Vườn thiền Long An Tự

Đặt cái tựa đề rồi vội vàng giải thích, thật ra tên chùa là Ryoan-ji, Nhật Bản, tôi dùng Google dịch ra tiếng Việt cho dễ đọc. Hồi cuối tháng 10 (hay đầu tháng 11) sau khi ra khỏi Kim Các Tự chúng tôi đi bộ đến Long An Tự. Đường đi không xa, khoảng 2 cây số, nhưng google dẫn chúng tôi đi vòng qua quanh lại, đi lạc, cuối cùng phải hỏi đường ông cảnh sát. Ông quơ tay quơ chân ra dấu cùng với cái bản đồ của riêng ông toàn bằng tiếng Nhật vậy mà chúng tôi cũng hiểu, đi ngược lại Kim Các Tự rồi dùng con đường trước mặt Kim Các Tự mà đi thẳng đến Long An Tự. Không định trước, nhưng sau đó tôi khám phá là cùng con đường này còn có thêm một ngôi chùa danh tiếng nữa, Ninna-ji (Nhân Hòa Tự). Cả ba ngôi chùa này đều là Di Sản Quốc Tế.

Sanmon Gate cổng vào Ryoan-ji, Long An Tự. Xin lỗi ảnh quá xấu. Thấy Wikipedia có ảnh rất rõ, rất đẹp, bạn nào muốn nhìn cho rõ cái cổng vào thì đến Wikipedia. Còn ở đây thì cây nhà lá vườn. Chỉ nói về mấy cái cổng chùa thì cũng có thể viết một bài dài, nhưng xin hẹn lúc khác.

Ryoan-ji, Long An Tự nổi tiếng trên thế giới ai cũng biết rồi. Tôi cũng có lần nhắc đến cái vườn thiền, Zen garden, của ngôi chùa này trong bài Lữ Thứ Đá đăng ở Gió O. Chị Huệ có mấy tấm ảnh của ngôi vườn thiền làm toàn bằng đá này rất chiến. Nhưng vì tôi cũng lẹt đẹt đến nơi nên cũng xin đưa ảnh của tôi lên.

Vườn thiền, toàn bằng đá và sỏi nhuyễn. Diện tích 25m x 10m, có tất cả 15 hòn đá lớn nhỏ, được chia thành năm nhóm (5,2,3,2, và 3). Vì có một vài hòn đá nằm khá sát mặt đất, nên tùy theo ở vị trí nào, người quan sát có thể không đếm đủ số 15. Các em học sinh ngồi quan sát vườn đá.

Lịch sử của vườn thiền, vì sao nó được gọi là vườn thiền, được nhiều học giả nghiên cứu, xin để lúc khác tôi sẽ tóm tắt các bạn đọc chơi.

Nhìn gần hai nhóm đá, nhóm phía trước có ba hòn đá, nhưng nhìn thoáng qua chỉ thấy có một. Nhóm ở xa hơn có hai. Tường làm bằng đất sét nấu trong dầu (oil). Lâu ngày nó tươm dầu ra. Chẳng biết tôi quờ quạng với máy ảnh làm sao mà tấm nào cũng mờ lem luốc cả.

Một số học giả Nhật tự hỏi vì sao vườn thiền Long An Tự nổi tiếng ở các quốc gia phương Tây. Tôi nghĩ người Mỹ biết đến vườn thiền Long An Tự là do cuốn phim Late Spring của đạo diễn Jasujiro Ozu cho dù vườn xuất hiện trong phim chỉ một đoạn rất ngắn. Ông bố Shukichi ngồi với người bạn, nói chuyện hôn nhân của con cái. Shukichi có cô con gái không chịu lấy chồng vì sợ bỏ bố ở một mình, còn ông bạn thì có cô con gái mới lập gia đình. Hai người ngồi ở hàng hiên của nhà dùng để uống trà (tea room) nơi mà các bạn thấy lố nhố mấy cái đầu của các học sinh đến xem vườn thiền. Hình như học sinh đều được hay bị bắt buộc xem các ngôi chùa nổi tiếng như Kim Các Tự, Thanh Thủy Tự (Kiyomizu-dera), và ngay cả ngôi chùa này. Nơi nào tôi đến xem, kể cả Heian-Jingu, đều có học sinh Trung học và Tiểu học tham dự.

