Sợ tốn thì đừng yêu

Nora

Đã bảo có mèo tốn kém lắm
Ai mà sợ tốn thì đừng yêu
Bác sĩ thú y thẳng tay chém
Bụng héo dạ teo vẫn cứ liều

Ngày thứ Tư mọi chuyện vẫn bình thường. Nora vẫn mon men đi lên đồi, rượt con mèo sọc vàng Ginger, lần dọc theo chiều dài của những khúc cây đổ mục, thám thính dọ dẫm. Buổi tối đi ngủ vẫn nhảy lên giường nằm cạnh tôi. Sáng thứ Năm Nora vẫn thức sớm, đòi ra ngoài, trời rất lạnh khoảng hơn ba mươi độ F một chút. Được năm mười phút lạnh đòi vào, chút xíu lại đòi ra. Trước giờ tôi đi làm lại đòi ra nhưng tôi không cho ra. Ông Tám bận công việc đi xa không có ai mở cửa cho vào. Chiều thứ Năm tôi đi làm về thấy lông mèo vương vãi đầy sàn nhà bếp. Mặt Nora bị cào xước chảy máu, nhất là ở bên trên mắt (chỗ người ta có chân mày). Nàng ói khắp nơi trong nhà. Thứ Sáu, thứ Bảy ói. Quằn quại đến thương, cuối cùng ói ra hai khúc cỏ chừng một tấc. Sau đó không ói nữa, nhưng cũng không ăn. Bỏ ăn luôn Chủ Nhật, Thứ Hai. Nằm một chỗ không ra ngoài lên xuống. Sáng thứ Ba đòi ra ngoài một chút vào nhưng cũng không ăn. Tôi xin nghỉ ngày thứ Ba đưa mèo đi Bác sĩ.

Hẹn mười giờ mười lăm, đến 11 giờ Nora mới được khám. Người ta mang chó đến rất nhiều, nhưng chỉ có hai người mang mèo. Khi tôi ra về thì người mang mèo thứ hai đến, con mèo 14 tuổi gầy, cân nặng chỉ cỡ phân nửa Nora. Bác sĩ bảo để mèo ở đó ba giờ rưỡi trở lại.

“Thử máu 150 đồng.”
“Ok.”

Bác sĩ khám qua loa, có gắn ống nghe. Nắm đuôi mèo nhấc lên nhét nhiệt độ kế vào hậu môn. Nora nằm im thin thít không dám thoát ra một tiếng meow than thở.

“Nora bị sốt, nhiệt độ 104.5 độ F. Tim nó bị murmur, khi nó ngủ nó có thở phì phò (wheeze) không?”
“Không, sức khỏe nó tốt lắm cho đến ngày thứ Tư vừa qua.”
“Chụp quang tuyến cho nó, giá 250 đồng.”
“Không. Mắc tiền quá, tôi không muốn.”

Tôi có cái tật hay nghi ngờ bác sĩ (trị người ta) vẽ chuyện. Thí dụ như cứ bắt người ta uống thuốc cho hạ cholesterol. Hạ cholesterol bằng thuốc chẳng khác gì lấy đồ che bịt ống dẫn khói khi xe thả ra nhiều khói carbonic. Bác sĩ thú y tôi càng nghi ngờ nhiều hơn. Thân nhiệt của mèo cao hơn của người nên 104 độ cũng không sao. Khi tôi  mang Nora về, tổng cộng số tiền tôi phải trả là 547 đồng không kể tiền lẻ. Trong số tiền 547 đồng có 30 đồng là tiền thuế. Phần còn lại là tiền thuốc trụ sinh (thuốc nhỏ giọt) để trị chỗ cào xước bị chảy máu đề phòng vết thương bị làm độc, tiền trị bọ chét, trị sán lãi, thử nước tiểu, đủ thứ, “the whole nine yards.”

