Đọc triết

bìa trước bìa sauforewordmaximsMấy hôm trước ra chỗ thư viện bỏ túi, tôi thấy người ta đem cho mấy cuốn sách của một số triết gia. Trong mấy cuốn sách cũ mèm, bìa mềm, loại nhỏ có thể bỏ vừa túi áo (hơi rộng một chút) tôi thấy có tác giả Emerson và Nietzche. Hồi trẻ tôi có học triết học nhập môn, cả triết đông lẫn triết tây. Học thì học cũng hơi ngán ngẩm không mặn mà cho lắm. Bây giờ khá già, thấy các bạn trẻ học triết tôi giật mình, mình cũng nên bắt đầu đọc nghiêm túc về bộ môn này, không thể làm triết gia, nhưng cũng tập suy nghĩ. Không lấy cuốn của Emerson dù rất muốn nhưng tự nhủ đừng tham lam, tôi chỉ lấy cuốn của Nietzche. Cuốn sách có tựa đề Twilight of the Idols with the Anti-Christ.

Đọc lời mở đầu, thấy tác giả cũng không có vẻ nghiêm trọng lắm. Ông bảo chỉ đọc trong lúc nhàn rỗi, giết thì giờ. Tôi thấy có mấy trang khổ nhỏ, bao gồm những câu ngăn ngắn dưới chủ đề “Maxims and Arrows.” Chẳng biết nên dịch là gì, maxim là châm ngôn, nhưng tại sao lại đi với Arrow là mũi tên. Thì đã nói, sách triết là để đọc mà suy nghĩ.

Khi tôi cần kềm cái khuynh hướng đọc nhanh, đọc lướt của tôi, tôi dịch. Tôi dịch được vài câu, có nhiều câu quen thuộc (chưa dịch) thí dụ như (trong quân đội) cái gì không giết được mình thì sẽ làm cho mình mạnh mẽ hơn. Nói ra ngoài đề tài một chút, tin tôi đọc hôm qua hôm kia, có một ông huấn luyện viên hải quân Hoa Kỳ, huấn luyện một anh tân binh, trấn nước anh ta quá làm anh ta chết. Cái chết này bị liệt vào hạng giết người.

Nói nhiều quá, sau đây là năm câu dịch.

Nietzsche – Twilight of the Idols

The Anti-Christ

page 23

Maxims and Arrows

  1. Idleness is the beginning of all psychology. What? could psychology be – a vice? Nhàn rỗi là nguồn gốc của triết tâm lý học. Nói cái gì thế? Có thể nào triết học/nghiên cứu về tâm lý lại là một – tội lỗi?
  1. Even the bravest of us rarely has the courage for what he really knows. . . Ngay cả người can đảm nhất trong chúng ta cũng hiếm khi có dũng khí thú nhận những điều họ thật sự hiểu biết. . .
  1. To live alone one must be an animal or a god – says Aristotle. There is yet a third case: one must be both – a philosopher. Thích sống một mình kẻ ấy phải là một con thú hay là thượng đế – Aristotle nói. Tuy vậy còn có trường hợp thứ ba: kết hợp cả hai điều kiện trước đó – một triết gia.
  1. ‘All truth is simple.’ Is that not a compound lie? – ‘Mọi sự thật đều đơn giản.’ Đó có phải là một lời nói dối tinh vi hơn không?
  1. Once and for all, there is a great deal I do not want to know. – Wisdom sets bounds even to knowledge. Nói một lần này thôi, có rất nhiều thứ tôi không muốn biết. Sự khôn ngoan hiểu biết nào cũng phải có giới hạn, kể cả kiến thức.

