Vẫn còn mùa hạ

Tuần trước tôi kêu rêu, giã từ mùa hạ. Tưởng đã tiễn đưa mùa hạ với “See you in September”, không ngờ ngay hôm sau trời nóng đến 34 độ C. tương đương với 94 độ F. Sáng nay trời bớt nóng nhưng nhiều mây.

Mùa hạ là mùa sen. Thi nhân đã viết, hạ thưởng lục hà trì (mùa hè có thú vui là thưởng ngoạn ao sen chắc ngắm sen một hồi nóng bức nhảy ùm xuống tắm luôn). Lại có nhà thơ khác viết, bây giờ mùa hạ sen nở tốt, một chị hai chị cũng như sen, khuyên nốt em trai giòng lệ sót (Tống Biệt Hành – Thâm Tâm). Trong trí nhớ của tôi là chữ tốt, nhưng trên mạng thấy viết là sen nở nốt. Ngạc nhiên một chút, chữ tốt thì không hay, nhưng chữ nốt thì lập lại ở câu dưới. Mà tôi thì không thể tin tưởng vào trí nhớ của tôi.

bây giờ mùa hạ sen nở tốt
Bây giờ mùa hạ sen nở nốt (Tống Biệt Hành – Thâm Tâm)

Hôm kỉa hôm kia, chị dâu đến thăm. Tôi đưa chị đi New York dạo vườn Bách Thảo sau khi đưa chị đi xem World Trade Center mới và Ground Zero. Thật may gặp lúc hoa sen của vườn Bách Thảo đang nở. Tôi chụp một mớ ảnh hoa sen vì trong trí nhớ vẫn còn in đậm những tấm ảnh hoa sen nàng Tống Mai chụp. Về nhà xem ảnh hoa sen mình chụp thấy vụng về đến buồn cười.

Người ta nói bắt chước là một hình thức của sự khen ngợi ở đỉnh cao nhất. Tôi bắt chước cái nhìn của Tống Mai nhưng đáng tiếc, tài nghệ non kém, nên chỉ được như thế này. 🙂

còn lại đôi ba cánh còn nhớ phương nào hoa đã rơi
[…]Còn lại đôi ba cánh. Còn nhớ phương nào hoa đã rơi (Đoàn Chuẩn – Từ Linh)
bóng sen
Như dàn trumpets
chuồn chuồn trên cọng ngó sen
Tạm dừng cánh

Tôi mãi chú ý đến hoa sen nên không chú ý đến một vẻ đẹp khác không kém phần lộng lẫy, đó là hoa súng. Tại sao người mình quí hoa sen hơn hoa súng nhỉ? Sen thì được đưa lên bàn thờ, được đề nghị dùng làm quốc hoa, được ca ngợi tượng trưng cho người quân tử gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn. Hoa sen có hương thơm không? Dạo sau này thấy trên mạng có nhiều tấm ảnh hoa súng rất nghệ thuật, có phải người mình đã nhận ra vẻ đẹp của loại hoa dân dã này chăng? So ra màu sắc của hoa súng lộng lẫy hơn hoa sen. Và tôi thích ăn cọng súng chấm mắm kho hay nước cá kèo kho. Nhớ mấy chục năm về trước tôi giận lẫy má tôi, không về nhà, đến nhà cô bạn học Trung học (Trần thị Hồng), được má bạn cho ăn cơm với bông súng chấm nước cá kèo kho. Ngon đến bây giờ vẫn còn nhớ. Và có lẽ vì kỷ niệm này, tôi luôn nghĩ đến Hồng, người bạn thời Trung học là tôi vẫn còn nợ bạn và mẹ của bạn một món nợ ân tình.

hoa súng vàng
Hoa súng màu vàng kim

Hoa sen tiếng Anh là lotus tên khoa học là Nelumbo nucifera, khác với hoa súng (dĩ nhiên rồi) water lily Nymphacea. Tuy nhiên ngày xưa, người Ai Cập đã dùng chữ hoa sen (lotus) để chỉ hoa súng (water lily). Người Ai Cập rất quí hoa súng. Loại hoa này xuất hiện trong rất nhiều bức họa miêu tả việc cúng tế và lễ lạc trong hoàng cung.

Loại hoa súng quí nhất của Ai Cập thời bấy giờ là hoa súng màu xanh (hướng sang màu tím) Nymphaea caeruela, và hoa súng trắng Nymphaea lotus. Loại hoa súng xanh/tím Ai Cập này có hương thơm, nở buổi sáng đến trưa thì khép cánh lại, mở và khép hai ngày. Loại hoa súng trắng cũng có hương thơm nở ban đêm đến sáng thì khép cánh, kéo dài khoảng bốn ngày. Lá của hoa súng trắng có góc cạnh hơn và hoa tròn hơn. Tất cả những chi tiết này đều được ghi nhận trên những bức tranh vẽ hoặc khắc trên tường.

Huyền thoại kể rằng hoa súng màu xanh (blue lotus) xuất hiện từ lúc trời đất còn là một khối hỗn mang, từ bóng tối, trên mặt sóng, từ hoa sản sinh ra thần ánh sáng, hay mặt trời. Horus, chúa tể của bầu trời hiện thân là chim ưng, cũng là mặt trời còn ở dạng sơ sinh, đã xuất hiện từ trong đóa hoa súng màu xanh vừa nở, với ánh hào quang của mặt trời như cái đĩa trên đầu.

Có một huyền thoại xuất hiện sau câu truyện về Horus kể trên, bảo rằng Horus là con của Isis và Osiris (vừa là chồng vừa là anh). Con trai đầu tiên của đôi vợ chồng này là Geb (thần tượng trưng mặt đất) và Nut (thần tượng trưng vòm trời). Osiris cai quản mặt đất (hay địa cầu) nhưng bị một người em trai (hay anh) tên Set phản bội và giết chết. Thân xác của Osiris bị chặt ra thành nhiều mảnh vụn rồi vứt xuống sông Nile. Nhờ phép thuật của Isis, ông chồng được cứu sống trong một thời gian ngắn ngủi, đủ để ông có thêm một cậu con trai út đó là Horus, sau đó Osiris trở về cai trị thế giới âm ty.

Ở vườn Bách Thảo hôm ấy có đóa hoa súng màu xanh thẫm rất đẹp nhưng tôi mãi bận bịu với những đóa hoa sen nên không chú ý. Mãi đến khi về nhà mới nhận ra sự thiếu sót của mình. May nhờ có bà chị thích màu hoa súng nên nhắc nhở tôi. Bấm đại vài tấm chiếu lệ, nhờ thế mà có ảnh hoa súng. Sau đó đằng sau lưng sau gáy tôi, dường như có một chú dế nỉ non, cứ bảo tôi quay trở lại vườn Bách Thảo để chụp ảnh hoa súng kẻo lỡ một mùa hoa rồi lại than mãi chơi đến muộn.

đôi trẻ
Vợ chồng son
hạnh phúc khi tuổi già vẫn có đôi
Tình già

See you in September

Lúc gần sáng, tôi thức dậy. Phân vân giữa kéo tấm quilt dày hơn để đắp hay kéo cửa sổ thấp xuống cho giảm gió lạnh ùa vào, tôi chọn cái thứ hai. Hơi gió lạnh làm tôi nghĩ đến mùa thu. Tuần cuối của tháng Tám, sắp hết mùa hè rồi. Hôm qua đi rừng, dù vẫn còn tiếng ve vang vọng từ trên ngọn cây cao, tiếng dế dưới hầm nhà đã không còn nữa. Tôi thầm kêu lên thôi giã từ mùa hạ, học trò sắp vào học niên khóa mới trong tháng 9. Từ đó tôi lại nghĩ đến một câu hát … See you in September (hẹn gặp bạn trong tháng Chín).

Không hiểu tại sao tôi lại nhớ là “see you in September” chứ bài do Hyland hát có câu “to meet in September.” Bản nhạc “Sealed with a kiss” của Peter Udell và Gary Geld ra đời năm 1960, nhưng mãi đến năm 1962 mới thịnh hành qua giọng hát của Brian Hyland. Tôi mời bạn nghe nhé.

