Một ngày cuối tuần trong thời bệnh dịch

Chim vẫn hót sau vườn đấy thôi

Tấm ảnh con chim đen cánh có màu đang “ngồi” hát trên đám cỏ cattails bị cắt ngắn khiến tôi nhớ đến hai câu trong bài hát tôi không còn nhớ tên bài hát và tên của nhạc sĩ. “Hoa vẫn nở trước sân nhà tôi. Chim vẫn hót sau vườn đấy thôi.” Tôi chỉ nhớ mang máng, hai câu thơ ấy là của ông Thích Nhất Hạnh. Những câu thơ nói về sự vô tình của trời đất trong khi người ta đang chết chóc khổ đau.

Tôi xin đính chính đoạn trên này. Có bạn cho biết đây là hai câu hát trong bài “Giọt Nắng Bên Thềm” của Thanh Tùng. Còn bài hát có lời thơ của ông Nhất Hạnh là bài khác mà trí nhớ bắt đầu hư hao của tôi đã bắt quàng xiên. Một bạn đọc khác cũng chỉ giúp. 3/22/2020 lúc 7:45 sáng.

Tôi muốn hỏi các bạn, bạn làm gì, nghĩ gì, cuộc sống của bạn ra sao trong những ngày bệnh dịch lan tràn khắp thế giới?

Buổi sáng tôi đọc báo New York Times thấy cái bản đồ nước Mỹ lốm đốm đỏ chóe như da của một người bị bệnh ghẻ. Tôi nhấn vào một đường link để biết số người bị bệnh và bị chết ở những nơi tôi quan tâm. Nơi tôi ở và nơi các con tôi ở. Hai đứa ở hai thành phố khá xa. Nỗi e ngại trong tôi, có từ trước khi bệnh dịch, giờ dần lớn lên. Rủi có gì, lỡ một trong bốn người chúng tôi có gì, phải làm gì đây. Làm sao mình có thể săn sóc một người ở xa. Dĩ nhiên, trong thời bệnh dịch, cần thiết phải cách ly, không ai cho mình thăm nuôi, nhưng mình không thể làm thinh đứng ngó. Ha. Dù con mình đã trưởng thành, đã ở riêng nhiều năm, nhưng cha mẹ thì vẫn cứ xem như con mình còn bé, ăn chưa no lo chưa tới. Cách đây chừng một tuần, nói chuyện với cô út, thấy cô chuẩn bị khá đầy đủ tôi đỡ lo. Đỡ, nhưng vẫn lo, vẫn e ngại. A. Lo thì cũng chẳng làm được gì. Thứ nhất là tụi nó chẳng nghe lời. Sau đó là rồi đến một ngày chính mình cũng sẽ chết đi, thì có còn ai để mà lo. Thì con mình vẫn phải tự lo toan mà thôi. Tôi không muốn hai đứa con của tôi về nhà tôi nếu một trong hai chúng tôi bị bệnh. Vì về cũng không thể thể giúp được gì và có thể còn bị lây bệnh. Tôi đã già, ở tuổi này tôi chấp nhận chuyện tử sinh. Dẫu tôi vẫn còn muốn sống thêm chừng chục năm nữa (để lãnh tiền lương hưu vì đổ mồ hôi nước mắt làm việc mấy chục năm cho công ty và xứ sở này) nhưng nếu có chết vì bệnh dịch này thì chết nhanh, không lê la, quằn quại, què quặt, làm mất phẩm cách của mình và phải nhờ cậy đến độ hành hạ người thân.