“Không tìm thấy bịnh gì nguy nan cả, thận và gan tốt lành, nước tiểu không có máu. Bà nên cho chụp quang tuyến để thử tìm ra nguyên nhân.”

Hôm nay Nora đã ăn một chút, ra ngoài nhiều hơn, buổi tối lại leo lên giường ngủ với tôi. Mấy hôm trước bị bệnh nó tự động kiếm chỗ khác ngủ riêng. Tôi vốn không tin là mèo cần tắm, nhưng nghĩ là có thể nó bị vướng poison ivy, hay bị burr (cỏ hạt) vướng vào mặt làm ngứa ngáy khó chịu nên cào cấu và nó ăn cỏ nên phát ói. Tôi pha nước ấm vào bồn ẵm mèo đi tắm, luôn luôn nhẹ nhàng cẩn thận cho nó bớt sợ, nhớ mấy chục năm về trước tắm con cũng như thế.

Ông Tám nhìn cái bill bác sĩ, nói số tiền này có thể giúp một em sinh viên ở VN đi học cả năm. Còn tôi, cả đời chưa biết làm thơ, nhờ ẵm mèo đi bác sĩ thú y nên làm được bài thơ. Đừng có ai nói nó là thơ con cóc nhen. Thơ con cóc là thơ hay. Bài này còn thua thơ con cóc mấy bậc.

Noraa

Xem phim A Quiet Passion

Oh life oh home
Diễn viên trong ảnh là Emma Bell trong vai Emily Dickinson khi còn trẻ

Mới xem qua một lần, chưa kịp ghi chú, tìm và đọc thêm tài liệu để có thể review hay giới thiệu với các bạn phim A Quiet Passion (Mối Đam Mê Thầm Kín). Và tôi đang bận rộn với một số công việc dở dang, thêm nữa là con gái út tối nay về và sẽ ở chơi cho đến hết lễ Tạ Ơn. Con về thì vui, và phải nấu cho con ăn tươm tất hơn, nên không biết bao giờ mới có thể viết về phim này một cách chỉnh chu. Tôi ghi lại vài nét chính, để cho nhớ về sau có thể quay trở lại với phim này.

Tôi đặt phim này ở thư viện, có ngay lập tức. Có nghĩa là không ai dành với tôi, và như thế có nghĩa là phim không thuộc loại “đắt hàng.” Sự thật là, cũng đúng như tôi nghĩ. Nếu bạn có khuynh hướng thích xem phim sôi động, hấp dẫn, éo le, thì đây không phải là một phim cho bạn mong đợi. Phim này kén người xem. Bạn phải có sở thích đặc biệt, hiểu biết và thẩm thấu nghệ thuật phim ảnh hơi nằm ngoài thị hiếu bình thường.

Phim khô khan, cách diễn xuất cứng ngắc, gần như kịch trên sân khấu, lời đối thoại rời rạc như đọc chứ không nói (với cách lên giọng xuống giọng như người ngoài đời bình thường). Đó là những nhận xét (gần như thiếu thiện cảm) về phim này. Để thích nó bạn phải đặt mình ở một vị trí khác, như sống trong thời đại nghiêm khắc của bà Dickinson để cảm được cuộc sống cũng như tâm hồn nhân vật. Tôi nghĩ đạo diễn Terence Davies cố ý làm phim như thế. Cynthia Nixon thì khỏi phải nghi ngờ gì về tài diễn xuất của nàng. Bạn sẽ không nhìn thấy dấu vết gì về nhân vật Miranda Hobbes trong “Sex and the City.” Tôi có cảm tưởng Cynthia Nixon chính là Emily Dickinson trong trí tưởng tượng của tôi.

Tôi thích quần áo của nhân vật. Đẹp và sang. Những tấm vải the, những vạt đăng ten, màu xanh lục, xám, xanh rêu trang nhã; và ước gì tôi có những cái áo trắng mà Cynthia Nixon mặc trong lúc đóng vai Emily Dickinson vào lúc gần cuối đời để mặc đi làm. Tôi thích mặc đồ trắng nhưng thường chỉ mặc lúc mùa hè. Tuy cách đối thoại khô cứng nhưng lời thoại rất hay, “witty,” thông minh, hiểu biết, ý nhị, thâm trầm cả trong lúc khôi hài hay đối chọi nhau chan chát.