Bài hát dễ thương với những câu. Tôi sẽ gửi tất cả những giấc mơ, hay mộng mơ, gói trọn trong lá thư, rồi niêm phong bằng một nụ hôn. Bài hát có bối cảnh đầu mùa hè, cô cậu học trò bãi trường, xa nhau hứa hẹn thư từ, hôn vào lá thư như gửi cái hôn đến người tình. Đó là thời thập niên 60 chứ thời này, không còn mấy người chịu khó viết thư tay, ngay cả thư điện tử cũng lười viết, cứ bấm điện thoại là có thể nói chuyện, nhìn mặt nhau trong lúc facetime.

Vậy là (sắp) hết mùa hè. Bạn sẽ nhớ điều gì khi mùa hè trôi qua. Nếu bạn đi chơi xa, đâu đó trong mùa hè, bạn gặp một mối tình dễ thương như trái dâu, dưa hấu, nước chanh, tất cả mùa xuân trong mùa hạ, bạn sẽ nhớ gì về mối tình ngắn ngủi này. Bạn có nhớ gió mùa hè không? Gió mùa hè thổi từ biển cả, làm bay lộng tóc người, có những cánh diều bay trên trời xanh, có những cánh chim hải âu bay vờn trên biển xanh với bờ cát vàng, bạn và người tình nắm tay nhau đi trên cát. Có còn nhớ không?

Rồi có một ngày, dịu êm hơn tiếng sáo, ngọn gió hè của quá khứ thổi vào lòng bạn, và bạn nhận ra rằng bạn đã mất người, theo cơn gió ấm của mùa hè.

 

The Summer knows – Nàng Hạ hiểu thấu

“The Summer Knows” là bài hát chủ đề của phim Mùa Hè năm 1942. Cuốn phim này nói về một mối tình lãng mạn của Hermie cậu bé mười lăm tuổi với một thiếu phụ, có lẽ từ hai mươi sáu đến ba mươi, tôi không nhớ chắc. Mùa hè năm ấy, ba cậu nhóc con, đang tập tành làm người lớn, háo hức muốn biết mùi tình ái lần đầu. Hermie nhìn thấy người thiếu phụ rất đẹp đưa chồng lên đường ra trận và cũng chính cậu bé mang lá thư báo tin tử trận của người chồng đến cho nàng. Hermie yêu vẻ đẹp của nàng ngay từ lúc ban đầu. Người thiếu phụ trong lúc đau buồn vì mất chồng, được Hermie an ủi, đã đền cho cậu bé cái diễm phúc vỡ da đầu đời. Sau đó nàng biến mất, để lại trong trái tim cậu bé một vết thương suốt đời không lành. Vâng, tôi biết, thế nào cũng có bạn trừng mắt bảo đây là xâm phạm tình dục trẻ con. Nhưng cái thời ấy, người ta chưa lên án và bắt bỏ tù người đàn bà trong một chuyện tình lãng mạn như thế này.  Cái tone trong phim cho thấy cả hai bên đều đồng thuận chuyện ái tình.

Nói đến những khoảnh khắc của mùa hè, phim Mùa Hè 42 luôn trở lại với tôi, cái thời cuối những năm Trung học, tôi tập tành viết văn. Biển Vũng Tàu cách Sài Gòn không mấy xa nhưng tôi có cảm giác nó xa như từ VN sang Mỹ. Không phải chỉ có nghìn trùng xa cách mà cả mấy chục cái nghìn trùng. New Jersey chỗ tôi ở bây giờ cũng có dáng hình chữ S, suốt chiều dài của NJ là biển. Cứ nói đến mùa hè, là tôi nghe có tiếng chim biển, loài hải âu cánh trắng bay là là xuống bãi cát. Những khoảnh khắc của mùa hè luôn gợi nhớ những mối tình thơ trẻ, chưa nở đã tàn, summer flings như những bước chân trên bãi cát, cứ sóng vào là trôi hết.

Dấu chân trên cát không còn nhưng dấu vết thời thơ ngây cứ sâu thăm thẳm trong trí nhớ.

The Summer Knows qua giọng hát của Nana Mouskouri

The summer smiles, the summer knows
And unashamed, she sheds her clothes
The summer smooths the restless sky
And lovingly she warms the sand on which you lie

Nàng Hạ mỉm cười, nàng Hạ hiểu thấu
Không ngượng ngùng, nàng trút xiêm y
Nàng xoa dịu bầu trời rạo rực
Và nàng ấp yêu nền cát ấm cho bạn nằm 

The summer knows, the summer’s wise
She sees the doubts within your eyes
And so she takes her summer time
Tells the moon to wait and the sun to linger
Twists the world ’round her summer finger
Lets you see the wonder of her arm ?

Nàng Hạ hiểu thấu, nàng Hạ khôn ngoan
Nàng thấy nỗi nghi ngại trong mắt bạn
Và nàng thong thả chờ đến đúng lúc
Bảo nàng Nguyệt hãy khoan và chàng Nhật nấn ná
Thế giới tùng phục dưới ngón út nàng
Cho bạn được ngắm nhìn cánh tay tuyệt mỹ của nàng?     

And if you’ve learned your lesson well
There’s little more for her to tell
One last caress, it’s time to dress for fall

Nếu bạn biết vâng lời chỉ dạy
Nàng chẳng cần  phải nói thêm nhiều
Vuốt ve lần cuối cùng, đã đến lúc phải mặc quần áo mùa Thu   

Songwriters: Michel Jean Legrand / Alan Bergman / Marilyn Bergman

The Summer Knows lyrics © Peermusic Publishing, Warner/Chappell Music, Inc, Universal Music Publishing Group

Những khoảnh khắc của mùa hè

Trời nóng, nhưng nóng một cách dễ chịu. Có một đôi ngày nhiệt độ lên đến 39 hay 40 độ C. nhưng cả tuần nay thì chỉ 28 hay 29. Đi rừng, tôi cẩn thận mang theo nước cho vào tủ đông đá, gói trong bao giữ nhiệt độ nên đến quá trưa vẫn còn lạnh.  Tuy vậy, cái nóng vẫn làm người thấy uể oải, muốn vào trong bóng mát để ngủ. Ở trong rừng, mùa này trong bóng mát thì đỡ nóng, nhưng muỗi mòng kinh khủng.

Có những chỗ rộng rãi, đủ cho người đi nhìn thấy bóng lá in trên đường. Tôi bỗng nhớ đến một thứ nắng mang hình ảnh rất thơ, “nắng lưa thưa” trong câu hát của ai đó, phải Lê Trọng Nguyễn không? “Lạnh lùng mềm đưa trong nắng lưa thưa.”

họp bạn giữa hồ
Trên đường rừng gặp một toán hướng đạo sinh thả mấy chiếc ca nô ra giữa hồ. Bảy cái chèo đặt trên chiếc ca nô đỏ. Một chiếc ca nô còn lại trên bờ được khóa xiềng xích cẩn thận. Sợ xích to bằng cổ tay tôi, có hai ba chiếc khóa.  Tôi thấy mấy chiếc ca nô giống như một nhóm bạn chơi với nhau, và bụi cỏ nhỏ đứng bên ngoài nhìn vào. Cái nhìn của một người ngoại cuộc.

cattails
Nói đến những khoảnh khắc của mùa hè không thể không nhắc đến loại cỏ cattails. Một loại cỏ được dùng để trang trí, luôn luôn thu hút ánh nhìn khi đứng chung với các loại hoa mỹ miều.

hoa tia nắng
Không biết tên hoa này, nó có vẻ như những tia sáng phát ra từ mặt trời.

zinnia
Zinnias

lá tía tô
Lá tía tô. Thúng tía tô lớn mạnh lá to như bàn tay. Không biết có phải nhờ tôi đổ sữa và trứng gà từ hồi mùa đông làm phân bón cây hay không. Có một vài hôm tôi thấy mấy con mèo con vào bươi trốc gốc cả thùng tía tô và thùng rau húng (mint). Từ đó tôi ngại không muốn hái rau thơm vào ăn, sợ mèo con ị trong mấy thùng rau.

triển lãm tranh trong concourse
Buổi trưa đi ngang Concourse của the Gateway thấy có bức tranh này.

purple cone
Purple cone

ong và hoa
Ong và hoa

nghệ sĩ kèn đồng
Nghệ sĩ kèn đồng trong một buổi trình diễn jazz

một nhóm học sinh hiking với thầy giáo
Một nhóm học sinh được thầy giáo dẫn đi hiking

hoa nhện đỏ
Hoa giống như những con nhện đỏ.

dâu rừng
Dâu rừng

cuộc vui
Trò chơi trong công viên

một loại vạn niên thanh
Hoa của một loại vạn niên thanh. Suốt mùa đông cây không bao giờ chết. Mùa hè mọc lan thật mạnh

nắng chiều
Nắng chiều

mulleins
Tiếng Anh gọi là mulleins.

