Mùa xuân sang có hoa anh đào

Hôm trước tôi lẩn thẩn tự hỏi, giá như không có lịch, không ai nói cho biết lúc nào là Lập Xuân, làm sao mình biết là mùa xuân về. Ở nơi tôi ở có bốn mùa rõ rệt, được miêu tả gần giống như bài thơ Hán Việt.

Xuân du phương thảo địa.  
Hạ thưởng lục hà trì.
Thu ẩm hoàng hoa tửu
Đông ngâm bạch tuyết thi

Nói thì như vậy. Nhưng lúc trời bắt đầu chuyển mùa cũng khó phân biệt. Người sống gần thiên nhiên, có thể nhìn thấy sự thay đổi của thời tiết. Trước nhất là băng giá bắt đầu tan, lúc này đường đi trong rừng rất nhiều bùn. Mưa to mùa hạ và mùa thu không gây bùn trên đường đi, nhưng tuyết và băng giá tan tạo thành những đoạn đường bùn lầy khá dài, vì nước đọng và không thể rút xuống đất, vì bên trong lòng đất, băng giá vẫn còn. Một số băng giá trồi lên mặt đất vì thể tích dãn nở ra.

Tiếp theo là loài tree frogs bắt đầu hòa tấu thành bản nhạc inh ỏi ở các ao trước kia bị đóng băng, nay ao hồ đã có nước. Loại tree frogs này rất nhỏ nhưng có thể chịu được lạnh giỏi hơn nhiều loài khác.

Sau đó là hoa nở. Bên mình có câu hát: “Mùa xuân sang có hoa anh đào. Màu hoa tôi trót yêu từ lâu. Lòng bâng khuâng nhớ ai năm nào, hẹn hò nhau dưới hoa anh đào mình nói chuyện ngày sau.” Ngày xưa tôi không hề biết hoa anh đào ra làm sao, có màu gì, vì có lẽ phải lên tận Đà Lạt mới nhìn thấy màu hoa. Ở đây, New Jersey, cũng có hoa anh đào, rất nhiều loại, chủ yếu là trắng và hồng. Màu hồng thì có loại đậm và nhạt.

Hôm qua ông Tám chở tôi đi chích ngừa Covid-19 mũi thứ hai. Dọc đường thấy hoa nở trắng hai bên đường đi. Ra bên ngoài hơi xa thành phố, có những thửa rừng, cây mọc chi chít, và hoa nở cũng chi chít trên cành. Nhìn từ xa, thấy rừng hoa trắng, đồi hoa trắng, vườn hoa trắng, góc phố, lề đường hoa trắng. Tên hoa theo tiếng Việt là hoa anh đào, người Mỹ gọi là cây cherry. Loại cherry này khác với cherry blossoms, bắt nguồn từ Nhật. Loại anh đào địa phương này mọc khắp nơi, lên nhanh và rất mạnh. Vỏ cây màu xám, bóng hơn các loại vỏ cây khác, nhìn dễ phân biệt, hoa màu trắng, nhụy hồng. Nghe nói loại cây cherry này gỗ chắc, đem chụm làm củi cháy đầm và lâu tàn. Trước nhà và sau nhà tôi, trong rừng cũng có vài cây, nở hoa trắng rất thơm. Trái của nó, giống như loại trái cherry bán trong chợ, tuy nhiên rất nhỏ. Chim rất thích ăn loại trái này. Tôi chưa ăn lần nào nên không biết mùi vị ra làm sao. Trái tuốt trên cao, khó hái. Mùa hè chúng rụng trên sân, càng lúc càng thấy ít đi, có lẽ vì cây già cỗi, hoặc có khi mưa ít, trái gió trở trời.