Sơ lược về Long An Tự. Được phong tặng là nơi có Di Sản Thế Giới từ năm 1994.

Tương truyền Shogun Toyotomi Hideyoshi, lãnh chúa nắm giữ quyền hành cai trị vì thống lãnh quân sự, đã đến chùa này để ngắm cây hoa đào lâu năm bên cạnh vườn đá. Mãi về sau khi cây đào chết rồi thì người ta mới bắt đầu chú ý đến ngôi vườn toàn đá này.

Bậc thang lên Kuri, chính điện của chùa

Vườn đá chỉ là một phần rất nhỏ của Long An Tự. Chùa này còn có nhiều điểm đáng xem, đáng được gọi là di sản quốc tế, thí dụ như Kuri, chính điện của chùa, có nhiều tranh trên tường. Trong chùa có nhiều tài liệu về cuộc phân chia Nam Bắc chừng 50 năm của nước Nhật. Vườn chính của chùa là một khu vườn cây cảnh rất đẹp, cắt tỉa công phu. Nghệ thuật tỉa cây cảnh của người Nhật rất cao siêu hầu như vườn nào cũng có một toán người chuyên môn làm việc này.

Một số cây thông được tỉa.
Hồ Kyoyochi khá rộng. Hồ được hoàn thành cuối thế kỷ thứ 12. Ở một góc vườn có cây hồng trái xum xuê, có chỗ để thuyền đậu, ba đảo nhỏ trong hồ, và cầu nhỏ gần Kuri.

Ở phía sau nhà uống trà có một cái giếng bằng đá. Tsukubai. Giếng này có nước rất trong, được dùng để rửa tay trước khi tham dự trà đạo. Trên mặt giếng có 4 chữ. Ảnh tôi chụp không thấy được chữ rõ ràng nên bạn nào biết chữ kanji muốn biết thêm thì xem ảnh Wikipedia (Ryoan-ji) bài này chưa được dịch ra tiếng Việt, rất tiếc nếu bạn không dùng tiếng Anh. Bốn chữ Kanji này khi đứng riêng thì không có ý nghĩa quan trọng. Nhưng nếu bạn nhìn cái giếng hình tròn, giữa mặt giếng có hình chữ nhật tượng trưng cho chữ khẩu (cái miệng). Ghép chữ khẩu này với bốn chữ kanji trên mặt giếng sẽ làm thành một câu mang ý nghĩa “Không tham lam thì sẽ có cuộc sống an lành.” Ware tada taruo shiru. Freedom from greed ensures a peaceful life. Bốn chữ kanji này được xem như một công án thiền để nhắc nhở các nhà sư vốn phát nguyện sống cuộc đời thanh tịnh và khổ hạnh.

Tsukubai. Giếng nước này là quà tặng của daimyo Mito Mitsukuni. (Daimyo là cấp lãnh chúa cai trị địa phương)
Một tượng phật ở ngoài vườn.