 

Mùa hè rực rỡ

rào hoa

Buổi sáng đi đến nơi này, thấy rào hoa rất đẹp. Tôi muốn chụp ảnh hoa nhưng ngại chụp vào nhà người, sợ bị nghi đi ăn trộm. Vừa lúc ấy có một người phụ nữ đi đến. Bà khen hoa đẹp. Tôi ngỏ ý muốn chụp ảnh không biết có được không. Bà nói vội vàng, được quá chứ sao không. Bà còn dắt tôi băng qua đường, bảo rằng phải ngắm hoa thật gần thì mới thú. Tôi thường gặp ông chủ nhà này trồng hoa và tưới hoa. Có đôi chút ngạc nhiên vì người trồng hoa là đấng nam nhi chứ không phải phụ nữ. Nhà này trang trí theo mùa. Lễ Halloween ông chủ cũng trang trí rất đẹp. Người phụ nữ đi bộ ấy còn bảo tôi, hãy đi đến cái nhà bát giác cạnh bờ hồ, trên mái nhà có một tổ chim non.

cúc thược dược
Cúc thược dược 

cúc
Enter a caption

cũng thuộc giòng họ cúc

hoa cúc giống như cái mũ
Đài cúc trông giống hình cái mũ 

không biết tên
Không biết tên 

moss rose
Moss rose 

Vườn hồng có lối vào*

khu vực trồng hoa hồng
Vườn hồng mang tên Peggy Rockefeller. Beatrix Farrand thiết kế năm 1916. Sửa chữa và hoàn tất năm 1988

góc vườn
Cô gái ngồi nghỉ chân ở một góc vườn hồng

Truyện xưa kể rằng, trong tổ uyên ương, Cleopatra đã dồn gối bằng cánh hoa hồng khô. Người La Mã kết hoa hồng thành vòng hoa để trang trí trong các lễ đại yến đại tiệc. Hồng với hương thơm và nhan sắc được quí trọng đến độ Nero, hoàng đế La Mã (cai trị từ năm 54 đến năm 68) đã cho rải cánh hoa hồng như mưa trên các vị khách quí của ông.

Hồng vàng
May gặp một đóa hồng vàng còn phong độ

Hoa hồng được dùng làm biểu tượng của tình yêu. Tuy nhiên, đã có thời hoa hồng cũng là biểu tượng của cái chết. Theo truyền thuyết của người Do Thái, hoa hồng màu đỏ bởi vì đó màu của những giọt máu đầu tiên rơi trên địa cầu. Người của bộ lạc Teutons xem hoa hồng là biểu tượng của chiến tranh và chết chóc. Họ đặt tên những bãi chiến trường là vườn hoa hồng, nơi họ chiến đấu và cũng là nơi họ ngàn thu yên nghỉ.

hồng hai màu cam và vàng
Hồng màu cam và vàng

Không phải lúc nào hoa hồng cũng tượng trưng cho sự cao quí. Vào thế kỷ mười chín, ở Nîmes, một thành phố miền Nam nước Pháp, người ta gọi các cô gái điếm là “hoa hồng.” Chữ sub rosa hay bên dưới rặng hoa hồng được dùng để ám chỉ những điều bí mật, thí dụ như những bức thư tình lén lút trao, hay những âm mưu chính trị nhằm khuynh đảo thời thế. Khi người Hy Lạp âm mưu chống Xerxes, vua xứ Ba Tư, họ họp kín dưới một cái cổng hình vòng cung hoa hồng giăng đầy, từ đó hình thành chữ sub rosa.

hồng tím bị héo
Hồng tím bị héo

Hoa hồng là biểu tượng của vương quốc Anh. Tương truyền hoa hồng hiện diện từ cổ xưa ở Ấn Độ. Ông Khổng Tử từng nhắc đến loài hoa hồng ở Bắc Kinh.

hồng có vân màu trắng và hồng nhạt
Hồng có vân màu hồng đậm và trắng

Có phải hoa hồng là nụ cười của Amor (còn gọi là Cupid) vị thần tượng trưng cho tình yêu, chú bé với cái cung?

hồng hai màu cam và vàng
Hồng hai màu cam và vàng

Hay đó là những đóa hoa rơi ra từ mái tóc của Aurora vị nữ thần tượng trưng cho bình minh?

Hồng hồng
Hồng hồng

Hay hoa hồng là vũ khí của nữ thần Cybele, bà sáng tạo ra một loại hoa, để trả thù Venus, thần Vệ Nữ tượng trưng cho Tình Yêu. Cái đẹp lộng lẫy của Venus phải chào thua nhan sắc của hoa hồng

lẻ loi hồng trắng trong đám hồng vàng
Hồng trắng lẻ loi trong nhóm hồng vàng

Thật ra tất cả các loại hoa hồng này đều có tên riêng nhưng tôi quên không ghi lại. có chụp ảnh hồng trắng nhưng bị mờ. Còn rất loại hồng tường vi người ta trồng sát theo hàng rào, thơm ngát và đủ màu.

Tiêu đề bài này lấy ý từ mấy câu ca dao:
Bây giờ mận mới hỏi đào,
Vườn hồng đã có lối vào hay chưa?
Mận hỏi thì đào xin thưa,
Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào

Mùa hạ chưa qua

cái nấm mọc trên sân
Cái nấm to mọc trên sân trước nhà

chạy đi người ta ngó kìa
Hai con nai ở sân sau nhà hàng xóm, thấy người chúng bảo nhau: “chạy đi thôi người ta nhìn kìa.”

duyên dáng
Duyên dáng

inkie
Inkie. Lúc sau này thường đến đòi ăn. Đến giờ mà không thấy thức ăn là chàng kêu um sùm. Giọng kêu rất buồn. Chàng dữ lắm, rượt đánh Nora hoài. Có hôm dồn Nora vào sát cửa trước, đánh nàng làm nàng sợ đến độ tiểu vãi ra.

nai bên nhà hàng xóm
Chàng này đi ăn trộm rau cải hoa quả của nhà hàng xóm. Bị bắt quả tang còn đứng nghênh.

ông già cô độc
Ông già cô độc

thăm dò
Bướm vàng hoa tím

ve vãn và gọi mời
Nàng mời mọc còn chàng thì ve vãn

bướm vàng
Hoa tím bâng khuâng mọc dọc theo bờ hồ

Chàng đang múa
Chuyên ba người.

một chút sương mù
Nắng sáng và sương mù

mưa nhiều nên có thác
Trời mưa hôm trước nên có thác

nụ hoa dâm bụt
hoa dâm bụt chưa nở hẳn

trái của cây dogwood (sơn thù du)
Trái của cây sơn thù du

Đàn ngỗng Canada bên kia bờ hồ
Đàn ngỗng Canada bên kia hồ

nấm màu vàng chung quanh gốc cây như một xâu chuỗi
Nấm vàng mọc chung quanh gốc cây như xâu chuỗi

thistle
Hoa thistle còn gọi là cây kế

ginger
Ginger

Late Summer – Cuối hạ

Late Summer – Cuối hạ

In the gentle evening of the summer,
which is tired with the festival,
the water is clear
and the fish are at the bottom.

buổi chiều mùa hạ dịu dàng
đã mỏi mệt với hội hè
nước trong
cá lượn lờ dưới đáy

Holding left over wreaths
in their languid arms,
trees are
already dreaming

ôm những vòng nguyệt quế còn sót lại
trêong cánh vòng tay lười biếng
cây cối đang mơ màng

The last bird has flown by,
holding a black sound
in its beak

Con chim cuối cùng bay đi
ngậm tiếng kêu u tối
trong mỏ

Farewell, summer,
quicken your pace as you go …
stars fall quietly into the water …

