The Summer knows – Nàng Hạ hiểu thấu

“The Summer Knows” là bài hát chủ đề của phim Mùa Hè năm 1942. Cuốn phim này nói về một mối tình lãng mạn của Hermie cậu bé mười lăm tuổi với một thiếu phụ, có lẽ từ hai mươi sáu đến ba mươi, tôi không nhớ chắc. Mùa hè năm ấy, ba cậu nhóc con, đang tập tành làm người lớn, háo hức muốn biết mùi tình ái lần đầu. Hermie nhìn thấy người thiếu phụ rất đẹp đưa chồng lên đường ra trận và cũng chính cậu bé mang lá thư báo tin tử trận của người chồng đến cho nàng. Hermie yêu vẻ đẹp của nàng ngay từ lúc ban đầu. Người thiếu phụ trong lúc đau buồn vì mất chồng, được Hermie an ủi, đã đền cho cậu bé cái diễm phúc vỡ da đầu đời. Sau đó nàng biến mất, để lại trong trái tim cậu bé một vết thương suốt đời không lành. Vâng, tôi biết, thế nào cũng có bạn trừng mắt bảo đây là xâm phạm tình dục trẻ con. Nhưng cái thời ấy, người ta chưa lên án và bắt bỏ tù người đàn bà trong một chuyện tình lãng mạn như thế này.  Cái tone trong phim cho thấy cả hai bên đều đồng thuận chuyện ái tình.

Nói đến những khoảnh khắc của mùa hè, phim Mùa Hè 42 luôn trở lại với tôi, cái thời cuối những năm Trung học, tôi tập tành viết văn. Biển Vũng Tàu cách Sài Gòn không mấy xa nhưng tôi có cảm giác nó xa như từ VN sang Mỹ. Không phải chỉ có nghìn trùng xa cách mà cả mấy chục cái nghìn trùng. New Jersey chỗ tôi ở bây giờ cũng có dáng hình chữ S, suốt chiều dài của NJ là biển. Cứ nói đến mùa hè, là tôi nghe có tiếng chim biển, loài hải âu cánh trắng bay là là xuống bãi cát. Những khoảnh khắc của mùa hè luôn gợi nhớ những mối tình thơ trẻ, chưa nở đã tàn, summer flings như những bước chân trên bãi cát, cứ sóng vào là trôi hết.

Dấu chân trên cát không còn nhưng dấu vết thời thơ ngây cứ sâu thăm thẳm trong trí nhớ.

The Summer Knows qua giọng hát của Nana Mouskouri

The summer smiles, the summer knows
And unashamed, she sheds her clothes
The summer smooths the restless sky
And lovingly she warms the sand on which you lie

Nàng Hạ mỉm cười, nàng Hạ hiểu thấu
Không ngượng ngùng, nàng trút xiêm y
Nàng xoa dịu bầu trời rạo rực
Và nàng ấp yêu nền cát ấm cho bạn nằm 

The summer knows, the summer’s wise
She sees the doubts within your eyes
And so she takes her summer time
Tells the moon to wait and the sun to linger
Twists the world ’round her summer finger
Lets you see the wonder of her arm ?

Nàng Hạ hiểu thấu, nàng Hạ khôn ngoan
Nàng thấy nỗi nghi ngại trong mắt bạn
Và nàng thong thả chờ đến đúng lúc
Bảo nàng Nguyệt hãy khoan và chàng Nhật nấn ná
Thế giới tùng phục dưới ngón út nàng
Cho bạn được ngắm nhìn cánh tay tuyệt mỹ của nàng?     

And if you’ve learned your lesson well
There’s little more for her to tell
One last caress, it’s time to dress for fall

Nếu bạn biết vâng lời chỉ dạy
Nàng chẳng cần  phải nói thêm nhiều
Vuốt ve lần cuối cùng, đã đến lúc phải mặc quần áo mùa Thu   

Songwriters: Michel Jean Legrand / Alan Bergman / Marilyn Bergman

The Summer Knows lyrics © Peermusic Publishing, Warner/Chappell Music, Inc, Universal Music Publishing Group

Những khoảnh khắc của mùa hè

Trời nóng, nhưng nóng một cách dễ chịu. Có một đôi ngày nhiệt độ lên đến 39 hay 40 độ C. nhưng cả tuần nay thì chỉ 28 hay 29. Đi rừng, tôi cẩn thận mang theo nước cho vào tủ đông đá, gói trong bao giữ nhiệt độ nên đến quá trưa vẫn còn lạnh.  Tuy vậy, cái nóng vẫn làm người thấy uể oải, muốn vào trong bóng mát để ngủ. Ở trong rừng, mùa này trong bóng mát thì đỡ nóng, nhưng muỗi mòng kinh khủng.