Hoa của cây cherry mọc hoang, đang mùa hoa nở ở New Jersey

Loại hoa anh đào mọc hoang này trông khá giống với Taihaku, loại anh đào địa phương của Nhật Bản, mà ông Collingwood Ingram đã mất nhiều công sức để gây dựng lại sau khi chúng gần như tuyệt chủng. Taihaku mọc riêng lẻ từng cái. Mỗi búp chừng hai cái hoa, có cuống hoa riêng. Tôi nói khá giống vì thật tình không biết nhiều về hoa anh đào. Tôi so tấm ảnh hoa tôi chụp, với ảnh hoa ông Ingram vẽ, đăng trong quyển “The Sakura Obsession” của tác giả Nako Abe (trang 77 thấy khá giống).

Collingwood Ingram là người Anh, sinh năm 1880 và sống lâu đến 100 tuổi. Ông được đặt cho biệt danh là “Cherry” vì công cuộc cứu vãn cây anh đào trở thành một say mê, ám ảnh (obsession) suốt đời của ông. Sang Nhật chơi năm 1902, rồi 1907, ông phải lòng cây anh đào sakura. Ông mang về Anh cả trăm cây và làm thành một khu vườn anh đào. Năm 1926, trở lại Nhật, ông đau lòng nhận ra anh đào không còn nhiều loại như trước. Người ta cấy (clone) một loại hoa mới, và các loại hoa trước kia dần dần mai một. Đặc biệt, loại Taihaku ông gọi là “Great White Cherry” hoàn toàn tuyệt giống. Ở quê nhà, vườn hoa anh đào của ông vẫn sung mãn. Ông cắt nhánh, cắm vào củ khoai tây, gây giống Taihaku, và gửi trở lại Nhật Bản bằng Trans-Siberian Express. Từ đó cho đến vài thập niên sau, ông trở nên nhà thực vật học (không chuyên nghiệp) gửi mẩu hoa anh đào do ông trồng đi khắp thế giới, trong đó có Auckland, New Zealand cho đến Washington D.C.

Trong khi cả thế giới, bây giờ cũng như thập niên hai mươi, say mê loại hoa đào cánh kép Kanzan, được người Nhật tạo giống, Ingram lại không ưa. Kanzan cánh kép, nở thành từng chùm, sung mãn, lúc lỉu, có bao nhiêu sinh lực đều tỏa ra hết trong chùm hoa. Ông chê trách nó “It flaunts its finery with nauseating frequency.” Và “The eye quickly becomes tired of the agressive beauty of these cherries.” Rằng loại hoa này phô trương quá, nở nhiều đến chóng mặt. Nhãn quan người ta dễ trở nên mệt mỏi với vẻ đẹp hung hăng của loại hoa này. Kanzan có nhiều trên mạng. Vài năm trước tôi có chụp ảnh Kanzan ở vườn bách thảo Brooklyn, nếu tìm thấy tôi sẽ cho lên.

Đây có lẽ là loại Kanzan

Hoa anh đào đẹp. Nhìn ở góc vườn, trước nhà, bên phố đều đẹp. Nhưng đẹp nhất, ý kiến chủ quan của tôi, là ta phải đến một nơi có kiến trúc thật nguy nga, vĩ đại, hay một cảnh thiên nhiên rộng lớn như thành phố Washington D. C. có hàng đào ven bờ sông Potomac, chung quanh điện Lincoln, các viện bảo tàng, mỗi viện bảo tàng chiếm nguyên một block đường, những cội hoa anh đào thật cao hoa dày đặc người đứng dưới gốc không nhìn thấy nắng, hoa rụng thành lớp thảm màu trắng, hồng ngã sang tím nhạt vì héo, thì sẽ thấy tâm hồn rúng động. Thiệt mà.

Chỉ độ một tuần thôi là hoa rụng hết. Chả trách các ông nhà thơ Nhật làm thơ haiku khi các cánh hoa đào rơi bay vào trong sà lách và súp của các ông. Chả trách người ta ví sự phù du của hoa giống như cuộc đời của geisha và samurai. Càng không trách nhà thơ mơ ước được chết dưới cội đào.

