Đồng bạc không lớn như bánh xe bò

Đồng bạc không lớn như bánh xe bò.

Thấy trên Facebook có một anh Tây đi du lịch ở Nhật than phiền về chuyến đi không may mắn của anh ta.  Vì bị trễ chuyến xe, mà lỗi là tại hãng xe nào đó treo cái bảng quảng cáo to quá che mất bảng tuyến đường skyline access anh cần dùng, nên anh đành lấy đi tắc xi.  Sau khi trả giá hai bên thỏa thuận, anh tài xế tắc xi sẽ đưa vợ chồng anh Tây này từ phi trường đến khách sạn của anh ta ở vùng giữa thành phố Tokyo với giá 50 USD.  Anh Tây đưa địa chỉ cả tiếng Anh lẫn tiếng Nhật và anh tài xế chắc chắn là biết chỗ và hứa sẽ đưa đúng đường.  Dọc đường anh tài xế than đường xa quá, mưa lại đổ xuống dầm dề, anh đòi thêm tiền.  Vợ chồng anh Tây túng thế đồng ý tăng từ 50 lên 70 USD.  Chỉ một chốc sau, anh tài xế đổi ý không đi nữa và đuổi vợ chồng anh Tây ra khỏi xe, bắt phải trả 40 USD.  Đến đây thì hai bên cãi vã dữ đội cuối cùng cảnh sát được gọi đến.  Tất cả mọi người đều phải về bót cảnh sát để giải quyết vấn đề.  Cô vợ Tây sợ hãi nên khóc nức nở.  Anh tài xế cáo buộc với cảnh sát anh Tây dùng con dao găm uy hiếp anh.  Khi cảnh sát khám xét thì thấy anh tài xế hiểu lầm, tưởng một cái dụng cụ nào đó là con dao.  Mọi chuyện có lẽ ổn thỏa vì anh Tây đón chuyến xe skyline access sau đó, về đến khách sạn anh viết một bài trên facebook.  Kinh nghiệm đắng cay làm anh trở nên cay đắng với người Nhật.  Anh kết luận là không phải người Nhật nào cũng tử tế. 

Người mình có nói.  Ở đâu cũng có anh hùng.  Ở đâu cũng có thằng khùng thằng điên. 

Mấy quyển sách chỉ cách đi du lịch Nhật đều nhấn mạnh, từ phi trường về khách sạn mà đi tắc xi thì giá rất đắt.  Có một cô nàng nào đó trả cuốc tắc xi từ phi trường Nhật về khách sạn tốn hết hơn 200 USD nhưng với cô chỉ là một bài học đắt giá hơi méo túi tiền chứ không đến nỗi lôi kéo cả cảnh sát Nhật vào cuộc. 

Tháng Ba (2019) tôi ra Hà Nội.  Ông Tám nói trước sẽ đưa tôi đi từ phi trường về khách sạn bằng xe buýt.  Giữa lúc ông ngó chung quanh tìm hướng đi thì có một anh tài xế tắc xi chờ sẵn ở bên đường đến gần dắt tay ông Tám đến chiếc tắc xi của anh.  Anh tài xế thấp người, chân phải ngắn hơn và yếu hơn chân trái nên anh đi bước thấp bước cao.  Anh còn trẻ, có vẻ quê mùa, giọng nói của dân miền ngoài Hà Nội, luôn gọi ông Tám bằng ông và xưng con. 

Lên xe ngồi, càng lâu trong chuyến hành trình tôi càng sốt ruột.  Thấy đồng hồ giá tiền tắc xi cứ nhảy vọt.  Tôi làm một bài toán nhẩm, cho chẵn dễ tính cứ 20 ngàn đồng VN là 1 đồng US.  Giá tiền tăng dần từ 20, đến 30, đến 40 đô la.  Tôi tự hỏi trông anh quê mùa như thế không biết anh có bịp chúng tôi không.  Những cuốn sách du lịch Việt Nam đều chỉ cho cách nhận ra cái đồng hồ tính tiền theo đường dài đã bị chế biến để gian lận khách như thế nào.  Tôi nghĩ có nhận ra những dấu hiệu này thì cũng đã muộn.  Vả lại mới đi tắc xi Hà Nội lần đầu không có tour guide, mình đâu biết giá cả bao nhiêu, đường dài bao nhiêu. 

