Buổi sáng mùa hạ sau cơn mưa

Hai ba hôm, trời nóng và ẩm. Có buổi chiều đạp xe về trong bầu trời mùa hạ này, hơi nóng và ẩm bốc lên từ mặt đất, dù ở đường mòn có nhiều bóng râm, tôi vừa mệt vừa mỏi đâm ra quạu với bản thân mình. Để giữ (hy vọng là thế) sức khỏe mà mình phải hành hạ bản thân mình như vầy, tự hỏi, mình có điên không. Lúc ngồi vào, lái xe về tôi có cảm giác choáng váng, buồn nôn, chỉ thoáng qua chừng một giây, không biết là heat stroke hay heart attack. Sau đó tôi ăn miếng trái cây mang theo thì có cảm giác bình thường trở lại.

Mưa từ chiều hôm qua cho đến tối. Sáng nay trời mát mẻ. Ngồi nghe chim hót vang trong rừng cây sau nhà.

Đoạn phim ngắn thu ảnh cơn mưa hôm qua. Các bạn mở cùng lúc đoạn nhạc Lorn Lerber đàn theo kiểu jazz bản nhạc Việt (rất quen thuộc mà tôi không nhớ tên, dù nhớ lõm bõm vài câu trong bài) để nghe tiếng nhạc hòa với tiếng mưa. Tôi không biết lồng nhạc vào đoạn phim để có nhạc mà vẫn giữ được tiếng mưa. Tiếng mưa, chỉ tiếng mưa thôi, cũng mang cảm giác yên ả thoải mái.

Nhớ hai câu ca dao:
Chim khôn kêu tiếng rảnh rang.
Người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe.

Không phải chim nào cũng phát ra tiếng hót ngọt ngào, dịu dàng dễ nghe đâu nha. Mình cứ quen nghe người ta nói tiếng chim líu lo, ríu rít. Thật ra chỉ có một số loài chim có tiếng hót nghe hay, vui tai. Nhiều lần tôi muốn ghi lại hoặc bằng máy, hoặc bắt chước tiếng phát âm trầm bổng của chim, nhưng đang đi giữa đường, không tiện làm những chuyện như vậy, sợ bị chê hay bị rầy là kỳ cục. Nghe các loại chim đối đáp với nhau, khi gần khi xa, vang qua vọng lại cũng thú vị.

Trong rừng có khi tôi nghe tiếng chim giống như tiếng một con mèo con kêu gào nghe rất thảm, khiến mình động lòng thương hại. Có lần tôi nghe tiếng mèo con gào như thế từ bụi rậm, tìm mãi thấy có con chim nhỏ xíu đang há mỏ kêu. Con chim màu nâu, trong bóng râm của bụi cây, thấy nó màu đen, dáng nhỏ nhắn thanh thanh, nhưng âm thanh của nó thì làm mình cảm thấy rờn rợn. Gặp lúc trời đang nhiều mây âm u, trong rừng ánh sáng càng ít hơn, nghe tiếng chim này đủ rùng mình.

Có loại thì kêu quang quác như tiếng hét. Nhưng có loại tiếng hót bổng trầm như tiếng nhạc. “Thì em đến nè. Thì anh đến đi.” Tôi chỉ nhớ được âm thanh của một loại chim nếu chép lại bằng tiếng người thì giọng bổng trầm của nó giống như câu đối đáp của chàng và nàng phía trên. Tôi không hề nhìn thấy những con chim này, chúng nó hót rất to, từ xa vang vọng đến. Và cả hai con chim này ở hai góc rừng khác nhau. Nghe tiếng hót, người ta có thể đoán được chúng đang từ từ chuyền cành bay đến gần nhau hơn.

Vài tấm ảnh

Ngày xưa ít thấy phụ nữ chụp ảnh. Thời xưa nữa, ở bên Anh, bà Virginia Woolf có nói trong quyển To The Lighthouse, thật ra bà để nhân vật của bà nói sau đó bà tơ tưởng suy nghĩ mổ xẻ, rằng phụ nữ không thể vẽ hay viết văn. Bây giờ, năm 20 của thế kỷ 21 thời đại công nghệ phát triển, máy ảnh dễ dùng, giá cả tương đối phải chăng, chuyện phụ nữ chụp ảnh tuy khá phổ biến nhưng không hẳn là dễ dàng cho phụ nữ, nhất là người có tuổi.

Tôi chụp chẳng được bao nhiêu tấm ảnh coi được, nhưng bị mắng, bị rầy cũng khá nhiều lần.

Có lần tôi đi một chợ phiên, phía Nam New Jersey, nơi có nhiều vườn nho và hầm rượu vang. Đây là loại hội chợ nho nhỏ, bán nhiều đồ thủ công, mỹ nghệ. Tôi thấy một hàng bán sáo trúc và các đồ trang sức, quạt, kèn; không đắt tiền chừng năm mười đồng US mỗi món. Người bán hàng là một người phụ nữ da trắng, khá trẻ, độ bốn mươi. Tuy là người da trắng nhưng hàng của cô nàng lại có khuynh hướng trang trí theo kiểu Trung quốc. Có lẽ cô nàng học lóm những kiểu vẽ vời trang trí Á đông nên nhìn vào là biết đồ giả. Tò mò, tôi lấy máy ảnh chụp mấy cái sáo trúc có vẽ hình thì cô nàng nổi giận mắng tôi tơi tả. Cô nàng rượt tôi chạy ra khỏi cửa hàng la hét um sùm, bảo là tôi định ăn cắp kiểu trang trí của cô nàng.

Tôi bỏ đi, sợ cô nàng nổi dóa đánh đập mình bất thình lình thì mất công. Cũng không muốn đứng đó cãi cọ lôi thôi. Nghĩ thầm chắc cô nàng này ăn cắp kiểu của người khác. Đáng lẽ phải sợ người ta biết mình ăn cắp kiểu, đằng này lại mắng chửi người khác sợ người ta ăn cắp kiểu của cô nàng. Nếu là một người đàn ông da trắng chụp ảnh hàng bán của cô nàng, chắc cô nàng không dám chửi. Chẳng biết hành động của cô nàng có phải là kỳ thị bà già Á châu nhỏ con hay không, chứ nếu là một người đàn bà cao lớn chưa chắc cô nàng dám rượt ra khỏi cửa hàng.

