Đọc Mùa Chinh Chiến Ấy và Dấu Binh Lửa

mùa chinh chiến

dấu binh lửa

Đọc “Mùa Chinh Chiến Ấy” của Đoàn Tuấn và “Dấu Binh Lửa” của Phan Nhật Nam.

“I hate war as only a soldier who has lived it can, only as one who has seen its brutality, its futility, and its stupidity.

“Tôi thù ghét chiến tranh như là một người lính từng trải qua cuộc chiến mới có thể (thù ghét chiến tranh đến mức ấy), như là một người đã từng nhìn thấy sự tàn bạo, vô ích, và ngu xuẩn của nó.”

Dwight D. Eisenhower (1890-1969). Speech, Ottawa (Canada), 10 January 1946.

“The first casualty, when war comes, is truth.”

“Cái chết đầu tiên, khi chiến tranh đến, là sự thật.”

Hiram Johnson (1866-1945) California governor and U.S. senator.

Sinh năm 1960, Đoàn Tuấn tham gia chiến trường Kampuchia năm 1978, bộ đội tình nguyện. Phan Nhật Nam, lính Việt Nam Cộng Hòa, biết mùi khói lửa khi Đoàn Tuấn mới vừa ba tuổi. Khi Đoàn Tuấn đang sống chết ở núi rừng Kampuchia thì ông Phan Nhật Nam đang bị giam trong trại tù, chín lần chuyển trại từ Nam ra Bắc. Hai người ở hai chiến tuyến khác nhau, dưới hai chế độ đối nghịch nhau, sự khác biệt tưởng chừng đã đến mức tột cùng của hai thái cực, thế nhưng hồi ký chiến trường của họ lại có những điểm tương đồng.

Đoàn Tuấn bắt đầu “Mùa Chinh Chiến Ấy” bằng bài thơ dài của Lê Minh Quốc, nhà thơ và cũng là bạn đồng ngũ. Phan Nhật Nam cũng bắt đầu “Dấu Binh Lửa” bằng bài thơ, cũng dài, do chính ông sáng tác ba mươi năm sau khi đọc lại quyển hồi ký của chính ông viết, ở Mỹ. Nhờ bài thơ dài này mà tôi chú ý Phan Nhật Nam cũng quen thuộc với chiến trường Kampuchia.

Quân tràn sóng lũ về phương Tây
Ôi Việt, Miên nào riêng thảm cảnh
Bên đường tượng Phật buồn chắp tay
Phật thấm xót đau đá vỡ nức [sic]
Oán hận rây mờ tán thốt nốt
Minot, Kompong rồi Snoul
Tây tiến râu tóc cùng xám nhợt
(Phan Nhật Nam, trang iii)

Đoàn Tuấn và Phan Nhật Nam chiến đấu với niềm tin là họ đang bảo vệ lãnh thổ và người dân của họ. Họ thương yêu bạn bè đồng ngũ, họ xót xa cho người già em bé cuộc sống vất vả với quê nghèo cày xới bởi đạn bom.

Phan Nhật Nam và Đoàn Tuấn thuộc về các quân đoàn thiện chiến tham gia những trận đánh đầy máu lửa và phải đương đầu với mìn bẫy của đối phương. Vào thời của ông Phan Nhật Nam, mìn bẫy của bộ đội Bắc Việt, mua của Trung Cộng tuy thô sơ, nhưng cũng gây thương tích đáng kể. Đến thời của Đoàn Tuấn, mìn của Kampuchia do Trung quốc chế tạo tinh vi hơn, sức công phá tàn bạo hơn và có chất độc. Lính bộ đội hễ trúng mìn của Khmer đỏ, dẫu chỉ thương tích nhẹ cũng chết vì chất độc. Phan Nhật Nam tuyên bố không sợ đánh trận nhưng sợ mìn giăng. Còn Đoàn Tuấn diễn tả sự căng thẳng hãi hùng của ba người, trong đó có Tuấn, phải vượt ngang bãi mìn do chính cả hai bên gài trên trên con đường độc nhất đến căn cứ. Đoạn đường rất ngắn chỉ chừng trăm mét mà họ phải mất ba tiếng đồng hồ để vượt qua. Người đi trước cách người đi sau năm mét. Điều đáng cảm động là cả ba người đã tranh với nhau, làm người đi đầu tiên, có nghĩa là giành cái chết về phần mình.