Bảng chỉ đường, những cái bảng hiệu màu xanh, trên đường cao tốc, bảo rằng vào Hà Nội đi hướng này, nhưng anh tài rẽ sang một nhánh vào đường khác, đi một lúc thấy cũng quay trở lại đường cao tốc.  Tôi tự hỏi không biết mình phải trả bao nhiêu tiền cho chuyến đi này.  Khi anh ngừng xe cho chúng tôi xuống thì giá tiền chuyến đi tương đương với 50 đồng US.  Tôi thầm nghi là chúng tôi bị lừa, nhưng cũng mừng đó không phải là 100 hay 200 đồng US. 

Hôm sau, trò chuyện với cô chủ khách sạn, tôi hỏi giá một cuốc tắc xi từ phố cổ Hà Nội ra phi trường chừng bao nhiêu.  Cô nói, chừng 20 hay 30 đồng US.  Ra ngoài phố, đi bộ một đoạn tôi thấy có một cửa hàng tổ chức du lịch có cái bảng quảng cáo đề giá tắc xi từ phố cổ ra phi trường là 10 đồng US.  Mặc dù ông Tám nhất định lần này sẽ đi xe buýt nhưng tôi bảo ông cứ hỏi thử xem sao.  Cuối cùng chúng tôi đồng ý với giá này.  Hẹn đến chiều sẽ trả tiền đặt trước chuyến xe.

Khi chúng tôi trở lại thì anh chủ tiệm đi vắng.  Tiệm sắp đóng cửa, chỉ có cô vợ trẻ ngồi đút cơm cho con.  Khi chúng tôi nói với cô chuyện đi tắc xi ra phi trường với giá tiền ấy, cô gọi điện thoại hỏi chồng.  Cô nhận tiền, bảo rằng anh ấy đã hứa, thì cô chú cứ đi về khách sạn, sáng mai sẽ có người đến tận khách sạn đón cô chú.  Cô không đưa giấy biên nhận, làm tôi cũng ngạc nhiên, nhưng không nói gì.  Cả ông Tám cũng không đòi giấy biên nhận.  Có lẽ ông cũng như tôi, tuy không giống với cách thức buôn bán, giao nhận mà chúng tôi quen thuộc, nhưng số tiền chỉ là 10 đồng US thôi.  Hai vợ chồng tuy còn rất trẻ nhưng đã có một cửa tiệm quan trọng như thế này ở phố cổ thì ai mà để mất tiếng lương thiện với chỉ 10 đồng US.  Ở đây tôi cũng xin nói thêm, một điểm hay ở Hà Nội tôi nhận thấy hiện nay những người làm chủ cơ sở thương mại đều là những người rất trẻ. Và đa số cơ sở này đều do người Việt làm chủ, chứ không phải những cơ sở chuỗi kinh doanh của nước ngoài.

Tôi có tính dễ tin.  Biết mình dễ tin tôi hay cẩn thận tránh bị lừa.  Ở bên Mỹ, cái gì cũng có biên nhận.  Đó là một thứ hợp đồng ký kết giữa đôi bên.  Mua bán thối tiền lại một xu cũng có biên nhận.  Đến chỗ lạ tôi càng tránh mắc hỡm, để không mang ấn tượng xấu về một nơi chốn đáng yêu chỉ vì một trường hợp không vừa ý, theo cái kiểu con sâu làm rầu nồi canh.

Hôm sau, sáng sớm, anh chồng lái Honda, dẫn anh tài xế tắc xi mặt còn ngái ngủ, đến tận khách sạn đón chúng tôi.  Tôi nghĩ anh sẽ là một người thành công lớn sau này, vì chỉ với một số tiền nhỏ bé mà anh dậy sớm dẫn đường và thực hiện cái hợp đồng với chúng tôi một cách tận tình.  Rất lương thiện. 