Giã từ, mùa hạ
bước nhanh lên khi ra đi
Sao trời lặng lẽ rơi vào đáy nước

Tada Chimako – Nguyễn thị Hải Hà dịch

hai người lớn và ba trẻ em
Hoa rừng trông giống như một gia đình với hai người lớn và ba trẻ em

sưởi nắng
Rắn nằm sưởi nắng cạnh đường mòn nấp dưới lá

nấm to
Một cái nấm thật to

berries trong nắng sớm
Blue berries mọc hoang chín rụng đầy

Vài tấm ảnh

Tôi bắt bạn đọc nhiều rồi, hôm nay đổi gió, đọc vài câu, xem ảnh xoàng xoàng thôi.

xe ngừng cho đàn vịt băng qua đường
Đàn ngỗng Canada đủng đỉnh băng qua đường. Xe ở hai chiều ngừng lại cho ngỗng đi qua.

kẻ chận hậu
Kẻ cuối cùng đi chận hậu, theo ngôn ngữ của người hiking kẻ này được gọi là sweeper, đi chận hậu.

vượt xa lộ an toàn
Cả đoàn đến hồ bình yên

bức tường của một ngôi nhà cổ
Vách tường của một ngôi nhà cổ xưa trong thành phố Newark, New Jersey.

clematis
Hoa clematis ở hàng rào một bãi đậu xe

hoa súng trắng
Hoa súng trắng ở hồ Watchung, buổi sáng sớm đi bộ

trái thông
Mấy trái thông của hàng thông quanh bờ hồ Watchung

tượng một người ngồi chống cằm làm bằng những đôi giày
Bức tượng trong viện bảo tàng mỹ thuật Newark, giống một người ngồi xổm chống cằm hay ôm cổ, được kết hợp từ những chiếc giày.

Đêm mùa hạ

dâu dại

Mùa này, dâu dại trong rừng bắt đầu chín. Chép một bài thơ để bạn đọc chơi cho vui. Thật tình tôi ngại dịch thơ lắm, vì rất nhiều khi tôi gặp những câu thơ tôi không biết dịch như thế nào. Nhưng bài thơ dưới đây nói về đêm mùa hè thật êm đềm. Tối qua, khi đóng cửa đi ngủ tôi thấy đom đóm lập lòe ở mấy bụi cây trước nhà gần khóm trúc, sau nhà ngay ở hàng rào tiếp với bìa “rừng.”

Summer Night

Đêm mùa hạ

Like a bell note shivered into fragments of fine sound:
The summer night. But silence and the stillness do astound.
Me more than all this strange-go-round
of multitudinously minted chord along the ground

Như tiếng chuông run rẩy vỡ thành mảnh vụn âm thanh:
Đêm mùa hạ. Sự tĩnh mịch làm tôi
Ngạc nhiên hơn tất cả những điều kỳ lạ đang quay cuồng
của muôn vàn khúc nhạc mới ra đời lan dài trên mặt đất

This is an edifice of silence, vast:
Into the chinks of silence sound will creep
A little while – and fall asleep
Its strength being spent and past.

Đây là một khối im lặng khổng lồ
Âm thanh sẽ rón rén thoát ra từ kẽ hở của im lặng
Một chốc sau – rồi sẽ ngủ say
Sức mạnh của nó phai mờ dần và biến mất

They say the crickets sing all night:
I know
They strike against the walls of silence
Insistently, a futile blow

Họ nói rằng loài dế ca hát suốt đêm
Tôi biết
Chúng tấn công vào bức tường im lặng
Tuy kiên trì, nhưng đó là một nỗ lực không thành

Kenneth Slade Alling (1887-1966)

Đêm mùa hạ – Bản dịch của Irieullmyes

Như tiếng chuông để rơi ngàn nốt vỡ
Đêm mùa hè yên tĩnh khiến lòng tôi
Ngạc nhiên hơn những điều lạ quay cuồng
Muôn khúc nhạc lan dài trên mặt đất.

Đây một khối khổng lồ từ im lặng
Dòng âm thanh rón rén thoát ra ngoài
Một lát sau chìm giữa giấc ngủ dài
Sức mạnh ấy dần phai mờ, biến mất.

Họ bảo rằng, dế suốt đêm ca hát
Tôi biết rằng
Bức tường im lặng lại bị chúng tấn công.
Tuy loài dế đã hết mực kiên trì
Song nỗ lực đổ ra đều vô ích.

Giấc mơ thần tiên giữa mùa hạ

Hai đứa con mùa hè về chơi. Cô lớn về một tuần. Cô nhỏ về sáu tuần. Mới đưa cô nhỏ lên máy bay về Illinois hôm qua. Cô lớn tự lái xe về Kentucky từ hồi tuần trước. Tuần lễ có mặt cả hai đứa con, tụi nó đưa tôi đi New York vì tôi bảo muốn xem viện bảo tàng Mỹ Thuật (the Met, Metropolitian Museum of Art). Thật ra tôi chỉ muốn có thì giờ chơi vui với con, một hình thức vá víu những thiếu hụt trong bổn phận làm mẹ khi các con còn nhỏ.

sân cỏ lâu đài người tắm nắng
Sân cỏ nam thanh nữ tú phơi nắng cho da nâu hồng. Phía sau là lâu đài Belvedere. Lâu đài này luôn làm tôi nhớ đến những vở kịch của Shakespeare. Và dĩ nhiên nhớ đến cuồn phim The Fisher King do Jeff Bridges và Robin Williams đóng chung với nhau, ban đêm hai diễn viên đã “truổng cời” chạy long nhong trên bãi cỏ này. Bạn nào muốn xem thêm ảnh của Belvedere Castle thì nhấn link này. https://chuyenbangquo.wordpress.com/2013/07/13/vai-dong-2/

Cô nhỏ dẫn tôi đi ngang vườn Shakespeare (đây là lần thứ hai), ngang sân cỏ phía trước của lâu đài Belvedere nơi các cô gái và chàng trai đang tắm nắng cho bớt trắng. Chúng tôi cũng đi ngang Delacorte Theater, nơi mỗi mùa hè đều trình diễn kịch Shakespeare, vào cửa miễn phí. Mùa hè này trình diễn hai vở kịch. Julius Cesar và Midsummer Night’s Dream. Vở kịch Giấc Mơ Đêm Giữa Mùa Hạ sẽ bắt đầu vào ngày mai, thứ Hai 10 tháng Bảy 2017.

bảng tên vườn Shakespeare
Vườn Shakespeare
shakespeare garden
Bảng hiệu của vườn Shakespeare, bạn muốn nghe minh họa bằng phone, xin tặng vườn năm USD
Hoa trong vườn Shakespeare
Hoa trong vườn Shakespeare
hoa như những con nhện đỏ trong vườn Shakespeare
Hoa như những con nhện đỏ trong vườn Shakespeare

Dù đã viết về vở kịch Giấc Mơ Trong Đêm Giữa Mùa Hạ hình như hồi tuần trước, nhưng sẵn đây xin viết tiếp. Đây là một vở hài kịch dài với rất nhiều nhân vật. Đoạn trước tôi chỉ viết sơ qua về loại hoa thần tiên viola (violet) khi bị mũi tên của thần ái tình Cupid bắn trúng trở thành thần dược ái tình. Thoa nước hoa này lên mắt người đang ngủ thì khi thức giấc người ấy sẽ yêu si mê người (hay vật) người ấy nhìn thấy đầu tiên.

Như các bạn đã biết. Người La Mã chiến thắng người Hy Lạp, chiếm trọn vẹn sự giàu có sung túc và nền văn minh của quốc gia này. Họ biến rất nhiều thần thoại Hy Lạp thành thần thoại La Mã, chỉ đổi tên các vị thần. Cupid là vị thần ái tình của La Mã. Tên Hy Lạp của thần này là Eros. Theo thần thoại La Mã, Cupid là con của Venus (Vệ Nữ) nữ thần của tình yêu và nghệ thuật và Mars, thần Chiến Tranh. Từ lâu tôi nghĩ rằng vì Venus và Mars yêu nhau, nên chúng ta thường có những truyện trái ngang của tình yêu xảy ra trong chiến tranh (thí dụ như Chinh Phụ Ngâm Khúc).

