Nóng quá, mùa hạ ơi.

Chỗ tôi ở trọ có nuôi hai con mèo. Con mèo trắng nhỏ hơn Nora một chút. Con mèo đốm giống như màu đồi mồi to như Nora. Em đồi mồi chỉ có ba chân thôi nên em đi khập khiễng trông rất đáng thương.

Vợ chồng người chủ nhà trọ dặn tôi cẩn thận khi ra vào nhớ đừng để hai em mèo cưng ra ngoài cửa trước. Tối qua, không hiểu bằng cách nào em mèo lẻn vào phòng tôi núp dưới giường mà tôi không biết. Nửa đêm gần sáng, tôi nghe có tiếng nhảy nhẹ nhàng lên giường tôi. Tôi tự cho là mình nằm mơ hay nghĩ lầm, có thể là cái chăn trải giường bị tuột xuống đất. Chập sau tôi cảm thấy có bước chân nhẹ nhàng lên người tôi. Cái cảm giác quen thuộc mỗi lần Nora muốn đánh thức tôi. Ngồi dậy tôi thấy em mèo trắng nhảy xuống khỏi giường và ra cửa ngồi chờ. Tôi mở cửa, em lẻn ra khỏi phòng. Sau đó tôi thấy em đồi mồi nằm thườn người trên nền sàn gỗ trước cửa phòng tắm, có vẻ như mệt mỏi vì nóng bức. Tôi vuốt ve em và khi tôi đụng đến chỗ chân cụt, em ngồi dậy có vẻ như không bằng lòng. Tôi ngừng lại và trở vào phòng.

Từ cửa sổ phòng tôi nhìn thấy đường xuyên bang I80, chạy ngang Vallejo, xe vận tải hạng nặng chạy hầu như suốt đêm. Phòng trọ không có máy lạnh, thời tiết nóng hơn tôi dự đoán, mà tôi còn phải ở đây thêm bốn đêm nữa. Nghe dự đoán thời tiết bảo rằng ngày mai sẽ xuống dưới 90 độ F. Liên tiếp mấy hôm nay, ngày nào cũng hơn 100 độ F. Hai em mèo nằm không buồn nhúc nhích.

Hôm nay, sau khi đi xem viện bảo tàng nhà văn Jack London, còn dư vài tiếng đồng hồ tôi vào thư viện thành phố Sonoma trốn nóng. Post bài này xong sẽ đọc vài truyện ngắn của nhà văn Jack London.

Mèo hoang biết khống chế người

Chuẩn bị đi chơi xa tôi tìm người giúp cho mấy con mèo hoang ăn. Nora thì sẽ mang sang nhà cô em của ông Tám gửi nhờ mấy người cháu chăm sóc. Nora với các cháu đã quen nhau và mến nhau. Trước kia chú em rể mỗi ngày sang cho mèo ăn. Lần này chú ấy bị đau đầu gối không thể đi lại nhiều nhất là vào nhà tôi driveway (đường chạy vào nhà cất xe) con dốc rất cao. Lần đi Việt Nam ông Tám đặt cái máy cứ đến giờ là thả thức ăn ra, mỗi ngày máy thả thức ăn hai lần. Cách này chỉ dùng được một thời gian ngắn sau đó tụi racoon phá máy bứt tung hết dây điện. Ông Tám đã tìm nhiều cách bảo vệ cho máy đừng bị phá hư để đám thú hoang (kể cả racoon, ground hog) có thức ăn. Không thành công.

Tôi sang nhà hàng xóm, bên trái nếu đứng bên trong nhìn ra cửa, tìm P. Chúng tôi ở cạnh nhau đã bao nhiêu năm đây là lần thứ hai tôi vào nhà P. Lần đầu tôi thay mặt Ách Cơ, lúc ấy nhận giữ cậu bé J. một buổi cho vợ chồng P. đi đâu đó. Ách Cơ bận gì đó ở trường nên tôi trông chừng cho J. ăn trưa độ một giờ đồng hồ sau đó trả công việc lại cho Ách Cơ.

Nghe tiếng P. ở trong nhà nhưng mãi rất lâu nàng mới mở cửa. P. giải thích vì nàng đang bận học cho kỳ thi lấy bằng hành nghề. P. làm gì đó trong lĩnh vực Đông Y/ Thuốc Bắc/Thuốc Nam gì đó nàng giải thích tôi chỉ hiểu mù mờ. Tôi xin phép P. cho cậu con út của nàng giúp cho mấy con mèo hoang ăn, một thứ việc làm mùa hè cho những cậu bé chưa đến tuổi lái xe và chưa được phép làm việc nặng nhọc. Cậu bé J. ngày nào phải có người trông chừng cho ăn, giờ đã cao hơn tôi một cái đầu (và thêm một cái cổ nữa chứ). Tôi và J. bắt tay nhau. Hợp đồng làm việc là mỗi ngày cho mèo ăn một lần, thức ăn tôi đưa, tiền công là 50 đồng một tuần. Ông Tám bình luận, khơi khơi vậy thôi không có ý trách móc gì, tiền công và tiền thức ăn nuôi mấy con mèo hoang độ 60 đồng một tuần. So ra đó là một số tiền khá lớn ở VN. Một sự phí phạm chăng? Tôi không đành lòng để mấy con mèo hoang bị đói, và có thể chết. Biết làm sao đây? Mình đang ở Mỹ mà, phải chịu tốn kém của cuộc sống ở Mỹ thôi, đâu có thể so sánh với VN. Bảo vệ hay duy trì sự sống của thú vật hoang có là một lãng phí hay không? Tôi nghĩ là không, trong cái sức nhỏ bé của tôi, duy trì được sự sống của những con thú nhỏ bé là điều tôi muốn làm và có khả năng làm. Có thể đây là một việc làm vô ích, tốn kém mà không sinh lợi, nhưng tôi có cảm tình với lũ mèo hoang. Chúng luôn luôn dấy động trong tôi một thứ tình gì đó khó tả, nửa như thương hại, nửa như thương mến, một chút gì đó “hình như là tình yêu” (haha, nói cho có vẻ lâm ly một chút, sến súa một chút, bạn đừng cười, hình như biểu lộ tình cảm nào cũng có vẻ lâm ly sến súa, với loài mèo hoang thì càng tệ hơn).

Nora năm nay là 10 tuổi có thể 11 vì tôi không nhớ chắc nàng sinh năm 2008 hay 2009. Tính theo tuổi người thì nàng được 60 hay 64 tuổi. Bệ vệ, lười biếng và tính nàng khá lạnh nhạt. Lúc sau này nàng hay cắn tôi. Thỉnh thoảng lại cắn vào chân và tay tôi, cạp nhẹ nhẹ rồi thả ra, không hiểu là một cách bày tỏ cảm tình hay giận tôi chậm cho ăn. Nàng kén ăn thậm tệ, chỉ ăn thức ăn mềm có mùi cá hồi. Thỉnh thoảng đòi ăn một chút thức ăn của người, thịt gà hay thịt sườn ram, không ăn nhiều nhưng muốn thử.

Mèo Anh thì hơn một tuổi. Chàng sinh ra đâu từ tháng 4 năm 2018 lúc tôi vắng nhà, đi chơi ở Canada về lúc tháng Năm thì mẹ chàng đã tha từ nơi nào đó về sân nhà tôi. Năm đầu tiên của mèo được tính là 15 tuổi của người. Mèo Anh vẫn còn cái nét thiếu niên, mỗi lần tôi mở cửa sau là chàng lơn tơn chạy đến, người dong dỏng, nét mặt ngây thơ. Mỗi lần gặp Nora là nhanh nhẹn chạy đến cọ cái cổ của chàng vào cổ Nora. Một hai lần Nora để yên. Tôi yên lặng ngắm xem bọn mèo phản ứng ra sao. Nếu mèo Anh cứ tiếp tục xấn xổ thì Nora dùng tay (chân trước) tát nhẹ một cái, kiểu quơ tay đẩy ra hay vuốt đầu, chứ không tát và giương móng vuốt. Mèo Anh đối với ông Mun cũng như thế, thân thiện và kính nể. Bao giờ cũng bị ông Mun tranh ăn đuổi đi. Nếu mèo Anh “necking” (cọ cổ) ông Mun thì ông cũng lấy tay tát nhẹ, đẩy đi như Nora đã làm vậy.