Let me die
Underneath the blossoms
In the spring
Around the day 
Of the full moon

Saigyō, 1118-1190

Xin cho tôi chết
Bên dưới tán hoa
Vào mùa xuân
Trong ngày 
Trăng rằm

Nguyễn thị Hải Hà dịch 


Bài thơ này trích trong "The Sakura Obsession" của Naoko Abe, trang mở đầu.
Hoa trắng bên cầu. Đây không phải là hoa anh đào, mà là magnolia trắng, hương thơm ngan ngát.

Magnolia

Và ba bài thơ. Thơ của Hạnh, viết tặng Chuyện Bâng Quơ sau khi đọc “Mở Nắp Hầm”

Súng bốc khói
Máu loang ghe nhỏ
Tan hoác người


Cố hương nứt rạn
Nổi trôi sóng sánh
Mù thẳm trời người



Mắt tròn căng
Ngực thanh tân
Vầy vò lũ thú hoang

Ai lên xứ hoa đào

Nếu không có lịch, làm sao bạn biết lúc nào là mùa xuân?

Ai Lên Xứ Hoa Đào – Ánh Tuyết hát
Bài thơ Hoa Đào, nhạc sĩ Hoàng Nguyên, ca sĩ Ngọc Long
Cánh Hoa Yêu – Trường Vũ hát
Ảnh 1. Hàng cây đào ở Walmart.
Ảnh 2. Lựa ra một nhánh ở hàng đào.
Ảnh 3. Cây đào nhà bên cạnh. Đây là loại anh đào rũ (weeping cherry). Những nhánh đào mọc thành dây như một bức rèm hoa. Loại hoa này rất thơm.
Ảnh 4. Lựa ra một vài đóa hoa trong bức rèm.
Ảnh 5. Một sợi dây hoa.

Hoa vàng một đóa

Hoa Vàng Mấy Độ – TCS Thùy Dương hát

Hoa thủy tiên, còn gọi là daffodil hay narcissus. Hoa mọc hoang ở một góc trong rừng, góc khuất hơi khó vào, nhưng nắng chiếu sáng.

Hoa forsylthia, mọc hoang ở hàng rào sau nhà.

Cũng là hoa thủy tiên. Đứng rửa chén trong bếp nhìn lên đồi, tuy là đất nhà nhưng từ hồi về ở đến nay chưa hề đặt chân lên. Nai, gà lôi, cáo, và nhiều loại thú khác như mèo hoang, skunk, ground hog đều thấy lang thang ở chỗ này. Thỉnh thoảng có con thú lạ không biết tên, chưa từng gặp trong sách. Chưa hề thấy hoa, nhưng bỗng dưng có một đóa lạc loài. Nhìn mặt hoa như mặt người.
Hoa bloodroots, vì rễ của nó màu cam. Mọc hoang rất nhiều ở hai bên bờ kênh D&R. Không phải dandelion (bồ công anh) đâu nhé.

Em tôi buồn ngủ buồn nghê

Đang đi, bỗng dưng tôi nhìn xuống đất, và tôi nhìn thấy em. Em nằm bên vệ cỏ nhưng nếu không để ý, xe đạp có thể cán lên và người đi bộ, như tôi, có thể đạp lên em. Em nhỏ xíu, chưa đầy cái nắm tay, tưởng chừng một đứa bé cũng có thể bóp em dẹp lép. Tôi kêu lên. “Chắc nó chết rồi. Tội nghiệp chưa.” Tôi định bỏ đi nhưng tò mò, đến gần, lấy một cái que con nho nhỏ gần đấy, đụng vào em. Không nhúc nhích. Tôi đụng mạnh hơn. Đẩy em mạnh hơn. Thì em mở mắt ra. Bước một bước. Nhìn chung quanh, vẻ ngái ngủ, như hỏi, what’s going on, old woman?