Trong vở kịch Giấc Mơ Trong Đêm Giữa Mùa Hạ, Shakespeare có một đoạn thơ như sau:

How happy some o’er other some can be!
Through Athens I am thought as fair as she.
But what of that? Demetrius thinks not so.
He will not know what all but he do know.
And as he errs, doting on Hermia’s eyes,
So I, admiring of his qualities.
Things base and vile, holding no quantity,
Love can transpose to form and dignity.
Love looks not with the eyes, but with the mind,
And therfore is wing’d Cupid painted blind.
Nor hath Love’s mind of any judgment taste;
Wings, and no eyes, figure unheedy haste.
And therefore is Love said to be a child,
Because in choice he is so oft beguiled. 

Đây là đoạn thơ mà nhân vật Helena đã than thở khi bị  Demetrius (người yêu của nàng) phụ bạc, để chạy theo Hermia, cô bạn gái thân nhất của Helena.

Dịch tạm: 

Có người được hạnh phúc hơn nhiều người khác
Ở cả thành phố Athens, người ta nghĩ là tôi cũng xinh đẹp như bạn ấy
Nhưng điều này không quan trọng, bởi vì Demetrius không nghĩ như thế.
Chàng không phải là người hiểu biết tất cả mọi chuyện trên đời, nhưng chàng biết chắc một điều (là Hermia rất xinh đẹp, nhất là đôi mắt).
Và chàng đã sai lầm (vì phụ bạc Helena), khi mê mẩn đôi mắt Hermia,
Còn tôi thì sai lầm khi say mê tính tốt (tưởng lầm) của chàng.
Chuyện thấp hèn và sa đọa, không đếm hết.
Tình yêu có thể biến đổi thành hình dáng trở thành cụ thể và trang trọng.
Tình yêu không nhìn bằng đôi mắt mà bằng tâm hồn.
Vì thế chàng Cupid có đôi cánh thường được miêu tả là mù quáng;
Và tâm hồn của Tình Yêu cũng không có những phán xét bằng thành kiến
Có cánh (để bay bổng), nhưng không có mắt (để nhìn), tượng trưng cho sự vội vã dẫn đến sai lầm.
Vì thế Tình Yêu bị cho là một đứa trẻ.
Bởi vì trong sự chọn lựa, cậu bé dễ bị dụ dỗ.

Bài thơ dài, nhưng tôi chỉ muốn nhắm đến phần Shakespeare nói rằng Cupid, thần Ái Tình, chỉ là một cậu bé có cánh, mắt thì mù, không mù thì cũng lòa, nên có cung tên cứ bắn vào tim loài người để họ rơi vào (cạm bẫy) của tình yêu (fall in love) nhưng vì mù nên cứ bắn trật, nên người này yêu mà người kia không đáp lại, vì thế nhân loại cứ khốn khổ “khi theo nhau, khi theo mãi tình yêu”“tình thì cứ theo người như chiếc bóng, người thì không bắt được bóng bao giờ.” Không nhớ tên tác giả.

Cupid đang hôn Psyche
Cupid và Psyche tượng điêu khắc trong viện bảo tàng MET.  Tác giả là Antonio Canova, Italian, Possagnio 1757-1822, Venice. Cupid and Psyche, Plaster
Cupid and Psyche
Cái (sắp sửa) hôn của Cupid và Psyche

Theo thần thoại La Mã, Cupid là một cậu bé bụ bẫm có cánh. Nhưng theo thần thoại Hy Lạp thì Eros là một chàng thanh niên mảnh mai. Tôi cũng đã kể chuyện tình của Cupid với Psyche rồi, ở đây nhắc lại một chút để bạn nào chưa đọc bài cũ thì đọc ở đây.

Psyche là một cô gái rất đẹp bị bắt đem tế thần. Thần là một con quái vật thích ăn thịt người. Psyche bị mang đến một tảng đá to trên một hòn núi cao, trói ở đó chờ quái vật đến bắt. Thần Gió mang Psyche đến một lâu đài rực rỡ. Hằng đêm có một chàng thanh niên che mặt đến yêu nàng. Đến lúc đêm khuya, yêu trong bóng tối. (“Chẳng phải là sương, chẳng phải hoa. Nửa đêm chàng đến, sáng ra về. Đến như giấc mộng, khuya không đợi. Đi tựa mây trời không định nơi.” Viết lại theo trí nhớ một đoạn thơ không biết là của ai, chỉ biết được tác giả Quỳnh Giao đặt ở lời tựa quyển Cánh Hoa Chùm Gửi) Tình yêu của hai người càng ngày càng thắm thiết. Cứ gần sáng là chàng biến đi mất. Chàng căn dặn nàng không được tìm cách nhìn mặt chàng. Psyche không ngăn nổi sự tò mò nên một đêm kia đốt đèn soi mặt người tình và dầu trong đèn bị nghiêng đổ lên da chàng, hơi nóng của dầu đánh thức chàng. Psyche nhận ra đó là Cupid, và Cupid nổi giận nên bỏ đi. Nụ hôn đầu tiên của Cupid dành cho Psyche được giới văn nghệ sĩ ghi chép lại, bằng văn chương và điêu khắc, vì đây là biểu tượng đánh mất sự trong trắng của tuổi thơ ngây và đánh thức khoái lạc của nhục dục.

Hằng năm, cứ vào mùa hè, là tôi lại nghĩ đến đi xem kịch Shakespeare trong Central Park. Vé thì phát không, nhưng ai cũng muốn xem nên không dễ có vé. Tặng ban tổ chức 500 USD thì sẽ có vé xem theo ý mình chọn bất cứ ngày nào. Muốn đi xem kịch này thì phải thuê khách sạn ở qua đêm trong New York nếu không muốn lái xe vào thành phố sợ chen lấn chật chội. Kịch bắt đầu lúc tám giờ, tan kịch, lấy xe xong cũng phải mười một giờ. Nghĩ đến đó là tôi thấy mệt rồi. Thôi thì để nó là một giấc mơ chưa thành, và như thế mỗi mùa hè lại mày mò xem năm nay vở kịch gì sẽ được trình diễn và tìm đọc vở kịch ấy.

Bạn nào thích nghe nhạc thì mời nghe Midsummer Night’s Dream của Mendelssohn.

Sao trời mùa hạ

đồng hoa vàng bên cái thác cạn
Đồng hoa vàng bên cái thác cạn nước

Không phải ai cũng có thể nhìn thấy sao. Bạn phải ở một nơi có rất ít ánh sáng, đúng với cái nghĩa đêm đen. Nơi ấy phải ít cây cối và lúc ấy trời phải trong. Bạn sẽ thấy sao nở ra từng đóa và dần dần cả một rừng sao, hay một đồng sao. Thêm một bài thơ về mùa hè với những vì sao của Carl Sandburg.

Summer Stars

Bend low again, night of summer stars
So near you are, sky of summer stars
So near, a long-arm man can pick of stars
Pick of what he wants in the sky bowl
So near you are, summer stars,
So near, strumming, strumming,
So lazy and hum-strumming

Carl Sandburg

Lại dịch đại nha. Nói nhiều lần rồi nhưng nói nữa với những bạn chưa quen biết. Tôi không có khiếu làm thơ, cách cảm nhận thơ cũng không sâu sắc lắm. Đọc thơ hay nghe nhạc thì hiểu đại khái thôi. Ai muốn tặng tôi bản dịch xin cứ vui lòng ra tay.

Những vì sao mùa hạ

Lại cúi xuống thấp, đêm của những vì sao
Bạn rất gần, vòm trời của những vì sao
Rất gần, người có cánh tay dài có thể hái được những vì sao
Chọn những cái hắn thích trong bầu trời (như cái bát to úp ngược)
Bạn rất gần, đàn ngôi sao mùa hạ
Rất gần, tình tang tình tang tiếng khảy đàn
Lười lĩnh, ầu ơ vu vơ theo tiếng đàn

Bản dịch của Anh kim

Những vì sao mùa hạ

Những vì sao lấp lánh đêm huyền diệu
Trên vòm trời tỏa triệu chấm li ti
rất gần, người dài tay đi
Sao đêm chọn hái những gì lung linh

(bầu trời xuống thấp tay mình
tựa như chiếc bát to uỳnh úp bên)

Ngày mùa hạ sao gần tay hái
rất gần, thổn thức khảy tình ca
tình la la tình la la
thảnh thơi ta hát guitar theo đàn.


Bản dịch được chuyển thành vần điệu của Irieullmyes

Những vì sao mùa hạ

Lại cúi xuống thấp – đêm của những vì sao !
Bạn đã đến rất gần với mái vòm cao của các vì tinh tú
Đủ gần để cánh tay dài vươn tới
Hái sao trời với ý thích của mình thôi.