Cả hai quyển hồi ký đều nói về những người chỉ huy có tài và được thuộc cấp kính phục, những người lính rất đáng yêu chết trẻ, và những cái chết rất oái oăm. Có những người đi đánh trận bao nhiêu ngày không sao, lại chết lúc trên đường về hậu phương để đi đại học hay được phép về thăm nhà. Cả hai tác giả đều tin rằng có những người chỉ huy có tướng “sát quân” hễ dẫn quân đi là bị địch thủ tấn công. Lính của cả hai bên đều có cùng niềm tin dị đoan là hễ nhà bếp nấu cơm sống hoặc cơm khê là sẽ gặp địch tấn công và có người chết. Lính của cả hai bên đều sợ bị nhục hơn là sợ chết. Cả hai bên đều có những người bắn đến viên đạn cuối cùng rồi tự tử nhất định không để rơi vào tay đối phương. Tuy sống chết ở chiến trường, nhưng họ cũng có lòng nhân từ với những người đối phương họ chưa hề chạm mặt.

Cả Đoàn Tuấn và Phan Nhật Nam đều trải qua cơn khát đến suýt mất mạng trên đường hành quân. Một người đồng đội với Đoàn Tuấn, đã dùng súng tự tử vì không chịu nổi cơn khát. Chính tác giả sau cơn khát ba ngày cũng ngất xỉu trước khi được người tìm được nước mang đến cứu mạng (Đoàn Tuấn, trang 434 – 437). Phan Nhật Nam và đồng đội ở Bình Giả đói và khát hai ngày. Lính phải hút nước ở rễ cây, có người gặp cây độc đứng tìm mà chết.

Đầu gục xuống, súng vác trên vai, tôi thở không những bằng mũi mà cả bằng chiếc mồm há thật lớn, chiếc lưỡi căng phồng, nhức nhối và đôi môi khô không còn chút cảm giác. Tro rừng, đất bụi bám đầy mặt mũi, bay đầy vào mồm, không còn tí nước bọt nào để nhổ ra, tôi đưa tay vào mồm chà trên lưỡi từng tảng tro đen! Quốc lộ 15 đây rồi, có thửa ruộng nhỏ bên đường, tôi úp chiếc mặt vào giòng nước đục ngầu phủ lớp bùn non… Uống! Uống! Như loài thú hoang trên sa mạc. Ngày hôm nay mới mồng tám Tết.

Về đóng quân ở quận Đất Đỏ, trong vườn cây vú sữa xanh tươi bóng mát. Tôi căng võng đọc sách, cho lính đi mua gà về nhậu với rượu đế, ngà ngà say suốt ngày. Nắng như thêu hoa trên áo, những ngày thật bình yên. Nhưng đêm thì thao thức không ngủ được, những hôm trời trăng sáng đem lính đi phục kích nằm trong rừng tiêu, cây tiêu dưới bóng trăng lạnh trông như những bóng người khổng lồ. Vẻ đẹp của khu rừng chứa đầy bí ẩn kinh dị. […] (Phan Nhật Nam, trang 58 – 59)

Cả hai tác giả, Đoàn Tuấn và Phan Nhật Nam đều có tài tả người rất sắc bén. Chỉ cần vài câu thậm chí vài chữ là người đọc có thể hình dung được nhân vật mà tác giả đang đề cập. Hai người lính mà cũng là hai nhà văn này đều có những đoạn văn tuyệt đẹp. Phan Nhật Nam có nhắc đến chất lân tinh trong lá rừng. Trong đêm tối mù mịt để dễ nhận ra và theo kịp đồng đội, người lính đã lấy lá rừng gắn lên lưng áo của người đi trước mặt. Còn Đoàn Tuấn thì có nguyên một đoạn văn dài thật lãng mạn.

