Vài thứ nhỏ bé trong Yellowstone

Sự khác nhau về địa lý, đánh mạnh vào tầm nhìn của du khách đến Yellowstone lần đầu, có lẽ là núi. Nhiều núi quá, núi cao và to hơn tất cả các núi ở New Jersey. Còn nhiều thứ khác nữa, như geysers chẳng hạn. Tôi có để ý tìm nhưng không thấy các loại chim lớn như great blue heron. Dọc theo các con sông như Madison và Gibbon tôi thấy có một loại chim nhỏ, bay thành từng đàn cỡ chục con, theo đội hình chữ V bay sà thấp gần mặt nước. Loại chim này nhỏ hơn ngỗng Canada. Loại chim lớn nhất, trong một tuần tôi ở Yellowstone là con quạ. Ở bãi đậu xe một vài nơi, Canyon Village, West Yellowstone, Mammoth Hot Springs, tôi thấy có quạ, mỗi lần thấy chỉ một con rất to. Có lẽ lâu ngày, dụ được thức ăn của du khách, con quạ này rất dạn dĩ, đi lò dò len lỏi gần các xe, không có vẻ sợ hãi. Khác với đường trail dọc theo kênh D&R, quạ nhỏ hơn bay thành từng đàn, thường ở tít trên những ngọn cây cao.

Ở Yellowstone, thuộc Montana và Wyoming, câu cá kiều fly fishing rất thịnh hành. Không biết có nhiều cá không mà sao không thấy các loại chim lớn. Buổi chiều ngấp nghé đi đường hiking Beaver Pond trail tôi gặp vài con chim nhỏ, bay sà trên bãi cát. Có con lẫn vào màu cát nhìn không thấy, thậm chí ống kính thâu ảnh tự động thấy bãi cát rõ hơn con chim. Tôi nhận ra con chim nhờ cái đuôi đen và con mắt đen. Đây có lẽ là chim mái. Con chim trống có màu xanh biếc ở xa hơn nhưng nhìn thấy rõ hơn.

Con chim có màu hòa lẫn với màu đất cát
Không nhớ chắc tên loại hoa này, purple bell, hay blue Virginia bell.

Có nhiều thứ khác nhau rõ rệt giữa Yellowstone và New Jersey. Tuy nhiên cũng có vài ba thứ có vẻ đồng dạng, nhưng không rõ ràng lắm. Loại hoa này, hay một thứ hoa tương tự tôi nhìn thấy ở New Jersey. Nắng lóa trên cát trắng nên tôi chụp ảnh nào cũng lóa, không rõ. Dùng photoshop chỉnh ánh sáng nên nó có vẻ như màu không thật lắm.

Sheepeater cliff

Tôi chưa hề gặp loại đá này ở New Jersey. Các chất phún thạch của núi lửa, khi khô lại có dạng hình ống. Kè đá này được đặt tên theo một bộ lạc người Shoshone Indian(s) bản địa, nguyên chữ của nó là Tukudeka. Những người Shoshone Indian này thường đặt bẫy bắt cừu, loại có sừng to uốn cong rất đẹp, bighorn sheep, vì thế có tên là sheepeater. Tôi gắn cái link để bạn xem ảnh ở Wikipedia. Chất phún thạch của những cột đá này là basalt lava, đã xuất hiện từ 500 ngàn năm trước. Sheepeater là một trong những thắng cảnh của Yellowstone, được nhắc đến trong các quyển guide book, và có tên trên bản đồ. Người ta gắn một cái bảng trên đường, quẹo xe vào một quảng ngắn là đến. Đây là một chỗ có thể dừng chân để ăn picnic. Gần đó có con suối rộng, trời nhuốm thu lá chuyển màu vàng, suối chảy róc rách, rất nên thơ.

Loại hoa vàng tôi không biết tên. Loại hoa tím trông giống thistle. Có một loại thistle gọi là milk thistle, VN dịch là cây kế sữa. Thoạt trông thì hoa của hai loại cây này giống nhau, chỉ khác màu, nhưng nhìn kỹ thì lá cây khác nhau.

Ở Yellowstone, có một loại cây thistle được đặt tên Evert thistle. Có một rặng núi cũng được đặt tên Evert gần Mammoth Hot Springs. Evert là tên của một nhà thám hiểm. Tôi không biết cây thistle ở New Jersey hoa màu tím, đẹp rất thơm, có khác với Evert thistle hay không nhưng cây thistle ở Yellowstone cùng màu, nhưng khô cằn hơn. Tuy vậy rễ của nó có chất bổ, có thể ăn được, và loại rễ cây này đã giúp nuôi sống Truman Evert khi ông đi lạc trong Yellowstone 37 ngày vào tháng 9 năm 1870.

Truman Evert, 54 tuổi, tax inspector, ở trong đoàn thám hiểm Washburn-Langford- Doane, bị lạc đoàn ở bờ hồ phía Nam của Yellowstone Lake. Tháng 9 trên núi cao trời đã có tuyết. Thoạt tiên ông không mấy sợ hãi, nhưng khi ông xuống ngựa leo lên chỗ cao hơn để tìm đường, thì ngựa ông vụt bỏ chạy, mang theo tất cả hành lý và lương thực. Trên người ông chỉ còn con dao nhỏ bằng cây bút, cái ống kính nhìn xa, loại nhỏ của người xem kịch opera. Ông tìm ra mấy cái geyser, ngủ gần cho ấm, nhưng khi ngủ quên thì tay đụng gần miệng hố nên bị phỏng khá nặng. Không có thức ăn, ông nhổ mấy bụi cây thistle, thấy rễ ăn được, “khá ngon.” Ông dùng kính opera để tụ ánh sáng mặt trời rồi nhóm lửa (một cách nhóm lửa của hướng đạo sinh lưu truyền cho đến ngày nay). Và ông phải bện cỏ để giữ lửa trong lúc di chuyển. Ba mươi bảy ngày sau, người ta tìm thấy ông bò lê lết trên con đường chính, không giày, bị frostbite, gầy trơ xương, tinh thần khủng hoảng đến độ hóa điên. Chỉ cần chậm vài ba tiếng đồng hồ là chắc là ông không thể sống được. Trong bài bút ký ông kể lại sau khi thoát chết, là trong lúc chờ xe cứu thương đến chở ông về thành phố (thời ấy người ta đi xe ngựa), có một người đi rừng đến gặp ông trong trạm cứu hộ, cho ông uống mỡ gấu được thắng cho thành dầu. Ông uống chừng một hay hai pint và mọi thương tích trên người lành lặn trong vòng vài tiếng đồng hồ. Ông trở lại khỏe mạnh như cũ.

Hoa này thì NJ cũng có
Trái này thì mới gặp lần đầu
Đang đi bỗng con bướm này sà xuống ngay trước mặt
Hoa này không lạ lắm, búp của nó giống trái đậu bắp, nhưng hoa khác với loại hoa thấy ở NJ.
Chắc cũng chỉ là một loại aster thôi.

Vài tấm ảnh

Chuyến đi Yellowstone National Park đa số ảnh tôi chụp đều bị hư, xấu, do chỉnh máy không đúng nhiều ánh sáng quá, ít ánh sáng quá, thậm chí ảnh nào cũng mờ mờ như có hơi nước, chắc là ống kính bị dơ. Buổi sáng, những cánh đồng cỏ rộng (meadow) nhìn thật xa cũng thấy nhiều geysers bốc khói. Và geysers thì khói mịt mù vì hơi nước nóng trong không khí lạnh. Buổi sáng và buổi tối trời khá lạnh. Buổi trưa thì nóng cỡ 80 độ F. hay hơn, đủ để bạn cảm thấy nóng như mùa hè. Du khách mặt quần ngắn áo không tay rất nhiều. Trời khô lắm, khiến tôi khát nước cả ngày dù uống nhiều nước. Người không thấy đổ mồ hôi. Hai ba ngày gội đầu một lần cũng không cảm thấy khó chịu.

Yellowstone ở vùng núi cao, từ hơn 5 ngàn ft. đến hơn 8 ngàn ft, chỉ riêng vùng khá bằng phẳng dành cho du khách. Người ở đồng bằng hay gần biển, như tôi, lên cao nhất là chừng 100 ft. so với mực nước biển, có thể cảm nhận được sự thay đổi của độ cao. Người ta báo trước là do ở trên cao không khí bị loãng đi, du khách có thể bị bệnh núi, mountain sickness, như mỏi mệt, nhức đầu, chóng mặt. Trong hai ba ngày đầu tôi bị nhức đầu, nhẹ nhàng âm ỉ, trước khi đi ngủ tôi uống viên thuốc nhức đầu. Sau đó thì quen.

Nhà trọ Historic Madison. Ảnh này không phải của tôi, tôi lấy trong một email quảng cáo. Nhà làm bằng thân gỗ tròn (log), bên trong toàn gỗ bóng. Nhà vệ sinh ở cuối hành lang, mỗi bước đi nghe kẽo kẹt khiến tôi phải nhón gót, và không muốn mang giày. Phòng tắm cũng riêng ra, phải có chìa khóa mới mở được cửa phòng tắm, cứ mỗi lần đi tắm là tôi lại quên cái gì đó, có khi là khăn lau, có khi thì chìa khóa, có khi trở lại phòng hai ba lần vì quên cái này cái kia. Gọi là historic vì ngày xưa có ông nào đó nổi tiếng lắm đã ở đây. Tôi có đọc nhưng quên, bây giờ lười tìm tài liệu. Nhà trọ này đã 109 tuổi.
Cây thông trên geyser basin

Ảnh chụp ở một geyser basin nào đó không nhớ. Có vẻ như geyser basin nào cũng giống nhau, đất đá vôi trắng, cát trắng lóe mắt. Cây thông hình như có thể chịu được sự khắc nghiệt của đất đai ở đây. Chỗ nào cũng mọc được. Mùi lưu huỳnh (sulfur) bốc ra từ các geyser thum thủm, nhiều lần tôi cảm thấy đắng miệng và đắng trong cổ. Điều này làm người xem cũng cảm thấy ngại, không biết về lâu dài có ảnh hưởng đến sức khỏe hay không.

Thác Yellowstone đi xuống phần cuối của thác bên dưới, dọc theo con sông. Nắng lóe, nhìn đâu cũng thấy như mờ mờ hơi nước.
Một phần của sông Yellowstone
một chỗ trên sông Yellowstone nước bớt chảy xiết
Một đàn caribou đi trên đồng cỏ. Nhìn cũng như nai (deer), nhưng du khách chung quanh bảo là caribou, hay reindeer, chứ không phải nai. Chúng khác nhau ra làm sao, có lẽ phải tìm hiểu sâu hơn mới có thể phân biệt được.
Khúc cây nhìn thấy ở West Thumb Geyser. Màu sắc ở đầu khúc cây là màu của một số geysers chung quanh.
Ở Yellowstone tôi thấy có quạ. Đi lẻ loi chứ không thành đàn. Và con quạ nào cũng rất to. Một con quạ lang thang trong đồng cỏ.

Montana đất rộng người thưa. Phía bắc giáp Canada. Phía tây giáp Idaho tiểu bang này giống như cái chìa khóa dựng ngược. Đông giáp với North Dakota và South Dakota. Nam giáp với Wyoming và Idaho. Tiểu bang này có diện tích rộng đứng hàng thứ Tư trên nước Mỹ, sau Alaska, Texas, và California (tôi không nhớ thứ tự nhất nhì ba này có đúng không, nên xin cáo lỗi).

Đừng nghĩ là tiểu bang nào cũng giống nhau. Tôi chưa đi nhiều, nhưng mỗi nơi tôi đi qua địa lý và văn hóa khác nhau rõ rệt, ngay cả đối với người không mấy lịch lãm trong du lịch. Tôi đang nghĩ đến California và Montana hai chỗ mà tôi chỉ mới đi ngang, ở California vài lần, vài thành phố và công viên quốc gia, vài tuần lễ, còn ở Montana/Wyoming chỉ mới một tuần một chỗ. Càng đi càng thấy những hình ảnh thú vị muốn khám phá tìm hiểu thêm về đất đai và người ở đó. Ở California, hình ảnh đầu tiên đập vào mắt tôi là các cây palm, kế đến là các ngôi nhà có kiến trúc của người Tây Ban Nha. Ở Montana và Wyoming là cây thông, rừng thông bạt ngàn. Đi ngang Bozeman và Big Sky City của Montana, chưa đến Gardiner hay Billings nên chưa biết kiến trúc nổi bật của hai thành phố này.

Phim A River Runs Through It lấy Montana (Robert Redford làm đạo diễn với diễn viên Brad Pitt, Tom Skerritt, Gordon-Levitt,) làm bối cảnh. Wyoming thì có phim An Unfinished Life, còn đang chiếu ở Netflix. Phim này Robert Redford và Norman Freeman, Jennifer Lopez đóng vai chính. JL đóng phim ok, chủ yếu là hai ông già gạo cội. Cô bé Becca Gardner và Camryn Manheim cũng rất hay, ít nhất cũng diễn trọn vai trò. Cả hai phim cho thấy một phần đời sống đồng quê của các tiểu bang thuộc phía Bắc và trung tâm nước Mỹ.

Purple Mountain

Có thể nói, điểm thú vị nhất của chuyến đi Yellowstone National Park là buổi hiking núi Purple Mountain. Chỗ tôi ở trọ (số 1). Núi không xa vị trí số 6 trên bản đồ, vừa qua khỏi Madison Junction. Đây chỉ là một ngọn núi nhỏ trong vô số núi ở Wyoming. Đường trail này được nhắc đến trong quyển guide book của Frommer, nhưng Lonely Planet bỏ qua. Ông quản gia nhà trọ Historic Madison đã bảo chúng tôi, hễ thấy người ta dựng bảng thì nên ghé vào xem, thế nào cũng có điều đáng chú ý, bởi vì không dưng người ta dựng bảng mà không để làm gì.

Thật ra tôi đi tìm một đường trail khiêm tốn hơn, Harlequin Lake Trail, vì nghe nói ở cuối đường có một cái hồ đầy hoa súng lilly, nhưng tìm không ra dù lái xe ngang qua cái bảng chỉ đường vào hai ba lần. Có lẽ đường trail nhỏ quá, xe chạy nhanh không nhìn thấy. Đến ngày 8 tháng Chín thì chúng tôi đã đi hết những chỗ trong công viên nằm trong danh sách đi xem. Trong công viên còn vô số những địa điểm mà chúng tôi bỏ qua, vì sức đi có hạn.

Bản đồ chỉ đường lên núi Purple cùng với những lời căn dặn cẩn thận coi chừng gặp gấu

Ngày 9 tháng Chín tôi đề nghị ông Tám đi hiking. Đường trail Purple Mountain có vẻ dễ đi, sách nói chỉ đi vào rồi đi trở ra, không có những đường trail khác cắt ngang, không sợ lạc. Chiều dài trung bình 3 miles vào (4.8km) và 3 miles ra, tổng cộng 6miles. Ở NJ chúng tôi vừa đi vừa về chiều dài 10 miles thì 6 miles không đáng sợ. Điều đáng chú ý là sách nói độ cao, elevation gain, sẽ là 1500 ft. Có sách nói 1600 ft. nhưng để không phô trương, tôi dùng con số 1500 ft. Tương đương 500 mét chiều cao. Ông Tám tự lượng sức, bảo là với ông thì không sao. Tôi hơi lo ngại cho sức khỏe của tôi. Mới mấy tuần trước đây bị heat cramp đã hết hồn. Tuy sợ nhưng tôi vẫn muốn thử. Tự nhủ mình, đi chậm, nghỉ ngơi thường xuyên, thì sẽ không sao. Nếu đi nửa chừng đi không nổi thì đi xuống, có gì đâu mà sợ. Tuy nhủ thầm như thế nhưng tôi cũng không muốn bỏ cuộc.

Đoạn đường ban đầu, nhiều cây, ít ánh sáng, đường rộng rãi. Trên cao đường hẹp lại chỉ vừa một người đi. Tôi sợ ngã nên không chụp ảnh

Ban đầu tôi phải hít thở sâu, lỗ tai lùng bùng, nhưng được một lúc thấy người nhẹ nhõm trở lại. Người ta làm đường thoai thoải, dốc không cao lắm, cứ từ từ đi. Ước tính của Frommer cuộc hành trình dài từ 3 tiếng đồng hồ cho đến 5 tiếng tùy theo đi nhanh hay chậm. Có nhiều cô gái đi xong bảo là trẻ con cũng có thể đi được. Ờ nhưng trẻ con cỡ 7 tuổi trở lên thường khỏe hơn người già, bạn biết không?