Mèo Anh biết là sẽ được cho ăn riêng, thức ăn của Nora, nên cứ nấn ná, chờ ông Mun đi khỏi (và ông Tám không để ý 🙂 ) thì sẽ được ăn thêm. Buổi tối trước khi đi ngủ, hay sáng sớm mới thức dậy, mèo Anh cà rà gần cửa sổ nơi tôi ngồi đọc hay viết, kêu nghêu ngao gợi sự chú ý của tôi, dĩ nhiên chỉ đòi thức ăn ngon thôi.

Ông Mun nhận ra rằng thằng bé này được chiêu đãi đặc biệt, nên sáng sớm hoặc chiều tối, ông canh me gần đó, lẩn trong bóng tối tôi không nhìn thấy. Hễ thấy mèo Anh được cho ăn riêng và tôi đã vào nhà là ông đến đuổi mèo Anh đi. Rồi ông cũng kêu gào ầm ĩ nếu tôi không cho thức ăn ngon.

Ai bảo loài mèo không khôn ngoan. Chúng biết khống chế hay điều khiển một bà già đó chứ. Mấy con mèo, lúc ngồi xếp hàng trước cửa, mặt ngẩng lên nhìn vào ô cửa kính có vẻ như đang xin xỏ chờ đợi loài người cho ăn, luôn luôn làm tôi nhớ đến số phận của tôi cũng một thời chờ đợi xin xỏ sự cứu giúp của tha nhân. Năm 1963 nhà tôi ở Hãng Phân Vĩnh Hội bị cháy, má tôi và tôi từng xếp hàng chờ nhu yếu phẩm, chờ được phát thức ăn, quần áo cứu trợ. Năm 1980 tôi xếp hàng chờ lãnh nhu yếu phẩm thức ăn nước uống từ Ban Cao Ủy Tị Nạn ở Bidong Mã Lai. Có lẽ tôi thương bọn mèo hoang này cũng là tự thương mình một thời khốn khó, ngẫm ra thì mình có một thời chẳng hơn gì đám mèo hoang.

Giữa ngựa và người

Ảnh của nhà nhiếp ảnh Hoàng Huy Mạnh đăng trên trang mạng Gió O

Bài đã đăng ở Gió O
http://www.gio-o.com/Tet/2014NguyenThiHaiHaGiuaNguaVa.htm

tản mạn

Ngựa có mặt trên thế giới chừng bốn mươi ngàn năm trước Công nguyên, được thuần hóa vào khoảng bốn ngàn năm trước Công nguyên. Ngựa xuất hiện thường xuyên trong văn học và nghệ thuật. Ngựa là biểu tượng của chia lìa, vì trong chiến tranh người đàn ông phải ra trận. Chúng ta có thể không biết nét mặt của người đàn bà ở phía sau rặng liễu, nhìn dáng chồng từ từ khuất nẻo nhưng ai cũng biết màu y phục của người chồng và màu con ngựa chàng cưỡi qua hai câu thơ trong Chinh Phụ Ngâm Khúc “Áo chàng đỏ tựa ráng pha, ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in.”  Và có lúc đã tiếc mình không theo kịp người đi “Đưa chàng lòng dặc dặc buồn. Bộ khôn bằng ngựa, thủy không bằng thuyền.”  Ngựa là biểu tượng của sức mạnh, nhanh nhẹn, dẻo dai, tình bạn, lòng trung thành, trí khôn ngoan trong vô số tác phẩm. Ngựa hoang được dùng để ám chỉ một người có ước muốn tự do không chịu khuất phục trước những trói buộc của uy quyền như “Ngựa hoang nào dẫm nát tơi bời. Đồng cỏ nào xanh ngắt chân trời. Ngựa phi như điên cuồng, giữa cánh đồng dưới cơn dông.”[i]  Chỉ vài câu mà chúng ta nhìn thấy một bức tranh ngựa phi tuyệt đẹp và những ngón đòn thù giữa “ngựa” và người. Mối liên hệ giữa ngựa và người, ân tình và oán thù được thăng hoa trong nhiều tác phẩm. Một con ngựa đã giết người để trả thù được Patti Highsmith ghi lại trong truyện ngắn Engine Horse.   Alice Munro, Nobel 2013, đã nhiều lần nhắc đến ngựa, tiêu biểu là hai truyện ngắn Boys and Girls và Under the Apple Tree. Rất may trong văn học chúng ta được chứng kiến ân tình giữa ngựa và người nhiều hơn thù oán. Trong phạm vi bài tản mạn này, xin mời độc giả thưởng thức một ít ân tình giữa ngựa và người trong bốn tác phẩm văn học bất hủ của Tây phương.

1. Con ngựa trong A Country Doctor (Bác Sĩ Làng) của Franz Kafka

Trong truyện ngắn “A Country Doctor” của Franz Kafka, có ông bác sĩ già cần phải đi chữa bệnh cho một người ở cách đó mười dặm nhưng con ngựa duy nhất của ông đã chết đêm qua vì kiệt sức. Cô gái giúp việc, Rose, đi khắp nơi đến nhà láng giềng để mượn ngựa cho chủ nhưng không ai cho mượn. Trong cơn tức bực, bác sĩ đá mạnh mở toang cánh cửa chuồng lợn, thì bỗng nhiên, có anh nài ngựa dẫn hai con ngựa lóp ngóp từ trong chuồng lợn bò ra.  “Thật là người ta nhiều khi không biết trong nhà người ta có chứa những gì.”  Kafka tả, hai con ngựa cao lớn khỏe mạnh, nhưng ông không nói rõ ngựa màu gì. Koji Yamamura, đạo diễn Nhật, trong đoạn phim họa hình đã vẽ đôi ngựa màu đen.[ii]  Anh nài ngựa bỗng dưng ôm chầm lấy Rose thô bạo cắn vào má cô nàng đến rướm máu. Bác sĩ muốn đánh tên nài ngựa để cứu Rose nhưng lại sợ hắn không cho mượn ngựa và có lẽ cũng vì hắn cường tráng mà ông thì già yếu hom hem. Bác sĩ lên đường một mình vì tên nài ngựa tuyên bố ở lại để chiếm đoạt Rose. Đôi ngựa tự động mang bác sĩ đi đến một nơi quang đãng, xa mười dặm mà đi trong chớp mắt. Bệnh nhân là một cậu bé mười một tuổi, gầy gò xanh xao nhưng không bị sốt. Bác sĩ cho là bệnh của cậu không nguy hiểm và đôi ngựa thò đầu vào cửa sổ khiến Bác sĩ nghĩ đến Rose đang cần được ông cứu. Sau tiếng ngựa hí Bác sĩ tìm thấy bên hông của cậu bé có một vết lở to như cái hoa hồng, bên trong đóa hoa hồng này là những con dòi to bằng ngón tay út, đầu trắng và có nhiều chân. Dân làng tụ họp trước nhà bệnh nhân xông vào cởi quần áo của Bác sĩ và đặt ông lên giường của bệnh nhân vì ông không chữa được bệnh và phải bị giết, y như lời hát của một bài đồng dao. Bác sĩ ném quần áo ra cỗ xe ngựa ngoài cửa sổ và trốn về. Trên đường về Bác sĩ già trần truồng và hai con ngựa lê bước chậm chạp trong cơn bão tuyết.