Một đêm trời mưa dầm dề. Tôi và Thuận, hai võng mắc nối tiếp. Tôi giả vờ ngủ. Dưới chân chúng tôi cơ man là lân tinh, lấp lánh như dải Ngân Hà. Trời mưa. Nước từ đỉnh rừng cứ lặng lẽ rơi xuống qua những tầng lá cao thấp, tạo thành bản nhạc rả rích, thầm thì trong không gian sẫm tối. Hình như đêm càng tối, ánh lân tinh càng sáng. Thuận mới lên, còn mê mẩn ánh lân tinh. Tôi thấy Thuận lọ mọ đi nhặt từng chiếc lá đầy ánh sáng. Hắn soi lên xem có gì bí ẩn trong đó. Thứ ánh sáng ma mị, diệu kỳ. Nếu đây không phải là Anlong Veng, thì có lẽ chúng tôi nghĩ mình đang ở một xứ sở thần tiên nào đó. Tôi thấy Thuân ép từng chiếc lá vào trong cuốn sổ. Lại nhớ chuyện Thuận kể. Khi còn đi học, có những đêm mải chơi, về không kịp học bài, bọn hắn đi hái những chiếc lá thuộc bài, về ép vào trang sách, đúng chỗ có bài cần học. Sáng hôm sau, thầy hỏi bài, dù không học, nhưng nhất định trả lời được. Ôi! Tuổi học trò của học sinh miền Trung lãng mạn bao nhiêu! Sao những đứa học trò đang có những kỷ niệm vàng ngọc như vậy, lại phải giã từ sách bút, để cầm cây súng đến đồn trú nơi biên ải xa lạ này? Sáng ra, tôi để ý, thấy Thuận mở sổ. Hắn nhìn những chiếc lá tuyệt diệu đêm qua. Hỡi ôi! Chẳng còn thứ ánh sáng nào đọng lại. Chỉ còn là những chiếc lá bẩn thỉu, nhôm nhem, đầy dấu giày, đầy bùn đất. Thuận lặng lẽ vứt đi. 

Có gì khác nhau giữa đêm và ngày? Giữa ánh sáng ảo và ánh sáng thật? Giữa lãng mạn và thực tế? Giữa những gì ta ước mong và đối diện? Có điều gì mất trong Thuận không? Có điều gì giữ lại trong Thuận không? (Đoàn Tuấn, trang 201)

Đoạn văn này làm tôi liên tưởng đến một đoạn trong phim Avatar khi hai nhân vật trong phim đi trong rừng đêm, rừng tỏa ánh sáng theo từng bước chân của họ.

Đọc Mùa Chinh Chiến Ấy, tôi tìm được vài chi tiết giúp tôi hiểu biết thêm về chiến tranh Việt Nam. Vài đồng đội của Đoàn Tuấn, trong khi trò chuyện đã cho biết súng AK dùng tốt hơn súng M-15 hay M-16 của Mỹ vì loại súng này hay bị kẹt đạn. Tôi đã nghe kể điều này nhưng qua hồi ức chiến tranh của Đoàn Tuấn, chi tiết này càng đáng tin hơn. Bạn đọc sẽ dễ có cảm tình với quyển hồi ức của Đoàn Tuấn dù bạn là người của chế độ cũ. Bởi vì toàn quyển sách, mỗi lần nhắc đến người của chế độ cũ, quân đội cũ, Đoàn Tuấn đều dùng lời lẽ trang nhã và kính trọng họ như người anh, người đi trước. Bạn đồng ngũ của Đoàn Tuấn rất yêu thích nhạc vàng. Thỉnh thoảng người đọc sẽ nghe được những câu hát từ những anh lính trẻ. Thêm một chi tiết làm tôi có cảm tình với quyển sách của Đoàn Tuấn, là tác giả và các bạn đồng ngũ không gọi nhau là đồng chí. Họ dùng chữ đồng hương. Chúng ta có thể bất đồng chí hướng nhưng cùng sinh ra trên một dải quê hương.

Đọc Dấu Binh Lửa, tôi biết thêm quan niệm của ông Phan Nhật Nam về nghệ thuật viết văn. Hồi ức (hay hồi ký) thường bị phê bình, “Chỉ ghi chép những sự kiện thiếu tính chất sáng tạo.” Phan Nhật Nam tỏ ý bất bình. Ông lý luận: “Nhưng thế nào là sáng tạo? Thử nhìn vào các tiểu thuyết có rất nhiều “sáng tạo tính”, tiểu thuyết có mang một chữ “Fiction”rõ ràng như tiểu thuyết của người Mỹ, những cuốn sách ngất ngây quyến rũ có thể đọc một hơi từ đầu đến cuối. Trong đó nếu ta không gặp được những vật “ngoài đường” thì ít nhất cũng là khuôn mặt ao ước vì nỗi cao đẹp hay tội lỗi hấp dẫn của nó. Những “người tiểu thuyết” này đã tung hoành trong chuỗi hiện tượng sống động và rất “có thật”. Có thật. Tôi nắm giữ cán dao chủ động này để nhắc nhở: Hãy cứ viết, sáng tạo hay không cũng không ra khỏi đời sống. Viết đi. (Phan Nhật Nam, trang 210)