Hôm qua, trời ấm và có sương mù. Tôi mặc áo ấm, đội mũ mang găng tay nói với ông Tám tôi đi chụp ảnh. Còn ông thì chuẩn bị đi chợ mua thêm thức ăn. Tôi lên đồi, Washington Rock Park, sương dầy đặc, trời bảy tám giờ vẫn còn tối. Mấy tấm ảnh chụp không có chủ đích rõ rệt, đúng là ảnh của chuyện bâng quơ, chỉ thấy một mảng xám với rừng cây. Cái máy PowerShot G1X Mark III có lẽ vì tôi làm rớt hai ba lần, thậm chí ngã cùng cái máy, ảnh chụp không còn nét rõ ràng. Chỉ cần hơi thiếu ánh sáng là chỉ thấy một mảng màu lem nhem màu nâu hoặc xám. Cái máy Rebel T7i EOS 800D tôi gắn lens 75mm-300mm thuộc loại lens chậm, chụp ảnh thiếu ánh sáng cũng không đẹp. Tôi biết cần phải dùng tripod nhưng bản tính lười, chỉ nội mang hai cái máy cũng đủ còng lưng nên thôi. Từ Washington Rock Park tôi lái xe đến hồ Watchung.

Lũ chim, ngỗng đã bay đi đâu mất hết trơn. Hồi tháng Giêng, tháng Hai chúng đậu đầy kín cả mặt hồ chắc cũng phải vài ngàn con. Giờ chỉ còn chừng ít hơn chục con. Trong một góc công viên, người ta xây một nơi để tưởng niệm những người chết vào ngày 11 tháng 9, có trồng hai cây đào hồng đậm. Ở góc của nghĩa địa cổ hoa forsythia nở tràn lan, sáng rực ở góc sân.

Tôi chụp cả hơn trăm tấm ảnh. Thử dùng cái chức năng over và underexposure. Sau đó tôi quên trả lại khẩu độ nên có cả hơn chục tấm ảnh chỉ thấy một màu trắng lóa.

Dọc theo bờ hồ, trên những gốc cây có những tấm bảng cấm tụ họp hơn bảy người. Tuy không đông đảo lắm, nhưng người ta vẫn dắt chó đi quanh hồ. Đa số đi một mình hoặc hai người. Tất cả đều có vẻ tránh chuyện gặp mặt hay trò chuyện với nhau.

Tôi không ngờ tôi đã trải qua hơn ba tiếng đồng hồ để chụp một mớ ảnh bát nháo chỉ có một hay hai tấm ảnh xem hơi được một chút. Người đi chụp ảnh, cần thiết phải đi một mình, hay đi với một người thích chụp ảnh hơn mình. Tôi vì vẫn còn vụng về với máy ảnh nên dù có tất cả thì giờ cần thiết tôi vẫn không chụp được ảnh đẹp như ý muốn.

Hôm nay, trời ấm và nhiều mây. Ông Tám rủ đi rừng dù tôi hơi sợ bị nhiễm bệnh khi ra ngoài. Lâu dài thì cũng phải ra ngoài, chứ nếu ở trong nhà mãi sẽ có cảm giác bị ở tù, bị bao vây, và dễ trở nên bấn loạn vì lo lắng. Ông thuyết phục tôi là mình sẽ cảnh giác hơn, đề phòng không chạm tay vào những thứ bên ngoài, cũng không chạm tay vào mặt, mang theo cồn khử khuẩn, vân vân.

Bạn làm gì những ngày bệnh dịch? Tôi xem nhiều phim quá đến độ không còn thấy có phim nào hay nữa. Bạn nào chưa xem thì thử xem phim tài liệu “The Story of God” do Morgan Freeman hướng dẫn chương trình, giọng nói điềm đạm của ông rất thích hợp. Tôi say mê chương trình nối tiếp này nên giới thiệu với bạn. Lứa tuổi đôi mươi ba mươi, nếu thích phim tình yêu thì xem “After” và “5 to 7.” Phim “After” hơi quá trẻ cho tôi, phim có nhiều (quá) đoạn ái tình, cứ chốc chốc là có màn ân ái. Phim “5 to 7” cô diễn viên vai chính có thân hình đẹp nhưng cặp chân hơi thô và hơi cong. Phim khá thú vị và hôm nào siêng tôi sẽ viết kể bạn nghe vì sao tôi chú ý phim này.