Chuẩn bị vào đường trail, tôi thấy một cô gái, bảng số xe ở Utah, có nghĩa là cô lái xe một mình đến hiking ở đây. Tóc vàng, cao ráo, mảnh mai, nhìn sau lưng đã thấy xinh. Đi độ nửa đường thấy chiều ngược lại có một người khá cao, không phải là cô gái gặp ở đầu đường trail. Người này quấn khăn, trùm đầu, che mặt kín mít, lại vác ba lô cuốc xuổng nặng nề. Ông Tám bảo là đàn ông, tôi không nhìn kỹ nhưng có lẽ phải là đàn ông. Không hiểu vì sao vác xẻng, có lẽ anh ta cắm trại trên đỉnh núi chăng? Giá mà làm gan, hỏi anh ta, và tất cả những người mình gặp trên đường hiking, cho phép mình chụp tấm ảnh về nhà có chuyện để kể.

Khi chúng tôi đến gần cuối đường trail thì gặp cô gái, gặp lúc bắt đầu vào trail, đi trở ra. Một cô gái rất xinh đẹp, cô không có vẻ gì mệt mỏi. Khi tôi hỏi chúng tôi đi sắp đến chỗ chưa cô trả lời, ông bà đến rất gần rồi và chúc chúng tôi một ngày vui vẻ.

Trên cao nhìn xuống, nơi sông Madison và sông Gibbon gặp nhau.

Lên đến trên đỉnh thì sẽ nhìn thấy quang cảnh dưới chân núi, nơi hai con sông Gibbon và Madison gặp nhau. Cuối đường trail người ta có gắn một cái hộp nhỏ. Ai muốn viết gì thì viết vào một mảnh giấy nhỏ, mở nắp, bỏ vào hộp. Cô Sheryl Strayed đã viết những câu danh ngôn của vài tác giả nổi tiếng kèm với tên của cô cho vào các trail logs dọc theo đường Pacific Crest Trail.

Cuối đường có cái trail log

Đến đây tôi phải đính chính, chúng tôi đi đến cuối đường trail nhưng không có nghĩa là chúng tôi đi đến đỉnh núi Purple. Núi cao hơn 8000 ft. Độ cao tôi đi từ điểm đến so với điểm bắt đầu tính theo chiều thẳng đứng chỉ có 1500 ft. Người ta chỉ làm đường đến đó mà thôi. Trên đường đi xuống chúng tôi gặp người ta lác đác đi lên. Tất cả số người đi lên Purple Mountain tôi gặp ngày hôm ấy, kể cả hai chúng tôi là 13 người. Vì là ngày trong tuần, tôi đã đoán là chỉ có hai chúng tôi thôi, nhưng nhiều người đi hơn tôi tưởng.

Đường lên Purple Mountain dễ đi hơn đường lên chùa Hương. Đường lên chùa Hương làm bằng đá tảng, bạn phải bước một bước khá cao, nhấc cái khối thân thể của mình lên khá nặng nề, mau mệt. Chuyến đi này, gợi tôi nhớ một bài học cũ. Đường dẫu dài, chỉ cần bắt đầu bằng một bước nhỏ, rồi thêm bước nữa, bước sau để lên bước trước, cứ kiên nhẫn đi rồi sẽ đến.

Chúng tôi nhặt hai nhánh cây khô làm gậy hiking.

Chúng tôi chấm dứt cuộc hiking 4 giờ 30 phút, coi như cũng thuộc hàng không quá tệ. Với tôi, điều quan trọng là tôi vượt qua được những sợ hãi nhỏ bé của cá nhân. Cuối con đường tôi không thấy mệt, mà lại thấy khỏe, vui, hừng chí. Có lẽ nhờ không khí trong lành, và nhờ tôi hít sâu thở mạnh nên nở phổi chăng.

Đường đi lên núi mùi thông thơm ngát. Chung quanh toàn là thông, thỉnh thoảng tôi gặp một con chipmunk gầy gò nhỏ xíu, có lẽ nơi này không có nhiều thức ăn cho chúng. Có một đôi nơi tôi ngửi thấy mùi hoa trâm ổi nhưng không biết hoa gì mọc ở đâu. Thỉnh thoảng nghe tiếng quạ kêu lẻ loi. Ngoài ra chỉ có tiếng gió xuyên qua ngọn thông êm dịu. Mười một người chúng tôi gặp trên đường leo núi Purple Mountain đa số là đàn ông. Ngoài một cô gái tóc vàng xinh xắn đi trước chúng tôi khoảng mười phút và chúng tôi gặp lại cô khi cô đang đi xuống còn chúng tôi tiếp tục đi lên, chúng tôi còn gặp một phụ nữ tuổi trạc tứ tuần đi với cậu con trai độ mười hai hay mười ba tuổi. Còn hai cặp người da trắng, một cặp còn trẻ độ chưa đến ba mươi, một cặp lớn tuổi hơn có lẽ cỡ 60. Người đàn ông tóc hoa râm nói đùa, “Mấy con gấu đi đâu hết rồi?” “À, chúng tôi rượt đuổi chúng đi mất hết rồi. Ông bà cứ an tâm mà đi.” Tôi trả lời. Tôi nghe tiếng ông cười xòa, vui vẻ.

Old Faithful

Old Faithful geyser

Thật ra tôi muốn đặt tựa đề là Grand Prismatic Springs, Old Faithful, và West Thumb Geyser nhưng nó dài quá nên chỉ dùng một chữ thôi.

Bản đồ giao thông trong công viên quốc gia Yellowstone

Ngày 8 tháng 9, 2021, chúng tôi đến Madison Junction (số 6) thay vì quẹo trái như mọi ngày, lần này quẹo phải, hướng đến số 5. Hành trình bao gồm ba chỗ: Grand Prismatic Springs, Old Faithful và West Thumb geysers.

Trên đường đi gặp một đàn bison ăn trên đồng cỏ.

Chuyến đi này khá bất ngờ. Tôi tưởng là chuẩn bị bây giờ đến mùa xuân năm 2022 sẽ đi. Hỏi ông Tám có muốn đi chơi đâu không vì đã chích ngừa rồi. Ông bảo National Parks. Cái park nào? Yellowstone. Địa điểm nào trong Yellowstone? Old Faithful và West Thumb. Tại sao hai chỗ này? Ông kể, hồi xưa còn bé học English for Today người ta có nói đến hai chỗ này. Hằng năm cả triệu người đến xem, và cái geyser phun nước đều đặn cứ 60 phút một lần, mỗi ngày, như một người chung thủy, cứ đến hẹn lại lên. Vì thế được đặt tên Old Faithful. Tưởng nói chuyện khơi khơi vậy thôi ai dè ông đặt vé máy bay, đặt phòng trọ, thuê xe, và chỉ trong một hai tuần chúng tôi lên đường. Tôi cứ sợ phải đặt phòng trước cả năm hay sáu tháng, vì nghe nói chỗ này đông du khách lắm. Hằng năm cả 4 triệu người đến xem.

Geyser này được đặt tên đầu tiên, từ năm 1870. Ghi nhận từ năm 2000, mạch nước phun đều đặn với khoảng cách từ 44 phút cho đến 120 phút. (Theo Wikipedia).

Hồ nước nóng nhỏ ở gần Prismatic Springs có màu sắc tương tự nhưng nhỏ hơn

Tôi đến Grand Prismatic Springs lúc còn sớm. Buổi sáng ở Yellowstone rất lạnh. Vì lạnh nên khói mù mịt che lấp tất cả hồ nước nóng và màu sắc. Chỉ nhìn thấy khói và khói. Grand Prismatic Springs màu sắc lộng lẫy nhưng mình phải ở vị trí cao và xa hơn mới nhìn thấy hồ, bởi vì hồ khá rộng. Tôi đứng gần và ngang tầm với mặt hồ nên chỉ thấy một lằn nước phẳng bốc khói và đất chung quanh màu sắt rỉ sét. Đi ngang một cái hồ khác nhỏ hơn nhiều nhưng màu sắc gần giống như vậy nên tôi chụp ảnh thế vào.

Với du khách, nếu đã xem Norris Geysers thì sẽ có cảm giác mọi geysers khác không còn lạ lẫm thu hút nữa. Thật ra chúng đều có đặc điểm riêng. Cũng giống như bạn xem những cuộc thi hoa hậu, hay xem trình diễn thời trang, các cô gái trình diễn đều đẹp cả. Xem một show rồi sẽ cảm thấy show thứ nhì cũng vậy mà thôi. Nhưng Old Faithful và West Thumb thì khác. Khác vì đó là trí nhớ, kỷ niệm thời thơ ấu của ông Tám. Tôi hoàn toàn không biết hai chỗ geysers này vì hồi đó tôi không có học English for Today.

Tôi đến cũng sớm, còn hơn tiếng đồng hồ thì bà cụ Old Faithful mới xuất hiện. Chúng tôi đi vòng vòng mấy cái boardwalk cho đến khi ông Tám bảo vào xem Old Faithful Inn. Đó là một tòa nhà cổ, xây cất toàn bằng gỗ tròn, cao ba hay bốn tầng, rất đẹp được dùng làm khách sạn cho du khách muốn ở đêm trong công viên. Dĩ nhiên là giá cao hơn các khách sạn bên ngoài công viên. Giá một đêm ở khách sạnh Old Faithful Inn từ 160 USD đến 260 USD. Người ta cho xem du khách vào xem đến tầng thứ hai thoải mái. Nhiều người ngồi lố nhố ở ban công chờ Old Faithful xuất hiện. Mua hai cây kem chúng tôi ra ngoài băng ghế trước tòa nhà ngồi ăn. Suýt tí nữa không nhìn thấy Old Faithful vì chỗ ngồi ăn kem bị khuất. Chỉ khi nhìn theo hướng nhìn của người ngồi trên ban công của khách sạn, và khi thấy một cô gái tay che mắt nói một mình, ồ kia kìa, bà ấy xuất hiện rồi, tôi nhận ra nên xách máy chạy ra hướng ấy, bấm đại vài phát. May là mạch nước phun cũng vài phút thỏa lòng mong đợi của du khách. Họ ngồi trên boardwalk chung quanh bà cụ rất đông.

Old Faithful phun nước ở phía sau. Vòi nước lúc này không còn mạnh nữa, và người ta xem xong đã bắt đầu bỏ đi.

Cũng là hệ thống mạch nước phun, nhưng West Thumb nằm ven bờ hồ Yellowstone Lake nên có nhiều điểm khác biệt thú vị.

Một mạch nước phun mấp mé bờ hồ

Có những mạch phun giống hình núi lửa, nằm ven bờ hồ, có khi mặt nước hồ dâng cao, các hình núi lửa này chìm dưới mặt nước.

Boardwalk đi vòng quanh West Thumb basin, một số mạch nước nóng đang bốc khói như những núi lửa nho nhỏ.
Một góc của hồ Yellowstone Lake.

Mammoth Hot Springs

Bản đồ Yellowstone

Trước khi vào công viên, bạn sẽ được phát cho một bản đồ đơn giản như thế này. Bạn có thể nhận được bản đồ này ở khách sạn bạn ở, hay một trong những tiệm bán hàng cho du khách bên ngoài công viên. Các con số màu đỏ là do tôi thêm vào. Số 1 là nơi tôi ở trọ, West Yellowstone. Như đã nói, hệ thống đường giao thông trong công viên có hình số 8. Số 4 là điểm phía Bắc của công viên. Mammoth Hot Springs nằm ở chỗ này. Qua khỏi chỗ số 4, là đến Gardiner, một thị trấn nằm ngoài công viên. Ở địa điểm phía Bắc có cái cổng Roosevelt Arc. Tôi muốn đến chỗ này, chẳng để làm gì ngoài chụp tấm ảnh kỷ niệm. Ông Tám đồng ý, nhưng khi đến Mammoth Hot Springs, đứng ở Albright Visitor Center ngắm chung quanh, tôi thấy rùng mình, đổi ý không muốn đến Gardiner nữa. Đường đi chung quanh đèo hiểm trở quá, làm tôi ngán. Chỉ có một tấm ảnh mà phải lái xe đường đèo, 5 miles đi thì phải có 5 miles về. Sợ quá nên thôi. Phải nói, lái xe từ West Yellowstone đến Norris Geysers đi ngang thác Gibbon đường đi ngoằn ngèo sát cạnh đèo lên đồi xuống dốc tôi đã ớn rồi, nhưng chẳng thấm gì so với đi ngang mấy đỉnh núi như Bunsen Peak, Sepulcher, và Mount Evert để đến Mammoth Hot Springs.

Mammoth Hot Springs nhìn từ Albright Visitor Center

Đến nơi nào tôi cũng thích vào xem những trung tâm cung cấp tin tức phổ thông cho du khách. Albright Visitor Center rất đẹp, hiện đại, sang trọng. Một trong những tiện nghi cho du khách là được dùng phòng vệ sinh sạch sẽ. Nghĩ cũng buồn cười. Chúng ta thích thăm viếng những nơi còn hoang dã, chưa bị du khách tàn phá, nhưng lại thèm nhớ được dùng phòng vệ sinh hiện đại. Ai nói gì thì nói chứ tôi vẫn không quen được cái thú “nhất quận công, nhì đi đồng.”

Canary Springs một trong những hồ nước nóng trong hệ thống Mammoth Hot Springs. Nhìn xa hơn, là dãy núi Mount Everts (tôi đoán thế, không đúng thì sai)

Mammoth Hot Springs là một hệ thống suối nước nóng chảy trên địa bàn khá phẳng (so với mấy ngọn núi chớm chở chung quanh) có nhiều chất đá vôi. Người ta làm con đường boardwalk bằng gỗ hay plastic để du khách có thể đi vòng quanh địa bàn này để ngắm hệ thống suối nước nóng. Chất vôi từ nước suối nóng đọng lại tạo thành những hình thù lạ mắt. Nếu để ý chi tiết, vì thích chụp ảnh, bạn sẽ thấy những hồ nước nóng này khác nhau ở hình dáng và màu sắc. Với người vội vã hoặc dễ chán, họ sẽ thấy cái nào cũng giống nhau. Đi hết địa bàn chiều dài cũng phải vài cây số, và lên cao đến đỉnh của suối nước nóng (upper terrace) cũng vài trăm feet. Không phải chỗ nào xe lăn cũng đến được. Bạn cần có sức khỏe khá tốt để có thể đến đỉnh cao nhất của địa bàn này.

Nơi có nhiều chất sắt, đá vôi nhuộm màu sắt rỉ sét.
Một con chim đang tắm mê tơi trong suối nước.

Mammoth Hot Springs hay Norris Geysers luôn gieo cho tôi cảm tưởng là nước rất độc, nhiều chất vôi, nhiều kim loại, sinh vật bình thường khó sống ở những chỗ này. Do đó, tôi khá ngạc nhiên khi thấy có vài con chim tắm mê mải ở vũng nước này. Không biết tắm xong, uống nước xong nó có bị ngộ độc lăn quay ra ở một nơi nào khác hay không. Tôi lại nghĩ, chỗ này hay thật, nhưng VN cũng có những chỗ tương tự hay không kém chút nào, còn có phần hơn nữa. Nếu ở đây chất vôi trong nước phun ra đọng thành núi, thì ở VN chất vôi được nước mang đi, đục khoét thành những hang động sâu thẳm, hoặc tích tụ thành những thạch nhũ hình thù lạ mắt tôi nhìn thấy ở trong hang Chùa Hương, Kẻ Gỗ, v.v…

Ở Mammoth Hot Springs, sau khi lên đến đỉnh, trên đường đi xuống chúng tôi gặp rất nhiều người Việt Nam. Người mình vui lắm, đi đâu cũng nói chuyện lớn tiếng nên nghe tiếng Việt lồng lộng. Ông Tám trò chuyện, biết là nhóm này đi rất đông, mười tám người, đi làm mấy xe. Vào Yellowstone bạn không có phương tiện giao thông công cộng phải tự lái xe đi vì nơi nào cũng xa. Không xa đến độ đi không tới, nhưng xa đủ để phải lái xe. Có người đi xe đạp, nhưng thú thật, tôi nể phục những người này ghê gớm, đạp xe đường núi chắc phải là vận động viên thứ thiệt.

Buổi trưa, tìm chỗ ăn trưa, chúng tôi gặp một người phụ nữ Á châu. Bà rất tử tế thấy chúng tôi ngó quanh tìm bàn, bà ngoắc chúng tôi, chỉ đến ngồi cạnh vì bà ăn xong sắp đi. Tôi nhìn bảng tên thấy là tên là Kelly Kim.
“Ông bà gốc gác quốc gia nào?” Bà hỏi.
“Việt Nam.” Tôi vui vẻ trả lời.
“Còn bà là người Korea?”
“Nam Hàn.” Bà nhấn mạnh.
Một điểm tôi chú ý, là những người từng sống ở các quốc gia bị chia làm hai mảnh, một bên theo chế độ Cộng Sản, một bên không, thí dụ như Việt Nam, Hàn Quốc, Trung Quốc, mỗi khi tự giới thiệu họ đều nhấn mạnh là họ ở phần đất không Cộng Sản. Rồi để rõ ràng hơn, bà nói bằng tiếng Anh đứt quãng, vấp váp, bà ở San Francisco đã nhiều năm. Tôi cũng nói chúng tôi ở New Jersey. Nhóm người Mỹ bàn bên cạnh đang trò chuyện rôm rả, nhưng từ khi chúng tôi và bà Kelly nói chuyện họ bỗng im bặt. Có lẽ họ cũng tò mò hóng chuyện cái đám Á châu ngồi bên cạnh. Hoặc là tôi vì trò chuyện nên không nghe tiếng họ nói nữa chăng.