Ngoài những điểm chung đã nêu bên trên, hai ông Phan Nhật Nam và Đoàn Tuấn có thêm một điểm nữa, đó là cả hai đều may mắn sống còn để viết lại hồi ức của họ. Tôi không thể nào nêu ra tất cả điểm hay của hai quyển hồi ký này. Bạn hãy đọc đi, đọc và khóc và cười và tưởng tượng và đau xót với từng câu chuyện và từng nhân vật. Đọc để thương máu và thân thể của bao nhiêu người đã chôn vùi trên mảnh đất quê hương của chúng ta. Hãy tưởng nhớ và đừng lãng phí sự hy sinh của những người quá cố.

Bài điểm sách “Mùa Chinh Chiến Ấy” (tác giả Đoàn Tuấn) của nhà thơ Võ Thị Như Mai.

Như Mai và tôi quen nhau qua blog. Mai gửi bài này nhằm vào lúc tôi mới vừa đọc xong quyển sách hôm qua. Tôi có xóa vài chữ Mai khen tôi rộng rãi quá làm tôi thấy mình không xứng. Xin mời các bạn đọc bài điểm sách của Võ Thị Như Mai.

Continue reading Bài điểm sách “Mùa Chinh Chiến Ấy” (tác giả Đoàn Tuấn) của nhà thơ Võ Thị Như Mai.

Con mèo, anh chồng, và hai cô vợ

Tôi đọc xong truyện “A Cat, a Man, and Two Women” của Jun’ichiro Tanizaki. Nếu bạn thích “Lady and a little dog” của Anton Chekov thì bạn sẽ thích truyện này. Tanizaki chắc chắn là người thích mèo vì ông biết tất cả thói quen của mèo và đưa vào truyện ngắn những chi tiết về thói quen của mèo một cách rất tỉ mỉ. Không phải ai cũng thích loại truyện này, nó có thể gây nhàm chán vì chỉ nói toàn quan hệ giữa đàn ông với đàn bà, với những khúc mắc tâm lý của nhân vật. Anh chồng, người hiền lành, không mấy giỏi giang anh hùng, được mẹ săn sóc nuôi nấng. Lớn lên được vợ hầu hạ phục vụ. Anh có nuôi con mèo và anh rất yêu nó. Yêu đến độ cô vợ đầu tiên phát ghen. Anh bỏ cô vợ đầu tiên, lấy cô vợ thứ nhì giàu hơn, trẻ hơn. Cô vợ thứ hai cũng ghen với con mèo. Lòng ghen này xảy ra sau khi cô vợ cũ, viết thư cho cô vợ mới, xin được nuôi con mèo. Lá thư được tác giả, rất sành tâm lý phụ nữ, khéo léo gợi lòng ghen của người đàn bà. Cô vợ mới bắt anh chồng phải đem cho con mèo và anh vâng lời. Con mèo về tay người vợ cũ. Cô vợ mới lại ghen vì lo sợ anh chồng sẽ vì con mèo tìm về cô vợ cũ…

Đôi khi tôi tự hỏi, cái hay của một tác giả có phải là, có thể hấp dẫn người đọc bằng những đề tài tầm thường. Đọc truyện này tôi có cảm giác như đọc truyện Tây phương hơn là truyện Nhật, vì nó thể hiện một xã hội quá bình an, hạnh phúc nên chỉ có thể xoay chung quanh chuyện gia đình, những cãi vã vô tận giữa đàn ông với đàn bà.

Thật ra, không phải chỉ có hai người đàn bà, mà là bốn người, nếu tính thêm bà mẹ và con mèo (cái). Bà mẹ là chất xúc tác đưa đến chỗ bỏ người vợ trước và cũng chính bà là người môi giới dẫn đường đến người vợ sau. Thật ra, không chỉ ly dị người vợ trước mà là tống cổ đuổi đi. Con mèo sống với bản năng muốn được ăn ngon, ngủ ấm. Nó đi vào lòng ông chủ và từ đó quấy nhiễu cuộc đời của ông ta với ba người đàn bà; những người đáng lẽ phải được yêu quí hơn con mèo.