Tôi chuẩn bị đi rừng hôm nay. Mấy chục năm về trước thế hệ chúng tôi sống trong bom đạn triền miên. Ai cũng lo sợ, nhưng cuộc sống vẫn tiếp diễn. Hoa vẫn nở. Chim vẫn hót. Nắng vẫn hồng. Dẫu sao, dù có sợ chết thì chúng ta không nên không dám sống. Phải không?

“Trước sau nào thấy bóng người. Hoa đào năm trước nay cười gió đông.”

Hải đăng của Orca

Hải đăng của Orca

Nói đến hải đăng có lẽ đa số các bạn nghĩ ngay đến truyện “The Snow Goose” hay “Con Chim Trốn Tuyết” của Paul Gallico hay “To The Lighthouse” của Virginia Woolf.  Sợ bệnh dịch, đóng cửa nằm nhà, tôi đọc lại truyện Con Chim Trốn Tuyết.  To The Lighthouse có sẵn trên kệ sách, đọc một vài trang, bây giờ lôi ra đọc lại, vẫn thấy không thể tập trung đọc cho đến hết.  Rồi tôi ngủ quên. 

Trong Con Chim Trốn Tuyết, nhân vật chính là Philip Rhayader, mua khu đất đầm lầy có ngọn hải đăng lúc anh 27 tuổi.  Ba năm sau cô bé Fritha, 12 tuổi, ôm con chim bị thương đến để anh chữa trị.  Có nghĩa là Philip 30, lớn hơn Fritha 18 tuổi.  Một sự chênh lệch khá xa nhưng vài năm sau, cô bé gầy gò, nhếch nhác, trở nên một thiếu nữ mảnh mai xinh xắn thì một mối tình âm thầm nảy nở giữa hai người.  Đọc lại thấy lúc trước mình không chú ý một chi tiết khá quan trọng.  Anh Philip Rhayader là một trong những người lái thuyền nhỏ đi cứu quân đội Pháp bị dồn vào cửa tử, Dunkirk.  Mối tình thơ mộng của hai tâm hồn cô độc chưa kịp bắt đầu đã chấm dứt vì chàng họa sĩ tàn tật mãi mãi không về.  Fritha ngày ngày trở lại khu đầm lầy được Philip biến thành nơi nuôi dưỡng và bảo vệ chim để cho chim ăn, cho đến khi Đức dội bom phá hủy toàn khu trại.

Chuyện xưa rồi, nhiều người đọc rồi.  Hôm nay tôi xin giới thiệu với bạn một câu chuyện liên quan đến hải đăng trong cuốn phim tôi mới xem trên Netflix.  “The Lighthouse of the Orca” hay “Hải Đăng của loài cá Orca.”  Orca là loại cá killer whale, hay cá nhà táng, một loại cá voi rất to, to nhất trong các loại cá voi, cùng giòng họ với dolphin.  Trong phim này, loài cá nhà táng này ăn thịt hải cẩu nhất là loại hải cẩu còn bé.  Đây là phim của Argentina dựa theo truyện (có thật) của Roberto Bubas.

Beto Bubas là người giữ ngọn hải đăng ở vùng biển Patagonia.  Chịu cuộc sống đơn độc ở một nơi lạnh giá và nhiều gió cát, vì Beto đam mê theo dõi cuộc sống của loài cá orca, Beto chụp ảnh, vẽ, ghi chép lại mọi hành động của loại cá này.  Anh phát triển tài nói chuyện với cá orca bằng tiếng kèn khẩu cầm (harmonica), và gọi cá đến chơi với anh bằng cách đập bàn tay, hay mái chèo lên mặt nước.  Người ta bảo rằng loại cá Orca đã đi theo Beto từ vùng biển này sang vùng biển khác theo tiếng kèn của anh.  Thậm chí người ta còn kể rằng chính loại cá này đã đẩy Beto vào bờ an toàn khi anh bị nạn trên biển.  Sự yên tĩnh của Beto bị phá hủy vì Lola và đứa con trai bị bệnh autism đến ngôi nhà canh gác hải đăng của Beto xin anh giúp đỡ. Tristan, cậu bé bị autism, có một ngày nhìn thấy khúc phim (hay bức ảnh) Beto chơi đùa với orca, cậu bé như trút bỏ cái bệnh autism, dù chỉ trong giây phút.  Lola nghĩ rằng nếu để Tristan có cơ hội nhìn thấy Beto sinh hoạt với loại cá voi này, may ra cậu bé có thể giảm bệnh.

