Chuyện chiếc cầu đã gãy

Hôm trước tôi kể câu chuyện dòng sông, gợi sự tò mò, và trêu ghẹo sự hiểu biết văn học thế giới của bạn đọc bằng cái tựa đề trước đây dùng cho quyển truyện của Herman Hesse. Hôm nay, cũng dùng tựa đề một bản nhạc Việt để nói về cây cầu Uji của Nhật Bản.

Cầu Uji

Cầu Uji nguyên thủy được xây vào năm 646 do nhà sư Doho của chùa Phật Giáo Gangouji Temple ở Nara.  Cây cầu hiện nay được hoàn tất vào tháng Ba năm 1996.  Tương truyền rằng Toyotomi Hideyoshi đã lấy nước sông này để nấu trà.  Toyotomi Hideyoshi (1537-1598) là một lãnh chúa địa phương, có công hàng thứ nhì trong việc thống nhất Nhật Bản.  Ông rất yêu thích trà đạo cũng như kịch Noh.  Đã từng học thuộc những đoạn kịch và tự biểu diễn cho vua xem.  Cầu Uji bị gãy nhiều lần, không phải tự nhiên gãy mà do bị phá hoại trong chiến tranh.

Thành phố Uji nằm về phía Nam Kyoto, từ nhà ga Kyoto đến Uji chừng hai mươi phút xe lửa. Nổi tiếng có trà xanh rất ngon, Uji còn là bối cảnh trong mười chương cuối cùng của quyển “The Tale of Genji” (Câu chuyện về Hoàng tử Genji). Đây là quyển truyện rất quan trọng trong nền văn học Nhật Bản, như truyện Kiều trong văn học Việt Nam. Tương truyền, “The Tale of Genji” là quyển tiểu thuyết đầu tiên và tác giả của nó, Lady Murasaki Shikibu là nhà văn đầu tiên cũng là nhà văn nữ đầu tiên của thế giới. Genji là một hoàng tử rất tuấn tú, đẹp đến độ như phát ra ánh sáng, khiến người ta gọi ông là the Shining Prince. Tác giả Murasaki Shikibu là một phụ nữ thuộc dòng quí tộc, không phải chỉ là tì nữ mà là Lady-in-Waiting, cận kề với hoàng hậu và còn được tham gia lễ nghi ở triều đình. Quyển truyện được hoàn thành vào khoảng 1019 giữa thời kỳ Heian (794-1185).

Tượng của Lady Murasaki Shikibu. Phía sau là cầu Uji. Ảnh chụp từ hướng bên Byodoin Temple (Nara) nhìn về hướng UJi shrine (Kyoto)

Vào thời kỳ Heian, giao thông còn giới hạn, ít đường và cầu. Cầu Uji giữ một vị trí chiến lược quan trọng nối liền Nara và Kyoto. Cầu bị phá hủy lần đầu tiên vào đầu thập niên 1180, mở đầu cho cuộc chiến tranh Genpei, trong trận đánh cầu Uji lần thứ nhất.

Hoàng tử Mochihito, dòng dõi Minamoto, có hy vọng được truyền ngôi hoàng đế, bị kẻ địch thuộc dòng họ Taira rượt đuổi ráo riết, túng thế ông chạy đến chùa Mii-dera ở ngoại ô Kyoto. Rủi ro cho ông, có một số ít sư đánh trận của chùa (warrior monks) này lại ủng hộ phái Taira. Lực lượng phái Minamoto bị số nhà sư theo Taira ngăn chận, nên không đến kịp để cứu viện. Hoàng tử, cùng với Minamoto no Yorimasa (samurai quân sư thân tín) và khoảng 1500 quân lính chạy về hướng Nara, qua khỏi cầu Uji, gần chùa Byodo-in, thì ra lệnh tháo gở tất cả gỗ lót cầu, với hy vọng chận đứng quân Taira.

Quân Taira tìm chỗ cạn vượt sông. Đứng đầu lực lượng Taira có một vị tướng trẻ, Ashikaga Tadatsuna, tuy thuộc dòng Minamoto nhưng lại chiến đấu rất trung thành với dòng họ Taira. Tương truyền Tadatsuna có sức mạnh bằng 100 người nhưng vị dũng tướng này cùng với cha bị một người cận vệ phản bội giết chết. Dưới sự lãnh đạo của vị tướng trẻ này, quân Taira tấn công ráo riết.

Yorimasa cố gắng cứu hoàng tử nhưng ông bị một mũi tên bắn trúng cùi chỏ. Trong khi hai con trai của ông chiến đấu trong tuyệt vọng để bảo vệ cha và hoàng tử, Yorimasa tự tử bằng seppuku (tự mổ bụng là cái chết can đảm để giữ thanh danh). Hoàng tử Mochihito bị quân Taira bắt và giết chết.