 

 

Niềm tin vững chắc của bảy phụ nữ

Tôi thường đọc sách giáo khoa môn viết văn hay văn học. Hôm qua tôi gặp bài thơ của bà Maya Angelou, thấy hay nên muốn giới thiệu bài thơ với các bạn. Bài thơ theo kiểu tứ tuyệt, bốn chữ bốn câu, chữ dùng rất đơn giản, vần điệu cũng không gò bó lắm nhưng vẫn có vần. Bài thơ nói lên suy nghĩ của bảy phụ nữ, một sự tự tin về nhan sắc của họ, dù mỗi người đều có khuyết điểm. Tâm lý phụ nữ, luôn luôn sợ già, sợ xấu, sợ béo, sợ gầy, luôn luôn bươi móc cho ra khuyết điểm của người, và của mình. 🙂

Thơ của bà như một cách giải tỏa. Dịch tạm tạm để hiểu thôi nha, tôi không biết làm thơ nên không thể từ thơ dịch ra thơ. Cáo lỗi vậy.

Seven Women’s Blessed Assurance

Maya Angelou (1928 – 2014)

 

1

One thing about me,
I’m little and low,
find me a man
wherever I go.

Một điều về tôi
Nhỏ con thấp bé
đi đâu tôi cũng
tìm được anh bồ

2

They call me string bean
‘cause I’m so tall.
Men see me,
they ready to fall.

Trêu tôi đậu đũa
vì tôi quá cao
đàn ông gặp tôi
sẵn sàng nói yêu

3.

I’m young as morning
and fresh as dew.
Everybody loves me
and so do you

Non như buổi sáng
trong như sương mai
ai cũng yêu tôi
anh cũng vậy thôi

4

I’m fat as butter
and sweet as cake.
Men start to tremble
each time I shake.

Béo như thỏi bơ
ngọt như bánh kem
Đàn ông bủn rủn
khi tôi lắc lư

5

I’m little and lean,
sweet to the bone.
They like to pick me up
and carry me home.

Tôi dáng thon thả
ăn nói ngọt ngào
các anh đòi ẵm
cõng bé về nhà

6

When I passed forty
I dropped pretense,
‘cause men like women
who got some sense

Tôi hơn bốn mươi
không còn ỡm ờ
đàn ông họ thích
đàn bà hiểu đời

7

Fifty-five is perfect,
so is fifty-nine,
‘cause every man needs
to rest sometime.

năm lăm tuổi ngọc
năm chín tuổi hồng
đàn ông nào cũng
có lúc hết gân

Bonsai

Hôm trước đi thăm vườn Nhật ở Brooklyn tôi thấy vườn Bonsai. Đang đọc vài quyển sách nói về Nhật Bản nên thấy Bonsai là mắt tôi sáng lên. Định viết chi tiết một chút nhưng sao thì giờ của tôi ít quá, cứ ngồi vào bàn một lúc là đã đến giờ đi làm. Thôi thì ngắn gọn vài hàng, vài tấm ảnh, tối về viết tiếp.

Mười truyện trong thư của Flaubert

Trong lúc dịch Madame Bovary, bà Lydia Davis (giải Bookerman International 2013) đọc những lá thư nhà văn Gustave Flaubert (người Pháp) viết cho Louise Colet, người yêu của Flaubert. Những mẩu chuyện ngắn trong những lá thư này được bà Davis viết lại thành truyện rất ngắn. Trích trong “Object Lessons” The Paris Review, có mười truyện nhưng tôi chỉ chọn dịch bốn truyện thôi.

Đi nha sĩ

Tuần trước tôi đi nha sĩ, thầm nghĩ rằng ông ta sẽ nhổ răng tôi. Ông ấy nói tốt hơn là chờ ít lâu để xem có bớt đau không.

Ối chà, cơn đau chẳng giảm – Tôi đau đớn vô cùng, đau đến độ lên cơn sốt. Thế là hôm qua tôi đi nhổ nó ra. Trên đường đến gặp ông nha sĩ, tôi băng ngang một cái chợ cũ, trước kia người ta dùng nơi này để hành quyết tội nhân, cũng chẳng xa xưa gì cho lắm. Lúc ấy tôi chừng sáu hay bảy tuổi. Một hôm tôi đi về nhà sau buổi học, ngang qua quảng trường này sau khi người ta vừa chấm dứt một cuộc hành quyết. Cái máy chém vẫn còn đó. Tôi thấy vết máu tươi đọng trên lề đường. Người ta đang mang cái chậu huyết đi.