Truyện ngắn Bác Sĩ Làng của Franz Kafka, thường được giới phê bình văn học cho rằng vì truyện giống như một giấc mơ nên khó phân tích một cách khoa học. Hai học giả Louis H. Leiter[iii] và Richard H. Lawson[iv] dùng phân tích tâm lý học của Freud và Jung để “giải mã” tác phẩm Bác sĩ Làng của Franz Kafka.

Con ngựa, biểu tượng tính dục của người đàn ông, đã chết trong đêm trước, tượng trưng sự cạn kiệt tình dục của Bác sĩ làng. Rose, cô hầu gái tượng trưng tính dục của người phụ nữ, đã cố giúp hồi sinh tính dục của ông chủ bằng cách đi mượn ngựa của láng giềng. Hai con ngựa xuất hiện từ chuồng heo là ước muốn khả năng làm tình được hồi sinh. Hai con ngựa nhìn vào phòng bệnh nhân từ cửa sổ tượng trưng cho hành động xâm nhập tình dục. Cậu bé bệnh nhân là một hình ảnh tương phản sự bất lực của Bác sĩ làng (già nhưng không đau yếu; và trẻ nhưng đau yếu trầm trọng). Sự kiện mất quần áo của Bác sĩ trong khi chạy trốn được xem như biểu tượng cho sự bị thiến bộ phận sinh dục (castration) và sự mệt mỏi của hai con ngựa khi trở về là nhận thức về sự bất lực của Bác sĩ làng.

Người viết vốn không tin là mọi tác phẩm đều có thể phân tích dựa trên căn bản tình dục như lý thuyết của Freud và Jung. Tuy nhiên, xin tóm tắt ý kiến của hai học giả để giúp vui độc giả.

Một độc giả bất kỳ nào đó (như tôi chẳng hạn) có thể phân tích tác phẩm như sau:

Kafka, ai cũng biết, bất hòa với người bố vì bị bố cấm viết văn. Viết văn, sự sáng tạo của Kafka, nguy hiểm cho tính mạng của tác giả trong chế độ độc tài. Văn chương như một đóa hoa đẹp, nhưng cũng nguy hiểm như vết thương lở lói đầy dòi lúc nhúc trên thân thể của cậu bé, và cậu bé là hiện thân của Kafka. Truyện ngắn “Bác sĩ làng” được Kafka viết với quan điểm của Bác sĩ làng, tượng trưng cho người bố của Kafka. Ước muốn và sự tự tin sẽ cứu được bệnh nhân, (tượng trưng cho ước muốn của người bố muốn cứu Kafka bằng cách khuyên bảo ông ngừng viết), biến thành hai con ngựa khỏe mạnh và đưa Bác sĩ đến gặp cậu bé trong chớp mắt. Con ngựa của Bác sĩ làng bị chết từ đêm trước ám chỉ người Bố không có phương tiện, hay không được phép đi thăm Kafka. Ông bố phải lén lút đi thăm Kafka do đó Bác sĩ làng phải đi trong đêm bão tuyết mịt mù. Khi đến nơi, biết là đứa con của mình mang cái nghiệp viết văn có thể nguy hiểm đến tính mạng, sự bất lực và tan nát tâm hồn của người bố được Kafka biểu hiện bằng cái trần truồng trong trời giá lạnh của Bác sĩ làng, và hai con ngựa trở nên mệt mỏi biểu hiện nỗi buồn của người bố phải cao bay xa chạy để tự cứu mình mà không cứu được con.

2. Con ngựa Frou-Frou[v] trong Anna Karenina của Leon Tolstoi

Mặc dù Vronsky và Anna đã yêu nhau và nhiều lần lén lút gặp gỡ nhau, chuyện tình của hai người chỉ bị khám phá sau cuộc đua ngựa của Vronsky. Giàu, đẹp trai, lịch thiệp, và là một kỵ mã tài hoa, Vronsky tham dự cuộc đua ngựa vượt qua các chướng ngại như rào cản và hào mương. Rất tự tin ở sức khỏe, lòng can đảm, cũng như tài cỡi ngựa của mình, nhưng Vronsky có chút ngần ngại vì chưa mấy quen với Frou-Frou, con ngựa sắp cùng chàng tham dự cuộc đua. Frou-Frou là con ngựa cái tơ màu nâu sậm, vẫn còn bị xem là “chưa hoàn hảo lắm.” Tuy nhiên “nàng” thuộc nòi giống có tiếng tăm và như thế là đủ để được bỏ qua mọi khuyết điểm khác. Trong khi đua ngựa này, do Vronsky không khéo điều khiển nên sẩy bước, lỗi nhịp khiến Frou-Frou ngã và gãy xương sống. Trông thấy Vronsky ngã ngựa Anna khóc và biểu lộ sự bấn loạn khác thường khiến Karenine đoán biết vợ mình ngoại tình với Vronsky.  

Theo hai học giả Martin Stevens[vi] và Hugh McLean[vii], Tolstoy đã dùng cái chết của Frou-Frou làm điềm báo trước vận mệnh u tối của Anna và mối đam mê của nàng dành cho Vronsky.

Qua cách dùng chữ của Tolstoy, độc giả dễ nhận ra, tác giả dùng Frou-Frou để ám chỉ Anna. Khi Vronsky gặp Frou-Frou trong chuồng ngựa, chàng nhận thấy đôi mắt của nàng “nổi bật, sáng rực và hào hứng,” còn thân hình của nàng “căng đầy nhựa sống nhưng lại rất mềm mại.” Mối quan hệ của Vronsky với Frou-Frou cũng rất gợi cảm. “Chàng càng đến gần, nàng càng trở nên rạo rực. Khi chàng đứng bên cạnh đầu của nàng, bỗng nhiên nàng trở nên đằm thắm hơn, cùng lúc ấy những sớ thịt của nàng run rẩy bên dưới lớp lông mềm mại như tơ.”

Vronsky quả là một người có sự nhạy cảm và con mắt quan sát của nhà văn. Với con ngựa chàng đã tinh tế như thế thì với Anna chàng càng tinh tế hơn. Vronsky bị Phu nhân Karenine thu hút ngay trong lần gặp gỡ đầu tiên khi nàng ngồi chung cỗ xe với mẹ chàng. Chàng nhận ra trên nét mặt nàng có một “vẻ mơn trớn mềm mại đặc biệt” và “đôi mắt của nàng sáng rực” và một “vẻ rạo rực được kềm chế.” Nét tương đồng của Frou-Frou và Anna cũng được Tolstoi miêu tả qua cách Kitty quan sát Anna, tình địch của nàng. Kitty nhìn thấy “ánh sáng lấp lánh run rẩy trong đôi mắt của Anna, nụ cười đầy hạnh phúc sự rạo rực một cách vô thức đang nở trên môi nàng, vẻ duyên dáng thật chín, và cử chỉ uyển chuyển nhẹ nhàng của Anna.”

Sự tương đồng của Frou-Frou và Anna Karenine qua cách miêu tả của Tolstoy không chỉ ngừng ở ánh sáng của đôi mắt, đường cong nét mềm của thân thể, hay một sự rạo rực ngấm ngầm trong đôi môi, sớ thịt. Trong một lần Anna bị ngã, Tolstoy đã miêu tả nét mặt của Vronsky như sau: “Nét mặt nhợt nhạt và hàm dưới run run chàng cúi xuống nhìn nàng” Và lúc Frou-Frou chết, Vronsky được miêu tả như sau: “Khuôn mặt bị biến dạng vì xúc cảm cực độ, nhợt nhạt và hàm dưới run run.” Frou-Frou cũng là tên thân mật của Gilberte, nhân vật trong vở kịch thịnh hành của Meilhac và Halévey ra mắt khán giả năm 1870. Những chi tiết của vở kịch này theo Stevens và McLean đã ảnh hưởng sâu đậm trong việc xây dựng nhân vật Anna Karenine của Tolstoy.