Như bạn biết, hải đăng thường rất chật hẹp, chỉ vừa đủ chỗ ở đơn giản cho người gác hải đăng.  Ban đầu Beto không cho nhưng có lẽ vì Lola và Tristan gợi Beto nhớ lại vợ và con của anh, nhất là Tristan cùng tuổi với đứa con của Beto nên sau đó anh đổi ý.  Phim hấp dẫn, lôi cuốn sự chú ý của khán giả ngay từ đầu.  Hải đăng đẹp. Biển Patagonia trùng trùng gió lộng.  Người ở nơi này phải là người mạnh mẽ dạn dày với sóng gió, không có chỗ tắm, không có nhà vệ sinh, nước rất khan hiếm, không phải là môi trường để phát triển một mối tình thơ mộng, lại càng không phải chỗ để nuôi một đứa bé mang chứng autism.  Thế nhưng chuyện tình cũng xảy ra.  Được nhìn thấy những con cá nhà táng rất thông minh diễn trò dưới biển cũng đáng bỏ thì giờ ra xem.  Bạn sẽ bị lôi cuốn vì những tình huống lắt léo được dần dần khơi mở suốt chiều dài của phim.  Số phận của cậu bé Tristan sẽ ra sao, dù tôi xem hết cuốn phim, tôi vẫn không hiểu rõ ý của đạo diễn; vì thế, bạn sẽ phải phỏng đoán, và tạo ra kết cuộc theo ý muốn của bạn.

Hải đăng ở Sandy Hook

Và có lẽ tôi nên nhắc thêm để bạn nhớ lại truyện “The Fog Horn” của Ray Bradbury. Những đêm sương mù dày đặc thủy thủ có thể không nhận ra ánh đèn của hải đăng vì ánh sáng của hải đăng màu trắng dễ chìm trong sương mù. “Tiếng còi trong sương mù” kể về một con quái vật ở biển nghe tiếng còi phát ra từ ngọn hải đăng đã tưởng là tiếng gọi tình yêu của đồng loại. Nó đã lần mò theo tiếng còi để đi tìm người yêu.

Ngày xưa, người giữ hải đăng đa số đều là đàn ông, chỉ có một trường hợp là phụ nữ. Hôm nào tôi siêng sẽ kể bạn nghe phim “To Keep The Light” về một người phụ nữ đã thay chồng giữ ngọn hải đăng sau khi ông chồng qua đời và nàng không muốn mất công việc này cũng như nơi ăn chốn ở.

Từ một trong đôi hải đăng nhìn xuống biển Navesink, New Jersey

Hoa vẫn nở

Chưa mở mắt đã nghe mưa tí tách dội vào cửa sổ. Dù cả thế giới xôn xao vì bệnh dịch, mùa xuân vẫn lặng lẽ về. “Hoa vẫn nở trước sân nhà tôi. Chim vẫn hót sau vườn nhà tôi.” Những ngày không mưa những giọt nắng vẫn hồng. Tuy vậy, không biết mùa hoa năm nay có cùng màu với mùa hoa năm trước? Mấy hôm trước trên đường đi miền nam của New Jersey, hoa đào đã nở lác đác nhiều nơi. Sáng nay trong góc sân sau nhà, bụi forsythia, còn gọi là hoa Đầu Xuân (theo tự điển) hay mai Mỹ người Việt bên này đặt tên cho, đã nở được vài nụ.

Hoa Đầu Xuân hàm tiếu
long lanh chiếu sáng ở góc vườn
có phải màu năm trước?

Lên núi xuống biển vào đầm lầy

Tránh những chỗ đông người, thậm chí đến đi chợ tôi cũng ngại ngùng, tuy vậy trong vòng tiểu bang New Jersey người ta vẫn đi lại bình thường. Mấy bữa trước tôi xuống biển. Vào rừng là chuyện bình thường. Mấy hôm nay tôi lên núi và vào đầm lầy.