Dickinson không dễ dịch vì không dễ đọc. Nhiều bài đơn giản nhưng mình vẫn phải tự hỏi là mình có hiểu đúng ý của bà không. Năm 2018 tôi sẽ đi thăm viện bảo tàng Emily Dickinson. Coi như đây là một cái New Year resolutions vậy nhé.

Buổi chiều hôm qua đi làm về, trong lúc chờ thang máy, tôi nghe bà đưa thư và ông lao công quét dọn cãi đùa với nhau. Bà đưa thư người Hispanic mới nhập cư, nói tiếng Anh còn bập bẹ với giọng ngoại quốc đặc sệt. Ông lao công người Mỹ nói hơi ngọng và biết đọc rất ít. Bà hỏi, Who do you think you are? Ông trả lời, I am nobody! (Bà hỏi, ông nghĩ ông là ai chứ, ngầm bảo ông chẳng có quyền hành gì đừng có lớn lối). Ông trả lời, tôi chẳng là ai cả, chỉ là một kẻ vô danh. Nghe ông bà cãi nhau tôi chợt nghĩ đến một bài thơ của Emily Dickinson.

I’m Nobody! Who are you?
Are you – Nobody – too?
Then there’s a pair of us!
Dont tell! they’d advertise – you know!

How dreary – to be – Somebody!
How public – like a Frog –
To tell one’s name – the livelong June –
To an admiring Bog!

Trong phim này, Emily Dickinson đọc bài thơ khi đang bế đứa bé, con của người anh trai. Tôi đoán chắc, rất nhiều người trong các bạn, kể cả tôi, ít nhất cũng một lần nghĩ về mình qua câu thơ. I am a Nobody!

 

Tiếp theo chuyện hamburger

một cửa hàng chuyên bán hamburger ở thành phố Newark

Thức ăn ngon nhất là thức ăn trong trí nhớ, có kỷ niệm đi kèm với món ăn. Thưởng thức bao nhiêu món ăn ngon nhưng cái món ratatouille ngon nhất của nhà phê bình ẩm thực Anton Ego (nhân vật trong phim Ratatouille) vẫn là món ăn trong ký ức do bà mẹ quê mùa của ông nấu. Hamburger tuy là fastfood nhưng người ta vẫn có thể ăn chậm. Không có gì tuyệt vời hơn cả đám bạn trẻ đi chơi với nhau, nửa đêm đói bụng, gom tiền lại đủ để cả nhóm ăn một món bình dân nhưng no bụng và đầy chất bổ dưỡng.

Hamburger cho lên một miếng American cheese được gọi là cheeseburger. Tương truyền ngày xưa có một anh bếp nào đó lỡ làm cháy khét miếng thịt đã chữa cháy bằng cách đặt lên mặt cháy miếng cheese để che giấu (haha, lần này thì nhớ lỗi chính tả rồi, cám ơn thầy) cái vụng về bất cẩn của mình. Cheeseburger trở nên thịnh hành và đi vào cả phim ảnh.

“American Graffiti” (1973) phim của George Lucas trước khi ông nổi tiếng với Star Wars. Nhân vật trong phim cũng toàn là các ngôi sao trước khi sáng chói trên nền trời điện ảnh. Harrison Ford, Ron Howard, Richard Dreyfuss.