Mèo hoang

Trước khi đi chơi tôi nhờ cậu bé hàng xóm cho mèo hoang ăn. Khi về thấy con nào cũng béo tốt. Có thêm một con mèo mới nhập bọn. Con này màu xám đậm. Buổi tối về lúc hai hay ba giờ sáng, thấy con mèo từ trong cái lều ông Tám dựng cho bọn mèo đụt mưa chạy vụt ra. Ánh sáng từ cái nhà kho chiếu hắt hiu làm tôi tưởng đó là ông Inkie bị bụi cát lấm lem đổi màu, té ra con mèo này màu xám như màu đen dính tro. Con mèo này chưa được triệt sản, nên tôi lo ngại nếu nó là mèo cái thì có lúc nó lại mang con bỏ ở nhà tôi bắt tôi nuôi. Nghĩ thầm đám mèo hoang mình cho ăn thì đã bị triệt sản hết rồi chỉ sợ con mèo bố tìm đến. À mà lúc sau này không thấy con mèo bố, sọc vằn to màu vàng sậm và nâu đến nữa.

Tối qua, tôi thấy có con mèo sọc vàng giống như Ginger và mèo Anh đến ăn. Nhìn thấy tôi nó nhìn sửng một lúc chứ không bỏ chạy ngay, đủ cho tôi nhận ra trên mặt nó có vệt màu trắng hình tam giác. Hay đó là con mèo út mà lần đi chơi năm ngoái về nhận ra là nó biến mất? Con mèo út rất thân thiện, nó để cho tôi ôm nó vào lòng, khi tôi cho ăn nó quấn quít cọ người vào chân tôi, nên tôi nghĩ có người nào nhận nuôi nó. Bây giờ có lúc thoát ra ngoài trở về ăn ở chỗ cũ?

Trời tuyết, lạnh nhiều, làm tôi có chút lo lắng cho đám mèo hoang. Mèo anh bây giờ dạn dĩ lắm, đã nhảy lên cái máy lạnh treo tường nhìn vào trong nhà kêu ỏm tỏi mỗi lần tôi chưa kịp cho ăn. Nó cứ vờn ở cửa kêu như muốn xin được vào nhà, nhưng hễ tôi mở cửa cho vào thì lại sợ bỏ chạy ra xa. Nếu tôi là một cụ già cô đơn thì tôi đã mở cửa dụ bằng thức ăn cho vào nhà rồi đóng cửa lại nhốt nuôi luôn. Chừng vài ba hôm là chúng sẽ quen ngay.

Trong khi con mèo hoang có vẻ như muốn được vào trong nhà, thì con mèo trong nhà, Nora cũng nhấp nhỏm muốn được ra ngoài, nhưng sợ lạnh. Lúc này, Nora và mèo Anh, một già một trẻ cũng thân thiện với nhau lắm. Hễ có mèo Anh ở ngoài là Nora cứ đòi ra. Mỗi lần gặp nhau cả hai đều chào nhau bằng cách ngửi mùi, cọ cổ, và nếu mèo Anh xấn xổ đến thì Nora dùng tay gõ lên đầu hoặc đẩy ra.

Inkie và mèo Anh hồi giữa tháng 11
Mèo Anh có vẻ giỏi chịu lạnh.
Inkie đen quá nên không bao giờ tôi có thể chụp được rõ đôi mắt của nó. Chỉ thấy được cái chấm trắng trước ngực và cái lỗ mũi chắc dính tuyết.
Đường rừng
Hoa hay trái của mấy bụi cây mọc ven đường rừng
Chụp gần hơn
Mấy con nai ở trên đồi, phía bên cái hồ tắm của nhà hàng xóm
Mắt nai ngơ ngác đây nè
Chụp ảnh này ở bụi cây sau nhà

Lâu đài Nijo

Cổng Kara-mon. Phía bên trong là Ninomaru-goten Palace

Đây là một trong hai lâu đài nổi tiếng nhất của Kyoto, Nhật Bản. Lâu đài kia là Hoàng Cung Kyoto (Kyoto Imperial Palace) cố đô của Nhật. Lâu đài Nijo tọa lạc rất gần với Hoàng Cung đi bộ chỉ chừng ba mươi phút là đến. Có lẽ, ngày xưa, hai tòa nhà lộng lẫy to lớn như thế lại ở gần nhau như thế, là một sự so đo, một sự thi thố quyền năng và tài sản. Hoàng Cung là nơi ăn chốn ở của hoàng gia. Còn lâu đài Nijo là dinh cơ của Shogun (tương đương với Commander-in-Chief của Tây phương), lãnh tụ quân sự, người thật sự có quyền bính ở Nhật lúc bấy giờ.