Đáng lẽ phải xin phép trước rồi mới chụp ảnh, nhưng kinh nghiệm cho biết cứ chụp đại, hễ cấm thì thôi. Có khi người ta lên tiếng thì mình đã chụp được vài tấm rồi. Sau đó thì bỏ đi cho thật lẹ.

Ennio Morricone

Sáng nay đọc báo thấy tin ông Ennio Morricone qua đời ở tuổi 91. Ông là nhà soạn nhạc nổi tiếng có rất nhiều nhạc phẩm làm nền trong phim ảnh miền Viễn Tây Hoa Kỳ. Người ta gọi loại phim này là Spaghetti Westerns (mì Ý Viễn Tây) vì đây là loại phim thuê đạo diễn và nhà sản xuất làm ở Ý (hay Nhật) vì giá rẻ. Mời bạn nghe một bản nhạc của ông Morricone viết cho phim “The Good, The Bad, and The Ugly” qua tiếng đàn đại hồ cầm của Yo Yo Ma (cũng nổi tiếng lắm) cùng với giàn giao hưởng Rome Sinfonietta. Ban đầu hơi chậm và nhỏ nên bạn đừng nóng. Mất vài phút thôi nhưng nghe rất hay.

Sóc mang quà cho ai?

Hôm qua, chúng tôi trở lại đường mòn dọc dòng kênh D&R, nhánh Đông. Kênh này dẫn nước từ và xả nước vào sông Millstone, một nhánh phụ của sông Raritan. Lần này chúng tôi đi bộ. Bắt đầu từ South Bound Brook Lock, đi về hướng New Brunswick, ngang qua 5 Mile Lock, đi phía dưới đường cao tốc 287, ngang Demott Lane Footbridge, đến điểm cuối là Landing Lane Bridge. Con đường mòn có lẽ còn tiếp tục thêm một đoạn nữa, nhưng đã bị chặn lại cấm vào. Đoạn đường đi bộ dài 5 mi. tương đương 8km. Đi thì phải về, nhân đôi con số.

Trên đường về gặp con sóc này, nó ngậm một nhánh lá trong miệng chẳng hiểu vô tình hay cố ý. Nếu cố ý thì nó sẽ làm gì với nhánh lá này, ăn hay xây tổ? Sóc đâu có làm tổ, vì nó có thể ở trong mấy bọng cây. Tôi đã từng thấy cả đàn sóc, từng con từng con một, chui vào cái lỗ nhỏ xíu trên cây, khá cao so với mặt đất. Có lẽ nó mang lá để làm quà cho con sóc khác chăng? Mắt nó trong veo và rất sáng, như thể thu vào cả bầu trời trên đầu tôi.

Những ngày này, tôi chẳng làm gì khác hơn là ăn ngủ, đi rừng hay đường mòn, bằng xe đạp hay đi bộ. Các bạn khen giỏi quá, đi xa quá, khỏe quá. Thật ra, mỗi ngày đi một quãng, đi nhiều ngày thì hết chiều dài con đường. Còn khỏe? Cũng chẳng khỏe lắm. Tôi không còn đi nhanh như những năm về trước. Đoạn đường rừng ở Watchung lúc trước đi 65 hay 67 phút, bây giờ đi 75 có khi 85 phút. Có khi vì đi chậm, có khi vì ngừng lại chụp ảnh, và thường khi là cả hai.

Lâu ngày không đi xe đạp, giữ thăng bằng không khéo, có hôm trong một chuyến đi tôi ngã xe đạp ba lần. Lần nào cũng ở ngay triền dốc, suýt tí nữa là nhào xuống dòng sông hay dòng kênh (con đường mòn ở giữa, một bên là sông, một bên là kênh). Chạy thì thôi, ngừng là ngã, một phần vì chân chỉ vừa chạm mặt đất nếu ngồi trên yên xe, và phải nhón gót cho đầu ngón chân dài ra thêm tí tẹo.

Hơn nửa năm trôi qua. Cuộc sống của tôi trong thời dịch bệnh không có nhiều thay đổi. Trước ít tiếp xúc với người ngoài, giờ vẫn vậy. Chỉ có ít đi chợ hơn. Và cái thiếu thốn quan trọng nhất là không được đến nhà vợ chồng cô út em ông Tám ăn cơm. Trước, tôi ca cẩm, ăn ngon nên ăn nhiều sợ mập. Cả mấy tháng nay không ăn ngon tôi vẫn múp míp không xuống cân dù từ hồi đầu năm đến giờ nhờ thời tiết không khắc nghiệt tôi đi bộ đi xe đạp mỗi tuần một hay hai lần. Tuy không được đến nhà anh em ăn cơm, ông Tám vẫn được anh em mang thức ăn nấu sẵn đến cho. Canh khổ qua nhồi thịt, cá kho, canh chua, tôm rim, bánh khúc, bánh bao, bánh pa-tê-sô, bánh bèo, gỏi đu đủ xanh bò khô, xôi đậu, còn nhiều không nhớ hết. Tôi không đọc nhiều, không viết nhiều, nhưng chụp ảnh thì nhiều vô số. Nếu tôi có một tấm ảnh để đăng lên, điều đó có nghĩa là tôi có hằng trăm tấm ảnh xấu, sáng quá, tối quá, mờ quá. Điều đó chẳng hề gì. Miễn tôi vui là được.

Trong khi con số người nhiễm bệnh tăng vọt ở các tiểu bang như Texas, Florida, ở New Jersey, con số người chết vì bệnh Covid-19 mỗi ngày trên dưới 50. Con số người mới nhiễm bệnh có vẻ tăng lên, từ trên dưới 200 đến trên dưới 400.