“Look, creep. You want a knuckle sandwich?” – Vic
“Uh, no thanks. I’m waiting for a double Chucky Chuck.” – Terry

“Nè, cái thằng kia. Mi có muốn một cái bánh mì beefsteak?” – Vic
“Ơ, không, cám ơn. Tôi đang chờ một cái double cheeseburger.” – Terry

Tôi đành phải dịch mà cũng như là không dịch. Làm sao mà dịch cái ngôn ngữ này đây? Creep có nghĩa là cái gì đó mờ ám đáng sợ. Ở đây được dùng để mắng yêu, gọi đùa. Tôi không quen kiểu nói đùa này, ai gọi tôi là creep chắc là tôi sẽ giận. Knuckle sandwich tiếng lóng là cú đấm vào mặt. Nó cũng dùng để chỉ một cái bánh mì (có thể làm bằng bánh mì mềm sandwich hoặc là bánh mì thường) nhiều thịt nhiều nhân đến độ giống như cái mồm há ra. Bạn tìm google knuckle sandwich image sẽ thấy cái bánh này nó như thế nào. Thịt để xay ra làm hamburger thường là loại chuck steak, chỗ thịt gần phía cổ của con bò. Chucky gợi hình ảnh của những nhân vật hí họa, hoạt họa, phá phách có khi vô hại. Chuck là tiếng gọi tắt của chữ Charles. Chucky Chuck vì thế mang nhiều hình ảnh rất American khó dịch. Nó có khi chỉ là tiếng lặp lại trong cuộc nói chuyện cho vui tai, và bình dân, thí dụ như okie dokie.

Nếu bạn không ưa hamburger thì chắc bạn có một kỷ niệm không vui nào đó hay ấn tượng xấu vào một thời điểm nào đó. Blog trước có một bạn bảo rằng kiêng ăn thịt bò sau một lần cô ăn cái hamburger tanh mùi bò. Tôi có một kỷ niệm về hamburger, xin kể bạn nghe.

Dạo mới đi làm, tôi có quen với cô thư ký tên Ái Liên. Tên giả, tôi sửa cái tên Mỹ của cô thành tên Việt. Ái Liên lúc đó rất trẻ, chừng hai mươi hay hai mươi mốt, da trắng, tóc nâu thật dày, dợn sóng tự nhiên, bềnh bồng. Cô không cao lắm, nhưng đôi chân đẹp, và cô khá xinh. Có một hôm cô có vẻ “upset” (băn khoăn bức rứt) cô rủ tôi đi ăn trưa, vì cô muốn nói chuyện tâm sự. Chỗ tôi làm toàn là nam nhi, chỉ có cô, tôi và sếp của tôi là nữ nhi, mà cô và tôi đều không ưa sếp của tôi. Ái Liên dẫn tôi đến một cái bar. Ở đây người ta phục vụ món ăn trưa và có rượu. Dĩ nhiên chúng tôi không uống rượu vì còn phải trở lại sau giờ làm việc. Tôi bối rối không biết gọi món gì thì cô giới thiệu, món hamburger ở đây rất khá. Cái hamburger được mang ra thơm lừng, nóng hổi, to thật to đến độ tôi phải dùng dao cắt ra, chứ không thể nào ngoạm vào cái hamburger, tôi nghĩ nó phải to bằng cái mặt người ta 🙂

Ái Liên đòi gọi bia nhưng tôi cản. Cô này uống rượu dữ lắm, càng say càng uống. Đã có lần mất bằng lái xe vì say trong lúc lái xe. Chẳng những thế cô lủi vào trụ đèn gãy cả hàm răng trên. Cô có lần chỉ vào hàm răng của cô nói rằng toàn là răng giả đấy.