Liên tiếp mấy hôm liền, buổi sáng chừng 6 giờ mấy hay 7 giờ bầu trời như thế này đây. Nắng chiếu trong rừng sau nhà màu đỏ, hay màu cam, chuyển sang vàng, sau đó nắng trở lại bình thường, rực rỡ. Chim hót khắp nơi. Bước ra sau nhà là cảm thấy mùa xuân về.

New Jersey có hình dáng tương tự như Việt Nam, bờ biển dài hình cong như chữ S. Miền Bắc hình rẽ quạt. Phía Nam có mũi Cape May giống như Cà Mau. Diện tích NJ bằng 1/15 diện tích VN. Dân số NJ bằng 1/11 dân số VN. Miền Bắc NJ có nhiều núi, tuy vậy núi không cao lắm. Mấy hôm trước tôi đến High Point nơi có độ cao nhất NJ.

High Point Monument

Hôm ấy nhiệt độ trong ngày cao nhất là 47 độ F (khoảng 8 hay 9 độ C.). Thường thường nhiệt độ cỡ này là đã ấm áp cho những buổi đi rừng, tuy vậy, khi lái xe đến High Point Park, tôi thấy dọc đường vẫn còn tuyết đọng trắng hai bên lề, có vẻ như tuyết rơi nhẹ từ đêm trước. Dù nắng chan hòa nhưng tuyết không tan, như thế, trên núi, lúc giữa trưa có lẽ nhiệt độ vẫn còn chừng 30-34 độ F. Chúng tôi lên đến chân của cái tháp, gió mạnh và tôi có cảm giác lạnh hơn nhiều. Ông Tám hôm ấy mặc áo mong manh nên rút lui sớm. Chỉ bấm vài tấm ảnh mà tay tôi lạnh cóng. Lúc từ dưới chân núi đi lên, ngang qua cái hồ rộng rất đẹp, chỗ lý tưởng để chụp ảnh cái tháp, tôi định bụng khi trở về sẽ chụp, nhưng lúc trở về đi ngang hồ, thấy ông Tám lạnh quá không có vẻ muốn ngừng nên thôi. Kinh nghiệm dọc đường gió bụi của tôi, thấy gì muốn chụp ảnh là phải làm ngay, đừng để chút nữa vì có thể bạn sẽ không bao giờ có cơ hội nữa.

Hồ bên trong Allaire State Park

Phía Nam của NJ có nhiều đầm lầy. Đi dọc theo bờ biển phía Đông NJ có sáu hay bảy cái hải đăng, có cái còn hoạt động có cái chỉ để làm cảnh cho du khách chụp ảnh. Ngay ở mũi Cape May có một công viên cấp tiểu bang cũng có hải đăng Cape May. Ở hướng Tây Nam của NJ có một nghĩa địa cấp quốc gia, nghe nói khá đẹp, ở nơi này cũng có một hải đăng không còn hoạt động. Hải đăng này có hình dáng khá lạ tôi chưa đến nhưng thấy trên mạng. Phải cuối tháng Ba các hải đăng mới mở cửa cho du khách vào xem. Tôi với ông Tám đi đến công viên Allaire, một trong những vùng đầm lầy của NJ.

Một trong những đầm lầy (marsh) ven biển

Trên đường đi chúng tôi đi ngang một chỗ mà từ đường cao tốc người ta bảo rằng đây là nơi dành riêng cho người ngắm cảnh. Scenic viewpoint. Đây là chỗ ngắm một con sông rất rộng, nếu là mùa thu thì cảnh đẹp lắm, nhưng ngay lúc ấy tôi không chụp được gì vì khắp nơi đều bị bao vây bằng hàng rào để bảo vệ người xem, không cho nhào xuống sông. Thấy có bảng chỉ dẫn vào các đường hiking và vào đầm nuôi chim. Ảnh phía trên chụp bên trong cầu bắc ngang đường cao tốc, hai bên hàng rào có các ổ khóa của những cặp tình nhân mơ ước khóa tim nhau đến trọn đời.