Thư viện địa phương mở cửa trở lại, với sức chứa số người 25% diện tích tòa nhà. Tôi có thể mượn sách và mang sách trả ở thư viện chứ không phải làm hẹn và lấy sách để trên bàn ở bên ngoài. Thư viện là một phần sức sống của tôi vì được mượn phim dù tôi không bao giờ thiếu phim để xem. Xem mãi, thấy đa số phim ở Netflix là phim dở, còn các phim hay thì tôi đã xem. Nhiều khi mệt hay chán, không thích đọc sách, không muốn xem lại phim cũ, tôi xem cả những phim dài nhiều tập của Hallmark, loại phim hiền lành, tốt đẹp gương mẫu, như The Good Witch. Tôi không ưa phim ở truồng lộ liễu, tình dục trắng trợn, hay máu me quá độ. Tôi cũng không ưa lắm những phim quá tốt đẹp tử tế. Tôi thích những phim nói về bản chất phức tạp của con người, thái độ và sự chọn lựa của họ trước một tình huống khó xử. Phim về người già có vài phim thú vị. Tối qua tôi xem phim The Quartet. Xem xong tôi muốn viết một bài biên khảo về nhạc opera. Viết để tìm hiểu thêm về chủ đề này. Cuộc đời mênh mông quá, học hoài vẫn chưa hết đề tài để học.

Bóng Chim Đêm

Hạnh là bạn đọc, mới sau này thôi. Hạnh gửi một bài thơ (có tựa đề “Nỗi Buồn Tôi”) tôi đăng hôm trước rồi link vào facebook. Nhà thơ Lưu Xông Pha khen bài thơ hay, nhiều cảm xúc, và là thơ trí tuệ. Cũng nên nói thêm đôi chút, ông LXP, được biết đến với rất nhiều bài thơ đăng trên các báo, tạp chí văn thơ từ trước với tên Hoài Diễm Từ. Tôi nghĩ được một người đọc thơ, làm thơ lâu năm khen ngợi là điều đáng mừng.

Tuần này Hạnh gửi truyện ngắn Bóng Chim Đêm. Dặn tôi hễ thấy truyện hay thì đăng. Tôi nhìn thấy tâm trạng của tôi, từ trước đến giờ vẫn vậy. Tôi viết không dễ, viết rồi không biết truyện mình viết đọc được không; vì thế muốn gửi các báo nhưng ngại bị chối từ. Hạnh có thể mở một blog, mở một facebook, rồi tự đăng bài nhưng cô chọn gửi bài cho tôi. Cũng như tôi, tự viết tự đăng bài thì lại không biết bài mình viết có đọc được không, chưa dám nói là có hay hay không.

Bóng Chim Đêm, kéo tôi vào truyện ngay từ những dòng đầu tiên và giữ tôi đến chữ cuối cùng. Tôi muốn biết điều gì xảy ra cho các nhân vật trong truyện. Giọng văn mềm mại, giản dị. Truyện có không khí vừa hiện thực vừa siêu thực. Không khí của Murakami.

Mời bạn đọc. Các bạn nếu thấy vừa ý, nhớ để lại một vài lời khuyến khích. Cám ơn các bạn.

Bóng Chim Đêm

Tác giả: Hữu Hạnh

Khoảng hai, ba tháng trước vì  phải lo cho một dự án, tôi thường xuyên ngủ muộn. Tầm bốn, năm giờ sáng tiếng kèn ai oán đưa tang ngang ngõ nhà tôi  làm tôi tỉnh giấc khi mới vừa chợp mắt. Ai đó đã đi qua cuộc đời này. Rồi họ sẽ về đâu, người chết và người sống? Thật nặng nề khi  bắt đầu ngày mới giữa những thanh âm buồn thảm…

Chiều chiều rảnh rỗi tôi thường đạp xe quanh các hẻm nhỏ gần nhà như một cách tập thể dục. Nửa tháng trước, lúc trời chạng vạng, bỗng một người đàn bà độ tuổi sáu mươi chặn xe tôi lại hỏi. Nè cô, kia có phải là dơi không? Tình cờ, ngõ hẻm lúc đó rất vắng. Nét mặt bà dại dại, màu da xanh tái, tay bà lạnh ngắt,  làm tôi rợn cả người. Tôi không trả lời, vội vã hất tay bà ra. Tôi dấn chân rất mạnh trên bàn đạp để mau chóng thoát khỏi bà. Lúc ấy, theo phản xạ tự nhiên, tôi ngước nhìn trời thì thấy một cái gì đó, giống như là bóng chim, màu đen, xẹt ngang qua. Tôi vòng qua hẻm khác nhưng trong đầu không thôi ám ảnh.

Một hôm nọ đang bị cảm, sau khi uống vài viên thuốc, dù thấy hơi  váng vất nhưng tôi vẫn dẫn xe đạp ra khỏi nhà. Tôi muốn vận động một chút cho máu huyết lưu thông dễ dàng. Mải nghĩ, tôi quên, và đã quẹo vô con hẻm có người đàn bà kỳ lạ. Khi nhận ra thì đúng ngay lúc đó bánh xe tôi cán phải cục đá to, xe đạp chao nghiêng. Khi khỏe khoắn thì trong tình huống này tôi vẫn có thể giữ thăng bằng. Nhưng lúc ấy tôi hơi mệt nên đã té ngã. Thình lình, một bàn tay ướt lạnh bấu lấy tay tôi cứng ngắc, nhanh chóng lôi ngay tôi vào cổng. Tôi còn đang ngơ ngác thì thấy chiếc xe đạp cũng đã được đẩy vô cùng với tôi.

Trái với vẻ thâm u khi nhìn từ bên ngoài, ngôi nhà nằm sau cánh cổng được thắp đèn sáng sủa, bày trí trang nhã, cửa kính, rải rác mấy chậu hoa kiểng. Có mùi bánh bông lan nướng thơm phức, thơm như không khí của một gia đình đầm ấm. Nhưng mà tôi đang rất sợ. Tôi dùng hết sức lực đập lên  cánh cổng.Trơ trơ.  Không một tiếng vang. Nó được làm bằng kim loại đặc biệt nhìn rất vững chãi. Bên ngoài chắc là không thể nghe thấy gì.

Tôi nhũn nhặn hết mức.