Trở lại với anh tài xế tắc xi ban đầu.  Tuy giá tiền hơi đắt, và tôi có chút nghi ngờ, nhưng tôi không thể chứng minh là anh không thành thật.  Rất có thể giá mà chúng tôi trả cho cuốc tắc xi anh chở là giá đúng, và đồng hồ của anh cũng không có chế biến gian lận.  Còn giá của chuyến tắc xi thứ hai giá rẻ hơn bình thường.  Tôi chỉ có thể cười chế nhạo cái tính tiết kiệm đến hà tiện của mình, mà người thân của tôi có lần mắng tôi là trọng đồng tiền quá thể chứ đồng bạc không lớn như bánh xe bò.  Bây giờ ở VN người làm ăn buôn bán giàu có, người ta có thể giao dịch buôn bán với nhau dựa vào sự tín nhiệm.  Nói cho đúng hơn, đồng bạc không còn lớn như bánh xe bò nữa.

Ảnh chụp biển từ bờ biển Mỹ Khê, chẳng liên quan gì đến bài viết.

Đi tìm một cái hoa pond lily đẹp

Đi rừng tôi nhiều lần cố chụp cho được một tấm ảnh hoa pond lily cho vừa ý, không lần nào thành công. Hoa pond lily, không giống sen cũng chẳng giống bông súng. Giống hoa cúc chỉ ở màu vàng, có từng cánh búp vào nhưng cũng chẳng giống hoa hồng. Có nơi người ta gọi nó là cow lily không biết có phải tại nó giống cái lục lạc đeo ở cổ bò không. Thay vì đặt cho nó cái tên thanh tao thơ mộng tôi tạm gọi nó là hoa lục lạc bò. Tạm gọi cho đến khi nào có bạn nào đó đặt cho nó cái tên hay hơn.

Tôi vác ba lô một mình trở lại hồ Surprise đi dọc theo bờ hồ, chỉ chụp ảnh lục lạc bò. Hoa bé, ở xa, dùng zoom, không có chân chạc ba, chỉ đứng trên bờ hồ, nên cố gắng mấy cũng chỉ được như thế. Crop cho ảnh to hơn và thêm màu với ánh sáng cũng chỉ thấy cái vụng về của mình.

Thư Quán Bản Thảo số 86

Nhận được TQBT 86 từ nhà văn Trần Hoài Thư, số kỷ niệm ông Trần Phong Giao, nhà văn, dịch giả, kiêm thư ký tòa soạn báo Văn. Đây cũng là sô báo mừng sinh nhật 18 tuổi của TQBT. Xin trân trọng giới thiệu cùng các bạn. Cũng xin lỗi các bạn, máy scan của tôi bị hư không còn scan bìa sách được, đành phải dùng phone chụp ảnh bìa nên không được tươm tất.

Airbnb – nguồn thu nhập đáng kể

Với các bạn trẻ đi phượt hay đi du lịch bụi có thể đồng nghĩa với đi mấy trăm kí lô mét bằng xe máy, nấu cơm ăn và giăng lều ngủ trên núi. Với người già như tôi, phượt có nghĩa là đi du lịch kiểu ít tốn tiền. Ở Mỹ và Canada, thì thuê một chiếc xe lái vòng quanh, và đặt chỗ ngủ qua Airbnb.

Airbnb có nghĩa là air-bed và breakfast. Tự ban đầu, có người đã dùng tấm nệm thổi không khí vào thay thế cho cái giường rồi cho khách thuê ngủ tạm và buổi sáng có thức ăn đơn giản với cà phê. Giá thuê rẻ hơn khách sạn, dĩ nhiên. Gặp mùa du lịch, hay có hội hè họp hành gì đó khách sạn trở nên khan hiếm, Airbnb là một chọn lựa thay thế khá thuận tiện. Lâu dần, chữ bnb có thể được hiểu là bed and bath, chỗ ngủ và chỗ tắm. Tấm nệm thổi không khí không còn nữa và thay vào đó là cái giường ngủ, chăn nệm tươm tất hơn.