Thời dịch cúm, người tránh bắt tay nhau nhưng cây thì vẫn có thể.
Phải thêm tấm ảnh xuống biển cho đúng với tựa đề

Ca cẩm một chút thời COVID-19

Ở đây, New Jersey, chưa thấy ai đeo khẩu trang cả, vậy mà tôi đi tìm mua khẩu trang từ hồi đầu tháng 1 đến cuối tháng 2 vẫn không có tiệm nào bán. Tiệm nào cũng bảo hết hàng. Đặt mua trên amazon, nó bảo tháng 2 giao hàng, loại khẩu trang ngăn bụi thôi chớ không phải loại ngừa bệnh, mà hết tháng 2 rồi vẫn chưa có. Ý là ở Mỹ chưa bộc phát bệnh dữ dội mà tình hình đã như thế. Đến chừng có lệnh giới nghiêm, ngăn sông cấm chợ thì không biết sẽ ra làm sao.

Khẩu trang có hiệu quả bao nhiêu phần trăm trong việc tránh bệnh? Tôi nghĩ người đeo để cho yên tâm, đỡ lo lắng, chứ hiệu quả không mấy cao.

Mấy ngày cuối ở Nhật tháng 11 năm 2019, trên xe buýt tôi về khách sạn, có một cô gái bị cảm nặng. Cô ngồi sát vào vách xe, đeo khẩu trang, nhắm mắt ngủ, thỉnh thoảng ho húng hắng. Chỉ nghe cô ho, cũng biết cô bị cảm nặng. Tôi ngồi gần cô, không đeo khẩu trang, và quên bẵng việc này cho đến vài hôm sau tôi bắt đầu bị cảm. Đầu tiên là cổ rát. Sau đó là chảy nước mũi như suối. Những viên thuốc loại giảm triệu chứng bị dị ứng ngăn nước mũi, ngăn ho, tôi uống vào chẳng ăn thua gì. Tôi biết chỉ bị cảm vì tôi không bị sốt. Tôi nghĩ mình bị lây cảm từ cô gái. Không biết có bao nhiêu người đã bị tôi lây hôm ấy. Mãi khi xuống xe buýt tôi mới thấy ở gần chỗ ông tài xế có để khẩu trang cho khách dùng miễn phí.

Ở đây, tự nhiên mình đeo khẩu trang chắc người ta sợ mình đã bị bệnh rồi. Và vì là người Á châu, tôi cũng sợ mình bị kỳ thị nhiều hơn khi người ta sợ mình là người mắc bệnh hay có liên hệ hoặc gần gũi với người bị bệnh.

Những người đã mua khẩu trang để dành, họ mua nhiều hay ít? Họ sẽ làm gì với mấy chục, trăm, hay ngàn cái khẩu trang này nếu không cần phải dùng đến?

Mặt sau cái đập ở hồ Surprise

Bạn nên chuẩn bị, ít nhất là thức ăn và nước uống. Nếu thiếu khẩu trang thì dùng khăn quàng. Không tìm được thuốc rửa tay khử trùng thì dùng nước nóng và xà phòng. Dĩ nhiên nên tránh chỗ đông người. Chúc tất cả mọi người bình an.

Tình trẻ tình già

Cô út của tôi, hồi Giáng sinh về, cài vào TV một số chương trình (hay ứng dụng) như Netflix, Hulu, National Geographic, YouTube, PBS. Với tôi nó là món quà rất thú vị và đó là nguyên nhân khiến tôi không thể viết một bài dài có đầu có đuôi. Thì giờ tôi dùng để tận hưởng phim ảnh và các chương trình nối tiếp (series – phim bộ nhiều tập) .