3. Con ngựa Rocinante của Don Quixote

Don Quixote sẽ không được xem là tác phẩm khôi hài bất hủ nếu chàng hiệp sĩ tấn công nhà máy xay lúa chạy bằng gió không có con ngựa gầy Rocinante. Trái ngược với vận mạng của Frou-Frou, con ngựa đua được chăm sóc cẩn thận nhưng lại chết dưới trôn của chủ, Rocinante của hiệp sĩ Don Quixote bị bỏ đói, bị đánh đập nhưng sống lâu hơn chủ.  Nói rõ hơn, tuy Don Quixote không yêu Rocinante kiểu Vronsky yêu Frou-Frou nhưng không phải ông hiệp sĩ khùng này ngược đãi súc vật. Rocinante bị bỏ đói vì chủ của nó cũng bị đói. Rocinante không bị chủ đánh đập mà bị những người vị hiệp sĩ tấn công.  

Khi mới vừa tự phong chức hiệp sĩ, Quixote gặp một đoàn thương gia Toledo đi bán lụa đang nghỉ chân. Quixote bắt họ phải tán dương sắc đẹp của Dulcinea. Khi một người trong bọn bảo rằng chưa từng gặp mặt làm sao biết thần tượng của Quixote đẹp đến mức độ nào thì Quixote nổi giận bảo rằng họ không kính trọng nàng do đó ông giục Rocinante tiến lên với một khí thế hùng hổ ngọn giáo chĩa lăm lăm. Nếu Rocinante gầy còm không ngã quị thì chắc lũ lái buôn phải có vài ba người bị toi mạng. Vì Rocinante ngã quị nên bọn lái buôn xúm vào đánh cả người lẫn ngựa một trận nhừ tử. Don Quixote không kém tài và chắc chắn là không hèn nhát, ông bị đánh chỉ tại vì Rocinante lóng ngóng vụng về.

Rocinante bị đánh và bị ngã nhiều lần nhưng không chết. Nếu trận đòn ấy là do Don Quixote khiêu chiến thì cũng có nhiều lần lỗi lầm đưa đến chỗ cả chủ lẫn tớ bị đánh đập hoàn toàn là tại Rocinante. Don Quixote cố gắng giữ tiết hạnh để biểu lộ lòng kính trọng với Dulcinea del Toboso, một phụ nữ nhà quê được ông đưa lên ngôi thần tượng. Học giả John Cull[viii] dựa vào học thuyết của Freud phân tích rằng sự tiết chế tình dục này được dùng để ám chỉ Don Quixote là người bị bất lực về mặt sinh dục. Don Quixote có cây giáo mòn lụt, và nhiều lần bị đối thủ bẻ gãy cũng là cách ví von sự bất lực của Quixote vì cây giáo là tượng trưng cho phallus hay “con cờ” của nam giới. Rocinante, con ngựa đực, được  xem là biểu tượng tình dục của đàn ông. Suy nghĩ theo chiều hướng trên, Rocinante là hình ảnh đối kháng của Don Quixote. Don Quixote ăn chay tình dục nhưng Rocinante lại rất khát tình. Và chính vì cái khát tình của Rocinante mà cả Don Quixote với Sancho, người hầu cận, bị một trận đòn tơi tả.

Sau khi đi mấy ngày đường đói và khát, Don Quixote và Sancho gặp một cánh đồng cỏ non mượt có con suối chảy ngang nước trong veo mát rượi. Sancho thả Rocinante trên đồng cỏ non, nghĩ rằng thường ngày Rocinante rất nhút nhát chắc chẳng quấy rầy ai. Trên đồng cỏ có một nhóm người yangueses đã đến trước và đang cho ngựa nghỉ ngơi. Rocinante lên cơn khát tình, nên thay vì gặm cỏ non và uống nước suối lại rượt đoàn ngựa tơ ponies của đám yangueses đòi cưỡi ngựa. Đám lái buôn đánh đuổi Rocinante đến độ chàng ngựa vừa gầy vừa già rớt hết “quần áo” yên cương chỉ còn lại thân hình trụi lũi. Nóng lòng vì Rocinante của mình bị đánh đập tàn nhẫn, hiệp sĩ Don Quixote ra lệnh Sancho phải cùng hiệp sĩ trả thù cho Rocinante. Sancho nhắc nhở cho chủ biết là “bọn chúng hơn hai mươi đứa, còn chúng ta chỉ có hai người, đánh làm sao lại họ mà đánh.” Tuy nhiên bản tính hiệp sĩ của Quixote đã chẳng chịu lùi bước trước sức mạnh nào nên Don Quixote xông lên và dĩ nhiên bị đánh cho một trận bò lết bò càng. May cho hiệp sĩ nhà ta là đã ngã bổ nhào nằm bên cạnh Rocinante. Vì hiệp sĩ nhỏ bé hơn Rocinante nên roi vọt đánh trúng Rocinante nhiều hơn đánh trúng hiệp sĩ. Tội nghiệp Sancho đã không được may mắn như thế. Vẫn biết Rocinante phạm tội “dê,” nhưng theo cái kiểu con hư là tại cha mẹ, vì thế Don Quixote phải bị vạ lây. Nếu không có Rocinante độc giả sẽ không có cơ hội mà mỉm cười.

Bên cạnh cây giáo, cánh tay của Don Quixote cũng được xem là biểu tượng của phallus.  Quixote thường khoe sức mạnh của cánh tay, nhưng khi hữu sự cánh tay của hiệp sĩ thường trở nên bất lực. Maritornes và con gái của vị chủ quán đã đùa cợt với Quixote khi ông đến trú ngụ. Hiệp sĩ e ngại hai vị nữ lưu sẽ lợi dụng xâm phạm tình dục ông. Tuy nhiên vốn bản tính hiệp sĩ hay chìu ý phụ nữ, Quixote nghe lời dụ dỗ của hai nàng nên thò cánh tay vào một cái lỗ trong nhà chứa rơm. Hai nàng tinh nghịch cột cổ tay của ông và để ông tay bị treo lủng lẳng. Quixote mỏi quá phải dựa vào Rocinante tuy nhiên con ngựa đã chạy theo cơn khát tình mà bỏ ông chủ lại. Đây cũng là một ẩn dụ tình dục John Cull đã nhìn theo phương pháp Freud và sự có mặt của Rocinante làm tăng thêm phần khôi hài của tác phẩm.

4. Con ngựa Boxer trong Animal Farm (Trại Súc Vật) của George Orwell

Nếu nhắc đến con ngựa trong văn học, mà không nói đến bầy ngựa trong Trại Súc Vật của Orwell thì là một thiếu sót lớn lao, bởi vì bầy ngựa này, đặc biệt là Boxer, tượng trưng cho người dân sống trong chế độ độc tài. Trong Trại Súc Vật, có đôi vợ chồng Boxer và Clover thuộc loại ngựa kéo (kéo xe hay kéo cày), Mollie là loại ngựa kiểng (nuôi để đi thi ở các cuộc thi giữa các nông trại), và Benjamin (nửa ngựa nửa lừa). Boxer màu đen, to lớn, cao hơn một mét tám, có sức khỏe bằng hai con ngựa bình thường. Mặc dù dáng dấp đồ sộ, Boxer bị xem là ngu ngốc bởi vì Boxer có một vệt lông trắng chạy dài trước đầu. Clover như một phụ nữ to béo sau khi sinh bốn đứa con. Mollie là một cô nàng ngựa trẻ, màu trắng, đỏm dáng với cái nơ buộc trên bờm. Thường bị xem là phù phiếm, nhẹ dạ, lười biếng, ích kỷ, ngu ngốc vì chỉ biết có một mẫu tự. Thật ra cả bầy ngựa không ai biết nhiều chữ, chỉ Benjamin loài người thường mắng là ngu như lừa lại biết chữ, có thể đọc nguyên câu văn.  Về sau khi Napoleon và lũ heo chó thay đổi luật lệ để có thể thao túng quyền hành và giết hại “dân chúng” trong trại, Benjamin chính là “người” đọc luật cho Clover nghe.

