết hôn với nhau.  Họ muốn thế giới nhìn thấy, người đồng tính có quyền được sống và yêu thương nhau không phải hổ thẹn với ai cả.

Chuyến đi này cũng làm tôi suy nghĩ nhiều đến ý nghĩa của chữ cho và nhận.  Tôi tránh không dùng chữ “từ thiện” hay chữ “cho” khi tôi làm việc tình nguyện cho Habitat.  Tôi không muốn độc giả hiểu lầm, chủ nhân của ngôi nhà, may mắn được Habitat giúp “cho” căn nhà.  Tôi không phủ nhận người tình nguyện làm việc cho Habitat đã đóng góp rất nhiều công sức và tiền của vào công việc xây nhà này, nhưng chủ yếu vẫn là của và công của chủ nhân.  Điều làm tôi quý trọng phái đoàn Habitat là họ không hề có thái độ thi ơn hay ban phát của cải vật chất.  Mười lăm người (kể cả tôi) đã góp hết sức mình, phục vụ một mục đích, là xây nhà giúp gia đình anh Thoại và chị Nở.  Chúng tôi đã phục vụ trong tinh thần đoàn kết không mưu cầu hạnh phúc hay vinh quang cho cá nhân mình.

Riêng cá nhân tôi, khi đi làm việc tình nguyện, có vẻ như một người đem “cho” của cải và công sức, nhưng trái lại tôi là kẻ được “nhận” những món quà quí báu về mặt tinh thần.  Cái nhận của tôi đã vượt quá mức sự đóng góp vật chất của tôi.  Khi biết đoàn chúng tôi đi tình nguyện làm việc cho Habitat, mọi người đều tỏ vẻ ân cần và đặc biệt rất là quí mến chúng tôi.

Những câu hỏi tôi không thể trả lời

Tôi vui mừng nhận ra Cookie cũng thích viết.  Bà có ý định xuất bản một quyển sách viết về những người phụ nữ bà gặp trong cuộc đời của bà.  Thỉnh thoảng Cookie hỏi tôi, và ghi chép cẩn thận những điều bà nhận thấy trong chuyến đi.  Có những câu hỏi tôi có thể trả lời được.  Thí dụ như cái biểu ngữ gắn phía trên cửa ra vào của căn nhà bên cạnh căn nhà chúng tôi đang xây cất là gì.  “Không có gì quí hơn độc lập tự do.” Tôi dịch câu này ra cho bà.

Có những câu tôi không thể trả lời, nói cho đúng hơn là không thể trả lời hoàn toàn thẳng thắn.  Thí dụ như “Người miền Nam Việt Nam có kỳ thị người da màu không?  Họ đối xử như thế nào với quân nhân Mỹ da màu?” “Vì sao nhà cầm quyền không cho phép đoàn Habitat tặng sách vở bút mực cho các em học sinh nhưng lại cho phép tặng các em cô nhi?  Có phải vì đa số các em trong làng cô nhi là những trẻ em thiểu năng?”

Tôi kể bà nghe tôi có một “người bạn” da màu.  Ông ấy tên William Fox, đóng quân ngay phía sau căn nhà tôi ở, Tân Qui Đông năm 1968 hay 69.  Ông thường hay cho tôi kẹo.  Qua những lời ông nói, cộng thêm cách diễn tả bằng tay chân, và một chút tiếng Anh của chị Tiền nhà bên cạnh, tôi biết năm ấy ông 21 tuổi và thích mấy cô điếm ở gần cầu Hàng, Tân Thuận Đông, khu vực đèn đỏ từ thập niên sáu mươi đến giữa thập niên bảy mươi.  Ngay lúc ấy nếu tôi có kỳ thị màu da của ông ấy có lẽ tôi không biết, bởi vì tôi nằm gọn trong hội chứng thành kiến của xã hội, không thể có cái nhìn của người nằm “outside the box”.  Tôi thích kẹo William Fox cho.  Và chuyện ông thích mấy cô điếm tôi nghĩ là không tốt.  Bây giờ, tôi biết ông có thể bị kỳ thị ở bất cứ nơi đâu, ngay cả trong quốc gia (của ông), trong quân ngũ (của ông), và dĩ nhiên trong xã hội người Việt ở chung quanh.  Ngay cả con của những người da màu ở VN còn bị kỳ thị thì nói gì những người cha da màu đã bỏ lại những đứa con rơi.

