Hồ Surprise

Hồ Surprise ở Watchung Reservation, New Jersey

Hồ không lớn. Chỉ cần dùng cái phone cũ Samsung 6 cũng có thể thu được cảnh rộng của bờ bên kia hồ. Đi bộ, buổi sáng bầu trời nặng trĩu như sắp mưa to, nhưng sau một giờ chiều có chút ánh sáng thoát ra sau đám mây khá dày. Mùa hè năm nay tôi thấy nước hồ xanh hơn bình thường. Có lẽ khi cho hóa chất vào hồ để diệt các loại cỏ bèo hoa súng và muỗi mòng, người ta cũng cho thêm màu. Mấy năm trước nước hồ đục màu bùn.

Chỗ này gần cái đập ngăn nước. Vào mùa mưa, hay mùa xuân khi tuyết tan, tạo thành cái thác nước chảy khá mạnh. Chỗ này thường đông người đi dạo. Đi một đỗi sẽ gặp trại nuôi ngựa Watchung. Hay đi ngược hướng lên đồi, sẽ gặp Nature Center, một nơi khá hấp dẫn, nhất là với các trẻ em thích khoa học thiên nhiên.

Xin mời nghe một bài nhạc cũ. “Một Chiều Thu.”

Cửa sổ không có chấn song

Truyện ngắn của Hữu Hạnh

Tú có thói quen nhâm nhi cà phê ngay tại bàn viết vào buổi sáng.  Không thích nắng sớm làm chói mắt nên cô đã khép hờ cửa sổ. Và cô đã quên cài chặt cửa sổ lại trước khi đi làm. Thỉnh thoảng Tú cũng quên những viêc tưởng như đã thành nếp. Chiều trời đổ mưa lớn. Chạng vạng tối, đi làm về, trước mắt Tú là mớ sách vở giấy tờ thư từ tài liệu trên bàn bị gió mưa thổi bay tung tóe, ướt đẫm. Đang lúi húi dọn dẹp thì cô chợt nhìn thấy một bóng đen phủ chụp lên bóng cô. Tú quay phắt lại, ngẩng lên nhìn thì lạ thay cô không thấy ai cả. Tú hoảng hồn, sởn gai ốc. Tú bỗng nhớ, căn nhà cô mới mua nghe người ta thuật lại trước đây thuộc về một khu đất trống, nói chính xác hơn là một bãi tha ma rải rác những ngôi mộ cổ bị bỏ hoang. Nhưng Tú ngẫm nghĩ, nhà nào mà lại không có người chết cơ chứ? Không phải tất cả chúng ta đều đang sống trên cùng mảnh đất, hít thở chung bầu không khí với người đã chết đó sao? Có việc gì trầm trọng lắm đâu? Ờ, nhưng thấy bóng… mà không …thấy người thì …hình như lại là chuyện khác…

Ăn qua loa cho xong bữa tối, cô nhấp mấy ngụm trà nóng để ổn định tinh thần. Tú cẩn thận khóa chặt cửa ra vào và cửa sổ. Cô bật laptop lên nhưng không thể tập trung. Mấy sợi tóc mai phía sau gáy cô tự dưng bay bay nhè nhẹ như có hơi lạnh phả vào dù nhà cô không gắn máy điều hòa, và cô không hề bật quạt. Tú không thể xoay người lại. Cô ngồi chết cứng trên ghế. Rồi lại có tiếng chén đũa khua lách cách ở trong bếp. Tú kinh hoàng nghe thấy tiếng trẻ con nô giỡn lao xao bên ngoài. Hàng xóm của cô đa phần là những người nhập cư sống độc thân. Cô chưa nhìn thấy bọn trẻ bao giờ.

Cũng đã khuya lơ khuya lắc rồi. Không lẽ mình ngồi như vầy mãi? Tú thu hết can đảm rời khỏi ghế, bước về phía giường. Tay chân cô tê buốt. Cô từ từ nằm xuống, kéo chăn lên ngang ngực. Thật khó chợp mắt trong ánh đèn sáng choang. Cô buộc lòng vói tay tắt bớt đèn, chỉ chừa lại một cái trong phòng tắm. Mệt mỏi sau một ngày làm việc, thần kinh quá căng thẳng vì gặp những hiện tượng bất thường, cơ thể cô tự động chùng xuống, chìm vào giấc ngủ.