Shogun Tokugawa Ieyasu ra lệnh xây cất lâu đài Nijo năm 1601, và nó được hoàn tất năm 1603. Vị Shogun này đã thiết lập chế độ và thống lĩnh Nhật Bản, khiến quốc gia này có cuộc sống yên bình, thịnh vượng hơn 260 năm. Ieyasu được Nhật hoàng bổ nhiệm chức Shogun và đến lâu đài Nijo để bắt đầu cuộc cai trị. Cũng chính ở lâu đài này, vị Shogun cuối cùng của dòng họ, Tokugawa Yoshinobu đã triệu tập tướng lĩnh và tuyên bố giao trả lại quyền hành cai trị cho Nhật Hoàng. Lâu đài Nijo vì thế đã chứng kiến sự mở đầu và kết thúc quyền hành cai trị của triều đại Shogun.

Bạn có lẽ đã biết đến lâu đài này nếu từng xem phim “Inception.” Ở đầu phim, lúc DiCaprio trong vai Dom Cobb ngất xỉu ở bờ biển, được đưa vào lâu đài gặp một ông già người Nhật, Mr. Saito do Ken Watanabe thủ vai, bạn nhìn thấy một lâu đài ánh sáng mù mờ dù đã treo hàng trăm cái lồng đèn trên trần. Ánh sáng trong lâu đài tỏa ra màu vàng kim nhờ vào sự phản chiếu của những bức tranh treo trên tường hình cây thông và chim hạc trên nền tranh màu hoàng kim như thể sơn chính là vàng hay vẽ trên nền tranh bằng vàng. Lâu đài có những bức họa hoàng kim ấy là lâu đài Nijo, được xây cất để chứng tỏ sự giàu có của Shogun, có thể so sánh được với sự giàu có của hoàng gia Nhật.

Còn tôi thì nghe tiếng lâu đài Nijo qua quyển sách, “Across the Nightingale Floor” (Băng qua nền nhà phát ra tiếng hót Sơn Ca) của Lian Hearn. Đây là một trong bộ ba quyển “Tales of the Otori.” Quyển sách rất hấp dẫn, bạn nào chưa đọc nếu có chút thì giờ trống trải, quyển sách này sẽ giúp thì giờ qua mau. Tôi đọc liên tiếp hơn một ngày, không muốn bỏ quyển sách xuống. Tác giả là Gillian Rubenstein người Anh, sống ở Úc, nhiều lần sang Nhật và dùng Nhật làm bối cảnh của quyển sách này. Truyện nói về một cậu bé lớn lên trong làng ninja, trong lúc cả gia đình của cậu bị một nhóm lãnh chúa giết cậu bé được một vị lãnh chúa khác cứu mạng và đem về làm con nuôi. Cậu bé được dạy dỗ và phát triển năng khiếu bẩm sinh của ninja. Cậu bé muốn trả thù riêng, ám sát kẻ đã giết cả gia đình mình, đồng thời trả ơn vị lãnh chúa đã cứu mạng. Vị lãnh chúa này cũng có kẻ thù chung với cậu bé. Truyện hấp dẫn cũng như The Game of Thrones nhưng những âm mưu (plots) có vẻ đơn giản hơn.