Boxer, như một người nông dân anh hùng, đã chung vai sát cánh với lãnh đạo để chống chọi với “kẻ thù” loài người. Chính Boxer là kẻ đã hạ gục một kẻ thù bằng cách đứng lên bằng hai chân sau, dùng hai chân trước, có bọc móng sắt bổ xuống đầu Foxwood khiến hắn ngã lăn quay ra chết giấc. Boxer hạ kẻ thù một cách quang minh chính đại, bất cứ ngón đòn nào, dù đá đạp đấm đánh đều ra chân trước mặt chứ không đánh từ bóng tối như loài người. Trong khi Boxer và các loại thú anh dũng chiến đấu kẻ thù thì Mollie trốn trong chuồng của nàng, vùi đầu vào máng rơm. Nàng chạy trốn ngay lập tức khi nghe tiếng súng của kẻ thù.

Độc giả dễ có ác cảm với Mollie. Khi lãnh đạo bàn chuyện làm cách mạng, Mollie hỏi ngay là khi cách mạng xong rồi cô ta có còn được ăn đường và được đeo nơ không. Khi mọi người phải từ chối mọi xa hoa phù phiếm để ủng hộ cách mạng thì Mollie mang tất cả lạc thú của cô ta đem dấu dưới đống rơm. Và khi toàn trại súc vật được ra chỉ thị phải căm ghét, và không làm nô lệ cho kẻ thù, thì Mollie có cử chỉ thân thiện với loài người. Mollie chối rằng không theo loài người để phản bội loài vật, nhưng “người ta” nhìn thấy Mollie đứng giữa hai gọng của xe kéo, nhăm nhi đường, bờm có gắn nơ, và được người ve vuốt.

Ann Patchett, trong bài tiểu luận giới thiệu Trại Súc Vật, đã bênh vực hành động của Mollie. Patchett cho rằng dù Mollie làm nô lệ cho loài người thì đó là hành động chọn lựa. Do sự chọn lựa đó Mollie tránh được nỗi đau lòng khi bị đồng bọn phản bội. Người ta có thể cho rằng lựa chọn hạnh phúc của Mollie là một hành động hèn mạt, vì nàng không chịu sống theo gương mẫu của người khác đặt ra, nhưng Patchett cho rằng, vào thời buổi của Trại Súc Vật, đạt được hạnh phúc mà không lợi dụng công lao của đồng loại nên được xem là một sự vẻ vang.

Boxer là điển hình cho một mẩu công dân, hiền lành, chân thật, yêu thương đồng loại, tôn trọng luật pháp. Boxer cũng như nhiều người dân khác đã quá tin vào giai cấp lãnh đạo, để tư tưởng của họ bị kềm chế và bị đưa đến con đường hủy diệt. Bất cứ vấn đề gì xảy ra, Boxer chỉ biết nai lưng lao động, không ngờ sự hy sinh của mình chỉ phục vụ giai cấp thống trị và tiếp tay họ làm cho tình trạng xã hội trở nên tệ hại hơn.

Ngựa chiếm một vị trí rất lớn trong huyền thoại, văn học và phim ảnh Tây phương. Từ con ngựa trắng Pegasus trong huyền thoại Hy lạp đến con ngựa đen trong Black Beauty hay Black Stallion. Ngựa không những để kéo cày mà con dùng để kéo những cỗ đạn pháo nặng nề, hơn một triệu con ngựa khỏe được dùng để phục vụ Thế chiến thứ Hai. Sức khỏe, lòng trung thành và sự khôn ngoan của Joey được trân trọng trong phim War Horse của Speilberg. Tình bạn giữa người và ngựa dù chết cũng không chia xa như White Mane. Ngựa được Trịnh Công Sơn dùng để miêu tả một người nghệ sĩ rong chơi như “Đời vẽ tôi tên mục đồng, rồi vẽ thêm con ngựa hồng, từ đó lên đường phiêu dong.”  Ngựa đủ thông minh để được huấn luyện nhảy múa theo điệu nhạc phục vụ khán giả. Mấy mươi năm qua, những con ngựa trong Trại Súc Vật của George Orwell, trong Anna Karenina của Leon Tolstoy, trong Don Quixote của Miguel de Cervantes, trong the Country Doctor vẫn còn đáng cho chúng ta chiêm ngưỡng và suy ngẫm.

[i] Vết Thù Trên Lưng Ngựa Hoang của Ngọc Chánh và Phạm Duy.

[ii] https://www.youtube.com/watch?v=ZDjmW-gIsKs

[iii] Leiter, Louis, “A Problem in Analysis: Franz Kafka’s A Country Doctor.” The Journal of Aesthetics and Art Criticism, Vol. 16, No. 3 (Mả., 1958), pp. 337-347.

[iv] Lawson, Richard, “Kafka’s Der Landarzt.” Monatshefte, Vol. 49, No. 5 (Oct., 1957), pp. 265-271.

[v] Wikipedia dùng chữ Fru-Fru.

[vi] Stevens, Martin, “A Source for Frou-Frou in Anna Karenina,” Comparative Literature, Vol. 24, No. 1 (Winter, 1972), pp. 63-71.

[vii] McLean, Hugh, “Correspondence: On Horses, Adulteresses, and Tolstoy.” Comparative Literature, Vol. 24, No. 3 (Summer, 1972), pp. 285-286.

[viii] Cull, John, “The ‘Knight of the Broken Lance’ and his ‘Trusty Steed’: On Don Quixote and Rocinate,” Cervantes: Bulletin of the Cervantes Society of America 10.2 (1990): 37-53

Nguyễn thị Hải Hà

Lời tình tự của hồ Surprise

Tôi chẳng còn nhớ mình đã có mặt nơi đây từ bao giờ, chỉ biết là mình đủ già nua để thấy chung quanh mình vạn vật đều trẻ hơn. Mới nghĩ thế đã nghe rừng cây rì rào. Giữa bà và chúng tôi chưa chắc ai đã già hơn. Người ta đặt cho tôi cái tên Hồ Ngạc Nhiên bởi vì tôi bỗng xuất hiện thình lình trong mắt của những người đi rừng. Tôi bị rừng cây che lấp, lối đi quanh co khúc khuỷu, chỉ khi người đi rừng đứng cạnh bên tôi mới ngạc nhiên nhận ra có một cái hồ, do đó tôi có cái tên, Hồ Ngạc Nhiên.

Tôi đã chứng kiến bao nhiêu thay đổi của mùa màng trời đất. Trời xanh và rừng cây thay màu sắc từng mùa soi bóng trong mắt tôi.

Tôi nuôi dưỡng dung chứa trong lòng bao nhiêu là loài vật, cá ốc, ếch nhái, côn trùng. Đàn chim đến theo mùa, bơi lội ca hát. Ông già cô độc, blue heron, đến rồi đi rồi lại đến. Nhà tôi luôn mở cửa đón ông.