Hymen Terrace và Liberty Cap

Lúc bắt đầu lên đồi, từ Lower Terrace đi lần lên Upper Terrace, một người đàn ông đang đẩy xe chở một đứa bé, hỏi đường một phụ nữ người da trắng đang đi xuống. “Bà có nhìn thấy Hymen Terrace bên trên ấy không?” Bà ấy ngẩn người một hồi rồi nói không. Tôi nghĩ nếu có chắc bà cũng không nhớ, vì mỗi cái hồ nước nóng dù nhỏ cũng được đặt cho một cái tên, làm sao nhớ cho hết. Tôi lại nghĩ chữ Hyman viết với chữ a chứ không phải chữ e.

Liberty Cap là một cột đá rất to, to đủ để thấy hai con caribou nằm dưới chân cột đá nhỏ như hai món đồ chơi. Cái cột đá này trông giống như linga của người Chàm xưa. Xuống dưới chân Lower Terrace, tôi đi vòng vòng cốt ý đi tìm Mammoth Chapel. Không gặp cái nhà nguyện nhưng lại thấy bảng chỉ đi hiking đến Beaver Pond, đường đi chỉ có 0.5 miles. Thật ra con đường dài 5 miles nhưng có ai đó đã viết số 0 và dấu chấm trước con số 5. Tôi và ông Tám muốn thử, nhưng thấy con đường này dính vào một cái trail khác dài hơn nên thôi. Tôi cẩn thận, sợ mình lạc vào cái trail dài hơn lại không biết lối ra, trời thì đã bắt đầu vào chiều.

Trở ra chúng tôi gặp Hymen Terrace. Tôi không nhớ nhưng ông Tám thì nhớ cái anh chàng đã hỏi đường lúc nãy. Tôi biết, nhưng sợ mình hiểu sai nên hỏi. Hymen là gì? Màng trinh. Tại sao người ta lại đặt tên của một cái hồ nước có chất vôi như vậy? Nghe không được thanh tao cho lắm. Mãi cho đến khi tôi nhìn thấy cái ngọn của Liberty Cap như xuyên qua Hymen Terrace tôi mới lẩn thẩn nghĩ rằng, à thì ra thế. Nhưng không biết mình ngộ ra như thế có đúng không. Hay chỉ tại vì mình có đầu óc không sạch sẽ?

Hôm qua Tống Mai có nhắc đến Roaring Mountain. Trên đường đi đến Mammoth Hot Springs tôi có đi ngang Roaring Mountain, một dãy núi đá vôi bốc khói trắng chói chang trong nắng.

Roaring Mountain

Grand Canyon of the Yellowstone

Grand Canyon of the Yellowstone The Upper Falls

Cái tên dài như thế là để phân biệt với Grand Canyon của tiểu bang Arizona. Grand Canyon of the Yellowstone có hai con thác. Thác bên trên là the Upper Falls có chiều cao 109 ft. Thác bên dưới the Lower Falls có chiều cao 308 ft. Ảnh trên tôi đứng ở bờ phía bắc (North Rim Drive) chụp thác bên trên.

Có thể nói điểm đặc biệt nhất của công viên này, với tôi, là cái hẻm vực có hai con thác nói trên. Tại sao nó lại quan trọng hơn cả mấy cái geysers (chỉ với tôi thôi)? Tôi cũng không biết rõ lắm, có lẽ vì tâm lý của người ít khi được thấy núi và thác chăng? Geyser tôi chỉ gặp lần đầu, còn thác thì đôi lần. Gần chỗ tôi ở có thác Niagara, mạnh hơn, to lớn hơn nhưng thác của Yellowstone lại quyến rũ hơn, có lẽ là nhờ nhìn thấy hẻm vực. Con sông Yellowstone ở nguồn thác nước chảy mạnh, chảy xiết, không hiểu sao lại gợi tôi nhớ đến con sông Nho Quế ở VN. Sông Nho Quế nước xanh hơn, chảy chậm hơn (có lẽ ở cái khúc sông tôi nhìn thấy). Đi chơi ở Mỹ, đôi khi tôi cũng thầm so sánh, ở bên mình cũng có. Nghĩ rồi lại cười thầm. VN đâu có phải là của mình sao lại dám bảo là bên mình.

Đi chơi ở Yellowstone có điểm lợi là ngoại trừ bạn trả 35 đồng US cho cả chiếc xe có thể vào trong công viên cả bảy ngày, bạn không phải trả một lệ phí nào khác cho các thắng cảnh trong công viên. Cả công viên cũng không khai thác thương mại quá đáng như thác Canada. Chỉ để vào xem miệng thác Niagara chúng tôi đã phải trả số tiền khoảng 30 đồng US. Đường đi rất dễ đi, chỉ dẫn rõ ràng. Đường lái xe rộng rãi, qua những đoạn đường đèo quanh co chớm chở đỡ nguy hiểm rất nhiều. Nếu bạn trên 65 tuổi bạn có thể mua một cái thẻ 80 đồng US dùng cho đến khi trăm tuổi già vào tất cả các National Parks của Hoa Kỳ mà không phải trả thêm lệ phí vào cửa.

Miệng thác dưới nhìn từ bờ phía Bắc

Bên cạnh con sông, cái thác, đá của hẻm vực cũng rất đẹp, thu hút người xem. Tôi rất thích những ngọn núi đá như bay bổng lên trời của Trung quốc. Mấy cái núi đẹp đến nỗi người ta đưa vào phim Avatar. Ở hai bên bờ vực của Yellowstone, nhất là đứng ở bờ phía Nam (South Rim Drive) sẽ nhìn thấy rất rõ. Không cần phải qua bên Trung quốc, xem đá ở đây cũng thỏa mắt nhìn.

Một trong những cụm đá bên bờ vực trông giống như một gia đình có cha mẹ và đứa con

Ở cuối sông Yellowstone hai bờ vực cao như núi, có đá màu vàng, nghe nói phản chiếu ánh dương buổi chiều rất đẹp. Ngày xưa thổ dân nhìn thấy màu đá vàng nên gọi là yellowstone. Người Pháp dùng lại chữ của thổ dân và từ đó về công viên mang tên này.

Bờ vực của sông Yellowstone
Thêm một triền núi đá

Hẻm vực này có chiều dài 20 miles tương đương 32 km, vách đá gần 1200 ft. tương đương 366 mét. Sự thay đổi hình dáng của hẻm vực tiếp diễn hằng ngày. Sông chảy xiết hơn, đáy sông sâu hơn, bề rộng vẫn nới rộng thêm.

Norris Geysers

Chúng tôi đến Yellowstone National Park (YNP) vào buổi chiều ngày 4 tháng 9, 2021. Nhà trọ Historic Madison Hostel ở West Yellowstone. Cả 96% diện tích YNP nằm trong tiểu bang Wyoming, 3% giáp ranh Montana, 1% nằm cạnh Idaho. Đường giao thông trong công viên được thiết kế theo hình số 8. Chỗ tôi ở, West Yellowstone nằm ở cạnh bên trái ngay chỗ thắt của hình số 8, tiện đường đi đến hầu hết các thắng cảnh trong công viên. Sáng hôm sau chúng tôi đến nơi gần nhất là Norris Geysers. Con đường từ phi trường Bozeman đến West Yellowstone dọc theo con sông Gallatin đẹp lộng lẫy như trong phim “A River Runs Through It.”

Không nhớ tên rặng núi này. Đứng ở trên đồi Norris Geyser Basin nhìn thấy rặng núi mờ mờ trong sương.

Trước khi đi tôi chẳng hề biết geyser là gì. Wikipedia tiếng Việt có một bài khá đầy đủ chi tiết về geyser, còn gọi là mạch nước phun. Ở Norris có mạch Steamboat Geyser, phun nước lên cao nhất của công viên, nhưng tùy lúc. Lúc tôi đến thì cũng thấy mạch nước phun, nó phun khá thường xuyên, nhưng chỉ cao độ 20 ft. thôi. Kỷ lục phun nước cao của nó là 300 ft. Bạn cứ tính 3 ft. tương đương 1 mét. Norris Geysers cổ nhất, và nhiều acid nhất trong tất cả geysers của Yellowstone.

Norris Geyser basin

Tấm ảnh bên trên tôi chụp lúc mới vào basin. Cả một vùng rộng lớn màu trắng, nhìn ra xa có những vùng khói trắng bốc lên nghi ngút, tôi không khỏi nghĩ đến sự điêu tàn của chiến tranh. Hoặc là mình lạc đến một hành tinh hoang vu nào đó không có sự sống. Tuy nhiên, giúp tôi thoát khỏi ý nghĩ vùng đất điêu tàn vì chiến tranh hay cảnh tượng hoang vu của hành tinh chết, là du khách đến xem. Vì là ngày trước Labor Day nên vẫn còn khá đông du khách, nhìn đâu cũng thấy người, all walks of life, đầy đủ mọi thành phần, đẳng cấp của cuộc đời. Già trẻ, cao thấp, khỏe yếu đều có mặt nơi đây.

Emerald Spring

Nước trong, nhưng có nhiều màu khác nhau tùy theo độ nước nóng và chất acid. Khi nhiệt độ của nước lên đến 140 độ F. đất chung quanh hồ nước sẽ có màu đỏ và cam tùy theo vi sinh trong nước.

Echinus acidic geyser

Nếu bạn cũng như tôi, ở thành phố, tuy gần biển nhưng chẳng mấy khi đến biển, công viên này (YNP) sẽ gây ấn tượng rất mạnh, vì nhìn đâu cũng thấy núi cao, và rất nhiều thác. Trên đường đến Norris Geyser Basin, chúng tôi đi ngang thác Gibbon. Cái chữ gibbon tự nó đã có chất quyến rũ tôi. Nếu bạn cũng như tôi thỉnh thoảng đọc thơ Đường và thơ haiku thì bạn sẽ rất quen với chữ gibbon là con vượn. Chữ gibbon luôn gợi trong tôi tiếng vượn hú buồn bã trên núi cao làm sưng tấy nỗi đau của những người ly hương. Ngạc nhiên là ở Mỹ chẳng mấy khi có vượn, dù loài vượn cũng có thể sống ở những nơi tuyết lạnh. Nơi đây phần lớn là rừng thông. Thông mọc khắp nơi từ trên núi cao đến ven thác, cạnh bờ sông.

Thác Gibbon chỉ là một thác nhỏ. Tuy vậy cũng được nhiều du khách chiếu cố. Người ta làm hàng rào dọc theo triền núi du khách có thể dừng xe vào bãi đậu và đi dọc theo con sông Gibbon để ngắm thác.

Thác Gibbon
Không nhớ chắc vì quên không ghi lại tên của geyser. Có thể đây là Steamboat Geyser

Thác Firehole

Thác Firehole Falls

Buổi sáng trước khi rời Yellowstone National Park, chúng tôi có vài tiếng đồng hồ rảnh rang. Chẳng có gì hay hơn là trở lại công viên quốc gia Yellowstone xem một vài chỗ mà chúng tôi bỏ qua vì những nơi này có vẻ nhỏ bé mờ nhạt so với những chỗ khác nổi tiếng hơn. Thác này chiều cao chỉ độ bốn mươi ft. (hơn 12 m.) và bề ngang chỗ hẹp nhất chỉ độ 150 ft. (45m.) thôi. Trong công viên này có rất nhiều thác, so với các thác nổi tiếng hơn thì thác này chẳng thấm vào đâu.

Ảnh trên đây là thác Firehole Falls. Ông Tám hỏi tôi vì sao người ta gọi là firehole làm tôi cũng ngớ người ra. Trong mấy cuốn sách guide book người ta có nói về địa danh này nhưng không thấy giải thích. Tiếng lóng, firehole nói về tình trạng ăn nhiều thức ăn cay quá nên khi bài tiết người ta cảm thấy nóng như bị cháy bỏng. Sông Firehole do những người săn thú thời xưa nhìn thấy những hố nước bốc hơi như những hố lửa cháy nên đặt tên là Firehole.

Thác Firehole Falls là một phần của con sông Firehole, nằm trong công viên quốc gia Yellowstone, thuộc tiểu bang Wyoming. Con sông này chảy qua địa bàn có nhiệt độ cao, một trong những tính chất của núi lửa ngầm, có nhiều khe thoát hơi nóng kết hợp với sông suối tạo thành sông và suối nước nóng. Dọc theo con sông này, có nhiều chỗ dòng nước nóng hòa với sông (nước lạnh) Gibbon và Firehole tạo thành những chỗ nước ấm có thể tắm được. Buổi sáng sớm đi ngang, thấy những chỗ tắm nổi tiếng đông người đều đã bị treo bảng, quây hàng rào ngăn cấm không cho người tắm nữa. Chẳng biết từ bao giờ và chẳng hiểu vì sao, tôi chỉ có thể đoán có lẽ là đã hết mùa hè.

Ở Yellowstone, ban ngày giữa trưa trời khá nóng, nhiệt độ lên đến 82 độ F. Tuy nhiên sáng sớm và chiều tối nhiệt độ khá thấp, có hôm chừng ba mươi mấy độ F. hơn nhiệt độ đông thành nước đá một chút thôi. Nhiệt độ này có thể nguy hiểm cho người tắm.

Sông Firehole nước chảy xiết, theo thời gian tạo thành vực thẳm với hai bên bờ đá dựng, tạo nên ba thác nước, Kepler Cascades, Firehole Falls, và Cascades of the Firehole. Tôi cũng mù mờ giữa Firehole Falls và Cascades of the Firehole nhưng nhận ra tấm ảnh tôi chụp là Firehole Falls là nhờ cái mõm đá nhô ra giống như trong ảnh của Wikipedia, trang này có hầu hết các bài viết khá chi tiết về các thắng cảnh trong The Yellowstone National Park. Bạn nào thích mục travel writing có thể tham khảo thêm, cùng với các bài tiếng Anh còn có thêm phần tiếng Việt.

Nước sông có nhiều chất kim loại có thể gây độc hại cho con người như boron và arsenic. Trước kia không có cá nhưng năm 1890 người ta có thả cá rainbow trout ở đầu nguồn từ đó chúng sinh sôi nhiều hơn và ngày nay cá nhiều đến độ chỗ này nổi tiếng với dân sành đi câu. Bên cạnh cá trout còn có một loại ốc New Zealand mud snail. Loại ốc bùn New Zealand sinh sôi rất nhanh đang trở nên một loại thủy vật xâm lăng gây hại cho môi trường sống của các thủy vật địa phương.

Hố nước nóng, một trong cỡ 500 geysers của Yellowstone National Park.

Tôi không nhớ cái hố nước nóng này nằm chính xác ở đâu. Có thể nó là một trong chùm Upper Geyser Basin trên đường đến Fairy Falls Trail. Đi trên đường thấy người ta đứng lố nhố xem nên chúng tôi cũng ghé lại. Tôi chụp vội vàng một tấm vì phải canh giờ để ra phi trường. Ở phía sâu một chút thấy người ta đi bộ trên boardwarlk quanh co rất đông.

Nói về một nơi chưa đến

Hoa Kỳ có 63 National Parks. Nhiều lần nghe nhắc đến Yellowstone National Park, rừng thuộc đẳng cấp quốc gia, tôi tò mò tìm hiểu thêm. Đây là rừng quốc gia đầu tiên thành lập vào ngày 1 tháng Ba năm 1872. Tổng thống Grant ký sắc lệnh.

Rừng này thuộc tiểu bang Wyoming, nằm ở một góc nhỏ phía Tây Bắc. Giáp ranh với Montana và Idaho. Ken Burns và Dayton Duncan làm một cuốn phim tài liệu nhiều tập về hơn 60 cánh rừng này. Họ cũng in ra một tập sách dày cỡ 2 kg. với rất nhiều hình ảnh đẹp lộng lẫy. Vì họ là những người làm phim nên tôi nghĩ họ sẽ có nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp đi theo để chụp ảnh. Nhưng không phải vậy. Có nhiều tấm ảnh độc đáo họ dùng là của một nhiếp ảnh gia người Việt. Lương Quang Tuấn.