Tôi thường nghĩ rằng, làm gì có cái gọi là tình yêu. Nghĩ đi rồi nghĩ lại, mình già quá rồi nên không còn nhớ tình yêu nó ra làm sao, chứ người ta còn trẻ đang yêu hoặc đang đi tìm tình yêu, biểu không có tình yêu làm sao đồng ý cho được. Rồi lại tự hỏi, bây giờ người trẻ họ yêu làm sao? Và lúc nào thì các bạn trẻ biết là mình rơi vào cái hố hay cái bẫy tình yêu. A! Xin bạn tha lỗi cho cái giọng điệu tiêu cực này, chẳng qua là người Anh Mỹ cứ dùng chữ fall in love nên nó gợi cho tôi cái tưởng tượng, yêu là một sự vấp ngã, té vào, rơi vào. Mà vấp ngã thì chắc là đau.

Muốn biết người ta bắt đầu yêu như thế nào, tôi tìm trong phim. Phim cũ có nhiều nhưng có phần lạc điệu, còn phim mới thì đầy ra đó trên Netflix. Cứ mở ra là thấy “Crash Landing on You” (Lạc cánh tình đậu phải vai anh, hay lưng anh?) Dịch đại, tầm bậy tầm bạ bạn bỏ qua nha. Tôi xem thử nhưng không cảm thấy hấp dẫn nên thôi. Có nhiều bộ phim, ngó chừng chẳng có liên quan về tình yêu thì lại lôi cuốn tôi đủ để xem hết chương trình. “Midnight Diner” của Nhật. “Chocolate” và “My Love Holo” (Hàn). “Virgin River” của Mỹ.

“Midnight Diner” bao gồm những câu chuyện ngắn xảy ra trong khung cảnh một tiệm ăn của Nhật mở cửa từ nửa đêm đến bảy giờ sáng. Xem nhiều nhưng quên hết, chỉ nhớ có một câu chuyện về một cô gái nhan sắc trung bình, không được người săn đón yêu chìu vì vậy cô thường yêu một chiều. Cứ mỗi lần có người nào tử tế vui vẻ với cô một chút là cô yêu. Và cô đan áo len tặng người ta. Người ta này là anh sếp của cô. Tiếc một cái là anh sếp đã có người yêu, cô nàng ấy lại khá xinh xắn, anh chẳng thích màu áo nhưng cũng vị tình mặc cái áo một lần và nói (láo) là anh thích cái áo này. Người yêu của anh sếp vì ghen nên xé cái áo, đứt phần cánh tay. Anh sếp đưa cái áo cho một người đồng nghiệp, kể rõ câu chuyện, nhờ người đồng nghiệp (hay nhân viên dưới quyền) đem vứt cái áo đi. Anh đồng nghiệp lại đem lòng yêu cô gái nhan sắc trung bình từ lâu nhưng bản tính rụt rè nên không nói. Anh nhờ cô gái dạy anh đan cái khăn quàng cổ để anh tặng người yêu. Cuối cùng trải qua mấy đoạn phim, bao nhiêu ngộ nhận dở khóc dở cười, cả hai nhận ra tấm lòng của người kia. Không phải ai yêu cũng biết cách bày tỏ và người được yêu nhiều khi không nhận ra tình yêu chân thật dành cho mình bởi vì đầu óc và tâm hồn đã chứa nhiều data quá nên không còn chỗ trống.

“Chocolate” thoạt tiên tôi nghĩ là phim về thức ăn, kẹo bánh. Trong phim này thức ăn, chỉ là một phần nhỏ để chiêu dụ người xem. Nhân vật nam (chính) là bác sĩ giải phẫu óc, bị giáng chức, bị đày vào làm ở một hospice (nhà thương nơi chứa người bệnh nặng chờ chết). Nhân vật nữ là một cô gái nấu ăn cho nhà thương này. Họ gặp nhau từ lúc còn bé chừng mười hay mười hai tuổi, nhưng lâu ngày họ quên nhau. Cô bé được cậu bé tử tế đãi một bữa ăn ngon khiến cô nhớ mãi, và có lẽ yêu cậu bé từ lúc ấy. Anh bác sĩ nhận ra mình cứ quan tâm và lo lắng cho cô đầu bếp dù nghề nghiệp và đời sống của chàng đang hồi xui xẻo gặp nhiều tai họa rất gian nan. Từ lúc gặp nhau cho đến lúc cuối chương trình họ chính thức yêu nhau hình như kéo dài 16 tập phim, mỗi tập ngót nghét một giờ đồng hồ. Tình yêu kiểu soap opera của người Á châu xảy ra thật chậm chứ không đột nhoáng như các phim tình yêu của Mỹ. Ờ ờ, phim thì chỉ có 2 tiếng đồng hồ thôi nên phải làm cho lẹ.