Khoàng hai, ba giờ sáng, Tú cảm thấy như có ai đó lay nhẹ cánh tay trái của cô. Cô ngạc nhiên nghe thấy tiếng mình rên rỉ. Làm ơn, làm ơn tha cho tôi. Đừng chọc phá tôi nữa. Không phải là do cô chủ động phát ra những lời này. Như có ai đó đang điều khiển cô vậy.

Rồi cô lại nghe thấy tiếng mình vang lên giữa không gian tĩnh mịch.

Hồn là ai, nam hay nữ?

Tôi là lính viễn chinh, người Pháp, quê xứ Provence.

Hồn đã bị người ta giết chết?

Không, tôi không chết trận. Tôi chết vì sốt rét ác tính.

Vậy là lâu lắm rồi. Có lẽ cũng đã hai trăm năm rồi? Sao hồn còn ở đây?

Vậy chứ vì sao cô lại ở đây?

Tôi là người Việt Nam, không ở đây thì ở đâu?

Ai cũng vậy mà, ai rồi cũng sẽ trôi giạt. Cô rồi cũng sẽ trôi giạt.

Hồn nói ,hồn quê xứ Provence?

Phải.

Sao hồn không quay về Pháp?

Thật tình tôi không biết. Khi sống tôi không lý giải được tại sao mình lại chịu để người ta  đẩy ra trận. Khi chết rồi, dĩ nhiên tôi lại càng không có quyền quyết định mình sẽ đi về đâu.

Hồn đang vui hay đang buồn?

Chứ còn cô, cô đang vui hay đang buồn?

Tôi đang sợ.

Tôi thì đang vui. Vì cửa sổ nhà cô không có chấn song nên tôi mới có thể bay vào. Tôi chỉ có thể vào nhà qua cửa sổ mà thôi. Mà phải là cửa sổ để ngỏ hoàn toàn, không màn che trướng rủ, không cành lá rườm rà. Loại cửa sổ đón nhận tất cả. Không ngăn trở. Cô nghe thấy rồi đó, tôi đến đây với một lũ con nít chết oan. Chúng chết  vì tai nạn, vì bị bỏ rơi, vì phá thai, vì bệnh tật, vì người lớn tắc trách… Chúng đang chơi đùa bên ngoài. Tôi vốn yêu trẻ con.

Tú rùng mình khi chợt nghe tiếng mấy đứa bé cười ngặt nghẽo và hình như là có tiếng bắn bi lách tách bên ngoài, nhưng không nghe tiếng bọn trẻ nói chuyện.

Hồn nói hồn chỉ có thể bay vào qua cửa sổ không chấn song?

Phải.

Cửa sổ loại này đâu có hiếm. Dễ dàng tìm thấy ở các trường học hoặc nhà thương mà.

Phải. Nhưng tôi không muốn làm bọn trẻ sợ. Còn bệnh viện là nơi buồn thảm quá, tôi không muốn đến.Cô biết không, loại cửa sổ không chấn song thật ra rất hiếm thấy bên ngoài bệnh viện và trường học.

Nhưng hồn có thể đi xuyên tường được mà. Chấn song đâu là gì phải không?

Đó là điều người sống tưởng tượng ra. Tôi không thể đi xuyên qua những bức tường.

Chết là như thế nào hở hồn?

Cô có suýt chết bao giờ chưa?

Có, đôi ba lần. Hồi hè lớp mười, đám bạn và tôi khoảng hai mươi đứa cắm trại ở Long Bình, ngoại ô Sài Gòn. Chỗ đó có con sông. Tôi và bảy, tám đứa lội xuống sông bắt cá. Đất dưới đáy sông nhão nhoét. Tôi không biết bơi, càng bước càng trượt, càng bước nước càng sâu. Như bị một lực nào đó dẫn dắt, tôi cư bước tới tới cho đến khi hụt chân. Nước ngập qua đầu.  Tôi cố gắng trồi lên để thở. Tôi há miệng ra kêu cứu thì nước tràn vào ngập họng. Lúc đó tôi chỉ kịp nghĩ chả lẽ mình chết trẻ như vầy sao, chỉ mới mười lăm, mười sáu tuổi thôi. Cũng lạ, lúc đó tôi chỉ thấy nhớ Ba Má, tiếc nuối rất nhiều nhưng không quá hoảng hốt. Cái tôi nhìn thấy lúc sắp chìm nghỉm là trời xanh và mây trắng.

Nhưng làm sao cô thoát chết?

Tôi cố hết sức để vẫy tay, may mắn trong đám bạn có quán quân bơi lội của trường, đã bơi ra kéo tôi vô bờ.