Ông Tuấn là người đã đi hết 62 rừng cấp quốc gia của Hoa Kỳ. Tự ông cũng xuất bản một quyển sách bao gồm những hình ảnh trác tuyệt của hơn sáu mươi cánh rừng này. Quyển sách khổ rộng, tôi đoán 17×11. Quyển này có lẽ nặng 3kg. Quyển sách tựa đề “Treasured Lands – A Photographic Odyssey Through America’s National Parks” Dayton Duncan viết lời bạt. http://www.treasuredlandsbook.com/

Đúng là một kỳ công. Để đi hết số rừng này, không biết ông Tuấn mất bao nhiêu năm? Nếu mỗi năm đi 4 rừng, coi như cứ ba tháng đi một rừng, thì ông phải mất 15 năm.

Quyển sách của Duncan và Burns tôi mượn ở thư viện. Mấy bức ảnh ở gần cuối trang đã bị người nào đó đánh cắp mất rồi. Té ra dân đọc sách cũng không phải ai cũng lương thiện 🙂

Người Mỹ dùng chữ park thường được dịch là công viên. Tôi chọn chữ rừng vì hình ảnh của công viên dường như nhỏ bé quá so với mấy cái park này. Rồi tôi lại thấy người Mỹ còn có national forest, đúng là rừng to lớn rậm rạp hơn, thuộc hàng quốc gia quản lý. Thôi thì dùng chữ công viên quốc gia vậy.

Không biết người ta dùng tiêu chuẩn gì để phân biệt đẳng cấp. Mỗi tiểu bang đều có state park(s) nhưng chỉ có một số ít biểu bang có national parks. California có 7 hay 8 national parks, Utah có hình như 9 cái, trong khi New Jersey không có cái nào. National parks gần New Jersey có Acadia, và Shenandoah. Nói là gần nhưng cũng phải lái xe ít nhất là 5 tiếng đồng hồ.

Tracks và Wild

Tôi thường hay có những câu tự hỏi. Tại sao người già thích đi du lịch. Khoan đã, đừng vội vàng phản đối nha, các cô bạn trẻ của tôi. Tôi biết. Người trẻ đi du lịch rất nhiều. Đi xa, đi những chỗ khó đi khó đến, những chỗ nguy hiểm, đòi hỏi thể lực tốt. Nhưng số người già đi du lịch cũng rất nhiều. Tại sao? Có nhiều câu trả lời. Tại vì họ có thời gian (về hưu rồi) có sức khỏe, và có tiền (dành dụm suốt đời). Càng đi họ càng muốn đi. Có người bảo rằng, người trẻ đi để tìm kiếm chính họ, còn người già đi để đánh mất họ. Khi không còn phải quan tâm đến nhan sắc, cố gắng gây ấn tượng với ai đó trong xã hội, không ai quan tâm đến họ vì họ giàu hay nghèo, thí dụ thế, đi du lịch là một cách để tự xóa cái tôi của mình đi. Đi du lịch cũng là một cách đổi mới chính mình bằng có thêm hiểu biết. Đi du lịch là một cách để học hỏi về văn hóa, hòa nhập vào vẻ đẹp của thiên nhiên. Hoặc, nói như người Mỹ, “because I can.” Tôi rất thích câu trả lời tự tin đến ngang ngược này. Tôi làm điều gì đó, nói khơi khơi, chỉ vì tôi thích, có cơ hội, có điều kiện hay là khả năng. Cần gì phải có lý do.

Một câu tự hỏi khác, tại sao người ta thích đi du lịch một mình? Hỏi thì tự tìm câu trả lời. Bạn sẽ ngạc nhiên giống tôi, là người ta đi du lịch một mình rất nhiều, vì tôi có rất nhiều sách vở nói về du lịch một mình trong tay. Hôm nay, tôi chỉ giới hạn vào hai trường hợp. Tracks, quyển sách của Robyn Davidson, tác giả Úc, vượt sa mạc từ Glen Helen, gần như chính giữa châu Úc đến bờ biển Hamlin Pool. Có nhiều con số, nhưng tác giả quyển Tracks nói con đường tác giả đi dài 1,700 miles. Và Wild, của Cheryl Strayed người Mỹ, đi Pacific Crest Trail, bắt đầu ở Mojave gần Los Angeles đến cầu Bridge of the Gods nơi giáp ranh của tiểu bang Oregon và Washington. Tôi không nhớ rõ chiều dài chặng đường tác giả đi, chỉ nhớ là hơn 1,100 miles. Pacific Crest Trail còn dài hơn nữa, đoạn đường ở Mexico và Canada, Sheryl không đi.

Đính chính một chút, cả Robyn Davidson và Sheryl Strayed đều đi bộ, đi một mình đúng với nghĩa đi một mình hầu hết chặng đường (à, Robyn có con chó rất khôn ngoan tên Diggity), nhưng chủ yếu họ hiking hơn là thưởng ngoạn cảnh đẹp như du khách.

Mẹ của Robyn tự tử chết lúc Robyn 11 tuổi. Cô có em nhưng tứ tán khắp nơi. Bố tàn nhẫn hay đánh đập. Mẹ của Sheryl chết vì bệnh cancer, lúc Sheryl chưa học xong đại học. Bố ruột của Sheryl nghiện rượu bê tha. Bố dượng của Sheryl nhỏ tuổi hơn mẹ của Sheryl rất nhiều, nên giống như anh của đám con riêng của vợ hơn là bố. Mẹ Sheryl qua đời, ít lâu sau bố dượng mang người vợ mới về. Sheryl và mấy đứa em tản lạc khắp nơi.

Cả hai tác giả, sau khi mẹ mất, đều thất lạc phương hướng, cuộc đời trôi giạt. Robyn làm hết nghề này đến nghề khác, không nghề nào vững vàng, có thể giúp cô có cuộc sống hài lòng. Sheryl rơi vào sự thác loạn của dục vọng và ma túy. Cả hai chọn hiking đường dài vào chốn hoang dã, trước nhất là để được cô độc (to be alone), có nghĩa là tránh xa loài người. Tại sao lại cần cô độc? Để trả lời câu hỏi này, bạn có thể viết thành một bài luận dài dăm ba trang, và mỗi người sẽ có cách trả lời khác nhau. Nhưng chúng ta có thể đoán một cách đơn giản, nhiều khi tách rời xã hội, xa lánh mọi người, là cơ hội để chúng ta dưỡng thương, để tự chữa lành những nội thương tâm lý, hoặc là, để có cơ hội suy nghĩ, để được nghe chính sự suy nghĩ của chúng ta.

Tuy vậy, phụ nữ làm một cuộc hành trình đơn độc vào nơi nguy hiểm, luôn là câu hỏi đầu tiên nên cả hai đều giải thích qua tác phẩm.

Robyn viết, “cảm thấy chán ngán với những điều lập lại trong đời mình, những cố gắng nửa vời, những kết quả dang dở, hết việc làm này đến việc làm khác, hết học cái này đến học cái khác; tôi chán cái tự mình chiêu đãi những mặc cảm tự ti, tự cho mình hèn kém, một thứ bệnh tật của thế hệ chúng tôi, phái nữ của tôi, và giai cấp của tôi.”

“Tôi quyết định làm một điều mà ngay lúc ấy tôi không thể giải thích suôn sẻ. Tôi chọn lựa điều muốn làm chỉ thuần là bản năng, rồi sau đó mới tìm ra ý nghĩa cho nó. Cuộc hành trình này không bao giờ, trong ý nghĩ tôi, là một cuộc phiêu lưu để chứng mình một điều gì đó. Tôi thấy điều khó khăn nhất là sự quyết định hành động, mọi sự sau đó chỉ cần cố gắng kiên trì. Sự sợ hãi chỉ là con cọp giấy mà thôi. Người ta có thể làm bất cứ điều gì người ta thật sự muốn làm, như thay đổi việc làm, dọn nhà đến ở nơi khác, ly dị người hôn phối, hay bất cứ điều gì người ta cần phải hành động để thay đổi và tự lèo lái cuộc đời mình. Phương pháp thực hiện và diễn tiến đưa đến kết quả, tự chúng đã là phần thưởng.” Trang 38 của Tracks. Nguyễn thị Hải Hà dịch thoát ý.

Sheryl gặp Albert ở một trạm dừng chân trên Pacific Crest Trail. Albert, 52 tuổi, là người có kinh nghiệm hiking đường dài. Ông giúp Sheryl loại bỏ hành lý không cần thiết cho nhẹ bớt đi, và lúc chọn lựa đồ, ông hỏi cô vì sao làm chuyến đi này. Sheryl viết,

“Cháu muốn thổ lộ với bác – tại sao cháu quyết định hiking PCT? Cháu ly dị chồng. Cháu có gia đình, mới đây cháu ly dị, và khoảng bốn năm trước mẹ cháu chết – Mẹ cháu chỉ mới 45 tuổi, bất ngờ bị ung thư, rồi chết. Thời kỳ này cháu bị khủng hoảng trầm trọng và cháu trở nên sai lầm, đi chệch hướng. Vì vây . . . ” Ông nhìn tôi, mắt mở to hơn. “Cháu nghĩ đến nơi hoang vắng này sẽ giúp cháu tìm thấy trọng tâm của đời mình. Tôi xoa hai tay như vò nát một cái gì đó, vô hình, không tìm ra lời để nói, hơi ngạc nhiên khi thấy lời nói nghiêng ngã tuôn chạy ra khỏi mồm. Wild, trang 115. Nguyễn thị Hải Hà dịch thoát ý.

Những đoạn văn trích từ quyển Tracks và Wild cho độc giả thấy lý do vì sao họ làm một chuyến đi bộ đường dài một mình vào nơi hoang dã cô tịch. Đó là những điều họ nói ra. Người đọc có thể nhận ra những lý do khác họ không nói, không muốn nói, hay không thể nói.

Cả Tracks và Wild đều được làm thành phim. Tôi xem phim Wild với cô con gái út. Phim có nhiều cảnh trần truồng, khá thô tục khiến tôi cảm thấy ngượng khi đi xem với con. Tracks ít sex, kín đáo hơn. Cảnh trong phim Wild rừng núi hồ ở Mỹ màu sắc hơn. Tracks vì diễn viên đi qua sa mạc Úc, đường dài toàn màu đất đỏ. Người Úc dùng chữ tracks, người Mỹ dùng chữ trail. Tracks của Robyn Davidson là đường mòn, không được đánh dấu kỹ càng, có nơi mất dấu, nên khó đi hơn. Pacific Crest Trail mới thành lập, vẫn được tiếp tục bổ sung, sửa chữa, trang bị. Đây là một trong những con đường xuyên rừng núi khá đông người đi. Qua hai quyển sách, đường Pacific Crest Trail, có lẽ an toàn hơn và dễ đi hơn.

Trong Wild, Sheryl cũng gặp ít nhất là một phụ nữ đi một mình trên PCT. Lý do? Người ấy nói, muốn tìm một cái gì đó ở nội tâm của mình. Cả hai phim đều cho thấy, phụ nữ khi cô độc vượt ngàn dặm đường, họ thường được chú ý, giúp đỡ hơn là đàn ông.

Xem phim, khán giả có thể tưởng lầm là cả hai cô gái, Robyn và Sheryl, bốc đồng, khờ khạo hay điên rồ, hoặc muốn được chú ý tìm cách để nổi tiếng khi làm một chuyến đường dài tự đày đọa mình như thế. Tôi không nghĩ thế.

Tôi thấy cả hai đều có khuynh hướng viết văn, tìm một chủ đề lạ và hấp dẫn, đủ làm cho mình say mê để viết, và độc giả sẽ thích. Cả hai đều chuẩn bị cuộc hành trình khá kỹ lưỡng. Robyn đã bỏ ra cả năm trời đi học cách huấn luyện lạc đà, dùng lạc đà để chuyên chở hành lý của nàng. Tại sao lại là lạc đà, vì con đường Robyn đi xuyên qua sa mạc, không dành cho xe ô tô, không có chỗ đổ xăng. Muốn đổ xăng phải đi ra khỏi đường mòn. Cả hai đều có bạn bè, người thân, giúp chuyển đồ tiếp tế đến những trạm tiếp vận. Chuyến đi được chuẩn bị kỹ càng do đó đỡ nguy hiểm hơn, tuy vậy vẫn có những bất trắc không lường trước được.

À, Robyn trong Tracks có súng để tự bảo vệ. Cô nàng bắn chết vài con lạc đà đực đang thời kỳ kiếm vợ, có thể xông vào bất cứ thứ gì nó gặp, mà đoàn lạc đà của Robyn thì con dẫn đầu lại là lạc đà cái, nên rất nguy hiểm. Robyn có con chó rất khôn ngoan. Khi con chó chết tôi khóc rưng rức theo tác giả. Đoạn văn Sheryl tả đang ngủ cô có cảm tưởng như hàng ngàn bàn tay li ti chạy nhảy trên thân người của cô cũng làm tôi cảm thấy rờn rợn. Trong phim có chiếu thoáng qua cảnh những con tree frogs leo lên trên mền ngủ của Sheryl nhưng nhanh quá không đủ làm người xem cảm thấy cảm giác lạnh lẽo rờn rợn của những bàn tay cóc trên da người. Trong Wild cũng có cảnh bắn ngựa nhưng chỉ là hồi tưởng của Sheryl.

Cả hai cuốn sách đều hấp dẫn, người đọc sẽ gặp nhiều ý nghĩ đáng suy ngẫm. Robyn Davidson viết Tracks khi đang tuổi ba mươi. Khi bắt đầu chuyến đi bà chưa nổi tiếng nhưng cũng quen biết nhiều người trong giới viết văn. Bà được Rick Smolan nhiếp ảnh gia của National Geographic Magazine giới thiệu nên được đặc san này đài thọ chuyến đi. Số tiền nhỏ, tượng trưng thôi, chừng 4 ngàn đô la, nhưng cũng giúp Robyn khá nhiều. (Hình như số tiền National Geographic Magazine dành cho chuyến vượt sa mạc của Robyn lớn hơn nhiều chứ không phải chỉ 4 ngàn, nhưng Rick Smolan được toàn quyền quyết định chi tiêu và ông ấy chỉ bỏ ra 4 ngàn để giúp Robyn tổ chức chuyến đi. Số tiền còn lại ông dùng để làm gì? Tôi đoán, để đài thọ những chuyến đi chụp ảnh khác). Khi Robyn viết quyển Tracks bà ở chung nhà với Doris Lessing (vâng, đúng là nhà văn được giải Nobel). Và có một thời gian bà sống chung với Salman Rushdie (lại thêm một nhà văn nổi tiếng trên thế giới). Sheryl đã từng giữ một cột báo chuyên giải đáp tâm tình tư vấn và xuất bản những bài báo này trong quyển “Tiny Beautiful Things: Advice on Love and Life from Dear Sugar Torch.”

Chuyến đi đường dài đã thay đổi cuộc đời của mỗi tác giả theo chiều hướng tốt đẹp hơn. Nhất là trong Wild, từ thác loạn tình cảm Sheryl đã tự tiết chế, người đọc nhận ra được sự phân vân giữa cái cám dỗ và dừng lại của người viết. Rất thú vị. Tracks xuất bản năm 1980. Wild, xuất bản năm 2012. Những chi tiết đồng dạng giữa hai quyển sách làm tôi không tránh khỏi cái ý nghĩ tác giả của Wild chịu sự ảnh hưởng của Tracks.

Điểm đặc biệt, rất quan trọng của quyển Tracks tôi để cuối bài mới nói đến. Robyn Davidson miêu tả cuộc sống của thổ dân Aborigines rất chi tiết. Người Aborigines bị chiếm đất, ngày càng bị đẩy vào những vùng đất khô cằn không thể canh tác, không được tiếp cận học vấn dễ dàng, vì thế đời sống của họ ngày càng nghèo khó kiệt quệ. Chính phủ Úc đã cắt giảm ngân phí tài trợ thổ dân khiến cuộc sống của họ ngày càng khó khăn, bệnh tật không có nơi chữa trị. Nền văn hóa của họ ngày càng bị xóa mờ. Không chỉ là một cuộc phiêu lưu tìm kiếm bản thân, Robyn Davidson đã thực hiện một chức năng nghiêm chỉnh của nhà văn, là nói lên tiếng nói của những người bị bóp nghẹt. Bà Davidson đã biểu lộ rất nhiều thiện cảm với người thổ dân Úc. Họ đã giúp đỡ bà rất nhiều trong chuyến đi. Vì bà phải đi ngang vùng đất cấm, vùng đất thờ phượng tổ tiên của người Aborigines nên cần phải có một trưởng lão đi với bà. Eddie, vị trưởng lão tuy không biết nhiều tiếng Anh nhưng trở nên một người bạn rất thân của Robyn, đã dắt Robyn đi bộ 200 miles qua vùng cấm địa. Thỉnh thoảng ông được cưỡi lạc đà nhưng hình như không thích lắm.