Lần thứ hai, vào năm 1184, cầu lại bị phá hủy. Minamoto no Yoshinaka, vì ghen tị chức lãnh đạo với Yoritomo và Yoshitsune, đã mang quân vào Kyoto đốt hoàng cung và bắt cóc hoàng đế Go-Shirakawa. Lần này không phải quân Taira mà chính dòng họ Minamoto rượt đuổi theo. Yoshinaka cho tháo gỗ lót cầu, Yoshitsune cỡi ngựa vượt sông và sau đó đánh bại Yoshinaka.

Năm 1221, trận đánh cầu Uji xảy ra lần thứ ba. Đây là trận chiến quyết định giữa một vị shogun Hojo Yoshitoki muốn lật đổ hoàng đế Go-Toba. Lực lượng bafuku của Shogun không chỉ tấn công cầu Uji mà dàn quân dọc theo sông Uji. Quân hoàng đế cầm cự khá lâu nhưng cuối cùng cũng bị thua.

Sông Uji là con sông rất đẹp, chi nhánh này chảy vào từ hồ Biwa. Cũng như sông Kamo ở giữa Kyoto, sông Uji có nhiều chỗ khá cạn, nước rất trong và dọc theo bờ sông có rất nhiều chim cò. Đứng từ cầu Uji nhìn về hướng Tây thấy cầu dành riêng cho xe lửa tuyến đường Kyoto-Nara.

Nhìn về hướng Đông bạn sẽ thấy Tachibana, một hòn đảo nhỏ xinh xắn. Ở trên hòn đảo này có một công viên nhỏ. Ở một đầu của đảo, hướng gần cầu Uji, là cầu Tachibana nối liền địa phận chùa Byodo-in với đảo.

Qua khỏi cầu Tachibana, quẹo sang tay phải là cầu Asagiri màu đỏ nối liền đảo với địa phận dẫn đến Uji shrine, Ujikami Shrine và viện bảo tàng “The Tale of Genji.” Số tôi xui nên đến vào lúc viện bảo tàng này đóng cửa nguyên một tháng.

Cầu Asagiri. Ở gần chân cầu là tháp stupa bằng đá có 13 tầng.

Đi đến gần cuối đảo du khách sẽ gặp thêm một cái cầu nữa cũng màu đỏ tên là cầu Kisen. Cầu này nối liền đảo với con phố có quán trà và nhà hàng dọc theo bờ sông. Nơi đây cũng là bến thuyền câu cá ban đêm bằng loài chim săn cá cormorant. Cách săn cá này rất phổ biến ở Trung quốc và một vài quốc gia khác như Hy-lạp, North Macedonia, và cả Anh Pháp. Người ta đốt lửa trên thuyền để soi sáng. Chim cormorant bị bắt đeo khoen cổ, vẫn đủ rộng rãi để chim thở được nhưng không thể nuốt cá được do đó phải nhả cá ra cho ông thợ chài. Cuối buổi săn thì cormorant sẽ được thưởng cá. Đốm lửa đốt trên thuyền chài đã làm tôi nghĩ đến câu thơ, “giang phong ngư hỏa đối sầu miên” dù vẫn biết có thể ngư hỏa đây mang nghĩa khác. Tức cái là không biết đọc chữ Hán để có thể hiểu nhiều hơn.” Tưởng chuyện săn cá bang chim chỉ là cổ tích hay bịa đặt trong phim ảnh để thu hút người xem, té ra có thật.

Cầu Kisen
Bến thuyền dưới chân cầu Kisen. Đây là những chiếc thuyền chở du khách đi săn cá bằng chim cormorant. Trên bờ bên trái là quán trà và nhà hàng.

Từ chỗ này nhìn xuống bến thuyền, trên bờ có liễu rũ, tưởng tượng mùa xuân ắt đẹp lắm với hoa đào mọc rải rác khắp nơi. Tôi đến lúc mới chớm đổi màu lá nên không lộng lẫy lắm vẫn đủ làm tôi nghĩ đến một bài thơ Đường trong đó có câu “dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.” Và trước đó đã thầm nghĩ sao thơ mộng giống “Cô Tô thành ngoại Hàn San Tự” trong óc tưởng tượng của mình quá vậy. Thì đó cách chùa Phật giáo Byodo-in có vài quảng đường chứ mấy. Chùa có cái đại hồng chung nhưng không dung mà cất vào viện bảo tàng. Núi Mt. Buttoku cũng gần đó ở bên kia bờ sông. Đi bắt cá dùng chim cormorant tôi tưởng chỉ có trong tiểu thuyết hay phim ảnh giả bộ cho đẹp thôi ai dè có thiệt. Tôi thấy cái chuồng nhốt mấy chục con chim ở ngay gần cầu Kisen.