Hỏi cô vì sao có vẻ băn khoăn cô kể. Tối thứ Sáu, cô và cả nhóm kỹ sư đi vào bar. Vui chơi uống say, cô và Thomas Cromwell kéo nhau lên tầng trên của quán bar, làm tình với nhau. Thomas Cromwell là tên giả, tôi lấy chữ viết tắt tên của anh chàng và mượn tên một chính trị gia nổi tiếng của nước Anh thời xưa để gọi anh chàng. Thomas Cromwell sắp cưới vợ, vợ là một cô gái da đen rất thông minh học giỏi, giỏi và thành công hơn Thomas Cromwell. Ái Liên qua lại đùa cợt với anh này khá lâu, vẫn hy vọng kéo được anh chàng về với mình dù biết anh chàng đã đính hôn và sắp cưới nàng. Cuộc yêu đương diễn ra vội vàng. Tôi tưởng tượng ra một hình ảnh không mấy đẹp, say mê cháy rực nhưng sau đó là lạnh lùng buồn và nhạt. Kiểu yêu đương tóm gọn vào bốn chữ “tuột quần tốc váy.” Tôi hỏi:

“Nhưng mà tại sao lại kéo nhau lên lầu?”
“Tôi đã hơi say nên không suy nghĩ. Anh ta đến sờ mông tôi và tôi như bắt lửa.”
“Rồi sao lại upset?”
“Sau đó anh ta làm như chúng tôi chưa hề quen nhau, chưa hề có liên quan xác thịt với nhau!”

Tôi lặng yên nhìn cái hamburger, với ánh sáng ít ỏi trong bar, miếng thịt to màu mâu, lá cải xà lách màu xanh, miếng củ hành màu tím đẹp mắt, mùi khói thuốc, mùi bia, tiếng cười nói ồn ào. Miếng hamburger đầu tiên thật ngon, nhưng nghe xong câu chuyện của Ái Liên tôi thấy hết ngon.

Nỗi buồn của Ái Liên cũng qua nhanh như mùi khói thuốc vương vấn trên tóc trên áo tôi hôm ấy, chừng một buổi và mất đi sau khi tắm gội. Bây giờ nàng đã lập gia đình, đám cưới rất to, chồng làm ăn rất khá. Nàng vẫn còn làm cho công ty xe lửa nhưng ở một chỗ khác khá xa chỗ tôi làm nhưng gần nhà nàng. Chàng Thomas Cromwell chuyển qua công ty khác làm việc. Tôi giữ câu chuyện này đã mấy chục năm bây giờ mới kể, và chỉ kể với những người hoàn toàn không biết Ái Liên hay Cromwell.

 

Chung quanh cái hamburger

một cửa hàng chuyên bán hamburger ở thành phố Newark
Tiệm bán hamburger trong thành phố Newark, NJ

Nếu bạn ở một quốc gia nào đó không phải Việt Nam, thế nào cũng có lúc bạn gặp câu hỏi: “Người ở nước ấy (Mỹ, Úc, hay Canada) ăn món ăn gì hằng ngày? Chẳng lẽ ngày nào họ cũng ăn thức ăn làm sẵn cho nhanh và gọn? Câu hỏi này cũng dễ trả lời. Mình đâu có ở gần đến độ biết họ ăn những gì mỗi ngày. Nhà ở đây cách xa nhau chứ không gần như ở VN, có thể đoán được món ăn vì mùi thức ăn bay lan.

Thấy thì đơn giản, chứ người Mỹ có rất nhiều món ăn. Họ có nhiều loại súp (thí dụ như Manhattan clam chowder, Boston clam chowder, chicken noodle soup), bánh mì sandwich, mì (của Ý nhưng thành của Mỹ đủ thứ loại spaghetti, linguini, ziti), bánh mì với nhân nóng, bánh mì nguội, xsà lách (salad, ở một cái salad bar là bạn có thể tìm thấy cả mấy chục món để trộn lại thành xà lách) , v.v… Mỗi món lại có nhiều món phụ kèm theo để thay đổi, thí dụ như bánh mì nguội có salami, ham và cheese. Mở một cái thực đơn của nhà hàng bán thức ăn trưa là đủ choáng luôn. Thức ăn trưa thì ít món hơn, gọn nhẹ, và số lượng ít hơn. Thực đơn của nhà hàng phục vụ dinner (bữa ăn tối) thường làm tôi cảm thấy ngợp với quá nhiều thứ để lựa chọn. Mà để đây, bữa khác nói, đừng để tôi lan man quá mất thì giờ (của bạn chứ tôi thì khoái mất thì giờ để lan man).