Tôi không biết, thật sự, nhà cầm quyền địa phương có cấm đoán việc tặng sách vở bút mực cho học sinh không.  Anh thông dịch viên là người rất dễ mến, nhưng tôi không thể loại trừ trường hợp, anh ấy không muốn mang thêm trách nhiệm vào mình, nhất là phải đương đầu với cơ sở chính trị và tôn giáo địa phương.  Có thể để tránh tai họa cho bản thân anh đã không chuyển lời yêu cầu tặng sách vở cho học sinh, hay hội ý với nhà cầm quyền địa phương.  Làm sao biết được sách vở ấy in gì, nói gì, tuyên truyền gì, theo tôn giáo nào bài bác tôn giáo nào.  Bà Connie nói đùa, có lẽ người ta sợ các em học sinh có thể nhận ra là người Mỹ chúng ta rất đáng mến. 

Một câu hỏi khác tôi không thể trả lời, đó là tại sao người ta đổ rác lên những ngôi mộ.

Rác là một vấn đề trầm trọng, không chỉ ở VN mà ở cả thế giới, kể cả những quốc gia giàu mạnh như Trung quốc và Hoa Kỳ.  Đầu ngõ vào căn nhà đoàn Habitat đang giúp xây cất, có vài căn mộ cũ, có vẻ như bỏ hoang, bị người ta đổ rác chung quanh và ngay trên mộ.  Một người đi chung đoàn hỏi tôi, đây là nơi cần được kính trọng, tại sao người ta đổ rác lên mộ.  Tôi không có câu trả lời.  Tôi không nỡ nói là người dân tôi không có ý thức.  Không kính trọng mồ mả, nơi cư trú của người đã chết, tức là không tự kính trọng mình.

Figure 27 – Al Belais đứng ngắm ngôi mộ.  Ngôi mộ bên cạnh bị đổ rác, tôi không đành lòng chụp ảnh ngôi mộ bị thiếu kính trọng.

Những lúc vui chơi

Làm việc chăm chỉ nhưng chúng tôi có những buổi nghỉ ngơi như đi tắm biển Mỹ Khê, đi chơi núi Ngũ Hành Sơn và đi xem Hội An.  Ở Hội An chúng tôi đi xem vài ngôi chùa và đi thuyền ra cửa Đại.  Chúng tôi ăn tối trên thuyền, và đốt đèn cầy cắm lên hoa sen giấy thả trôi trên sông. 

Anh hướng dẫn viên đưa chúng tôi đi thuyền trên sông là một thanh niên gầy, nhỏ nhắn.  Anh nói tiếng Anh ngập ngừng nhưng anh cố gắng hết sức và rất tích cực trong việc săn sóc chúng tôi cho có bữa ăn ngon và giải trí vui vẻ.  Chúng tôi ngồi xe jeep (của Mỹ hay quân đội cũ trước năm 75) được chở vòng quanh Hội An, và ngoại ô của Hội An rất thú vị.  Đêm cuối cùng ở Đà Nẵng, Ryan đã làm thủng túi tiền của Connie bằng cách tổ chức bữa ăn tối từ giã ở một nhà hàng đắt tiền.  Như một đứa cháu bướng bỉnh cố tình trêu chọc bà, anh và chúng tôi đã gọi những món ăn đắt hơn giá bà Connie ấn định trước, khiến bà phải một phen tính toán và lo nghĩ.  Rob Engh, một người bạn tốt và cũng là một gentleman chính hiệu đã đề nghị giúp Connie trả phần tiền vượt mức ấn định.  Tuy nhiên tôi nghĩ với kinh nghiệm sẵn có, bà Connie đã ấn định giá hơi thấp hơn cái giá mà bà muốn để trừ hao. 