Xin nói thêm là quyển sách của Robyn xuất bản năm 80, do đó tình trạng của người Aborigines đến nay chắc hẳn là đã được chính phủ Úc tài trợ khá hơn xưa rất nhiều.

Thú vật ở sân nhà tôi

Sau nhà tôi là một khoảnh rừng nhỏ. Cây to và cao, khá rậm rạp nên tôi gọi là rừng cho nó oai. Trước nhà tôi cũng có bốn cây sồi cao vài chục mét, vòng tay ôm không hết.

Là rừng nên có nhiều thú. Nai đến thường xuyên, sáng sớm và chiều tối. Nhiều khi không nhìn thấy nhưng nghe tiếng bước chân. Thỉnh thoảng có gì đó, chẳng biết đau đớn hay bực tức, nai cũng kêu bah bah vang trời. Mùa đông cây lá trơ trọi thỉnh thoảng có con cáo màu cam đậm gần giống như màu đỏ, len lén đến ăn thức ăn dư của mèo.

Bên cạnh nai và cáo, còn có sóc, chipmunk, mấy con mèo hoang thì coi như thường trú nhân. Hai con mèo Mun và mèo Xám thay phiên nhau, hễ con này nằm trên sàn gỗ thì con kia nằm trên sân cỏ hay lối đi, nghênh nhau, cãi nhau, đánh nhau, rồi coi như chấp nhận sự hiện diện của nhau. À, mà mấy lúc gần đây không còn thấy con sóc nào nữa cả. Hồi đầu xuân thấy có chipmunk nhưng có lẽ mấy con thú nhỏ như chuột này đã bị mèo hoang rượt chạy (hay ăn thịt) mất rồi. Gà tây thỉnh thoảng cục tác quang quác đâu đó sau những bụi rậm trên đồi.

Những con thú ít đến hơn, hoặc chỉ đến lúc khuya, buổi trưa vắng người có con ground hog. Tôi nghĩ nó là con ground hog nhưng những người ở miền viễn tây gọi là con marmot, hoặc hai con hoàn toàn khác nhau mà tôi thiếu hiểu biết nên tưởng là một con. Marmot thì cả gia đình một mẹ hai hay ba con. Có gia đình gấu mèo (raccoon) một mẹ và hai đứa con trông khá xinh. Trong gia đình, có cô em út rất là không thích gấu mèo bảo là trông rất ghê. Tôi thấy mỗi loại thú có vẻ đẹp riêng của nó. Tuy vậy, có một con mà dễ tính như tôi cũng thấy nó xấu xí đến độ ghê tởm đó là con opossum. Có một đêm trước khi đi ngủ tôi mở đèn nhìn ra sân sau thấy trong ổ mèo có cái chân màu trắng, tưởng là có con mèo lạ đến ngủ, xem kỹ lại thì đó là con opossum. Nó trắng nhờ nhờ, cái đuôi vài cọng lông le que, nó giống như một con chuột cống khổng lồ bị bệnh bạch tạng. Opossum là giống vật khôn ngoan, tôi lấy cán chổi lau nhà đẩy nó đi. Nó chống lại rồi giả chết nằm bất động nhưng con mắt vẫn láo liêng.

Mấy hôm nay có con skunk đến sục sạo thức ăn mèo, nhưng buổi chiều tôi cho thức ăn ít đi nên mấy con mèo và chim blue jays đã ăn hết. Con skunk lại khá xinh, nó giống như một con sóc đen cái đuôi có sọc trắng. Khi sợ hãi nó tiết ra cái mùi hôi nồng nặc. Con skunk này đến đã nhiều lần vì có nhiều khi trong đêm, mùi hôi của nó bay vào từ cửa sổ, chẳng biết nó sợ cái gì. Tôi tiến đến gần suỵt suỵt đuổi nó đi. Tôi tiến một bước, nó nhảy lùi một bước, mà bước của nó rất ngắn nên giống như chẳng lùi tí nào. Cuối cùng, tôi là người rút lui, vì sợ nó tiết ra mùi hôi độc đáo của nó.

Ngoài thú còn có rất nhiều chim. Bên cạnh blue jay có những con chim tôi không biết tên. Mấy hôm nay có vài con hummingbird đến hút mật hoa dâm bụt, năm nay hoa nở xum xuê. Sân trước thì ngày nào cũng có mourning dove lò dò gật gù mổ hạt hay côn trùng trên cỏ. Bụi trúc trước nhà trở thành rậm rạp lúc trước hay thấy mấy con cardinals bay tới bay lui nhanh như những vệt sáng màu đỏ.

Nếu tôi phải dọn nhà đi chỗ khác, thì mấy con thú này, làm sao đây?

Cầu Golden Gate, chụp hồi tháng 8 năm 2019

Ảnh chẳng có liên quan gì đến mấy con thú sau rừng. Chỉ nghĩ đến đi chơi nên lục ảnh cũ ra xem. Chúng tôi đậu xe ở Fort Baker ở phía bên kia cầu, đi bộ lên cái trail, rồi trở lại đầu trail có đường đi bộ băng qua cầu. Đến đầu cầu bên này, chơi, ngắm cảnh chung quanh, chụp tấm ảnh rồi đi bộ trở lại về chỗ đậu xe.

Crabapple, hạc, và rùa

Ngày 18 tháng Tám 2021, đi xe đạp như thường lệ, tôi thấy crabapple đã ra trái. Về nhà lục ảnh cũ ra xem, thấy hoa của cây crabapple nở vào giữa tháng Tư cho đến cuối tháng Tư. Tấm ảnh dưới đây chụp ngày 20.

hoa crabapple nở tháng Tư
Crabapple có nhiều loại, có loại hồng có loại trắng
Trái crabapple, rất nhỏ, cỡ lớn hơn trái trứng cá chút xíu thôi.

Crabapple thuộc giòng (genus) Malus, có mấy chục loại khác nhau. Trái nhỏ có lớn có. Màu từ xanh đến vàng đến cam đến đỏ. Crabapple có nhiều cách viết. Có người viết tách rời ra, crab apple. Nó cũng có nhiều tên, wild apple, hay rainberries. Táo mọc hoang, táo dại, hay táo còi. Trái rất chua, lúc chín cỡ mùa thu có thể có vị ngọt, rất ít. Táo bên này trồng rất nhiều, giá khá rẻ so với các loại trái cây khác nên chẳng mấy người đi hái crabapple để ăn, vì chẳng những chua, nó còn chát. Tuy vậy, khi nó bắt đầu chín nếu làm mứt, như mứt tầm ruột, có lẽ dễ ăn. Hay đem muối chua (nếu siêng) như trái olive chắc ăn được.

Hạc xám (great blue heron) ở ao bèo trên đường đến Blackwells Mills road.

Mới mấy bữa trước, đi xe đạp không thấy con hạc nào. Hôm 18 tháng Tám lại thấy rất nhiều hạc xám ở những chỗ quen thuộc, từng gặp từ năm 2020. Thí dụ như vừa ra khỏi Canal Park quẹo tay trái, đi về hướng Weston Causeway, độ chừng năm hay mười phút, thường có con hạc xám tìm thức ăn ở bên kia bờ sông.

Con hạc trong tấm ảnh bên trên tôi chụp ở ao bèo. Qua khỏi đường Amwell Road cắt ngang đường trail D&R, đi bộ chừng 15 phút sẽ thấy cái ao bèo bên tay phải. Mùa hè năm ngoái tôi cũng gặp con hạc xám săn cá ở đây. Bèo kín mặt nước, không hiểu làm sao nó thấy được cá để mà săn. Đi thêm năm phút nữa sẽ thấy một bờ kè quang đãng, chạy phía dưới hàng điện cao thế nên người ta dọn rất sạch sẽ trống trải. Cả một cánh đồng tùy theo mùa, mùa xuân mọc nhiều hoa diên vỹ, mùa này hoa dâm bụt. Ở cánh đồng quang đãng này tôi thường gặp con hạc xám bay là là rồi đáp xuống rặng cây. Phía sau có ngôi nhà thờ màu trắng thỉnh thoảng nghe chuông đổ từng hồi. Có khi thấy con hạc tơ lò dò cạnh bờ kênh, thấy tôi đi tới nó thong thả bay sang bờ bên kia để cho tôi chụp ảnh tự nhiên.

Con hạc xám đi thẩn thơ trên đường trail, phía sau nó là hai người câu cá. Trước đó họ chụp ảnh con hạc nhưng né ra phía bờ sông khuất sau bụi cây để con hạc được tự nhiên. Phía trước mặt hạc là dòng kênh (bên tay trái của người xem ảnh là sông Raritan vừa mới nhập vào sông Millstone, bên tay phải là kênh đào D&R). Ông Tám đạp xe đến gần, tôi ở phía sau xa hơn. Khi con hạc cất cánh bay, nó không bay về hướng kênh trước mặt, mà bay ngược lại bên kia, đậu là là trên ngọn cây trước mặt hai người câu cá, một lúc sau mới bay qua bên kia sông rồi lại bay dọc theo dòng sông hướng về Canal Park.

Honeysuckle hay kim ngân, một năm nở hai lần, cuối xuân và cuối hè

Năm nay ít thấy rùa. Mùa thu năm 2020 người ta vét kênh, có lẽ vì thế mà mất đi rất nhiều rùa. Năm nay chỉ còn thấy mấy con rùa nhỏ xíu. Rùa lớn hoặc bỏ đi, hoặc bị máy hút bùn hút hết rồi chăng? Một sự thay đổi có vẻ mơ hồ, không mấy ai nhận thấy nhưng đó là một sự thay đổi rất lớn với các loài thú sống trên kênh này.

Chuyện trong nhà ngoài ngõ

Hoa mọc ven bờ kênh D&R chụp trên đường đi bộ

Trên thế giới. Haiti bị động đất lớn, số người chết đã hơn một ngàn. Afghanistan đang náo loạn vì Taliban đánh nhanh thắng mạnh. Tình trạng hỗn loạn giống như Việt Nam hồi 30/4/75. Hoa Kỳ nhập cuộc chiến tranh Afghanistan cũng tương tự khi nhập cuộc chiến tranh Việt Nam. Bắt đầu bằng cuộc đảo chính lập nhà cầm quyền mới, dân Afghanistan phản đối nhà cầm quyền mới bảo là chính phủ bù nhìn. Cũng một chính sách đối ngoại mấy mươi năm không có gì thay đổi.

Trong nước Mỹ, dịch bệnh với biến thể vẫn hoành hành dữ dội. Số ca bệnh mới, lấy trung bình của 14 ngày trước, là 141,365 (theo báo NYT). Số người chết 704. Thống đốc tiểu bang New York từ chức vì tội dê. Tôi không bênh vực ông, nhưng tội nghiệp. Giữa lúc cơn bệnh Covid 19 hoành hành NY từ năm ngoái, tôi người dân NJ nhìn ông như một ngọn hải đăng, hằng ngày ông đăng đài cho biết tình hình, tin tức, có phần nào trấn an. Ông làm việc, có hiệu quả trong việc đương đầu với nạn dịch, trong khi ông Tông Tông thì giao trách nhiệm cho địa phương.

Tôi nhận ra, mình tuổi già sức yếu. Mấy bữa trước trời nóng, đạp xe, suýt ngất. Hôm ấy tôi mang theo chai nước đá. Có lẽ vì nước quá lạnh nên uống ít nước. Cả chuyến đi thì không sao. Lượt về chỉ còn 3 miles là đến chỗ đậu xe, tôi thấy mệt, choáng váng, mặt mũi tối sầm lại, muốn nôn nhưng không nôn. Tự hỏi mình bị gì, heart attack hay stroke. Ngực không đau, chỉ hơi mỏi cổ, mỏi vai. Tôi ăn sáng ăn trưa đầy đủ. Sợ ngã, tôi dừng xe, ngồi bệt xuống đất, hai cánh tay bắt đầu tê mỏi, mười ngón tay chụm lại, trắng bệt. Ông Tám xoa nắn hai bàn tay một hồi tôi thấy đỡ mệt. Đứng dậy đạp xe đi tiếp. Có lẽ tôi bị tình trạng gọi là heat cramp chăng? Nghĩ, lạnh quá có thể chết mà nóng quá cũng có thể chết đấy. Lại nghĩ, coi vậy chứ chết không dễ dàng đâu.

Viết đến đây lại chợt nhớ bốn câu thơ của một người bạn trẻ. Trẻ nhưng là cây bút đã có nhiều bài đăng trên các tạp chí tên tuổi lẫy lừng đó nhé. Bốn câu thơ của Winlinh như sau:

Từng ngày qua vẫn sống.
Thật may mắn diệu kỳ.
Hãy thấy biết ơn đi.
Vì mình còn đang thở.
Tác giả – Winlinh
10

Xem ảnh cũ

Một nơi nào đó trên đường đến Lake Tahoe

Nếu bạn cũng như tôi, thích chụp ảnh, thì có những lúc như thế này, như hôm nay, ngồi nhà, sáng sớm nghe chim vừa hót vừa hét ở rừng cây sau nhà, khí trời trong trẻo và mát mẻ, không bận rộn, không có gì cấp bách, không đi đâu, không có chuyện gì hay để kể, là lúc mở ảnh cũ ra xem.

Tháng 8 năm 2020 tôi đi dọc bờ kênh D&R. Tháng 8 năm 2019 tôi trên đường đi đến Lake Tahoe. Ngày 9 tháng Tám tôi đặt chân đến phi trường Los Angeles. Ngày 24 tháng Tám tôi ngồi trên máy bay ngó xuống phi trường Newark ban đêm sáng rực ánh đèn. Trong hai tuần lễ ở California tôi đi vài ba chỗ. Ảnh chụp bằng máy Canon Powershot G1X Mark III, toàn để tự động, nên tuy không được đẹp nhưng vẫn có ảnh để xem. Coi như mình làm một cuộc du lịch bằng hình ảnh.

Tấm ảnh bên trên, nhắc tôi nhớ rằng tôi đang ở đâu đó, một nơi trên núi rất cao, chỗ tôi đứng có cùng chiều cao với đầu của những ngọn thông. Những cây thông ở vùng rừng núi California, bạn dư biết, rất gầy và rất cao. Cây nào cũng cố ngoi lên trời để hướt chút ánh sáng và hơi nước. Chen chúc quá, chật chội quá. Ngoi lên để thở.

Dọc bờ biển California, ở một nơi gần đoạn đường 17-mile cảnh đẹp.

Tấm ảnh dưới đây, theo tôi, một người ở bờ Đông Bắc Hoa Kỳ mới nhìn thấy California một hai lần, thì những ngọn đồi trọc này thật là thu hút. Ảnh chụp bằng phone qua cửa kính. Mở tấm ảnh bằng computer, zoom gần hơn bạn sẽ thấy bụi cây nhỏ xíu nơi gần góc 1/3 tấm ảnh là một building khá to, hình như là một căn cứ quân sự, có thể đây là nơi học tập bắn súng.

Những ngọn đồi trọc ở California
Cô gái chèo kayak trên hồ Tahoe. Tiếng là hồ mà nhìn không thấy bờ bến gì, có vẻ như là biển vậy.

Bây giờ xem lại ảnh cũ, tôi thầm tiếc vì đã không có ảnh ở vườn nho. Chúng tôi chọn chỗ trọ ở Vallejo, cái B&B không có máy lạnh, cuối tháng Tám vẫn có những ngày nóng đến ngạt thở. Tôi chọn đi viếng những địa điểm liên quan đến các nhà văn nổi tiếng của California như John Steinbeck và Jack London. Bây giờ xem lại, thì thấy ảnh không có gì đặc sắc. Đi vườn nho liên tiếp hai ngày nơi nổi tiếng với những hầm rượu nho mà không có tấm ảnh nào để khoe. Thế giới bao la quá, có nhiều chỗ mình chưa đi chưa xem, có bao giờ mình có cơ hội trở lại một nơi mình đã đi qua không?

Tôi đi du lịch một mình

Một cô bạn trẻ nói lý do cô đi du lịch một mình. Bài viết rất thú vị, xin mời bạn đọc.

Táo Jo Travel

Hôm trước đọc bài viết của cô Tám về những góc nhìn dành cho phụ nữ đi du lịch một mình. Lúc đó tôi nghĩ, lần trước mình cũng có viết một bài về chủ đề này, thậm chí còn nhớ là mình từng viết những gì trong đó. Nhưng rồi đi tìm hết chỗ này chỗ nọ, tìm đi tìm lại cũng không thể thấy được bài viết đó ở đâu, đành chịu.