Tháp đá Eison

Đây là tháp bằng đá cao nhất Nhật Bản do Eison, nhà sư chùa Saidaiji Temple, xây từ năm 1286.  Tuân hành pháp giới không sát sinh, Eison đem chôn tất cả dụng cụ đánh cá và từ chỗ chôn này ông xây tháp để cầu nguyện cho sinh linh bị sát hại trong đó có loài cá và cũng để cầu nguyện cho người qua lại cây cầu được an toàn.

Vậy đó, một chiếc cầu đã gãy cho thấy những điều bí ẩn trong lịch sử Nhật Bản. Một quốc gia chưa từng bị nước ngoài đô hộ, nhưng lịch sử họ triền miên những cuộc nội chiến. Một dòng sông nước trong tinh khiết cũng là con sông đẫm máu qua nhiều triều đại. Cuộc chiến giữa dòng họ Taira và Minamoto được ghi lại qua nhiều vở kịch kabuki và Noh. Bạn nào thích xem phim Nhật có lẽ đã biết Kwaidan, nói về sự tích nhà sư mù Hoichi bị mất một lỗ tai bởi vì hồn ma của hai dòng họ tử chiến trên sông Uji thích nghe tiếng đàn của nhà sư mù. Trong trận chiến đó, một vị phu nhân đã bế hoàng tử mới chừng 5 hay 7 tuổi nhảy xuống sông tự tử. Không phải sông Uji này đâu, mà là Shimonoseki Strait ở gần mũi phía Nam của đảo Honshu.

Thời gian bôi xóa hết những dấu vết đẫm máu của một chiếc cầu đã gãy. Ba lần.

Đan áo mùa xuân


Mời bạn nghe một bài hát tôi thích. Tác giả: Phạm Thế Mỹ. Ca sĩ: Lệ Thu.

Ϲứ mỗi lần hoa mai νàng trước ngõ
Là thôi em mong nhớ xuân nàу chàng có νề
Hỏi hoa hoa chẳng nói, hỏi mâу mâу lặng đứng
Hỏi gió gió ngập ngừng, hỏi nắng nắng ngại ngùng.

Ϲhim mách rằng anh đang ngoài chiến tuуến
Người уêu thaу taу súng, gối mộng là lá rừng
Vì quê hương còn khổ, tình уêu xin để đó
Cho xác chết ngậm cười, cho nước mắt thôi rơi.

Nhớ xuân sang năm nào,
Bên bếρ lửa νui, ngồi đan áo cho anh
Đôi mắt anh dịu buồn, nói anh sẽ νề
Khi máu xương thôi ngừng rơi.

Để giờ mình em νà manh áo xám trên môi
Dù rằng ngoài kia νang tiếng pháo đón giao thừa
Bánh chưng rất xanh, νới hoa rất νàng
Mà ngỡ là giấc mơ thanh bình.

Anh sẽ νề khi mai νàng trước ngõ
Và lang thang chim én mang sầu νề cuối trời
Quà cho em là bướm νà hoɑ thơm cỏ biếc
Với gió mát lưng đồi, νới tiếng sáo tuуệt νời.

Anh sẽ νề khi không còn tiếng súng
Trời xanh cao tiếng hát, chim trổi nhạc đón mừng
Để hoa xuân lại thắm để môi em lại ấm
Cho áo mới уêu đời cho tiếng sáo thêm νui

Đúng là một bài hát trong thời chiến tranh ca ngợi thanh bình với tất cả những gì tươi đẹp của mùa xuân. “Bánh chưng rất xanh, với hoa rất vàng, quà cho em là bướm, là hoa thơm cỏ biếc, . . . , với gió mát lưng đồi, với tiếng sáo tuyệt vời.”

Nỗi buồn riêng lẩn khuất trong niềm vui chung.

Ngày lại ngày

Đối xứng

Lâu rồi, trong một buổi đi rừng, trời đầy sương mù. Tôi chụp tấm ảnh này trên mặt hồ, mấy nhánh cây cỏ khô héo trong mùa đông soi bóng. Dạo này ăn chơi hơi nhiều nên đầu óc khô cạn, không nghĩ ra được cái gì để viết. Xem phim lu bù. Những ngày Giáng sinh đi xem phim với cô út, Star Wars, Knives Out, và Little Women. Xem lại một phim có Chương Tử Di đóng, tựa đề có chữ Black Scorpion. Hôm qua hôm kia xem hai bộ phim làm từ tác phẩm của Elena Ferrente, Days of Abandonment, và Troubling Love. Xem hai phim này thì hiểu được vì sao truyện của bà trở nên đắt hàng nhất thế giới.