Rồi em rúc vào trong cánh, ngủ tiếp.

Tôi tiếp tục đẩy em, phá em, để em phải thức giấc, tránh đường, kẻo người ta đạp chết. Em lại mở mắt. Ngủ tiếp. Lần này không rúc vào cánh nữa, mà chìa cái mỏ màu đỏ tươi ra, như để thở.

Tôi lại phá rối em. Lần này thì em bay vụt qua bên kia bờ kênh. Tôi mừng. Tưởng em bị thương tích không bay được nữa.

Em tôi buồn ngủ buồn nghê.

Những tấm ảnh làm vui mình

Merganser

Trên facebook tôi được một người quen, gắn vào tôi cái thẻ mang tên “Cho Vui.” Điều lệ của trò chơi này là trong 10 ngày, mỗi ngày gắn thẻ cho một người, đăng một tấm ảnh lên facebook. Ảnh lấy chủ đề làm cho vui. Không cần giải thích, không cần theo thứ tự. Tôi vốn không mấy thích chuyện tag này, vì nó có vẻ như một thứ quảng cáo, hay một cách xúi giục, sai bảo, người khác làm theo ý mình, tạo thành một phong trào, hay một chuỗi người này liên hệ với người kia. Cái kiểu chain mail quảng cáo. Người tham gia trò chơi không để ý là mình bị sai khiến. Thường thì chẳng hại gì, nhưng nó khiến bạn nằm trong một danh sách của người nào đó, với một dụng ý nào đó. Có thể bạn vô tình giúp người ta quảng cáo, hay trở nên nổi tiếng.

Người gắn thẻ cho tôi là người ở cùng phòng với tôi trong lúc đi làm việc tình nguyện cho phái đoàn Habitat For Humanity ở Việt Nam năm 2019. Cô rất trẻ trung và dễ thương. Sau chuyến đi cùng với tôi cô còn đi chuyến khác nữa để giúp xây dựng chuồng nuôi thú vật và nhà vệ sinh cho một vùng nông thôn hẻo lánh ở VN.

Sau khi cô gắn thẻ thì tôi nhận ra, tấm ảnh nào tôi chụp cũng làm tôi vui. Từ chim ngỗng rùa đến cây khô bụi trúc khóm hoa. Tôi cũng nhận ra tôi thích chụp ảnh hơn là viết văn. Tôi không ngại đăng lên một tấm ảnh xấu, không vừa ý. Nhưng tôi rất ngại viết một bài không hay. Mà viết xong rồi thì thấy chẳng có bài nào vừa ý cả.

Tấm ảnh trên đây, đúng là không vừa ý, vì chim thì mờ, nước thì rõ. Tuy vậy nó làm tôi vui, vì thấy mấy con chim (hay vịt) chơi đùa rất vui. Đây là mấy con merganser. Tôi không biết chắc là có đúng tên hay không, vì tôi lật mấy cuốn sách về chim xem hình và đoán nó là merganser. Loại này mỏ chim nhưng chân vịt. Có thể bơi, bay, và lặn dưới nước để săn mồi. Chúng cất cánh rất bất thình lình. Thường đi thành bầy, có khi hai con cho đến 7 hoặc 8 con. Hai con trong ảnh là chim mái, chim trống có ngực trắng và cái đầu màu xanh biếc, trông gần giống như mallard duck, nhưng mallard duck có cái mỏ vịt, còn merganser có mỏ chim.

Hai chị merganser(s) đáp xuống mặt nước để lại mấy cụm nước phía sau. Bạn thấy chúng có vẻ vui không?

Hawk

Thêm một tấm ảnh làm tôi vui.

Tôi sẽ không tag ai cả nhưng nếu bạn muốn đăng một (hay nhiều) tấm ảnh vì nó làm bạn vui thì xin mời.