Đứng ở cửa sổ nhìn qua căn nhà đối diện với căn nhà trọ (Airbnb) ở Vallejo, California, là một ngọn đồi trọc, không cao lắm. Ở góc bên phải cạnh lùm cây um tùm là những trụ điện cao thế dọc theo đường cao tốc, tôi đoán là đường I-80. Bên dưới những trụ điện cao tốc này là một hàng, sáu cây tùng. Ở New Jersey có loại tùng này nhưng không nhiều lắm. Ở California thì rất nhiều, hầu như khắp nơi.

Đi chơi xa, tôi thường dùng bnb (viết tắt cho gọn), không những chỉ để đỡ tốn tiền mà có thể biết thêm về cách sống của người địa phương và có cơ hội tiếp xúc với họ. Tháng 8 vừa qua tôi gặp nhiều người chủ bnb, khá thú vị. Mỗi bnb có đặc điểm riêng.

Ở đâu đó, gần San Francisco, chủ bnb là một người da màu, rất trẻ. Bnb của anh là một căn townhouse ít nhất là hai tầng. Anh cho thuê tầng trệt và vợ chồng anh ở tầng trên. Dù gia đình anh có trẻ con nhưng khá yên lặng, có lẽ vì chúng tôi đến khá trễ trẻ con đã đi ngủ. Trong khi chúng tôi loay hoay mở cửa với mật mã, anh mở cửa đón chúng tôi và trò chuyện dăm ba câu. Căn phòng chúng tôi ở thiết kế rất hiện đại, ti vi khá to (nhưng chúng tôi không dùng đến), rất sạch sẽ, màu sắc hài hòa, trang trí có vẻ sang trọng như những bức ảnh chụp từ catalog. Căn nhà này nằm trong một khu vực mới xây cất, kiểu nhà rập khuôn nhau. Anh chủ nhà có cái vẻ của một người dân thành phố lớn, trẻ tuổi, có nghề chuyên môn lương cao (yuppy). Anh cũng có thể là một vị mục sư bán thời gian vì chung quanh nhà anh, thậm chí cả ở ngoài cửa và cửa sổ đều có treo những bức tranh có những câu trích lấy từ kinh Thánh. Một chỗ trọ tươm tất, an toàn. Anh chỉ có mỗi một thiếu sót là không để ly giấy hay ly nhựa để khách có thể uống nước hay hứng nước súc miệng đánh răng.

Ảnh chụp khu vực townhouse, ở con đường bên cạnh ngôi nhà trọ ở Sacramento

Chỗ trọ thú vị nhất trong chuyến đi tháng 8 vừa qua là bnb ở Vallejo, gần với San Francisco. Chúng tôi ở đây mấy ngày, ban ngày đi chơi Napa, Sonoma, và San Francisco, tối về ngủ. Mấy ngày đầu khá nóng bức khó chịu vì nhà không có máy lạnh, nhưng mấy ngày sau trời mát. Chủ nhân là một người đàn bà trẻ, da trắng có nuôi hai con mèo. Chúng tôi đi chơi sớm về trễ nên ít gặp chủ nhà, và thường thường chủ nhà không ở chung trong căn nhà họ dùng làm bnb. Năm 2016 phòng trọ tôi thuê ở San Bruno mấy ngày hoàn toàn không gặp chủ nhân. Nhưng lần này chúng tôi gặp chủ nhân phòng trọ khá thường xuyên.

Cây đào sai trái ở bên kia hàng rào. Trái trĩu cành, rụng trên sân bên này được nhặt lên bỏ vào khe hở dưới hàng rào để phân hủy tự nhiên.