Nếu Việt Nam mình nổi tiếng với chả giò, phở, và bánh mì, thì nói đến thức ăn của người Mỹ tôi nghĩ ngay đến cái hamburger. Vâng, tôi biết còn nhiều thứ nhưng khoan nói đến thức ăn khác, hôm nay chỉ nói về cái hamburger thôi. Chữ này, ai cũng biết tôi xin được dùng nguyên chữ, phiên âm ra tiếng Việt nghe hơi kỳ kỳ, hem-bơ-gơ. Nếu bắt tôi thêm dấu nhấn thì nó sẽ được gọi là “hem-bớ-gờ”. Tại sao viết là “ham” mà đọc là “hem”? Tại sao có chữ ham, mà lại là thịt bò chứ không phải thịt heo? Tại sao đọc là bớ gờ mà không đọc là bờ gớ? Câu trả lời của tôi là, ai mà biết. Tại tiếng Mỹ nó như thế.

Có lẽ bạn cũng như tôi, lần đầu tiên biết đến cái hamburger là biết nó từ tiệm McDonald hay Burger King và chỉ nghĩ nó là “fast food” loại thức ăn làm sẵn, lái xe đi ngang, xớt nó rồi ra khỏi tiệm thật nhanh chóng. Không có sách vở nào nói, tôi tự suy ra ngày xưa nó cũng là món ăn trong bữa tối hay vào lúc cuối tuần hoặc là ở nhà hàng được hầu bàn hẳn hoi. Đây là một món ăn nhiều công, phải xay thịt bò, vắt thành miếng, đem nướng hay chiên. Bánh mì mua ở chợ nhưng phải nhặt xà lách, thái cà, thái củ hành. Khoai tây chiên để ăn kèm với hamburger cũng cầu kỳ nhiều công. Gọt khoai, thái thành cọng vuông vuông dài dài cùng cỡ, nấu dầu cho sôi đem chiên. Chiên dở khoai không gidòn bị chê. Hamburger đòi hỏi nhiều công và mất thì giờ.

Có người thông minh, nghĩ ra cách làm giàu, mở tiệm bán hamburger, mọi thứ đều làm sẵn, nhanh và gọn. Mặn hay nhạt chỉ cần cho chút sốt cà chua ketchup. Rồi sau đó, mình chê đó là fast food, không phải thức ăn truyền thống chính qui. Tôi nghĩ ở bên mình sao chưa có ai mở tiệm bán chả giò như bán fast food, mọi thứ làm sẵn, đi ngang, ngồi trong xe, đặt hàng, lên cửa sổ lấy chả giò trả tiền. Còn các món bún thịt bò nướng, bún nem chả, bún riêu, bún bò, gì gì cũng có thể hệ thống hóa rồi trở thành fast food.

Hamburger đi vào các chương trình kịch nghệ nổi tiếng trên Tivi và phim ảnh, không ít. Có cả một trang wikipedia rất dài dành riêng cho lịch sử của cái bánh hamburger từ nguồn gốc đến quá trình biến chuyển đến công trình sáng tác của một vị chef nào đó. Thậm chí cái cheese burger cũng được giải thích là vì nướng thịt cháy đen nên để miếng cheese lên để che nó đi.

Trong một chương trình Tivi rất nổi tiếng và được người xem say mê “How I met your mother”; Một nhân vật từ nơi khác mới đến thành phố New York vẫn còn nhút nhát không dám ra đường vì sợ tai nạn và bị cướp. Một hôm, được bạn chung phòng khuyến khích anh đi ra ngoài, vào một nhà hàng nhỏ, ăn một cái hamburger. Cái hamburger đó quá ngon đến độ về sau anh không thể nào ăn hamburger mà không nhắc lại cái hamburger ngày trước. Tuy nhiên vì là người mới đến thành phố anh không nhớ số nhà và tên đường, anh chỉ nhớ cái nhà hàng có cửa màu xanh lá cây và đèn neon màu đỏ. Anh đòi các bạn phải lái xe đi tìm ở rất nhiều nơi để các bạn anh có thể thưởng thức cái hamburger ngon nhất trần đời kia.