Vốn đã nghe tiếng “Across the Nightingale Floor,” lúc đi vòng quanh Ninomaru-goten tôi cố lắng nghe tiếng kẽo kẹt rên rỉ của nền nhà gỗ nhưng hầu hết nó bị lấn át bởi tiếng ồn ào nói cười và tiếng bước chân của du khách. Người ta bảo rằng vị shogun vì lo ngại kẻ địch sẽ cho ninja vào lâu đài để ám sát ông nên cho xây nền gỗ có thể phát ra tiếng động như tiếng chim sơn ca hót để đánh thức đội quân bảo vệ ông. Nhưng rất có thể vì nền nhà bằng gỗ chịu sự co dãn của mưa nắng, sự sọ xát của kim loại như đinh ốc ở các khớp, mọng, hay kèo gỗ vì xây cất hay lắp ráp không khéo mà tạo ra âm thanh này. Nijo-jo không phải là lâu đài duy nhất có nền nhà phát ra tiếng hót sơn ca.

Mấy tấm ảnh

Trong lúc đi tìm ảnh minh họa cho bài viết hai quán ăn Việt và Nhật, lại tìm thấy mấy tấm ảnh cũ.

Ảnh này chụp ở bãi biển Mỹ Khê, hồi xưa người ta nhầm lẫn gọi là China Beach, bây giờ thì mình cần phải xóa chữ ấy đi. Biển hôm ấy mù mịt hơi nước. Tôi nhìn ra khơi thấy tượng màu trắng, không biết tượng gì, Phật giáo hay Công Giáo. Chụp đại tấm ảnh này, rồi dùng cái app nào đó xóa bớt cái mù mịt của hơi nước thì thấy rõ hơn và tượng không đứng lưng chừng lơ lửng trên trời mà là ở một sườn núi nào đó, và chỗ tôi đứng có lẽ là cái vịnh hay bán đảo nhìn thấy bờ bên kia có núi khá cao.
Cầu Rồng Đà Nẵng về đêm
Hoàng hôn trên hồ Tonla
Mái ngói của một ngôi chùa bên trong chùa Hương
Ở dốc đường đèo Mã Pí Lèng nhìn xuống sông Nho Quế

Hai quán ăn, Việt và Nhật

Khi muốn kể chuyện đi ăn nhà hàng, xem lại ảnh cũ thì nhận ra mình không có ảnh để kèm theo câu chuyện.

Hồi tháng 3 tháng 4, một buổi tối tôi với ông Tám đi ăn ở phố Cổ Hà Nội. Khi nói chuyện ăn uống ông luôn nhường cho tôi chọn chỗ ăn vì tôi hay ca cẩm chuyện mặn nhạt. Cả tôi và ông lại là người sống theo thói quen, nên đi chỗ lạ vẫn có khuynh hướng tìm món ăn quen thuộc với khẩu vị của mình, thay vì chọn món lạ miệng, theo văn hóa ẩm thực của vùng miền mình đến viếng. Người miền Bắc vào Nam mở nhà hàng đậu phụ mắm tôm. Chúng tôi thấy bảng hiệu, Bún Bò Nam Bộ thì biết là tối nay muốn ăn gì.

Tưởng là món bún bò giống như bún bò Huế, nhưng thật ra đây là món bún thịt bò xào. Có giá sống, nhưng cọng giá dài mỏng và dai chứ không mập ú ù như giá của tiệm Tàu ở Mỹ. Nhà hàng khá lớn, tôi quên mất tên, cũng đâu đó trong vòng đi bộ từ phố cổ. Bàn sắp thành hàng dài, san sát nhau. Khách ngồi sát vách tường, giữa là bàn hẹp chiều ngang, rồi đến khách ngồi đối diện. Ra vào khá chật mọi khoảng cách đều được tận dụng. Ở bên ngoài cửa tiệm có đặt computer để ghi nhận món ăn khách hàng đặt. Có một đầu bếp với chảo chiên hay xào món ăn nhanh gì đó. Thực đơn khách hàng đặt được nấu phía bên trong, chiều dài của nhà hàng rất sâu. Nhà hàng không có nhiều món ăn, chỉ bún bò nam bộ và một vài loại nước uống. Khách vào chỉ có gọi tô lớn hay tô nhỏ. Một kiểu nhà hàng công nghệ dây chuyền, phục vụ rất nhanh nhờ giản dị. Rất đắt khách.