Bác ơi, sao lại đưa cháu vào đây? Mau mở khóa cổng để cháu về, cháu còn phải nấu cơm.

Người đàn bà không nói gì, chỉ lặng lẽ nhìn tôi. Bà đưa tay vuốt tóc tôi. Tôi rụt người lại.

Cô bắt dùm tôi một con dơi được không. Rồi cô về nhà kịp mà.

Tôi dõi mắt tìm lối thoát. Đạp xe có thể làm rớt điện thoại nên tôi đã không mang theo. Phía trên cổng là bụi cây bông giấy. Không kẽ hở để trèo ra. Tôi chưa bao giờ, và cũng không biết cách dùng vũ lực để chống trả ai. Tôi tìm cách đánh lừa, dẫn dụ người đàn bà này để có thể thoát ra ngoài. Tôi lo lắng không biết bà ta có giấu dao hay một loại hung khí nào đó trong cái áo gió khoác hờ trên người không.

Nhà bác có cái vợt bắt bướm  loại to không? Bác mở cổng để cháu ra ngoài bắt dơi cho. Dễ thôi.

Có, ở góc vườn kia kìa.

Cây vợt bám bụi dày, dính đầy mạng nhện, có cả xác côn trùng trên đó, cán bằng tre đã nứt gãy.

Vợt hư rồi. Cháu sẽ chở bác đi mua ngay bây giờ. Bác mở cổng mau lên, kẻo tối quá người ta dẹp hàng thì làm sao mua được.

Bà ta dịu dàng nói.

Mời cô vào hẳn trong nhà. Cô chờ chút. Tôi lấy bánh trong lò ra cho cô dùng thử đã nhé. Ngon lắm.

Tôi năn nỉ.

 Đi mua vợt trước rồi mình ăn sau cũng được mà bác. Kẻo không kịp. Dơi sẽ bay mất hết.

Bà nắm tay tôi dẫn đi. Tôi giằng tay lại, cố trụ vững, không muốn bị lôi vào sâu hơn. Bà khựng lại giữa chừng, giọng rè rè như sắp khóc.

 Sao ai cũng sợ tôi? Tôi có làm hại ai bao giờ. Tôi chỉ nhờ bắt một con dơi thôi mà.

Tôi vừa sợ vừa tò mò.

Để làm gì hả bác?

Từ từ tôi sẽ nói cho cô biết.

Ngoài bác ra, nhà không còn ai sao?

Cô nói gì lạ vậy? Bộ cô không thấy hai người một đứng một ngồi bên cạnh cây đàn piano?

Tôi đang đứng ngay bậc thềm. Đúng là có một cây đàn piano màu ngà cũ kỹ ở góc phòng khách. Nhưng tôi  không nhìn thấy ai cả. Tôi sởn gai ốc, tay chân bủn rủn. Hình như  tôi đã lọt vô một ngôi nhà ma. Người đàn bà này có lẽ bị điên. Hay bà ta cũng là ma. Làm sao để thoát ra đây? Tôi cố hết sức giữ cho giọng không bị run.

Bác nói mời cháu bánh. Bánh đâu bác?

Ờ phải. Cô chờ chút.

Bà bước nhanh vào bếp.

Tôi mau chóng vòng ra sau ngôi biệt thự tìm lối thoát. May quá, có cổng sau, nhưng, phía trên là kẽm gai. Cánh cổng và ổ khóa đều hoen rỉ, trơ màu sắt.

Bác cho cháu gọi nhờ điện thoại để báo người nhà biết là cháu về trễ.

Thật ra tôi đang sống một mình ở phòng trọ.

Bà nói vọng lên từ bếp.

Báo làm gì. Chẳng ai chờ cô đâu. Nhìn mắt cô tôi biết, chẳng ai chờ cô đâu. Mà tôi không có điện thoại. Đúng ra là cũng có nhưng bị cắt rồi. Tại không ai trả phí.

Bà cầm hai đĩa bánh nhỏ, và đưa tôi một đĩa sau khi để lại một đĩa to trên mặt đàn piano.

 Nè, mời cô ăn thử, ngon lắm đó, vì cái gì cũng mới. Bột mới, trứng tươi, nho khô vẫn còn hạn dùng.

Tôi phân vân không biết làm sao để khỏi phải nhai nuốt. Làm cách nào để chắc rằng bánh không có chất độc?

Có bao giờ bạn tưởng tượng ra cảnh ngồi ăn với một người kỳ lạ trong hoàn cảnh bất thường như vầy chưa?

Cô sống có vui không?

Không vui nhưng cũng không buồn. Cháu làm việc bù đầu bù cổ, chẳng còn thời gian để ý tâm trạng của mình nữa. Nhưng nói chung là ổn. Mình ra ngoài đi dạo hóng mát chút đi bác. Trong này nóng quá.

Bà đứng lên mở công tắc quạt.

Cô thấy mát chưa nào?

Cháu thích gió trời tự nhiên hơn.

Mình như vầy là mát lắm rồi đó cô. Người nằm trong mộ tối còn không có cửa số nữa mà.

Cứ nói chuyện kiểu này một hồi thì tôi điên mất. Tôi thấy tiếc là đã không đọc tài liệu về cách đối diện với người tâm thần trong tình huống bất khả kháng. Tôi cứ hay đọc linh tinh những điều không thực sự thực tế. Nhưng ai mà ngờ có lúc mình bị rơi vào hoàn cảnh này cơ chứ?

Sao cô không ăn bánh đi?

Tôi bỗng thấy mình nói dối trơn tuột.

Hồi trưa cháu mới ăn chè, giờ vẫn còn no. Lát cháu đem bánh về nhà ăn tráng miệng sau bữa tối.

Ờ, vậy cũng được.

Tôi mừng quá vì bà không ép tôi ăn nữa.

Dơi có thể chuyển tin nhắn đến người ở bên kia thế giới, giống như bồ câu đưa thư. Cô biết không?

Dạ biết.

Làm sao cô biết?

Thì bác vừa nói đó thôi.