Hamburger cũng đi vào cả chương trình “Sex and the City.” Bốn cô nàng mặc toàn đồ hiệu, sang trọng vô cùng, nhưng có lúc thèm vẫn kéo nhau vào tiệm McDonald. Trong khi lục lọi trong thư viện về hamburger tôi gặp cuốn phim “Hamburger Hill.”  Các anh lính Mỹ đánh trận ở Việt Nam có lẽ nhìn ngọn đồi giống cái bánh hamburger nên đã đặt tên ngọn đồi bằng tên cái bánh, hương vị quê nhà của các anh.

Đồi Hamburger nói về một trận đánh tàn khốc của quân đội Mỹ cùng với quân đội miền Nam, chiến đấu với quân đội miền Bắc. Trận chiến xảy ra vào năm 1969, ngọn đồi 937, còn gọi là đồi Ap Bia, gần biên giới Lào. Trận chiến xảy ra trong mười ngày, tàn cuộc 70 phần trăm quân đội Mỹ bị tổn thất. Tôi có cuồn phim trong tay nhưng không dám xem, dù nhân vật chính là một diễn viên tôi rất thích, Dylan McDermott. Chọn anh chàng này đóng vai quân nhân tử chiến là một điều rất là chua xót, vì anh ta mảnh mai đẹp trai, cái vẻ thư sinh chuyên đóng vai luật sư rất hay mơ mộng.

Tại làm sao cái bánh hamburger lại xuất hiện ở cuốn phim chiến trường? Bởi vì chiến tranh Việt Nam là vết thương rất sâu trong lòng người Mỹ, mãi đến bây giờ nó vẫn chưa lành hẳn. Bạn đừng ngạc nhiên vì tôi gặp rất nhiều dấu vết chiến tranh Việt Nam, ngay cả trong những quyển sách viết về nghệ thuật tình yêu và tình dục.

Thế nào là một cái hamburger ngon vẫn là một câu hỏi chưa có ai trả lời vừa ý tất cả mọi người. Ngay cả hamburger cũng có cả bốn hay năm chục kiểu hamburger. Công cuộc tìm kiếm cái hamburger ngon tôi tìm thấy nhiều điều rất thú vị dẫn đến chỗ tôi tự nhủ có lẽ tôi nên từ bỏ chuyện ăn thịt bò, và tôi muốn lên tiếng bênh vực người Mễ mà ông Tổng Thống của chúng ta đã ghét bỏ và cấm đoán họ.

Để có cái hamburger ngon, điều kiện đầu tiên là chúng ta phải có thịt bò ngon. Thịt bò được xẻ ra ở những công ty làm thịt bò. Công nhân đa số là người Mễ không có giấy tờ chính thức. Môi trường làm việc của họ rất nguy hiểm, nóng bức, và bẩn thỉu. Họ dễ bị mất tay chân vì dao bén, máy móc chạy nhanh, chỗ làm việc trơn trợt vì máu bò và các chất thải. Không có những người Mễ này, ít có người Mỹ nào chịu làm việc trong môi trường như thế với đồng lương như thế. (Bạn có thể xem phim hay đọc sách có cùng tựa đề “Fast Food Nation của Eric Schlosser.”)

Viết đến đây tôi tự hỏi, khi các phi hành gia lên mặt trăng hay ra ngoài vũ trụ, thức ăn họ mang theo có món nào mang mùi vị hamburger hay không? Tìm trên internet thấy phi hành gia John Young lén mang một cái beefsteak sandwich lên phi thuyền trong khi vào không gian.