Xem Star Wars thấy Adam Driver lại nhớ đến phim A Marriage Story. Đùng một cái, tên của anh diễn viên này xuất hiện khắp nơi. Nhớ mấy năm trước xem phim Patterson, tôi cứ tưởng anh không phải là tài tử nổi tiếng. Knives Out khá hấp dẩn, cốt truyện không mới nhưng phim vẫn thu hút người xem với những tình tiết bất ngờ. Vì ngồi ở hàng đầu của rạp chiếu phim, lại là ghế sát hành lang bên trái tôi suýt nữa không nhận ra Daniel Craig trong vai ông thám tử nói giọng miền Nam nước Mỹ. Có một vài chi tiết tôi không mấy hài lòng, chẳng hạn như ông chủ nhà giàu tại sao lại phải tự tử bằng dao, trước mặt cô y tá tập sự, trong khi ông có thể dùng morphine loại nặng, luôn có sẵn trong tầm tay. Little Women khá ấm áp tình người, dù những quan điểm nữ quyền luôn luôn xuất hiện qua cung cách quá khích của những cô gái trẻ. Phim gì đó tựa đề dài có chữ black scorpion Chương Tử Di đóng phỏng theo Hamlet của Shakespeare. Phim có hình ảnh lạ vì có những đoạn múa mang mặt nạ kiểu butoh của người Nhật nhưng máu me giết chóc quá. Và Hamlet mà, ai cũng biết, bi kịch của Shakespeare là bi kịch của bi kịch.

Days of Abandonment nói về một người đàn bà có hai đứa con, đang sống hạnh phúc với chồng thì ông chồng bỏ đi. Người đàn bà khổ sở vật vã, gần như phát điên, gây gổ, nài nỉ van xin chồng trở về một cách vô hiệu quả. Viết thư hỏi chồng, tại sao, em thiếu sót cái gì. Mãi về sau khi mọi oán giận nguội xuống, vơi đi, ông chồng nói một cách nhẹ nhàng, dường như có chút hối hận. Rằng: bỗng dưng anh thấy hết yêu em, fall out of love, anh cố gắng chống lại cảm giác này nhưng không thành công. Tự nhiên hết yêu thì có phải là tội ác không?

Troubling Love tôi có đọc nửa cuốn nhưng không muốn đọc tiếp, có lẽ mất kiên nhẫn. Một người đàn bà, tuổi hơn 60, mất tích. Người ta thấy xác của bà tấp vào bờ biển. Cô con gái tìm hiểu và từ đó khai mở cuộc tình đầy “vấn đề.” Ông bố của cô con gái, tức là chồng của người đàn bà hơn 60 tuổi, là người cộc cằn, vũ phu, hay ghen. Bà mẹ yêu một người đàn ông khác trong làng (hay thành phố nhỏ, vì là thành phố nhỏ nên người ta xầm xì). Và những gay cấn, giận dữ, đánh đập, mắng chửi, kéo dài mấy mươi năm. Tình yêu trong phim này là một thứ tình yêu khó khăn, đay nghiến, khổ sở, quằn quại. Một thứ tình yêu mà không có nó thì mình dễ chịu hơn, và có thể hạnh phúc hơn.

Làm tôi có cảm tưởng lấy chồng thì đừng lấy mấy ông người Ý.

Câu chuyện dòng sông

Cầu Gojo bắc ngang sông Kamo

Những ngày ở Kyoto thỉnh thoảng tôi đi ngang cầu Gojo. Qua khỏi cầu là đến trạm xe lửa. Nước rất trong và sông khá cạn. Trên sông lúc nào cũng có các loại chim và vịt hoang. Chữ Kamo khi phân tích theo kiểu chiết tự, có nghĩa con sông có chim và vịt hoang.

Buổi sáng đi ngang thấy người ta chạy thể dục, buổi chiều thấy nam thanh nữ tú ngồi dọc theo bờ sông. Có nhiều ban nhạc và những người biểu diễn ảo thuật hay múa.

Con sông tuy cạn nhưng bờ sông được xây rất cao và kiên cố để tránh nạn lụt lội cấp tốc mỗi khi mưa nhiều. Con sông này chứng kiến nhiều sự kiện trong lịch sử.

Ngày xưa dọc theo bờ sông là chỗ cư ngụ của những người thuộc giai cấp cùng đinh gọi là kawaramono. Họ làm những nghề như xử tử tội phạm, đồ tể, lột da và thuộc da. Họ bị xem là giai cấp bẩn thỉu. Mọi người thuộc các giai cấp cao quý như hoàng tộc, hiệp sĩ, doanh nhân phải lảng tránh những người này để không bị vấy bẩn. Chỗ cư ngụ dọc theo bờ sông rất nguy hiểm vì những cơn lụt cấp tốc xảy ra. Năm 1427 có cơn lụt cuốn trôi cả trăm căn chòi của kawaramono.