Bà bật cười thành tiếng. Nụ cười làm sáng khuôn mặt, khôi phục nét tỉnh táo của một người lành mạnh. Mãi đến bây giờ tôi mới tận mắt nhìn thấy nụ cười có năng lực kỳ diệu đến vậy.

Bà lấy ra một mảnh giấy nhỏ trong ngăn kéo.  

Tôi muốn nhờ dơi chuyển cái này đến chồng và con gái.

Mảnh giấy kẻ ô vuông cắt ra từ vở ghi chép của học sinh. Nét chữ khó đọc, nhỏ xíu quắn quíu, tương phản với dáng người cao lớn của bà.

“Mình quyết định không buồn nữa. Rồi sẽ đoàn tụ thôi. Không cần lo lắng gì cả.”

Bà vừa dứt lời thì tôi như nghe  thấy vài nốt piano vang lên khe khẽ. Tôi rùng mình lắc lắc đầu, nghĩ mình đang bị ảo giác. Có lẽ tôi đã bị nhiễm trường khí u uất ma mị của ngôi nhà.

Tôi viết ngắn gọn vậy thôi để dơi không phải chở nặng, để mau đến được nơi cần đến. Cô giúp tôi được mà, phải không? Bà nói, mắt vẫn chưa rời bức thư, giọng tin cậy, như đang tâm sự với một người bạn thân, rất thân. Rồi bỗng nhiên nét tỉnh táo trên gương mặt bà vụt biến mất rất nhanh như sợi khói mỏng bị cơn gió lớn thổi bạt đi.

Bà đột ngột đứng phắt dậy, giúi bức thư vào tay tôi cùng với sợi dây nylon đen dài khoảng một mét.

Cô tự bắt dơi và gởi thư này giùm tôi. Cô nhớ buộc thư vào chân dơi cho kỹ kẻo rớt dọc đường. Khỏi cần chở tôi theo làm chi cho mệt. Mà cũng chưa chắc cô chở tôi nổi. Xong rồi nhớ quay lại báo tôi biết.Cô biết không, tôi chờ mãi chờ mãi mới gặp được người như cô, chịu nói chuyện mà lại còn giúp đỡ tôi. Sao cô tốt với tôi quá vậy?

Sao cô tốt với tôi quá vậy?  Bà lẩm bẩm câu này hai ba bốn, một trăm  lần.

Chiếc cổng kim loại cuối cùng đã được mở ra.

 Ngoài kia là màu hoàng hôn ảm đạm. Sắc mây tím loang lổ những hình thù to lớn kỳ dị, với đường viền màu ánh sáng trắng đang lan ra khắp cả bầu trời.

Mất mát người thân gây ra tổn thương không dễ phục hồi, hoặc bất khả phục hồi. Nhưng, nụ cười mong manh kia chính là tia hy vọng. Duyên số đã đưa tôi đến gặp bà.  Tôi nhất định sẽ tìm ra cách nào đó đem bà trở lại với đời sống này.  Rồi bà sẽ đoàn tụ giữa cộng đồng những người đang sống. Dù trần gian này có lạnh lẽo đến đâu thì tôi vẫn sẽ cố gắng hết sức đem bà quay trở về.

Lúc đó, thực sự, tôi đã nghĩ như vậy và thực tình tôi muốn làm như vậy. Nhưng, lòng trắc ẩn chỉ lướt qua tôi chứ không đậu lại , ngày qua ngày dần dần phôi pha. Tôi quên. Tôi đã quên. Tôi cố tình quên. Như quên đi cảnh huống buồn thảm trong một bộ phim.

Từ dạo ấy tôi tránh hẳn con đường ngang qua khu nhà của bà.

Hữu Hạnh

Saigon, tháng 8, 2018

Đi hết đường mòn dọc theo kênh D&R

Bắt đầu từ ngày 21 tháng Năm, ông Tám dẫn tôi đi Delaware and Raritan Canal Trail bằng xe đạp. Chúng tôi đi từng chặng, mỗi tuần đi một hay hai lần. Dịch chữ trail ra thành đường mòn thì nghe cũng tạm tạm thôi. Tôi không biết dùng chữ nào cho sát nghĩa hơn. Ông Tám cho rằng cả chiều dài con đường mòn này thật ra chính là con đê ngăn nước kênh. Nếu dịch chữ trail là đường đê con đê liệu người đọc có bắt bẻ? Tôi bị người đọc từ trẻ đến già bắt bẻ mãi tôi cũng phát mệt. May là dịch không lương, viết không có nhuận bút. Hầu hết chiều dài con đường 77 miles (124km) này là đường đất có trải đá. Có nơi rộng rãi hai ba chiếc xe đạp chạy song song vẫn còn chỗ. Có nơi hẹp chỉ vừa đủ cho hai chiếc xe đạp, mỗi chiếc xe chạy một chiều. Lấn nữa là có người sẽ lọt xuống kênh.

Đường mòn này có ba phần. Một phần là đường mòn dọc theo đường rầy xe lửa; hai phần còn lại trước kia là towpath, đường dành cho xe lừa dùng để kéo những chiếc barge (thuyền bè, phiên âm theo tiếng Pháp là xà lan) chở hàng hóa trên dòng kênh. Vì là đường dọc theo đường xe lửa và đường xe thồ nên suốt chiều dài con đường này rất bằng phẳng, nếu có độ dốc thì rất ngắn và rất ít để dễ dàng cho công việc chuyên chở. Và vì bằng phẳng nên con đường này rất được người đi xe đạp yêu chuộng.

Sông Delaware nằm bên trái của tiểu bang New Jersey, làm ranh giới của hai tiểu bang Pennsylvania và New Jersey. Sông Raritan, nhỏ hơn sông Delaware, nằm ở miền giữa tiểu bang New Jersey, hợp bởi hai nhánh Đông Tây từ vùng núi cao, chảy vào biển Atlantic (Đại Tây Dương). Trước khi có con kênh D&R (viết tắt của Delaware and Raritan), ghe tàu hàng hóa từ Pennsylvania chở đến New Jersey và New York thường phải chạy đến điểm cuối cùng của New Jersey là Cape May rồi chạy theo ven biển Đại Tây Dương ngược lên New York. Năm 1830 người ta cho đào con kênh nối liền sông Delaware và sông Raritan để tiện việc chuyên chở hàng hóa, đặc biệt là chở than đá.