Tôi chứng kiến bao nhiêu cuộc tình. Họ ngồi gần bên hồ, thủ thỉ tâm tình. Họ hôn nhau. Họ chia tay nhau. Họ là những đôi tình nhân, có tuổi và không có tuổi. Có những người mới yêu nhau lần đầu. Và cũng có những người yêu vụng trộm. Loài người vô tình vô tâm, không hề ngờ rằng khi họ nhúng tay nhúng chân vào nước là tôi rút ra từ họ, hay họ chảy vào trong tôi những tình tự thương yêu cũng như buồn thương chất ngất. Thậm chí, họ chỉ cần soi bóng, hay ở gần đủ để tai tôi nghe tiếng của họ, là tâm tình của họ tuôn chảy vào trong tôi. Và tôi ấp ủ nỗi niềm của họ như chính nỗi niềm của riêng tôi.

Đôi lứa yêu nhau không phải chỉ có người với người, thú vật với thú vật, mà nhiều khi tôi chứng kiến tình yêu giữa người và thú vật. Bao nhiêu người dẫn chó đến đùa nghịch với nước trong hồ. Chỉ cần nhìn mấy con chó lao vào trong nước ngoạm cho được trái banh hay cành cây chủ ném, sung sướng mang quà về cho chủ cũng đủ cho tôi thấy lòng vui lây. Tôi hạnh phúc với cái hạnh phúc của người. Tôi cũng hạnh phúc với cái hạnh phúc của những con chó nô đùa với nhau trong nước của hồ tôi.

Có vui nhưng cũng có buồn. Có một lần tôi buồn mãi khôn nguôi. Có một con mèo chẳng hiểu vì sao lại sống hoang trong cánh rừng kề sát bên hồ. Nó đói đến không còn đi nổi, không còn săn nổi. Nó đi chậm chạp đến gần hồ, uống nước nhưng không thể bắt chim hay ếch nhái. Cá ốc trong hồ rất nhiều nhưng loài mèo bạn biết mà, không hề dám xuống nước. Sau đó nó bỏ đi, có lẽ tìm một cái hốc nào đó, rừng mà, hốc đá thiếu gì, và sẽ ngủ giấc nghìn thu.

Niềm vui nỗi buồn chảy vào trong tôi, biến thành rong, thành bèo. Sống trên mặt nước hồ tôi có một loài thủy thảo, lá to, có hoa như quả banh golf màu vàng. Người ta bảo rằng nó cùng họ với hoa súng lily, gọi nó là pond lily hay cow lily. Tôi chẳng hiểu vì sao lại gọi nó là cow lily, có lẽ giống cái chuông đeo ở cổ bò, chứ đã là lily thì phải ở trong nước của hồ pond hay lake thì cũng thế nên gọi là pond lily nghe cũng không thuận tai cho lắm.

Các nàng pond lily màu vàng như narcissus và cũng đỏm dáng tự kiêu chẳng kém gì vị thần đẹp trai hay soi dáng tự chiêm ngưỡng mình qua mắt hồ. Cả tháng nay tôi buồn bã xót xa vì các nàng pond lily trở nên héo rũ tàn tạ. Các nàng khóc tỉ tê với nhau giữa tiếng ve mùa hạ râm ran. “Chúng mình sống ở đây, kết bè kết bạn ở đây, làm chỗ trú ngụ cho cá những khi nắng hè gay gắt. Rắn rùa cũng có thể nương thân trong bóng mát của bọn mình. Và chuồn chuồn thì vô số đuổi nhau thành đàn, bay bay lượn lượn, chốc chốc lại sà mình chấm đôi chân vào mặt nước làm duyên. Mình chẳng làm hại gì đến họ mà họ lại rải thuốc tiêu hủy mình. Mỗi ngày một chút mình nhìn tay chân tóc của mình khô héo quắn lại và chìm xuống nước.” Các cô khóc với nhau, Tôi xót xa biết là những cô nàng xinh đẹp kia sắp chết ngay trong lòng tôi.

Cùng với cái chết của các nàng pond lily là những cái chết thầm lặng hơn. Những loài cá, rắn, rùa, ếch nhái, có con chết, có con bỏ đi. Loài mallard vịt cổ xanh, loài vịt nâu, loài ngỗng hoang sẽ đi không trở lại. Loài vật hoang dã rất khôn ngoan có thể ngửi được mùi chết chóc của chất độc loài người rải vào trong nước hồ tôi.

Tôi hằng tự hào mình mang sự sống cho muông thú. Tôi bây giờ nặng trĩu nỗi buồn với cái chết của cây lá và thủy vật nương nhờ trong tôi. Cái chết của chúng làm tôi chết theo dần dà từng ngày và từng giây phút.

Pond lily, như mái tóc xanh và hoa vàng làm duyên của tôi, đã bị phai tàn. Loài người nhân danh bảo vệ cái gì đó có tên môi trường đã hủy hoại tôi và bạn bè tôi.

Mèo hoang

Mèo Anh
Mèo Mun
Mèo Bố

Bây giờ, đến ăn còn bốn con mèo hoang.

Con mèo có vằn lớn, vằn trắng và vàng sậm, tôi gọi là con mèo Bố. Gọi đại như thế vì tôi nghĩ nó là bố của con mèo Anh, màu vàng nhạt, chấm vàng sậm. Mèo Bố to béo, dạn dĩ, lúc nào cũng bắt nạt con mèo Anh. Mèo Bố chắc là có chủ nuôi. Con mèo này chỉ mới đến sân nhà tôi gần đây thôi, độ một năm trở lại. Nó đến đi cặp kè với con mèo mẹ, tôi đặt tên Ginger, sinh ra một loạt năm con mèo con hồi năm ngoái. Tất cả mèo con đều có vằn trắng và vàng nhạt hay chấm nâu. Tất cả 5 con mèo con đều là mèo đực.

Ba con mèo con, mặt có vân trắng, xinh nhất, thân thiện nhất tôi bắt giao cho cơ quan quản lý thú hoang, với hy vọng chúng được đem cho người thích nuôi mèo nhận làm con nuôi. Hai con mèo còn lại, mèo Anh và mèo Út, cũng bị bắt giao cho cơ quan quản lý thú hoang, được chích ngừa và triệt sản rồi trả lại cánh rừng sau nhà tôi. Mèo Anh có chấm trắng ngay dưới cổ. Trong loạt năm con mèo con, mèo Anh xấu xí nhất. Mèo Út thì có màu nâu với những đốm nâu sậm hơn. Mèo Út chậm chạp yếu ớt, hay bị mẹ bỏ lại với mèo Anh khi mèo mẹ dắt ba con mèo to hơn, khôn hơn, nhanh nhẹn hơn đi chơi hay đi kiếm ăn ở một chỗ nào đó. Khi đám mèo con còn bé, mỗi lần thấy có gì bất ổn, mèo mẹ tha từng đứa con đến chỗ an toàn hơn, đó là sân sau nhà tôi, lúc đó tôi đi chơi xa ở đâu đó nên sân sau càng vắng hơn không có người ra vào. Nói là mèo mẹ dẫn đi nhưng thật ra có lẽ mèo mẹ trốn đi và ba con mèo con khôn ngoan ngay lập tức đi theo mẹ.

Sau khi tôi đi chơi sáu tuần về, thì con mèo Út biến mất. Con mèo này tôi thấy tội nghiệp nó khờ khạo yếu ớt nên thường chăm chút nó cẩn thận. Lâu ngày nó trở nên dạn dĩ, đến gần tôi, và để cho tôi ôm vào lòng nựng nịu. Có lẽ vì thân thiện với loài người nên có người nào đó bắt đem về nuôi. Tôi muốn nghĩ rằng con mèo út có số phận tốt đẹp. Vì mèo Anh và mèo Út thường bị bỏ lại phía sau, chơi thân với nhau hơn, hai con thường đùa giỡn vật lộn quấn quít với nhau. Khi mèo Út biến mất, mèo Anh buồn bã một thời gian khá lâu.