Nói về đi du lịch một mình, tôi cũng là một người có chút kinh nghiệm. Từ hồi đại học tôi đã bắt đầu có một vài chuyến đi một mình. Sau đó, ở chuyến du lịch đầu tiên bằng tiền tự mình kiếm được sau khi đi làm, tôi đi một mình. Chuyến đi nước ngoài đầu tiên, tôi đi một mình. Và chuyến đi xa nhất, ở nước ngoài dài ngày nhất tôi cũng…

View original post 2,155 more words

Đi một mình trên John Muir Trail

Không được đi đâu tôi du hành bằng phim. Mượn cuốn phim “Mile Mile and a Half” ở thư viện về. Phim nói về John Muir Trail. À mà bạn đừng hiểu lầm tôi đi một mình ở đường trail nổi tiếng này nha. Người đi là một cô gái Nhật, tên là Kayuzo. Tôi đề cập đến cô để tiếp nối bài “Đi du lịch một mình” tôi viết hôm trước. Cái tựa đề “Mile Mile and a Half” được giải thích như thế này. Khi đi xa, lạc lối, hỏi đường thì người ta thường trả lời, đi tiếp đi, không xa lắm đâu, chừng một dặm hay dặm rưỡi thôi.

John Muir Trail, JMT, là con đường xuyên rừng núi có chiều dài 213.7 mile (cứ 1 mile tương đương 1.6 km, bạn cứ thế mà nhân lên). Bắt đầu từ thung lũng Yosemite Valley, một trong những công viên cấp quốc gia, national parks, nổi tiếng của Hoa Kỳ, JMT chạy xuyên qua King Canyon, Sequoia cho đến Mount Whitney, toàn là những địa điểm hoang dã lừng danh. Khoảng 160 miles của JMT trùng lập với Pacific Crest Trail, một đường trail khác, dài hơn và nổi tiếng không kém, có lẽ càng được nhiều người biết hơn sau khi phim Wild ra mắt công chúng. Tổng cộng chiều dài con đường lên dốc những đỉnh núi của JMT là 47000 ft. (tương đương với 14 km).

Nhóm làm phim tài liệu JMT bao gồm 6 người, trong đó có một phụ nữ. Ở đầu phim, họ có nói lý do vì sao họ làm chuyến du hành xuyên rừng này. Người phụ nữ duy nhất trong nhóm làm phim, Jen Serena, là still photographer (chụp ảnh phong cảnh). Chị có đứa con gái để ở nhà, vì thế chị rất nhớ con. Chị nói, “Tôi muốn làm một cái gì đó cho riêng tôi, vì thế mà có chuyến đi (gian khổ) này. Tôi đi cho tôi, vì tôi, để chứng tỏ là tôi có thể làm được chuyện ấy.” À, nhưng mà chị không đi một mình. Chồng của chị cũng ở trong nhóm làm phim. Quay phim. Đạo diễn. Viết kịch bản cho phim. Chuyến đi này cũng trùng với sinh nhật của chị. Không nói ra nhưng có thể là chị tặng cho chị món quà sinh nhật chăng? Trưởng nhóm bảo rằng anh có ý muốn làm cuốn phim tài liệu về con đường xuyên rừng núi nổi tiếng này từ lâu. Họ bắt đầu cuộc hành trình có lẽ vào tháng Năm, ở những nơi có nắng tuyết bắt đầu tan tạo thành những con thác, con suối thật hùng vĩ. Trên đỉnh cao tuyết vẫn còn rất dày. Họ ngồi trượt tuyết xuống núi như trẻ con thật vui vẻ và ngoạn mục.

Vì là nhóm làm phim tài liệu và nhiếp ảnh gia nên dọc đường họ quay phim chụp ảnh rất nhiều. Đi lên đến đỉnh núi rồi họ làm gì? Họ đi xuống. Nhưng trước khi xuống núi, mỗi người phải làm một bài thơ. Haiku chứ chẳng giỡn đâu.

“He hiked it north bound
We went the opposite way.
Souls crossing today.”
Bài thơ của Ric Serena, nhà làm phim.

Họ bắt đầu đi là 6 người nhưng một người đi được một ngày thì bỏ cuộc vì không đủ sức. Cuộc hành trình kéo dài một tháng. Về sau có nhiều người nhập bọn. Và những người nhập bọn này làm cho phim phong phú hơn. Trong số người đến sau có hai nhạc sĩ (Paul and Bernie). Họ đi để tìm cảm hứng sáng tác. Một người sử dụng cây đàn ukulele. Người kia chơi xylophone. Hai nhạc cụ nhỏ xíu giống như hai món đồ chơi. Họ hát vài bài do họ sáng tác. Tiếng đàn vui, réo rắt, nhịp nhàng. Âm điệu (melody) ngọt ngào. Tuy nhiên, lời bài hát (lyric) lại mang một tâm trạng thật là buồn bã. Lời của một người chìm dưới đáy biển.

Bottom of the sea is where I’m gonna be. ‘Cause everytime I surface, I sink. It’s a little dark and a little too cold. And my lungs are full of water, I think… . I might open my eyes underwater ’cause that’s where the salt blends in with the sea. That’s where I’m gonna be.

Sau đó có hai anh em họa sĩ tham gia. Người anh 23 tuổi. Người em gái 16, 17 hay 18 tuổi, tôi quên. Đoạn đường cuối cùng có thêm 5 người, trong đó có Kayuzo.

Kayuzo đi một mình trọn con đường JMT. Và có lẽ vì cô đi một mình, thân gái dặm trường, nên cô được tất cả mọi người chú ý. Cô là ngôi sao trong đoạn cuối của cuốn phim. Cô biết tiếng Anh nhưng không nhiều. Cô nói trong phim bằng tiếng Nhật có phụ đề tiếng Anh.

“Tôi nhận ra tôi đã khá kiệt sức. Và tôi còn nhiều thì giờ lắm nên chẳng có gì phải vội vã. Càng quan trọng hơn, là khi chấm dứt đoạn đường xuyên rừng núi John Muir Trail tôi không muốn uống ly bia (để tự thưởng) một mình… . Người ta thường bảo rằng đường lên đỉnh Mount Whitney là mục đích tối hậu của JMT. Vì thế từ những ngày cắm trại trước đây cho đến chặng đường lên tới đỉnh, tôi nghĩ về những khó khăn tôi đã đương đầu, và vì có rất nhiều người đã giúp tôi, nên tôi rất cảm kích. Thú thật, nước mắt tôi chảy không ngừng trong những bước tôi đi. Tôi cũng nhận ra rằng có rất nhiều người trên đoạn đường này có cảm xúc giống tôi. Những người thật đáng mến phục. Đó là kinh nghiệm quí giá nhất để lại trong tôi.”

Không biết Kazuyo có viết lại những gian khổ cô đã gặp trên đường JMT. Tuy nhiên, qua chuyến đi đến đích an toàn của cô, chúng ta có thể kết luận rằng phụ nữ đi du lịch một mình không đến nỗi đáng sợ cho lắm. Và như một cô bạn trẻ của tôi đã nói. Đi một mình cô được chăm sóc ưu ái hơn bình thường. Bình thường ở đây có nghĩa là đi du lịch chung với ai đó. Cô gái Nhật đã không nói lý do vì sao cô lại đi một mình ở đường JMT của Mỹ trong khi ở Nhật cũng có rất nhiều đường trail đẹp, nổi tiếng, và an toàn. Phải chăng, ở mỗi người phụ nữ đi một mình, đều có phần nào muốn chinh phục một điều gì đó. Có khi là để khắc phục tính hay lo sợ, hay bản chất nhút nhát của họ?

“Làm chuyến đi một mình thành công như thế, người ta nhận thấy rằng người ta có thể làm bất cứ điều gì họ thật sự muốn làm. Cho dù đó là thay đổi công việc, dọn nhà đi chỗ khác, ly dị chồng, hay bất cứ điều gì, nếu người ta muốn tự điều động cuộc đời mình; và phương pháp thực hành, hay diễn tiến của sự việc, sẽ là phần thưởng cho người ta.” Ai nói vậy? Robyn Davidson tác giả quyển Tracks tôi mới chấm dứt hôm qua hay hôm kia.

Không có ảnh John Muir Trail. Đi du lịch bằng phim mà làm gì có ảnh tự chụp. Tôi thay thế bằng tấm ảnh tôi ở trên núi cao nhìn xuống. Một nơi nào đó trên đường đi đến Lake Tahoe. Hồi mới bắt đầu chụp ảnh, để máy tự động, tấm nào cũng cháy ánh sáng. Bạn xem đỡ vậy thôi. Cuốn phim mở đầu và kết thúc bằng một bài hát của Opus Orange “Nothing But Time.” Có lẽ những người du hành đường dài là những người rất là may mắn. “We’ve got nothing but time.” Họ không có tài sản gì chỉ có dư thời gian. Mà bạn cũng biết. Thì giờ là tiền bạc. Về hưu như tôi người ta gọi là tỉ phú thời gian. Thời gian thì có đó nhưng thời dịch bệnh nên không đi đâu được.

Lake Tahoe National Forest

Đi du lịch một mình

Một người bạn hỏi tôi, tại sao phụ nữ đi du lịch một mình vào chốn nguy hiểm như rừng sâu núi thẳm. Câu hỏi rất hay, tôi có thể trả lời câu hỏi này, nhưng câu trả lời của tôi sẽ đơn giản, nông cạn, vì tôi không biết ý nghĩ của các phụ nữ khác. Tôi lại không phải là người đi du lịch nhiều nơi. Những chỗ tôi đi chỉ vài ngày, hay vài tuần, con số đếm chưa hết một bàn tay. Tôi viết lại câu hỏi này, ở đây, để tìm hiểu thêm.

Những người chuyên viết về du lịch, du hành, họ phân biệt hai loại: tourist và traveler. Tourist là người du ngoạn, xem cảnh đẹp, những trải nghiệm ngắn ngày như ăn thức ăn địa phương, ở khách sạn đẹp và nổi tiếng, v.v… Traveler thì tôi thật tình không biết dịch là gì, giải thích thế nào. Tôi thấy traveler cũng (gần) giống như tourist nhưng trải nghiệm sâu sắc hơn, họ quan tâm đến đời sống, văn hóa, mỹ thuật. Họ ở lâu hơn, không quá chú trọng đến địa điểm đến, mà chú trọng về trải nghiệm, về đoạn đường họ đang đi và sắp đến. Chỗ này thì bạn tha cho tôi, tôi chỉ hiểu đại khái, và chưa có dịp nghiên cứu sâu sắc nên ấm ớ ở đây. Traveler, tạm gọi là người du hành, bao giờ bạn đọc cao kiến hơn chỉ dạy thì tôi sẽ sửa sau, họ đi để tìm kiếm và thỏa mãn một nhu cầu gì đó trong nội tâm.

Đàn ông đi du lịch một mình thì nhiều, chẳng mấy ai thắc mắc. Gần đây có nhà du hành Paul Salopek, đi bộ vòng quanh thế giới, chuyến đi bắt đầu từ năm 2013 dự định kéo dài 7 năm. Giờ đã giữa năm 2020 không còn mấy người chăm chú theo dõi xem ông đã đi đến đâu. John Steinbeck, lái xe RV (loại xe to như cái nhà) băng ngang nước Mỹ với con chó Charley, viết thành cuốn sách. Sau này người ta kiểm chứng thấy ông có thêm vào những đoạn tưởng tượng chứ không hoàn toàn là sự thật. Thí dụ như ông không gặp Gorbachev như ông viết, vì thời điểm đó Gorbachev không đến Mỹ. Ông không hoàn toàn ngủ trên xe mà ở khách sạn có bà vợ ông thỉnh thoảng gặp ông.

Còn những người phụ nữ, vượt rừng, hay vượt sa mạc một mình, họ tìm kiếm gì? Để trả lời câu hỏi này, bạn sẽ phải đọc sách của những người phụ nữ đã đi và viết thành sách. Wild là một. Tracks là hai. Còn nhiều nữa nhưng từ từ lâu dài tôi sẽ đọc, ghi chép, và viết thêm. Ở Việt Nam, trong vòng các tác giả tôi đọc có Nguyễn Thị Bình An đi một mình ở miền Nam, một vài nơi ở miền Bắc và miền Trung, và một số nước lân cận như Thái Lan, Indonesia, Lào, Kampuchia, và hình như cả Mã Lai. Tôi không nhớ chắc chắn nên nếu có sai thì các bạn sửa giúp. Qua các bài du hành ký của An (còn gọi là An Việt Nam) tôi chưa nhận ra cô muốn tìm kiếm gì trong nội tâm. Bạn có thể nhận ra đa số những người du hành đều có những điểm chung, tìm hiểu về vùng đất họ đến, chụp ảnh, viết bài về địa điểm, và kể chuyện chuyến đi của họ. Tôi đi không nhiều, cốt ý đi chơi chỗ lạ, để thay đổi cuộc sống hằng ngày, và hy vọng được nhìn thấy những điều thú vị. Tôi luôn mong ước tìm thấy trong chuyến đi một câu chuyện gì đó, để khi về nhà có thể kể lại. Nhưng tôi không đi một mình. Không lặn lội trong rừng một mình. Dù không đến nỗi như nhiều du khách khác, đi để lấy số nhiều, đến một thành phố, chụp một tấm ảnh (hay thu một đoạn phim để chứng minh là có đến nơi này), rồi hấp tấp chạy đi nơi khác chụp thêm một hay vài chục tấm ảnh nữa, về nhà ngồi đếm xem mình đi được bao nhiêu chỗ, bao nhiêu quốc gia; tôi là tourist hơn là traveler.

Ngành travel writing của người Mỹ rất phong phú. Để trả lời câu hỏi phụ nữ khi du lịch một mình, họ tìm gì, tôi đọc sách du hành. Mới vừa đọc xong quyển The Best Travel Writing 2006 True Stories From Around The World của ban biên tập James O’Reilly, Lary Habegger, và Sean O’Reilly. Hebert Gold viết phần giới thiệu. Tôi ghi cặn kẽ ở đây để về sau nếu cần sẽ đọc lại.

Ngay truyện đầu tiên, như thể để trả lời câu hỏi của tôi, Judy Copeland trong bài “Music of the Storm” đã đặt câu hỏi. “Do you know what you are looking for?” Bạn có biết bạn tìm kiếm điều gì không? Copeland (khi làm chuyến đi này khoảng 40 tuổi nhưng kết thúc bài viết về chuyến đi 15 năm sau) cũng không biết rõ ràng lắm điều cô muốn tìm. Có vẻ như cô chạy trốn trước khi tìm kiếm. Cô biết những điều cô không muốn, nhưng không điều cô muốn tìm thì không cụ thể, ít ra là với người đọc. Cô tham gia đoàn thủy thủ của một chiếc thuyền buồm Indonesia nghe đồn dùng để chở hải tặc. Indonesia nổi tiếng có nhiều hòn đảo rất nhiều hải tặc. Người ta dọa là cô sẽ bị hiếp bị giết, nhưng cô vẫn đi, người ta càng cố thuyết phục cô đừng đi, cô càng cương quyết muốn đi. Người ta bảo rằng họ sẽ chẳng nhận phụ nữ, nhưng rất nhiều đoàn thủy thủ kêu gọi cô nhập bọn với họ.

Chiếc thuyền buồm (loại to schooner) gặp bão. Cô ói mửa, sợ đến “vãi đái” nước mắt đầm đìa trên mặt. Một người thủy thủ biết nói tiếng Anh đã săn sóc cô, cho cô uống trà nóng, đưa khăn cho cô lau, trong bóng tối. Khi cơn bão bắt đầu, cô nghe thoáng trong đầu tiếng nhạc, như những câu dân ca cô nghe lâu rồi và đã quên, hay những tiếng ngâm nga của người thời Trung Cổ. Mỗi nốt nhạc nghe phân biệt rõ ràng và rất thanh khiết.

“It makes no sense, I know, to say I went inside a note that night, or to say the note held an ocean within it, an ocean bigger than the one battering our ship. But from the moment my thoughts froze, I could neither speak nor move, much less form a rational idea. I felt only the one note, felt it pierce me with a delight that verge on pain, pulling me under, dragging me down to the bottom of a sea where it seemed very cold, yet the heat scared me. My ears rang, yet I heard nothing but silence. And I dwelled in that note until morning.”

“Nghe thật vô lý, tôi biết, khi nói rằng tôi nhập vào nốt nhạc trong đêm ấy. Hoặc nói rằng nốt nhạc ấy bao gồm cả đại dương, một đại dương to lớn hơn cái biển cả đang vùi dập chiếc thuyền tôi đi. Nhưng kể từ giây phút ấy, ý nghĩ của tôi đông cứng lại, tôi không thể mở miệng cũng không thể nhúc nhích, lại càng khó mà nghĩ một điều gì hợp lý. Tôi chỉ cảm nhận được một nốt nhạc, có cảm tưởng như nó xuyên thủng tôi với một lạc thú gần như là niềm đau, kéo tôi xuống, nhận chìm tôi dưới đáy biển sâu thẳm dường như rất lạnh, tuy vậy hơi nóng của nó làm tôi kinh hoàng. Lỗ tai tôi lùng bùng, nhưng tôi chẳng nghe thấy gì ngoài âm thanh của thinh lặng. Và tôi ở trong nốt nhạc ấy cho đến sáng hôm sau.”