Còn những lần khác?

Thỉnh thoảng tôi bị ngộp thở. Tim đập loạn xạ. Tôi bị dị ứng thức ăn, vì khói ô nhiễm, hoặc vì phản ứng phụ của một loại thuốc nào đó. Tôi hít vào nhưng không thở ra được, đầu óc lùng bùng. Tôi thấy mình sắp tắt hơi. Nhưng rốt cuộc tôi vẫn còn ở đây nè.

Cô sợ chết không?

Chỉ thấy tiếc nuối. Mình phải rời bỏ khung cảnh cũ, rời bỏ mọi thân quen.  Nhưng chết là gì hở hồn?

Thì như cô nói đó. Đơn giản vậy thôi. Rời bỏ mọi sự. Quen và chưa kịp quen. Hiểu và chưa kịp hiểu. Chết là một vùng tối đen huyền hoặc. Tôi như rơi mãi rơi mãi, hụt hẫng, chơi vơi. Chân tôi chòi đạp, tay tôi quờ quạng, đưa ra tìm cái gì đó để bám víu, nhưng, không thể.Cô tưởng tượng được không?

Tú chợt thở dài. Cảm giác này thì tôi biết. Lúc tôi ngủ mơ thấy mình té ngã từ trên cao. Hồn có gặp người thân đã qua đời không?

Thỉnh thoảng. Họ chỉ còn là những cái bóng mờ mờ, và tất cả đều im lặng.

Sắp tới hồn sẽ đi đâu?Rồi hồn có quay trở lại đây không?

Không có câu trả lời.

Tú thấy như có cái gì đó chạm phớt rất nhẹ lên má…

Mưa lại bắt đầu rơi lộp bộp. Có tiếng gió hú bên ngoài. Gió rung lắc cửa dữ dội. Tú như nghe thấy tiếng nhạc chiêu hồn văng vẳng đâu đó rất nhẹ, và cũng rất buồn.

Tú nằm thật yên, nhìn về chiếc cửa sổ, lòng bỗng bâng khuâng.

Hữu Hạnh

Saigon, tháng 2 năm 2018

Rừng chiều

Tôi chụp bức ảnh này vào buổi chiều, trời không nắng. Khi xem lại tôi nghĩ đến một câu trong bài thơ được phổ nhạc. Cô hái mơ. Nguyễn Bính và Phạm Duy. (Phải vậy không? Nếu tôi sai thì chỉnh giúp tôi nhé).

Thơ thẩn rừng chiều một khách thơ,
Say nhìn xa rặng núi xanh mờ.
Khí trời êm ả, và trong sáng
Thấp thoáng rừng mơ, cô hái mơ.

Thật tình là chẳng có rừng mơ, cũng chẳng có cô hái mơ. Chỉ có hai người có tuổi đi thẩn thơ. Nhìn thì vắng vẻ, nhưng đường này rất được yêu chuộng. Cứ đi chừng năm mười phút là có người chạy xe đạp cùng chiều hay ngược chiều. Ảnh chụp mấy bữa trước, hôm nay chắc thay đổi nhiều. Mùa lá thu thay màu ở New Jersey đang hồi cao điểm. Hôm qua thấy cây lá đổi màu khá nhiều. Suốt ngày u ám, khoảng một giờ chiều nắng lên rộn rã. Tôi rủ ông Tám lên đồi, Washington Rock State Park, chụp ảnh. Và được tấm ảnh bên dưới đây. Lịch sử kể rằng Washington đứng trên đồi này quan sát quân Anh kéo ngang Westfield vào tháng 6 năm 1777. Nhà tôi ở dưới chân đồi này. Từ trên đồi nhìn thấy thung lũng nơi có thành phố Dòng Suối Xanh, Dunellen, và các khu vực lân cận.

Hôm qua có bạn nhắc đến bài hát “Con Thuyền Không Bến” và chép cho ca từ. Tuy bản nhạc khá buồn, và hai tấm ảnh này có vẻ như chẳng liên quan gì đến thuyền và sông nước, lời bài hát lại rất đậm nét thu, bắt đầu với “đêm nay thu sang cùng heo may.” Tôi có bài hát này trong computer, Hà Thanh hát. Tôi nghĩ có bạn sẽ than bài hát buồn quá, nhưng có lẽ vì quen nghe nhạc buồn, tôi thấy bản nhạc có hình ảnh rất tĩnh mịch. Xin mời các bạn cùng nghe với tôi.