“My love Holo” nói về một cô gái yêu một chàng đẹp trai lịch lãm, nhưng chàng trai ấy lại chỉ là một cái hologram. Cũng phải 10 tập phim thì họ mới chính thức làm một đôi tình nhân. Họ yêu nhau qua những chăm sóc, thăng trầm, giải cứu mạng sống của người yêu. Tôi quên hầu hết chi tiết, bạn phải xem thì mới thấy lúc nào người này ngã vào vòng yêu thương của người kia. Ở trong “Chocolate,” có một đoạn cô gái ngủ gật trên cái ghế ở bờ biển. Suốt đêm qua cô lái xe chở anh bác sĩ đi đám tang một người láng giềng cũ, một người mà anh yêu mến như cha. Anh bác sĩ đã ngồi xổm trên mặt cát, để cô gái dựa đầu vào ngực anh ngủ mấy tiếng đồng hồ. Khi đứng dậy chân anh tê phải đi khập khiễng. Tình yêu của người trẻ là như vậy đó.

Phim và các bộ phim của Hàn tràn ngập trên Netflix đủ thấy họ xâm nhập thị trường phim ảnh Anh Mỹ khá hùng mạnh. Họ được Oscar cho “Parasites” bây giờ nhưng họ đã thiết lập quan hệ và phát triển mối quan hệ này thật sâu đậm từ lâu.

Viết về tình trẻ nhiều rồi nên cũng phải nói qua một chút tình già, cho đúng với cái tựa đề đặt sẵn. Tối qua tôi xem Our Souls at Night, Jane Fonda và Robert Redford. Tôi thích Redford nhưng không ưa Fonda, giá mà thế Fonda bằng nữ diễn viên khác chắc tôi thích hơn. Fonda trong vai Addie, ông Redford đóng vai tên gì tôi không nhớ. Cả hai đều góa vợ góa chồng và có lẽ tuổi đã bảy mươi hay hơn. Một buổi tối, Addie đến nhà ông Redford, nói: “Chúng ta là láng giềng với nhau, tôi đề nghị mỗi đêm ông đến nhà tôi ngủ chung với tôi. Người già thường khó ngủ nhất là về đêm.” Trong khi ông Redford còn đang chưng hửng chưa biết trả lời làm sao thì bà nói tiếp: “Không phải chuyện sex siếc gì đâu. Chuyện đó tôi đã chịu thua lâu lắm rồi. Tôi chỉ muốn có người ngủ chung trò chuyện vậy thôi.” Và ông đồng ý. Ban ngày ông sống cuộc sống của ông. Ban đêm ông kể với bà chuyện ban ngày của ông. Và may mắn thay họ hợp chuyện với nhau, họ kể chuyện quá khứ, vui buồn, hạnh phúc lẫn bất hạnh, dần dần họ yêu nhau, và tình già cũng sex siếc này nọ chứ không hoàn toàn ăn chay.

Cả tình trẻ lẫn tình già, họ đều có điểm chung, là họ quan tâm săn sóc lẫn nhau, làm những việc mà người này biết là người kia thích, họ hợp chuyện với nhau, khen ngợi nhau. Họ có thể cùng nấu ăn với nhau mà không cãi nhau. Họ hợp nhau đến độ sự khác biệt hay khiếm khuyết của người này lại có thể là một sự hoàn tất của người kia,

Tình yêu, ai cũng bảo là khó giải thích, khó định nghĩa. Xem bao nhiêu phim thì cũng thấy đúng như vậy. Nói thì khó, nhưng nhìn vào thì biết họ yêu nhau.