Copeland kết thúc bài viết nói rằng, du hành với cô cũng như hơi thở vậy. Khi lớn tuổi, du hành không còn là sự ham muốn như cơn đói cơn khát, mà là một nghệ thuật đòi hỏi sự thực hành kỹ cương nghiêm túc. “Bây giờ, tôi cố thích ứng với bất cứ điều gì xảy ra trong chuyến đi, gối lên sóng mà bơi, mà nhớ rằng có âm nhạc trong tất cả mọi thứ chung quanh ta.” Tôi, người đọc, kết luận, cô đi tìm một nơi chốn mà chỗ ấy có thể đánh thức tiếng nhạc trong lòng cô. Một nơi mà nó làm cô vui thích đến độ trái tim cô nghe tiếng hát, hay tự nó hát lên, phát ra tiếng nhạc làm vui lòng cô.

Trường hợp của Copeland cũng hơi lạ. Cô đi một mình, nhưng là phụ nữ duy nhất trên chiếc thuyền buồm với mấy chục người đàn ông. Không. Cô không bị hiếp hay cắt cổ giữa đám người bị đánh đồng với hải tặc Indonesia. Trái lại cô được săn sóc tận tình. Tôi bỗng nhớ đến một câu hát của Hoàng Thi Thơ, tiếc là Copeland không biết câu hát này rất thích hợp trong trường hợp của cô. “Thì hỏi sao thế giới đông người ta chỉ thấy riêng ta.”

Hôm qua

Hôm qua cô con gái út gọi điện thoại. Hai chúng tôi nói chuyện khá lâu. Sau đó cô con gái lớn text vài chữ, coi như là đang nghĩ đến mẹ. Tôi gọi lại trò chuyện một hồi. Quá trưa một chút, cô em út của ông Tám mang cho tôi gói quà. Bảo là biết chị lười đi chợ nên mua quà cho chị. Cô cho một bó rau muống, hai hộp đậu hũ của Hàn, và một gói vừa trái vải vừa nhãn, vừa đủ cho chị ăn. Vì thế tôi rửa sạch và ăn một mạch hết mớ trái cây. Trước đó tôi xay một quả táo nhỏ, một quả cam, và một quả quýt thành một ly to, uống khá no.

Liên tiếp mấy hôm nay trời rất mát mẻ dễ chịu. Hôm qua có mưa. Buổi tối mở hé cửa sổ cho gió lùa vào, hơi lạnh đủ để mình đắp chăn. Sáng sớm mèo Mun đã đến ngồi dựa vào cánh cửa sau. Có một dạo nó rất sợ hãi, hễ thấy dáng người dù là tôi nó cũng bỏ chạy thật xa. Lúc sau này nó cứ quanh quẩn sau nhà. Có hôm đến giờ đi ngủ tôi còn thấy nó nằm trên đầu bờ tường. Nó nằm đó cả ngày. Có khi nó nằm ngay trên lối đi từ cửa sau nhà để xe dẫn vào cửa sau nhà tôi. Hôm qua nó nằm trên cái bàn, cũng là mái chòi của nó, suốt ngày cho đến khi trời mưa. Mèo Xám ít đến. Có hôm mèo Xám đứng trên cái sàn gỗ thấp sau nhà, còn mèo Mun đứng gần cái chòi ông Tám làm cho bọn mèo trú mưa, đứa thì gầm, đứa kia thì rống, nghênh nhau đã đời, không con nào dám đến ăn, dù tôi đã chia thức ăn ra làm hai phần để cách xa nhau. Giá mà bọn chúng bớt ngu một chút, sẽ nhận ra không cần phải tranh giành cào cấu nhau, cứ lặng lẽ phần ai nấy ăn thì sẽ đỡ bị trầy trụa thương tích. Sáng hôm qua tôi thấy mặt mèo Mun đầy vết trầy xước, những vết thương đã lành nhưng vẫn còn dấu tích. Hậu quả của buổi đánh nhau trong một đêm nào đó tôi nghe tiếng mèo gào bên ngoài cửa sổ. Mèo Mun bớt sợ tôi. Có khi tôi mang thức ăn ra, nó ngồi khá gần chứ không bỏ chạy. Tiếng là gần, nhưng cũng cách xa hơn tầm tay tôi có thể vói tới.

Tối qua tôi xem chương trình Street Food Asia trên Netflix. Tôi không xem từ đầu, chỉ chọn vài ba đoạn phim, trước nhất là thức ăn Nhật ở Osaka. Sau đó, tôi xem món ốc xào của Việt Nam. Món ốc nhìn rất hấp dẫn. Những con ốc len khá to, béo ù, rồi sò điệp có cho đậu phộng trên mặt, đẹp và hấp dẫn. Trong phim người ta cũng kể chuyện về đời sống của những người buôn bán thức ăn trên đường phố, những món ăn quen thuộc cả với người ngoại quốc như phở và bánh mì. Phim thuyết minh bằng tiếng Anh, có những đoạn nghe tiếng người Việt nói, cô thông dịch viên nói bằng tiếng Anh. Đoàn phim đi đến các cửa tiệm và hàng quán trên đường trong thành phố. Người Việt, và người Mỹ làm phim đều gọi tên thành phố là Sài Gòn. Phụ đề tiếng Anh trên phim, khi người ta nói là Sài Gòn, viết thành chữ HCM. Leningrad đã trở lại là Saint Petersburg. Từ năm 1961 người ta đã thôi dùng tên thành phố Stalingrad. Trong lòng người miền Nam thành phố Sài Gòn có lẽ không hề đổi tên.

Rồi tôi xem phim Tracks. Phim mượn ở thư viện. Phim nói về cô gái Úc một mình làm cuộc hành trình 2,000 miles (3,200 km), đi xuyên qua sa mạc Úc. Phim gây ấn tượng mạnh trong tôi. Diễn viên đóng vai Robyn Davidson thì xa lạ với tôi, nhưng anh phóng viên giúp Robyn thực hiện cuộc hành trình Adam Driver thì không lạ. Kể từ khi tôi biết anh qua phim Paterson, tôi luôn có ấn tượng tốt với những vai anh đóng. Phim này xuất hiện từ năm 2013, có lẽ Adam Driver lúc ấy chưa nổi tiếng lắm. Năm 2019 tôi thấy anh có mặt trong phim, Star Wars, Marriage Story.

Tracks và Wild (Sheryl Strayed đi một mình hết 1,100 miles của Pacific Crest Trail) làm tôi thán phục hai cô gái gan dạ, có phần nào điên rồ, một mình làm một cuộc phiêu lưu, có thể đi vào cõi chết. Cả hai đều viết cuộc hành trình của mình thành best seller. Có lẽ phải có những kinh nghiệm sống táo bạo, vượt qua giới hạn, đến độ phi thường thì mới có đề tài để viết, có nghĩa là cái viết của mình đủ hấp dẫn người đọc. Tôi đã xem phim Wild và đọc quyển sách. Tôi cũng đã mượn quyển Tracks ở thư viện. Tôi không có số phiêu lưu hay du lịch, tử vi nói thế. Tử vi nói cung Thiên Di của tôi có Thanh Long Thiên Mã nhưng bị Tuần và Triệt chặn đầu chặn đuôi. Đi một lần từ Sài Gòn đến Pulau Bidong suýt chết. Vừa mới về hưu chưa kịp đi đâu thì đã bị cơn pandemic Covid chiếm đóng cả thế giới hai năm chưa thấy có dấu hiệu rút lui. Xem chừng tôi chỉ có thể nhìn thế giới qua phim ảnh, may mắn không bao giờ phải nhớ nhà khi nhìn thấy hoàng hôn có khói trên sông hay nghe tiếng cơm sôi.

Tôi nhớ có lần nhìn cảnh đồi núi Peru mà ao ước được ngồi đâu đó trên đỉnh núi cao nhìn cây cối, nghe chim hót. Tôi xem mấy tập phim về National Parks của Ken Burn, thấy tội gì phải đi Peru để lo sợ chuyện trở ngại ngôn ngữ. Đi qua Wyoming có ít nhất là hai cái công viên đẳng cấp quốc gia Yellowstone và Grand Teton biết bao nhiêu đỉnh núi cao. Sức già như tôi đi được bao xa mà mơ với ước.

Hoàng hôn ở một góc nào đó trên hồ Tonlé Sap

Xem phim thức ăn Việt Nam, ngồi mơ ước chuyện đi chơi ở VN, thấy người Việt làm chuyến Exodus rời thành phố, nghe thê thảm không kém gì chuyến Exodus của người Ấn Độ trong cơn đại dịch, tôi lôi ảnh cũ, chuyến đi VN năm 2019 tôi gặp lại tấm ảnh chụp hoàng hôn ở một góc nào đó trên hồ Tonlé Sap. Bạn sẽ nghĩ hồ này ở Kampuchia có liên quan gì đến người Việt đâu. Có chứ. Ở đây tôi gặp một số người Việt có cuộc sống rất nghèo nàn, đáng thương. Gần đây, viện cớ vì cơn đại dịch người ta giải tán làng chài, họ lại bị xua đuổi ra khỏi Kampuchia, và bị chận ở biên giới VN, không được phép vào. Họ là người không có quốc gia. Những người không được làm ăn kiếm sống một cách hợp pháp, không được đi học, không được chữa bệnh, không có cách để vượt qua số phận của họ.

Bạn thấy tôi đi ghê chưa. Trong vòng nửa tiếng đồng hồ tôi đi từ sân sau nhà ở New Jersey, sang đến Úc, qua Wyoming, rồi đến Kampuchia. Cảm ơn bạn nếu đã chịu khó đi với tôi cho đến hết đoạn này.

Đường trail kênh đào Delaware và Raritan

Tôi đi đường trail này có lẽ cũng đã hai năm. Trước kia tôi đi ở Watchung Reservation. Chúng tôi bắt đầu hiking có lẽ từ năm 2011 hay 2012. Đi ít thôi, nhưng đi ở những nơi xa nhà. Có lần đi ở Mount Turkey phía bắc New Jersey, lên 100 bậc thang làm bằng đá mỗi bước cao bằng ba bước bình thường, lên đến đỉnh tôi suýt ngất xỉu. Đi nhiều đường trail khác nhau, địa điểm lịch sử Waterloo Vilage, Merril Creek, và nhiều lần ở South Mountain Conservancy. Mỗi nơi có vẻ đẹp khác nhau. Độ năm 2015 bắt đầu đi thường xuyên ở Watchung Reservation. Cho đến khi tôi bị đau gót chân chuyển qua đi xe đạp thì đi ở con đường dọc theo kênh đào Delaware và Raritan. Khoảng những tháng đầu năm 2020 khi tình hình dịch bệnh ở Mỹ tăng lên trầm trọng.

Đường trail kênh đào D&R (viết tắt của Delaware và Raritan) này bao gồm hai nhánh. Nhánh bờ Tây còn gọi là đường feeder, dẫn nước của sông Delaware vào kênh. Nhánh bờ Đông là đường kênh chính, chạy dọc theo sông Millstone và sau đó là sông Raritan. Trước kia kênh đào này được dùng để vận chuyển hàng hóa. Giờ được dùng làm nguồn nước cung cấp nước uống cho một số địa phương. Vì được dùng làm nước uống (dĩ nhiên là sau quá trình phân giải tinh lọc) nên kênh được giữ gìn khá sạch sẽ.

Đường trail này khá dài, cả hai nhánh Đông và Tây đều ngót nghét gần 40 dặm. Tôi với ông Tám đi hết cả chiều dài hai nhánh, mỗi lần đi một chặng, có khi đi bộ, có khi đi xe đạp. Nhánh Tây đi qua nhiều thị trấn đẹp và nổi tiếng như Lambertville, đối diện với New Hope của Pennsylvania, nối nhau bằng cây cầu, cảnh đẹp, hàng quán bán đồ mỹ thuật, nơi du lịch dập dìu nam thanh nữ tú. Tôi đi ở nhánh Đông. Nhà tôi cách lối vào đường trail chừng 15 phút lái xe. Chúng tôi chở xe đạp đến Canal Lock Park, rồi đạp xe dọc theo bờ kênh.

Hoa này dọc theo bờ kênh rất nhiều. Có tên nhưng tôi quên. Chúng thường mọc thành bụi nhỏ, hoa tua tủa những nhánh cứng trông giống như cây đèn người Jewish thắp lúc Giáng Sinh.

Từ Canal Lock Park (ảnh dẫn link của Wikipedia) qua cái cầu nhỏ bằng sắt cũng là cái lock của con kênh, nếu quẹo tay phải sẽ dẫn đến cuối đường kênh nơi gọi là Landing Lane. Thật ra còn độ vài dặm (mile) nữa mới đến cuối đường nhưng đến đây người ta đã chận lại không cho đi tiếp. Chỗ này rất gần với khu ký túc xá của đại học Rutgers, trường đại học công lập của New Jersey. Đứng bên bờ kênh ngó qua bên kia sông Raritan có thể nhìn thấy vận động trường của Rutgers. Từ chỗ tôi đậu xe đến Landing Lane hơn 5 mile(s). Chính xác là 5.2 miles. (Tôi vẫn hay lấn cấn chỗ số nhiều có thêm chữ s. Tiếng Việt chỉ cần nói số mile là biết nó là số nhiều, 1 mile hay 5 mile vẫn như nhau. Người Mỹ họ thêm chữ s khi dùng số nhiều. Nhưng mà mình đang viết tiếng Việt, thêm vào chữ Anh thì có nhất thiết phải thêm dấu không? Không thêm s thì vẫn hiểu như thường, đúng không?)

Từ Canal Lock Park đến Landing Lane có những điểm mốc tôi dùng để xác định vị trí con đường mình đi, cũng là một cách để thấy con đường gần hơn, ít nhàm chán hơn. Từ gần đến xa, tôi băng qua cây cầu Bound Brook (đứng chờ cho xe ngừng hay không xe để băng qua đường), đến khu vegetation mitigation có nhiều hoa, nai, và hawk. Đối diện với khu mitigation là một chung cư khá lớn khá đẹp, yên tĩnh. Có cái cầu dành cho người đi bộ, trước kia là cầu quay, dẫn từ chung cư vào đường trail. Dưới chân cầu này trên cái trụ (cột cầu) có một tổ ngỗng Canada vào khoảng tháng 4 ngỗng nở. Đoạn đường này tôi thường gặp ngỗng con.

Đi chừng 1 mile bên kia bờ kênh là một nhà thờ của người gốc nước ngoài, bất thình lình tôi không nhớ nước nào, có lẽ một nước thuộc nhóm Liên Xô. Đến 5-mile-lock có bãi đậu xe rất lớn cho người vào đường trail. Bên kia bờ sông Raritan River là công viên có chỗ cho thuyền cập bến, nơi này tôi thường gặp chim cormorant. Đi chừng 2 mile thì đi dưới đường cao tốc 287. Bên kia bờ kênh có một plaza, chợ búa đông đúc, tuy vậy vẫn còn di tích trạm gác cầu. Có lẽ chỗ này ngày xưa có cái cầu quay hay trạm thu lệ phí. Đi 3 mile đến cầu Demott. Bốn mile có cái ghế để nghỉ chân. Nơi đây, ngó qua bên kia bờ sông Raritan có cây cao nơi làm tổ của con ó đầu bạc (bald eagle), chim mái ấp trứng, chim trống đứng canh gác suốt cả tháng trời. Ở gần mốc 3 mile và mốc 4 mile có hai kè đá gọi gọi là spillway, nơi người ta dùng để cho nước trong kênh tràn qua sông mỗi khi mực nước kênh dâng lên bất thường, điều này ít khi xảy ra nhưng chắc chắn đã từng xảy ra bởi vậy mới có spillway. Dọc theo spillway thường có nhiều hoa, diên vỹ và lưu ly, hay iris và forget-me-not. Đến Landing Lane lại có thêm một spillway, chỗ này cách đây độ một tuần thấy người ta câu cá rất đông.

Nhóm người câu cá ở Landing Lane. Người ta đang che bạt sửa chữa cái gì đó trên cầu hay bên kia đường.
Cách Landing Lane chừng 1 mile có ghế ngồi nghỉ chân. Chung quanh chỗ này dâu black berry và mulberry mọc hoang rất nhiều. Tôi thấy có người phụ nữ đeo theo cái túi vải hái cho vào túi, dĩ nhiên vừa hái vừa ăn.

Trái dâu chín
Một loại lily mọc nhiều ở đường đi đến Landing Lane.