Sương thu

Có tấm ảnh, tôi muốn đặt tựa đề nhưng không nghĩ ra câu nào hay. Một chút hơi sương khiến mặt nước có vẻ mơ màng. “Sương thu lạnh, khói thu xây thành. Lá thu rơi rụng đầu gềnh.” (Cảm thu, tiễn thu – Tản Đà)

Bạn sẽ đặt tựa đề cho tấm ảnh là gì?

Cái hạc bay lên vút tận trời

Mượn câu thơ của ông Tản Đà để làm tựa đề cho bức ảnh. Tuy vậy font tiếng Việt không được tốt trong photoshop nên tôi không thể viết vào bức ảnh.

Tựa đề nghe hay nhưng hơi quá lời. Tại vì cái hạc này không bay vút tận trời mà chỉ bay loanh quanh từ cây này sang cây khác. Thêm một lần nữa, có lẽ là lần thứ ba, tôi gặp một đôi hạc. Bình thường chỉ thấy hạc rình săn cá một mình.

Tưởng là hạc đã “êm xuôi về Nam” (1) để tìm nắng ấm, không ngờ “người ngỡ đã xa xăm, nhưng người vẫn quanh đây.” (2) Buổi đi bộ hôm qua tôi nhiều lần gặp hạc. Suốt ngày trời không nắng. Buổi sáng sớm có sương mù. Cây lá đổi màu nhiều hơn. Có nhiều nơi, lá rơi như một cơn mưa dù trời không gió. Đường đi có nơi đầy lá nhuộm vàng cả mặt đất, nhìn xa tưởng như nắng trải trên đường đi.

Dù thi nhân thường hay tả mùa thu rất buồn. Tôi thấy mùa thu yên tĩnh, mát mẻ, và rất dễ chịu. Màu sắc của cây lá mùa thu thường làm tôi nghĩ đến những đoạn văn của Thoreau với tựa đề “Autumnal Tints” trong đó ông nhắc đến cây phong (maple) đỏ, cây du (elm) lá vàng và nâu, cây sugar-maple (loại cây phong người lấy mật để làm syrup), cây sồi đỏ tía (scarlet oak). Ông có nói đến cây cỏ tím (purple grass) nhưng ở đây, trong rừng tôi không thấy. Còn cây sweet gum (không biết tên Việt) lá như ngôi sao năm cánh màu đỏ rất đẹp nhưng không thấy ông Thoreau nói đến.

Rất nhiều thi nhân đã viết về mùa thu, họa sĩ và các nhà chụp ảnh đã trưng bày vô số hình ảnh mùa thu. Bạn có thể đã nghe thấy tiếng “lá thu rơi xào xạc,” và tiếng chân “con nai vàng ngơ ngác, đạp trên lá mùa thu.” Ngày hôm qua, tôi nghe rất nhiều tiếng chim, đủ loại chim, kể cả tiếng hạc. Có con hạc đậu gần bờ khuất sau rặng cây. Khi ông Tám và tôi trờ đến, bất thình lình, nó bay vụt ra hướng sông, để rơi lại sau lưng tiếng kêu quang quác nghe như Ark! Ark! Cho dù tiếng kêu của nó không êm tai như tiếng hót của các loài chim khác, tiếng hạc trong làn sương buổi sáng cũng làm cho người nghe có chút bâng khuâng, tưởng tượng đến tiếng hạc trong trăng, đến “lá đào rơi rắc lối Thiên Thai,” và khi “cái hạc bay lên vút tận trời,” rồi thì “trời đất từ nay xa cách mãi.” (3)

(1) Bài hát Làng Tôi của Chung Quân.
(2) Trịnh Công Sơn.
(3) Tống Biệt, Thơ Tản Đà. Nhạc Văn Cao