Năm 1461 hạn hán và mất mùa sinh ra nạn đói trầm trọng khiến hơn 80 ngàn người chết vì đói. Người ta đào những hố to ở đáy sông lúc bấy giờ đã cạn khô để chôn tập thể số người chết cứ 1 ngàn hay 2 ngàn người vào một hố. Khi hết đất để chôn, thi thể người chết chất chồng thành đống cao lên như một cái đập ngăn nước.

Khách sạn tôi ở đường Sanjo cứ đi thẳng con đường này chừng 9 hay 10 blocks là đến cầu Gojo. Dọc đường tôi nhìn thấy ở bên kia đường có 2 pho tượng trông có vẻ như võ sĩ sumo. Dù không biết ý nghĩa của 2 pho tượng tôi vẫn chụp ảnh từ xa, không muốn băng qua đường vì con đường khá rộng và sáng sớm nhiều xe cộ. Về sau mới biết đằng sau hai pho tượng này là một câu chuyện lịch sử khá hay.

Benkei là một nhà sư vóc dáng cao lớn võ nghệ tinh tường. Tương truyền ông đứng ở đầu cầu thách thức những người không xứng đáng là hiệp sĩ đi ngang cầu. Nếu ai đánh kiếm thua ông thì phải nộp thanh kiếm của họ. Thuở ấy có loạn, các nhà sư của giáo phái này đánh nhau với giáo phái khác để tranh giành quyền lực. Ông đã thu được 999 thanh kiếm. Đến lần thứ 1000 ông thách thức một cậu trai trẻ vóc dáng nhỏ bé đó là Minamoto no Yoshitsune. Yoshitsune là một kiếm sĩ thượng thặng tuy tuổi đời non trẻ. Bị thua chàng kiếm sĩ ông xin được đầu quân dưới trướng của vị chúa này. Về sau, khi Yoshitsune bị phản bội kẻ địch bao vây, Benkei một mình đứng ở đầu cầu chống địch, để chủ rút lui vào nội thành (the keep) tự tử để giữ danh dự. Benkei giết cả 300 quân bên địch nên kẻ địch đổi chiến thuật, không cận chiến mà dùng tên. Ông bị bắn trúng người hằng trăm mũi tên nhưng vẫn không gục ngã nên quân địch không dám tiến tới tràn vào thành. Mãi về sau có người tinh ý đến gần dùng mũi giáo đẩy ông thì mới hay ông đã chết đứng.

Buổi chiều ngang qua cầu thấy hai cô gái Việt mặc áo dài, màu áo xanh thật bắt mắt.
Chập sau lại thấy hai cô ngồi ăn kem ở dọc theo một con kênh rất đẹp.

Ngày xưa, khi đường phố còn nhỏ hẹp, người ta phần lớn dùng kiệu, cưỡi ngựa, hay đi bộ, con sông nhỏ này hẳn là một thắng cảnh đáng yêu với liễu rũ hai bên bờ. Cảnh xứng với tình trong những câu thơ. Ngòi đầu cầu nước trong như lọc. Hai bên đường cỏ mọc còn non. Hay là ai về hỏi liễu Chương Đài. Ngày xưa xanh tốt biết nay có còn. Hay là Nước trong chảy lòng phiền khôn rửa. Cỏ xanh thơm dạ nhớ chẳng khuây.

Một người đàn bà Nhật đang rải thức ăn cho cá bên cạnh cây hồng sai trái.

Hôm kia nếu nhớ tôi đã cho anh chàng này vào câu chuyện những người đàn ông Nhật Bản. Thú cưng của anh chàng là một con thỏ. Anh dẫn thỏ ra bờ sông như thể đó là một con chó con.

Cây thông non

Sau khi ngừng ở Trung Tâm Thiên Nhiên và Khoa Học để nghỉ chân và ăn trưa, chúng tôi bắt đầu đi về.  Đường về đi ngang trại nuôi ngựa Watchung.  Ở đây đường đi rộng rãi bằng phẳng hơn vì đường được dành cho kỵ mã tập cưỡi ngựa.  Ở bên phải là mấy bụi cây dâu tằm, mùa đông đã rụi nhiều nên bớt um tùm.  Bên trái, giữa đám bụi rậm chằng chịt có cây thông non.  Thông mọc rất chậm.  Mấy năm trước, cây chỉ lên đến đầu gối, rồi từ từ cao đến bụng.  Giáng sinh năm ấy, chẳng nhớ rõ năm nào, có lẽ 2011 hay 2012, đi ngang cây thông, tôi thấy có người gắn cho vài cái nơ đỏ, giấy bạc và hai cái lục lạc màu bạc.  Sau khi đi qua khỏi những bụi dâu tằm ông Tám kêu lên cây thông non không còn nữa.  Chúng tôi đi ngược lại để tìm cây thông, nhưng không thấy chỉ thấy một màu tuyết trắng.  Vậy là có người đã đốn cây thông! Ai?