Vụn vặt

Đi bộ dọc bờ kênh D&R, khoảng đường đến Amwell Rd., gần Colonial park, có cái ao cạn. Cây khô chưa hồi sinh sau mùa đông, chẳng có gì đặc biệt, vậy mà nghe tôi nghe tiếng kêu tưng bừng, ríu rít như tiếng chim non, tiếng vịt con, hay tiếng côn trùng gì đó rất đặc biệt. Nhìn thì chẳng thấy gì. Tôi lấy ống kính camera nhìn vào trong đám cây khô có chen lẫn lau sậy, thấy có vài đốm đen màu nâu, nhỏ hơn nắm tay, lờ mờ, không nhận ra hình thù gì cả. Vậy mà tiếng to thật to. Gọi là khúc nhạc đồng quê, ao cạn, đồng hoang, hay nhạc rừng khô? Bạn nghe thử nhé. Bạn nào có kinh nghiệm xin cho biết đó là tiếng của con gì.

Người ta bảo rằng beggar can’t choose, nghĩa là kẻ ăn mày thì không thể chọn lựa, đòi cái này cái khác. Ấy vậy mà mấy con mèo hoang lúc này cũng đòi được ăn ngon. Ông Mun và thằng Xám, hôm nào đói lắm thì đến chờ từ sáng sớm để được cho ăn. Cả hai con đều thích ăn thịt gà hầm mềm. Cho thêm tí nước gà thì bao giờ chúng cũng vét hết nước gà rồi mới ăn thức ăn khô. Hôm nào không có thịt gà, cả hai con nhìn thức ăn khô và thức ăn mềm, liếm láp qua loa rồi bỏ đi. Tiểu thư Nora kén ăn từ trước đến giờ đã đành, giờ cả hai con mèo hoang cũng vậy.

Qua khỏi Amwell Rd., con đường cắt ngang bờ kênh D&R đi một khoảng độ 1/2 mile (800m) có một cái ao nhỏ. Mùa hè ao này đầy bèo. Hè năm 2020 chúng tôi thường gặp một con hạc xám (great blue heron) chỗ này. Đã mấy tháng nay chúng tôi không đi ngang chỗ này. Hôm 23 tháng 3 đạp xe ngang. Bận đi không gặp nhưng bận về thấy có con hạc xám còn tơ. Thoạt tiên nhìn thấy mấy con rùa đậu dài dài trên thân cây, rồi thấy nó, màu xám đậm. Nó đứng nhìn chăm chăm xuống mặt đất, chẳng biết nhìn gì, có lẽ nhìn mấy con rùa, hay chờ cá ốc cua gì đó bò ngang là mổ lấy thức ăn.

Chờ một hồi rất lâu không thấy nó bay đi nên thôi, chụp đỡ hạc xám đang đậu. Mảnh mai, chân dài, cổ dài, thuộc loại người đẹp.

Hải âu

Có một hôm đi bộ, chúng tôi ngồi nghỉ ăn trưa. Con hải âu từ xa bay đến. Ban đầu nó chỉ là cái chấm nhỏ, đảo qua đảo lại, vụt lên vụt xuống. Nhìn nó một hồi, tôi đoán nó nhìn thấy thức ăn của chúng tôi, và tôi e ngại nó sẽ nhào xuống cướp thức ăn. Nhưng hải âu đã không làm như tôi đoán. Chập sau nó bay đi, không biết vì nó không thích thức ăn của tôi, hôm đó có potato chips, hay đó không phải là ý định của nó. Cũng có thể nó nhát gan, không dám cướp thức ăn của con người?

Ở bờ biển gần nhà, mùa hè thỉnh thoảng chúng tôi đi chơi, hải âu rất dạn dĩ vì quen với loài người. Người đi biển hay cho hải âu ăn bằng thức ăn họ mang theo. Riết rồi quen, bọn chúng dám cướp thức ăn của người.