Từ khi tôi đọc quyển Dog Man (của Martha Sherrill), phim The Makioka sisters, và tiếp theo là truyện này, tôi thấy cảm phục sự chịu đựng đầy nhẫn nại của phụ nữ Nhật Bản và thương xót cho thân phận của họ. Không biết xã hội Nhật đã tiến triển đến mức nào, và ngày nay cuộc sống của phụ nữ Nhật như thế nào; vài thập niên trước, số phận của họ vẫn còn hoàn toàn phụ thuộc vào người đàn ông, cha hay chồng. Đúng với câu thơ của Mạc  Bạch Cư Dị. Nhân sinh mạc tác phụ nhân thân. Bách niên khổ lạc do tha nhân. (Dịch là: Ở đời chớ làm thân đàn bà. Trăm năm vui khổ do người ta.)

Truyện dành cho trẻ em

Khi muốn đầu óc thanh thản hơn, tôi thích đọc truyện hay xem phim dành cho trẻ em. Một trong những điểm lợi khi đọc sách và xem phim dành cho trẻ em, là ít bạo động (ít nhưng vẫn có), tranh ảnh rất đẹp, lời văn đơn giản, tình dục thì hầu như không có, ngoại trừ khi đó là sách dành cho những người đang ở tuổi dậy thì (young adults) thì có nói đến tình yêu và tình dục nhưng không đến độ làm người đọc thấy khó chịu.

Lang thang trong trang mạng của thư viện địa phương, với key word là wabi sabi, tôi tìm ra rất nhiều quyển sách hấp dẫn, trong đó có một quyển dành cho trẻ em có tên là Wabi Sabi. Quyển sách này của tác giả Mark Reibstein, tranh ảnh minh họa của Ed Young. Trong quyển này Wabi Sabi là tên của con mèo. Nó không hiểu tên của nó nghĩa là gì và đi tìm nghĩa của chữ này.

Đơn giản, tác giả giải thích và đưa người đọc đến với văn hóa Nhật Bản bằng một cách hành văn giản dị dễ hiểu. Truyện có lẽ dành cho trẻ em mới biết đọc hay cần được cha mẹ đọc cho nghe. Tôi tìm thấy một số hài cú của Basho và Shiki được dịch sang tiếng Anh. Tôi thấy quyển này enjoyable. Tôi có người bạn thích post lên facebook những bài trắc nghiệm về bản tính của người đọc. Có lần tôi thử một bài trắc nghiệm của cô ấy thì thấy tôi nhìn cuộc đời bằng đôi mắt trẻ thơ. Có lẽ vì vậy tôi thích sách dành cho trẻ em, phim hoạt họa. Cũng có thể vì trẻ khôn ra, già lú lại, tôi thích truyện trẻ em vì nó dễ hiểu (và ít dùng chữ khó 🙂 ) Thêm một lý do nữa là tôi thích xem tranh, ảnh.

Nghiệm lại, từ khi còn nhỏ đến giờ, tôi vẫn tò mò về văn hóa Nhật Bản, văn học Nhật và Thiền giáo. Tôi có cả một bộ sách của Dazai Osamu tôi vẫn tự bảo mình cần phải dẹp bớt những thứ linh tinh lang tang để đọc bộ sách này. Mấy tuần nay thì tôi xem một số phim không tiếng nói của người Nhật. Qua lời giới thiệu của một bạn trẻ nào đó tôi tìm xem phim Song of the Sea (phim trẻ em có huyền thoại của người Irish, Celtic) và The Wind Rises, phim Nhật (lúc nào rảnh sẽ nói sau).

Hết tìm bên ngoài, lại tìm trong mình, một cái gì đó chưa thành hình, chưa rõ nét.

1

Ảnh 1. Một cây thông già có thể dạy cho chúng ta những sự thật quí giá. Châm ngôn Thiền.

Wabi Sabi là một cách nhìn về cuộc đời, trọng tâm của nền văn hóa Nhật Bản. Quan điểm này nhìn thấy cái đẹp và sự hòa hợp ở trong sự đơn giản, khiếm khuyết, bản chất tự nhiên, khiêm nhường, và bí ẩn. Nó có thể hơi ảm đạm, nhưng nó cũng ấm áp và dễ chịu. Có thể hiểu Wabi sabi bằng cảm nhận hơn là ý nghĩa.