Sông Delaware nhìn từ đường mòn

Đường mòn D&R có hình dáng của chữ V. Điểm cuối của chữ V tựu vào ở Trenton, thủ phủ của tiểu bang New Jersey. Từ nhà tôi bắt vào nhánh phía Đông của đường mòn khá gần, lái xe chừng 15 phút là đến.

Ngày 21 tháng Năm, đi từ Kingwood Boat Launch, nhánh phía Tây dọc theo sông Delaware. Nhánh này đi ngang Prallsville Mill and Lock, Stockton, và Lambertville. Đây là những thành phố nhỏ, đẹp, và cổ kính. Tôi đã có lần nói Lambertville là thành phố nhiều người đến thăm vì nơi đây tập trung nhiều họa sĩ, nghệ sĩ, và các nhà thủ công. Ở đây tôi gặp một con nai đứng gần sát đường mòn, thấy người mà không sợ, không bỏ chạy.

Nai cười

Ngày 4 tháng Sáu, đi tiếp con đường mòn D&R ngang qua Washington Crossing Bridge đến gần cuối nhánh phía Tây. Khoảng 2 miles cuối cùng ngang qua khu chung cư, nhiều nơi có vẻ hỗn độn. Lúc quay về tôi chụp được ảnh con vạc bay ngang chỗ tôi đứng. Đoạn đường này dài chừng 13 miles. Buổi chiều tôi đạp xe lết lết, chạy hoài mỏi muốn chết mà không thấy hết đường.

Vạc một cánh

Ngày 9 tháng Sáu, bắt đầu ở nhánh phía Đông từ Millstone đi ngược về hướng Zarephath gần nơi sát nhập vào con sông Raritan. Ở chỗ này tôi gặp con rùa mà các bạn bảo là giống cái nón sắt. Và tôi gặp hai con rắn đang quấn người vào nhau ngay trên đường đi, có lẽ đang giao hoan. Hình hơi tối, và tôi biết các bạn có nhiều người rất sợ rắn nên tôi sẽ không đăng ảnh, dù nó khá đặc biệt, khơi dậy óc tò mò của người xem. Rùa thì nhiều lắm, dọc theo con đường mòn này, cả hai nhánh Đông và Tây đều có vô số rùa. Nhỏ cở đồng xu 25 cents. Lớn thì bằng cái bánh xe hơi.

Rùa lớn bảo rùa nhỏ rồi đây anh sẽ đưa em về nhà.

Ngày 13 tháng Sáu đi tiếp nhánh Đông, từ Millstone đến Kingston, chiều dài chắc gần 13 dặm (21 km).

Diên vỹ tím

Ngày 19 tháng Sáu, đi được chừng hai dặm thì trời mưa. Mưa to ướt quần áo và sợ ướt máy ảnh nên quay về.

Ngày 21 tháng Sáu, bắt đầu từ Kingston đi đến gần cuối đường nhánh Đông, qua khỏi cây số 2 có nghĩa còn chừng ít hơn 2 dặm là đến điểm cuối của chữ V, gần thủ phủ Trenton. Đoạn đường này chúng tôi phải băng qua đường cao tốc, đường số 1 là con đường quốc lộ, liên tiểu bang từ Bắc xuống Nam. Ở cuối đường, con kênh hẹp lại. Đường đi ít bóng râm.

Tóm lại đoạn đường này không có gì kỳ vỹ nhưng trong những ngày không được đi chơi xa, có chỗ để đi xe đạp, tập thể dục, xem người ta chèo thuyền câu cá cũng đỡ cuồng chân hay nóng bức.

Sông Delaware nhìn từ cầu Uhlertown-Frenchtown

Vài hàng

Định đặt cái tiêu đề là vài hàng cuối tuần, nhưng nghĩ lại không biết Chủ Nhật là đầu tuần hay cuối tuần. Có người bảo là đó là ngày đầu tuần.

Sáng nay đọc bài tóm tắt tin tức trong tuần của báo New York Times, thấy đại học Princeton bảo sẽ đổi tên tòa nhà “The Woodrow Wilson School of Public and International Affairs.” Princeton không giữ tên Wilson vì quan điểm kỳ thị chủng tộc của ông. Quan điểm này bị chỉ trích là quá khích ngay cả so với quan điểm của những người cùng thời với ông. Các đại học lớn có nhiều chuyên ngành. Mỗi ngành thường có một vài tòa nhà được đặt tên theo các vĩ nhân hay chính trị gia. Có khi tên của tòa nhà được đặt tên của người tài trợ hay cung cấp học bổng cho sinh viên. Ông Woodrow Wilson (December 28, 1856 – February 3, 1924) là Tổng Thống Hoa Kỳ nhiệm kỳ thứ 28, từ năm 1913 đến 1921. Bốn năm trước, sinh viên đã kêu gọi đổi tên tòa nhà, nơi giảng dạy chuyên ngành những vấn đề liên quan đến luật pháp, thương mại và ngoại giao trong nước và quốc tế.

Con số người chết vì bệnh Covid-19 ở NJ mấy hôm nay chừng hơn bốn mươi người một ngày. Ngoại trừ ngày 26 tháng 6 con số báo cho biết số người chết ngày 25 tháng 6 là 1877 người, theo báo New York Times.

New Jersey đã cho mở cửa các dịch vụ cá nhân như tiệm cắt tóc từ hôm thứ Hai 22 tháng Sáu, 2020. Thương xá lớn sẽ được mở cửa sau ngày lễ Độc Lập, tôi không nhớ chắc. Coi như bình thường hóa từ từ, được 80 hay 90 phần trăm. Có nhiều cửa tiệm bán y phục đã mở cửa và người ta đứng sắp hàng từ sáng sớm để được đi mua sắm. Cả mấy tháng trời ở trong nhà, ai cũng muốn được trang điểm, ăn diện. Mua sắm cũng là một hình thức hưởng thụ, giải tỏa căng thẳng nội tâm. Các tiệm uốn tóc làm móng tay đều kín chỗ vì người ta làm hẹn trước đó.