Đi giữa mùa thu

Ảnh này chụp cách đây đã vài ngày. Mỗi ngày màu sắc đều thay đổi vì thế hôm nay chắc là đã khác. Đây là một đoạn đường dọc theo Delaware and Raritan Canal. Bên tay phải của tấm ảnh là dòng kênh, không rộng lắm, độ chừng 30 mét. Bên tay trái là một khoảng đồng rộng, phần lớn là cỏ. Mùa này cỏ khô đã đổi sang màu nâu. Dọc theo bờ kênh và đồng cỏ có nhiều cây mullein đã khô. Nơi này có lần tôi gặp một con hạc xám còn rất trẻ đi lang thang. Thấy chúng tôi nó vụt bay sang bờ bên kia và đậu ở đó rất lâu. Ở đồng cỏ bên tay trái nhiều lần tôi gặp một hay hai đôi gold finch, chẳng biết là hoàng yến, hoàng oanh, hay hoàng anh, bay và hót ríu rít. Chỗ này cách Amwell Road chừng 1 dặm. Gần đây, đi thẳng hướng trước mặt, vào trong đám cây, có một cái ao nhỏ toàn là bèo. Mùa hè bèo phủ kín mặt ao. Mưa vài đám to là nước nhiều hơn. Ở chỗ ao bèo này, buổi sáng sớm tôi thường gặp con hạc xám đang rình “cá đâu đớp động dưới chân bèo.” Rồi sau đó nó bỏ đi đâu mất. Trời lạnh, bèo chết dần, nhìn thấy mặt nước ao.

Cái bóng trắng ở bìa rừng là một người đàn ông chúng tôi thường gặp. Ông không già nhưng có mái tóc bạch kim. Ông hay chụp ảnh bằng cái máy rất nhỏ, bỏ lọt thỏm vào túi quần jean. Tôi thầm nghĩ chắc là một cái máy Leica.

Xem lại ảnh cũ

Bây giờ ngồi xem lại mấy tấm ảnh chụp hồi năm 2019, thấy rõ ràng là tôi không biết chụp ảnh, không biết sử dụng máy ảnh. Lúc ấy tôi chỉ để máy tự động, may là cũng còn xem được ảnh chứ không bị hư hết. Bây giờ, sau một thời gian vọc máy, tôi chụp ảnh hư khá nhiều. Thấy mình có tiến bộ, vì biết ảnh hư ở chỗ nào, mức độ nào. Và có suy nghĩ nếu mình đặt máy ở mức độ này mức độ này thì có thể ảnh sẽ vừa ánh sáng hơn.

Sẵn sau khi xem lại ảnh chụp hồi tháng 8 năm 2019, ông Tám dẫn tôi sang California chơi, tiện đường ghé qua thăm một nơi mà nhà văn John Steinbeck đã làm cho trở thành nổi tiếng với tác phẩm Cannery Row, tôi đăng ảnh cũ. New Jersey đang mùa thu nhưng tôi lại muốn nhớ về nắng đẹp ở California lúc đang giữa mùa hè.

Những người có liên quan đến tác phẩm Cannery Row. Trên cao nhất là văn hào giải Nobel văn chương năm 1962, John Steinbeck. Bốn người ngồi gần là nhân vật dựa vào người thật.

Đường phố Cannery Row, dọc theo bờ biển.

Thành phố này, ngày xưa, thập niên 40 -50, là nơi đóng hộp cá mòi, sardine. Đầu tiên người ta dự định đóng hộp cá hồi, salmon, nhưng không thành, vì cá hồi ít quá. Vào những năm thế chiến thứ hai, quân đội đang cần thức ăn đóng hộp, vì thế Monterey chuyển sang đóng hộp cá mòi. Những năm ấy có luồng cá mòi đến Monterey nên sản xuất rất mạnh. Rồi không hiểu vì lưới nhiều quá nên giết hết cá con, hay vì cá mòi theo luồng nước biển đi sang nơi khác, nguồn cá mòi cạn kiệt trong vòng vài năm. Cuộc sống ở Cannery Row trở nên khó khăn. Ông Steinbeck gom sự khó khăn của người dân trong thành phố dần trở nên nghèo khó, kiệt quệ sự sống, vào trong tác phẩm Cannery Row.

Người dân Monterey tôn sùng Steinbeck như người hùng. Tên tuổi ông biến Cannery Row thành một nơi mời gọi du khách. Phải công nhận Cannery Row rất đẹp. Tôi vẫn nhớ cái vườn hoa nhỏ dọc bờ biển, cạnh nhà hàng nào đó, đẹp như một bức tranh của Monet. Cannery Row vẫn còn cái mùi cá mòi, mà Steinbeck mở đầu quyển truyện, bằng từ “mùi hôi thối nồng nặc.” Một thời lừng danh, với một số lâu đài các đại gia đến ở. Mùi cá mòi nồng nặc đã khiến các đại gia bán nhà dọn đi nơi khác. Trải bao thăng trầm, có nơi chỉ còn lại bức tường đá.