Đêm qua tôi nghĩ đến tôi sẽ phải đi ngang quảng trường này để đến gặp nha sĩ, cảm thấy lo lắng chuyện của tôi, liên tưởng đến cái cảm giác bất an, của những người bị xử án hành quyết, đã từng băng ngang quảng trường này lo sợ chuyện sẽ xảy đến với họ, dù rằng chuyện của họ thì trầm trọng hơn.

Khi chìm vào giấc ngủ, tôi nằm mơ thấy cái máy chém; chuyện kỳ lạ là cô cháu bé bỏng của tôi, ngủ ở tầng dưới, cũng nằm mơ thấy cái máy chém, mặc dù tôi đã chẳng hé lộ chút nào về chuyện của tôi. Tôi tự hỏi phải chăng ý nghĩ là một chất lỏng, chảy xuống phía dưới, từ người này sang người khác, sống trong cùng một nhà.

Vợ ông Pouchet

Ngày mai tôi đi dự đám tang ở Rouen. Bà Pouchet, vợ ông bác sĩ, chết hôm qua trên đường phố. Bà ấy đang cùng cỡi ngựa với chồng; bị đột quỵ và ngã xuống. Tôi thường bị cho rằng ít cảm xúc, nhưng chuyện này làm tôi rất buồn. Pouchet là một người đàn ông tốt, nhưng ông ta bị điếc đặc và tính tình cũng không mấy vui vẻ. Ông ấy không trực tiếp khám bệnh nhân, chỉ làm việc trong ngành động vật học. Vợ của ông là một người phụ nữ Anh tính tình vui vẻ, đã giúp ông rất nhiều trong công việc của ông. Bà vẽ hình ảnh cho ông, đọc và sửa chữa bản thảo của ông: họ đi đây đi đó chung với nhau; bà ấy thật sự là người đồng hành. Ông yêu bà ấy lắm và sẽ rất là khổ sở với sự mất mát này. Louis ở nhà đối diện với họ. Anh ta tình cờ nhìn thấy cỗ xe đưa bà ấy về, và đứa con trai của bà mang xác bà ra khỏi xe; mặt bà được che lại bằng cái khăn tay. Lúc bà được khiêng vào nhà, hai chân vào trước, một thằng bé chuyên chạy vặt đến gần. Cậu bé giao một bó hoa thật to bà đã đặt mua buổi sáng hôm ấy. Ôi Shakespeare!

Một Cuộc Hành Quyết

Thêm một truyện nữa về lòng thương người của chúng ta. Ở một ngôi làng không xa lắm, có một anh chàng đã giết một người chủ ngân hàng và vợ của ông ta, sau đó hiếp cô đầy tớ và uống hết cả hầm rượu vang. Hắn bị đem ra tòa, xử tội, và bản án là cái chết. Người ta rất thích thú với câu chuyện của gã thanh niên đặc biệt bị xử án chém đầu này nên từ  khắp nơi đổ xô về đêm trước khi hành quyết – hơn mười ngàn người. Đông đến nỗi tiệm bánh mì bán hết sạch. Và các khách sạn đầy chật người đến độ người ta phải ngủ ở bên ngoài: để xem gã thanh niên bị hành quyết, người ta ngủ ngoài trời trên mặt tuyết.

Và chúng ta lắc đầu ngao ngán vì trò giết nhau của những người giác đấu La Mã. Chán chường thay, những kẻ bất tài chuyên lừa bịp.