Figure 28 – Nhóm nam nhi ở trước quán rượu Dude Bar ở Đà Nẵng

Figure 29 – Chụp chung bức ảnh trước ngày chia tay

Figure 30 – Xuống núi Ngũ Hành Sơn

Figure 31 – Trên tàu từ Hội An đi ra cửa Đại

Figure 32 – Chờ nhau trước một cửa hàng ở Hội An.

Figure 33 – Từ trái qua phải hướng dẫn viên nói tiếng Anh, Eric và những bức họa tattoes, và Rob D. Engh.

Trên lưng của Eric, bức họa phía trên có hình thánh giá là huy hiệu của gia đình anh, bức họa bên dưới là phong cảnh một cánh rừng ở gần nhà anh, và trên cánh tay là bức họa về hội yêu thích câu cá hồi.

Chia tay

Rồi thì cũng đến lúc chúng tôi chia tay.  Tôi nhớ một bài hát của Hướng Đạo.

Gặp nhau đây rồi chia tay. Ngày vàng như đã vụt qua trong phút giây. Niềm hăng say, còn chưa phai.  Đường dài sông núi hẹn mai ta sum vầy.

Chuyện sum vầy cả đoàn có lẽ sẽ khó.  Al Belais không chịu nổi thời tiết nóng của Việt Nam.  Ngay cả tôi đã từng sống ở Sài Gòn những 25 năm cũng thấy rã rời ngộp thở vì nóng.  Bà Connie thì không muốn lo món ăn sáng trưa chiều liên tiếp hai tuần cho cả đoàn.  Tuy thế, tôi vẫn hy vọng sẽ có vài người trong đoàn trở lại vì yêu mến Việt Nam.  Yêu mến như Graham Greene đã viết trong quyển “The Quiet American.”

“I can’t say what made me fall in love with Vietnam – that a woman’s voice can drug you; that everything is so intense. The colors, the taste, even the rain. Nothing like the filthy rain in London. They say whatever you’re looking for, you will find here. They say you come to Vietnam and you understand a lot in a few minutes, but the rest has got to be lived. The smell: that’s the first thing that hits you, promising everything in exchange for your soul. And the heat. Your shirt is straightaway a rag. You can hardly remember your name, or what you came to escape from. But at night, there’s a breeze. The river is beautiful. You could be forgiven for thinking there was no war; that the gunshots were fireworks; that only pleasure matters. A pipe of opium, or the touch of a girl who might tell you she loves you. And then, something happens, as you knew it would. And nothing can ever be the same again.”

“Tôi không thể nói điều gì đã khiến tôi yêu mến Việt Nam – nó như cái giọng nói của một người đàn bà có thể mê hoặc người ta; hay là tất cả mọi sự vật ở đây đều xảy ra ở mức độ đậm đà đến kịch liệt.  Từ màu sắc, đến hương vị, thậm chí ngay cả cơn mưa.  Mưa ở đây thật chẳng giống tí nào những cơn mưa nhớp nháp ở Luân Đôn.  Người ta nói, bất cứ điều gì bạn tìm kiếm, bạn sẽ gặp ở đây.  Người ta nói, bạn đến Việt Nam và bạn sẽ “ngộ” rất nhiều điều chỉ trong một vài phút, nhưng tất cả những phần còn lại bạn phải “sống” để hiểu.  Mùi hương: đó là “tiếng sét ái tình” tấn công bạn, hứa hẹn tất cả mọi thứ để đánh đổi linh hồn bạn.  Và cái nóng.  Áo của bạn sẽ trở thành miếng giẻ rách ngay tức khắc.  Bạn sẽ không thể nhớ nổi cái tên của bạn, hay những điều bạn đến đây để lẩn tránh. Tuy vậy, ban đêm sẽ có chút gió nhẹ.  Con sông đẹp vô cùng.  Người ta có thể bỏ qua cho bạn vì bạn dám nghĩ rằng nơi đây không có chiến tranh; rằng tiếng súng chỉ là tiếng pháo nổ; rằng chỉ có lạc thú là quan trọng.  Một điếu thuốc phiện, hay cái vuốt ve của một cô gái, người có lẽ sẽ nói yêu bạn.  Thế rồi, chuyện đó xảy ra, như bạn biết là nó sẽ đến.  Và tất cả mọi thứ đều không thể trở lại nguyên vẹn như xưa.”