Bức tường dọc theo bờ biển Cannery Row

Đoạn văn mở đầu quyển Cannery Row của John Steinbeck

Nhà văn Steinbeck được trao giải văn học Nobel 1962 “for his realistic and imaginative writings, combining as they do sympathetic humour and keen social perception.” Ông là nhà văn hiện thực, chuyên viết về xã hội, có khuynh hướng bênh vực người nghèo khó oằn người dưới áp bức của xã hội. Vì quan điểm này, ông bị xem là thân Cộng. Quyển sách nổi tiếng nhất của ông, có lẽ, là The Grapes of Wrath. Bạn có thể dịch ra thành nhiều tựa đề, nhưng ngày xưa có người đã dịch là “Chùm Nho Uất Hận.” Xin tha lỗi vì tôi không biết tên dịch giả.

Ở Kingston

Hôm qua tôi với ông Tám đạp xe từ Weston Causeway đến Millstone, New Jersey, tổng cộng đi và về là 30 miles, tương đương 48km. Bây giờ quen, ngồi xe đạp không thấy ê bàn tọa nữa, nhưng hai chân thì mỏi nhừ. Lượt đi, sau 24km, hai chân đã đau nhức, nhưng ngồi ăn trưa chừng nửa tiếng, chụp ảnh chung quanh, sau đó thì thấy đỡ nhiều. Lượt về, thời gian sao dài ra, đường đi không đến. Có vẻ như hành xác mình, nhưng vận động nhiều giúp tôi dễ ngủ hơn. Chiều về, ông Tám nướng pizza, tôi trộn dưa leo với cà, giấm và dầu ô liu. Bữa ăn kèm theo chút wine, thêm miếng bánh pumpkin pie với muỗng kem nhỏ. Đi nhiều nhưng không gầy được chút nào, vì bao giờ tôi cũng tự thưởng mình bằng thức ăn bổ béo.

Ở Kingston Lock có cây sồi đã chín đỏ như vầy, trong khi chung quanh cây cối vẫn còn xanh. Hình như người ta đang xây cất hay sửa chữa gì đó nên có cái máy màu vàng to đùng. Gần đây có cái nhà máy xay màu đỏ, có cái cầu đá rất đẹp nhưng hơi khó chụp ảnh vì ngược nắng và chỗ hẹp quá không thể chụp toàn tòa nhà.

Dọc theo kênh Delaware & Raritan (viết tắt là D&R), cứ thỉnh thoảng người ta xây một cái cổng để giữ nước hay thoát nước. Nước được dẫn từ nơi cao đến nơi thấp. Cứ ở mỗi chỗ cổng khóa (gọi là lock) người ta có thể thấy mực nước chênh lệch khá cao. Tôi thấy mực nước cách nhau chừng 3m, có thể hơn. Thời xưa, người ta xây những căn nhà nhỏ dọc theo bờ kênh, để cho người canh gác có chỗ ở tạm. Trạm canh gác này khá lớn, so với các trạm khác tôi gặp dọc theo con kênh D&R.

Người câu cá trên hồ Carnegie.

D&R lock ở bên cạnh hồ Carnegie. Tôi không dám chắc, nhưng hình như hồ này thuộc về tài sản của đại học Princeton. Tôi nói không dám chắc, vì một cái hồ to lớn như vậy đáng lẽ phải thuộc về chính phủ, nhưng tôi thấy một cái bảng nhỏ dọc theo đường đi bảo rằng của đại học Princeton. Không hiểu tôi có nhầm lẫn không. Chỗ này nhiều người câu cá bằng thuyền như trên. Có lẽ gần đây có chỗ cho thuê thuyền vì tôi thấy mấy cái thuyền đều có kiểu giống nhau. Người dùng thuyền có thể đạp nước để thuyền di chuyển không tiếng động. Có lẽ, họ cũng có máy chạy pin, vì thuyền chạy rất êm. Mỗi chiếc thuyền đều có rất nhiều cần câu. Ông Tám nói có lần thấy người ta câu được con cá rất to, dài và to hơn bắp tay, sau khi chụp ảnh người ta thả nó trở lại. Tuy con cá không bị chết nhưng cũng bị thương tích. Chắc là đau lắm.