Người Bạn Học Của Tôi

Chủ Nhật vừa qua tôi đi viếng vườn Bách Thảo. Đó là công viên Trianon, nơi một người Anh, tính tình cổ quái, đã sống. Ông trồng hoa hồng và bán sang nước Anh. Ông có trồng một vườn hoa thược dược bao gồm những loại hiếm có. Ông cũng có một đứa con gái thường tình tự với một thằng bạn học của tôi, nó tên là Barbelet. Tại vì cô gái này thằng bạn tôi tự tử chết. Nó chỉ mới mười bảy tuổi. Nó tự bắn  bằng khẩu súng lục. Tôi băng ngang sân cát rộng trong cơn gió lộng, và nhìn thấy căn nhà của Calvert, cô con gái đã từng sống nơi này. Bây giờ cô ta ở đâu? Người ta xây gần đó một cái nhà kính trồng cây, có cả cây cọ, và một giảng đường nơi các nhà làm vườn học cách gieo mầm, ghép cây, tỉa cây, và dạy lại cho người khác – tất cả những điều cần biết để nuôi dưỡng một cái cây ăn trái! Có ai nghĩ đến Barbelet nữa đâu – người đã yêu tha thiết cô gái Anh ngày ấy. Ai còn nhớ đến người bạn đam mê mãnh liệt của tôi ngày xưa?

Mùa Giáng sinh trong ký ức

Nguyên tác A Christmas Memory của Truman Capote.

Người dịch: Nguyễn thị Hải Hà

Bài này đã đăng ở Văn Chương Mới (newvietart.com) năm 2009.

TRUMAN CAPOTE  (1924 – 1984 )

Sơ lược về tác giả: Truman Capote sinh ra tại New Orleans, Louisiana ngày 30 tháng Chín năm 1924 và mất ngày 25 tháng Tám năm 1984. Có khoảng 20 tác phẩm của Truman Capote đã được chuyển thành phim và kịch bản. Tác phẩm được biết đến nhiều nhất là Breakfast at Tiffany, và Cold Blood. Ông là bạn thân của Harper Lee, tác giả quyển How to Kill a Mockingbird và bà đã dùng ông làm người mẫu cho nhân vật Dill trong tác phẩm của bà. Ông bắt đầu viết rất sớm. Vào năm mười một tuổi ông đã chuyên chú viết ba giờ đồng hồ một ngày. Khi ông được bốn tuổi, bố mẹ ông ly dị và mẹ ông gửi ông về Monroeville, Alabama với một người trong họ, bà u già Rumbley Faulk, Truman thường gọi bà là Sook. Ngày 25 tháng Tám, trước khi chết, những lời cuối cùng của ông là “Em đây mà, em là Buddy,” và “Em lạnh quá.” Buddy là tên của bà u già đặt cho Truman. Continue reading Mùa Giáng sinh trong ký ức

Giáng Sinh

Giáng Sinh

Tác giả: Vladimir Nabokov

Người dịch: Nguyễn thị Hải Hà.

Truyện Giáng Sinh đăng ở Văn Chương Việt năm 2011.

Sau khi đi bộ từ trong làng trở về trang viện băng ngang cánh đồng tuyết sáng lờ mờ, Sleptsov ngồi vào trong góc nhà, trên cái ghế bọc nhung ông không nhớ đã bao giờ dùng đến nó. Cũng giống như những chuyện chúng ta thường thấy sau một cơn đại họa. Không phải anh em mà lại là một người quen sơ, ông láng giềng ở nông thôn bạn chẳng mấy khi để ý đến lúc bình thường bạn chẳng buồn trò chuyện đến, lại chính là người an ủi bạn, rất khéo léo và hoàn toàn dịu dàng, nhặt hộ bạn cái mũ bạn đánh rơi sau khi tang lễ chấm dứt lúc bạn đang bị choáng váng trong nỗi đau khổ, răng bạn đang run lập cập, và mắt bạn đang mờ vì nước mắt. Người ta cũng có thể nói như thế về đồ vật. Bất cứ căn phòng nào, ngay cả những căn phòng ấm áp thân mật nhất và nhỏ đến không thể nào nhỏ hơn, hay trong cái chái nhà ít khi được sử dụng của một trang viện đồ sộ ở nông thôn, cũng có một góc không hề có người lui tới. Và đó là cái góc nhà Sleptsov đang ngồi. Continue reading Giáng Sinh

Chúng ta nói gì khi nói chuyện tình yêu

Mời các bạn đọc toàn bộ bản dịch truyện ngắn “Chúng ta nói gì khi nói chuyện tình yêu” ở Gió O.

Chúng Ta Nói Gì Khi Nói Chuyện Tình Yêu