Hồi trước, Alpha và Beta đi học cưỡi ngựa ở trại Watchung.  Sau giờ học cả hai thường đi dạo quanh hồ Surprise hay đi ngược dốc hướng về Trung tâm Thiên Nhiên và Khoa Học.  Giáng sinh năm ấy, Beta trang trí cho cây thông con ven đường.  Cô gắn lên cây thông hai cái lục lạc màu trắng bạc, để kỷ niệm nơi hai người hôn nhau lần đầu.  Sau đó Alpha gia nhập quân đội, và hai người chia tay.  Mãn nhiệm kỳ quân đội, Alpha trở về, tìm ngang qua chốn cũ, nhìn lại cây thông.  Cây thông giờ đã cao hơn đầu người.  Alpha nghĩ đến một người bạn trong quân đội.  Sau khi mãn nhiệm kỳ không được may mắn như Alpha, anh ta trở thành người tàn phế.  Anh cựu quân nhân ở một mình trong căn hộ cũng gần nhà Alpha.  Cây thông này có thể là món quà Giáng sinh cho người bạn.  Màu thông xanh tươi, mùi thông thơm dịu.  Anh có thể gắn thêm một vài cái nơ hay con hạc xếp bằng giấy, môn origami anh bạn đã trở nên rất mát tay kể từ khi bị mất một chân.

Cũng như bao nhiêu bà mẹ di dân khác, mẹ của Xi không thích ăn lễ Giáng sinh rầm rộ quá.  Mẹ muốn dùng số tiền thay vì tiêu xài xa xỉ nhân dịp lễ để giúp những người ở quê nhà đang lúc bệnh hoạn hoặc túng thiếu.  Mẹ có cây thông bằng cao su nhỏ xíu bà gắn lên vài cái quả cầu nhỏ bé, một vài sợ dây kim tuyến, và vài cái bánh ngọt để dưới gốc cây thông.  Mẹ muốn Giáng sinh là lễ hội trong lòng mình chứ không phải là dịp mua sắm để chứng tỏ mình là người dư dả.  Mẹ cũng chẳng dư dả.  Mẹ đi làm công nhân vệ sinh cho một công ty giao thông.  Tiền lương của mẹ nếu chi tiêu vén khéo thì đủ để hai mẹ con đầy đủ cơm ăn áo mặc và một ít tiền dư ra để dành trả tiền đại học cho Xi.  Cây thông non này có thể làm tươi mát góc nhà của Xi, và mùi thơm sẽ giúp cho căn phòng hai mẹ con ở thoáng mát hơn.  Xi sẽ gắn lên vài bóng đèn nhỏ màu trắng vì Xi thích cái hình ảnh của những ngôi sao nở hoa trên cây.

Tôi, cây thông non ở giữa rừng, đang là mục tiêu ngắm nghía của hai người.  Cả hai đều có mục đích cao thượng, muốn đem niềm vui đến cho tha nhân.  Nhưng tôi còn trẻ, tôi không muốn phải hy sinh bản thân mình cho niềm vui của người khác.  Tôi muốn được làm cây thông ở giữa trời, giữa rừng.  Tôi muốn được vươn mình lên thật cao, cao hơn những cây thông khác.  Cao đến độ tôi có thể nhìn ngang tầm với những cây thông đã sống hằng trăm năm, hay có thể nhìn xuống những ngọn cây xanh khác.  Tôi muốn được hằng ngày nhìn thấy thung lũng Suối Lam, thấy dòng nước lượn lờ chảy reo vui giữa những tảng đá.  Hay mùa đông nhìn thấy một màu trắng tinh khiết bao trùm cảnh vật quanh tôi.  Tôi muốn nhìn thấy bầu trời đầy sao những đêm hè trong trẻo và đàn đom đóm bay chấp chới trong khu rừng đêm.  Tôi muốn được trò chuyện trong đêm với những nàng tiên bé bỏng mang ánh sáng trong lòng và đôi cánh ửng đủ thứ màu lấp lánh trong đêm.  Tôi muốn có thể trưởng thành rồi rải hạt xuống để có những cây thông non mọc lên thành rừng thông.  Mùi thơm tươi mát của tôi là để cho tất cả muôn loài được hưởng.  Tôi không muốn ngồi trong một góc nhà của bất cứ người nào, dù là một anh hùng dân tộc hay bà mẹ đảm đang rồi trở nên chết héo trong hai ba tuần hay một tháng.  Họ sẽ kéo cái xác héo của tôi ra bỏ ngoài đống rác.  Tại sao tôi phải hy sinh mạng sống của tôi cho hạnh phúc của kẻ khác?  Có ai khóc cho số phận của tôi không?