Những lúc gót chân bớt đau tôi đi bộ từ Canal Lock Park đến Landing Lane, đi 5.2 miles. Nhân đôi con số đường đi vì hễ đi thì phải về. Tổng cộng 10.4 miles tương đương 16 km. Tôi đang nghe trong ý nghĩ của bạn, đi cho lắm nên đau gót chân là phải. Thời gian đi bộ tùy đi nhanh hay đi chậm, rề rà chụp ảnh dọc đường, nghỉ ăn trưa lâu hay mau, trời lạnh thì ăn nhanh rồi đi ngồi lâu lạnh lắm, khoảng 4 giờ đồng hồ. Trời ấm thì ngồi lâu hơn. Gần chỗ ghế ngồi có nguyên cái cây ngã xuống kênh rùa bò lên cây phơi nắng rất đông. Có hôm đắt khách thấy cả hai chục con rùa lớn nhỏ.

Hoa này mọc khắp nơi suốt chiều dài 13 mile từ Landing Lane đến Blackwells Mills Road. Nhìn thoáng qua lúc hoa bắt đầu cúp lại có lẽ đến lúc tàn héo, tôi tưởng là hoa baby breath, nhưng nhìn kỹ lại thì là cúc thạch thảo. Nhiều loại nhiều màu, lớn có nhỏ có.

Từ Canal Park quẹo tay trái chúng tôi đi đến Blackwells Mills Road. Tổng cộng chiều dài đoạn này là 7.8 miles. Nếu đi bộ thì chỉ đi đến Amwell Road, 5.8 miles, rồi quay về. Đi xe đạp thì chúng tôi đi từ Canal Lock Park, đến Landing Lane, từ Landing Lane đến Blackwells Mills Road rồi quay về Canal Lock Park. Đoạn đường xe đạp vừa đi vừa về là 26 miles. Vừa sức tôi, nhưng ông Tám thì có thể đi xa hơn. Ông có thể vừa đi vừa về 40 miles (64km).

Cây mullein được nhà thơ Whitman nhắc đến vì rất mến chuộng. Loại này mọc cao khỏi đầu người. Tôi nhờ ông Tám đứng gần để so sánh chiều cao.

Từ gần đến xa, những cột mốc của tôi như sau: khoảng 1/4 mile có cái spillway rất dốc. Đứng ở dưới chân spillway có thể nhìn thấy mấy con rùa nằm sải bốn chân ra phơi nắng trên đầu spillway, sát với mặt nước kênh nên rùa nhảy lên nhảy xuống rất tiện. Chỗ này tôi phải dắt xe lên xuống vì sợ ngã. Thử một lần bị ngã trầy khuỷu tay chảy máu. Cách đây chừng một tháng, có một chiếc xe ô tô đi lạc vào đến chỗ này, có lẽ bắt vào từ cầu Bound Brook. Đường đủ rộng cho một xe chạy, nhưng khó trở đầu, phải đi lùi cho đến chỗ đất rộng hơn như Canal Lock mới có thể quay đầu. Tài xế lái xe còn trẻ, trên xe chở mấy đứa trẻ, bảo rằng Google chỉ đi đường này. Điều này có lý, vì đường xe chạy chính thức và hợp pháp là con đường song song với con đường này chỉ cách vài chục mét.

Đi độ một mile rưỡi là nhà trạm thủy cục, cạnh spillway. Nơi này có con nai con chết vào mùa đông. Độ 2 mile đi dưới con đường cao tốc 287 (đoạn khác, đường 287 đánh vòng cung rất rộng, còn đường trail thì ngoằn ngoèo uốn khúc), chỗ này có một con ngỗng đực đứng canh chừng cho vợ ấp trứng nhưng tôi không nhìn thấy ổ ngỗng, có lẽ khuất sau những bụi rặm. Độ 2.5 mile có cái cầu dành cho người đi bộ dẫn từ đường xe chạy Weston Canal Rd. vào đường kênh. Gần đó là trạm biến điện hay thủy cục (tôi không chắc) rất lớn, có cái đập chặn ngang con sông nơi Raritan River đổ vào hợp với sông Millstone. Bên cạnh trạm biến điện là một bãi cỏ rộng lớn, có cây hồng persimon, loại trái tròn giòn và ngọt. Có lẽ vì là cây mọc hoang nên trái rất bé. Cây lại rất cao nên chỉ có chim ăn thôi. Qua khỏi trạm biến điện là gặp ngay 10-mile-lock. Đôi hơn 3.1 mile là nhà thờ Pillar của người gốc Spanish. Rộng lớn và đông người, họ thường tổ chức thi đấu bóng đá và các môn thể thao khác rất nhộn nhịp. Sau đó là đến Weston Causeway, khoảng 3.8 miles từ Canal Lock Park. Con đường Causeway này rất đông xe, nguy hiểm khi phải băng ngang đường để tiếp tục đi.

Con rùa bé tí bò băng ngang đường trail. Ông Tám thương tình đẩy vào bụi rậm gần mé nước. Chẳng biết nó đi đâu, làm gì, không biết mình nghĩ là giúp nó thì lại đẩy nó đi ngược hướng nó muốn đến hay không? Có ai có thể giải thích vì sao con rùa băng ngang đường đi?
Rùa gần nhà thờ Pillar

Từ Weston Causeway đến Amwell Road 2.8 mile. Độ 2 mile là đến Colonial Park. Trước khi đến Colonial là cái spillway có cải xoong mọc.

Gần Colonial Park, chỗ spillway có cải xoong mọc (gần cuối đường, chỗ có cậu bé mặc áo đỏ đang đứng câu và khuất sau lưng người đi xe đạp). Đây là những cậu bé hướng đạo sinh đang câu cá để lấy phù hiệu câu cá, giống như một thứ chứng chỉ, bằng cấp hay huy chương, đánh dấu khả năng thích ứng với thiên nhiên. Tôi gặp một huynh trưởng ngồi trên cái băng ghế gần đó đang thay giày chuẩn bị tham gia, tôi hỏi ông tổ chức thi câu cá phải không, ông giải thích đây là hoạt động hướng đạo sinh. Ông hỏi lại tôi là người nguồn gốc ở đâu, VN, ông nói ông đoán là khu vực Đông Nam Á. Tuy ông là cựu quân nhân thời chiến tranh VN nhưng ông không đến VN.

Từ Amwell Road đến Blackwells Mills Road là hai mile. Nếu đi xe đạp chúng tôi ngừng ăn trưa ở ngôi nhà cổ ở góc đường, chung quanh trồng rất nhiều hoa. Ngôi nhà cổ này trước kia là nhà dành cho người gác cầu. Cái cầu quay giờ là cầu cố định. Tôi dẫn link ảnh ngôi nhà cổ trên Wikipedia. Bây giờ ngôi nhà không giống như trong ảnh, vì nhiều cây cối mọc gần che khuất căn nhà. Dù ngồi ở đây ăn trưa thường xuyên tôi chưa vào bên trong nhà. Người ta có tổ chức nấu ăn kiểu thời xưa và triển lãm đồ cổ thời cuối thế kỷ 18 hay đầu thế kỷ 19 nơi đây (nhưng tôi chưa xem).

Nhà cổ Blackwells Mills chụp từ đường trai phía sau nhà.
Lilly mọc ở vườn nhà cổ Blackwells Mills

Đoạn đường mỗi chiều 13 mile này chúng tôi đi khá thường xuyên, một tuần hai hay ba lần. Đường rộng rãi, bằng phẳng, rất thuận tiện cho người đi xe đạp vì ít lên dốc xuống dốc. Không quá đông người đi, đường rộng rãi dễ giữ khoảng cách 6ft (2m.), đường trải đá, ít bùn lầy (so với Watchung Reservation), nhiều gió nên ít muỗi.

Mùa nào hoa nấy, luôn luôn tô điểm đường trail, làm vui mắt người đi khiến con đường bớt dài, kể sơ một vài loại là diên vỹ, lưu ly, linh lan, cardinal, mallow. Thú tôi đã gặp có nai, sóc, chipmunk, raccoon, beaver, ground hog, và rùa (rất nhiều rùa, đa số là rùa). Chim thì nhiều loại có loại không biết tên, eastern blue bird, oriol, cardinal, pigeon, mourning dove, woodpecker, crow, vulture, swallow, hawk, bald eagle, và rất nhiều ngỗng Canada.

Cormorant (chim cốc) và bầy merganser
Nai mẹ và nai con. Dễ thương không?

Tuần trước, hay trước nữa, đi bộ ở Watchung Reservation (vì đường đến D&R Canal bị chặn) tôi thấy có cái bảng dặn người đi hiking hễ thấy lantern fly thì giết chúng cho chết đi vì loại này rất phá hoại cây cối hoa quả. Ở D&R canal ngừng xe đạp để chụp ảnh tôi thấy hai con lantern fly, loại này khá đẹp có đốm trắng thoạt nhìn giống như con bướm tí hon.

Lantern fly bị bẹp.
Hoa cardinal mọc dọc theo bờ kênh
Cô gái chèo kayak trên kênh D&R

Rảnh nên viết chơi, để khi già (già hơn bây giờ chứ bây giờ cũng đã già rồi) hay lúc không còn đi được nữa có cái để mà xem lại. Bạn nào thấy dài quá, không đủ thì giờ để đọc thì xem ảnh thôi. Một chút để giải trí, mua vui cho những bạn không thể ra ngoài lúc này, ngắm thiên nhiên có lẽ cũng đỡ bực bội. Các bạn cũng nên viết về cây nhà lá vườn của các bạn, chúng là kỳ hoa dị thảo với tôi người ở rất xa.

Vụn vặt chuyện con hạc xám

great blue heron

Bạn quen lâu trên blog này biết là trong lúc hiking tôi thường chụp ảnh con hạc xám. Người Mỹ gọi nó là great blue heron. Chữ hạc xám là do tôi tự đặt nên có thể không đúng với tên gọi của nó. Tôi không rành tên chim, và tùy theo vùng miền. Có người gọi con crane là con hạc, hay sếu. Có người gọi heron là con diệc hay vạc, phải vậy không? Ngay bây giờ tôi cũng thường lầm con hạc với con vạc và con diệc. Ngay cả màu sắc của nó cũng không đúng. Người Mỹ dùng chữ blue có nghĩa là màu xanh còn tôi lại nhìn thấy màu xám. Chữ great ở đây dùng để phân biệt con hạc cỡ lớn còn con hạc kia nhỏ hơn.

Bạn thấy loài hạc này màu xanh hay xám?

Ở đây xin bạn cho tôi đi ra ngoài đề một chút để bàn về màu xanh hay xám. Tiếng Việt và tiếng Anh có nhiều chỗ khác nhau về màu sắc. Người Việt dùng chữ màu xanh rồi kèm thêm một danh từ khác hay tĩnh từ để phân biệt các màu xanh do đó chúng ta có màu xanh da trời, màu xanh lá cây, màu xanh lam, xanh trứng sáo, v. v… Người Mỹ dùng chữ blue để chỉ màu xanh nhưng cái màu xanh này có nhiều sắc đậm nhạt khác nhau. Xanh thật đậm cho đến ngã sang màu tím sậm, thậm chí nhìn giống như màu đen, vẫn gọi là xanh. Họ có chữ indigo để chỉ xanh đậm như màu xanh của quần jean. Chữ violet để chỉ màu tím. Indigo hay violet người ta có khi đều gọi là màu xanh cả. Màu lam, có khi con mắt tôi nhìn tùy màu đậm nhạt thấy sao giống màu xám quá. Có lẽ mắt của mỗi người nhìn thấy màu sắc khác đi, có khi tôi thấy nó màu tím mà người khác thấy nó màu hồng. Do đó người ta thấy màu xanh mà tôi thấy nó màu xám thì chắc cũng bình thường thôi. Phải không?

Trên đầu hạc xám có chùm lông dài ra trông rất đẹp

Heron có nhiều loại. Lật một cuốn sách nêu các loại chim vùng Bắc và Đông Bắc nước Mỹ, tôi thấy có con green heron, great blue heron, và little blue heron. Tối hôm qua đọc Wikipedia biết thêm có con great white heron. Loại này great white heron người ta này người ta thường tưởng lầm là egret loại lớn. Thật tình mà nói, tôi nhìn sao thấy con nào cũng giống con cò, mà cò ở Việt Nam thì nhiều lắm. Mù mờ như tôi còn biết có con cò quăm. Và còn biết có con nông cũng giống như con cò. Đoán vậy thôi chứ tôi chưa nhìn thấy con nông, chỉ biết qua câu ca dao “Cái cò cái vạc cái nông. Sao mày dẫm lúa nhà ông hỡi cò.” Chắc ba con này na ná giống nhau nên ông bà ngày xưa gôm lại chung trong câu ca dao. Gọi là great heron vì con chim này rất to lớn. Cao cở 4 ft. (khoảng 1mét 2) khi giang đôi cánh rộng ra phải đến 6 ft. (khoảng 2 mét).

Lò dò đi trên bãi cỏ cạnh đường trail

Con hạc xám có dáng đẹp nhờ cổ cao, chân dài. Nó có vẻ gầy dù vóc dáng khá to lớn. Khi nó cất cánh hay đáp xuống đều có vẻ duyên dáng rất đẹp, tuy vậy nhiều khi nhìn cặp mắt thấy nó có vẻ dữ.

Như là một điệu múa

Hạc thường kiếm ăn dọc theo bờ sông, đầm cạn. Hạc ăn cá, rùa con, ốc, và ếch nhái. Hạc săn cá rất hay, có thể nuốt con cá rất lớn, tôi nhiều lần chứng kiến.

Còn ngậm con cá

Có lần tôi gặp một con hạc xám dường như nuốt phải cái gì đó không phải là thức ăn. Cái vật đó, có thể là mồi câu giả bằng nhựa cứng, khiến nó không thể ngậm mỏ lại được. Tôi gặp con hạc không ngậm mỏ được hai lần. Lần thứ nhì ở bên kia bờ sông, nhằm khúc sông rộng nên ảnh nhỏ và mờ. Không thể nhìn thấy vật ngăn khiến nó không ngậm mỏ được rõ ràng, tôi vẫn biết con hạc bị thương tích và thấy thương hại cho nó. Không dễ dàng gì để cứu chữa những con chim như thế này.

Con hạc không ngậm mỏ lại được

Có lần tôi đọc báo thấy có một phụ nữ đang đi xe đạp, nhìn thấy con thiên nga bị bệnh nằm trên bờ dọc theo đường trail. Cô đã bỏ chiếc xe đạp lại ngay tại chỗ con thiên nga đang nằm, ôm con thiên nga đi đến nhà thương. Nhà thương khá xa nên cô phải quá giang người ta, đến chỗ cô đậu xe ô tô, và từ đó cô lái xe chở con thiên nga đến nhà thương. Con thiên nga cũng là loại chim to lớn, ôm một con chim 20 lbs đi bộ đường xa cũng nặng nề. Không biết cô có bị mất xe đạp không. Chuyện cứu một con vật thật không dễ dàng.

Một chân một cánh
Ở một khúc sông khác cũng có con hạc xám không thể ngậm mỏ lại
Con hạc gầy đi rất nhiều, có lẽ vị trong mỏ có vật chặn lại không thể ăn

Tôi gặp hai lần ở hai nơi khác nhau, con hạc có vật chận trong mỏ, không thể ngậm lại. Tôi không biết đây là hai con khác nhau hay chỉ là một con nhưng lần nào cũng để lại chút xót xa trong lòng.

Tối qua mưa lớn, sáng nay trời mát và nắng đẹp. Tôi đang bí chuyện không có đề tài gì hay để viết, nên viết lăng nhăng các bạn đọc và xem ảnh giải trí trong mùa đại dịch. Tôi cố gắng mang một chút thiên nhiên đến với các bạn.

Viết xong rồi chợt nhớ ra còn một chuyện nữa muốn kể mà quên. Ở New Jersey, có ngôi nhà vùng phía nam, gần biển. Một hôm bà chủ nhà thấy có con hạc xám đứng trong sân sau nhà bà, bên cạnh thùng nước bà để mấy con cá còn sống, chồng con bà đi câu về đêm trước. Thấy con hạc muốn bắt cá để ăn nhưng sợ bà muốn bay đi, bà thảy cho nó một con cá. Nó ăn rồi nhưng có vẻ vẫn còn thèm. Bà thảy tiếp con cá nữa cho đến khi hết mớ cá trong thùng. Hôm sau nó tới, không có cá, bà lấy cá trong tủ lạnh ra cho nó ăn. Rồi từ đó về sau thỉnh thoảng nó lại đến để ăn cá. Bà từ đó đi chợ cũng mua cá đem về cất trong tủ lạnh, để tan đá cho nó ăn dần. Bà viết thành một quyển truyện thiếu nhi. Tôi quên mất kết cuộc như thế nào, hình như đến mùa đông con hạc đi trốn lạnh và bà kết thúc ở đó.