Hồi tháng 10, ở Kyoto, buổi tối chúng tôi đi tìm chỗ ăn. Quán ăn Nhật thường không có nhiều rau như cơ thể chúng tôi đòi hỏi. Ngạc nhiên là họ không ăn nhiều rau nhưng vẫn không bị béo phì. Chúng tôi bước vào một quán ăn vắng khách vì là tối cuối tuần. Mấy hôm trước thấy quán đông người, đàn ông mặc suits màu đậm, áo trắng kiểu người salary men như thường thấy trong phim. Bước vào quán ăn vì thấy trên bảng quảng cáo bên ngoài có cơm trắng. Nghĩ thầm bất quá thì cứ chỉ vào món ăn và trả tiền.

Cửa hàng sáng trưng. Họ cũng tận dụng khoảng cách như quán ăn ở Hà Nội. Bàn dài, có hai dãy bàn khách ngồi quay mặt vào vách tường. Dãy bàn ở giữa có thể xem tivi treo gần cửa tiệm. Loay hoay với cái menu, chúng tôi nói tiếng Việt với nhau thì phát hiện cậu nhân viên đang giúp chúng tôi đặt món ăn là người Việt. Ôi hiếm hoi làm sao, và chúng tôi thở phào nhẹ nhõm vì biết là mình sẽ chọn món nào cho vừa ý nếu cần thì có thể đặt thêm rau. Và rau thì cũng chỉ là vài miếng pickles nhỏ nhoi. Cậu nhân viên trẻ tuổi, cao ráo, trắng trẻo, nhìn giống y như người Nhật.

Thức ăn được nấu ở tầng trên. Khi nấu xong, người ta cho vào “thang máy” chuyển xuống tầng dưới chỗ thực khách đang ngồi. Thang máy ở đây có lẽ hình dáng như một cái tủ to, có nhiều ngăn để thức ăn, chỉ cần bấm nút là thang chạy lên hay chạy xuống. Thực đơn cũng theo dạng công nghệ gần giống như TV dinner, khi khách hàng đặt món ăn thì mở tủ lạnh lấy bao hay gói thức ăn ra, hâm nóng lên. Cơm và súp thì được nấu sẵn.

Hai quán ăn khác nhau nhưng lại có một vài điểm giống nhau. Quán nhỏ, chiều ngang hẹp, chiều dài sâu, ít món ăn, và có kiểu dây chuyền công nghệ rất nhanh và gọn. Cả hai quán Việt và Nhật kể trên đều không phải là hàng quán sang trọng hàng đầu nhưng cũng thuộc hàng kha khá ở ngay trong thành phố lớn của Việt (Hà Nội) và Nhật (Kyoto).

Khách hàng ở quán ăn Việt có vẻ vui tươi thoải mái hơn, họ có vẻ đi chơi và ghé ăn tối vì thế họ trò chuyện rôm rả hơn. Khách hàng ở quán ăn Nhật có vẻ như sau buổi làm việc, chỉ muốn ăn cái gì đó giản dị và về nhà nghỉ ngơi. Họ thường đến ăn một mình. Tuy vậy cũng có nhóm hai hay ba người và họ nói chuyện vui vẻ hơn.

Đây chỉ là quan sát bề ngoài của một người mới nhìn quán ăn tương đối bình dân của Nhật lần đầu. Không có ảnh của hai quán ăn tôi vừa kể trên nên xin thế bằng ảnh của một quán ăn khác cũng ở Nhật nhưng ở Tokyo.