( Bầu trời cao như một chiếc bát to úp ngược )
Để đàn sao với bạn đến thật gần.
.
Tang tình tang
Khúc ngân vang
Không còn xa nữa.
Theo tiếng đàn lười lĩnh hát vu vơ.


Cám ơn Anh kim và Irieullmyes.

Ngày 25 tháng 5, 2019

Mang bản dịch của Dũng Nobita ở facebook về đăng.

Dũng Nobita SAO ĐÊM HÈ
Cúi thấp nữa, đêm hè cao.
Để em gần với muôn sao rạng ngời.
Dưới vòm trời rộng khôi khôi,
Vói tay ta hái những ngôi sao hiền.
Đâu đây đàn gảy êm đềm,
Ngân nga ru giấc hồn em ngủ vùi.

Công viên và các công trình điêu khắc bằng thủy tinh

Những tấm ảnh bạn xem dưới đây là ảnh chụp công trình nghệ thuật điêu khắc làm bằng thủy tinh của nghệ sĩ Dale Chihuly (sinh năm 1941). Đây là cuộc trưng bày điêu khắc ở công viên, vườn bách thảo New York Botanical Garden. Ông Chihuly trở lại trưng bày điêu khắc thủy tinh ở Hoa Kỳ sau nhiều năm trưng bày công trình của ông trên thế giới.  Sau khi bị tai nạn xe hơi, ông bị mất một mắt và bị kính xe hơi cắt vào bả vai, ông không thể tự tay sáng tác các tác phẩm bằng thủy tinh nữa, do đó ông giữ vai trò chỉ huy. Làm việc dưới quyền ông là một nhóm nghệ sĩ tài hoa. Thủy tinh được nấu chảy, thổi, đúc khuôn, hoặc uốn nắn bằng tay. Những quả cầu màu sắc tôi gọi là những giấc mơ được ông Chihuly học từ cách thổi những quả cầu thủy tinh để làm phao (Niijima floats) trong làng chài ở Nhật. Tuy là thủy tinh, nhưng có lẽ được pha thêm một hỗn hợp nào khác nên chúng khá rắn chắc. Tôi thấy những chiếc bình rỗng, hay phao rỗng được chính ông Dale Chihuly ném lên trên mặt nước nghe chạm đánh “ình” mà không vỡ.

Bảng kính màu phản chiếu ánh sáng thiên nhiên
Những tấm kính màu dùng ánh sáng tự nhiên

blue polivitro crystal
Blue glass (polyvitro crystal)

hoa tulip
Uất kim hương

sâu xanh ốc xanh
Ốc len xanh

những chiếc lá sen đủ màu
Lá hoa sen đủ màu

tháp màu vàng và đỏ
Như một cái hoa bàn chải xúc chai khổng lồ

màu sắc
Giấc mơ đầy màu sắc

chiếc xuồng chở những giấc mơ
Chiếc thuyền chở những giấc mơ

bảng kính màu
Bảng kính màu

Saphire star
ngôi sao màu xanh của đá saphire

Red reeds on logs
những cây lau (lau như lau sậy, cây reeds, chứ không phải lao như cây lao) đỏ cắm trên gỗ

lá xanh hay rắn xanh
vũ khúc rắn xanh

những đóa hoa thủy tinh xanh dương
những đóa hoa alien màu xanh

rắn xanh
rắn xanh theo điệu kèn phakia

những cây lao thủy tinh màu tím và xanh
những cây lao khổng lồ màu tím

tháp thủy tinh trắng và hồng
cây màu trắng và hồng

neon
những cái đèn neon để trang trí cho dạ tiệc

art park
bảng kính màu dựng trong hồ hoa súng

lá sen bằng thủy tinh
lá sen bằng thủy tinh màu

lá sen
lá sen

như những con chim trắng
bầy chim bằng thủy tinh trắng

lá sen đỏ
lá sen đỏ

hạc xưa về khép bóng ta
những con hạc màu xanh

chandelier treo ngược
như một dandelier (đèn chùm treo trên trần) treo ngược

sea form
vỏ sò bằng thủy tinh

những món đồ trang trí bằng thủy tinh
bộ vỏ sò thủy tinh

opaline and rose quartz seaforms
những con sò dị dạng bằng thủy tinh hồng

vỏ sò hồng
bộ sò thủy tinh

Vườn Bách Thảo New York

Đi chơi với con út.

thác nước
Thác nước
những người đàn bà đã quá tuổi xuân
Nhưng những người phụ nữ đã bắt đầu quá tuổi xuân
hoa củ hành
Trilliums
sóc đang gặm nhắm hạt
Đang thưởng thức món ăn ngon
chàng cóc
Chàng hoàng tử
Giai nhân và lãng tử
Giai nhân và lãng tử
hoa tím lục bình
Hoa tím lục bình
chiếc xuồng chở những giấc mơ
Chiếc thuyền chở những giấc mơ
màu sắc
Giấc mơ đầy màu sắc
tháp màu vàng và đỏ
Như một cái hoa bàn chải súc chai khổng lồ
chuỗi hoa
chuỗi hoa
những chiếc lá sen đủ màu
Lá hoa sen đủ màu
sâu xanh ốc xanh
Ốc len xanh
màu xanh
Chùm hoa xanh
hoa tulip
Uất kim hương
blue polivitro crystal
Blue glass
thư viện
thư viện
Chuyện ba người
hai người vui biết bao nhiêu. Một người lặng lẽ buồn thiu không dám nhìn.

Hoa Pensée và Giấc mơ đêm hạ chí

Liên tiếp mấy hôm nay ngày nào cũng mưa và mưa rất to làm tôi nhớ những cơn mưa mùa hè ở Việt Nam khi tôi còn bé. Sài Gòn sau cơn mưa, hàng me già lướt thướt. Hôm kia (June 18, 2017) tôi được mời ăn đám giỗ. Khoảng năm hay sáu giờ trời mưa tầm tã nhưng một lúc sau thì tạnh mưa. Tám giờ tối vẫn còn ánh sáng. Tiệc tàn lúc chín giờ ra về, khi lên xe tôi thấy đom đóm bay lập lòe. Vậy là mùa hè rồi đó.

Hễ nói đến mùa hè không thể không nhớ đến tên một vở kịch của Shakespeare, “A Midsummer Night’s Dream” (Giấc mơ đêm hạ chí). Đây là một vở kịch thơ với rất nhiều nhân vật. Trong phạm vi bài tản mạn ngắn này tôi chỉ muốn nói đến một loài hoa trong vở kịch này. Bạn đọc nào quen thuộc với kịch bản Shakespeare đều biết rằng ông là một người yêu thích công việc làm vườn, trồng cây, và trồng hoa do đó ông luôn nhắc đến tên của rất nhiều loại hoa. Đây là lý do mà những công viên nổi tiếng ở Hoa Kỳ đều có một phần dành riêng cho những loại hoa, cây cỏ hương liệu, thường hay được nhắc tên trong kịch của Shakespeare. Mảnh vườn này được đặt tên là Shakespeare’s Garden, vườn của Shakespeare. Ở trong Central Park có vườn của Shakespeare. Ở trong Brooklyn Botanical Garden, và New York Botanical Garden cũng có vườn của Shakespeare.

Người ta tin rằng, vào giữa đêm hạ chí[i] tiên sẽ xuất hiện và có nhiều chuyện thần tiên sẽ xảy ra. Trong một khu rừng gần Athens (Hy Lạp) trong đêm hạ chí, Puck, một vị elf (tiên) nổi tiếng nghịch ngợm thường quấy phá loài người để mua vui cho ông chủ được Oberon, vua của loài tiên cũng là chủ của Puck,  giao cho trách nhiệm đi tìm một loài hoa đặc biệt, vì Puck có khả năng đi vòng quanh địa cầu trong bốn mươi giờ (chỗ này tôi quên không nhớ chắc chắn con số là bốn giờ hay bốn mươi giờ). Oberon và Titania, hoàng hậu của Oberon, tuy là tiên nhưng chẳng khác gì người trần tục, họ thường hay cãi nhau vì ghen tuông. Titania bảo rằng vua Oberon si mê Hippolyta, nữ hoàng Amazon. Oberon cáo buộc ngược lại là Titania phải lòng Theseus, Hoàng thân (hay Công tước) của Athens. Titania có một cậu bé hầu cận nàng rất yêu mến. Oberon muốn mang cậu bé về làm henchmen (người thay mặt vua ra lệnh xấu như trừng phạt loài người) nhưng Titania nhất quyết không chịu dù có phải đem đổi cả ngai vàng của vua tiên. Oberon thề trả thù.