Nàng tiên bé Tinker triệu tập các bạn ngay sau khi cây thông bị đốn. 

  • Các bạn tiên bé của tôi ơi.  Chúng ta phải đi cứu cây thông vì có người đã đốn cây thông và mang đi chỗ khác.
  • Làm sao cứu được?  Chúng ta bé nhỏ như thế này mà cây thông dù chỉ là thông non cũng quá to lớn với chúng ta.
  • Ồ dễ dàng thôi.  Chúng ta chỉ cần dùng phấn bay, rải lên cây thông và đọc câu thần chú elevetera ba lần thì cây thông sẽ bay theo chúng ta.  Nếu chúng ta làm ngay đêm nay, mang cây thông về trong đêm Chúa ra đời, thì có thể cứu sống người bạn trẻ.
  • Thế thì hay quá.  Chúng mình đi thôi.

Sau ngày Giáng sinh, trời bỗng dưng ấm áp ở mức bốn độ C. thay vì ở độ âm nên chúng tôi đi rừng cho tiêu bớt số thức ăn sau bữa tiệc Giáng sinh.  Đi ngang qua con đường dẫn đến trại nuôi ngựa Watchung, tôi ngạc nhiên thấy cây thông vẫn còn đứng đó xanh tươi.  Không phải chỉ có mỗi mình tôi, trông gà hóa cuốc, thấy cây thông non biến mất và chỗ cây thông đang đứng chỉ là một nền tuyết trắng xóa. 

  • Phải cây thông cũ không?  Hay là cây thông nào khác?
  • Đúng là nó rồi.  Ở dưới gần gốc cây vẫn còn hai cái lục lạc kia kìa.
  • Nhưng mà hôm đó mình nhìn kỹ lắm, chỉ thấy toàn tuyết thôi.
  • Chắc tại chúng mình già nên lẩm cẩm.
Ở dưới gốc thông, bên trái có hai cái lục lạc, một cái nhìn thấy rõ ràng còn cái kia bị khuất sau nhánh cây.

Một ngày mùa đông

Một ngày mùa đông của tôi giản dị và im lặng. Hôm qua trời rất ấm, nhiệt độ cao nhất trong ngày lên đến 56 độ F. (chừng 13 -14 độ C.) chúng tôi làm một chuyến đi bộ trong rừng cho khỏe người. Màu sắc của rừng mùa đông là lớp rêu mọc trên một khúc cây, màu xanh của rêu và các cọng mỏng manh màu đỏ mọc từ lớp rêu. Tôi chẳng biết gọi nó là gì.

Tôi chụp sợi dây leo, lớn lên theo cây rừng, rất dài thả từ trên ngọn xuống đất. Cắt (hay chặt vì dây có đường kính khá to khá cứng và dai) ở khúc gốc gần mặt đất là có thể đánh đu chuyền từ cây này sang cây khác theo kiểu người rừng Tarzan. Không thể xóa hay làm mờ mọi thứ chung quanh tôi chỉ có thể xén bức ảnh cho hẹp lại để có thể nhìn thấy sợi dây tuy dài nhưng nhỏ bé chìm khuất với mấy cây cao nghều nghệu.

Trên một gốc cây có khắc chữ. Ở cây bên trái hàng chữ là Russen và bố ngày 15 tháng 1, năm 2005, kỷ niệm của hai cha con đã 14 năm chứ ít ỏi gì đâu. Còn cây bên mặt là của Julia M. với bố. Họ đến nơi đây và ngày 3 tháng 12 năm 98. Cô bé ngày xưa Julia giờ đã trưởng thành, tuổi của cô, cộng thêm 21 năm. Chẳng biết có bao giờ họ trở lại nơi này để nhớ lại những ngày còn bé?

Mặt hồ có những vòng tròn ngộ nghĩnh. Tôi phải leo lên một gò đất cao và xa hơn mới có thể chụp được ảnh vòng tương đối tròn. Đứng gần thấy ảnh trẹt lét và vòng tròn lại có hình bầu dục.

Những vết chân chung quanh mặt băng còn đọng tuyết có lẽ là của thỏ hay một con thú nhỏ nào đó thích đùa chơi lăng quăng trên mặt băng, chứ băng chưa đủ dày và cứng để chịu được sức nặng của người.

Nước suối chảy ngầm dưới lớp băng mỏng.