2

Ảnh 2. Wabi sabi bắt nguồn từ văn hóa cổ của Trung quốc, quan niệm sống của Đạo giáo và Thiền (theo nghĩa Phật giáo) tuy nhiên nghĩa chữ này bắt đầu thay đổi khi Thiền giả Murata Shuko ở Nara (1423-1502) thay đổi nghi lễ thưởng thức trà. Ông loại bỏ những ấm tích chén tách dùng trà sang trọng bằng vàng, ngọc thạch, và sứ trắng bằng những thứ đồ dùng quê mùa, thô nhám, bằng gỗ hay đất sét nung. Vài trăm năm sau, trà sư nổi tiếng Sen no Rikyu ở Kyoto (1522-1591) mang quan niệm wabi sabi vào giới cầm quyền. Ông xây những trà thất có cửa thật thấp đến độ ngay cả hoàng đế cũng phải khom lưng để vào nhà, nhắc cho mọi người nhớ đến sự quan trọng của đức tính khiêm nhường đi trước cả phong tục cổ truyền, những điều bí ẩn, và linh hồn tổ tiên.

3

Ảnh 3. Đây là những bài hài cú được phiên âm của tác giả Basho (đánh dấu bằng chữ B) và Shiki (đánh dấu bằng chữ S) được Nanae Tamura chọn và dịch sang tiếng Anh. Tamura là một học giả chuyên về hài cú. Cô dịch và sáng tác, giám khảo chọn giải thưởng cho cuộc thi hài cú toàn quốc ở Nhật và là giáo sư phụ giảng của Trung Tâm Quốc Tế của Đại học Ehime.

4

Ảnh 4. Những bài hài cú được dịch ra tiếng Anh.

5

Ảnh 5. Một phần của tranh minh họa được cắt dán bằng giấy màu. Còn rất nhiều tranh bích họa nhưng tôi chọn phần này vì nó sáng sủa hơn những bức tranh khác. Và cũng vì tôi thích tranh tre hay trúc. Trên bức tranh có hai bài hài cú.

Xóm nhà màu sậm, nổi
trên mặt biển cát trắng. Dòng suối
cuốn trôi đá cuội, reo.

Vị sư về gom lá
vào đụn cát mới cào, cô mèo
khiêm tốn có thể hiểu.

Sách

Lúc người ta có thể hưởng thụ thú vui học hỏi nhất, là khi về già, như tôi lúc này. Tôi thích học văn, nhưng cũng như bao nhiêu học sinh khác của tất cả những ngành học khác không phải môn nào trong văn học tôi cũng thích. Nếu bạn là học sinh, bạn bị bắt học những môn mà bạn rất chán, những môn này chính là những môn có thể làm bạn bị điểm thấp, thi rớt, bị mắng, bị phạt đủ thứ. Có nhiều khi tôi chỉ muốn học một lớp nào đó thôi và trốn tất cả các lớp khác. Học như tôi bây giờ, chỉ để cho thỏa mãn sự hiếu kỳ hay để cho đầu óc có cơ hội suy nghĩ tự vấn. Không còn sợ điểm hạng hay bị rầy mắng nữa. Lại càng không sợ phải đóng tiền học.

Tôi đang tìm hiểu hai nhánh cùng một lúc. Văn học với bối cảnh chiến tranh, và những vấn đề có liên quan đến mẹ con. Tôi chưa biết tôi muốn biết gì về chiến tranh hay mẹ con vì hai chủ đề này rộng lớn bao la quá. Mù mờ, tôi muốn biết truyện viết về chiến tranh như thế nào là truyện hay. Tôi đang nghe All Quiet on the Western Front (Mặt Trận Miền Tây Vẫn Yên Tĩnh) và bị thu hút bởi giọng đọc của Frank Muller, như một người kể chuyện xưa, vừa đủ nghe, đầy suy nghĩ, đôi khi như nói chuyện một mình. Tuy sách rất hay, hấp dẫn, nhưng ngồi trên xe lửa tôi cứ ngủ quên khi tỉnh giấc lại quay trở lại đoạn đã nghe, nên nghe hoài vẫn chưa hết. Tôi bị ốm mấy tuần nay, già cả bệnh dây dưa lâu khỏi, cảm ho thôi, nhưng thuốc ho làm tôi ngủ triền miên. Về tình mẹ con, tôi muốn đi ra ngoài giới hạn chữ hiếu, tôi muốn biết về những tình mẹ con bị đứt đoạn, hủy hoại, tình ghét nhiều hơn tình thương. Tôi cũng muốn thử tìm hiểu nếu xã hội hay quốc gia này được điều khiển (govern) bởi những bà mẹ thay vì là những nhà chính trị thì nó sẽ ra làm sao. Với chủ đề này, tôi đã đọc một số sách.