Có những chỗ rộng rãi, đủ cho người đi nhìn thấy bóng lá in trên đường. Tôi bỗng nhớ đến một thứ nắng mang hình ảnh rất thơ, “nắng lưa thưa” trong câu hát của ai đó, phải Lê Trọng Nguyễn không? “Lạnh lùng mềm đưa trong nắng lưa thưa.”

họp bạn giữa hồ
Trên đường rừng gặp một toán hướng đạo sinh thả mấy chiếc ca nô ra giữa hồ. Bảy cái chèo đặt trên chiếc ca nô đỏ. Một chiếc ca nô còn lại trên bờ được khóa xiềng xích cẩn thận. Sợ xích to bằng cổ tay tôi, có hai ba chiếc khóa.  Tôi thấy mấy chiếc ca nô giống như một nhóm bạn chơi với nhau, và bụi cỏ nhỏ đứng bên ngoài nhìn vào. Cái nhìn của một người ngoại cuộc.
cattails
Nói đến những khoảnh khắc của mùa hè không thể không nhắc đến loại cỏ cattails. Một loại cỏ được dùng để trang trí, luôn luôn thu hút ánh nhìn khi đứng chung với các loại hoa mỹ miều.
hoa tia nắng
Không biết tên hoa này, nó có vẻ như những tia sáng phát ra từ mặt trời.
zinnia
Zinnias
lá tía tô
Lá tía tô. Thúng tía tô lớn mạnh lá to như bàn tay. Không biết có phải nhờ tôi đổ sữa và trứng gà từ hồi mùa đông làm phân bón cây hay không. Có một vài hôm tôi thấy mấy con mèo con vào bươi trốc gốc cả thùng tía tô và thùng rau húng (mint). Từ đó tôi ngại không muốn hái rau thơm vào ăn, sợ mèo con ị trong mấy thùng rau.
triển lãm tranh trong concourse
Buổi trưa đi ngang Concourse của the Gateway thấy có bức tranh này.
purple cone
Purple cone
ong và hoa
Ong và hoa
nghệ sĩ kèn đồng
Nghệ sĩ kèn đồng trong một buổi trình diễn jazz
một nhóm học sinh hiking với thầy giáo
Một nhóm học sinh được thầy giáo dẫn đi hiking
hoa nhện đỏ
Hoa giống như những con nhện đỏ.
dâu rừng
Dâu rừng
cuộc vui
Trò chơi trong công viên
một loại vạn niên thanh
Hoa của một loại vạn niên thanh. Suốt mùa đông cây không bao giờ chết. Mùa hè mọc lan thật mạnh
nắng chiều
Nắng chiều
mulleins
Tiếng Anh gọi là mulleins.

 

Mùa hè rực rỡ

rào hoa

Buổi sáng đi đến nơi này, thấy rào hoa rất đẹp. Tôi muốn chụp ảnh hoa nhưng ngại chụp vào nhà người, sợ bị nghi đi ăn trộm. Vừa lúc ấy có một người phụ nữ đi đến. Bà khen hoa đẹp. Tôi ngỏ ý muốn chụp ảnh không biết có được không. Bà nói vội vàng, được quá chứ sao không. Bà còn dắt tôi băng qua đường, bảo rằng phải ngắm hoa thật gần thì mới thú. Tôi thường gặp ông chủ nhà này trồng hoa và tưới hoa. Có đôi chút ngạc nhiên vì người trồng hoa là đấng nam nhi chứ không phải phụ nữ. Nhà này trang trí theo mùa. Lễ Halloween ông chủ cũng trang trí rất đẹp. Người phụ nữ đi bộ ấy còn bảo tôi, hãy đi đến cái nhà bát giác cạnh bờ hồ, trên mái nhà có một tổ chim non.