Để ý tôi thấy, hải âu xuất hiện nhiều nơi, khá xa biển. Nhà tôi ở cách biển gần một giờ lái xe, tuy vậy hải âu đậu trên mặt hồ đóng băng (mùa đông) gần nhà khá đông, gần cả trăm con. Chỗ tôi làm việc, còn xa biển hơn nữa, ngó ra cửa sổ tôi thường thấy hải âu. Ít nhất là một con đậu trên cột đèn. Đậu rất thường xuyên đến độ tôi xem nó là bạn của tôi. Có một con hải âu khác thường, chẳng hiểu tai nạn làm sao mà nó bị mất một chân. Tôi biết chim thường hay đứng một chân, còn chân kia rút vào trong cánh để nghỉ ngơi hay ủ ấm. Tuy vậy con chim này bị mất một chân. Chân kia chỉ còn một khúc ngắn.

Ảnh chụp lâu lắm rồi, xuyên qua cửa sổ nhìn xuống bãi đậu xe của công ty bảo hiểm y tế bên cạnh tòa nhà tôi làm việc

Hải âu là loại chim cỡ trung bình, như chim quạ. Tôi chưa hề thấy hải âu khi còn là chim non nên không biết nó màu gì. Hải âu thường màu trắng, hoặc hơi xám. Hải âu vùng tôi ở, mỏ chim có một vòng màu nâu đậm chung quanh như đeo chiếc nhẫn. Nhiều người có thiện cảm với hải âu, hơn quạ, có lẽ một phần vì chúng màu trắng. Trong văn, truyện gần đây, có một truyện dành cho trẻ em, nhưng người lớn đọc cũng thích. Truyện nói về một con hải âu đã nuôi một con mèo và dạy cho nó biết bay.

Hải âu hiền hay dữ? Cái mỏ của nó thật nhọn, cứng, và rất sắc bén. Hải âu săn cá làm thức ăn, nhưng cũng ăn các loại thức ăn khác, hạt, trái, kể cả thức ăn của loài người. Hải âu có thể sống thành từng đoàn, nhưng có thể sống lẻ tẻ một vài con trong đất liền (xa biển). Loài người chúng ta, đa số có lẽ nghĩ rằng hải âu hiền vì thế chúng thường xuất hiện một cách rất thơ mộng trong truyện, phim, và bài hát. Những cánh chim lao chao, chấp chới trên mặt nước. Tôi nghĩ đến Hải Âu Phi Xứ (của Quỳnh Dao, phải không?)

Tuy vậy trong phim The Birds của Hitchcock, và phim The Lighthouse (2019, Robert Eggers đạo diễn, Willem Dafoe và Robert Pattinson là diễn viên chính) dựa vào truyện ngắn viết dang dở của Edgar Allan Poe thì hải âu rất đáng sợ. Trong phim The Birds của Hitchcock, hải âu đi từng đoàn rất đông, tấn công người, mổ rỉa rói vào những bộ phận hiểm yếu của con người cho đến khi nạn nhân chết đi. Còn trong phim The Lighthouse, tuy chỉ có một con nhưng nó trước nhất là báo điềm dữ và sau đó tấn công người chăm sóc hải đăng.

Hải âu trong vở kịch Seagull của Anton Chekhov thì hiền lành, tượng trưng cho một cô gái đẹp, cuộc đời bị hủy hoại dưới tay kẻ đi săn.

Nữ diễn viên Irina Arkadin, nhan sắc bắt đầu phai tàn, có người yêu là nhà văn Boris Trigorin. Irina đưa Boris về nông trại của người anh của nàng để nghỉ hè. Irina có đứa con trai tên Konstantin Treplev. Chàng tuổi trẻ này yêu một cô gái tên Nina Zarechnaiy. Nina ôm mộng làm diễn viên, muốn thoát khỏi đời sống đơn điệu ở nông thôn, và ngay lập tức bị thu hút bởi sự nổi tiếng của nhà văn Boris. Điều này khiến Konstantin trở nên ghen tức. Một hôm, Nina chèo thuyền đưa Boris đi ngắm cảnh, Konstantin nổi giận bắn chết một con chim hải âu, và ném xác hải âu trước mặt Nina. Boris mở sổ hí hoáy ghi vào. Khi Nina thắc mắc nhà văn viết gì, Boris giải thích:

“Đây là một đề tài thú vị để viết thành một truyện ngắn. Bờ hồ, và cô gái trẻ sống suốt đời ở đó. Một cô gái giống như em vậy. Nàng yêu hồ cũng như hải âu. Nàng có hạnh phúc và tự do như hải âu. Thế rồi có một người đàn ông xuất hiện. Ông ta phá vỡ cuộc đời nàng vì ông ta chẳng có chuyện gì hay ho tốt đẹp để làm. Phá tan nát cuộc đời nàng, cũng giống như con hải âu này.”

Nina về sau trốn nhà đi theo nhà văn Boris. Đoạn văn này khiến tôi nghĩ đến mối tình và khát vọng sống một cuộc đời mới của Nina, rồi tôi nghĩ đến mấy câu thơ:

Thuở ấy lòng tôi phơi phới quá.
Hồn trinh nguyên vẹn một làn hương.
Nhưng người nghệ sĩ từ đâu lại
Êm ái trao tôi một vết thương
Hai sắc hoa ti gôn – TTKH

Suy nghĩ chuyện viết văn

Đôi khi xem một phim kinh dị đầy bạo động, tưởng chẳng có liên quan gì, nhưng lại khiến mình nghĩ đến chuyện viết văn.

Cách đây hai hôm, tôi xem phim Velvet Buzzsaw, xem không chủ ý, chỉ bấm hết phim này sang phim khác trên Netflix, cuối cùng xem phim này vì thấy có John Malkovich và René Russo. Đây là phim nói về giới mua bán tranh vẽ, có chút chế nhạo các nhà đầu nậu nghệ thuật sáng tạo, và rất nhiều cảnh bạo động đầy máu me. Tôi không ưa phim máu me nhưng không tìm thấy phim nào vừa ý cả nên nghĩ rằng thôi xem phim này để được xem tranh.

Họa sĩ vô danh, Vetril Dease, qua đời để lại số lượng tác phẩm đồ sộ không người thừa kế. Ông ta muốn tiêu hủy toàn bộ tác phẩm nhưng chưa thực hiện được thì đã chết. Một số người kiếm sống bằng nghề phê bình hội họa, đầu nậu mua bán, tổ chức triển lãm, đã lấy được số tranh (một cách bất hợp pháp). Tất cả mọi người có kinh nghiệm về tranh đều công nhận Dease là một thiên tài và chắc chắn sẽ là nguồn tài lợi rất lớn. Tranh của ông có sức thu hút đặc biệt rất kinh dị, có lẽ vì chúng được vẽ bằng máu (theo đúng nghĩa đen, họa sĩ đã dùng máu để vẽ màu đen và màu đỏ trong tranh) và nỗi thống hận của người họa sĩ suốt đời bị ngược đãi, hành hạ. Giới đầu nậu hội họa giành giật với nhau. Và tất cả những người hưởng lợi từ tranh của Dease đều lần lượt chết một cách thảm khốc.

Tôi tóm tắt vài hàng về phim để các bạn chưa xem phim biết nội dung. Thật ra tôi chỉ muốn nhắc đến vài điểm tôi chú ý vì liên tưởng từ việc sáng tác tranh đến việc viết văn.