Thư viện cũng sắp mở cửa trở lại, nhưng chầm chậm kiểu nhỏ giọt. Cả tháng nay tôi nhận được mỗi tuần 5 hay 6 cuốn sách và phim. Sách đặt trước, hẹn giờ đến lấy, người nhận và nhân viên thư viện không gặp nhau. Sách để ở trên bàn ngoài cửa thư viện. Nhân viên thư viện làm việc rất tốt. Tôi còn bao nhiêu sách chưa đọc, nhưng vẫn thường mượn sách và phim của thư viện vì nhiều khi tôi đọc theo chủ đề, sách ở nhà không có đủ. Và phim của thư viện rất là phong phú.

Vậy là sắp hết nửa năm. Tôi có cảm giác như mình sống lại khoảng thời gian ngay sau tháng 4 năm 75 cho đến khi bỏ xứ. Cái cảm giác sống trong chờ đợi cuộc sống trở lại bình thường, lành lặn. Thời gian trôi qua mà mình như đứng lại.

Trời nóng và ẩm nhưng không đến nỗi quá sức chịu đựng. Buổi sáng trời mát 68 độ F. Nhiệt độ cao nhất trong ngày là 90 độ F. Không đi ra nắng thì vẫn thấy dễ chịu. Hoa honey suckles đã tàn. Daisy, cúc trắng đang nở rộ dọc theo bờ kênh D&R. Buổi tối, từ hồi giữa tháng Sáu, đã thấy đom đóm bay tung tăng sau nhà. Hai con mèo, Chocolate và Ginger vẫn đến ăn. Chocolate chờ từ sáng sớm. Ginger len lén đến vào buổi tối có khi sáng sớm. Hễ thấy dáng tôi là nàng chạy đến ngồi gần cửa sau ngước mặt nhìn xin ăn rất đáng thương.

Hoa Bìm Bìm. Loại này có nhiều màu. Hoa trồng màu xanh indigo hay tím thẫm có người gọi là morning glory. Hoa mọc hoang thường có màu trắng hay tím nhạt. Gặp hoa này ở bờ kênh D&R.

Hạ khúc – Antonio Vivaldi

Hôm nay tôi mời bạn cùng nghe với tôi ba đoạn vĩ cầm của Antonio Vivaldi (4 March 1678 – 28 July 1741) trích trong bản giao hưởng “Bốn Mùa” (The Four Season). Không chỉ là nhà soạn nhạc lừng danh của Ý, ông còn là Giám Mục của Roman Catholic. Trong Tứ Tấu Khúc Bốn Mùa – Xuân Hạ Thu Đông tôi thích nhất là Hạ Khúc. Tôi đăng Hạ Khúc theo thứ tự Phần Một, Hai, và Ba. Nếu bạn không rảnh thì mời nghe ít nhất là phần thứ Ba. Nhanh, dồn dập, nhưng không kém phần réo rắt của Phần Một. Theo tôi phần thứ Ba là phần hay nhất trong bài Hạ khúc. Bản nhạc giao hưởng này do Anne Akiko Meyers và David Lockington của English Chamber Orchestra trình diễn.

Đi kèm với tứ tấu khúc này là những bài thơ sonnet để diễn giải âm nhạc bằng lời thơ; tuy vậy, không ai quả quyết là những bài sonnet này do chính Vivaldi viết ra hay là của một tác giả/nhà thơ nào khác. Cuối bài là bài sonnet đi kèm với Hạ Khúc, copy từ Wikipedia. Bản dịch là để dành cho một vài người bạn của tôi không quen dùng tiếng Anh. Hiểu sao thì viết vậy. Xin bạn đọc thông cảm nếu thấy rối rắm trúc trắc không vừa ý.

Vivaldi: Violin Concerto In G Minor, Op. 8/2, RV 315, “The Four Seasons (Summer)” – 1. Allegro Non Molto

Vivaldi: Violin Concerto In G Minor, Op. 8/2, RV 315, “The Four Seasons (Summer)” – 2. Adagio

Vivaldi: Violin Concerto In G Minor, Op. 8/2, RV 315, “The Four Seasons (Summer)” – 3. Presto

Allegro non molto
Under a hard season, fired up by the sun
Languishes man, languishes the flock and burns the pine
We hear the cuckoo's voice;
then sweet songs of the turtledove and finch are heard.
Soft breezes stir the air, but threatening
the North Wind sweeps them suddenly aside.
The shepherd trembles,
fearing violent storms and his fate.

Đang mùa khô hạn, cái nắng nung cháy
Khiến cho gười cũng như chim muông mệt mỏi, và rừng thông héo úa 
Chúng tôi nghe tiếng chim cúc cu;
giọng hót ngọt ngào của bồ câu và hoàng yến
gió nhẹ lay nhưng có chút đe dọa
vì cơn bão mùa hè bất thần thổi đến
Người chăn cừu rùng mình
Lo sợ cơn bão dữ dội đến có thể gây nguy hiểm cho tính mạng

Adagio e piano – Presto e forte
The fear of lightning and fierce thunder
Robs his tired limbs of rest
As gnats and flies buzz furiously around.

Nỗi sợ hãi vì sấm chớp dữ dội
Khiến người chăn cừu cảm thấy tay chân như tê liệt
Trong khi muỗi mòng bay tán loạn chung quanh.

Presto
Alas, his fears were justified
The Heavens thunder and roar and with hail
Cut the head off the wheat and damages the grain.

Xem ra nỗi sợ hãi của người chăn cừu cũng xứng đáng
Trời sấm động và mưa đá rơi nhiều
Khiến cho cây lúa mì bị gãy ngọn và hạt lúa mì rơi rụng   
Hoa Thủy Cúc

Có hay không sự kỳ thị chủng tộc?

Hôm qua đạp xe dọc theo dòng kênh D&R, tôi gặp hai người chèo thuyền có nụ cười dễ mến. Tôi quýnh quáng nên sử dụng máy không nhanh chóng, suýt nữa mất tấm ảnh. May còn vớt vát được một chút xíu.