cúc thược dược
Cúc thược dược 
cúc
Enter a caption

cũng thuộc giòng họ cúc

hoa cúc giống như cái mũ
Đài cúc trông giống hình cái mũ 
không biết tên
Không biết tên 
moss rose
Moss rose 

Vườn hồng có lối vào*

khu vực trồng hoa hồng
Vườn hồng mang tên Peggy Rockefeller. Beatrix Farrand thiết kế năm 1916. Sửa chữa và hoàn tất năm 1988
góc vườn
Cô gái ngồi nghỉ chân ở một góc vườn hồng

Truyện xưa kể rằng, trong tổ uyên ương, Cleopatra đã dồn gối bằng cánh hoa hồng khô. Người La Mã kết hoa hồng thành vòng hoa để trang trí trong các lễ đại yến đại tiệc. Hồng với hương thơm và nhan sắc được quí trọng đến độ Nero, hoàng đế La Mã (cai trị từ năm 54 đến năm 68) đã cho rải cánh hoa hồng như mưa trên các vị khách quí của ông.

Hồng vàng
May gặp một đóa hồng vàng còn phong độ

Hoa hồng được dùng làm biểu tượng của tình yêu. Tuy nhiên, đã có thời hoa hồng cũng là biểu tượng của cái chết. Theo truyền thuyết của người Do Thái, hoa hồng màu đỏ bởi vì đó màu của những giọt máu đầu tiên rơi trên địa cầu. Người của bộ lạc Teutons xem hoa hồng là biểu tượng của chiến tranh và chết chóc. Họ đặt tên những bãi chiến trường là vườn hoa hồng, nơi họ chiến đấu và cũng là nơi họ ngàn thu yên nghỉ.

hồng hai màu cam và vàng
Hồng màu cam và vàng

Không phải lúc nào hoa hồng cũng tượng trưng cho sự cao quí. Vào thế kỷ mười chín, ở Nîmes, một thành phố miền Nam nước Pháp, người ta gọi các cô gái điếm là “hoa hồng.” Chữ sub rosa hay bên dưới rặng hoa hồng được dùng để ám chỉ những điều bí mật, thí dụ như những bức thư tình lén lút trao, hay những âm mưu chính trị nhằm khuynh đảo thời thế. Khi người Hy Lạp âm mưu chống Xerxes, vua xứ Ba Tư, họ họp kín dưới một cái cổng hình vòng cung hoa hồng giăng đầy, từ đó hình thành chữ sub rosa.

hồng tím bị héo
Hồng tím bị héo

Hoa hồng là biểu tượng của vương quốc Anh. Tương truyền hoa hồng hiện diện từ cổ xưa ở Ấn Độ. Ông Khổng Tử từng nhắc đến loài hoa hồng ở Bắc Kinh.

hồng có vân màu trắng và hồng nhạt
Hồng có vân màu hồng đậm và trắng

Có phải hoa hồng là nụ cười của Amor (còn gọi là Cupid) vị thần tượng trưng cho tình yêu, chú bé với cái cung?

hồng hai màu cam và vàng
Hồng hai màu cam và vàng

Hay đó là những đóa hoa rơi ra từ mái tóc của Aurora vị nữ thần tượng trưng cho bình minh?

Hồng hồng
Hồng hồng

Hay hoa hồng là vũ khí của nữ thần Cybele, bà sáng tạo ra một loại hoa, để trả thù Venus, thần Vệ Nữ tượng trưng cho Tình Yêu. Cái đẹp lộng lẫy của Venus phải chào thua nhan sắc của hoa hồng

lẻ loi hồng trắng trong đám hồng vàng
Hồng trắng lẻ loi trong nhóm hồng vàng

Thật ra tất cả các loại hoa hồng này đều có tên riêng nhưng tôi quên không ghi lại. có chụp ảnh hồng trắng nhưng bị mờ. Còn rất loại hồng tường vi người ta trồng sát theo hàng rào, thơm ngát và đủ màu.