Mothers Who Think, Camille Peri và Kate Moses, biên tập.

Women Leaders of Nations của Don Nardo

Of Women Born của Adrienne Rich

Female Advantage của Sally Helgesen

Ghi lại mấy cái tựa này vì hôm qua cô út nhà tôi hỏi mẹ lúc này đọc gì. Khựng một hồi lâu vì tôi chẳng nhớ tôi đã đọc gì, mọi thứ tôi đọc như nước đổ lên đầu vịt, không thấm, không đủ cho mình suy nghĩ hay rút ra một bài học. Dẫu sao, nó để lại vài dấu vết lờ mờ, giả tỉ về sau có một chủ đề nào đó tôi quan tâm có thể những chi tiết mơ hồ này có thể trở lại và tôi sẽ tìm hiểu thêm.

Đôi khi tôi nghĩ mình không nên viết cái gì để đăng lên mạng hay in thành sách báo. Vì nghĩ đến chuyện ấy dường như mình đóng khung ý nghĩ, khó viết vì sợ bị chê hay không đăng, hoặc là trong vô thức mình cố gắng viết gò mình cho phù hợp với chủ trương của chủ biên, hay phải viết cho đàng hoàng người lớn. Tôi chỉ nên viết cho vui bản thân mình, đơn giản, kể những mẩu chuyện thời thơ ấu về một vùng đất mình đã sống, nhớ gì kể nấy, đụng đâu nói đó, không quan tâm đến hay dở, không sợ người đọc nhướng mày hỏi, nhà văn gì mà chỉ viết được có thế thôi.

Nói chuyện sách mới nhớ. Trong sở tôi có một kệ sách gọi là book swap. Ai có sách muốn tặng cứ đem cho lên kệ. Tôi thấy một bộ 50 shades of grey mới tinh, dấu dưới đáy kệ. Dường như có người nào đó không muốn người ta thấy mình đem bộ sách này để cho. Ngay cả tôi muốn lấy, dù không muốn đọc, cũng sợ người ta nhìn thấy mình với bộ sách “hư đốn” này.

Tôi lượm được một quyển sách mới keng của Oliver Sacks, Musicophilia nói về những mẩu chuyện liên quan giữa âm nhạc và não bộ. Tôi đã đọc trên mạng một vài đoạn rất thú vị trước đây nên thật là vui. Bây giờ thì phải coi lúc nào có thì giờ để đọc.

Chuyện nhảm đầu tuần

Tân Văn 79

Nhận được báo Tân Văn cả tuần rồi, đọc xong rồi, hôm nay xin cảm ơn Tòa soạn báo Tân Văn, và Đại ca. Số báo này có bài Soi Tìm Hiện Tượng Xã Hội của bác Túy và bài Giữa Ngựa và Người của Nguyễn thị Hải Hà.

Đọc bài Giữa Ngựa và Người, phần Ann Patchett bàn luận về thái độ của con ngựa trắng Mollie trong Trại Súc Vật (Aninal Farm) của George Orwell, tôi nhận ra sự ngoan ngoãn ngây thơ của tôi, một phụ nữ lớn lên trong xã hội Á Đông. Tôi thấm nhuần lối suy nghĩ phải hy sinh cho xã hội, hy sinh cho tha nhân, gói mình trong khuôn khổ đạo đức xã hội của người khác đặt ra cho mình. Phụ nữ Tây phương họ suy nghĩ khác. Ai mà bắt họ hy sinh hạnh phúc hay lạc thú cá nhân vì quyền lợi của người khác là họ đặt dấu hỏi ngay tức khắc. Continue reading Chuyện nhảm đầu tuần

Báo mới

tân văn 78

Nhận được tạp chí Tân Văn, Sài Gòn Nhỏ và Chiến Sĩ Cộng Hòa. Xin cám ơn Đại Ca và bà chủ bút HDT.

Đuối sức vì làm việc căng thẳng nên không viết dông dài. Đọc một mạch từ đầu đến cuối tạp chí thấy rất nhiều bài hay. Xin trích một đoạn ngắn của nhà văn kiêm chủ bút Hoàng Dược Thảo viết về nhà văn Mai Thảo, làm tôi thấy bùi ngùi. Continue reading Báo mới