Nếu bạn ở một nơi nào đó ngoài nước Việt Nam sẽ có lúc bạn gặp câu hỏi, có hay không sự kỳ thị chủng tộc. Đó là một câu bạn tự hỏi. Và có khi người khác hỏi bạn.

Tôi chính thức nhận được câu hỏi, “Bà có cảm thấy bị kỳ thị chủng tộc không?” ở trong văn phòng giám đốc EEO, ủy ban chống kỳ thị chủng tộc. EEO là từ viết tắt của Equal Opportunity Employment. Công ty tôi làm việc (hồi mười tám tháng trước đây, trước khi tôi về hưu) có ban hành điều lệ, tất cả mọi người đều có cơ hội tìm việc làm như nhau. Đây là một hình thức ngăn cấm kỳ thị chủng tộc. Rút kinh nghiệm từ bản thân, tôi thấy, hễ nơi nào có thông cáo, điều lệ, hay bảng tin tức cấm điều này chuyện nọ, thì tôi ngầm hiểu rằng, việc đó đã xảy ra, và có thể xảy ra nhiều lần. Thí dụ như cấm câu cá, tắm sông, hay cấm trượt băng trên mặt hồ vì sợ chết đuối thì biết nơi đây đã từng có người bị chết đuối.

Trước đó, có một kỹ sư trong nhóm của tôi, đã kiện cáo với EEO, là ông bị kỳ thị chủng tộc. Ông G. là người gốc Trung Đông, da không hoàn toàn trắng, lớn lên ở Mỹ, có bằng Tiến sĩ, chức vụ Project Manager. Ông không mấy dễ mến. Tự tin quá nên giống như kiêu ngạo. Mỗi khi trong công ty có những chức vụ cao như cỡ General Manager hay Vice President ông đều nộp đơn ứng cử. Thông thường, người ta chỉ nộp đơn ứng cử (hay nói đơn giản là xin tăng chức) cho những chức vụ cao hơn chức vụ hiện tại chừng một hay hai cấp. Project Manager của ban kỹ sư công chánh không phải là một chức vụ cao. Trên PM có Director, Chief Engineer, đến Deputy General Manager. Tuy vậy, từ PM mà đòi lên Chief Engineer đối với người như tôi thì khó khăn lắm; giống như Thiếu úy mà đòi lên Đại tướng là chuyện có thể xảy ra, nhưng ít khi thành công. Không thành công vì nhiều lý do phức tạp chứ không hẳn vì kinh nghiệm, hay học vấn. G. kiện lên EEO bảo rằng ông bị kỳ thị chủng tộc. Ông G. lại có một điểm bất lợi, vệ sinh thân thể không được chu đáo nên đôi khi ông bốc mùi hôi nặng nề. Khi có người than phiền ông lại nộp đơn kiện là ông bị kỳ thị chủng tộc.

Tôi là phụ nữ, người da màu, có lẽ vì thế khi điều tra về kỳ thị chủng tộc trong nội bộ, tôi được mời lên để phỏng vấn. Trưởng ban EEO lúc ấy là một luật sư người da trắng. Bà bị bệnh béo phì. Có lẽ, bà đã từng bị kỳ thị, vì là phụ nữ và béo phì.

Tôi trả lời là tôi không cảm thấy tôi bị kỳ thị vì màu da. Nếu có thì tôi không biết, hoặc không thể chứng minh. Điều đó không có nghĩa là việc ấy không hoàn toàn xảy ra. Sự kỳ thị màu da ở trong công ty làm việc chỉ đáng kể nếu sự kỳ thị này ảnh hưởng đến công việc, lương bổng, hay chức vụ. Người ta không có thì giờ và tiền bạc để chứng minh hay kiểm soát ở những khía cạnh khác.

Stephanie người Đài Loan làm chung công ty với tôi nhưng ở ban khác. Stephanie thích chuyển email khôi hài cho một nhóm bạn, trong đó có tôi, một Stephanie khác người da trắng gốc Spanish, hai ba người Á châu, và có cả một cô nàng da màu bạn thân của nàng. Đa số email kiểu này tôi làm biếng đọc nên thường khi xóa trước khi đọc. Rồi một hôm, tôi nhận được lệnh đi học chống kỳ thị chủng tộc từ văn phòng EEO. Tôi phản đối vì mất thì giờ của tôi, và tôi đã học môn này mấy lần rồi. Tôi hỏi vì sao tôi phải đi học, thì mới vỡ lẽ ra, có người da màu cho rằng một trong những email khôi hài của Stephanie mang tính kỳ thị chủng tộc, chế nhạo người gốc Phi châu mũi tẹt, môi dày, bàn chân to, tóc quắn. Tên tôi có trong danh sách người được email của Stephanie. Tôi phản đối bảo rằng tôi không đọc email đó, thậm chí tôi không biết nó nói gì, tôi không thể hoàn toàn ngăn cấm được những gì người ta gửi cho tôi. Một cô nàng người Đài Loan khác làm ngơ không đi học lớp kỳ thị chủng tộc này. Nhưng tôi bản tính ngoan, không muốn có vẻ ương ngạnh chống đối, nên đi học.

Người da màu ở Mỹ rất sắc sảo trong việc tự bảo vệ và bảo vệ lẫn nhau trong vấn đề kỳ thị chủng tộc. Họ có tổ chức pháp lý và tài chánh ủng hộ khi họ cần phải tranh đấu.

Bạn có kỳ thị người khác màu da với bạn không? Bạn có bị kỳ thị vì khác màu da với người ta không? Kỳ thị màu da coi vậy, dễ nói nhưng khó chứng minh. Chỉ có người từng bị kỳ thị chủng tộc mới biết mình bị kỳ thị chủng tộc.

Tập ghép ảnh photomerge. Ảnh chụp hôm qua lúc đến cây cột đánh dấu số 2, có nghĩa là còn hai dặm sẽ hết đường mòn dọc theo bờ kênh D&R canal (East Coast)

Ảnh chẳng liên quan gì đến kỳ thị chủng tộc. Đăng chơi cho vui mắt thôi.