Natasha tốt nghiệp Cao học Mỹ thuật, ngành viết kịch bản cho phim. Nhà của cô khá bề bộn với những đồ trang trí mỹ thuật, đầy màu sắc và cá tính. Khắp nơi trong nhà treo rất nhiều tranh và ảnh. Phòng ngủ của tôi cứ mỗi lần lên giường là nhìn thấy Marilyn Monroe với đôi mắt khép hờ đa tình và đôi môi mời mọc. Ngay từ đầu tôi đã có thiện cảm với cô và mối thiện cảm càng tăng khi chồng cô cằn nhằn về cô với chúng tôi là chẳng những cô nuôi hai con mèo, cô còn cho cả racoon ăn. Một con mèo hoang cô mang về nuôi có một chân tàn tật, cái chân này thường hay bị làm độc nên cô mang đi mổ cắt cái chân này đi. Tính rộng rãi của cô thể hiện trong cách đối đãi với người thuê phòng trọ. Cô tặng chúng tôi chai wine (nhưng chúng tôi từ chối). Cô dành một phần trong tủ lạnh cho người thuê phòng sử dụng. Cô để sẵn đĩa giấy mời chúng tôi dùng. Chúng tôi có thể sử dụng bếp của cô nếu muốn. Nếu có lúc nào tôi trở lại, chắc chắn tôi sẽ tìm lại căn phòng này, và dĩ nhiên lúc trời mát hơn tháng 8 vừa qua.

Sáng nào tôi cũng nhìn thấy con chim đậu trên cột đèn. Từ sau nhà trọ Vallejo nhìn thấy một ngọn đồi cỏ khô. Dọc theo hàng rào thường thấy một đàn gà lôi bốn năm con, đầu cao hơn ngọn cỏ một chút. Chụp bằng phone ở khá xa.

Căn nhà có ba phòng ngủ ở tầng lầu. Vợ chồng chủ nhân ở một phòng có phòng tắm và vệ sinh riêng. Hai phòng còn lại cho thuê. Tôi ở đây năm ngày, thấy căn phòng thứ hai ngày nào cũng có người thuê. Đó là một cặp trẻ tuổi, có vẻ cũng là du khách đến chơi vùng này. Khách thuê hai căn phòng dùng chung một phòng tắm và nhà vệ sinh. Còn một phòng vệ sinh không có chỗ tắm ở tầng trệt của nhà. Chúng tôi không hề có cảm giác phải chờ đợi lâu lắc để dùng nhà tắm.

Còn mèo nằm lười biếng trên ghế bành, bên cạnh là tấm màn có hoa văn. Một trong những nét vừa bề bộn vừa có nét sáng tạo mỹ thuật của chủ nhân.

Chỗ tôi ở trọ ở Salinas cũng thú vị không kém. Chủ nhân là người phụ nữ trạc hơn năm mươi gần sáu mươi, da trắng, gốc người Mễ. Bà nói tiếng Anh không rành chốc chốc quay sang hỏi ông chồng, chữ ấy trong tiếng Mễ, tiếng Anh nói làm sao. Bà kể ở quê của bà, nhà ở tuốt trên núi, mỗi lần muốn đi chợ phải cỡi ngựa đi cả hai ba ngày mới đến. Ông chồng to lớn vạm vỡ, cũng là người Mễ, nhưng nói tiếng Anh hoàn hảo. Cả hai người vui vẻ trò chuyện với chúng tôi. Bà cho biết từ lúc mở bnb bà được tiếp xúc với hầu hết mọi giai cấp khách hàng. Cũng như hầu hết mọi nhà ở Salinas, nhà thường là nhà trệt, không có tầng hầm như nhà ở miền Đông Bắc. Nhà có bốn phòng. Hai vợ chồng ở một phòng, còn lại ba phòng cho thuê. Cô con dâu chịu trách nhiệm giao tiếp trên internet. Ba cặp (trong đó có tôi và ông Tám) dùng chung một cái nhà tắm có phòng vệ sinh. Hai cặp kia, một cặp là yuppy người Ấn, và cặp còn lại khá trẻ người da trắng nói có giọng của người ngoại quốc. Anh người Ấn chiếm phòng tắm khá lâu khiến anh người da trắng phải đi ra đi vào chờ đợi mấy lần. Bà chủ cho biết kể từ khi mở bnb đến nay, không bao giờ có phòng trống, ngay từ ngày đầu tiên đã đắt khách hàng.