Oberon kể với Puck, có một đêm ông nhìn thấy Cupid (thần Tình Yêu) giương cung nhắm bắn vào trái tim của một nàng trinh nữ đẹp tuyệt trần nhưng bắn hụt. Mũi tên rơi xuống mặt đất cắm vào một đóa hoa pansy (còn gọi là pensée). Đóa hoa ban đầu màu trắng như sữa, sau khi trúng mũi tên của thần Tình Yêu đổi thành màu tím. Màu của khát vọng. Sau khi trúng tên của Cupid, pensée trở thành loại hoa có phép nhiệm mầu. Lấy mật của hoa này, thoa lên mi mắt của người đang ngủ, dù đó là người trần gian hay là tiên, nam hay nữ, người ấy sẽ yêu đắm đuối, dù là người hay quái vật, người ấy nhìn thấy đầu tiên.

Đây là đoạn thơ nói về hoa pensée trong vở kịch của Shakespeare. Vua tiên Oberon nói:

Yet mark’d I where the bolt of Cupid fell.
It fell upon a little western flower,
Before milk-white, now purple with love’s wound,
And maidens call it love-in-idleness[ii].
Fetch me that flower; the herb I shew’d thee once.
The juice of it on sleeping eyedlids laid
Will make or man or woman madly dote
Upon the next live creature that it sees.
Fetch me this herb, and be thou here again. 

Dịch đại

Ta đánh dấu nơi mũi tên của Cupid rơi
Trên một đóa hoa nhỏ bé ở hướng tây,
Màu trắng sữa, nó biến thành màu tím sau khi bị vết thương tình yêu.
Các cô thiếu nữ gọi nó là hoa tình-yêu-khi-nhàn rỗi.
Hãy mang về cho ta loại hoa này, loại cỏ mà ta đã có lần chỉ cho ngươi xem
Mật hoa thoa lên mí mắt người đang ngủ
Sẽ làm cho người ấy yêu say đắm
Bất cứ người (hay quái vật) nào người ấy nhìn thấy
Hãy tìm loài hoa ấy, và trở lại đây. 

Và kèm theo là vài bức ảnh của hoa pensée tôi chụp trong công viên gần chỗ làm việc. Pensée màu tím là một hình ảnh thơ mộng trong một bài hát Việt.

Chiều nay trong vườn hoa pensée tím đua bay,
Chiều nay anh ơi gió heo may ngừng nơi đây
Hoa tím nơi này,
Chờ anh đã bao ngày
Anh có mơ màu tím chiều nay.

Tôi đi ngủ sớm lúc chưa tám giờ, thức giấc nửa đêm, trong khi chờ giấc ngủ trở lại, tôi viết nhảm bài này. Thấy tôi tản mạn ghê chưa, từ cơn mưa mùa hè, qua kịch Shakespeare, qua hoa pensée. Bây giờ, tôi đi ngủ tiếp.

Tái bút:

8PM 6/22/2017

Tôi viết theo trí nhớ sai lầm. Hạ chí là ngày đầu mùa hè chứ không phải là ngày giữa mùa hè. Xin lỗi!


[i] Hạ chí là ngày chính giữa mùa hè.
[ii] Love-in-idleness là một tên khác của pansy (pensée)

Từ rừng ra phố

một cái nấm
một cái nấm có vẻ bệnh hoạn ghê rợn

lá của cây tulip tree còn gọi là angel dress tree
Lá của cây tulip tree có hình dáng profile của hoa tulip, tuy nhiên khi lật ngược lại, trông lá có hình dáng cái áo của một thiên thần, vẽ trên giấy, vì vậy còn được gọi là angel dress tree.

honey suckles sau nhà
Hoa honeysuckle  (kim ngân) ở phía sau nhà. Thấy hoa là biết tháng Sáu, đầu mùa hè.

yellow pond lily
Hoa yellow pond-lily, còn gọi là cow lily. Ít khi thấy nở ra hết cỡ. Hoa chỉ nhỏ tròn tròn như một trái banh golf, ló lên trên mặt nước chừng một hay hai inches. Hình như hễ nở ra to một chút thì chìm xuống mặt nước, vì nặng (?). Tôi không thể lội xuống hồ nên đứng trên bờ rình mãi hết tuần này sang tuần khác thấy được cái hoa này nở to nhất từ trước đến nay. 

thấy trong tiệm bán thực phẩm của người Tàu
Fresh Shit Ake Loose. Thấy trong tiệm bán thực phẩm của người Tàu. Xin thứ lỗi cho sự tục tằn và nếu tôi đã làm hư hỏng bữa ăn của các bạn.

xe bán thức ăn ngoài trời
Mùa hè sẽ mất đi vẻ tươi đẹp nếu không có những chiếc xe bán thức ăn cho người đi dã ngoại, festival và carnival. 

Màu xanh của thiên đàng xứ Oz
Màu xanh còn đẹp hơn cả màu xanh đá emerald của thiên đàng xứ Oz.

chàng cóc lạc loài
Chàng cóc lạc loài 

hoa dại màu trắng trong rừng
Hoa dại màu trắng, trong rừng.

một người nằm võng trong công viên Military Park
Một người nằm võng trong công viên Military Park. Công viên này nằm giữa thành phố Newark, New Jersey. Công viên rất đẹp, có free wifi, tùy theo ngày có tài chí, kick boxing, yoga, thuyết trình, đọc thơ, đọc sách, bóng bàn, v. v… . Ngoài bàn ghế, băng đá, còn có võng. Thấy một người mặc com lê nằm võng, có lẽ cũng thoải mái như nằm ở động hoa vàng.

Chỉ là hoa thôi

Bàn làm việc của tôi ở cạnh cửa sổ. Tiếng là tôi làm việc ở tầng lầu thứ hai, nhưng bên dưới tầng lầu thứ nhất là sáu tầng được dùng làm bãi đậu xe, cho nên tầng lầu chỗ bàn tôi làm việc là tầng thứ tám.

Từ bàn làm việc tôi nhìn thấy con sông, có cây cầu. Và bên cạnh cái tòa nhà láng giềng có một bãi đất trống. Người ta vẫn đang xây cất, đất của thành phố bên cạnh New York gần Manhattan thì bạn biết mà, tấc đất tấc vàng. Vậy mà có một bãi đất hoang người ta trồng hoa dại. Từ một hai tuần trước tôi đã thấy có màu trắng trắng xanh xanh vàng vàng. Nhưng cách đây một hay hai hôm, tôi nhìn thấy có hai người đi lang thang trong cánh đồng màu sắc ấy. Nhìn từ xa, tôi cũng biết đó là hai người nhiếp ảnh, vì cách đi dáng đứng và những thứ trang bị của họ. Cái máy cà tàng mười mấy tuổi của tôi không có ống kính chụp xa, tôi cũng không mang theo chân gạc. Nhưng sẵn máy thì chụp, có gì xài nấy, nhiều khi hay không bằng hên 🙂

Buổi trưa, tôi xuống chỗ này. Rác từ đường phố bay vào đầy hết nhưng bạn không thấy vì tôi dấu nó đi, chỉ khoe cái đẹp cái sang của cánh đồng hoa dại.

 

tường vi
Hoa hồng loại tường vi không có hương thơm

Cúc hai màu
Cúc hai màu có lẽ còn được gọi là Indian paintbrush

indian paintbrush
Đây cũng là Indian paintbrush

đồng hoa
Thêm một cái cầu quay ở phía sau cánh đồng hoa

cúc trắng
Cúc trắng

chỉ là hoa thôi
Hai nhiếp ảnh gia chụp từ chỗ bàn làm việc

Con nhện Maman ở Ottawa

img_0289
Con nhện tên Maman – Mẹ tôi

Tượng con nhện Maman ở phía trước viện bảo tàng Mỹ thuật Quốc Gia Canada ở Ottawa. Tác giả là Louise Bourgeois. Tượng có kích thước 9271 x 8915 x 10236 mm. Được cấu tạo năm 1999, làm bằng đồng, thép không gỉ sét, và đá cẩm thạch trắng.

boc-trung
Bọc trứng nhện bao gồm 26 cái trứng

Nhìn gần thấy chân nhện làm bằng đồng sơn đen, lưới của cái bọc trứng nhện làm bằng thép không gỉ (stainless steel), và trứng nhện bằng đá cẩm thạch trắng.