Mèo mẹ, Ginger, vẫn đến ăn nhưng không thường xuyên. Ginger mặt có đốm trắng hai bên má, và một bên khóe mắt có vết trầy rất sâu. Khi còn nuôi con, Ginger nhường cho con ăn nhưng bây giờ con đã lớn, Ginger không nhường nữa. Mèo Anh chộn rộn đến gần là bị Ginger tát ngay cho một cái, gầm gừ dữ tợn. Mèo Anh rất sợ Ginger luôn nhường và tránh ra chỗ khác không dám đến ăn. Và cũng chính vì mèo Anh luôn bị bắt nạt mà tôi đâm ra tội nghiệp chăm cho nó ăn nhiều hơn. Tôi cố chụp ảnh Ginger nhưng nàng chạy thoát.

Sau khi tôi viết bài này vài hôm sau tôi chụp được ảnh Ginger nên đăng thêm vào đây. Ginger và mèo Anh rất giống nhau, nếu không nhìn quen sẽ không phân biệt được. Mặt của mèo Anh gầy hơn, lông màu hơn sậm hơn, ngay ở cổ có đốm lông trắng, hai bên má mèo Anh có màu sậm còn Ginger chung quanh mồm có màu trắng, cái vân trên trán rõ nét hoa văn hơn. Nếu nhìn từ sau lưng sẽ khó nhận ra hơn.

Vì được cho ăn riêng nên mèo Anh trở nên thân thiện với tôi hơn. Một ngày ba bốn lần đến đưa đầu cho tôi vuốt với hy vọng được tôi cho ăn thức ăn mềm có mùi cá hồi. Từ khi bắt đầu nuôi mèo, Nora được cho ăn loại hạt khô có mùi cá hồi. Có một dạo nàng bị ốm bỏ ăn, tôi mua thức ăn hộp, loại mềm có mùi cá hồi để dụ nàng ăn. Sau đó thì Nora không chịu ăn thức ăn hạt khô nữa. Có những hôm Nora chê thức ăn tôi đem cho mèo Anh ăn và từ đó mèo Anh đâm ra ghiền thức ăn mềm. Có khi không chịu ăn thức ăn khô cứng chỉ chờ được ăn thức ăn mềm.

Con mèo đen có nhiều tên. Tôi gọi nó là ông Inky, ông Mực, ông Đen, ông Mun. Nó là con mèo hoang lâu nhất. Trước Inky tôi có nuôi một con mèo hoang tên Boyfriend, loại mèo tuxedo, cổ có nơ đen, bốn chân có đeo găng đen, và bụng mặc áo trắng. Ông Mun này rất hoang, rất khỏe, và khá dữ. Ông đến rượt Boyfriend chạy mất. Con mèo Bố đến, ông Mun và mèo Bố đánh nhau, đến bây giờ vẫn chưa phân định hàng ngũ. Tôi không ưa mèo Bố vì nó dữ tợn và nghĩ rằng nó có chủ nuôi, không cần ăn. Mèo Bố mỗi lần đến là đái vào sân nhà tôi để đánh dấu lãnh thổ khiến sân nhà tôi nồng nặc mùi nước tiểu mèo.

Ban đầu tôi cũng không thích ông Mun vì ông xấu xí và dữ tợn; Tuy nhiên, ông Mun luôn luôn dịu dàng với Ginger và hòa đồng với mèo Anh. Ông Mun cẩn thận tránh xa loài người, đến ăn nhưng không đến gần. Một đôi lần thấy mèo Anh ăn thức ăn mềm, ông mon men đến thử. Dĩ nhiên mèo Anh dạt qua một bên để ông ăn. Bây giờ thì ông cũng ghiền thức ăn mềm. Ánh mắt của ông luôn hỏi tôi, tại sao con mèo kia được ăn ngon mà tôi thì lại không được đối đãi như thế. Sáng sớm, hay chiều tối, ông loanh quanh sau nhà tôi để canh có khi nào tôi đãi mèo Anh một bữa ăn ngon thì ông cũng được hưởng theo, bằng cách ăn thức ăn của mèo Anh. Tôi cẩn thận ngồi chờ mèo Anh ăn được phân nửa mới vào bên trong bởi vì biết ông Mun sẽ đến dành ăn sau khi tôi vào nhà.

Rõ ràng, loài mèo có trí khôn, biết thức ăn nào hợp khẩu vị của chúng. Biết cách khơi động sự tội nghiệp của loài người. Có lẽ nhờ thế mà loài mèo tồn tại chăng?

Chim xấu chim đẹp

Rồi thì mùa hè cũng trở lại New Jersey. Cả tuần nay nhiệt độ ngày nào cũng chín mươi mấy, suýt soát một trăm độ F. (98 độ F gần bằng 40 độ C.) Tối hôm qua mưa một trận to, sáng nay trời đỡ nóng. Nhưng mà hôm nay vẫn còn nóng. Dự báo thời tiết ngày mai sẽ xuống chỉ còn khoảng tám mươi hơn chưa đến chín mươi độ F. Có nóng một chút mới thấy mùa hè chứ. Từ bây giờ đến tháng Chín số ngày nóng sẽ càng lúc càng nhiều. Nóng vậy mà buổi tối vẫn còn đom đóm bay lấp lóe chung quanh nhà, nhất là gần bụi trúc.

Con chim này hót véo con, đối qua đáp lại với bạn của nó ở một chỗ nào đó, tôi rình chụp ảnh được nàng này. Thật ra chẳng biết chàng hay nàng. Không thấy màu sắc rực rỡ nên đoán đại là chim mái.

Chúng ta, loài người, thường yêu thích loài chim. Chim khá gần gũi với đời sống con người nên được đưa vào thi ca không ít. Mộc mạc như ca dao thì có:

Chiều chiều chim vịt kêu chiều,
Bâng khuâng nhớ mẹ chín chiều ruột đau.

Khi xa nhau người ta dùng chim để ví von:

Tìm anh như thể tìm chim,
Chim bay biển bắc em tìm biển đông.

Con chim chết cũng gợi lên một hình ảnh đẹp.

Con chim chết dưới cội hoa,
Tiếng kêu rụng giữa giang hà xanh xao. (thơ Phạm Thiên Thư)

Vỏ trứng của chim robin. Thấy nó tự nhủ có lẽ đây là kết quả tốt đẹp. Trứng nở ra chim còn lại vỏ trứng bị chim lấn ra khỏi tổ cho đỡ chật chội.
Đàn ngỗng Canada bơi thành hàng trên hồ Watchung. Sát mé nước là bãi cỏ, nơi này thường đậu rất nhiều chim kên kên. Khuất sau bụi cây um tùm là một căn nhà nhỏ loại cottage nơi có rất nhiều chim kên kên tụ về, kể cả ở mặt trước của nhà này.

Chim, từ loại to lớn như con cò stork mang biểu tượng của “người” đem giao hạnh phúc. Hạnh phúc này là những đứa trẻ sơ sinh được cò mang trong bọc thả xuống nhà của người đàn bà trẻ sắp có con.

Cò ở Việt Nam nhỏ hơn con cò stork. Có nhiều loại cò, loại cò thường nhìn thấy bay là là trên những cánh đồng miền Bắc và miền Trung có mỏ hơi khoằm là loại cò quéo. Con cò Việt Nam là hình ảnh của người mẹ vất vả nuôi con.

Con cò mà đi ăn đêm,
Đậu phải cành mềm, lộn cổ xuống ao.

Chim lớn từ loại hồng hạc flamingo đến hoàng hạc trong Đường thi cổ tích được ca tụng hết lời. Chim nhỏ ngay cả những con chim sẻ già hom hem cũng được đưa vào bài hát đánh dấu một mối tình đã mất hay đã chết. Chim như loại sếu đầu đỏ ở Hokkaido khi nhảy múa được quay phim lồng nhạc và được xem đó là điệu vũ thiên thai. Ngay trong sân nhà tôi thường nhìn thấy blue jays, cardinals, và loài chim gõ kiến đầu đỏ cũng đẹp. Nói gần nói xa, chẳng qua nói đại, là loài chim nào người ta cũng thấy đẹp. Trừ con chim kên kên.