Căn nhà trọ ở Salinas

Đây là một căn nhà bề bộn, quá mức của bề bộn. Trái ngược với sự rất mực ngăn nắp của căn phòng trọ của anh da màu ở San Francisco, căn nhà trọ ở Salinas khiến tôi có cảm giác gần gũi bình thường hơn. Ông chủ nhà trọ hứa sẽ thức dậy sớm pha cà phê cho tôi vì cái máy pha cà phê của ông mới mẻ tối tân quá tôi không biết dùng. Nhà của hai ông bà có quá nhiều đồ dùng nên dù có muốn gọn gàng hơn cũng không biết đem cất đồ dùng ở đâu. Tôi cứ sợ mình xoay trở vụng về làm vỡ ly tách trong nhà mình ở trọ.

Tôi có ở hai chỗ trọ của hai gia đình người Việt. Một chỗ ở Westminster có cô vợ trẻ là người Việt. Chúng tôi đến trễ, cô mở cửa cho chúng tôi vào. Khách trọ dùng chung nhà tắm và phòng vệ sinh dành cho khách trọ. Đêm sau có một nhóm người thuê căn phòng khác trong nhà. Khi chúng tôi rời nhà sáng sớm, họ vẫn còn ngủ. Còn chỗ kia ở Fountain Valley. Đêm tôi đến gia đình chủ nhà có tiệc, mở nhạc ráp khá ồn ào đến khuya. Được cái là chúng tôi có phòng tắm riêng. Căn phòng này có vẻ như mới sửa lại để dành cho khách bnb thuê. Cửa mở từ garage đi thẳng vào phòng không tiếp xúc với ai khác. Cái tủ chứa quần áo đồ dùng rộng lớn (walk-in closet) được biến thành nhà tắm và phòng vệ sinh riêng cho khách thuê. Nhà này có ít nhất là hai phòng dành cho bnb. Tôi không chụp ảnh của hai căn nhà này. Cả hai căn nhà đều rất đẹp, đắt tiền.

Đặc điểm chung của những căn nhà trọ bnb này là đắt khách. Mỗi nhà có hai phòng hay ba phòng. Thử làm một bài toán nhé. Cứ đặt giả thuyết một căn phòng cho thuê làm bnb với giá thật bèo là 60 đô la một ngày. Một năm cho thuê 300 ngày. Tiền thu nhập vào là 18 ngàn. Đóng tiền đầu cho công ty bnb internet là 20 phần trăm là 3 ngàn 6 trăm. Điện nước cho khách dùng là 4 trăm đô la. Số tiền còn lại là 14 ngàn. Bạn cứ theo số phòng cho thuê trong nhà mà nhân lên. Ba căn phòng cho thuê theo kiểu bnb có thể mang lại nguồn lợi tức cho chủ nhân là 42 ngàn đô la một năm. Bạn sẽ phải đóng thuế nhưng rõ ràng đây là một nguồn lợi tức quả là đáng kể. Nếu bạn là người Việt giàu có, có con đi du học ở nước ngoài, muốn mua nhà cho con ở đi học nhưng ngại đóng tiền thuế đất ở Mỹ, thì mở bnb có thể thu lợi tức vào và dùng tiền này để đóng thuế đất.

Dĩ nhiên, bạn sẽ bị mất tự do. Có thể người thuê phòng sẽ có những thói quen xấu làm dơ hay hỏng căn phòng đẹp của bạn. Mới hôm qua hôm kia tôi thấy một bài báo về homestay ở VN. Chủ nhân căn nhà cho học sinh lớp 9 thuê, có cha mẹ đi theo trông chừng con. Những người ở trọ này, theo lời chủ nhân nhà trọ than phiền, đã mang thức ăn vào phòng ngủ làm bẩn cả giường lẫn chăn. Khi chủ nhân than phiền và bắt đền thì họ cho điểm xấu về căn nhà bnb họ thuê.