Tác giả Louise Bourgeois bị mất mẹ năm 21 tuổi. Bức tượng điêu khắc này dùng để vinh danh mẹ của bà vì vậy lấy tên là Mẹ Tôi. Ngày còn sống, Josephine, mẹ của Louise, làm nghề sửa chữa những tấm thảm lớn (tapestries) trong xưởng bảo tồn những thứ đồ dệt của bố Louise, Ở Paris. Ngày mẹ qua đời, Louise nhảy xuống sông Bièvre tự tử, nhưng được bố cứu thóat. Bà nhìn thấy con nhện có những đức tính và năng khiếu của mẹ bà, như dệt tơ, khéo léo, khôn ngoan, và bảo vệ người thân.

Đây là một trong sáu con nhện được làm cùng một mẫu. Con nhện này lớn hàng thứ nhì còn những con kia ở khắp nơi trên thế giới như Anh, Tây Ban Nha, Nhật, Korea, và Arkansas (Hoa Kỳ). Ngoài ra Louise Bourgeois còn thiết kế tượng của ba con nhện nhỏ hơn, có tên là Spider, một được trưng bày ở viện bảo tàng nghệ thuật quốc gia Hoa Kỳ ở Washington D.C., Viện Nghệ Thuật Denver, và Viện Bảo Tàng Nghệ Thuật Đương Đại Kemper ở Kansas City (Missouri).

Con nhện Maman được viện bảo tàng Canada mua với giá 3.2 triệu Mỹ kim, bị cho là quá đắt vào năm 2005, chiếm hết một phần ba ngân sách hằng năm của viện bảo tàng.

Chuyện nhỏ ở thác Niagara

Hôm qua vội chuẩn bị đi làm tôi nghĩ tối về sẽ viết thêm về thác Niagara, nhưng về nhà xem lại thì thấy tự ảnh đã nói hết rồi còn thêm bớt gì. Để kể chuyện đi chơi tôi có thể kể lể đầu cua tai nheo, nhưng sợ chẳng ai đọc, thứ nhất người đọc chẳng có thì giờ, thứ nhì chuyện chẳng có gì hấp dẫn.

Có một vài chi tiết tôi muốn chia sẻ với các bạn vì chuyện vui vui.

một góc của horseshoe bowl

Thác hùng vĩ lắm. Bạn biết rồi. Đứng bên bờ Hoa Kỳ bạn sẽ không nhìn thấy hết sự hùng vĩ này. Đã có một thời người Hoa Kỳ khai thác thương mại thác không đúng hướng nên thác mất đẹp, lôi thôi nhếch nhác, loạn xị. Hoa Kỳ bị du khách thế giới, đặc biệt là châu Âu chê cười dữ dội nên có sửa chữa. Canada khai thác du lịch ở thác Niagara rất tận tình. Cái gì cũng đắt giá kinh hồn.

khi thác Niagara bên bờ Hoa Kỳ ngừng chảy

Năm 1969, người Mỹ xây cofferdam (chẳng biết chữ này dịch là gì, nó là một cái đập làm bằng thép) chặn dòng thác chảy để khám xét thác và nghiên cứu sự soi mòn của thác. Cái đập này làm dòng thác phía Hoa Kỳ ngưng chảy, trở nên khô cạn. Sau bảy năm, họ rút đập ngăn để thác chảy tự do, và soi mòn tự do. Có lẽ cái gì đi ngược hướng với thiên nhiên cũng gây ra tác hại của nó.

Từ bờ Canada, bạn sẽ nhìn thấy có một vùng thác chảy xuống, miệng thác hình móng ngựa vì thế được gọi là horseshoe bowl. Người ta tổ chức chuyến đi khám phá lòng thác từ phía sau dòng thác, đặt tên chuyến đi là Journey Behind The Falls. Chúng tôi đến mua vé lúc mười hai giờ. Người ta bảo chờ đến một giờ ba mươi mới được vào xem. Giá mỗi người đi xem là 30 đô la Canada. Mỗi người được phát cho một cái áo mưa poncho, loại mỏng dùng một lần thôi. Có thể để dành dùng lại, nhưng tôi cắt lủng lỗ để chừa camera ra tiện việc chụp ảnh. Sắp hàng chừng mấy trăm người, lần lượt đi thang máy xuống dưới lòng thác.

đi luồn phía sau thác

Chúng tôi được căn dặn là đi đến về phía trước, chờ xem, coi chừng trượt té, vân vân. Tôi đi theo người phía trước, tản mác, chỉ nhìn thấy cửa động với một màn nước trắng xóa như thế này. Tôi ngỡ ngàng, chỉ có thế này thôi mà tôi phải trả ba chục đồng. Rip off. Tôi quay qua nói với một người ngoại quốc da trắng. Chỉ có thế này thôi à. Ông ta nói. “Thieves.” Quả là nói oan. Nhưng người ta bóc lột tiền của người đi xem quá độ. Ông nói tiếp. “Nhưng chúng ta cứ đâm sầm vào đổ tiền vào túi của họ, vì thế đó là lỗi của chúng ta, sự ngu ngốc của chúng ta.”

ở phía sau thác

Sự ngỡ ngàng này thật ra bắt đầu từ sự hiểu lầm. Chúng tôi muốn đi lên chiếc tàu chạy trên dòng sông, ngược chiều đến gần thác. Khi nghe đi lên tàu, tôi từ chối không muốn đi. Chồng hỏi tại sao, tôi nói sợ. Chồng nạt, gắt gỏng, “làm gì mà sợ. Đã đến đây rồi mà lại không đi.” Ơ hay, sao người ta lại có quyền bắt mình phải đi phải làm những chuyện mình không thích. Tôi ghét chồng lúc ấy muốn nạt lại nhưng cãi nhau sẽ mất vui của mọi người, và tôi đã rất mệt. Tôi có bệnh tâm lý là tôi rất sợ chỗ đông người. Sợ đi tàu đi ghe (vì vượt biên), sợ những gì bất trắc, sợ đi xe (sợ tai nạn và sợ hư xe), sợ đi xa (dù muốn đi chơi). Bệnh này không rõ rệt lắm nên ít người biết, nhưng nó vẫn hiện diện trong tôi. Và tôi biết rất rõ bệnh của tôi.

Không bị đi tàu, giữa đám đông bát nháo trên tàu tôi thở phào nhẹ nhõm. Té ra chúng tôi chọn chuyến đi lòng vòng trong đường hầm chỉ để xem cái cửa động nhìn ra thác, một màn nước trắng xóa và đám rong bám lơ phơ trên cửa động.

Đi ngược trở ra tôi thấy một con đường khác dẫn ra cửa động khác. Nơi đây là một khoảng sân rộng rãi, có hàng rào. Du khách nhìn thấy bảng hiệu của chuyến đi phía sau thác.

dưới lòng thác nhìn lên miệng thác thấy vách núi dựng đứng

Từ chỗ đứng tôi nhìn thấy vách núi dựng đứng. Chúng tôi đang đứng ở dưới lòng thác nhìn lên.

nhìn thác hùng vĩ

Nước chảy xuống từ miệng horsehoe bowl. Mạnh mẽ. Hùng vĩ. Tiếng nước chảy ầm ầm át cả tiếng nói của đám đông. Tôi bỗng nhớ một câu thơ của Lý Bạch trong bài Tương Tiến Tửu. “Quân bất kiến. Hoàng hà chi thủy thiên thượng lai…” Chẳng biết sông Hoàng hà có khúc nào chảy mạnh như thác Niagara không, như nước từ trời rơi xuống sầm sập tung tóe thế này.

Tôi cố chụp cả miệng chén hình móng ngựa nhưng không được vì ánh sáng không đều và tôi không biết cách chụp.

Trong đường hầm có nhiều tấm áp phích giảng giải thêm về lịch sử của thác. nước đổ sầm sập xuống

Và đây là bóng của loại hoa dại màu tím loosetride in lên nền thác.