Qua mấy tấm ảnh, đã thoáng thấy màu thu, nhưng chưa đậm. Ngày xưa, mùa thu là của thi nhân, với lá vàng và nai ngơ ngác, hay cái ảm đạm chết chóc trong lời thơ. Ngày nay, mùa thu là của họa sĩ và người chụp ảnh. Ai cũng muốn thu hết cả màu sắc rực rỡ của mùa thu vào trong ảnh và tranh. Chiều qua trên đường về tôi đi hết nổi, nên dù biết bao nhiêu hình ảnh đẹp tôi đều bỏ qua. Trên dòng kênh, màu thu chiếu xuống mặt nước đủ thứ màu sắc thật là lộng lẫy. Hồng, tím, đỏ, vàng, xanh, nâu, đen. Một cái đẹp, mà tôi chỉ cần có thể chụp tấm ảnh giống y hệt như tôi nhìn thấy qua mắt nhìn là mãn nguyện.

Cái đẹp của mùa thu, vẫn còn nằm ngoài tầm tay của tôi.

Chú ý đến hiện tại

Đàn ngỗng Canada bay theo đội hình

Chim bay mỏi cánh chim ngồi
Đố ai bắt được chim trời mới hay
Ca dao chép lại qua trí nhớ

Đọc lại 100 cách sống thiền của thiền sư Shunmyo Masuno tôi thấy hành thiền không đến nỗi khó. Miễn là mình đừng đòi làm gì cũng phải đạt đến 100 phần trăm. Đây cũng là một cách hành thiền, đừng đòi hỏi hay ham muốn quá độ (điều số 85). Cái khó là chữ quá độ. Nhận biết thế nào là vừa phải là một bài học tinh tế. Mức độ vừa phải này khác nhau ở mỗi người.

Bản tiếng Anh dùng chữ covet. Theo tôi hiểu chữ này có nghĩa là thích cái gì đó rất nhiều, chú tâm theo đuổi để đạt được mục đích, thí dụ như covet một công việc gì đó, một chức vụ nào đó để mình được thăng quan tiến chức. Với các bạn còn trẻ, covet một công việc, một đối tượng mình yêu, căn nhà, chiếc xe, hạnh phúc, là điều cần làm, phải làm. Miễn đừng quá độ.

Điều 81, chú trọng đến hiện tại. Điều này cũng dễ làm. Với những người hay viết, hay mơ mộng, có lẽ thường được nhắc nhở hay khuyên bảo, đừng có sống trên mây, đừng mơ mộng viễn vông. Áp dụng vào thực tế, lái xe thì phải lo chú ý vào chuyện lái xe, kẻo vượt đèn đỏ hay stop sign gây tai nạn. Đừng text hay ngó vào điện thoại trong lúc lái xe.

Tôi cũng chú trọng đến hiện tại. Đi đường núi thì cẩn thận kẻo vấp ngã. Chú ý đến cảnh vật chung quanh cũng là một cách chú ý đến mùa thu đang thay đổi từng ngày trong lá trong cây. Nhìn lên trên ngọn cây thấy đàn chim đang đậu. Sợi dây ivy đỏ thắm trong bầu trời đầy mây. Ở một đoạn đường khác nghe tiếng gió reo lao xao trên đầu ngọn cây. Nghe tiếng chim, ngỗng Canada bay ngang trên trời, có lẽ ăn no rồi tìm đường xuôi Nam tìm nắng ấm.

Buổi sáng cho mèo ăn cũng là chú trọng đến hiện tại.

Sáng nay, vừa thức giấc Nora đòi ra ngoài sân sau. Tôi mở cửa cho nàng ra ngoài. Nora 11 tuổi mèo, tương đương với một người 61 tuổi. Nora kén ăn, chỉ thích ăn ngon. Cho thức ăn không vừa ý nàng không ăn. Ra ngoài một lúc sau thì nàng đòi vào, bằng cách leo lên ngồi trên cái máy lạnh gắn trên tường, bên cửa sổ, lấy chân đập vào cửa kính. Trời còn sớm, tôi mở đèn sân sau. Mưa từ hôm qua ảnh hưởng cơn bão cấp 2 nào đó, nên vẫn còn mưa. Trước khi đóng cửa lại tôi nghe tiếng mèo kêu nhưng không nhìn thấy con mèo nào cả, tôi nghĩ đó là tiếng kêu của Nora. Chợt thấy con mèo đen, tôi vẫn gọi là ông Mun, nhảy lên sàn gỗ màu xám nhạt. Con mèo vì đen quá nên lẫn vào bóng tối. Nó nhảy lên sàn gỗ để tôi có thể nhận ra là “tôi có mặt ở đây, và tôi đang đói bụng. Bà hãy cho tôi ăn.”