Người mình thì nói “Đời không như là mơ.” Người Mỹ họ nói “no pain no gain” có nghĩa là không có đồng tiền nào thu vào mà người ta không phải trả bằng cái giá mồ hôi hay nước mắt cả. Kể cả sự thu nhập dường như rất nhẹ nhàng của chuyện cho thuê những căn phòng dư trong nhà để làm bnb.

Khu vườn nhỏ trước một căn phòng trọ ở Ottawa tôi đi hồi năm 2017

Mission Sonoma

Mission Sonoma

Chuẩn bị cho chuyến đi chơi California hai tuần, tôi “gạo” mấy quyển sách du lịch. Nhắm vào khu vực miền Bắc Cali gần San Francisco, tôi chọn Sonoma và Napa là hai nơi nổi tiếng về trồng nho và rượu nho. Không muốn thử rượu nho ở nơi này, sợ làm vài ly đã say mà còn phải lái xe nên tôi chỉ chủ yếu xem phong cảnh, tìm chỗ hiking, và xem các di tích cổ. Có hai di tích cổ đáng chú ý, đó là một cái lâu đài cổ được dùng làm nơi cho uống thử rượu vang, và một nơi nữa gọi là Mission Sonoma. Cả hai nơi này, đều có cách kiến trúc Spain (Tây Ban Nha). Tôi thích lâu đài, hoàng cung, nó gợi nhớ chuyện cổ tích của hoàng tử và công chúa trong các câu chuyện Tây phương, nhưng không muốn uống rượu khơi khơi giữa ban ngày, và chữ mission lại làm tôi tò mò, nghĩ đến các chàng tài tử đẹp trai đóng vai điệp viên 007 trong loạt phim Mission Impossible, vì thế tôi chọn đi xem Mission Sonoma.

Mission là sứ mạng, là nhiệm vụ. Nơi đây, nó được dùng để chỉ một ngôi giáo đường, chỗ tu niệm, và ăn ở cho các vị giáo sĩ Spain đi truyền đạo Công giáo. Lịch sử California không thể đơn giản hóa trong một hai đoạn. Vắn tắt, để bạn đọc không bỏ đi, California khoảng chín ngàn năm trước thổ dân ở trước tiên. Sau đó thuộc về Anh và Tây Ban Nha. Rồi thuộc về Mexico và cuối cùng trở thành một tiểu bang của Mỹ.

Mission là nơi để truyền đạo của các giáo sĩ người Tây Ban Nha thuở ấy, nhưng cũng được dùng để giam giữ những người không tuân phục. Thổ dân, người da đỏ, hầu như bị tận diệt trong thời kỳ này, một phần vì mất đất đai để trồng trọt và nuôi gia súc, một phần vì các chứng bệnh do người Tây phương mang đến mà họ không có sức kháng bệnh và không có thuốc men. Một phần là bị thảm sát chủng tộc.

Dọc theo chiều dài bờ biển của California có 21 giáo đường. Mission San Diego ở cực Nam là cái đầu tiên. Mission Sonoma là cái cuối cùng và ở cực Bắc của chuỗi 21 giáo đường.

Ôn lại lịch sử để thấy những điều oái oăm và oan nghiệt của lịch sử. California là một tiểu bang giàu có, trù phú, được thiên nhiên ưu đãi, khí hậu ôn hòa, sông dài biển rộng núi cao hồ thẳm. Ai đã ở Cali là không còn muốn đi nơi khác. Thời nghèo đói dân của các tiểu bang khác như Oklahoma đã di dân đến California. Họ tưởng tượng đến những vườn cam mọng nước và sai trái chỉ cần giơ tay lên là hái được. Điều này cũng không xa sự thật đâu nhé. Và điều này cũng được nhắc đến trong quyển sách “The Wrath of Grapes” (Chùm Nho Uất Hận); quyển sách góp phần đưa tác giả của nó John Steinbeck lên đài danh vọng của giải Nobel văn chương. Chẳng những chỉ cam, mà còn nho, táo, và trái đào. Chỗ tôi trọ ở Vallejo có cây đào sai trái, chín cây rất ngọt rất dòn, trái rụng đầy sân chẳng ai buồn nhặt.