Morf (diễn viên Jake Gyllenhaal) là chuyên gia phê bình tranh rất nổi tiếng. Rhodora (Rene Russo), chủ nhân phòng triển lãm Haze, tâng bốc rằng phê bình của Morf quan trọng như phán quyết của Thượng Đế vậy. Morf trong lúc xem một tác phẩm được trưng bày trong phòng triển lãm đã bảo rằng, “no originality, no courage,…” Còn một chữ nữa, hình như là boring, nhưng tôi không nhớ chắc chắn. Tôi hiểu đại khái như thế này, nhà phê bình tranh có ý nói là, một tác phẩm nếu không có bản sắc cá nhân (độc đáo) và không dám bộc lộ, thì nhàm chán lắm, không đáng được chú ý.

Piers (John Malkovich), một họa sĩ được Rhodora chưng tranh trong phòng triển lãm của bà suốt 17 năm, nhưng mười năm sau không có tác phẩm nào có giá trị. Rhodora muốn bỏ Piers ra, nhưng tử tế, vì cùng là họa sĩ như nhau (Rhodora có thời làm họa sĩ và theo trình diễn trong ban nhạc Velvet Buzzsaw) giả vờ như Piers bỏ phòng tranh của bà để theo người khác. Bà gọi Piers đến nhà, đưa cho Piers bài thơ của Polly Anna đã qua đời năm 1983, bà giữ lại bài thơ khi thu dọn căn nhà và tranh ảnh của người quá cố. Piers bị bệnh nghiện rượu. Giới sáng tạo đôi khi dùng rượu và chất kích thích để cởi bỏ những xiềng xích vô hình, những thứ người ta nghĩ là giam cầm sức sáng tạo.

Dependency murders creativity
Creativity plays with the unknown.
No strategies exist
that can enclose the endless realm
of the new
only trust in yourself
can carry you past your fears
and the already known
Polly Anna, 1983

Nghiện ngập giết chết sáng tạo
Sáng tạo chơi đùa với sự không biết (vô thức)
Không kế hoạch hiện hữu nào
có thể bao trùm toàn thể sự bao la
của những điều mới (chưa biết)
chỉ nên tin vào chính bản thân
có thể đưa bạn ra khỏi nỗi sợ hãi của bạn
và những điều (ý thức) đã biết

Sau khi Piers đọc xong bài thơ, Rhodora nói thêm:

Bạn sợ gì? Chúng ta biết nhau từ lâu. Tôi không còn vẽ nữa, nhưng tôi biết như thế này. Hãy bỏ hết đi, cả cái thế giới hội họa này. Hãy tìm một nơi vắng vẻ, đến căn nhà cạnh bờ biển của tôi, ở đó và vẽ cho đến khi nào bạn chỉ vẽ riêng cho bạn thôi.

Piers nghe lời. Sau đó thì mọi người có liên quan trong việc hưởng lợi bằng tranh của Dease đều chết. Chỉ có Piers và Coco, cô bé 22 tuổi làm thư ký kiêm mua cà phê cho các đấng quyền lực đầu nậu tranh, là còn sống.

Qua phim này, tôi nhìn thấy vài quan niệm về sự sáng tạo (của người làm phim), tuy nói về hội họa nhưng có thể áp dụng cho người viết văn. Điều khiến một tác phẩm được chú ý là sự độc đáo của tác giả. Viết văn đòi hỏi sự can đảm, dám bộc lộ tư tưởng. Bộc lộ có nghĩa là phơi ra điểm yếu, những vết thương chưa lành, nỗi đau, sự xấu hổ, nhục nhã nào đó đã gặm nhắm tâm hồn người viết. Sáng tác có kết quả tốt khi nào tác phẩm đó chỉ để thỏa mãn tâm hồn người sáng tạo.

Tóm lại, người viết nên đóng cửa, xuống mạng, và chăm chỉ viết cho đến khi nào chết rồi thì (may ra) tác phẩm sẽ được chú ý, sách bán đắt, và người viết trở thành nhà văn. Chưa làm được điều đó thì viết để cho mình vui là dễ thực hiện nhất.

Ảnh chẳng liên quan đến bài viết. Chụp được ảnh con hawk có cặp mắt to tròn ngộ nghĩnh quá nên đăng chơi.