Tôi rất mến con mèo này, vì nó là con mèo hoang đến lâu nhất trong số những con mèo hoang còn sót lại. Mèo đen thường bị xua đuổi vì người ta thường sợ mèo đen. Có lẽ vì thế mà mấy con mèo màu sáng đẹp đều đi mất, chỉ còn hai con mèo đen và xám đến ăn.

Khi tôi mang thức ăn ra, Mun vẫn còn kêu những tiếng nho nhỏ, như để nói chuyện với tôi, nhắc cho tôi biết sự có mặt của nó. Mèo hoang ít khi kêu thành tiếng. Người ta nói rằng mèo chỉ kêu thành tiếng sau khi nó học cách tiếp xúc với loài người. Thức ăn cho mèo hôm nay có thịt gà ông Tám nấu.

Mun cũng rất dày kinh nghiệm sống. Cách đây mấy hôm tôi thấy con mèo Xám gầm gừ thách đố Mun. Mèo Xám hung hăng nghênh ngó cả giờ đồng hồ, nhưng Mun vẫn điềm nhiên ăn, ăn xong điềm nhiên nằm trên cỏ chẳng lý gì đến Xám đang gầm gừ dọa nạt.

Nghệ thuật sống đơn giản, phần cuối

Trích trong quyển “The Art of Simple Living” của Shunmyo Masuno. Allison Markin Powell dịch từ tiếng Nhật sang tiếng Anh. Nguyễn thị Hải Hà dịch từ tiếng Anh sang tiếng Việt.

Phần IV cũng là phần cuối cùng. 20 ways to make any day the best day. Hai mươi cách để biến ngày nào cũng là ngày đáng sống.

81. Be here now – Chú trọng đến hiện tại
82. Be grateful for everyday, even the most ordinary – Cảm ơn (trời cho) mỗi ngày, dù chỉ là ngày bình thường nhất.
83. Recognize that you are protected – Hãy tin rằng chúng ta được ơn trên che chở
84. Be positive – Hãy lạc quan
85. Do not covet – Đừng thèm muốn đòi hỏi nhiều quá
86. Do not divide things into good and bad – Đừng chia tất cả mọi vấn đề thành hai loại tốt và xấu
87. Accept reality for what it is – Chấp nhận thực tại
88. There is not just one answer – Không phải mọi vấn đề đều chỉ có một câu trả lời
89. There is not just one way, either – Cũng không phải chỉ có một cách hành xử hay giải quyết
90. Don’t be a show-off – Đừng phô trương khoe mẽ
91. Free yourself from money – Đừng bị trói buộc bởi tiền bạc
92. Believe in yourself, especially when you feel anxious – Hãy tự tin, nhất là lúc bạn đang lo lắng
93. Notice the changes of the season – Hãy chú ý đến thời tiết lúc thay mùa
94. Try taking care of something – Xử lý vấn đề nào đó hay quan tâm săn sóc đến người thân
95. Listen for the voice of your true self – Lắng nghe tiếng nói chân thật của lòng mình
96. Cherish being alive, every single day – Yêu đời, yêu cuộc sống, mỗi ngày
97. Put your everything into the here and now – Đặt hết tất cả tâm trí nghị lực vào hiện tại
98. Make every preparation – Chuẩn bị sẵn sàng các thứ
99. Contemplate how to die – Suy nghĩ chuẩn bị tinh thần về cái chết
100. Make the most of life – Cuộc đời rất đáng quí, hãy sống cho ra sống

Shumyo Masuno là vị sư dẫn đầu của một ngôi chùa Thiền đã 450 năm ở Nhật, người được giải thưởng thiết kế vườn Thiền khắp nơi trên thế giới, và là giáo sư của bộ môn thiết kế môi trường của một trường đại học danh tiếng ở Nhật Bản. Ông đi giảng thuyết nhiều nơi, trong đó có đại học Harvard, Cornell, và Brown.

Masuno, Shunmyo. “The Art of Simple Living”. Dịch giả Allison Markin Powell (Nhật ngữ sang Anh ngữ), Penguin Books. 2009

Lá sồi
Lá dogwood
Lá phong vàng
Lá ivy
Lá cây elm

Thực hiện điều 93 trong 100 điều nên làm hằng ngày để giữ cho cuộc sống mình được yên tĩnh và vui vẻ do thiền sư Shunmyo Masuno hướng dẫn; đó là chú ý đến thời tiết lúc thay mùa. Đang mùa thu nên đăng ảnh lá thu.

Nguyễn thị Hải Hà dịch, viết, đăng ảnh ngày 11 tháng Mười năm 2020.