Đây là mặt trước của ngôi nhà. Những lần đi bộ khác tôi thấy có một người đàn bà, trạc tuổi tôi, tưới nước cho cây và quét dọn sân. Trong ảnh này bạn sẽ thấy ba con chim kên kên. Một con đậu trên nóc xe và hai con đậu ở hàng hiên.
Ảnh hai con kên kên trong sân nhà. Đây có lẽ là loại turkey vulture. Hình dáng na ná như con gà tây (gà lôi)

Kên kên, có người gọi là kền kền. Với tôi, kên kên luôn gợi một cảm giác bất trắc, bất an. Mỗi lần nhìn trên trời thấy kên kên đảo cánh, là biết gần đó có một cái xác của con vật nào đó như nai, chồn, sóc. Kên kên không phải là loại săn mồi, nó chỉ tìm ăn xác chết hoặc con vật nào đó gần chết. Tôi nhớ mang máng một dân tộc nào đó có tục lệ điểu táng. Người chết được mang lên núi cao, có một vùng đất riêng, để thi thể cho chim “chôn cất.” Loại chim đi “chôn” người chết này có lẽ là kên kên?

Kên kên, vì thế, trong trí óc tôi là loại chim sống hoang dã. Không hiểu vì sao chúng lại tụ vào ở ngay trong sân nhà của người ta. Ở cả mặt trước lẫn mặt sau. Có lẽ vì chủ nhà cho chim ăn? Mấy con kên kên này đậu khắp nơi. Chúng đậu đầy trên những nhánh cây cao xa tít, trên mái nhà lân cận.

Tôi vẫn tự hỏi, tại sao mình thấy những con chim kia đẹp riêng kên kên thì lại thấy nó xấu?

Hai loại chim (vịt) khác ở trên hồ Watchung. Đang chụp con brown duck (vịt nâu) thì con mallard duck bay sà vào khung ảnh. Trước đó có đàn ngỗng Canada hạ cánh rất đẹp mắt nhưng chụp không kịp.
Ảnh này thì chẳng liên can gì đến chim, ngỗng, vịt, hay kên kên, nhưng cho nó vào cho có màu sắc.

Quay lại nhìn Mai Châu

Thích chụp ảnh có cái lợi là sau khi đi ngang một vùng đất nào đó, xem lại những tấm ảnh bạn chụp sẽ giống như quay lại ngắm chốn ấy thêm một lần nữa. Đây là căn hộ tôi ở lúc đến chơi ở Mai Châu (mãi hồi tháng Ba cơ). Cái thích được ở trong một ngôi nhà đẹp của tôi thật là trẻ con. Hai cô con gái của tôi lần đầu tiên được ở trong một khách sạn đẹp đã không chịu ra về. Bảo rằng ở đây đẹp quá, nhà mình không đẹp nên không muốn về. Lúc đi chơi Tam Cốc thấy mấy căn bungalow đẹp tôi đã thầm ước, ước gì mình ở đó một đêm.

Hai người mặc áo đỏ là hướng dẫn viên. Cậu trẻ người gầy hơn là phụ tá cho cậu kia. Điều đáng mừng là đội ngũ hướng dẫn viên đưa người ngoại quốc đi thăm các vùng quê ngoài Bắc đều có công lực nói tiếng Anh rất thâm hậu. Các cậu này nói tiếng Anh giỏi hơn cậu hướng dẫn viên đưa tôi và ông Tám đi Siem Reap và Pnom Penh. Cậu phụ tá nói tiếng Anh giọng chuẩn như người sinh ra lớn lên ở Anh, Mỹ. Cậu hướng dẫn viên chính mua cái mũ kiểu của người H’Mong sau khi thấy ông Tám đội mà không mắc cỡ 🙂 Cô gái đội mũ xanh lá cây người Đức, đi vòng quanh thế giới một mình rất nhiều nơi và nhiều năm. Đi từ khi cô mới mười ba tuổi. Cô kể những chuyến du lịch một mình của cô thật là thú vị và cũng khá nhiều bất trắc. Cậu người Mỹ và cô gái Canada này quen nhau ở Nhật. Người Nhật khoảng hai thập niên gần đây thuê người dạy tiếng Anh cho dân Nhật rất nhiều. Những người nói tiếng Anh ở các nước, đặc biệt là người Á châu, thường được tuyển chọn vào chương trình dạy tiếng Anh ở Nhật. Cậu Mỹ và cô Canada gặp nhau ở Nhật và cùng rủ nhau đi du lịch ở VN. Cả hai đều thích du lịch thế giới, dùng Nhật làm điểm trung tâm, điểm gốc và từ đó đi các nước Á châu. Ngày đầu thấy cả hai còn ngại ngần, nhưng sang ngày thứ hai thì có vẻ như là đôi uyên ương.

Cậu mặc áo đỏ đội nón kiểu baseball là hướng dẫn viên người địa phương. Đây là vùng có đa số là người Thái trắng. Cậu chưa đầy ba mươi và đã có hai hay ba con.

Người ta thường đốt nhánh cây vụn trong rừng, một là dọn rác, hai là dùng tro để làm phân bón. Sáng sớm ở đây, khói bếp lẫn vào chung với sương sớm đi đâu cũng thấy bầu trời ngà ngà đục, mà nhớ câu hát khói lam chiều lên chơi vơi. Không phải khói chiều, nhưng cứ nhớ quàng xiên như thế. Người ta bảo rằng ngày còn chiến tranh người ta thường nấu cơm vào buổi sáng sớm hay chiều tối để không bị phát giác và đánh bom.

Leo tuốt lên núi cao rồi nhìn xuống thung lũng nơi có con sông lượn lờ quanh làng, “làng tôi có cây đa cao ngất từng xanh, có sông sâu lờ lững vờn quanh, êm xuôi về Nam.” Nhìn kỹ bạn sẽ thấy có người làm ruộng mặc cái áo màu hồng, nhỏ như cái chấm hồng giữa vạt màu xanh.

Ở đây sương khói mờ nhân ảnh.

Một thửa ruộng bậc thang.

Ruộng ai thì nấy đắp bờ.

Duyên ai nấy gặp đừng chờ uổng công

Dẫn nước về làng.

Đầu lâu và sừng trâu.

Gùi rau rừng.

Một người phụ nữ đang làm ruộng có nụ cười tươi tắn. Nàng rất dạn dĩ hoạt bát. Thấy tôi chụp ảnh nàng nói ở đây chỉ toàn núi rừng và ruộng, xấu lắm có gì đâu mà chụp ảnh. Nói đùa với cánh đàn ông thôi thì ở lại đây giúp chúng tôi làm ruộng làm vườn. Hỏi tôi là gì của ông Tám tôi nói là chị, nàng tin ngay. Bảo rằng chị em giống nhau đấy.

Mấy cái ống điếu rất đẹp. Cậu Mỹ mua một cái túi xách to bằng vải thổ cẩm, và hai cái ống điếu này, một để chưng trong nhà, một để tặng. Bảo rằng để chưng trong nhà là dễ bắt chuyện với khách đến chơi, và cậu thỉnh thoảng cũng hút thuốc lào một điếu.

Bà cụ ăn trầu, răng đen nhánh. Nhà bà có cái gác ở trên. Bên dưới là chỗ dệt và bán hàng. Bên trên để ngủ và nấu ăn.

Bên trên gác, chỗ nấu ăn và phòng ngủ.

Quả dứa rừng