Tôi hy vọng!

Nguyễn thị Hải Hà

Tháng 4. 2019

Hồn ta phơi trắng giữa sương mù

Ngôi nhà đối diện với nhà tôi chụp sáng nay trời sương mù.
Con gà tây (hay gà lôi) đang ở trong sân của nhà bên cạnh nhà đối diện với nhà tôi.

Sáng nay trời dày đặc sương mù. Đến bây giờ 8:25 sáng sương mù chưa tan và mưa nặng hạt hơn. Buổi sáng sớm nghe tiếng gà tây gáy hay ho khúc khắc và tiếng chim hót cũng mù mờ như sương.

Tôi lục tìm một số bài thơ cũ của nhà thơ Tô Thùy Yên trong mấy bộ sưu tập thơ của nhà xuất bản Thư Ấn Quán và nhìn thấy một bài thơ có nhắc đến sương mù. Bài thơ này của Tô Nhược Châu, trong quyển Thơ Miền Nam thời chiến tập I in năm 2007. Bài thơ này in trang 688, trước khi đến thơ của Tô Thùy Yên, tôi chép lên đây vì tựa đề có từ sương mù.

Hồn ta phơi trắng giữa sương mù

Hương tóc em ồ hương của Thu
Hồn ta phơi trắng giữa sương mù
Sáng nay có một bông quỳnh nở
Và bóng chim về trên ngọn khô

Một thoáng trầm hương trên tóc xanh
Rượu của ta mà mộng của em
Sẽ đốt sầu tan trong mắt biếc
Tình ơi ta đợi đã mười năm

Thu của ta và em của ta
Một rừng cây chết sẽ trổ hoa
Ta uống cho quên trời đất cũ
Hồn ơi bay trắng cõi giang hà.

Không biết chỗ nào có rừng cây chết trổ hoa, chứ hai chậu lan của tôi được ông thầy dạy lớp trồng lan tặng, một là lan vũ nữ, một là lan hồ điệp, đều nở hoa. Học sinh trong lớp người nào cũng được tặng một chậu lan, phí tổn đã cộng vào học phí, Tôi học hai lần được hai chậu lan. Bỏ nó khô héo suýt chết, mấy đóa hoa đầu tiên bị thiếu nước rụng hết, nhưng sau đó mọc đợt hoa lần thứ nhì thay vì năm sáu nụ chỉ còn lại ba nụ thôi.

Ơ nhưng mà từ sương mù lại đến lan, tôi lang thang lạc đề mất rồi.

Đọc thơ tưởng niệm nhà thơ lớn, ôn lại ca dao.

“Ta về một bóng trên đường lớn
Thơ chẳng ai đề vạt áo phai”

(Ta Về – Tô Thùy Yên)

Buổi sáng quét sân, hoa khô lá rụng đầy, lẩn thẩn nhớ mấy câu thơ của nhà thơ nổi tiếng vừa mới qua đời. Hai câu thơ trích trong bài Ta Về khiến tôi nhớ đến mấy câu ca dao. Tôi vốn yêu thích ca dao, và thể thơ lục bát, dù suốt đời chẳng làm nổi mấy câu gọi là thơ.

“Người về ta chẳng cho về
Tay níu vạt áo, tay đề câu thơ
Câu thơ ba chữ đành rành
Chữ trung, chữ hiếu, chữ tình là ba
Chữ trung thời của phần cha
Chữ hiếu phần mẹ, đôi ta chữ tình.”