Nó, Cali, đã một thời là của người Mexico, thế mà ngày nay, họ muốn vào Cali để tìm việc làm, kiếm sống cũng không được.

Người Việt mình, ngày xưa không mấy tin tưởng một số giáo sĩ Pháp không phải là vô lý. Các giáo sĩ Tây Ban Nha, với nhiệm vụ truyền đạo, có người ghi chép thu nhặt tin tức cho doanh thương, và chính quyền của họ, với mục đích cai trị đất nước họ đến để truyền đạo. Điều này thì bây giờ ai cũng rõ.

Nho được trồng làm hàng rào ở gần chợ Oxbow Market, Napa

Nỗi sợ

Nora – 10 tuổi

Khoảng 8 giờ tối, tôi leo lên sô pha trùm cái mền vải quilt mở phim ra xem. Tôi đổi từ video sang truyền hình và đổi trở lại, không thấy hứng thú với cả phim và chương trình TV đài của Nhật phát sóng bằng tiếng Anh. Tự hỏi Nora đâu mất rồi. Thường thường cô nàng nửa chừng xuân này không bao giờ để tôi yên. Cứ đến giờ tôi xem TV là dù nàng ở đâu trong nhà cũng nhảy lên ghế và leo lên nằm chễm chệ trên bụng tôi. Đòi ăn một hai cái hạt nhỏ nếu không có ăn thì nằm đó lim dim.

Cửa sổ vẫn mở, hơi lạnh buổi tối mùa thu lùa vào nhà. Tôi có cảm giác bất an vì sự biến mất của Nora. Mười năm sống với tôi, làm bạn với tôi cả lúc ngủ cũng như lúc thức, chúng tôi biết thói quen của nhau đến không cần phải nói ra. Cứ chốc chốc tôi lại mở cửa sau, cửa trước, mở đèn sáng choang, gọi tên nàng, trông cho nàng về.

Hết phim. Tôi bồn chồn. Ông Tám xách đèn pin đi tìm. Chập sau tôi xách đèn pin đi tìm. Tôi mang giày đi lên trên đồi, chỗ Nora thường nấp hay ngồi rình thú nhỏ trên những gốc cây khô đã ngã trên mặt đất. Vẫn không thấy nàng. Lần cuối cùng tôi còn gặp Nora là lúc 5 giờ 30 tôi cho Nora ăn lúc chuẩn bị ăn cơm chiều. Nora ăn xong nhảy ra ngoài cửa sổ đi kiếm con mèo Anh. Lúc này một già một trẻ quyến luyến nhau thấy rõ.

Lo lắng. Tôi tự nhủ không biết phải chờ đến bao giờ. Nora không bao giờ đi xa hay đi lâu như thế. Có lẽ sáng mai phải in hình Nora ra giấy đi vòng quanh xóm hỏi có ai nhìn thấy cô bạn già của tôi không. Rồi phải đi dán truyền đơn – tờ rơi ở khắp nơi. Chúng tôi đã sục sạo mọi ngóc ngách dưới gầm giường gầm tủ, chung quanh nhà ra đến sân tới ngoài đường. Tôi mở cả cửa nhà kho (shed) để tìm dù biết là mình không có mở cửa và Nora không vào trong ấy.

Rồi tôi chợt nghĩ, sao mình không thử vào nhà để xe. Biết đâu chừng.

Đang ngồi ở bàn với computer, lựa tấm ảnh của Nora để chuẩn bị in tờ rơi, không kịp mang giày tôi chạy ra nhà xe. Mở cửa tối om chưa thấy gì, tôi đã cảm thấy có sự chuyển động. Tôi mở đèn, Nora ngồi ngay bậc cửa nhìn tôi đôi mắt mở to như dò hỏi.

Tôi mừng muốn chảy nước mắt. Bế nàng lên trên tay, hỏi, chắc Nora bị nhốt trong bóng tối mấy tiếng đồng hồ sợ lắm phải không?

Tôi thì sợ. Nỗi sợ mất con mèo của con tôi.