Tiêu đề bài này lấy ý từ mấy câu ca dao:
Bây giờ mận mới hỏi đào,
Vườn hồng đã có lối vào hay chưa?
Mận hỏi thì đào xin thưa,
Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào

Mùa hạ chưa qua

cái nấm mọc trên sân
Cái nấm to mọc trên sân trước nhà
chạy đi người ta ngó kìa
Hai con nai ở sân sau nhà hàng xóm, thấy người chúng bảo nhau: “chạy đi thôi người ta nhìn kìa.”
duyên dáng
Duyên dáng
inkie
Inkie. Lúc sau này thường đến đòi ăn. Đến giờ mà không thấy thức ăn là chàng kêu um sùm. Giọng kêu rất buồn. Chàng dữ lắm, rượt đánh Nora hoài. Có hôm dồn Nora vào sát cửa trước, đánh nàng làm nàng sợ đến độ tiểu vãi ra.
nai bên nhà hàng xóm
Chàng này đi ăn trộm rau cải hoa quả của nhà hàng xóm. Bị bắt quả tang còn đứng nghênh.
ông già cô độc
Ông già cô độc
thăm dò
Bướm vàng hoa tím
ve vãn và gọi mời
Nàng mời mọc còn chàng thì ve vãn
bướm vàng
Hoa tím bâng khuâng mọc dọc theo bờ hồ
Chàng đang múa
Chuyên ba người.
một chút sương mù
Nắng sáng và sương mù
mưa nhiều nên có thác
Trời mưa hôm trước nên có thác
nụ hoa dâm bụt
hoa dâm bụt chưa nở hẳn
trái của cây dogwood (sơn thù du)
Trái của cây sơn thù du
Đàn ngỗng Canada bên kia bờ hồ
Đàn ngỗng Canada bên kia hồ
nấm màu vàng chung quanh gốc cây như một xâu chuỗi
Nấm vàng mọc chung quanh gốc cây như xâu chuỗi
thistle
Hoa thistle còn gọi là cây kế
ginger
Ginger

Late Summer – Cuối hạ

Late Summer – Cuối hạ

In the gentle evening of the summer,
which is tired with the festival,
the water is clear
and the fish are at the bottom.

buổi chiều mùa hạ dịu dàng
đã mỏi mệt với hội hè
nước trong
cá lượn lờ dưới đáy

Holding left over wreaths
in their languid arms,
trees are
already dreaming

ôm những vòng nguyệt quế còn sót lại
trêong cánh vòng tay lười biếng
cây cối đang mơ màng

The last bird has flown by,
holding a black sound
in its beak

Con chim cuối cùng bay đi
ngậm tiếng kêu u tối
trong mỏ

Farewell, summer,
quicken your pace as you go …
stars fall quietly into the water …

Giã từ, mùa hạ
bước nhanh lên khi ra đi
Sao trời lặng lẽ rơi vào đáy nước

Tada Chimako – Nguyễn thị Hải Hà dịch

hai người lớn và ba trẻ em
Hoa rừng trông giống như một gia đình với hai người lớn và ba trẻ em
sưởi nắng
Rắn nằm sưởi nắng cạnh đường mòn nấp dưới lá
nấm to
Một cái nấm thật to
berries trong nắng sớm
Blue berries mọc hoang chín rụng đầy

Vài tấm ảnh

Tôi bắt bạn đọc nhiều rồi, hôm nay đổi gió, đọc vài câu, xem ảnh xoàng xoàng thôi.

xe ngừng cho đàn vịt băng qua đường
Đàn ngỗng Canada đủng đỉnh băng qua đường. Xe ở hai chiều ngừng lại cho ngỗng đi qua.
kẻ chận hậu
Kẻ cuối cùng đi chận hậu, theo ngôn ngữ của người hiking kẻ này được gọi là sweeper, đi chận hậu.
vượt xa lộ an toàn
Cả đoàn đến hồ bình yên
bức tường của một ngôi nhà cổ
Vách tường của một ngôi nhà cổ xưa trong thành phố Newark, New Jersey.
clematis
Hoa clematis ở hàng rào một bãi đậu xe
hoa súng trắng
Hoa súng trắng ở hồ Watchung, buổi sáng sớm đi bộ
trái thông
Mấy trái thông của hàng thông quanh bờ hồ Watchung
tượng một người ngồi chống cằm làm bằng những đôi giày
Bức tượng trong viện bảo tàng mỹ thuật Newark, giống một người ngồi xổm chống cằm hay ôm cổ, được kết hợp từ những chiếc giày.