Giới thiệu sách của Thư Quán Bản Thảo

 

Mèo ốm

rừng cây trên đồi phía sau Target ở Watchung

Ảnh chụp hồi thứ Tư vừa qua Nov. 8, 2017. Sườn đồi phía sau Target ở Watchung. Ở ngoài đẹp hơn trong ảnh. Và ảnh chẳng có liên hệ gì với bài viết nhảm của tôi.

Nora bị ốm. Chẳng biết ra ngoài sân ăn trúng cái gì mà suốt từ hôm qua đến sáng nay nàng ói liên miên. Tôi dọn hoài đến phát sợ luôn. Đầu nàng trầy xước lung tung, tự cào cấu đến chảy máu, tối qua tôi phải ôm nàng lại để bôi thuốc.

Trời rất lạnh, thế mà Nora cứ đòi ra ngoài, nhất là mỗi khi Inkie, con mèo đen thui như màu mực, đến. Nora chẳng làm gì chỉ leo lên cái bàn cạnh cửa sổ, có vẻ rất sợ Inkie, chỉ chực phóng vào nhà để trốn. Mỗi khi Ginger, con mèo vàng sọc nâu, đến ăn là Nora đòi ra ngoài và đuổi cắn Ginger. Mèo cùng giống với nhau thường đánh nhau để bảo vệ chủ quyền của lãnh thổ. Inkie rất yêu thương và bảo vệ Ginger. Tôi thấy những vết trầy xướt trên người Nora nghĩ là do bị Inkie cắn, nhưng cũng có thể nàng bị những bụi gai cào khi rượt đuổi Ginger. Con mèo đen lẫn trong bóng tối nên rất khó nhìn thấy nó. Có lần trời tối, tôi bước ra sân tìm Nora, không thấy con mèo nào cả nhưng thấy trong bóng đêm đôi mắt sáng lấp lánh, đó là đôi mắt của Inkie.

Mấy con mèo hoang này, có lẽ có người nuôi, nên con nào cũng béo tốt, lông mướt rượt. Ginger nhỏ bé thùy mị hơn. Còn Nora thì béo quá, sáng nào thức giấc đi xuống cầu thang trông nó phục phịch đến tội nghiệp.

Ba con mèo, hai con mèo hoang, một con mèo nhà, tôi nuôi. Tôi định viết chuyện ba con mèo, lại nghĩ xa xôi đến chuyện ba người. Đã nói lâu rồi, nhắc lại câu hát,
Một người đi với một người,
Một người đi với nụ cười hắt hiu.
Hai người vui biết bao nhiêu,
Một người lặng lẽ buồn thiu đứng nhìn.
Ai chê sến kệ họ. Tôi thấy mấy câu này đáng được gọi là thơ. Cái ý nghĩ một người “đi với” nụ cười hắt hiu mà chẳng hay sao? Còn chữ buồn “thiu” hay buồn “hiu.” Chữ thiu mà không hay à. Thức ăn thiu là thức ăn bỏ đi, chứ còn gì nữa.

Mèo đen phải gọi là mèo mun, chó đen mới là chó mực. Nhưng chữ mun, như gỗ mun tiếng Anh là gì?

Mèo có sống thành từng đàn hay không? Có như cọp, có thể ở chung ở gần, nhưng kiếm ăn, đi săn mồi thì đi riêng. Thế còn những con mèo hoang tụ họp ở bãi đất trống như bài thơ của T. S. Eliots có thể gọi là đàn mèo không?

Nora có vẻ như thèm sự có mặt của bạn bè bởi vậy khi nàng đánh hơi được có mấy con mèo hoang đến là nàng thắc thỏm ra mặt. Nàng sợ Inky ghét Ginger nhưng vẫn thích ở xa xa gần gần với chúng.

À, Nora cũng canh chừng đàn nai. Mỗi lần nai đến là nàng nhất định phải mở cửa cho nàng ra. Sáng nào tôi đi làm, nàng cũng nhìn theo với vẻ ảm đạm.