Bốn cậu bé, dưới sự trông nom của hai bà mẹ, đã ném lên mặt băng của hồ bao nhiêu là đá.

Chúc tất cả các bạn niềm vui đầm ấm và hạnh phúc với gia đình, trong đêm Giáng sinh. Chỉ cần một ngày bình thường giản dị cũng đủ hạnh phúc lắm rồi, phải không các bạn.

Đàn ông Nhật

Nhà nghệ sĩ mặc y phục cổ trình diễn vĩ cầm.

Hôm trước viết một blog về phụ nữ Nhật, nên để cân bằng tôi nghĩ nên có một bài về đàn ông Nhật. Đáng lẽ khi dùng chữ Hán Việt phụ nữ để nói về đàn bà thì phải dùng chữ gì đó bằng Hán Việt để chỉ đàn ông, nghệ thuật viết cho cân xứng, nhưng tôi không biết chữ ấy, chẳng lẽ là phu nam? Hừ, làm gì trong từ vựng Hán Việt có chữ phu nam. Thế thì tại sao không dùng chữ đàn bà quách cho rồi? A ha, xin thưa với các bạn, vì tôi đã lỡ viết phụ nữ rồi, không muốn sửa lại. Mà chữ phụ nữ để chỉ đàn bà dường như trân trọng hơn. Phải vậy không?

Mà thật ra tôi cũng chẳng biết gì về những người đàn ông này. Chỉ trên đường đi nhìn thấy thì nghĩ rằng nếu viết kể ra có lẽ cũng… hay hay. Buổi sáng hôm ấy tôi với ông Tám đi Ueno Park ở Tokyo. Đây là một trong những công viên nổi tiếng của Tokyo. Công viên này và công viên Shinjuku hao hao giống với Central Park của Mỹ. Không giống về kích thước hay thiết kế, mà giống cách sinh hoạt. Ở giữa thành phố lớn, đất mắc như vàng, hay hơn vàng, mà lại có một công viên cho người ta đến vui chơi, giải trí. Có nghệ sĩ trình diễn nhạc và các tiết mục khác nhằm làm vui du khách.

Hai người đeo hai cây đàn, họ có vẻ là hai nghệ sĩ trình diễn nhạc trên đường phố.
Ông Tám và người nghệ sĩ vẽ chữ. Ông có nói tên của ông, tôi có ghi lại đâu đó rồi đánh mất. Sorry. Ông bảo ông vẽ chữ trên mặt đất bằng nước nhưng nó rất lâu khô và ít nhòe vì thế ông Tám nghĩ là có thể có pha thêm hóa chất gì đó. Nhà vẽ chữ này rất vui vẻ thân thiện. Ông hỏi khách đi ngang đạo gì, hễ là đạo Do Thái thì ông vẽ ngôi sao sáu cánh. Ông hỏi tuổi gì, sau đó ông vẽ hình các con giáp. Ông hỏi nghĩ gì, vui thì ông vẽ chữ Nhật hay Hán tự niềm vui, mặt cười,… Một việc làm thú vị của một người thú vị. Nếu tôi nhớ không lầm thì ông đã về hưu và vẽ chữ trong công viên để làm vui. Tôi không thấy ai tặng tiền bạc gì cả.
Người đàn ông này đi nuôi cầm thú hoang trong công viên. Con quạ này bay theo ông. Ông đi đâu nó đi theo đó, đậu gần đó. Có lẽ ông không muốn tôi chụp ảnh ông nuôi cầm thú hoang nên ông cứ đi chỗ nọ chỗ kia mà không để thức ăn xuống. Có lẽ ông chỉ cho chúng ăn khi tôi quay đi. Có một con mèo đen cũng đi theo ông, và hễ ông thấy nó rẽ vào chỗ nào khác để lẩn tránh người (là tôi) thì ông đi trước đón đầu nó. Ở công viên Nhật có rất nhiều quạ, con nào cũng to béo, và tiếng kêu của chúng rất chối tai, khó nghe. Cứ quang quác nghe dễ sợ lắm.
Một buổi trình diễn của các cô ca sĩ nhạc rock trẻ. Hầu như 90 phần trăm của đám đông này là đàn ông Nhật. Có người trạc năm mươi, phần lớn là ba mươi và bốn mươi. Các cô có vẻ chừng chưa đến hai mươi, váy ngắn nên chân ngắn cũng thành chân dài. Các ông la hét, nhảy múa, cổ vũ, đưa nắm tay lên trời, kích động chẳng thua gì các cậu đôi mươi.
Người này ngồi ở góc phía trước bức tường có nước chảy trên mặt. Ông đang nghĩ gì trong một buổi sáng đầy nắng như hôm ấy?