Bài ca dao nói lên cảm giác nuối tiếc, dùng dằng, xao xuyến của hai người đang yêu chia tay nhau thì hai câu thơ trong bài Ta Về càng tương phản cảm giác cô độc của một người không còn ai yêu thương bên mình.

Cũng vẫn trong bài Ta Về, đoạn thơ sau đây như một lời tạ lỗi vì đã bội tình bạc nghĩa.

“Ta về dẫu phải đi chân đất
Khắp thế gian này để gặp em
Đau khổ riêng gì nơi gió cát
Thềm nhà bụi chuối thức thâu đêm.”

Thức thâu đêm hay khóc thâu đêm, hay khóc lặng lẽ trong đêm thâu? Đi chân đất thì chẳng đủ để chuộc lỗi. Ngày xưa Tiết Đinh San cầu Phàn Lê Huê phải tam bộ nhất bái kia kìa nhà thơ ơi. Ông thật là may mắn vì được tha thứ, có lẽ người tha thứ cũng chẳng cần đọc đoạn thơ kia.

“Gió đưa bụi chuối sau hè
Anh mê vợ bé bỏ bè con thơ
Con thơ tay ẵm tay bồng…”

Vẫn trong Ta Về, hai câu:

“Ta về như nước Tào Khê chảy
Tinh đẩu mười năm luống nhạt mờ.”

khiến tôi liên tưởng đến một người đứng nhìn sao nghĩ đến những chuyện phù du của cuộc đời bên cạnh sự trường tồn của thiên nhiên, trời và đất.

“Đêm qua ra đứng bờ ao,
Trông cá, cá lặn, trông sao, sao mờ.
Buồn trông con nhện giăng tơ,
Nhện ơi nhện hỡi, nhện chờ mối ai?
Buồn trông chênh chếch sao Mai,
Sao ơi sao hỡi nhớ ai sao mờ?
Đêm đêm tưởng dải Ngân Hà,
Chuôi sao tinh Đẩu đã ba năm tròn.
Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn,
Tào Khê nước chảy hãy còn trơ trơ.”

Tấm ảnh chụp con sóc đang gặm mẩu bánh mì trong công viên ở Washington DC. Ảnh chẳng liên hệ gì với mấy câu suy tư vớ vẩn của tôi.

Yêu nhau không phải là nhìn nhau mà là cùng nhìn về một hướng

Mới càm ràm chuyện bụi chuối sau hè của một người thất trận cô đơn, lại thấy trong computer có tấm ảnh đôi rùa nằm sưởi nắng bên nhau. Nó làm tôi tưởng tượng đến hạnh phúc của một đôi vợ chồng tuổi già vẫn bên nhau và không có cắn nhau hay cãi nhau.

Cảnh đồng quê

Đồng quê VN.

Ảnh này chụp ở Tam Thái, Quảng Nam.

Cũng cánh đồng ở Tam Thái Quảng Nam, lúa trổ đòng đòng
Đồng quê Hoa Kỳ

Ảnh này chụp ở tiểu bang Maryland, Hoa Kỳ, dọc theo đường 50. Ông Tám đưa tôi và hai người cháu đi Virginia thăm gia đình một người cháu khác. Trên đường về lại New Jersey, ngồi trong xe chụp bằng phone được tấm ảnh đồng quê này.

Whoever could make two ears of corn, or two blades of grass to grow upon a spot of ground where only one grew before, would deserve better of mankind, and do more essential service to his country, than the whole race of politicians put together. Johnathan Swift (1667-1745), Gulliver’s Travels, 2.7, 1726

Bất cứ người nào có thể trồng được hai quả bắp, hay là hai cọng cỏ, trên mảnh đất trước kia chỉ mọc được một (quả bắp hay cọng cỏ), xứng đáng được hưởng phúc lợi của nhân loại nhiều hơn; Người ấy cũng đã cống hiến cho quốc gia những điều tối cần thiết, hơn tất cả chính trị gia bao gồm lại.