Một quán ăn nhỏ ở Tokyo

Đất Mũi Cà Mau

Trạm biên phòng Đất Mũi Cà Mau
Cây đước với rễ nhô lên cao khỏi mặt đất. Một ngày nào đó rừng đước cũng sẽ làm giống như rừng cây Ents trong truyện Lord of the Rings lên đường đi trừ quân quỷ dữ
Ghe đi dọc theo dòng, ngang qua vô số cây cầu bắc ngang sông rạch
Đường làng. Thấy nhà nước cũng đầu tư vào nông thôn, có đường xá để dân cư đi lại và trẻ em đến trường.
Công viên nơi có cột mốc tọa độ quốc gia
Đăng ảnh này để thấy sự nghèo nàn ý nghĩa về kiến trúc, thiết kế, và nghệ thuật công viên của Cà Mau. Vài tượng điêu khắc của tôm, ốc len, cá thồi lồi dựng trong công viên. Công viên như thế này làm sao theo kịp các chương trình du lịch của thế giới.

Vũng Tàu và ký ức xa xưa

Lần về Việt Nam hồi tháng 10, tôi đi Vũng Tàu để tìm lại một chút kỷ niệm hồi còn nhỏ xíu. Năm ấy hình như chừng 1962 hay 1963. Anh tôi chưa cưới vợ. Cả nhà tôi có má tôi, chị tôi và 4 đứa con, anh tôi, và tôi. Lần đầu tiên tôi được đi Cấp (bây giờ nghe nói hồi xưa gọi là Ô Cấp, nhưng tôi chỉ biết Cấp mà thôi). Lần đầu tiên được đi ăn trưa ở nhà hàng, lần đầu tiên tắm biển. Lần đầu tiên của nhiều thứ, trong đó có bị đổ nước mắm lên người. Không. Không phải đổ nước mắm lên người tôi, mà đổ lên người thằng cháu của tôi, gọi tôi bằng dì, tên Trí.

Hình như nước mắm cá chiên cũng văng lên người tôi sao đó mà trong một bức ảnh ngày hôm đó tôi có thay quần áo và mặc một cái áo sơ mi của con trai, chắc là của Trí. Có lẽ đó cũng là lần đầu tiên tôi nhận ra mình xấu xí, hay ít ra cũng không đẹp, so với Tâm và Thu hai cô cháu gái của tôi.

Đó là lần đầu tiên nhà tôi đi chơi kiểu đại gia đình, và cũng là lần cuối cùng. Sau đó, mọi người đều đi chơi chỗ này chỗ nọ nhưng không còn đi chung cả nhà nữa.

Lần đi Vũng Tàu này, tôi cố ý đi tìm Thích Ca Phật Đài. Trong trí nhớ của tôi má tôi mặc cái áo dài bằng gấm có chỗ thưa chỗ dày hình hoa văn như đăng ten, đứng phía chân tượng Phật Thích Ca nằm. Tượng Phật to lớn màu trắng. Má tôi nhỏ xíu đứng chấp tay hình búp sen, một vạt áo bay nhẹ.

Tìm hoài, đi xuống đi lên, đi vòng quanh vẫn không thấy. Cuối cùng nhờ có người chỉ, đi lối nhỏ, vòng ra phía sau thì thấy. Tất cả hoàn toàn khác với trí nhớ của tôi. Xưa tượng Phật nằm giữa trời quang đãng. Giờ bao chung quanh tượng Phật là đủ thứ trần tục rối rắm trong đó có cả hàng quán bán đồ lưu niệm.

Quay về tôi cứ nghĩ, tượng Phật nằm, giống như công chúa ngủ trong rừng, cây cối mọc lên chằng chịt che lấp hết. Và tượng Phật Thích Ca cũng không to lớn như trong ý nghĩ của tôi. Má tôi không còn. Cái hình ảnh của má tôi nhỏ bé đứng dưới chân tượng Phật Thích Ca đang nằm cũng không còn, có chăng chỉ còn trong trí nhớ của tôi. Sắc là không. Vô sắc. Vô tướng. Có lẽ cái trí nhớ của tôi cũng không có thật.